Hiến pháp năm 1992 sửa đổi năm 2001 và Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1994, cũng như năm 2003 hiện hành quy định về tổ chức các cấp chính quyền địa phương, trong đó có chính quyền thành p
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
-TRẦN CÔNG LỢI
TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN QUẬN CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH -
THỰC TRẠNG VÀ ĐỔI MỚI
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật hành chính - Nhà nước
Mã số : 60.38.20
Người hướng dẫn:
PGS- TS Trương Đắc Linh
TP Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2007
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ CHÍNH QUYỀN QUẬN TRONG HỆ THỐNG TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN Tp TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG 7
1.1 Khái quát về quá trình hình thành và phát triển chính quyền Quận trong hệ thống tổ chức chính quyền Tp trực thuộc trung ương 7
1.1.1 Lịch sử hình thành, phát triển đơ thị và chính quyền Tp trực thuộc trung ương ở Việt Nam 7
1.1.2 Tổ chức chính quyền Quận trong hệ thống tổ chức chính quyền Tp trực thuộc trung ương qua các thời kỳ lịch sử 14
a Tổ chức chính quyền Hộ (Quận) thời Pháp thuộc 14
b Tổ chức chính quyền quận của chính quyền Sài Gịn trước ngày giải phĩng (30 tháng 4 năm 1975) 16
c Tổ chức chính quyền Khu phố - Quận của Nhà nước ta từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay 19
1.2 Địa vị pháp lý của chính quyền Quận 24
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và cơ cấu tổ chức chính quyền Quận 24
1.2.2 Vị trí, tính chất pháp lý của các cơ quan chính quyền Quận 29
a Hội đồng nhân dân Quận 29
b Uỷ ban nhân dân Quận 30
1.2.3 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan chính quyền Quận 32
a Hội đồng nhân dân Quận 32
b Uỷ ban nhân dân Quận 34
1.2.4 Các hình thức hoạt động của các cơ quan chính quyền Quận 36
a Các hình thức hoạt động của Hội đồng nhân dân Quận 36
b Các hình thức hoạt động của Uỷ ban nhân dân Quận 39
Trang 3CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN QUẬN TẠI Tp HỒ CHÍ MINH
43
2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của thành phố Hồ Chí Minh và hệ thống tổ chức các cấp chính quyền của thành phố 43
2.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của thành phố Hồ Chí Minh 43
2.1.2 Hệ thống tổ chức các cấp chính quyền của thành phố Hồ Chí Minh 45
2 2 Thực trạng tổ chức các cơ quan chính quyền Quận 47
2.2.1 Thực trạng tổ chức và các hình thức hoạt động của Hội đồng nhân dân Quận 47
2.2.2 Thực trạng tổ chức và các hình thức hoạt động của Uỷ ban nhân dân Quận
53
2.3 Nhận xét và đánh giá về thực trạng tổ chức và hoạt động của chính quyền Quận 64
2.4 Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trong tổ chức và hoạt động của chính quyền Quận 66
CHƯƠNG 3: ĐỔI MỚI TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN QUẬN TRONG MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN ĐÔ THỊ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 70
3.1 Đổi mới mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh 70
3.1.1 Quan điểm định hướng về đổi mới tổ chức chính quyền đô thị 70
3.1.2 Định hướng đổi mới mô hình chính quyền đô thị tại Tp phố Hồ Chí Minh 73
3.2 Đổi mới tổ chức chính quyền Quận trong mô hình chính quyền đô thị tại TP Hồ Chí Minh 81
3.2.1 Mục tiêu, quan điểm đổi mới tổ chức chính quyền Quận 81
3.2.2 Phương hướng đổi mới tổ chức chính quyền Quận 82
KẾT LUẬN 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài :
Chính quyền là vấn đề cơ bản của mọi cuộc Cách mạng Trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào muốn thống trị thì đương nhiên phải giành lấy chính quyền
và xây dựng chính quyền mang bản chất giai cấp của mình Chính quyền thuộc
về giai cấp nào là sự phản ánh kiểu Nhà nước - Chính quyền trong lịch sử; song nhằm quản lý và điều hành xã hội có hiệu quả thì phải xây dựng hình thức tổ Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở để thực hiện nhiệm vụ, chức năng của Nhà nước phù hợp với điều kiện lịch sử- xã hội, phản ánh quy luật vận động của xã hội, nhằm thực hiện có hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước
Chính quyền Cách mạng của đất nước ta hình thành và phát triển trải qua hơn 60 năm, đã thực sự thể hiện là chính quyền của dân, do dân và vì dân, góp phần to lớn vào các thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Việt Nam Trong từng thời
kỳ lịch sử, chúng ta không những luôn đề cao xây dựng bản chất của chính quyền
mà còn luôn luôn luôn xây dựng và hoàn thiện mô hình tổ chức Nhà nước, cơ chế vận hành để ngày càng phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội Đặc biệt, trong hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, về mặt hình thức tổ chức chính quyền đã có những đổi mới đáng kể, và hiện nay cũng đang tiếp tục đổi mới để ngày càng hoàn thiện hơn Vì hiệu quả hoạt động của Bộ máy Nhà nước là điều kiện quyết định cho sự thành công của công cuộc đổi mới hiện nay Một trong những yếu tố cơ bản tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước là phải xây dựng mô hình tổ chức bộ máy Nhà nước Khi mô hình tổ chức
bộ máy Nhà nước phù hợp với yêu cầu quản lý xã hội sẽ có tác động tích cực vào
xã hội, thúc đẩy sự phát triển của kinh tế-xã hội Do đó, xây dựng và hoàn thiện
mô hình tổ chức bộ máy Nhà nước nói chung và chính quyền địa phương nói riêng luôn luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm nghiên cứu, đặc biệt từ Đại
Trang 5hội Đảng lần thứ VI của Đảng khởi xướng đường lối đổi mới kinh tế và đã tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế ở nước ta thoát khỏi khủng hoảng trong thời kỳ kinh tế tập trung bao cấp Trong khi đó hoạt động quản lý hành chính Nhà nước trên các lĩnh vực, đặc biệt là quản lý hành chính Nhà nước về kinh tế- xã hội còn nhiều bất cập cản trở công cuộc đổi mới về kinh tế Vì vậy, Đại hội Đảng Lần thứ
X nhận định bộ máy Nhà nước “chất lượng hoạt động và hiệu quả thấp”
Một trong những bất cập có thể thấy rõ nhất, mô hình tổ chức chính quyền địa phương ở nước ta hiện nay, chưa có sự phân biệt cụ thể giữa chính quyền ở nông thôn và chính quyền ở đô thị Vấn đề này hiện nay các quy định của pháp luật về tổ chức chính quyền ở hai đĩa bàn về cơ bản giống nhau, trong khi đó yêu cầu khách quan về quản lý Nhà nước lại hoàn toàn giống nhau Đây là nguyên nhân quan trọng khiến cho bộ máy chính quyền đô thị hoạt động kém hiệu quả, thiếu chủ động, sáng tạo trong quản lý điều hành của chính quyền đô thị nói chung và chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng Trước những bất cập trong việc vận hành bộ máy, kém hiệu quả trong quản lý và điều hành, nhất là công cuộc cải cách hành chánh chưa đạt yêu cầu đề ra, chúng ta cần phải nhận thức đầy đủ hơn về mặt hình thức tổ chức chính quyền và tính hiệu lực, hiệu quả của nó dựa trên một trình độ tổ chức hiện đại, những cấp độ tổ chức phù hợp, tiên tiến; thêm vào đó, quá trình đô thị hoá đang diễn ra nhanh chóng làm cho yêu cầu đổi mới và hoàn thiện tổ chức bộ máy của chính quyền địa phương cấp quận của thành phố Hồ Chí Minh trở nên rất quan trọng
Xuất phát từ thực tiễn trên, Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã chỉ ra:
“Nâng cao chất lượng hoạt động của Hội Đồng Nhân Dân và Uỷ Ban Nhân Dân, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương trong phạm vi được phân cấp Phát huy vai trò giám sát của Hội Đồng Nhân Dân Tổ chức hợp lý chính quyền địa phương, phân định lại thẩm quyền đối với chính quyền ở nông thôn, đô thị, hải đảo” Là một đô thị lớn nhất nước, Thành phố Hồ
Trang 6Chí Minh cũng ra sức tìm tòi để đổi mới mạnh mẽ hơn nữa trong việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện chính quyền Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ Thành
phố Hồ Chí Minh lần thứ VIII đã đề ra nhiệm vụ: “Tăng cường quản lý Nhà
nước về đô thị: Xây dựng đề án, kiến nghị Trung ương cho làm thí điểm mô hình chính quyền đô thị ở thành phố”
Vì vậy, đổi mới tổ chức chính quyền đô thị nói chung, chính quyền quận trong mô hình đổi mới tổ chức chính quyền đô thị thành phố Hồ Chí Minh nói riêng có ý nghĩa cả về lý luận, cả về thực tiễn ở nước ta hiện nay
Đây là lý do tác giả chọn đề tài: “Tổ chức chính quyền Quận của Thành
phố Hồ Chí Minh- thực trạng và đổi mới” làm Luận văn Thạc sĩ luật của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài :
Do tính cần thiết của vấn đề trong tình hình mới, nhất là từ khi Đảng và Nhà nước ta chỉ đạo tiến hành công cuộc cải cách nền hành chính quốc gia theo tinh thần Nghị quyết Trung Ương 3, khoá VIII của Đảng, cho nên nhiều cấp Uỷ Đảng, nhiều
nhà khoa học quan tâm nghiên cứu về công tác tổ chức chính quyền quận của thành
phố Hồ Chí Minh dưới nhiều góc độ, phương diện khác nhau Trong đó, liên quan đến đề tài này có các công trình cụ thể như sau:
- “Nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý đô thị Thành phố Hồ Chí Minh” -
PGS.TS Phan Xuân Biên, TS Hồ Bá Thâm, PGS.TS Phan Minh Tân, Nhà Xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2004
- “Đổi mới và phát triển hệ thống chính trị” - TS Hồ Bá Thâm, Nhà Xuất bản
Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2005
- “Tâm lý học quản lý đô thị từ thực tế Thành phố Hồ Chí Minh” - TS Hồ Bá
Thâm, Nhà Xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2005
Trang 7- “Quản lý đô thị: Một số vấn đề tâm lý trong cải cách hành chính, phân cấp
quản lý, thực trạng dân chủ” - Tình Thâm, Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí
Minh, Những vấn đề nghiên cứu, Nhà Xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2005
- “Xây dựng chính quyền đô thị Thành phố Hồ Chí Minh - một yêu cầu cấp
thiết của cuộc sống” - Kỷ yếu Hội thảo khoa học của Viện Nghiên cứu xã hội, Viện
Kinh tế, Sở Nội vụ, Ban Tư tưởng - Văn hoá Thành uỷ, Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2006…
Tuy nhiên, từ trước đến nay ở nước ta chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách
cơ bản, có tính hệ thống chuyeân về tổ chức chính quyền Quận của thành phố Hồ Chí Minh và vấn đề đổi mới tổ chức cấp chính quyền này Vì vậy, tác giả chọn đề tài này làm luận văn thạc sĩ là không trùng lặp với các đề tài của các tác giả khác đã nghiên cứu từ trước đến nay
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn:
3.1 Mục đích:
Góp phần xác định rõ vị trí, tính chất của đơn vị hành chính quận và chính quyền quận trong cơ cấu tổ chức chính quyền thành phố Hồ Chí Minh, những bất cập tổ chức chính quyền quận và giải pháp đổi mới nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, phục vụ nhân dân trước yêu cầu hiện nay
Trang 8- Đề xuất một số giải pháp đổi mới tổ chức chính quyền quận trong mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh
4 Phương pháp nghiên cứu:
- Dựa trên cơ sở những quan điểm cơ bản của học thuyết Mác - Lênin về xây dựng chính quyền cách mạng của giai cấp công nhân, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh và những quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước ta về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhất là trong thời
kỳ đổi mới
- Căn cứ vào thực tiễn vận hành của bộ máy chính quyền thành phố và quận hiện nay
- Phương pháp nghiên cứu được thực hiện bằng các phương pháp logic - lịch
sử, khảo sát thực tế, phân tích - tổng hợp, điều tra xã hội học, so sánh, đặc biệt coi trọng phương pháp tổng kết thực tiễn
5 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn:
- Trình bày một cách hệ thống về tổ chức chính quyền đô thị nói chung, chính quyền quận của thành phố trực thuộc trung ương nói riêng qua các thời kỳ lịch sử
- Phân tích cơ sở lý luận và cơ sở pháp luật hiện hành về tổ chức chính quyền quận, những hạn chế, bất cập về lý luận, pháp lý đối với chính quyền đô thị nói chung, chính quyền quận nói riêng
- Đề xuất một số quan điểm và một số giải pháp đổi mới tổ chức chính quyền quận trong mô hình chính quyền đô thị Tp Hồ Chí Minh
6 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn:
- Kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể tham khảo, áp dụng khi xây dựng
đề án đổi mới tổ chức chính quyền đô thị của thành phố trực thuộc trung ương nói chung, thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
Trang 9- Luận văn còn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học luật, cao học hành chính
7 Kết cấu luận văn:
Luận văn gồm: Mở đầu, 3 chương, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo
Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về chính quyền Quận trong hệ thống tổ
chức chính quyền thành phố trực thuộc trung ương
Chương 1: Thực trạng tổ chức và hoạt động của chính quyền Quận tại thành
phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Đổi mới tổ chức chính quyền Quận trong mô hình chính quyền đô
thị tại TP Hồ Chí Minh
Trang 10CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ CHÍNH QUYỀN QUẬN TRONG HỆ THỐNG TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN TP TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG
1.1 Khái quát về quá trình hình thành và phát triển chính quyền Quận
trong hệ thống tổ chức chính quyền Tp trực thuộc trung ương
1.1.1 Lịch sử hình thành, phát triển đơ thị và chính quyền Tp trực thuộc trung
ương ở Việt Nam
a Về sự hình thành và phát triển đơ thị - thành phố trực thuộc trung ương:
Trong lịch sử xã hội Việt Nam, đơ thị ra đời từ rất sớm Theo một số nhà nghiên cứu, đơ thị cổ nhất và ra đời sớm nhất ở Việt Nam cĩ thể là Cổ Loa, thế kỷ thứ III trước cơng nguyên Tiếp đến là Hoa Lư, kinh đơ đầu tiên của thời kỳ tự chủ,
ra đời vào thế kỷ thứ X Thăng Long - Hà Nội thế kỷ thứ XI Vân Đồn - một đơ thị cảng biển - thế kỷ XII Lạng Sơn đơ thị miền núi lại gần biên giới, nếu kể từ Bạc Dịch Trường Vĩnh Bình là từ thế kỷ XI, XII, phát triển lên vào thế kỷ XIII Phố Hiến
- mở đầu thế kỷ XIII, phát triển ở thế kỷ XV - XVI Dương Xá - Thanh Hố thế kỷ
XV, XVI Vinh - Bến Thuỷ thế kỷ XII - XIII Huế thế kỷ XVII - XVIII Sài Gịn thế
là nơi đồn trú của binh lính để bảo vệ hành dinh của bộ máy thống trị
Cĩ "Đơ", cĩ "Thành" thì nhu cầu vật phẩm cần thiết cho cuộc sống của vua chúa, quan lại và binh lính địi hỏi phải cĩ "Thị" (tức chợ) để mua bán, trao đổi hàng
Trang 11hoá Cổ Loa xưa từ thời Thục Phán được hình thành trên cơ sở đó Đến Liên Lâu nơi
Sĩ Nhiếp đóng đô cũng vậy Tuy thành Liên Lâu nhỏ hơn thành Cổ Loa nhưng "Thị" lại tấp nập hơn Thời đó đã có những thương nhân Ấn Độ, Trung Quốc đến buôn bán Đến kinh đô Hoa Lư, "Đô" ở trong thành mà thị lại hoàn toàn tách ra ở ngoài thành, ven sông Hoàng Long Thăng Long từ khi định đô (thế kỷ XI, năm Canh Tuất 1010) trở đi, "đô, thành và thị" là ba yếu tố luôn kết hợp để trở thành đô thị trung tâm văn hoá - kinh tế - chính trị của cả nước [xem: 52, tr 18]
Ngày nay, theo nghĩa thông thường, đô thị được hiểu là nơi tập trung dân cư đông đúc, là trung tâm thương nghiệp, công nghiệp [53, tr.338]
Do sự giao lưu, ảnh hưởng, thậm chí do cả sự thống trị của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, từ thế kỷ XIX trở đi, đô thị Việt Nam phát triển nhanh chóng Nhưng
so với đô thị phương Tây cùng thời thì đô thị Việt Nam có phạm vi khá khiêm tốn
Những năm qua, dưới tác động mạnh mẽ của các nhân tố khách quan và chủ quan, quá trình đô thị hoá phát triển nhanh, mạnh mẽ cả bề rộng và bề sâu Các đô thị lớn của đất nước như: Thủ đô Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh đã có dáng dấp của đô thị hiện đại và được Nhà nước tích cực xây dựng theo hướng đó Một trong những chỉ số phản ánh mức độ đô thị hoá là số lượng dân cư sống tại đô thị Năm 1999, dân
số đô thị cả nước ta là trên 15 triệu người, chiếm khoảng 20% dân số cả nước Theo
dự báo của Chính phủ thì đến năm 2020, dân số đô thị ở nước ta sẽ là 46 triệu người, chiếm 45% dân số toàn quốc [54]
Tuy nhiên, đây là con số không lớn vì như ở Cộng hoà liên bang Đức, vào năm 1999, dân số khoảng 81,8 triệu người (gần tương đương dân số nước ta) nhưng chỉ tính riêng số dân sống ở 84 thành phố lớn (có hơn 100.000 dân) đã có tới 26 triệu người, chiếm 1/3 dân số và theo một dự báo, tới năm 2020, khoảng 60% dân số thế giới sẽ sống trong các khu đô thị
Trang 12Căn cứ vào các tiêu chuẩn phân loại đô thị được quy định tại Nghị định số
72/2001/NĐ-CP của Chính phủ ngày 05/10/2001 "Về việc phân loại đô thị và phân
cấp quản lý đô thị", hiện nay, nước ta có:
- 2 đô thị loại đặc biệt là: Thủ đô Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh;
- 3 đô thị loại I là: Tp Hải Phòng, Tp Đà Nẵng và Tp Cần Thơ;
Năm thành phố này được xác định là các thành phố trực thuộc trung ương
- Các đô thị loại II, III và IV là: 33 thành phố thuộc tỉnh và 54 thị xã
- Các đô thị loại V là: 597 thị trấn của cả nước [55]
Đô thị loại đặc biệt và đô thị loại I là các thành phố trực thuộc trung ương phải đạt 5 tiêu chuẩn sau:
1 Là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật, đào tạo,
du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của cả nước hoặc của một vùng lãnh thổ liên tỉnh;
2 Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 85% trở lên;
3 Có cơ sở hạ tầng được xây dựng về cơ bản đồng bộ và hoàn chỉnh;
4 Có quy mô dân số từ 50 vạn người trở lên;
5 Mật độ dân số bình quân từ 12.000 người/km 2 trở lên
(Điều 8 và 9 Nghị định số 72/2001/NĐ-CP)
b Về lịch sử tổ chức chính quyền thành phố trực thuộc trung ương:
Theo sự phát triển của lịch sử, tổ chức chính quyền thành phố trực thuộc trung ương xuất hiện khá muộn Một số nhà nghiên cứu cho rằng: cho đến nửa đầu
thế kỷ XV, các thành (với nghĩa là pháo đài), phố (nơi tập trung làm ăn buôn bán)
