1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài theo phụ lục vii unclos

46 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài theo phụ lục vii unclos
Tác giả Nhóm
Người hướng dẫn TS.GVC. Mai Hải Đăng
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội - Trường Đại Học Luật
Chuyên ngành Luật Hàng hải quốc tế
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 155,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1 1. Tính cấp thiết của đề tài 1 2. Mục đích nghiên cứu: 2 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 2 4. Phương pháp nghiên cứu 2 5. Cơ cấu báo cáo 3 NỘI DUNG 4 CHƯƠNG 1: Tóm tắt sự cố tràn dầu Hebei Spirit 2007 và tổng quan các công trình nghiên cứu về ô nhiễm tràn từ tàu 4 1. Giới thiệu sự cố tràn dầu Hebei Spirit 4 2. Tổng quan các công trình nghiên cứu về ô nhiễm tràn từ tàu 6 CHƯƠNG 2: Một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm xử lý của Hàn Quốc về bồi thường thiệt hại từ vụ tràn dầu Hebei Spirit 2007 10 1. Một số vấn đề lý luận 10 2. Kinh nghiệm xử lý của Hàn Quốc về bồi thường thiệt hại từ vụ tràn dầu Hebei Spirit 20 3. Đánh giá về pháp luật Hàn Quốc qua việc xử lý sự cố tràn dầu của tàu Hebei Spirit 30 Chương 3: Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam giúp hoàn thiện pháp luật về chống ô nhiễm tràn dầu từ tàu 34 1. Thực trạng về tràn dầu tại Việt Nam hiện nay 34 2. Hệ thống pháp luật Việt Nam về chống ô nhiễm dầu từ tàu biển 35 3. Một số đề xuất hoàn thiện pháp luật về chống ô nhiễm dầu từ tàu biển 43 KẾT LUẬN 46 TÀI LIỆU THAM KHẢO 47

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT

Trang 2

A) MỞ ĐẦU

B) NỘI DUNG

CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI THEO PHỤ LỤC VII UNCLOS

CHƯƠNG II MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI THEO PHỤ LỤC VII UNCLOS

CHƯƠNG III VỤ VIỆC PHILIPPINES KIỆN TRUNG QUỐC VỀ TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN BIỂN ĐÔNG

1 CƠ SỞ PHÁP LÝ CHO VIỆC KHỞI KIỆN CỦA PHÍA PHILIPPINES 17

Trang 3

3 QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP TÒA TRỌNG TÀI THEO PHỤ LỤC VII TRONG

4 TỔ CHỨC, CƠ CẤU CỦA TÒA TRỌNG TÀI THEO PHỤ LỤC VII TRONG VỤ

5 NỘI DUNG THẨM QUYỀN CỦA TÒA TRỌNG TÀI TRONG VỤ VIỆC 23

6 QUY TRÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA TÒA TRỌNG TÀI 26

7 NỘI DUNG VÀ CƠ SỞ ĐƯA RA PHÁN QUYẾT CỦA TÒA TRỌNG TÀI 30

C) KẾT LUẬN

Trang 4

A) Mở đầu:

I) Lý do lựa chọn đề tài

Do vị trí chiến lược và tầm quan trọng đặc biệt đối với các lĩnh vực kinh tế-xã hội, quốcphòng-an ninh, Biển Đông (tên quốc tế là South China Sea) đã trở thành đối tượng tranh chấpgay gắt giữa các quốc gia trong khu vực, đặc biệt là Trung Quốc với mưu đồ độc chiếm BiểnĐông với tham vọng hiện thực hóa “đường lưỡi bò” Có thể kể đến vụ

việc Cộng hòa Philippines khởi kiện Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc) ra TòaTrọng tài quốc tế được thành lập theo Phụ lục VII Công ước của Liên hợp quốc (LHQ) vềluật biển năm 1982 (UNCLOS, sau đây gọi là Công ước Luật biển, hoặc Công ước) vào

tháng 02/2013, được xem là "vụ kiện lịch sử", "vụ kiện thế kỷ"

Trung Quốc đang tiếp tục gia tăng các hoạt động xây dựng quy mô lớn các công trình tráiluật pháp quốc tế trên vùng biển này; bố trí vũ khí, quân đội tại các đảo, bãi đá thuộc quầnđảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam; hành hung, cướp phá tài sản, ngư cụ của ngưdân Những hành động trên đã làm leo thang căng thẳng, gia tăng sự bất ổn trong khu vực,

vi phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán trên biển của ViệtNam cũng như các nước trong khu vực biển đông, đe dọa đến hòa bình, an ninh quốc tế,ảnh hưởng đến an ninh, an toàn và tự do hàng hải của các quốc gia; đồng thời thể hiện rõtham vọng của Trung Quốc trong việc độc chiếm biển Đông

Để giải quyết các mâu thuẫn trên biển bằng biện pháp hòa bình, Công ước Luật biển quốc tếnăm 1982, viết tắt là UNCLOS 1982 được thành lập để nhằm giải quyết các vụ việc nhưvậy UNCLOS 1982 là văn kiện pháp lý quan trọng nhất trong luật biển, được ví như bảnHiến pháp đầu tiên về luật biển trên thế giới UNCLOS 1982 bao gồm 320 điều,

được chia thành 17 phần, 9 phụ lục; ngoài ra còn có 4 Nghị quyết kèm theo Công ước quyđịnh nhiều vấn đề quan trọng như các vùng biển trong luật biển quốc tế, vấn đề phân địnhbiển, vấn đề bảo vệ môi trường biển…, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến cơ chế

tài phán giải quyết tranh chấp về biển, đảo Công ước đã dành 27/320 điều quy định trực tiếp

Trang 5

các biện pháp giải quyết tranh chấp trên biển phù hợp với nguyên tắc hòa bình giải quyếtcác tranh chấp quốc tế, tạo nhiều điều kiện thuận lợi để các quốc gia lựa chọn các biệnpháp khác nhau và phù hợp với tình hình thực tiễn của quốc gia mình Vì vậy, việc

nghiên cứu đề tài “Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài theo Phụ lục VII UNCLOS” là vô

cùng bức thiết, trong phạm vi bài viết, nhóm sẽ tập trung đánh giá khả năng và hiệu quảcủa Tòa trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII UNCLOS (sau đây gọi tắt là Tòa trọngtài) mà Việt Nam có thể sử dụng trong hoàn cảnh hiện tại nhằm giải quyết tranh chấp, gópphần bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán trên các vùng biển, đảo củaViệt Nam trên biển Đông

