MỞ ĐẦU.........................................................................................................................1 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài................................................................1 2. Mục đích, phạm vi, đối tượng nghiên cứu đề tài. ...................................................2 2.1. Mục đích............................................................................................................2 2.2. Đối tượng nghiên cứu:.......................................................................................2 2.3. Phạm vi nghiên cứu:..........................................................................................2 3. Phương pháp nghiên cứu..........................................................................................3 4. Kết cấu của đề tài......................................................................................................3 CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU .........................4 1.1.Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước ...............................................4 a. Các nghiên cứu về thực trạng ô nhiễm môi trường biển và nguyên nhân .............4 b. Các nghiên cứu về thể chế, chính sách, pháp luật về quản lý, bảo vệ môi trường biển................................................................................................................................7 1.2.Tổng quan các công trình nghiên cứu ở nước ngoài..........................................10 a. Các nghiên cứu về rác thải nhựa..........................................................................10 b. Các nghiên cứu về sự cố tràn dầu........................................................................11 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN.............................................................................................................................12 2.1. Một số khái niệm...........................................................................................12 2.2. Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường biển.................................................14 2.3 Hệ quả do ô nhiễm môi trường biển. ............................................................17 CHƯƠNG III : QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ PHÒNG NGỪA Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN ....................................19 19 3.1. Một số điều ước quốc tế về phòng ngừa ô nhiễm môi trường biển.................19 3.2 Quy định của Việt Nam về phòng ngừa ô nhiễm môi trường biển...................27 CHƯƠNG IV: THỰC TRẠNG THỰC THI PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY..............................................................................................................................34 4.1 Thực trạng thực thi các Công ước tại Việt Nam ................................................34 4.2 Những thuận lợi và khó khăn trong pháp luật Việt Nam về phòng ngừa ô nhiễm môi trường biển................................................................................................42 4.2.1 Thuận lợi........................................................................................................42 4.2.2 Khó khăn........................................................................................................47 4.3 Một số đề xuất hoàn thiện pháp luật nhằm bảo vệ và phòng ngừa tình trạng ô nhiễm môi trường biển tại Việt Nam hiện nay .........................................................50 4.3.1. Nhóm giải pháp chung...................................................................................50 4.3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật......................Error Bookmark not defined. KẾT LUẬN..................................................................................................................52 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................53
Mục đích
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật quốc tế nhằm làm rõ vấn đề phòng ngừa ô nhiễm môi trường biển Nghiên cứu sẽ đánh giá tính khả thi của các quy định pháp luật quốc tế trong việc ngăn chặn ô nhiễm môi trường biển, đồng thời phân tích thực trạng và nguyên nhân của vấn đề này Từ đó, đề xuất những giải pháp có ý nghĩa cả trong và ngoài nước để giải quyết ô nhiễm môi trường biển.
Phương pháp nghiên cứu 3 4 Kết cấu của đề tài
Để đặt được hiệu quả trong quá trình khai thác vấn đề bài viết sử dụng tổng hợp nhiều biện pháp nghiên cứu Cụ thể:
Phương pháp phân tích và tổng hợp được áp dụng xuyên suốt các chương của nghiên cứu, nhằm tìm hiểu và trình bày khái niệm, đặc điểm, vai trò, cũng như các yếu tố ảnh hưởng Mục tiêu là xây dựng các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật liên quan đến việc khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường biển từ dầu do tàu gây ra.
Phương pháp hệ thống là công cụ quan trọng trong nghiên cứu, giúp trình bày các vấn đề và nội dung một cách hợp lý, chặt chẽ và có sự gắn kết Phương pháp này không chỉ tổ chức thông tin mà còn hệ thống hóa các nguồn tài liệu liên quan, hỗ trợ hiệu quả cho công tác nghiên cứu của đề tài.
Phương pháp thống kê: phân tích số liệu các vụ tràn dầu, thiệt hại, bồi thường, để làm rõ vấn đề nghiên cứu
4 Kết cấu của đề tài
Nội dung của bài nghiên cứu bao gồm 04 chương:
TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
Tổng quan các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 10 a Các nghiên cứu về rác thải nhựa 10 b Các nghiên cứu về sự cố tràn dầu 11 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN 12 2.1 Một số khái niệm 12 2.2 Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường biển .14 2.3 Hệ quả do ô nhiễm môi trường biển 17 CHƯƠNG III : QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ PHÒNG NGỪA Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN 19 19 3.1 Một số điều ước quốc tế về phòng ngừa ô nhiễm môi trường biển .19 3.2
Các quy định về trách nhiệm dân sự của chủ tàu đối với thiệt hại môi trường cần tuân thủ Công ước Quốc tế và pháp luật dân sự Việt Nam, đảm bảo rõ ràng và cụ thể để ngăn chặn việc né tránh trách nhiệm bồi thường Cần nghiên cứu đặc điểm của Việt Nam và bổ sung các quan hệ chưa được đề cập vào Luật điều chỉnh Chính phủ cần ban hành các văn bản bổ sung quy định về phòng ngừa, xử lý và khắc phục ô nhiễm dầu, đặc biệt là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu không thuộc phạm vi điều chỉnh của CLC 1992.