vẫn được đặt trực thuộc các huyện, lộ Về sau này, từ những nơi tập trung dân cư (và
là nơi đóng đô hay thủ phủ của bộ máy chính quyền nhà nước các cấp) ban đầu đó, hình thành nên các đô thị được Nhà nước đặt thành các đơn vị hành chính độc lập tách khỏi các huyện, lộ và tổ chức bộ máy quản lý ở các đô thị này
Trang 13Tổ chức chính quyền đô thị ở nước ta nói chung, chính quyền quận nói riêng qua các thời kỳ lịch sử là khác nhau:
Nhà Hậu Lê (đời Lê Thánh Tông, thế kỷ XV), lần đầu tiên trong phân chia
đơn vị hành chính đã đặt riêng ra một đơn vị hành chính có tính đô thị và về cấp tương đương với đạo, xứ là phủ Trung đô (Lệnh tháng 4 năm 1466 chia nước thành
12 đạo thừa tuyên và phủ Trung Đô) Đây có thể coi là đơn vị hành chính kiểu thành phố trực thuộc trung ương đầu tiên ở nước ta Phủ Trung Đô hình thành từ hai huyện
ở kinh kỳ là Thọ Xương và Vĩnh Thuận (Quảng Đức) Cách tổ chức bộ máy cai quản của phủ Trung Đô cũng khác với các đạo Ở đạo (sau gọi là xứ) có cơ quan cai trị là
Ty tuyên chính xứ do Tuyên chính xứ đứng đầu, tiếp đến là Tham chính xứ và Chủ
sự Còn ở phủ Trung Đô có Phủ doãn, Thiếu doãn và Thị trung
Đến thời các chúa Nguyễn, gọi nơi đóng đô là Ái Tử, sau đó là Phú Xuân, là
chính dinh với bộ máy cai quản gồm Chúa, bốn viên quan đại thần (nội tả, hữu tả, nội hữu, ngoại hữu) và các ty Các lãnh thổ khác chia thành các dinh đứng đầu là Trấn thủ và dưới dinh có phủ, huyện, châu, xã đứng đầu là Tri phủ, Tri huyện, Tri châu và Xã trưởng
Thời Pháp thuộc, các đô thị được mở mang và phát triển, được gọi chung là thành phố và phân theo các cấp khác nhau Việc tổ chức bộ máy quản lý tuỳ theo
cấp thành phố và thay đổi theo các thời kỳ khác nhau:
- Thời kỳ 1858 - 1887: đặt thành phố Sài Gòn làm thành phố cấp I (Sắc lệnh của Tổng thống Pháp ngày 08/01/1887), Chợ Lớn làm thành phố cấp II (Nghị định của Thống đốc Nam Kỳ ngày 20/10/1879)
- Từ sau khi thành lập Liên bang Đông Dương, Nam kỳ thành lập thêm các thành phố cấp III do quan Chủ tỉnh kiêm nhiệm Ở Bắc kỳ lập 2 thành phố cấp I là
Hà Nội và Hải Phòng (Sắc lệnh ngày 19/7/1888) do viên Đốc lý người Pháp kiêm Chủ tịch thành phố Chuyển một số thị xã quan trọng lên thành phố cấp III như: Nam Định, Hải Dương .Ở Trung Kỳ, ngày 24/5/1889, thực dân Pháp ban hành
Trang 14Nghị định tách Đà Nẵng khỏi Quảng Nam và đổi tên thành Tourane, chịu sự cai
quản trực tiếp của Toàn quyền Đông Dương Thành phố Đà Nẵng là thành phố cấp
II đầu tiên ở miền Trung, do Đốc lý người Pháp đứng đầu Phụ tá cho Đốc lý là một
Uỷ ban thành phố Ngoài ra còn một số thị xã chuyển lên thành thành phố cấp III, như: Đà Lạt (Nghị định ngày 31/10/1920), Vinh - Bến Thuỷ (Nghị định ngày 10/12/1927), Huế (Nghị định ngày 12/12/1929), Quy Nhơn (Nghị định ngày 30/4/1931) v.v
Theo Sắc lệnh ngày 19/12/1941, hai thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn được
sáp nhập thành "địa phương Sài Gòn - Chợ Lớn" Nghị định ngày 12/5/1942 của Toàn quyền Đông Dương chia Sài Gòn - Chợ Lớn thành 18 Hộ
Theo 2 văn bản pháp lý này, tổ chức chính quyền thành phố Sài Gòn-Chợ
với tỉnh tổ chức 3 cấp chính quyền (tỉnh - huyện - xã), các thành phố trực thuộc
trung ương (Tp Hà Nội) hoặc trực thuộc Kỳ (Tp Hải Phòng, Tp Sài Gòn) chỉ tổ
chức 2 cấp chính quyền là cấp Thành phố và Khu phố Nhưng chỉ cấp thành phố là
cấp chính quyền hoàn chỉnh, có HĐND và UBHC, còn khu phố không có HĐND mà chỉ có UBHC
Sau ngày hoà bình lập lại trên miền Bắc, theo Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức HĐND và UBHC các cấp năm 1962, ở miền Bắc có 2 thành phố trực thuộc trung
Trang 15ương là Thủ đô Hà Nội và thành phố Hải Phòng Chính quyền của thành phố trực thuộc trung ương vẫn tổ chức 2 cấp là: cấp chính quyền thành phố và cấp chính quyền khu phố Nhưng khác với Sắc lệnh số 77 năm 1945, cả 2 cấp chính quyền thành phố và khu phố đều được xác định là cấp chính quyền hoàn chỉnh, đều có cả HĐND và UBHC UBHC cấp nào do HĐND cấp đó bầu ra
Ở miền Nam: sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền cách mạng
ở Sài Gòn - Chợ Lớn và cả Nam bộ nói chung thành lập chưa được bao lâu thì đêm
22 rạng ngày 23/9/1945, thực dân Pháp đã mở đầu cho cuộc tái xâm lược Sài Gòn và
Nam bộ, biến nơi đây thành "Nam kỳ Tự trị" Đến giữa năm 1948, thực dân Pháp
đưa Bảo Đại lên làm Quốc trưởng, Nguyễn Văn Xuân làm Thủ tướng của Chính phủ lâm thời Nam kỳ
Giai đọan này có một số văn bản quy định về tổ chức quản lý thành phố này như: Nghị định ngày 31/7/1947, Nghị định ngày 22/9/1947, Nghị định ngày 26/9/1947, Nghị định ngày 30/6/1951 v.v của Thủ tướng Chính phủ Nam kỳ để quy định thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn là Thủ đô của Nam kỳ tự trị, quy định về tổ chức các cơ quan quyết nghị và cơ quan chấp hành của đô thành, phân chia và tổ chức các phân hạt hành chính của đô thành Quốc trưởng Bảo Đại ban hành Dụ số 2 ngày 01/7/1949, Sắc lệnh số 105-NV ngày 27/12/1952 quy định về tổ chức các cơ quan quyết nghị và cơ quan chấp hành của Thủ đô Sài Gòn - Chợ Lớn v.v
Theo Sắc lệnh số 104-NV ngày 27/12/1952, 18 Hộ của Tp Sài Gòn-Chợ Lớn trước đây được nhập lại thành 7 và đổi tên thành Quận
Sau Hiệp định Giơ -ne-vơ năm 1954, thành phố Sài Gòn được xác định là thủ đô của Việt Nam Cộng hoà Khác với thời thực dân Pháp đô hộ chỉ phân chia các đơn vị hành chính thành phố Sài Gòn thành các Hộ, rồi sau đó đổi thành Quận, thời chính quyền Ngô Đình Diệm (1955 - 1963) và chính quyền Nguyễn Văn Thiệu trước ngày giải phóng năm 1975, thành phố Sài Gòn phân chia thành 4 cấp là: Thành phố Sài Gòn (Đô thành) - Quận - Phường và Khóm Nhưng theo Hiến pháp năm 1956
Trang 16(thời Tổng thống Ngô Đình Diệm); Hiến pháp năm 1967 (thời Nguyễn Văn Thiệu); Sắc lệnh 74-TTP ngày 23/3/1959 về tổ chức nền hành chính Đô thành và Nghị định
số 675-BNV/HCĐP/NĐ ngày 14/10/1972 về tổ chức Tòa hành chính quận; v.v chỉ
có cấp thành phố Sài Gòn được xác định là tập thể địa phương phân quyền, có tư cách pháp nhân, tổ chức chính quyền đầy đủ, có cả cơ quan quyết nghị (Hội đồng
Đô thành) và cơ quan chấp hành (Toà hành chính Đô thành) do Đô trưởng đứng đầu
Còn quận, phường và khóm chỉ là địa hạt hành chính, nên chỉ có cơ quan hành chính
nằm trong hệ thống hành chính Đô thành Đứng đầu các địa hạt hành chính nói trên
là Quận trưởng, Phường trưởng và Khóm trưởng [56, tr 73-80]
Sau ngày giải phóng miền Nam (năm 1975) thống nhất đất nước:
Sau ngày giải phóng miền Nam (30 tháng 4 năm 1975), để thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước, ngày 25 tháng 4 năm 1976, nhân dân cả nước đã bầu ra Quốc hội thống nhất Quốc hội đã quyết định đặt tên nước là nước CHXHCN Việt Nam, quyết định đổi tên thành phố Sài Gòn thành thành phố Hồ Chí Minh và quyết định thành lập Uỷ ban dự thảo Hiến pháp để xây dựng bản Hiến pháp mới cho nhà nước Việt Nam thống nhất Trong quá trình soạn thảo Hiến pháp, vấn đề phân chia các đơn vị hành chính và tên gọi các đơn vị hành chính ở đô thị, trên cơ sở đó tổ chức các cấp chính quyền ở thành phố trực thuộc trung ương được đặt ra thảo luận nhiều lần Vì khi đó, cả nước có 3 thành phố trực thuộc trung ương là Thủ đô Hà Nội, Tp Hải Phòng và Tp Hồ Chí Minh Nhưng Thủ đô Hà Nội và Tp Hải Phòng chỉ có 2 cấp đơn vị hành chính ở nội thành là thành phố và khu phố Trong khi đó, sau ngày giải phóng (30/4/1975), thời kỳ chính quyền quân quản (1975 - 1976) thành phố Sài Gòn tiếp tục duy trì 4 cấp đơn vị hành chính ở nội thành: Thành phố - Quận - Phường và Khóm, ở mỗi cấp đều tổ chức chính quyền quân quản tương ứng Từ năm
1976, cấp Khóm được bãi bỏ và Uỷ ban nhân dân cách mạng thay thế cho các Uỷ ban quân quản Bắt đầu từ năm 1977, thành phố tổ chức bầu cử HĐND các cấp, trong đó có 3 cấp chính quyền ở nội thành là: cấp Thành phố, cấp Quận và cấp
Trang 17Phường Ở tất cả 3 cấp chính quyền này đều tổ chức HĐND và UBND UBND cấp nào do HĐND cấp đó bầu ra
Để thống nhất phân chia các đơn vị hành chính, tên gọi các đơn vị hành chính ở các thành phố trực thuộc trung ương và thống nhất tổ chức các cấp chính
quyền ở các thành phố này, Hiến pháp năm 1980 quy định: Thành phố trực thuộc
trung ương chia thành Quận (ở nội thành), Huyện (ở ngoại thành); Huyện chia thành Xã và Thị trấn; Quận chia thành Phường Các đơn vị hành chính kể trên đều thành lập Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (Xem: Điều 113 Hiến pháp năm
1980)
Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) và Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1994, cũng như năm 2003 hiện hành quy định về tổ chức các cấp chính quyền địa phương, trong đó có chính quyền thành phố trực thuộc trung ương so với Hiến pháp năm 1980 về cơ bản là không thay đổi
Theo quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 hiện hành, tổ chức chính quyền thành phố trực thuộc trung ương cũng giống như tổ
chức chính quyền tỉnh (Luật "gọi chung là cấp tỉnh") gồm 3 cấp chính quyền hoàn