II) Đối tượng nghiên cứu

Việc nghiên cứu được thực hiện trên đối tượng là hoạt động áp dụng các phán quyết củatrọng tài quốc tế đối với những tranh chấp liên quan tới chủ quyền biển đảo Nguồn vàcăn cứ để các trọng tài đưa ra phán quyết đối với những tranh chấp về chủ quyền mangtính quốc tế này dựa trên phụ lục VII-UNCLOS Tranh chấp được giải quyết bằng phánquyết của trọng tài thông qua phụ lục VII-UNCLOS tập trung chủ yếu về nghiên cứu vàđưa ra những phán quyết xử lý về vấn đề vi phạm của các chủ thể có liên quan Tranh

chấp được đề cập đến trong đề tài là các tranh chấp về chủ quyền biển đảo mang tínhquốc tế Chủ thể có thẩm quyền giải quyết là Tòa trọng tài phụ lục VII UNCLOS

III) Mục đích, phạm vi nghiên cứu

+ Mục đích: Đề tài của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề về lý luận và thực tiễn liênquan tới phương hướng giải quyết theo Tòa trọng tài phụ lục VII UNCLOS để giải quyết

Trang 6

viên có nghĩa vụ nhanh chóng trao đổi quan điểm về giải quyết tranh chấp thông qua đàmphán hoặc các biện pháp hoà bình khác Bên cạnh đó còn phát hiện, đánh giá những nhượcđiểm và hạn chế, tìm ra nguyên nhân và đồng thời khắc phục những hạn

chế, bất cập đó, từ đó đề xuất giải pháp nhằm đảm bảo hiệu quả áp dụng trong giải quyếttranh chấp bằng trọng tài trên phương diện quốc tế cũng như ở Việt Nam

+ Phạm vi nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu trên phạm vi không gian cụ thể là ở biển Đông, thuộc lãnh thổ nướcngoài Những dẫn chứng, số liệu, tư liệu được nêu ra trong bài nghiên cứu được trích dẫn,tham khảo không giới hạn ở nhiều nguồn khác nhau.Trong quá trình nghiên cứu, bài viết sửdụng bốn phương pháp nghiên cứu chính: phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp,phương pháp so sánh, phương pháp phân tích Do đó, mọi góc nhìn được thể hiện

rõ, đảm bảo tính toàn diện và đặc thù Ngày 16/11/1994, Công ước của Liên Hợp Quốc vềLuật Biển (UNCLOS) chính thức có hiệu lực, có thể nói đây là cơ sở pháp lý quốc tếquan trọng nhất giúp các quốc gia xác lập, thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền, quyềntài phán của quốc gia trên biển cũng như quản lý, khai thác, sử dụng biển và đại dươngmột cách hiệu quả nhất Qua đó, hình thành nên cơ sở để đưa ra phương hướng giải quyếtcác tranh chấp một cách có hiệu quả, khoa học và công bằng giữa các bên

IV) Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, bài viết sử dụng bốn phương pháp nghiên cứu chính: phươngpháp thống kê, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích

Bài viết đã kết hợp bốn phương pháp trên để thống kê, tổng hợp, phân tích các quy địnhcủa Tòa trọng tài theo Phụ lục VII UNCLOS trong giải quyết tranh chấp quốc tế đưa ranhững đánh giá cụ thể về ưu điểm và những hạn chế khi sử dụng Tòa trọng tài Việc phân

Trang 7

quy định tương ứng có liên quan từ đó rút ra bài học cho Việt Nam trong việc giải quyếttranh chấp trên Biển Đông.

Đồng thời, bài viết cũng phân tích, đánh giá về tình hình gia nhập và thực thi các quy địnhcủa Tòa trọng tài theo Phụ lục VII UNCLOS đặc biệt là công tác “nội luật hóa” các quyđịnh pháp luật quốc gia trong quá trình giải quyết các tranh chấp theo quy định của phápluật quốc tế Các phương pháp này được thực hiện trên nền tảng phương pháp duy vật biệnchứng Ngoài ra bài viết còn sử dụng các biện pháp nghiên cứu khoa học truyền thống vàhiện đại khác

V) Dự kiến kết quả

Tranh chấp trên biển Đông ngày càng phức tạp, trở thành tâm điểm chú ý của cả thế giớitrong những năm gần đây Đặc biệt, với tham vọng hiện thực hóa “đường lưỡi bò” củamình, Trung Quốc đang tiếp tục gia tăng các hoạt động bồi đắp, tôn tạo và xây dựng quy

mô lớn các công trình trái luật pháp quốc tế trên vùng biển này Những hành động trên đãlàm leo thang căng thẳng, gia tăng sự bất ổn trong khu vực, vi phạm nghiêm trọng chủquyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán trên biển của Việt Nam theo luật pháp quốc

tế, đe dọa đến hòa bình, an ninh quốc tế, ảnh hưởng đến an ninh, an toàn và tự do hàng hảicủa các quốc gia trong khu vực Chính vì vậy, thẩm quyền giải quyết các tranh chấp hànghải quốc tế của Tòa trọng tại càng được đề cao hơn bao giờ hết Dù có rất nhiều những bàinghiên cứu về chính vai trò của Tòa trọng tài trong việc giải quyết những tranh chấp này,song việc đánh giá và nhìn nhận về Tòa trọng tài luôn có những điểm mới, khác nhau

Trong phạm vi của bài nghiên cứu này, chúng tôi mong muốn được nhìn nhận vai trò của Tòatrọng tài ở những góc độ khác nữa

Trang 8

với Trọng tài trong việc giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế Rút ra những kết luậnkhoa học, xác định rõ hơn các vấn đề về khái niệm tranh chấp hàng hải quốc tế, trọng tàiquốc tế; khái niệm, đặc điểm và sự cần thiết về vai trò của Tòa án đối với Trọng tài trongviệc giải quyết tranh chấp quốc tế ở Việt Nam.

Thứ hai, phân tích sự cần thiết và đề xuất những phương hướng, yêu cầu và các giải pháp đểhoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật trọng tài nói riêng,

trong đó có quy định về vai trò của Tòa án đối với Trọng tài trong việc giải quyết tranh

chấp hàng hải quốc tế, nhằm đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn và phù hợp với thông lệquốc tế

B) Nội dung

Chương I Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài theo Phụ lục VII UNCLOS

1) Các công trình nghiên cứu ở trong nước

a) “Giải quyết tranh chấp biển Đông thông qua Tòa trọng tài thành lập theo phụ lục VIICông ước Luật biển quốc tế năm 1982” của Nguyễn Đăng Nghĩa

Tác giả đánh giá thực tiễn giải quyết tranh chấp biển Đông thông qua Tòa trọng tài thànhlập theo phụ lục VII Công ước Luật biển quốc tế năm 1982 đồng thời nêu lên Một số kiếnnghị nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp biển Đông thông qua cơ chế tài phán quốc tếtrong thời gian tớ Trước tình hình tranh chấp biển Đông diễn ra phức tạp trong những nămvừa qua, Đảng và Nhà nước ta đã chủ động triển khai nghiên cứu để tính toán và cân nhắchợp lý các phương thức giải quyết tranh chấp thông qua cơ chế tài phán quốc tế Trong bốicảnh hiện nay, việc học hỏi kinh nghiệm của Philippines trong việc lựa chọn phương thức