THỰC TRẠNG THỰC THI PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 34 4.1 Thực trạng thực thi các Công ước tại Việt Nam
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 4.1 Thực trạng thực thi các Công ước tại Việt Nam
Việt Nam, như các quốc gia khác trên bờ biển Đông, có trách nhiệm hợp tác ngăn ngừa ô nhiễm biển Quốc gia này đã hòa nhập với nhận thức toàn cầu về bảo vệ môi trường biển, với sự phù hợp ngày càng rõ nét giữa quy phạm pháp luật môi trường trong nước và các công ước quốc tế Việt Nam thừa nhận ưu tiên của các quy định trong các công ước mà Chính phủ đã ký kết Để thực thi các công ước này, Việt Nam đã ban hành nhiều quy định pháp luật nhằm hạn chế ô nhiễm biển, và vấn đề bảo vệ tài nguyên biển đã được ghi nhận trong các văn kiện pháp lý và văn bản quy phạm điều chỉnh quản lý biển.
- Chống việc huỷ hoại các hệ sinh thái tự nhiên, nhất là các hệ sinh thái cửa sông, ven biển
- Ngăn chặn ô nhiễm không khí, nước, đất ảnh hưởng đến tài nguyên biển do các nguyên nhân sinh hoạt và sản xuất.
Coi phòng ngừa và ngăn chặn ô nhiễm môi trường biển là nguyên tắc chủ đạo trong việc bảo vệ tài nguyên biển, đồng thời kết hợp xử lý ô nhiễm với cải thiện môi trường biển và bảo tồn thiên nhiên.
Hàng loạt văn bản pháp luật đã được ban hành nhằm thực thi các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển, bao gồm Bộ luật hàng hải Việt Nam (30/6/1990), Luật dầu khí sửa đổi (9/6/2000), và các quyết định như Quyết định số 41/TTg về quản lý an toàn trong hoạt động dầu khí, cùng Quyết định số 129/2001/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch quốc gia ứng phó sự cố tràn dầu giai đoạn 2001-2010 Ngoài ra, Nghị định số 36/1999/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong vùng lãnh hải và Nghị định số 39/1998/NĐ-CP cũng góp phần quan trọng trong việc bảo vệ môi trường biển của Việt Nam.
Xử lý tài sản chìm đắm ở biển được quy định bởi Nghị định số 92/1999/NĐ-CP ngày 4/9/1999, liên quan đến việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải Thông tư 2592/Mtg ngày 12/11/1996 của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường cũng đề cập đến việc kiểm soát ô nhiễm biển do tàu thuyền và phương tiện vận chuyển đường sông Ngoài ra, Nghị định số 25/2009/NĐ-CP ngày 06/3/2009 quy định về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo, cùng với Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, tạo thành khung pháp lý quan trọng cho việc bảo vệ môi trường biển.
2014 đã có một chương về bảo vệ môi trường biển và hải đảo (từ Điều 49 đến Điều 51)
Một trong những quy định pháp luật quan trọng liên quan đến bảo vệ môi trường biển là tiêu chuẩn môi trường, bao gồm tiêu chuẩn chất lượng nước và tiêu chuẩn thải, nhằm bảo vệ nước mặt và nước ngầm khỏi ô nhiễm do dầu Nghị định số 48/2000/NĐ-CP quy định rằng các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực dầu khí phải tuân thủ các tiêu chuẩn về an toàn, môi trường và kỹ thuật Chính phủ Việt Nam yêu cầu các bên liên quan phải tuân thủ các quy định về tiêu chuẩn môi trường để bảo vệ môi trường biển Luật pháp Việt Nam cũng đề cập đến vấn đề bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu, theo nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền”, nhằm đảm bảo trách nhiệm bồi thường cho các tổ chức, cá nhân bị thiệt hại Mặc dù ô nhiễm do dầu không chiếm tỉ lệ lớn, nhưng do tính chất độc hại và khả năng tự phân hủy thấp, Việt Nam rất chú trọng đến việc ngăn ngừa và xử lý ô nhiễm này Để giải quyết vấn đề này, pháp luật yêu cầu các tổ chức, cá nhân có khả năng gây ô nhiễm phải mua bảo hiểm và có thể đóng góp vào Quỹ dự phòng cho các sự cố môi trường.
Theo Quy chế bảo vệ môi trường ngày 10/4/1998, các tổ chức và cá nhân hoạt động trong lĩnh vực dầu khí phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do suy thoái, ô nhiễm và sự cố môi trường gây ra Họ không chỉ phải chịu phạt mà còn phải thanh toán chi phí làm sạch và khắc phục môi trường cho những tổ chức, cá nhân thực hiện công việc này Đồng thời, họ cũng phải đền bù kịp thời cho các tổ chức, cá nhân về thiệt hại và chi phí khôi phục môi trường biển do hành vi của mình gây ra.