chỉnh: Thành phố, Quận (hoặc huyện ở ngoại thành) và Phường (xã, thị trấn ở các huyện ở ngoại thành) Tất cả các cấp chính quyền nói trên đều là cấp chính quyền hoàn chỉnh, đều có HĐND và UBND UBND cấp nào do HĐND cấp đó bầu ra
1.1.2 Tổ chức chính quyền Quận trong hệ thống tổ chức chính quyền Tp trực
thuộc trung ương qua các thời kỳ lịch sử
a Tổ chức chính quyền cấp Hộ (Quận) thời Pháp thuộc:
Từ năm 1861 đến năm 1867, thực dân Pháp lần lượt đánh chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam bộ, rồi 3 tỉnh miền Tây Nam bộ, buộc triều đình nhà Nguyễn phải ký Hòa ước năm Nhâm Tuất (1962) và Hòa ước năm Đinh Mão (1867) giao 6 tỉnh Nam
kỳ cho Pháp
Trang 18Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, để tổ chức quản lý thành phố Sài Gòn-Chợ Lớn, thực dân Pháp ban hành các văn bản pháp lý khác nhau, với các cách thức tổ chức ở các thời kỳ khác nhau Giai đọan từ 1877 đến 1931, Sài Gòn và Chợ Lớn là 2 thành phố riêng biệt, tổ chức và họat động theo những văn bản pháp lý riêng
Ngày 27 tháng 4 năm 1931, Tổng thống Pháp ban hành Sắc lệnh hợp nhất 2
thành phố Sài Gòn-Chợ Lớn để thiết lập một đơn vị hành chính mới gọi là "địa
Cấp chính quyền thành phố Sài Gòn-Chợ Lớn gồm 2 thứ cơ quan: Cơ quan
quyết nghị là Hội đồng quản trị Sài Gòn - Chợ Lớn và Cơ quan chấp hành là Quận trưởng Sài Gòn-Chợ Lớn
Cấp Hộ: Theo Nghị định ngày 12/5/1942 của Tòan quyền Đông Dương, Tp
Sài Gòn-Chợ Lớn được chia thành 18 Hộ, do một Hộ trưởng điều khiển Hộ trưởng
do Quận trưởng địa phương Sài Gòn-Chợ Lớn bổ nhiệm Người được bổ nhiệm làm
Hộ trưởng phải là người từ 35 đến 50 tuổi, có 2 năm trở lên cư ngụ trong hộ, phải thông thạo tiếng Pháp và tiếng Việt
Trưởng Hộ thực hiện các nhiệm vụ về: Hành chính tổng quát, cảnh sát, vệ sinh, kiều lộ, thuế vụ, mộ lính, phòng thủ thụ động, tư pháp, tế tự (Điều 12 Nghị định ngày 12/5/1942)
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, thời kỳ "Nam kỳ tự trị", Quốc trưởng Bảo Đại ban hành: Dụ số 2 ngày 01/7/1949, Sắc lệnh số 105-NV ngày 27/12/1952 quy định về tổ chức chính quyền Thủ đô Sài Gòn-Chợ Lớn của cái gọi là "Cộng hoà
Trang 19Nam kỳ tự trị" Theo Sắc lệnh số 104-NV ngày 27/12/1952, 18 Hộ của Tp Sài Chợ Lớn trước đây được nhập lại thành 7 và đổi tên thành Quận
Gòn-Mỗi quận có Hội nghị quận gồm 5 hội viên bầu theo lối phổ thông, nhiệm
kỳ là 3 năm Hội trưởng và Phó Hội trưởng do Hội nghị quận bầu trong số hội viên Hội nghị quận có 2 tư cách: đại diện cho dân chúng của quận trong mối quan hệ với chính quyền Đô thành và chính quyền trung ương, đồng thời đại diện cho chính quyền cấp trên trong mối quan hệ với dân chúng trong quận
Khác với chính quyền cấp đô thành, quận không có tư cách pháp nhân, không có ngân sách và tài sản riêng
Theo Nghị định số 803 ngày 27/12/1952 của Thủ tướng Chính phủ Nam Việt, Hội trưởng Hội nghị quận giải quyết các vấn đề: về hành chính tổng quát, về cảnh sát, về vệ sinh, thuế vụ, về kiều lộ, về mộ lính, về phòng thủ thụ động, về tư pháp, về tế tự [56, tr 39-58]
b Tổ chức chính quyền Quận tại thành phố Sài Gòn (Đô thành Sài Gòn) trước ngày giải phóng 30 tháng 4 năm 1975:
Tổ chức chính quyền địa phương ở Miền Nam nói chung, đô thành Sài Gòn nói riêng trước giải phóng có nhiều thay đổi, được quy định bởi nhiều văn bản pháp
lý khác nhau, như:
- Hiến pháp năm 1956 thời Ngô Đình Diệm; Hiến pháp năm 1967 thời Nguyễn Văn Thiệu;
- Sắc lệnh 74-TTP ngày 23/3/1959 về tổ chức nền hành chính Đô thành; Sắc lệnh 67, 68 và 69-NV ngày 9/4/1965 về tổ chức các Hội đồng Đô thành, tỉnh và thị xã; Sắc lệnh số 203-đ/NV ngày 31/5/1964 ấn định tổ chức xã, ấp; và các Sắc lệnh số 190-SL/ĐUHC ngày 24/12/1966; Sắc lệnh số 061/SL/NV ngày 22/6/1971; Sắc lệnh
số 120-SL/NV ngày 22/8/1972 v.v liên quan đến tổ chức chính quyền địa phương;
Trang 20- Các Nghị định số 220-NĐ/NV ngày 23/5/1972 về thay thế Quận trưởng công chức bằng sĩ quan quân đội; Nghị định số 675-BNV/HCĐP/NĐ ngày 14/10/1972 về tổ chức Tòa hành chính quận; v.v
Nghiên cứu các văn bản pháp lý nói trên cho thấy: chính quyền Sài Gòn tổ chức bộ máy chính quyền địa phương ở địa bàn nông thôn với địa bàn đô thị, trong
đó có thành phố Sài Gòn là khác nhau:
Về chính quyền Tỉnh: Tỉnh tổ chức 3 cấp, bao gồm: Tỉnh - Quận - Xã
Nhưng chỉ có Tỉnh và Xã được xác định là các "tập thể địa phương phân
quyền", "có tư cách pháp nhân công pháp", có tài sản và ngân sách riêng, là cấp
chính quyền đầy đủ, có Hội đồng tỉnh, hay Hội đồng xã do cử tri bầu ra và cơ quan chấp hành là Tỉnh trưởng đứng đầu Tòa hành chính tỉnh, hoặc Ủy ban hành chính xã Còn Quận chỉ là địa hạt hành chính, không có tư cách pháp nhân như tỉnh và xã Quận trưởng giữ vai trò là một trung gian có uy thế giữa tỉnh và xã, kiểm sóat họat động của các xã trong quận, thực chất là giám hộ hành chính
Về tổ chức chính quyền Đô thành Sài Gòn: có 4 cấp là cấp thành phố, cấp
quận, cấp phường và cấp khóm
Nhưng khác với tỉnh, theo quy định của Hiến pháp năm 1967 (Điều 70-73)
và các văn bản pháp lý của chính quyền Sài Gòn, chỉ có cấp thành phố Sài Gòn được
xác định là "tập thể địa phương phân quyền", có tư cách pháp nhân, tổ chức chính
quyền đầy đủ, có cả cơ quan quyết nghị (Hội đồng Đô thành) và cơ quan chấp hành (Toà hành chính Đô thành do Đô trưởng đứng đầu) Còn quận, phường và khóm chỉ
là địa hạt hành chính, nên chỉ có cơ quan hành chính nằm trong hệ thống hành chính
Đô thành
Chính quyền cấp Quận của Đô thành Sài Gòn: Trước năm 1975, Đô thành
Sài Gòn phân chia thành 11 Quận Tất cả các Quận đều được đặt tên theo số thứ tự
tự Quận 1 đến Quận 11 Chính quyền Quận là Toà hành chính Quận Đứng đầu Toà
hành chính quận là Quận trưởng Theo quy định tại Thông tư số 1a ngày 01/3/1968,
Trang 21Quận trưởng do Tổng trưởng Nội vụ bổ nhiệm theo đề nghị của Đô trưởng Quận trưởng chỉ là người đại diện cho Đô trưởng, có nhiệm vụ áp dụng và thi hành luật lệ của Đô trưởng, cấp một số giấy phép và thị thực chữ ký Theo Nghị định số 220-NĐ/NV ngày 23/5/1972, Quận trưởng phải là sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hoà Giúp việc cho Quận trưởng có 1 Phó Quận trưởng và 1 Phụ tá hành chính nguyên là Quận trưởng dân sự trước khi có Nghị định số 220-NĐ/NV năm 1972 Theo Nghị định số 675-BNV/HCĐP/NĐ ngày 14/10/1972, Tòa hành chính
Quận gồm 2 phòng: 1 Phòng hành chính và quân vụ (có 3 Ban: Ban hành chính, Ban hộ tịch, Ban quân vụ và nhân dân tự vệ); 2 Phòng kinh tế tài chính ( có 3 Ban:
Ban kinh tế vệ sinh, Ban tài chính, Ban tạp thâu)
Ngòai các phòng - ban nói trên, Quận trưởng còn được giao trách nhiệm phối hợp với các sở chuyên môn thuộc Tòa đô chánh để chỉ huy trực tiếp 4 chi: Chi thông tin, Chi chiêu hồi, Chi xã hội và Chi thanh niên
Phường Trưởng đại diện chính quyền tại phường, có các nhiệm vụ:
- Thi hành luật lệ, chủ trương của Chính phủ tại phường theo chỉ thị và kiểm sóat của Quận Trưởng;
- Giữ gìn an ninh trật tự phường; Điều khiển và kiểm sóat công việc của Văn phòng Phường
- Kiểm tra dân số theo chỉ thị của Quận trưởng, cấp phát, kiểm nhận và lưu giữ tờ khai gia đình;
Trang 22- Hành thu một số thuế, tạp thuế và lệ phí do Đô thành ủy nhiệm v.v
Văn phòng Phường đặt tại trụ sở phường, gồm những nhân viên sau:
- Phường Trưởng và 1 Phụ tá Phường trưởng;
- 1 Tổng thư ký nhân dân tự vệ Phường;
- 2 đến 3 thư ký (nếu phường có 25.000 dân trở lên);
- 1 Tùy phái
Ngòai ra có 5 Trưởng Ban chuyên môn giúp việc cho Phường Trưởng là: Trưởng Ban an ninh; Trưởng Ban tuyên vận; Trưởng Ban kiến thiết; Trưởng Ban Thanh niên; Trưởng Ban thuế vụ
Theo Sắc luật số 5 ngày 25 tháng 7 năm 1972, Phường trưởng là quân nhân (sĩ quan hoặc hạ sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hoà)
Cấp Khóm:
Theo Nghị định số 810-BNV/HCĐP ngày 9/11/1971 của Bộ Nội vụ, Khóm là phân hạt hành chính thấp nhất trong hệ thống hành chính đô thành Sài Gòn, nối liền Phường và Liên gia Mỗi khóm có từ 10 đến 30 liên gia Năm 1973, 11 quận của Tp
Sài Gòn tổ chức thành 710 khóm
Mỗi Khóm có 1 Khóm trưởng và 2 Phụ tá Khóm trưởng (1 phụ trách về hành chính, 1 phụ trách về an ninh) do Quận trưởng bổ nhiệm theo đề nghị của Phường trưởng
Văn phòng khóm đặt tại trụ sở khóm Ngòai Khóm trưởng và 2 Phụ tá khóm trưởng, còn có 3 Trưởng Ban phụ trách về an ninh, tuyên vận và Ban phát triển Cũng theo Sắc lệnh số 5 năm 1972, tất cả các Khóm trưởng phải là Hạ sĩ quan quân đội Khóm trưởng có trách nhiệm điều hành guồng máy hành chính Khóm, giữ gìn an ninh trật tự tại khóm, điều động các lực lượng quân sự, bán quân sự và nhân dân tự vệ tại khóm [56, tr 61-81]
c Tổ chức chính quyền Khu phố - chính quyền Quận của Nhà nước ta từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay
Trang 23+ Tổ chức chính quyền Khu phố theo Sắc lệnh số 77 ngày 21/1/ 1945:
Để phân biệt sự khác nhau trong việc quản lý và tổ chức bộ máy chính quyền ở vùng nông thôn với quản lý và tổ chức bộ máy chính quyền ở đô thị, chỉ vài tháng sau khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đã ký ban hành Sắc lệnh số 63 và Sắc lệnh số 77 năm 1945 Theo 2 sắc lệnh này chính quyền địa phương
của nước ta được tổ chức ở 4 cấp là: cấp kỳ, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã; ở thành
phố trực thuộc trung ương (Hà Nội) hoặc trực thuộc kỳ (Tp Hải Phòng và Tp Sài
Gòn) tổ chức 2 cấp chính quyền là: cấp thành phố và cấp khu phố
Khác với tỉnh tổ chức 3 cấp chính quyền, tổ chức chính quyền thành phố gồm hai cấp là cấp thành phố và khu phố Nhưng chỉ cấp thành phố là cấp chính quyền hoàn chỉnh, có HĐND và UBHC Khu phố không tổ chức HĐND mà chỉ có UBHC UBHC khu phố do cử tri trong khu phố trực tiếp bầu UBHC khu phố gồm 3
ủy viên chính thức (1 Chủ tịch, 1 Phó Chủ tịch, 1 Thư ký) và 2 ủy viên dự khuyết Riêng UBHC khu phố ở Hà Nội có 5 ủy viên chính thức và 2 ủy viên dự khuyết
Về nhiệm vụ, quyền hạn của UBHC khu phố cũng như UBHC các cấp khác, đều là những cơ quan hành chính ở thành phố và khu phố, có trách nhiệm thi hành mệnh lệnh cấp trên, thi hành nghị quyết HĐND thành phố, giải quyết các công việc trên địa bàn thành phố
Ngày 9 tháng 11 năm 1946, Quốc hội chính thức thông qua bản Hiến pháp Hiến pháp năm 1946 quy định nước ta gồm ba bộ: Bắc, Trung, Nam Mỗi bộ chia thành tỉnh, thành phố; mỗi tỉnh chia thành huyện, thành phố chia thành khu phố; mỗi huyện chia thành xã Tổ chức chính quyền ở mỗi cấp hành chính nói trên về cơ bản vẫn như hai Sắc lệnh số 63 và 77 năm 1945 đã quy định (Điều 58 - Điều 61 Hiến pháp năm 1946)
+ Tổ chức chính quyền địa phương theo Hiến pháp năm 1959 và Luật Tổ
chức HĐND và UBHC các cấp năm 1962:
Trang 24Theo quy định của Điều 78 và Điều 79 Hiến pháp 1959, các đơn vị hành chính nước ta gồm: Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Tỉnh chia thành huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Huyện chia thành xã, thị trấn; thành phố trực thuộc trung ương chia thành khu phố Ở mỗi đơn vị hành chính nói trên đều tổ chức HĐND và UBHC UBHC cấp nào do HĐND cấp đó bầu ra
Cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức HĐND và UBHC các
cấp năm 1962 quy định: “Các thành phố có thể chia thành khu phố ở nội thành và huyện
ở ngoại thành”, “Các đơn vị hành chính kể trên đều có HĐND và UBHC” (Điều 1 Luật
Tổ chức HĐND và UBHC năm 1962)
Từ năm 1974 theo Quyết định số 78-CP ngày 10.4.1974 của Hội đồng Chính
phủ các khu phố của thành phố Hà Nội và Hải Phòng được chia ra nhiều khu nhỏ gọi là
tiểu khu, với quy mô từ 2.000 đến 5.000 nhân khẩu Ở mỗi tiểu khu thành lập một cơ
quan đại diện gọi là Ban đại diện hành chính tiểu khu nhưng đây là tổ chức mang tính tự
quản của nhân dân tiểu khu, không phải là một cấp chính quyền
Khác với trước đây, Hiến pháp 1959 và Luật năm 1962 xác định: “Hội đồng
nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương” Còn UBHC được xác định là
“cơ quan chấp hành của HĐND, đồng thời là cơ quan hành chính của Nhà nước ở địa
phương” (Điều 80 và Điều 87 Hiến pháp; Điều 2 và Điều 3 Luật năm 1962)
Cơ cấu tổ chức HĐND và UBHC các cấp được quy định một cách đầy đủ hơn, hoàn thiện hơn HĐND khu phố có từ 30 đến 50 đại biểu; HĐND các cấp đều thành lập các Ban chuyên trách của HĐND (Điều 28, 29, 30 Luật năm 1962) để giúp HĐND thẩm tra các đề án, kiểm tra việc thực hiện nghị quyết HĐND, góp ý kiến về việc xây dựng và thực hiện nhiệm vụ tại địa phương UBHC khu phố cũng tăng số thành viên: từ 7 đến 9 người UBHC khu phố có các cơ quan chuyên môn trực thuộc để giúp UBHC thực hiện nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và theo địa phương v.v…
Những quy định Hiến pháp đánh dấu xu hướng tổ chức chính quyền địa phương bắt đầu theo và chịu ảnh hưởng của mô hình tổ chức chính quyền Xô viết địa phương,
Trang 25thể hiện rõ nguyên tắc tập quyền XHCN, đề cao vị trí và vai trò của HĐND trước UBHC và các cơ quan nhà nước khác cùng cấp Theo Luật năm 1962, HĐND Khu phố không chỉ bầu ra UBHC cùng cấp mà còn bầu cả Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán
và Hội thẩm nhân dân của Toà án nhân dân Khu phố Trên địa bàn Khu phố còn tổ chức Viện kiểm sát nhân dân Khu phố, loại cơ quan mới đặc thù của bộ máy nhà nước XHCN [ Xem: 32-41]
chức HĐND và UBND năm 1983 và năm 1989 (sửa đổi):
Trong quá trình soạn thảo Hiến pháp 1980, như trên đã nói, vấn đề tổ chức chính quyền địa phương nói chung, nhất là chính quyền thành phố nói riêng được đặt ra thảo luận nhiều lần Thành phố trực thuộc trung ương tổ chức mấy cấp chính quyền? Tên gọi mỗi cấp là gì? Vì khi đó ở nội thành Hà Nội, Hải Phòng có 2 cấp chính quyền hoàn chỉnh: cấp thành phố và cấp khu phố, có HĐND và UBHC Dưới cấp khu phố là tiểu khu, có Ban đại diện tiểu khu do nhân dân bầu nhưng đây không phải là cơ quan chính quyền Khác với thành phố Hà Nội và Hải Phòng, ở nội thành thành phố Hồ Chí Minh có 3 cấp chính quyền hoàn chỉnh là: Thành phố - Quận - Phường, có HĐND và UBND
Để thống nhất tổ chức chính quyền ở các thành phố trực thuộc trung ương trong
cả nước, Hiến pháp 1980 đã quy định: các thành phố trực thuộc trung ương tổ chức 3 cấp chính quyền hoàn chỉnh, có HĐND và UBND; ở nội thành các cấp lấy tên gọi thống nhất là: Thành phố, Quận và Phường
Trên cơ sở Hiến pháp 1980, ngày 30/6/1983 Quốc hội thông qua Luật Tổ chức HĐND và UBND các cấp
Kế thừa và phát triển các quy định của Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp 1980 và
Luật năm 1983 tiếp tực khẳng định: “HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa
phương, đại diện cho nhân dân địa phương”, còn UBND vẫn do HĐND cùng cấp bầu
ra, "là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương”
Trang 26HĐND quận vẫn tiếp tục bầu ra TAND Quận từ Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán
và Hội thẩm nhân dân Như vậy, vị trí và tính chất pháp lý của HĐND và UBND vẫn xác định như Hiến pháp 1959 và Luật 1962 trước đây, nhưng nhiệm vụ, quyền hạn, lĩnh vực hoạt động của HĐND và UBND các cấp nói chung, cấp Quận nói riêng, theo quy định của Luật năm 1983 đã được mở rộng rất nhiều ở các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế
Trên cơ sở sửa đổi Hiến pháp năm 1980, ngày 30/6/1989, Quốc hội thông qua Luật Tổ chức HĐND và UBND (sửa đổi) quy định bãi bỏ Thường trực UBND các cấp, những nhiệm vụ, quyền hạn UBND, theo quy định của Luật phải được thảo luận tập thể
và quyết định theo đa số tại phiên họp của toàn thể UBND
Đặc biệt, Hiến pháp năm 1980 (sửa đổi năm 1989) và Luật năm 1989 quy định việc thành lập thường trực HĐND từ cấp huyện trở lên, trong đó có HĐND quận Thường trực HĐND gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và thư ký HĐND, do HĐND bầu trong
số các đại biểu HĐND Thường trực HĐND được thành lập để chuyên chăm lo bảo đảm hoạt động công tác của HĐND (xem: Điều 26 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1989)
2001) và Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1994 và năm 2003 hiện hành:
Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) là Hiến pháp thể chế hoá đường lối
đổi mới được khẳng định từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) đã tạo ra một bước cải cách quan trọng trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta Nhưng khác với tổ chức bộ máy nhà nước ở trung ương có sự đổi mới mạnh mẽ so với Hiến pháp năm 1980, mô hình tổ chức các cấp chính quyền địa phương theo quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001), Luật Tổ chức HĐND và UBND năm
1994 và năm 2003 hiện hành về cơ bản không có sự thay đổi nhiều so với giai đoạn trước công cuộc đổi mới
Điều 4 Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 quy định: HĐND và
Trang 27UBND được tổ chức ở các đơn vị hành chính sau đây:
a) Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh);
b) Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện);
c) Xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã)
Hiện nay, theo số liệu thống kê (tính đến ngày 31/12/2006), cả nước có 64 đơn vị hành chính cấp tỉnh, trong đó có 5 thành phố trực thuộc trung ương; 673 đơn
vị cấp huyện, trong đó có: 543 huyện, 43 quận, 33 thành phố thuộc tỉnh, 54 thị xã;
10.925 đơn vị cấp xã, trong đó có: 9.098 xã, 1.230 phường và 597 thị trấn [55 ]
Theo quy định của Luật năm 2003, ở tất cả các đơn vị hành chính nói trên, trong
đó có các Quận của thành phố trực thuộc trung ương đều được xác định là cấp chính quyền hoàn chỉnh, đều có HĐND và UBND
Tổ chức và hoạt động của chính quyền Quận theo quy định của Hiến pháp và pháp luật hiện hành sẽ được trình bày cụ thể ở các Mục tiếp theo của Luận văn này
1.2 Địa vị pháp lý của chính quyền Quận
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và cơ cấu tổ chức chính quyền Quận
Về khái niệm chính quyền Quận:
Ở nước ta, khái niệm chính quyền địa phương, trong đó có chính quyền Quận của thành phố trực thuộc trung ương nói riêng có các quan niệm khác nhau Quan niệm phổ biến hiện nay về chính quyền địa phương là gồm 2 cơ quan: HĐND và UBND Đây là 2 cơ quan chủ yếu và quan trọng nhất của một cấp chính quyền địa phương Nhưng quan niệm này có tính khái quát chung, không thể hiện phương thức hình thành, cơ cấu tổ chức, nguyên tắc hoạt động của các cơ quan chính quyền địa phương Để làm rõ khái niệm chính quyền địa phương, trong khoa học pháp lý ở nước ta có một số ý kiến cho rằng cần nhấn mạnh một số điểm sau:
Thứ nhất, chính quyền địa phương của nước ta là một bộ phận hợp thành,
gắn bó hữu cơ của chính quyền Nhà nước thống nhất, là hình thức pháp lý thông qua
đó nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình ở địa phương
Trang 28Thứ hai, không phải mọi cơ quan nhà nước được tổ chức và hoạt động ở địa
phương, giải quyết các vấn đề phát sinh ở địa phương đều nằm trong cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương Điều này không có nghĩa chỉ trừ có các cơ quan bảo vệ pháp luật ở địa phương (TAND và VKSND), mà còn bao gồm cả các cơ quan của các Bộ, Ngành trung ương đóng ở địa phương (ví dụ: Cục Hải quan, Sở ngoại vụ, Cục Thuế v.v…) Vì những cơ quan này không do nhân dân địa phương thành lập ra
dù trực tiếp hay gián tiếp, mà do các cơ quan Nhà nước ở trung ương thành lập và chỉ đạo hoạt động của chúng
Thứ ba, Các cơ quan chính quyền địa phương, theo quy định của Hiến pháp
và pháp luật hiện hành, về nguyên tắc phải do nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra, hoặc được thành lập trên cơ sở của các cơ quan đại diện của nhân dân ở địa phương theo qui định của pháp luật
Vì vậy, nếu quan niệm khái niệm chính quyền địa phương chỉ bao gồm HĐND và UBND là quá hẹp, không phù hợp và không phản ánh sự phát triển của pháp luật về cơ cấu tổ chức của HĐND và UBND những năm sau này, làm giảm đi mục đích và ý nghĩa của việc thành lập các Ban của HĐND, Thường trực của HĐND, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND các cấp và vai trò của chúng trong việc góp phần tăng cường hiệu lực hoạt động của chính quyền địa phương nói chung, trong đó có chính quyền Quận
Thứ tư, theo Điều 6 Hiến pháp 1992, các cơ quan chính quyền địa phương ở
nước ta tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện chức
năng, thẩm quyền theo qui định của pháp luật, giải quyết các vấn đề phát sinh ở địa phương trên cơ sở và nhằm thi hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên và có sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích của nhân dân địa phương với lợi ích chung của cả nước
Vì vậy, chính quyền địa phương của nước ta nói chung, chính quyền Quận của thành phố trực thuộc trung ương nói riêng là một bộ phận hợp thành của chính
Trang 29quyền Nhà nước thống nhất của nhân dân, bao gồm các cơ quan đại diện quyền lực Nhà nước ở địa phương do nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra (HĐND) và các cơ quan, tổ chức Nhà nước khác được thành lập trên cơ sở các cơ quan đại diện quyền lực Nhà nước này theo qui định của pháp luật (UBND, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND, Thường trực HĐND , các ban của HĐND …), nhằm quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương, trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ và kết hợp giữa lợi ích của nhân dân địa phương với lợi ích chung của cả nước [17, tr.17-21]
Chính quyền Quận là cấp chính quyền trong hệ thống tổ chức 3 cấp chính quyền ở nội thành của thành phố trực thuộc trung ương (Thành phố - Quận - Phường) Chính quyền Quận là chính quyền cấp dưới trực tiếp của chính quyền thành phố trực thuộc trung ương (ở nội thành), đồng thời là cấp trên trực tiếp của
chính quyền các Phường trên địa bàn Quận
Đặc điểm chính quyền Quận của thành phố trực thuộc trung ương:
Mặc dù theo Điều 118 Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001) và Điều 4 Luật
tổ chức HĐND và UBND năm 2003 hiện hành đơn vị hành chính Quận và chính quyền Quận được đánh đồng và xếp chung với huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
và được Hiến pháp, Luật "gọi chung là cấp huyện", nhưng Quận của thành phố trực
thuộc trung ương và huyện của tỉnh là rất khác nhau Vì Quận và chính quyền Quận
có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
Một là, Quận là đơn vị hành chính, về nguyên tắc vốn thuộc nội thành của
thành phố trực thuộc trung ương, nơi có cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội phát triển hơn hẳn các huyện của ngoại thành và các huyện của các tỉnh Những cơ
sở hạ tầng kỹ thuật (như đường xá, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống thông tin )
có tính liên hoàn gắn kết chặt chẽ với hệ thống chung của toàn thành phố hợp thành chỉnh thể thống nhất, không thể tách rời, cắt khúc
Trang 30Hai là, Trên địa bàn Quận tập trung dân cư đông đúc với mật độ cao hơn rất
nhiều so với các huyện ngoại thành và các huyện của các tỉnh Hiện nay khu vực nội
thành của thành phố Hồ Chí Minh mật độ dân cư lên đến 27.000 người/km2, trong khi đó nếu tính bình quân chung cả thành phố này (bao gồm 13 quận nội thành cũ, 6
quận mới và 5 huyện ngoại thành) mật độ dân số chỉ là 2.909 người/km2 Nếu so với mật độ dân số các tỉnh thì mật độ dân số của các tỉnh còn thấp hơn nhiều hơn nữa,
như Lai Châu: 35 người/km2; Kon Tum: 40 người/km2; Tây Ninh: 358 người/km2;
Đồng Nai: 375 người/km2
v.v.[55]
Ba là, Thành phần dân cư trên địa bàn các Quận rất đa dạng về nghề nghiệp,
mặt bằng chung về trình độ học vấn, về văn hoá cao hơn hẳn nông thôn, người dân nơi đây có nếp sống, văn hoá của thị dân gắn liền với đặc điểm sinh hoạt, giao tiếp rất đặc thù so với các huyện ngoại thành và các huyện của các tỉnh Sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội trên địa bàn Quận diễn ra cũng sôi động hơn, năng động hơn, nhưng đây là địa bàn dễ tập trung và phát sinh các tệ nạn xã hội, kể các loại tội phạm mới, rất phức tạp về mặt quản lý nhà nước của chính quyền
Bốn là, Điều kiện sinh sống, làm việc, sinh hoạt, học tập, khám chữa bệnh,
vui chơi giải trí của người dân các Quận không bị giới hạn và khép kín trong giới hạn của đơn vị hành chính Quận như các huyện ngoại thành và các huyện của tỉnh
Tóm lại, do vị trí, vai trò, đặc điểm của Quận như trên nên chính quyền Quận cũng có tính chất, chức năng, nhiệm vụ phải khác với chính quyền của huyện
ở địa bàn nông thôn, không thể đồng nhất quận với huyện, rồi "gọi chung là cấp
huyện" như Hiến pháp và pháp luật hiện hành của nước ta quy định được
Về cơ cấu tổ chức chính quyền Quận:
Theo quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001), Luật bầu cử HĐND các cấp năm 2003, Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 và các văn bản pháp luật hiện hành, Quận được xác định là cấp chính quyền hoàn chỉnh bao gồm: HĐND và UBND Quận
Trang 31HĐND quận là cơ quan đại diện quyền lực nhà nước trên địa bàn Quận, do
nhân dân Quận bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu
kín, nhiệm kỳ là 5 năm Tổng số đại biểu HĐND Quận phụ thuộc vào số dân của Quận Quận có từ 80.000 người trở xuống được bầu 30 đại biểu, có trên 80.000
người thì cứ thêm 10.000 người được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng số không
quá 40 đại biểu (Điều 9 Luật bầu cử đại biểu HĐND các cấp năm 2003) Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 quy định cơ cấu tổ chức của HĐND Quận gồm:
Thường trực HĐND Quận và 2 Ban của HĐND Quận là Ban Kinh tế - xã hội và Ban Pháp chế đều do HĐND Quận bầu ra trong số các đại biểu HĐND Quận
UBND Quận là cơ quan chấp hành của UBND Quận, là cơ quan hành chính
nhà nước ở địa phương, do HĐND Quận bầu ra UBND Quận có nhiệm kỳ bằng với nhiệm kỳ của HĐND cùng cấp Khi HĐND Quận hết nhiệm kỳ, UBND tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi HĐND khoá mới bầu ra UBND mới Theo Điều 122 Luật tổ
chức HĐND và UBND năm 2003, UBND cấp huyện có từ 7 đến 9 thành viên Cụ
thể hoá quy định của Luật và Nghị định số 107/2004/NĐ -CP ngày 02/4/2004 của Chính phủ, Công văn số 2610/UB-VX ngày 07/5/2004 của UBND
Tp Hồ Chí Minh quy định UBND các Qu ận của Tp Hồ Chí Minh có 9
thành viên, gồm có Chủ tịch, 3 Phó Chủ tịch và 5 Uỷ viên
UBND Quận còn có các cơ quan chuyên môn là các Phòng, Ban Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND Quận được thành lập theo quy định của Nghị định
số 172/2004/NĐ-CP ngày 29/9/2004 của Chính phủ và quyết định của UBND Tp trực thuộc trung ương sau khi HĐND thành phố phê chuẩn đề án về các cơ quan này
do UBND thành phố trình Quyết định số 341/2004/QĐ-UB ngày 31/12/2004 của UBND Tp Hồ Chí Minh quy định UBND các quận, huyện của thành phố Hồ Chí
Minh thống nhất thành lập 13 Phòng, Ban Ngày 13 tháng 7 năm 2006, HĐND thành