Trang 9

Trên cơ sở đó, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để có thể sửdụng đến các biện pháp pháp lý khi cần thiết, đảm bảo giữ vững độc lập chủ quyền trên cơ

sở tuân thủ các quy định của Luật quốc tế

b) “Giải quyết tranh chấp bằng thủ tục trọng tài theo phụ lục VII - Công ước quốc tế củaLiên hợp quốc về Luật biển năm 1982” của Ts Ngô Hữu Phước

Bài viết phân tích phương thức lựa chọn, chức năng, thủ tục tố tụng và giá trị pháp lý củaphán quyết của Trọng tài quốc tế về luật biển được thành lập theo Phụ lục VII củaUNCLOS quốc tế của Liên hợp quốc về Luật biển Đồng thời, phân tích xu hướng lựa chọnTrọng tài để giải quyết tranh chấp biển của các quốc gia trên thế giới hiện nay và quan điểmcủa Việt Nam về giải quyết tranh chấp trên Biển Đông. 

c) “Giá trị và tác động của Phán quyết ngày 12/7/2016 của Tòa Trọng tài thành lập theo Phụlục VII Công ước Luật biển năm 1982 về vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc” củaGS.TS Nguyễn Bá Diến và Đồng Thị Kim Thoa

Bài viết trình bày tổng quan những nội dung chính của Phán quyết ngày 12/7/2016 của Tòatrọng tài được thành lập theo Phụ lục VII Công ước Luật biển năm 1982 về vụ kiện giữaPhilippines và Trung Quốc – một phán quyết được đánh giá là sẽ tạo ra bước ngoặt lịch sửcho vấn đề tranh chấp Biển Đông; phân tích ý nghĩa, giá trị pháp lý và hiệu lực ràng buộccủa Phán quyết này, dự báo hành động tiếp theo của Trung Quốc và cách thức buộc quốcgia này tuân thủ Phán quyết Bài viết cũng phân tích tác động của Phán quyết này đối vớiViệt Nam và bước đầu đề xuất một số giải pháp cần thực hiện trong tiến trình đấu tranh bảo

vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán ở Biển Đông

Trang 10

d) “Việt Nam và phương án sử dụng Tòa trọng tài theo phụ lục VII Công ước luật biển

1982 trước những yêu sách của Trung Quốc tại biển Đông” Của Đào Thị Thu Hường

Trên cơ sở đánh giá khả năng và hiệu quả của Tòa trọng tài quốc tế về luật biển so với cácthiết chế tài phán quốc tế khác mà Việt Nam có thể sử dụng trong hoàn cảnh hiện tại, tácgiả đề xuất phương án cho Việt Nam nhằm đưa các yêu sách trái pháp luật quốc tế củaTrung Quốc ra trước Tòa trọng tài quốc tế về luật biển, góp phần vào việc giải quyết cáctranh chấp, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán trên các vùng biển, đảocủa Việt Nam tại biển Đông hiện nay

2) Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

a) “Tìm hiểu về phán quyết của Tòa Trọng tài Biển Đông và ý nghĩa của nó” của

J.Batongbacal:

Trong nghiên cứu này, tác giả đã cung cấp một phân tích toàn diện về phán quyết trọngtài Biển Đông và những tác động của nó đối với khu vực Tác giả đã chỉ ra những bằngchứng pháp lý góp phần củng cố cho phán quyết của tòa, chứng minh rằng Trung Quốc

đã vi phạm quyền chủ quyền của Philippines trong vùng đặc quyền kinh tế của nước này.Batongbacal cho rằng phán quyết của Tòa có ý nghĩa quan trọng đối với tình trạng pháp lý

ở Biển Đông, cũng như vấn đề an ninh hàng hải của khu vực Ngoài ra, tác giả còn nhậnđịnh rằng, mặc dù tòa trọng tài không có khả năng thực thi phán quyết của mình

trên thực tế, tuy nhiên phán quyết này đã đặt ra một tiền lệ quan trọng cho các tranh chấpkhác có thể xảy ra ở tương lai trong khu vực này

b) “Phân tích sơ bộ về phán quyết của Tòa Trọng tài Biển Đông” của Julian Ku và JohnYoo:

Trong nghiên cứu này, Julian Ku và John Yoo đã phân tích các tác động của phán quyết

Trang 11

giả đã phân tích về vấn đề thẩm quyền của Tòa đối với vụ kiện, mà Trung Quốc đã lập

luận là “vượt quá phạm vi thẩm quyền của tòa án” Cùng với đó, Julian Ku và John Yoo cũngphân tích về yêu sách đường chín đoạn của Trung Quốc, mà Tòa đã ra phán quyết là trái vớipháp luật quốc tế Hai tác giả cho rằng phán quyết này của Tòa có ý nghĩa quan

trọng đối với Hoa Kỳ và với vị thế chính trị của nước này trong khu vực Biển Đông, cũngnhư đối với sự ổn định của trật tự pháp luật quốc tế

c) “Về Tòa Trọng tài Biển Đông và yêu sách lãnh thổ trên biển của Trung Quốc” của D

A Koplow:

Trong nghiên cứu này, D A Koplow đã phân tích các yêu sách lãnh thổ trên biển của

Trung Quốc ở Biển Đông và các lập luận mà chính phủ nước này đã đưa ra để bảo vệ cácyêu sách của mình trong quá trình Tòa giải quyết vụ việc Tác giả lập luận rằng, yêu sáchđường chín đoạn của Trung Quốc là trái với các quy định của UNCLOS, vì đường chínđoạn này trên thực tế nằm chồng lấn với các vùng đặc quyền kinh tế của nhiều quốc giatrong khu vực

d) “Tòa Trọng tài Biển Đông và Luật Biển” của Donald Rothwell và Tim Stephens:

Trong nghiên cứu này, Donald R Rothwell và Tim Stephens đã xem xét tác động của phánquyết của Tòa đối với Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển Hai tác giả cho rằng, cáchgiải thích của Tòa về UNCLOS và việc áp dụng và giải thích pháp luật đối với tranh chấptrên Biển Đông có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc bảo vệ quyền chủ quyền vàquyền tài phán của các quốc gia Biển Đông trong vùng đặc quyền kinh tế của họ

Đồng thời, phán quyết này có ý nghĩa quan trọng đối với việc giải quyết các tranh chấp hànghải trong khu vực

e) “Tòa Trọng tài Biển Đông: Quan điểm của Trung Quốc” của Zhang Xinjun:

Trong nghiên cứu này, tác giả Zhang Xinjun đã trình bày quan điểm của Trung Quốc về phánquyết của tòa trọng tài, cho rằng phán quyết đó “không có giá trị pháp lý” cũng như “có động

cơ chính trị” Tác giả nêu ra các lập luận pháp lý do Trung Quốc đưa ra để bảo

Trang 12

vệ các yêu sách lãnh thổ trên biển của mình, đồng thời chỉ trích phán quyết của Tòa vềviệc vô hiệu hóa các yêu sách của Trung Quốc đối với các quyền lịch sử trong đườngchín đoạn Ngoài ra, tác giả cũng đưa ra nhận định về các tác động tiềm ẩn của phánquyết này đối với lợi ích hàng hải của Trung Quốc trong khu vực biển Đông.