Pháp luật Việt Nam quy định rõ ràng về trách nhiệm ứng phó với sự cố tràn dầu và hóa chất gây ô nhiễm môi trường biển Các quy định này bao gồm việc tổ chức ngăn ngừa và khắc phục sự cố, cũng như yêu cầu bồi thường cho thiệt hại do ô nhiễm, nhằm thực thi các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Ngày 16-11-1994 đánh dấu sự khởi đầu quan trọng của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), tạo nền tảng pháp lý cho các vấn đề liên quan đến biển và đại dương Được xem như “Hiến pháp của đại dương”, UNCLOS đã giúp giải quyết nhiều tranh chấp trên biển và mở ra cơ hội hợp tác giữa các quốc gia trong lĩnh vực này.
Việt Nam, với tinh thần thượng tôn pháp luật và là thành viên tích cực của UNCLOS 1982, cam kết tuân thủ các nguyên tắc của Công ước và giải quyết các bất đồng trên biển bằng biện pháp hòa bình Đồng thời, Việt Nam nỗ lực hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước về quản lý và sử dụng biển, thúc đẩy hợp tác quốc tế dựa trên quy định của Công ước và các Mục tiêu Phát triển bền vững của Liên hợp quốc năm 2015.
UNCLOS 1982 là văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng, quy định các vấn đề liên quan đến biển và đại dương, giúp các quốc gia khẳng định chủ quyền và quyền tài phán trên biển Việt Nam đã tích cực thực thi UNCLOS trong những năm qua, nhằm giải quyết hòa bình các tranh chấp và thúc đẩy phát triển bền vững biển và đại dương.
Việt Nam, với vai trò là quốc gia sáng lập nhóm Bạn bè UNCLOS, cam kết tuân thủ và đề cao UNCLOS nhằm bảo tồn và khai thác biển bền vững Quốc gia này tích cực tham gia vào các cuộc đàm phán quốc tế và nghị quyết của Liên hợp quốc liên quan đến việc thực thi UNCLOS và bảo vệ môi trường biển Việt Nam cũng tham gia đàm phán các văn kiện pháp lý về bảo tồn đa dạng sinh học biển và các hiệp định liên quan đến nghề cá bền vững Ngoài ra, Việt Nam chủ động tham gia các hội nghị quốc tế về biển và đại dương, gia nhập nhiều điều ước quốc tế để thực hiện UNCLOS và bảo tồn nguồn tài nguyên sinh vật biển.
Sau khi trở thành thành viên chính thức, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp lý để cụ thể hóa các quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) và cam kết “Bảo tồn và sử dụng bền vững biển, đại dương và tài nguyên biển” Dựa trên điều kiện kinh tế biển, Việt Nam đã đưa ra các chính sách mạnh mẽ nhằm phát triển kinh tế gắn liền với bảo vệ môi trường Năm 2012, Việt Nam ban hành Luật Biển Việt Nam, có hiệu lực từ 01/01/2013, dựa trên các quy định của UNCLOS và luật pháp quốc tế Quốc gia này cũng tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để thực hiện nghĩa vụ trong UNCLOS, bảo vệ môi trường biển, ứng phó với biến đổi khí hậu và thúc đẩy phát triển bền vững Hệ thống pháp luật được ban hành là nền tảng quan trọng cho việc quản lý các vùng biển, bảo vệ và sử dụng bền vững tài nguyên biển, đồng thời góp phần thực thi UNCLOS và cam kết bảo tồn biển.
Để giảm khối lượng và độ độc hại của chất thải, khuyến khích việc tiêu hủy gần nơi sản sinh, và quản lý chất thải hiệu quả nhằm bảo vệ môi trường, các quốc gia đã ký kết Công ước Basel về kiểm soát chất thải xuyên biên giới Việt Nam tham gia Công ước này vào ngày 13/3/1995 và có hiệu lực từ ngày 11/6/1995 Kể từ đó, Việt Nam đã nỗ lực thực thi Công ước Basel để hạn chế tác động tiêu cực của chất thải, đặc biệt là chất thải độc hại, đối với sức khỏe con người và môi trường.
Vào ngày 13/3/1995, Việt Nam đã thiết lập các quy định về quản lý chất thải, với các văn bản quan trọng như Luật Bảo vệ môi trường năm 1994 và Nghị định 175/CP ngày 18/10/1994 Tuy nhiên, các quy định này chưa đề cập đầy đủ đến việc giảm thiểu, thu gom, phân loại, tái chế, tái sử dụng và xử lý chất thải, đặc biệt là chất thải nguy hại, mà chỉ tập trung vào nghĩa vụ thu gom và xử lý Tình trạng này đã gây khó khăn cho công tác quản lý chất thải Kể từ khi tham gia Công ước Basel, Việt Nam đã nỗ lực thực hiện các nghĩa vụ liên quan đến quản lý chất thải.
Những thành công lớn nhất trong việc thực thi Công ước Basel được thể hiện trong các hoạt động sau:
Đầu tiên, việc thiết lập các quy định phù hợp để quản lý chất thải, đặc biệt là chất thải nguy hiểm, là một trong những nghĩa vụ quan trọng nhất của các quốc gia thành viên Công ước Basel.