phố còn phê chuẩn thành lập thêm Phòng Y tế thuộc UBND dân quận, huyện Hiện
Trang 32nay UBND các quận của Tp Hồ Chí Minh đều thống nhất thành lập 14 Phòng, Ban
thuộc UBND Quận
1.1.2 Vị trí, tính chất pháp lý của các cơ quan chính quyền Quận theo quy định
của Hiến pháp và pháp luật hiện hành
a Hội đồng nhân dân Quận:
Về vị trí, tính chất pháp lý của HĐND các cấp nói chung, HĐND Quận nói riêng được Điều 119 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) và Điều 1 Luật tổ
chức HĐND và UBND năm 2003 xác định: "Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền
lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên"
Theo quy định như trên của Hiến pháp và Luật, HĐND Quận cũng như
HĐND các cấp có 2 tính chất pháp lý cơ bản: "là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa
phương"; và "là cơ quan đại biểu của nhân dân ở địa phương"
Liên quan đến tính chất pháp lý của HĐND các cấp còn có những ý kiến khác
nhau về "tính quyền lực nhà nước ở địa phương của HĐND" trong quá trình thảo
luận sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 và xây dựng Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003, nhưng Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001) và Luật tổ chức
HĐND và UBND năm 2003, như trên đã trình bày, vẫn tiếp tục khẳng định HĐND
là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương Điều này không chỉ xác định vị trí,
vai trò của HĐND trong cơ cấu tổ chức chính quyền địa phương và trong bộ máy
nhà nước, mà còn xác định tính chất, chức năng, thẩm quyền và trách nhiệm của
HĐND trong việc quyết định các chủ trương, biện pháp quan trọng nhằm xây dựng
và phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương, giám sát việc thực hiện Hiến pháp, pháp luật và nghị quyết của HĐND Quận ở địa phương
Thường trực HĐND Quận:
Trong cơ cấu tổ chức của HĐND Quận, theo quy định của Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003, có Thường trực HĐND Quận do HĐND Quận bầu trong số các đại biểu HĐND Thường trực HĐND có những nhiệm vụ và quyền hạn
Trang 33chủ yếu như: Triệu tập và chủ tọa các kỳ họp của HĐND; đôn đốc, kiểm tra UBND
và các cơ quan nhà nước khác ở địa phương thực hiện các nghị quyết của HĐND thành phố; giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương; điều hoà, phối hợp hoạt động của các Ban của HĐND Quận v.v (xem: Điều 53 của Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003)
Ngoài ra, HĐND Quận còn bầu ra 2 Ban là: Ban kinh tế - xã hội và Ban pháp
chế Các Ban của HĐND là hình thức tập hợp các đại biểu HĐND Quận có trình độ
chuyên môn, có kinh nghiệm và am hiểu về lĩnh vực hoạt động tương ứng của các Ban Các Ban của HĐND gồm Trưởng Ban, các Phó trưởng Ban và các thành viên
do HĐND Quận bầu trong số các đại biểu HĐND quận
Hiện nay, theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng Khoá X (từ ngày 5/7 đến 14/7/2007), chúng ta cần tổ chức hợp lý chính quyền địa phương, phân biệt rõ những khác biệt giữa chính quyền nông thôn
và chính quyền đô thị Tổ chức chính quyền đô thị phải bảo đảm tính thống nhất và liên thông trên địa bàn về quy hoạch đô thị, kết cấu hạ tầng (như điện, đường, cấp thoát nước, xử lý rác thải, bảo vệ môi trường) và đời sống dân cư Không tổ chức HĐND ở quận và ở phường Tại quận, phường có UBND là đại diện của cơ quan hành chính cấp trên đặt tại địa bàn để thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và phân cấp của chính quyền cấp trên
Về vấn đề này chúng tôi sẽ trình bày ở Chương 3 của Luận văn này
b Uỷ ban nhân dân Quận:
Trong cơ cấu tổ chức chính quyền địa phương nói chung, chính quyền quận nói riêng, UBND là mắt xích quan trọng trong việc phát huy hiệu lực của chính quyền địa phương, bảo đảm hoạt động hành chính Nhà nước thông suốt từ Trung ương đến cơ sở
Điều 123 Hiến pháp năm 1992 và Điều 2 Luật tổ chức HĐND và UBND
năm 1994 xác định: UBND do HĐND bầu, là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ
quan hành chính Nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến
Trang 34pháp, luật, các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên và nghị quyết HĐND
Qui định trên của Hiến pháp và Luật đã xác định vị trí và vai trò của UBND, mối quan hệ chấp hành của UBND với HĐND cùng cấp, cũng như mối quan hệ chỉ đạo, điều hành của UBND với các cơ quan hành chính Nhà nước cấp trên mà đứng đầu là Chính phủ Với tính chất pháp lý này, UBND được xác định
là cơ quan quản lý hành chính Nhà nước có thẩm quyền chung ở địa phương Trên cơ sở và nhằm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên và nghị quyết HĐND cùng cấp, UBND quận có trách nhiệm trực tiếp quản lý và tổ chức, chỉ đạo các cơ quan, ban ngành quản lý cụ thể, thường xuyên, liên tục đối với tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng trên địa bàn Quận; trong phạm vi thẩm quyền theo quy định của pháp luật trực tiếp giải quyết các quyền, các nghĩa vụ pháp lý của các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan; bảo đảm việc thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp, pháp luật ở địa phương
Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND Quận:
Trong cơ cấu tổ chức chính quyền Quận còn có các cơ quan chuyên môn thuộc UBND do UBND Quận thành lập theo qui định chung của Chính phủ và Quyết định của UBND thành phố
Căn cứ vào Nghị định số 172/2004/NĐ-CP ngày 29/9/2004 và trên cơ sở Nghị quyết HĐND thành phố phê chuẩn Đề án thành lập các cơ quan chuyên môn thuộc UBND quận, huyện, ngày 31/12/2004 của UBND Tp Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 341/2004/QĐ-UB quy định UBND các quận, huyện của thành phố Hồ
Chí Minh thống nhất thành lập 13 Phòng, Ban Ngày 13 tháng 7 năm 2006, HĐND
thành phố còn phê chuẩn thành lập thêm Phòng Y tế thuộc UBND dân quận, huyện
Hiện nay UBND các quận của Tp Hồ Chí Minh đều thống nhất thành lập 14 Phòng,
Ban thuộc UBND Quận Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND quận là cơ quan tham mưu, giúp UBND quận thực hiện chức năng quản lý nhà nước và thực hiện
Trang 35một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự uỷ quyền của UBND quận và theo quy định của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ương đến cơ sở v.v (xem: Điều 128 Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003)
1.2.3 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan chính quyền Quận
a Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân Quận:
HĐND Quận, cũng như HĐND các cấp theo quy định của Hiến pháp năm
1992 và Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 có 2 chức năng cơ bản là: Chức năng quyết định và chức năng giám sát
Về chức năng quyết định: HĐND Quận căn cứ vào Hiến pháp, Luật, văn bản
của cơ quan Nhà nước cấp trên quyết định về các biện pháp đảm bảo thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách; về quốc phòng, an ninh ở địa phương; về biện pháp ổ định và nâng cao đời sống của nhân dân, hoàn thành mọi nhiệm vụ cấp trên giao phó, làm tròn nghĩa vụ đối với cả nước (Điều 120 Hiến pháp năm 1992, Điều 1 Luật năm 2003)
Về chức năng giám sát: HĐND Quận giám sát đối với hoạt động của
Thường trực HĐND, UBND, TAND, VKSND cùng cấp; giám sát việc thực hiện các nghị quyết của HĐND Quận; giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phương (Điều 1 Luật năm 2003)
Về nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND Quận:
Khác với Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1994 chỉ quy định nhiệm vụ, quyền hạn chung của HĐND các cấp, còn nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của HĐND từng cấp do Pháp lệnh năm 1996 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định, Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 quy định những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của HĐND từng cấp, trong đó có HĐND cấp huyện đối với từng lĩnh vực Cụ thể như:
Những nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp huyện trong lĩnh vực vực kinh tế (Điều
Trang 3619 Luật năm 2003); Những nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp huyện trong lĩnh
vực vực giáo dục, y tế, văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, xã hội và đời sống (Điều
20 Luật năm 2003); Những nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp huyện trong lĩnh
vực khoa học, công nghệ, tài nguyên và môi trường (Điều 21 Luật năm 2003); Những nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp huyện trong lĩnh vực quốc phòng, an
ninh, trật tự, an toàn xã hội (Điều 22 Luật năm 2003); Những nhiệm vụ, quyền hạn
của HĐND cấp huyện trong việc thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn
giáo (Điều 23 Luật năm 2003); Những nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp huyện
trong lĩnh vực thi hành pháp luật (Điều 24 Luật năm 2003); Những nhiệm vụ, quyền
hạn của HĐND cấp huyện trong lĩnh vực xây dựng chính quyền địa phương và quản