II) Chương II Một số vấn đề lý luận về việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài theo Phụ lục VII UNCLOS

1) Khái niệm

a) Cơ quan tài phán quốc tế

Cơ quan tài phán quốc tế là những cơ quan hình thành trên cơ sở thỏa thuận hoặc thừa nhậncủa các chủ thể luật quốc tế nhằm thực hiện chức năng giải quyết bằng trình tự, thủ tục tưpháp các tranh chấp nảy sinh trong quá trình các chủ thể thực thi, tuân thủ luật quốc tế

b) Giải quyết tranh chấp thông qua các cơ quan tài phán quốc tế

Giải quyết tranh chấp thông qua các cơ quan tài phán quốc tế là một trong các biện pháphòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế được quy định trong Điều 33 Hiến chương Liên hợpquốc năm 1945 Về tổng thể, các cơ quan tài phán quốc tế tồn tại chủ yếu dưới ba dạng làTòa án Quốc tế, Trọng tài Quốc tế và cơ quan tài phán được thành lập trong khuôn khổcác tổ chức quốc tế Tính chất của mỗi loại hình tài phán phụ thuộc vào quy chế, điều lệ vàchức năng đặc thù của từng loại, theo sự xác định và lựa chọn của chủ thể Luật Quốc tế Cơquan tài phán quốc tế có chức năng chính là giải quyết tranh chấp quốc tế, trong đó có cáctranh chấp quốc tế về biển, đảo Thông thường, các biện pháp này sẽ

Trang 13

được áp dụng khi các nỗ lực giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán, thương lượngkhông thu được kết quả mà các bên mong muốn.

c) Tòa trọng tài thành lập theo Phụ lục VII UNICLOS

Theo quy định tại Điều 287 UNCLOS 1982, khi ký kết hay phê chuẩn Công ước hoặctham gia Công ước ở bất kỳ thời điểm nào, một quốc gia được quyền lựa chọn một hay

nhiều biện pháp sau đây để giải quyết các tranh chấp có liên quan đến việc giải thích hay

áp dụng Công ước:

+ Tòa án quốc tế về Luật biển được thành lập theo đúng Phụ lục VII (ITLOS

-International Tribunal for the Law of the Sea)

+ Tòa án quốc tế (IJC – International Court of Justice)

+ Một Tòa trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII, UNICLOS 1982

+ Một Tòa trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII, UNICLOS 1982 để giải quyết một hoặcnhiều loại tranh chấp

Như vậy, khi giải quyết tranh chấp biển đảo liên quan đến vấn đề giải thích và áp dụngUNCLOS 1982, các quốc gia có thể lựa chọn một hoặc kết hợp nhiều cơ chế tài phán

trên Trong đó, Tòa trọng tài thành lập theo phụ lục VII UNCLOS 1982 là Tòa trọng tàikhông thường trực, còn gọi là Hội đồng trọng tài Đây là cơ chế tài phán quan trọng, có nhiều

ưu thế hơn so với các cơ quan tài phán khác trong giải quyết tranh chấp biển Đông Một sốđặc trưng cơ bản của Tòa trọng tài được thành lập theo phục lục VII, UNCLOS 1982 baogồm thẩm quyền, thành phần, tính chất của bản án

2) Vai trò, ý nghĩa

Sự ra đời của UNCLOS đã hình thành một khuôn khổ pháp lý quốc tế toàn diện điềuchỉnh quyền và nghĩa vụ của tất cả quốc gia trong sử dụng biển, quản lý các nguồn tài

Trang 14

nguyên biển và bảo tồn các nguồn tài nguyên này cho thế hệ mai sau Công ước đã đặt ra cơ

sở để xác định các vùng biển và căn cứ cho các quốc gia xác lập chủ quyền, quyền chủquyền và quyền tài phán đối với các vùng biển và tiến hành các hoạt động trên biển Ðâycũng là lần đầu tiên chế định pháp lý về Vùng đặc quyền kinh tế được chính thức ghi nhận,giải quyết được sự dung hòa về lợi ích giữa các quốc gia khi một mặt ghi nhận những đặcquyền cho quốc gia ven biển trong một số lĩnh vực, mặt khác vẫn bảo đảm

một số quyền tự do cho tất cả quốc gia.UNCLOS yêu cầu các quốc gia thành viên phải

chấp thuận sự điều chỉnh cả gói và không cho phép bảo lưu bất kỳ điều khoản nào, ngoạitrừ những tuyên bố cụ thể theo quy định của Công ước, bảo đảm việc tuân thủ và thực hiệnđầy đủ Công ước

Bên cạnh đó, với giá trị mang tính cốt lõi, toàn diện và bao trùm của bản "Hiến pháp của biển

và đại dương", UNCLOS còn là khuôn khổ pháp lý quan trọng cho việc xây dựng

các văn kiện pháp lý khác về biển và đại dương Ngoài ra, UNCLOS cũng quy định cơ

chế bắt buộc nhằm giải quyết tranh chấp nảy sinh giữa các quốc gia trong giải thích và ápdụng Công ước

Có thể thấy rằng, sau 40 năm kể từ khi được chính thức thông qua, UNCLOS vẫn giữ vẹnnguyên những giá trị tiến bộ, phổ quát, mang tính nền tảng cho các vấn đề về biển và đạidương trên toàn thế giới Sau một quá trình dài hình thành và 40 năm thực hiện, UNCLOS

đã ngày càng chứng tỏ được vai trò và ý nghĩa phổ quát, toàn diện đối với các vấn đề vềbiển và đại dương trên toàn cầu Cùng với sự phát triển của nhân loại, một trật tự dựa trênluật pháp ngày càng được củng cố và đề cao, trong đó, UNCLOS luôn giữ giá trị và tầmquan trọng hàng đầu

3) Nguồn luật điều chỉnh

Tòa trọng tài là cơ quan tài phán quốc tế được các quốc gia và các chủ thể khác của Luậtquốc tế thỏa thuận thành lập trên cơ sở điều ước quốc tế (hoặc điều khoản) về trọng tài

Trang 15

nhằm giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các bên Do vậy, tòa này không có thẩm quyềnđương nhiên trong giải quyết tranh chấp Tòa trọng tài theo Phụ lục VII có thẩm quyềnGQTC giữa các thành viên của UNCLOS liên quan đến việc giải thích và áp dụng côngước Theo đó, UNCLOS sẽ đóng vai trò là nền tảng, khuôn khổ pháp lý bởi Tòa sẽ áp dụngtoàn bộ những điều khoản được quy định trong công ước, đặc biệt là tại chương XVUNCLOS để giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia liên quan.

Dưới đây là một số nguồn luật cơ bản:

a) Điều ước quốc tế

Trong Luật biển quốc tế hiện đại, điều ước quốc tế được coi là nguồn phổ biến, chứa đựngcác thỏa thuận quốc tế, được ký kết bởi các chủ thể của Luật biển quốc tế Phạm vi điềuchỉnh của điều ước quốc tế liên quan đến quá trình xác định, sử dụng, khai thác các vùngbiển đặt dưới chế độ pháp lý khác nhau và các hệ quả phát sinh từ quá trình này, như vấn đềquản lý, bảo vệ, gìn giữ môi trường biển phát triển bền vững, vấn đề thiết lập và duy trìhoạt động của các thiết chế quốc tế, các đảm bảo pháp lý hữu hiệu để duy trì hoạt động sửdụng, khai thác biển Thực tiễn ký kết các điều ước quốc tế về biển thường có các côngước quốc tế đa phương trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế toàn cầu hoặc

chuyên môn, hay hiệp định hợp tác song phương giữa các quốc gia

Đối với Luật biển quốc tế hiện đại, UNCLOS 1982 có tầm quan trọng đặc biệt Với 320điều khoản, 17 phần và 9 phụ lục (gồm hàng nghìn quy định), và hiện vẫn đang tiếp tụcđược bổ sung, hoàn thiện, như Thỏa thuận ngày 02/7/1994 về thực hiện Phần XI của

Công ước, UNCLOS 1982 đã tạo dựng được một khung pháp lý hiện đại về biển, có hiệulực thi hành trong cộng đồng quốc tế Bằng các quy định tiến bộ, khoa học và tổng thể,

công ước đã đề cập một cách toàn diện các vấn đề về pháp lý, kinh tế, khoa học kĩ thuật, hợptác, giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình sử dụng biển của các quốc gia Côngước là sự kế thừa tính tích cực, tiến bộ của luật quốc tế; phản ánh thực tiễn sôi động của quátrình khai thác, sử dụng biển Điểm đặc biệt của UNCLOS 1982 là tính “cả gói”

(mọi khía cạnh) bao gồm các mối quan hệ của nhiều vấn đề khác nhau có liên quan, với

Trang 16

đa phần các quốc gia tham gia và phần lớn các xung đột về quyền lợi Mặt khác, Công ướccho phép vận dụng một cách linh hoạt nhằm bảo đảm tính bền vững qua thời gian và cũngkhông để xảy ra tình trạng xâm lấn chủ quyền của các quốc gia Vì vậy, mỗi quy định đềuđược đặt trong bối cảnh tổng thể tạo thành một Công ước cân bằng để tạo ra cơ sở của sựnhất trí chung Trong xu thể xây dựng và phát triển hiện đại của luật quốc tế

chung và Luật biển quốc tế, UNCLOS 1982 là một trong những công cụ pháp lý chủ đạo

để thực thi các hoạt động trên biển theo một trật tự pháp lý ổn định, để duy trì và bảo vệchủ quyền quốc gia trên biển, đồng thời là khuôn khổ pháp lý để phát triển và hoàn thiệncác quy định khác, có hiệu lực điều chỉnh một cách trực tiếp đối với các hoạt động diễn ratrong môi trường không gian biển và đại dương

Không những thế, UNCLOS 1982 còn có sự trù định về một số trường hợp phát sinh yêu cầuphải giải quyết mối quan hệ giữa UNCLOS 1982 với điều ước quốc tế khác, có liên quan trựctiếp đến việc thực thi UNCLOS 1982 của các thành viên, cụ thể như sau:

Trong quan hệ giữa các quốc gia đồng thời là thành viên của cả UNCLOS 1982 và cáccông ước 1958 thì hiệu lực ưu tiên áp dụng sẽ thuộc về UNCLOS 1982 UNCLOS 1982cũng không làm ảnh hưởng đến hiệu lực thi hành của các điều ước quốc tế khác mà thànhviên UNCLOS 1982 đã ký kết hoặc gia nhập, với điều kiện điều ước quốc tế đó phải phùhợp với UNCLOS 1982 và việc thực thi các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ điều ước quốc

tế khác đó không ảnh hưởng đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của quốc gia thànhviên khác của UNCLOS 1982;

Trong quan hệ song phương hay đa phương giữa một số thành viên UNCLOS 1982,

Công ước cho phép các nước này có thể ký các điều ước quốc tế sửa đổi hay đình chỉ việc

áp dụng các quy định của Công ước trong mối quan hệ phát sinh riêng giữa những chủ thểnày với nhau, với điều kiện:

+ Không đụng đến một trong những quy định của UNCLOS 1982 mà việc không tôn trọng

sẽ không phù hợp với việc thực hiện nội dung và mục đích của Công ước;

Trang 17

+ Không đụng đến việc áp dụng các nguyên tắc cơ bản đã được nêu trong Công ước;

+ Không ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của quốc gia khác bắt nguồn từCông ước

Trong quan hệ hợp tác sử dụng, khai thảc biển, mỗi quốc gia, chẳng hạn như Việt Nam,còn có thể áp dụng các điều ước quốc tế song phương đã ký kết với nước ngoài Cụ thể, ởViệt Nam, nguồn điều ước quốc tế tham gia điều chỉnh quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnhvực Luật biển của Việt Nam còn phải kể đến một số văn bản pháp lý quốc tế quan trọngnhư: Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa Việt Nam

và Trung Quốc (ký ngày 25/12/2000, được phê chuẩn ngày 30/6/2004); Hiệp định phânđịnh biển Việt Nam và Thái Lan ngày 09/8/1997; Bản ghi nhớ Việt Nam - Malaysia về thiếtlập chế độ khai thác chung ở vùng chồng lấn 1992;…

b) Tập quán quốc tế

Bên cạnh các công ước quốc tế về biển, tập quán quốc tế đóng vai trò rất quan trọng Tậpquán quốc tế với tư cách là nguồn của Luật biển quốc tế là những quy tắc hình thành

trong thực tiễn và được thừa nhận là luật Sự thừa nhận thể hiện thông qua việc tuân thủ hoặc

im lặng không phản đối Đối với Luật biển quốc tế, các tập quán quốc tế xuất hiện

trước, có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia trong lịch sử.Trong mối quan hệ với điều ước, tập quán quốc tế tác động tới sự hình thành các điều ướcquốc tế về biển Tập quán về biển cả là cơ sở để các quốc gia tham gia Hội nghị của UN vềLuật biển lần thứ nhất ký kết Công ước về biển cả cũng như nội dung biển cả

trong UNCLOS 1982 Mặc dù các tập quán quốc tế về biển cơ bản đã được pháp điển hóanhưng tập quán quốc tế vẫn tồn tại độc lập và vẫn có hiệu lực ràng buộc các quốc gia, bởi vìcác điều ước quốc tế không bao gồm thành viên là tất cả các quốc gia trên thế giới

Trang 18

c) Các nguồn bổ trợ của Luật biển quốc tế

- Phán quyết của tòa án quốc tế

Điều 38 khoản 1 điểm d của Quy chế Tòa án quốc tế đề cập tới các phán quyết của tòa án vàcác phán quyết có vai trò quan trọng đối với luật pháp quốc tế nói chung và Luật biển quốc

tế nói riêng Phán quyết của tòa án không phải là hình thức trực tiếp chứa đựng các quyphạm pháp luật quốc tế mà đó là văn bản áp dụng luật quốc tế Thông qua phán quyết củatòa án, quy phạm luật quốc tế được vận dụng hoặc một quy tắc được áp dụng với những ýkiến, bình luận của các chuyên gia Các tòa án quốc tế có vai trò quan trọng để

làm rõ ý nghĩa và phạm vi của các quy tắc có liên quan thông qua việc xét xử Phán quyếtcủa tòa án có thể có tác động hình thành đối với sự phát triển của Luật biển quốc tế Vụ

eo biển Corfu, Tòa đã đưa ra một tiêu chuẩn địa lý: eo biển nối hai phần của biển cả là

một eo biển quốc tế Phán quyết này đóng góp cho việc pháp điển hóa quy chế của các eobiển quốc tế và quyền qua lại của tàu thuyền Nguyên tắc đường cơ sở thẳng được áp dụngtại Na Uy từ năm 1869 đã trở thành các tiêu chuẩn mới của Luật biển quốc tế thông quaphán quyết của Tòa án Công lý quốc tế năm 1951 khi giải quyết tranh chấp giữa Anh và Na

Uy và được pháp điển hóa trong UNCLOS 1982

- Học thuyết của các luật gia

Lịch sử hình thành và phát triển của Luật biển quốc tế qua các thời kì đã chứng tỏ một

thực tế cực kì sinh động, đó là các học thuyết có vai trò lớn trong việc hình thành các quyphạm của Luật biển Nhiều quy phạm của luật tập quán và cà luật thành văn sau này

trong lĩnh vực biển và hàng hải quốc tế có nguồn gốc từ ý tưởng, lý luận của những họcthuyết về pháp luật, lãnh thổ, chủ quyền , tồn tại trong luật quốc tế chung Những học

thuyết này, ngoài ý nghĩa phản ánh quá trình con người chinh phục thiên nhiên và tiến rabiển, còn có giá trị khái quát về tư tưởng pháp luật đổi với quá trình sử dụng và khai thácmôi trường thiên nhiên, không gian biển và đại dương trong điều kiện có nhà nước và

Trang 19

pháp luật Có thể tìm thấy ở một số học thuyết tồn tại từ những thế kỉ trước (như đã nêu tạinội dung phần quá trình hình thành và phát triển của Luật biển quốc tế hiện đại).

- Các văn kiện có tính chất khuyến nghị

Văn kiện cồ tính chất khuyến nghị bao gồm các nghị quyết, tuyên bố và các nguyên tắcđược thông qua dưới sự bảo trợ của UN hoặc các tổ chức quốc tế Tính chất khuyến nghịcủa các văn kiện không có nghĩa là chúng không có ý nghĩa pháp lý mà chúng có ảnhhưởng đến việc xây dựng Luật biển quốc tế

Trên bình diện quốc tế, đã có nhiều nghị quyết liên quan đến lĩnh vực Luật biển đã được

UN thông qua và nhiều nghị quyết trong số đó đã góp phần quan trọng vào việc xây dựngchế độ pháp lý các vùng biển như Nghị quyết 1803 năm 1962 về “Tuyên bố về chủ quyềnvĩnh cửu trên các tài nguyên thiên nhiên”, Nghị quyết 3016 năm 1972 về “chủ quyền vĩnhcửu của quốc gia trên các tài nguyên các vùng biển nằm trong ranh giới tài phán quốc gia”,Nghị quyết 3171 năm 1973 về “chủ quyền trên các tài nguyên thiên nhiên” nhắc lại cácnguyên tắc của hai Nghị quyết trên, Nghị quyết 2749 ngày 27/12/1970 tuyên bố về cácnguyên tắc quản lý đáy biển và đại dương cũng như lòng đất của chúng nằm ngoài ranh giớiquyền tài phán quốc gia

Trong quan hệ giữa các quốc gia tại từng khu vực, vai trò của các tuyên bố được hình

thành trong khuôn khổ hoạt động của những tổ chức quốc tế khu vực cũng có tầm quantrọng đối với các vấn đề quốc tế trên biển của khu vực đó Chẳng hạn, đối với các vấn đề

trên Biển Đông, Tuyên bố về cách ứng xử giữa các bên ở Biển Đông (DOC) là văn kiện

chính trị thể hiện những nỗ lực to lớn của các nước ASEAN và Trung Quốc qua một thờigian dài tìm kiếm sáng kiến và giải pháp pháp lý cho vấn đề Biển Đông Đối với các quốcgia trong khu vực, mặc dù tuyên bố này còn mang tính chất đại cương và ít ràng buộc,nhưng việc đạt được thỏa thuận như vậy đã là một bước tiến quan trọng trong quan hệ đốithoại giữa ASEAN và Trung Quốc

Trang 20

Nhìn chung, các văn kiện là cơ sở để ký kết điều ước quốc tế đa phương hoặc các điều khoản

cụ thể của điều ước; các văn kiện có thể cung cấp hướng dẫn về việc giải thích một điều ước

và các điều khoản của điều ước, xác nhận quy tắc hiện hành của luật tập quán quốc tế hoặcđưa tới sự hình thành của các quy tắc mới

- Tuyên bố đơn phương

Trong Luật biển quốc tế, tuyên bố đơn phương của quốc gia đã có tác động xây dựng nềntảng cho sự phát triển của luật pháp Tuyên bố Truman ngày 28/9/1945: “Các nguồn tàinguyên thiên nhiên của lòng đất dưới đáy biển và của đáy biển của thềm lục địa nằm dướibiển cả và tiếp giáp với bờ biển của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ là thuộc Hoa Kỳ và phụ

thuộc vào quyền tài phán và quyền lực của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ” Tuyên bố Truman đãkhái quát bản chất pháp lý của thềm lục địa đó là sự mở rộng tự nhiên của lục địa đất liền.Sau Tuyên bố Truman, một loạt các quốc gia cũng ra tuyên bố hoặc tự quy định các quyềncủa mình đối với thềm lục địa như: Cuba, Mexico, Argentina, Chile, Peru, Ả Rập Xê út,Côoet Tại Hội nghị khu vực các quốc gia châu Phi (tháng 6/1972), Kenya đưa ra sángkiến thiết lập vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý Năm 1973, sáng kiến này được đưavào Dự thảo các điều khoản về vùng đặc quyền kinh tế do các nước Á - Phi

trình bày cho ủy ban đáy biển Tuyên bố đơn phương đóng vai trò tích cực trong việc hìnhthành, phát triển các quy phạm Luật biển, trong việc đảm bảo thực thi pháp luật khi sửdụng và khai thác biển của các chủ thể tham gia các hoạt động trên biển

Chương III Vụ việc Philippines kiện Trung Quốc về tranh chấp chủ quyền biển Đông

1 Cơ sở pháp lý cho việc khởi kiện của phía Philippines

Ngày 22 tháng 01 năm 2013 Philippines gửi tuyên bố khởi kiện Trung Quốc về một sốkhía cạnh của tranh chấp giữa hai nước ở Biển Đông theo quy định của Công ước Liên

Trang 21

hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) Trong Tuyên bố khởi kiện của mình,Philippines đề nghị Tòa trọng tài đưa ra phán quyết tuyên bố rằng:

- Các quyền và nghĩa vụ của Philippines và Trung Quốc đối với các vùng biển, đáy biển vàcác thực thể trên Biển Đông được điều chỉnh bởi UNCLOS và yêu sách đường chín đoạncủa Trung Quốc không phù hợp với Công ước và do đó không có giá trị pháp lý;

- Xác định quy chế pháp lý của một số thực thể đang tranh chấp giữa Trung Quốc vàPhilippines, làm rõ liệu các thực thể này là đảo, bãi lúc nổi lúc chìm hay bãi chìm và liệuchúng có thể tạo ra các vùng biển rộng lớn hơn 12 hải lý hay không;

- Cho phép Philippines được thực thi và hưởng các quyền bên trong và bên ngoài vùngđặc quyền kinh tế và thềm lục địa phù hợp với quy định của Công ước

Một cách cụ thể, Philippines yêu cầu Tòa lên tiếng trên 15 điểm, liên quan đến một số vấn

đề chính như sau :

Thứ nhất, tính bất hợp pháp của bản đồ đường 9 đoạn được Trung Quốc sử dụng để đòi hỏichủ quyền với khoảng 80% diện tích Biển Đông, con đường huyết mạch cho giao thươngquốc tế Yêu sách đường chín đoạn Trung Quốc đưa ra dựa trên "quyền lịch sử" không phùhợp với UNCLOS cho nên nó vô giá trị

Vấn đề thứ hai là phân loại và xác định quy chế cho các thực thể, để qua đó xác định cácvùng biển cho 9 thực thể bao gồm Scarborough, Chữ Thập, Châu Viên, Gạc Ma, VànhKhăn, Cỏ Mây, Subi, Kennan và Garen Nhìn từ phía Philippines, Scarborough, Chữ Thập,Châu Viên và Gạc Ma là các bãi đá, do vậy, có vùng lãnh hải tối đa 12 hải lý Ngược lạiVành Khăn, Cỏ Mây, Subi, Kennan và Garen là những thực thể nửa nổi nửa chìm, khôngphải là đối tượng để Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền và chiếm đóng Theo UNCLOS, thì một

số thực thể địa lý, mà cả Philippines lẫn Trung Quốc yêu sách, là đảo, đá, bãi cạn lúc nổi lúcchìm hay bãi ngầm nằm hoàn toàn dưới mực nước biển, trên cơ sở đó để xác định hiệu lựcpháp lý của các thực thể này đến đâu (có hay không có lãnh hải 12 hải lý, vùng đặc quyềnkinh tế 200 hải lý)

Trang 22

Vấn đề thứ ba được nêu bật liên quan đến những tác động đối với nghề đánh bắt thủy sản,khai thác dầu khí, những quyền lợi kinh tế, môi trường an ninh hàng hải của Philippines.Manila còn cáo buộc Bắc Kinh vi phạm UNCLOS vì đã tiến hành đánh cá và các hoạt độngxây dựng gây phương hại đến các quyền lợi biển của Philippines Philippines yêu cầu PCAtuyên bố Trung Quốc đã vi phạm UNCLOS khi cản trở Philippines thực thi các quyền chủquyền, quyền tài phán và quyền tự do của Philippines theo UNCLOS cũng như việcTrung Quốc gây tổn hại môi trường biển trong các hoạt động bồi lấp xây dựng đảo, đánhbắt cá mà nước này tiến hành.

Cuối cùng Philippines kêu gọi tòa án lên tiếng để Trung Quốc không tuyên bố các vùngđặc quyền kinh tế và thềm lục địa từ các thực thể trong khu vực quần đảo Trường Sa

2 Quy trình, thủ tục nộp đơn khởi kiện

a) Quy trình

Là một quốc gia thành viên Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS),ngày 22/1/2013, Philippines đã đệ đơn kiện về việc Trung Quốc đã giải thích và áp dụng saiUNCLOS theo Điều 279, Điều 283, Điều 284 lên Tòa Trọng tài Thường trực The Haye(PCA)

Trong bản “Tuyên bố khởi kiện” của mình, Philippines có hai đệ trình liên quan đến yêu sách

đường chữ U: Đệ trình số I và II Cụ thể, Philippines đề nghị Tòa xem xét và ra phán quyếtrằng: Các quyền của Trung Quốc đối với các vùng biển trên Biển Đông, cũng như các quyềncủa Philippines, được quy định theo UNCLOS và bao gồm các quyền đối với Lãnh hải, tiếpgiáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa (Đệ trình số số I)

Theo đó, yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông dựa vào cái gọi là đường chín đoạn tráivới UNCLOS và không có giá trị (Đệ trình số II)

Ngày 29/10/2015, PCA ra thông cáo báo chí về vụ kiện giữa Cộng hòa Philippines vớiCộng hòa Nhân dân Trung Hoa; trong đó đã khẳng định rằng PCA có thẩm quyền thụ lý,xét xử vụ kiện này theo đúng quy định của UNCLOS và rằng, cả Trung Quốc và

Trang 23

Philippines đều là thành viên ràng buộc của UNCLOS có trách nhiệm và nghĩa vụ tuân thủmọi điều khoản của UNCLOS Việc Trung Quốc từ chối tham gia vụ kiện không làm mất đithẩm quyền ra phán quyết của PCA.

PCA đã bác bỏ lập luận của Trung Quốc rằng Philippines chủ yếu khởi kiện các nội dungliên quan đến chủ quyền lãnh thổ và phân định biên giới biển giữa 2 nước, do đó nó vượtquá thẩm quyền của PCA Ngược lại Tòa khẳng định, bản chất vụ kiện của Philippinesphản ánh tranh chấp giữa 2 nước liên quan đến việc giải thích và áp dụng UNCLOS Đồngthời, PCA cũng đã bác bỏ lập luận của Trung Quốc cho rằng Tuyên bố về ứng xử của cácbên trên Biển Đông (DOC) ký giữa Trung Quốc với ASEAN năm 2002 là thỏa thuận đểgiải quyết tranh chấp Biển Đông thông qua thương lượng PCA phán quyết rằng DOC chỉ

là một thỏa thuận chính trị mà không ràng buộc pháp ý, do đó không liên quan đến cácquy định trong UNCLOS về việc ưu tiên giải quyết tranh chấp thông qua bất kỳ phươngtiện nào mà hai bên đồng ý

b) Thủ tục

-Ngày 22/1/2013: Philippines nộp bản Thông báo và Tuyên bố khởi kiện để khởi kiệnTrung Quốc trước Tòa Trọng tài về “Thẩm quyền trên các vùng biển của Philippines đối vớiBiển Tây Philippines” theo các quy định của Phụ lục VII Công ước Liên Hợp Quốc vềLuật Biển 1982 Trong Tuyên bố khởi kiện của mình, Philippines đã đưa ra 13 điểm nộidung yêu cầu Tòa Trọng tài xem xét, liên quan đến một loạt các vấn đề pháp lý khác nhautrên Biển Đông

-Ngày 19/2/2013: Trung Quốc đưa ra Công hàm “Quan điểm của Trung Quốc đối với cácvấn đề ở Biển Nam Trung Hoa” từ chối tham gia vụ kiện và trả lại bản Thông báo củaPhilippines Mặc dù Trung Quốc từ chối tham gia vào tiến trình trọng tài, Tòa trọng tài vẫntiếp tục xem xét vụ việc và Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) đã được chọn làm Ban thư kýcho tòa trọng tài trong vụ kiện này

-Ngày 27/8/2013: PCA đã đưa ra Thông cáo báo chí tuyên bố Tòa Trọng tài đã họp vàotháng 7/2013 và quyết định các quy định thủ tục và thời gian biểu tạm thời cho vụ kiện Bảnthông cáo nêu rõ Tòa trọng tài đã yêu cầu Philippines nộp Bản tranh tụng trước ngày

Ngày đăng: 12/07/2023, 10:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1) A. Batongbacal, J. (2017). The South China Sea Arbitration: Understanding the Award and Its Implications. Asian Journal of International Law, 7(1), 173-188 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The South China Sea Arbitration: Understanding the Award and Its Implications
Tác giả: A. Batongbacal, J
Nhà XB: Asian Journal of International Law
Năm: 2017
2) B. Ku, J., & Yoo, J. (2017). A Preliminary Analysis of the South China Sea Arbitration Award. Virginia Journal of International Law, 57(2), 301-319 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Preliminary Analysis of the South China Sea Arbitration Award
Tác giả: B. Ku, J. Yoo
Nhà XB: Virginia Journal of International Law
Năm: 2017
3) C. Koplow, D. A. (2017). The South China Sea Arbitration and China's Maritime Territorial Claims. American Journal of International Law, 111(4), 847-857 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The South China Sea Arbitration and China's Maritime Territorial Claims
Tác giả: C. Koplow, D. A
Nhà XB: American Journal of International Law
Năm: 2017
4) D. Rothwell, D. R., & Stephens, T. (2017). The South China Sea Arbitration and the Law of the Sea. International and Comparative Law Quarterly, 66(4), 817-835 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The South China Sea Arbitration and the Law of the Sea
Tác giả: D. Rothwell, D. R. Stephens
Nhà XB: International and Comparative Law Quarterly
Năm: 2017
5) E. Zhang, X. (2017). The South China Sea Arbitration: A Chinese Perspective.Chinese Journal of International Law, 16(1), 5-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The South China Sea Arbitration: A Chinese Perspective
Tác giả: E. Zhang
Nhà XB: Chinese Journal of International Law
Năm: 2017
6) Giá trị và tác động của Phán quyết ngày 12/7/2016 của Tòa Trọng tài thành lập theo Phụ lục VII Công ước Luật biển năm 1982 về vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc.Nguyễn Bá Diến - Đồng Thị Kim Thoa. 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị và tác động của Phán quyết ngày 12/7/2016 của Tòa Trọng tài thành lập theo Phụ lục VII Công ước Luật biển năm 1982 về vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Bá Diến, Đồng Thị Kim Thoa
Năm: 2016
7) Giải quyết các tranh chấp biển đông thông qua tòa trọng tài thành lập theo phụ lục VII Công ước luật biển quốc tế 1982. Nguyễn Đăng Nghĩa. 2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết các tranh chấp biển đông thông qua tòa trọng tài thành lập theo phụ lục VII Công ước luật biển quốc tế 1982
Tác giả: Nguyễn Đăng Nghĩa
Năm: 2021
8) Cơ chế giải quyết tranh chấp trên biển theo Công ước Luật biển 1982. Nguyễn Bá Diến - Nguyễn Hùng Cường. 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế giải quyết tranh chấp trên biển theo Công ước Luật biển 1982
Tác giả: Nguyễn Bá Diến, Nguyễn Hùng Cường
Năm: 2009
9) Việt Nam và phương án sử dụng Tòa trọng tài theo phụ lục VII Công ước luật biển 1982 trước những yêu sách của Trung Quốc tại biển Đông. Đào Thị Thu Hường. 2016 10) Giáo trình Công pháp quốc tế, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, PST. TS Nguyễn Bá Diễn, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Công pháp quốc tế
Tác giả: TS Nguyễn Bá Diễn
Nhà XB: nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
11) Một số giải pháp bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới, trang tapchiqptd.vn, Đại tá, PGS, TS. NGUYỄN THANH LONG, 12/11/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới
Tác giả: Đại tá, PGS, TS. NGUYỄN THANH LONG
Nhà XB: tapchiqptd.vn
Năm: 2021
13) Tuyên bố khởi kiện của Cộng hòa Philippines, ngày 22/01/2013, đoạn 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyên bố khởi kiện của Cộng hòa Philippines
Năm: 2013
17) Giải quyết tranh chấp thông qua Tòa Trọng Tài.https://sti.vista.gov.vn/tw/Lists/TaiLieuKHCN/Attachments/318258/2354-063xS472021102.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết tranh chấp thông qua Tòa Trọng Tài
12) Ý nghĩa phán quyết của Tòa trọng tài trong vụ kiện của Philippines và lưu ý đối với Việt Nam. ThS. Bạch Thị Nhã Nam, Giảng viên Khoa Luật, 7/2016 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w