lý địa giới (Điều 25 Luật năm 2003);
Riêng đối với UBND Quận, Điều 26 Luật năm 2003 quy định:
"Hội đồng nhân dân quận thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại các điều 19, 20, 21, 22, 23, 24 và 25 của Luật này và thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1 Quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện thống nhất kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch đô thị của thành phố;
2 Quyết định biện pháp bảo đảm trật tự công cộng, giao thông; phòng, chống cháy, nổ và bảo vệ môi trường, cảnh quan đô thị;
3 Quyết định biện pháp quản lý dân cư đô thị và tổ chức đời sống nhân dân trên địa bàn"
Việc đánh đồng quận với huyện để từ đó Luật quy định cho HĐND quận thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn được quy định cho HĐND huyện là không hợp lý Vì rất nhiều nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND huyện rất "xa lạ" với HĐND
quận Ví dụ, "thực hiện chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội đối với
vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa" (Khoản 1 Điều 23 Luật năm
2003); "quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới giao thông, thuỷ lợi và
Trang 37biện pháp bảo vệ đê điều, công trình thuỷ lợi, bảo vệ rừng theo quy định của pháp luật" (Khoản 4 Điều 19 Luật năm 2003) v.v
b Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân Quận:
Theo quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003,
UBND là cơ quan chấp hành của HĐND Quận, đồng thời là cơ quan hành chính
nhà nước trên địa bàn Quận
Nhiệm vụ, quyền hạn của UBND các cấp được Hiến pháp quy định những nét cơ bản tại điều 123 Theo đó, UBND chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND quận
Thực hiện chức năng chấp hành của HĐND Quận, theo quy định của Luật tổ chức
HĐND và UBND năm 2003, UBND Quận cùng với Thường trực HĐND quận chuẩn
bị các kỳ họp HĐND quận, phối hợp với các Ban của HĐND quận xây dựng đề án trình HĐND quận xét và quyết định Trước đây khi chưa thành lập Thường trực HĐND quận thì các chức năng thường vụ, thường trực đều do UBND đảm nhiệm Nay các quyền hạn này được chuyển giao cho Thường trực còn UBND chỉ phối hợp với Thường trực cùng giải quyết Tuy là phối hợp, nhưng trong nhiều trường hợp vai trò của UBND là rất quan trọng, nhất là khi chuẩn bị các nội dung kỳ họp có liên quan đến kế hoạch, ngân sách v.v UBND còn có trách nhiệm tổ chức và chỉ đạo thực hiện nghị quyết của HĐND Quận và các nghị quyết, quyết định, chỉ thị, thông tư của các
cơ quan Nhà nước cấp trên
Thực hiện chức năng của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, UBND Quận chỉ đạo các cơ quan chuyên môn thuộc UBND Quận, chính quyền các Phương (HĐND và UBND) thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, giữ vững
an ninh, trật tự, an toàn xã hội, củng cố quốc phòng và cải thiện đời sống nhân dân địa phương, đồng thời đảm bảo sự quản lý thống nhất của Nhà nước trên địa bàn thành phố
Trang 38Cũng như HĐND Quận, những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của UBND Quận đối với từng lĩnh vực quản lý nhà nước được Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 quy định chung cho UBND cấp huyện Cụ thể như: lĩnh vực kinh tế (Điều 97); lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thuỷ lợi và đất đai (Điều 98); lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp (Điều 99); lĩnh vực xây dựng, giao thông vận tải (Điều 100); lĩnh vực thương mại, dịch vụ và du lịch (Điều 101); lĩnh vực giáo dục, y tế, xã hội, văn hoá, thông tin và thể dục thể thao (Điều 102); lĩnh vực khoa học, công nghệ, tài nguyên và môi trường (Điều 103); lĩnh vực quốc phòng, an ninh
và trật tự, an toàn xã hội (Điều 104); trong việc thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo (Điều 105); trong việc thi hành pháp luật (Điều 106); trong việc xây dựng chính quyền và quản lý địa giới hành chính (Điều 107)
Ngoài những nhiệm vụ, quyền hạn chung nói trên của UBND cấp huyện, trong đó có UBND quận, UBND Quận của các thành phố trực thuộc trung ương còn thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1 Tổ chức thực hiện các biện pháp bảo đảm thực hiện thống nhất kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch đô thị của thành phố;
2 Quản lý và kiểm tra việc sử dụng quỹ nhà thuộc sở hữu nhà nước trên địa bàn theo sự phân cấp của Chính phủ;
3 Cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đô thị;
tổ chức thực hiện các quyết định về xử lý vi phạm trong xây dựng, lấn chiếm đất đai theo quy định của pháp luật;
4 Quản lý, kiểm tra việc sử dụng các công trình công cộng do thành phố giao trên địa bàn quận (Điều 109 Luật năm 2003)
Những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của UBND và Chủ tịch UBND Quận đối với từng lĩnh vực quản lý nhà nước ở địa phương được quy định trong các văn bản pháp luật chuyên ngành tương ứng Ví dụ, trong lĩnh vực xử phạt vi phạm hành chính, Chủ tịch UBND Quận có quyền phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 20.000.000
Trang 39đồng; có quyền quyết định tước giấy phép, chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền v.v (Điều 28 Pháp lệnh XLVPHC năm 2002)
1.2.4 Các hình thức hoạt động của các cơ quan chính quyền Quận
a Các hình thức hoạt động của Hội đồng nhân dân Quận
Điều 8 Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 quy định: "Hiệu quả hoạt
động của HĐND được bảo đảm bằng hiệu quả của các kỳ họp HĐND, hiệu quả hoạt động của Thường trực HĐND, UBND, các Ban của HĐND và của các đại biểu HĐND" Đây cũng chính là các hình thức hoạt động chủ yếu của HĐND các cấp,
trong đó có HĐND Quận
Về kỳ họp HĐND Quận:
Kỳ họp là hình thức hoạt động quan trọng nhất của HĐND Quận Tại kỳ họp, HĐND Quận bàn bạc, thảo luận tập thể và quyết định theo đa số những vấn đề quan trọng thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND Chỉ có tại kỳ họp HĐND Quận mới có quyền bầu, bãi nhiệm, miễn nhiệm Thường trực HĐND Quận, các Ban của HĐND Quận, UBND Quận (từ Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các thành viên khác của UBND Quận); thông qua các nghị quyết của HĐND Quận về chủ trương, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, giám sát hoạt động, công tác của các cơ quan chính quyền cùng cấp; bãi bỏ văn bản trái pháp luật, trái nghị quyết của HĐND Quận do UBND và Chủ tịch UBND Quận ban hành, cũng như nghị quyết trái pháp luật của HĐND các Phường v.v
HĐND Quận họp mỗi năm 2 kỳ thường lệ Ngoài ra, HĐND Quận có thể họp bất thường theo yêu cầu: Chủ tịch HĐND Quận; Chủ tịch UBND Quận; hoặc khi có ít nhất 1/3 tổng số đại biểu HĐND Quận yêu cầu (xem: Điều 48 - Điều 51 Luật năm 2003)
Về Thường trực HĐND Quận:
Thường trực HĐND Quận có vai trò quan trọng bảo đảm hoạt động công tác của HĐND Quận, là một trong những hình thức hoạt động của HĐND Quận
Trang 40Thường trực HĐND Quận gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Uỷ viên thường trực do HĐND Quận bầu trong số các đại biểu HĐND Quận nhưng không thể đồng thời là thành viên UBND Quận Kết quả bầu Thường trực HĐND Quận phải được Thường trực HĐND thành phố phê chuẩn
Thường trực HĐND ở nước ta được thành lập (bắt đầu từ cấp huyện trở lên theo Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1989, hiện nay là tất cả HĐND các cấp theo Luật năm 2003 hiện hành) nhằm chuyên chăm lo và bảo đảm hoạt động công tác của HĐND mà trước đây do UBND cùng cấp "kiêm nhiệm" Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 quy định cụ thể 10 loại nhiệm vụ, quyền hạn của Thường trực HĐND các cấp, như: 1 Triệu tập và chủ tọa các kỳ họp của HĐND; phối hợp với Uỷ ban nhân dân trong việc chuẩn bị kỳ họp của HĐND; 2 Đôn đốc, kiểm tra Uỷ ban nhân dân cùng cấp và các cơ quan nhà nước khác ở địa phương thực hiện các nghị quyết của HĐND; 3 Giám sát việc thi hành pháp luật tại địa phương;
4 Điều hoà, phối hợp hoạt động của các Ban của HĐND; xem xét kết quả giám sát của các Ban của HĐND khi cần thiết và báo cáo HĐND tại kỳ họp gần nhất; giữ mối liên hệ với đại biểu HĐND; tổng hợp chất vấn của đại biểu HĐND để báo cáo HĐND; 5 Tiếp dân, đôn đốc, kiểm tra và xem xét tình hình giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân; tổng hợp ý kiến, nguyện vọng của nhân dân để báo cáo tại kỳ họp của HĐND; 6 Phê chuẩn kết quả bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Uỷ viên thường trực HĐND cấp dưới trực tiếp; 7 Trình HĐND bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu theo đề nghị của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp hoặc của ít nhất một phần ba tổng số đại biểu HĐND v.v (xem: Điều
53 Luật năm 2003)
Thường trực HĐND thực hiện đúng và đầy đủ các nhiệm vụ, quyền hạn nói trên sẽ góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND Quận
Về các Ban của HĐND Quận: