Một trong những cam kết khi tham gia tổ chức này là mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng, tài chính và bảo hiểm; cam kết hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, luật kinh doanh bảo hiểm
Trang 1PHAN NGUYỄN TRIỀU NHÂN
MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA BÊN MUA BẢO HIỂM NHÂN THỌ TẠI VIỆT NAM – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Chuyên ngành Luật Kinh tế
Mã số: 60.38.50 Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ VŨ NAM
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2009
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là luận văn nghiên cứu của chính tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sỹ Lê Vũ Nam Mọi ý kiến, quan điểm, số liệu, nội dung tham khảo đã công bố đều được trích dẫn đầy đủ trong luận văn, tài liệu tham khảo Những kết luận của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào Các số liệu, dẫn chứng trong luận văn được trích dẫn từ những nguồn tài liệu hợp pháp, đáng tin cậy
Tác giả luận văn
Phan Nguyễn Triều Nhân
Trang 3Trang
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA BÊN MUA BẢO HIỂM NHÂN THỌ TẠI VIỆT NAM
1.1 Khái quát về bảo hiểm nhân thọ 6
1.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của bảo hiểm nhân thọ 6
1.1.2 Khái niệm về bảo hiểm nhân thọ 8
1.1.3 Đặc điểm của bảo hiểm nhân thọ 10
1.1.4 Phân loại bảo hiểm nhân thọ 13
1.1.5 Vai trò và lợi ích của bảo hiểm nhân thọ 14
1.2 Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ 16
1.2.1 Khái niệm hợp đồng bảo hiểm nhân thọ 16
1.2.2 Đặc điểm pháp lý của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ 17
1.2.3 Đối tượng được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ 20
1.2.4 Hình thức của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ 21
1.2.5 Chủ thể của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ 22
1.2.6 Một số nội dung cơ bản của điều khoản mẫu trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ 24
1.2.7 Các trường hợp hợp đồng bảo hiểm nhân thọ vô hiệu 27
1.3 Sự cần thiết phải bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm nhân thọ 31
1.3.1 Khái niệm quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm nhân thọ 31
1.3.2 Sự cần thiết phải bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm nhân thọ 34
1.4 Các hình thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm nhân thọ 38
1.4.1 Bên mua bảo hiểm nhân thọ tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình 38
Trang 41.4.3 Thông qua toà án 40 1.4.4 Vai trò của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên
mua bảo hiểm nhân thọ 40
Kết luận Chương 1 42 CHƯƠNG 2 BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA BÊN MUA BẢO HIỂM NHÂN THỌ TẠI VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
2.1 Thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam 43
2.1.1 Quá trình phát triển pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm nhân thọ 43 2.1.2 Pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam 46 2.1.3 Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm nhân thọ trong hoạt động tư vấn, giới thiệu về sản phẩm (giai đoạn tiền hợp đồng) 47 2.1.4 Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm nhân thọ trong giai đoạn ký kết hợp đồng – giai đoạn bảo hiểm tạm thời 55 2.1.5 Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm nhân thọ trong giai đoạn thực hiện hợp đồng 61 2.1.6 Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm nhân thọ khi xảy
ra sự kiện bảo hiểm 69 2.1.7 Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm 73 2.1.8 Vấn đề giải thích hợp đồng bảo hiểm nhân thọ 74
2.2 Đánh giá thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam 77
2.2.1 Những kết quả đạt được 77 2.2.2 Những hạn chế cần khắc phục 78
2.3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam 80
2.3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện 80
Trang 52.3.3 Một số giải pháp hoàn thiện 81
Kết luận Chương 2 86 KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta đã chính thức được kết nạp vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) 1 Một trong những cam kết khi tham gia tổ chức này là mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng, tài chính và bảo hiểm; cam kết hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, luật kinh doanh bảo hiểm nói riêng trong đó có những quy định của pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm nhân thọ (sau đây gọi tắt là BHNT)
Việt Nam được đánh giá là thị trường rất tiềm năng cho loại hình dịch vụ BHNT phát triển nhờ dân số đông, thị trường mới, có tốc độ phát triển vượt bậc, thể hiện qua việc có nhiều doanh nghiệp nổi tiếng hoạt động trong lĩnh vực này như: Prudential (Anh), AIA nay là AIG life (Mỹ), Bảo Minh-CMG nay là Dai-Ichi (Nhật Bản), Chinfon-Manulife nay là Manulife (Canada), Prevoir (Pháp), ACE life (Mỹ), Cathaylife (Đài Loan), Great Eastern life (Singapore), Korea life (Hàn Quốc), Tập đoàn Tài chính - Bảo hiểm (Bảo Việt), Công ty bảo hiểm Cardif Ngoài ra, một số công ty đang xin giấy phép thành lập và hoạt động như: Pingan (Trung Quốc), Nanshan life (Taiwan), Samsung life (Hàn Quốc), Ngân hàng Hồng Kông Thượng Hải (HSBC) Điều đó cho thấy thị trường BHNT ngày càng sôi động, số lượng khách hàng tham gia không ngừng tăng lên (gần 4 triệu khách hàng)2 Đồng thời đặt ra yêu cầu phải có những quy định pháp luật thật đầy đủ, rõ ràng làm công cụ pháp lý để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý hiệu quả hoạt động kinh doanh đặc thù này và cũng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm trong giao kết và thực hiện hợp đồng một cách tốt nhất
Hiện nay, ngày càng xuất hiện nhiều vụ tranh chấp về quyền lợi bảo hiểm, bồi thường thiệt hại, giá trị hoàn lại của hợp đồng, hợp đồng bị huỷ bỏ do đại lý không đến thu phí, bên mua BHNT bị đại lý bảo hiểm chiếm dụng phí Đồng thời, xuất hiện một số vụ việc được cho là có yếu tố trục lợi bảo hiểm từ bên mua bảo hiểm Các tranh chấp, khiếu kiện về hợp đồng BHNT ngày càng phức tạp và khó giải quyết, một phần do pháp luật về hợp đồng BHNT chưa đầy đủ, không rõ ràng, thậm chí có sự thiếu nhất quán giữa một số quy định về hợp đồng bảo hiểm trong Bộ Luật dân sự 2005 (BLDS 2005) với những quy định trong Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 (Luật KDBH), một phần do BHNT là loại hình dịch vụ
1 Ngày 11/01/2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới
2 Số lượng hợp đồng BHNT còn hiệu lực đến cuối năm 2008 là 3.850.676 hợp đồng (Nguồn: Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, Tổng quan về thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2008, tr.6)
Trang 7mới, chuyên biệt, mang nhiều yếu tố kỹ thuật, khó hiểu nên sự hiểu biết của khách hàng về BHNT nói chung, về các quyền và lợi ích hợp pháp của mình nói riêng còn rất hạn chế
Cho đến nay, những quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm, Bộ Luật dân sự trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua BHNT cũng đã phần nào phát huy tác dụng Thế nhưng so với yêu cầu thực tiễn, các quy định này còn nhiều bất cập, thiếu về số lượng lẫn chất lượng và hạn chế phạm vi điều chỉnh, làm giảm hiệu quả áp dụng pháp luật Trên thực tế, vì nhiều lý do khác nhau bên mua bảo hiểm rất khó bảo vệ được quyền, lợi ích chính đáng của mình khi xảy ra tranh chấp Do vậy, cần thiết phải hoàn thiện khung pháp lý về hợp đồng BHNT, đặc biệt là các quy định về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm thì mới đáp ứng những đòi hỏi từ thực tiễn và yêu cầu hội nhập
Ngoài ra, qua đề tài này chúng tôi mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm, các quy định hướng đến việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bên mua BHNT tại Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế và môi trường pháp lý quốc tế
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hoạt động kinh doanh BHNT trên thế giới đã có lịch sử mấy trăm năm và rất phát triển, do vậy mà BHNT cũng đã được đưa vào giảng dạy chuyên sâu tại các trường đại học khối Kinh tế và Luật Mặt khác, các công ty kinh doanh BHNT cũng phối hợp với các tổ chức, hiệp hội, viện nghiên cứu phát hành nhiều tài liệu tham khảo về nghiệp vụ này, trong đó cơ bản nhất và có hệ thống nhất là bộ tài liệu đào tạo cho các thành viên Hiệp hội quản lý BHNT Mỹ (LOMA), bộ tài liệu đào tạo của Trung tâm Phát triển Văn hóa – Bảo hiểm nhân thọ Tokyo Nhật Bản (OLICD), bộ tài liệu được biên soạn và giảng dạy cho giáo viên cơ sở của Viện Bảo hiểm và Tài chính Australia – Newzealand (ANZIIF), bộ tài liệu của Dự án Trung tâm Đào tạo Bảo hiểm Việt Nam
Trong khi đó, hoạt động kinh doanh BHNT ở Việt Nam còn khá mới mẻ và chỉ thực sự bùng nổ trong vài năm gần đây Do đó, các tài liệu giảng dạy về BHNT ở các trường đại học chuyên ngành chủ yếu vẫn là tham khảo của nước ngoài điển hình là Mỹ, Nhật và Úc Các công trình nghiên cứu về bảo hiểm nói chung và pháp luật về BHNT nói riêng mới thực sự được chú trọng và quan tâm trong vài năm trở lại đây thể hiện ở việc một số học viên chọn đề tài nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực này như: Luận văn Thạc sỹ của tác giả Ngô Quý Linh, học
viên Cao học Luật khóa 4, trường Đại học Luật TP.HCM với đề tài “Pháp luật
kinh doanh BHNT - Thực trạng và giải pháp”, Luận văn Thạc sỹ của tác giả
Trang 8Nguyễn Thị Thanh Ngọc, học viên Cao học Luật khóa 6 với đề tài “Pháp luật về
ký kết và thực hiện hợp đồng BHNT ở Việt Nam”, tác giả Nguyễn Hương Thu, học
viên Cao học Luật khóa 7, Đại học Quốc gia Hà Nội với đề tài “Pháp luật về điều
khoản BHNT mẫu”, tác giả Phí Thị Quỳnh Nga, học viên cao học Luật khóa 9,
Đại học Quốc gia Hà Nội viết về đề tài “Pháp luật về giao dịch BHNT ở Việt
Nam” và một số đề tài có liên quan khác Ngoài ra, Thạc sỹ Trần Vũ Hải, giảng
viên trường Đại học Luật Hà Nội có một cuốn sách viết về “Hợp đồng BHNT -
Những vấn đề lý luận và thực tiễn” và một số tác giả khác viết trên mạng Internet,
trên các báo, tạp chí, sách tham khảo bao gồm cả lĩnh vực BHNT và phi nhân thọ dưới góc độ kinh tế và pháp lý
Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu trên chỉ đề cập khía cạnh pháp lý của việc giao kết và thực hiện hợp đồng BHNT nói chung mà chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu, riêng biệt có tính hệ thống các quy định của pháp luật, các vấn đề pháp lý về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua BHNT tại Việt Nam như đề tài mà học viên lựa chọn
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trong khuôn khổ một nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học pháp lý, đề tài hướng đến các mục tiêu sau:
- Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về BHNT, hợp đồng BHNT, các quy định pháp luật, các quy định trong hợp đồng liên quan đến việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bên mua BHNT cũng như thực tiễn áp dụng, giải quyết các tranh chấp về hợp đồng BHNT, đề tài hướng đến mục tiêu nghiên cứu và đánh giá thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua BHNT tại Việt Nam
- Nghiên cứu, phân tích và trình bày khái quát về BHNT, hợp đồng BHNT, đặc trưng pháp lý của nó, các quy định pháp luật hiện hành, các quy định trong điều khoản hợp đồng; các vấn đề pháp lý về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua BHNT cũng như phân tích sự cần thiết phải bảo vệ và các hình thức bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bên mua BHNT ở Việt Nam
- Qua đề tài này, chúng tôi mong muốn đóng góp vào việc hoàn thiện pháp luật kinh doanh bảo hiểm, pháp luật về hợp đồng BHNT nhất là những quy định pháp luật có liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua BHNT ở nước ta cũng như góp phần tuyên truyền, phổ biến kiến thức về BHNT
cho những ai quan tâm đến lĩnh vực này, đặc biệt là bên mua BHNT Ngoài ra,
dựa trên kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, chúng tôi còn trình bày sự cần
Trang 9thiết, nguyên tắc hoàn thiện và đưa ra một số giải pháp hoàn thiện cụ thể cho việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bên mua BHNT
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Hoạt động BHNT có thể là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau, hầu hết thuộc lĩnh vực kinh tế-tài chính Luận văn này tiếp cận đối tượng nghiên cứu là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua BHNT dưới góc độ luật học, tức là nghiên cứu những quy định pháp luật, điều khoản hợp đồng và những vấn đề pháp lý liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua BHNT
Phạm vi nghiên cứu về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua BHNT tại Việt Nam dưới góc độ pháp lý có phạm vi rất rộng Do vậy, trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu các quyền và lợi ích hợp pháp cơ bản nhất của chủ hợp đồng được quy định trong pháp luật dân sự-thương mại, pháp luật kinh doanh bảo hiểm hiện hành tại Việt Nam và trong
bộ điều khoản hợp đồng Ngoài ra, chúng tôi còn nghiên cứu khái quát, so sánh pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của bên mua BHNT của một số quốc gia trên thế giới, làm cơ sở cho các kết luận của mình
5 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành nhiệm vụ đặt ra, luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chi Minh về nhà nước và pháp luật, các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Nhà nước về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, đồng thời vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin Ngoài ra, học viên sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như: Phương pháp kế thừa, phương pháp phân tích, tổng hợp;
phương pháp khái quát hoá; phương pháp quy nạp và diễn dịch; phương pháp
thống kê; phương pháp so sánh, đối chiếu pháp luật và tham khảo kinh nghiệm
nước ngoài
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu khá đầy đủ về BHNT, pháp luật hợp đồng BHNT, các quy định pháp luật về bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bên mua BHNT ở Việt Nam và một số nước trên thế giới, đề tài đã đóng góp một số quan điểm khoa học, nhận xét, đánh giá thực trạng điều chỉnh pháp luật về bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bên mua BHNT trong lý luận cũng như thực tiễn Ngoài ra, đề tài cũng góp phần nâng cao kiến thức về lĩnh vực BHNT, hợp đồng BHNT, các quy
Trang 10định pháp luật về quyền, lợi ích hợp pháp của bên mua BHNT ở một chừng mực nhất định trong kho tàn khoa học pháp lý
Kết quả nghiên cứu của đề tài và những nhận xét, đánh giá có thể giúp các
cơ quan quản lý hiểu rõ hơn về thực trạng áp dụng pháp luật Các kiến nghị và giải pháp có ý nghĩa giúp các nhà làm luật hoàn thiện pháp luật kinh doanh bảo hiểm nói chung, pháp luật về hợp đồng BHNT nói riêng, đồng thời giúp hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bên mua BHNT Các doanh nghiệp kinh doanh BHNT và bên mua bảo hiểm hiểu rõ hơn địa vị pháp lý của mình, nắm được các quyền và lợi ích hợp pháp do pháp luật quy định hay phát sinh từ quan hệ hợp đồng cũng như thực hiện nghĩa vụ của họ trong giao kết và thực hiện hợp đồng một cách tốt nhất
Ngoài ra, luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu các kiến thức về BHNT, vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua BHNT nói chung
7 Bố cục của luận văn
Với mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu như đã trình bày, kết cấu của luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 2 chương:
Chương 1 Những vấn đề cơ bản về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên
mua bảo hiểm nhân thọ
Chương 2 Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm nhân thọ tại
Việt Nam và một số giải pháp hoàn thiện
Trang 11CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA BÊN MUA BẢO HIỂM NHÂN THỌ
1.1 Khái quát về bảo hiểm nhân thọ
1.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của bảo hiểm nhân thọ trên thế giới
Nhu cầu an toàn, hạnh phúc đối với cá nhân, gia đình và tổ chức trong xã hội
là vĩnh cửu3 Lúc nào con người cũng tìm cách để bảo vệ chính bản thân và tài sản của mình trước những rủi ro, bất hạnh hay những biến cố bất ngờ xảy ra trong cuộc sống Trong xã hội bộ lạc xưa, một vài biện pháp bảo vệ đã được tìm thấy trong những nhóm người sống và làm việc cùng nhau Chẳng hạn, câu chuyện từ Trung Quốc cổ đại cách đây 3000 năm trước Công nguyên (TCN) chỉ ra rằng, các thương gia người Trung Quốc đã nghĩ ra và áp dụng những nguyên tắc cơ bản trong bảo hiểm Các thương gia này đã “bảo hiểm” để chống lại những tổn thất đối với hàng hóa của mình được chuyên chở qua sông Giang Tử, các dải đá ngầm
và dốc nguy hiểm thường gây ra những tổn thất nặng nề Lo lắng trước việc có thể mất toàn bộ tài sản, họ quyết định “bảo hiểm” bằng cách phân tán các rủi ro Họ
lý giải rằng, giả sử có 100 thuyền hàng, mỗi thuyền có thể chở 100 kiện hàng, họ
sẽ dừng lại trước các dải đá ngầm để các thương gia chuyển lên mỗi thuyền 01 kiện hàng của mình Như vậy, tổn thất của bất kỳ thuyền nào cũng chỉ là tổn thất duy nhất 01 kiện hàng đối với mỗi chủ hàng mà thôi4 Đây có thể được xem là hình thức sơ khai về bảo hiểm
Xem xét một giai đoạn khác của thế giới cổ đại, hợp đồng bảo hiểm rủi ro đã xuất hiện vào khoảng 2500 năm TCN Thời đó, rất nhiều các thương gia buôn bán qua Địa Trung Hải đã bảo vệ chính mình khỏi những rủi ro, tổn thất về hàng hóa
và các nô lệ trước sự tàn phá của các cơn bão và hải tặc bằng các hợp đồng bảo hiểm Các hợp đồng này bảo đảm việc chi trả tiền cho bất kỳ tổn thất nào Khoảng năm 1700 TCN, Hammurabi, một vị vua vùng Babylon, đã soạn thảo một vài quy tắc mà đến nay vẫn còn lưu trữ Nó bao gồm một số quy tắc phổ biến như “sự đền
bù công bằng, hợp lý” và “hãy để khách hàng quyết định” cũng như các quy tắc về bảo hiểm
Xét trên nhiều khía cạnh, BHNT hình thành trên những cơ sở của bảo hiểm rủi ro và thương mại Hợp đồng BHNT đầu tiên được phát hành năm 1583, do
3 Nguyễn Viết Vượng (Chủ biên) (2006), Giáo trình kinh tế bảo hiểm, Nxb.Lao động, Hà Nội, tr.13
4 Viện Bảo hiểm và Tài chính Australia – New Zealand (2007), VII.L03.Tổng quan về bảo hiểm nhân thọ, Dự
án Trung tâm Đào tạo Bảo hiểm Việt Nam, tr.8
Trang 12công dân London là ông William Gybbon tham gia Phí bảo hiểm ông phải đóng lúc đó là 32 bảng Anh, khi ông chết trong năm đó, những người thừa kế của ông được hưởng 400 bảng Anh Tuy nhiên, BHNT sau đó bị cấm do người ta không tìm thấy các nguyên tắc thống kê khoa học như các công ty bảo hiểm hiện nay đang áp dụng để phát hành hợp đồng, nghĩa là nó không có đầy đủ cơ sở kỹ thuật, bởi vì phí bảo hiểm không dựa trên việc nghiên cứu sự tử vong Việc phân tích tử vong có tính hệ thống lần đầu tiên được thực hiện bởi John Grant vào năm 1662 John Grant đã xây dựng một bảng những người còn sống qua việc hàng tuần phân tích và ghi chép lại các lễ đặt tên và lễ an táng tại trung tâm London Sau đó, Edmund Halley đã sử dụng phân tích này để hình thành nên bảng tuổi thọ bình quân Đến thế kỷ thứ XVII, khi Pascal, Ferma và Bernoulli chứng minh quy luật
số đông, khai sinh và phát triển môn toán học xác suất thống kê thì cơ sở khoa học, kỹ thuật của việc tính phí BHNT mới hình thành5
Năm 1759, công ty BHNT ra đời đầu tiên ở Philadelphia (Mỹ) Công ty này đến nay vẫn còn hoạt động, nhưng ban đầu nó chỉ bán bảo hiểm cho các con chiên
ở nhà thờ của mình Năm 1762, công ty BHNT Equitable ở nước Anh được thành lập và bán BHNT cho mọi người dân Công ty BHNT đầu tiên ở Pháp ra đời năm
1787, ở Đức năm 1828
Ở Châu Á, các công ty BHNT đầu tiên ra đời ở Nhật Bản Năm 1868, công
ty bảo hiểm Meiji của Nhật ra đời và đến năm 1888 và 1889, hai công ty khác là Kyoei và Nippon lần lượt ra đời và phát triển cho đến nay
Tại Việt Nam, BHNT đã từng được triển khai trong thời kỳ Pháp thuộc và ở miền Nam trước năm 19756 Tuy nhiên sau khi đất nước thống nhất, thị trường BHNT mới chính thức được tái lập, khởi đầu từ việc thành lập công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) theo Quyết định số 179/CP ngày 17/12/1964 của Chính phủ, kinh doanh về lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ và tái bảo hiểm Đến năm 1996, Bảo Việt được Bộ Tài chính cấp phép triển khai thí điểm BHNT bằng Quyết định
số 281/BTC-TCNH ngày 20/03/1996 (các sản phẩm bảo hiểm có thời hạn 5 năm,
10 năm và bảo hiểm trẻ em) trên cơ sở Nghị định 100/CP ngày 18/12/1993 của Chính phủ về kinh doanh bảo hiểm Quyết định này đã thực sự đánh dấu sự ra đời của ngành bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam
Trải qua hơn 12 năm hình thành và phát triển, cùng với tiến trình hội nhập và
mở cửa nền kinh tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, Việt Nam đã có một thị trường BHNT phát triển nhanh nhất Châu Á với việc ngày càng nhiều công ty
5 Nguyễn Tiến Hùng (Chủ biên) (2007), Nguyên lý và thực hành bảo hiểm, Nxb.Tài chính, Hà Nội, tr.108
6 Trương Mộc Lâm và Lưu Nguyên Khánh (2001), Một số điều cần biết về pháp lý trong kinh doanh bảo hiểm,
Nxb Thống kê, Hà Nội, tr.199
Trang 13BHNT được cấp phép hoạt động và lượng khách hàng không ngừng gia tăng Đến nay, ngoài Bảo Việt Nhân thọ, đã có hơn 9 công ty được cấp giấy phép hoạt động kinh doanh lĩnh vực BHNT như: Công ty bảo hiểm quốc tế Mỹ AIG life, Prudential, Manulife, ACE Life, Prevoir, Cathaylife, Great Eastern Life, Korea Life, Dai-Ichi life và Cardif Ngoài ra, một số công ty BHNT nước ngoài đã thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam như: PingAn (Trung Quốc), Nanshanlife (Taiwan), Ngân hàng Hồng Kông Thượng Hải - HSBC v.v
1.1.2 Khái niệm về bảo hiểm nhân thọ
Nghiên cứu về BHNT cần xem xét trên 2 phương diện, phương diện pháp lý
và phương diện kỹ thuật
Trên phương diện pháp lý: Bảo hiểm nhân thọ là sự thỏa thuận giữa bên bảo hiểm và bên mua bảo hiểm, trong đó để nhận được phí bảo hiểm của bên mua bảo hiểm, bên bảo hiểm cam kết sẽ trả cho bên mua bảo hiểm hoặc người thụ hưởng
số tiền bảo hiểm hay một khoản trợ cấp định kỳ trong trường hợp người được bảo hiểm sống đến một thời điểm nhất định (đáo hạn) hoặc bị tử vong hay tàn tật (bồi thường) được ghi rõ trong hợp đồng
Trên phương diện kỹ thuật: Bảo hiểm nhân thọ là nghiệp vụ bảo hiểm bao hàm những cam kết, mà việc thi hành những cam kết này phụ thuộc vào tuổi thọ của con người Khoản 12, Điều 3 Luật KDBH được xác định trên những quan
điểm truyền thống về bảo hiểm nhân thọ, theo đó, “bảo hiểm nhân thọ là loại
nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết”
Khái niệm BHNT được hiểu tương đối thống nhất trong các tài liệu khoa học
và trong hệ thống pháp luật ở các quốc gia trên thế giới có thị trường bảo hiểm nhận thọ phát triển7 Theo các khái niệm trên thì đối tượng của BHNT chính là tuổi thọ, tính mạng của người được bảo hiểm Điều này có nghĩa là nếu người được bảo hiểm sống đến một thời điểm nhất định hoặc tử vong trong một khoảng thời gian nào đó như đã thỏa thuận trong hợp đồng thì bên bảo hiểm phải trả số tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng như đã cam kết
Để làm rõ thêm khái niệm BHNT, chúng tôi sẽ phân tích sự khác biệt giữa BHNT so với một số loại hình bảo hiểm khác Trong Luật KDBH, ngoài khái niệm về nghiệp vụ BHNT, còn có khái niệm về đối tượng bảo hiểm của bảo hiểm con người thuộc nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ Theo khoản 1, Điều 31, Luật KDBH thì đối tượng bảo hiểm của bảo hiểm con người là tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe và tai nạn con người Trong khi đó, tuổi thọ, tính mạng con người cũng là đối tượng bảo hiểm của BHNT Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng, đối tượng
7 Xem Bộ Tài chính (1999), Luật bảo hiểm một số nước, Nxb.Tài chính, Hà Nội
Trang 14bảo hiểm của bảo hiểm con người rộng hơn và bao gồm đối tượng bảo hiểm của BHNT Nói cách khác, bảo hiểm con người và BHNT là khác nhau mặc dù chúng
có cùng chung đối tượng bảo hiểm là tuổi thọ và tính mạng con người Hơn nữa, bảo hiểm nhân thọ vừa mang tính bảo hiểm vừa mang tính tiết kiệm, ngược lại, bảo hiểm con người chỉ mang tính bảo hiểm, bảo vệ Mặc khác, theo mục a, khoản 2, Điều 7 Luật KDBH thì bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm tai nạn con người thuộc nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ
Bảo hiểm tai nạn con người, bảo hiểm sức khỏe và BHNT còn khác nhau ở căn cứ trả tiền bảo hiểm Theo khoản 1 và khoản 2, Điều 33, Luật KDBH thì trong bảo hiểm tai nạn con người, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng trong phạm vi số tiền bảo hiểm, căn cứ vào thương tật thực
tế của người được bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm Trong bảo hiểm sức khỏe con người, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm trong phạm vi số tiền bảo hiểm, căn cứ vào chi phí khám, chữa bệnh, phục hồi sức khỏe của người được bảo hiểm do bệnh tật hoặc tai nạn gây ra theo thỏa thuận trong hợp đồng Đối với BHNT, số tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm phải trả cho người thụ hưởng là toàn bộ số tiền bảo hiểm gốc hoặc số tiền bảo hiểm gia tăng cộng với lãi chia tích lũy hay bảo tức tích lũy (nếu có) hoặc giá trị tài khoản hợp đồng8 hoặc giá trị tài khoản và số tiền bảo hiểm tại thời điểm xảy ra sự kiện bảo hiểm hoặc đến ngày đáo hạn như đã cam kết trong hợp đồng Ngoài ra, khác với các loại hình bảo hiểm bắt buộc, BHNT là loại hình bảo hiểm tự nguyện Theo đó, bên mua bảo hiểm hoàn toàn có quyền chủ động theo ý mình quyết định việc ký kết hoặc không ký kết hợp đồng BHNT với bên bảo hiểm trên cơ sở xem xét đến nhu cầu, lợi ích vật chất và tinh thần mình có được từ việc mua BHNT Ngược lại, các loại hình bảo hiểm bắt buộc là các loại hình bảo hiểm mà theo quy định của pháp luật, trong một số trường hợp nhất định, việc ký kết hợp đồng bảo hiểm là bắt buộc, ví dụ như: Bảo hiểm cháy nổ, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với hoạt động tư vấn pháp luật v.v…
Hiện nay trên thế giới cũng như tại Viêt Nam, một sống công ty BHNT đã kết hợp một số nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ vào nghiệp vụ BHNT để hình thành các sản phẩm bổ trợ nhằm tăng tính hấp dẫn của BHNT, mở rộng quyền lợi, phạm vi bảo hiểm đối với bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm nếu họ chỉ
bị những rủi ro, thương tật nhỏ không thuộc phạm vi bảo hiểm của sản phẩm chính Nói cách khác, các chuyên gia phát triển sản phẩm trong lĩnh vực BHNT
8 Giá trị tài khoản hợp đồng là giá trị lớn hơn giữa Giá trị kỹ thuật (tổng phí bảo hiểm phân bổ và lãi phát
sinh, trừ đi các khoản phí có liên quan) và Giá trị đảm bảo tối thiểu của hợp đồng
Trang 15đã “lồng ghép” bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm tai nạn con người (bảo hiểm phi nhân thọ) thành một số sản phẩm bảo hiểm phụ, sản phẩm bổ trợ vào trong BHNT Do vậy, hiện nay, nếu hiểu theo nghĩa rộng, đối tượng bảo hiểm của BHNT có thể bao gồm tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe và tai nạn con người Chẳng hạn, BHNT cũng bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm bị phẫu thuật do bệnh, tai nạn; trợ cấp y tế, chi phí khám chữa bệnh, phục hồi sức khỏe, chi phí nằm viện căn cứ vào thương tật thực tế của người được bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng BHNT Trước đây, những nghiệp vụ bảo hiểm này chỉ có trong bảo hiểm phi nhân thọ, đó là bảo hiểm tai nạn con người và bảo hiểm sức khỏe Cần nói thêm rằng, những sản phẩm loại này chỉ đơn thuần mang tính bảo vệ, không có tính tiết kiệm, bởi vì, nó mang bản chất là bảo hiểm phi nhân thọ Do
đó, các khoản phí bảo hiểm mà bên mua bảo hiểm đóng cho các sản phẩm bổ trợ
sẽ không được tích lũy Khi đáo hạn hợp đồng hoặc khi giải quyết quyền lợi bảo hiểm, bên mua bảo hiểm sẽ không được nhận lại các khoản phí (giá trị hoàn lại)
1.1.3 Đặc điểm của bảo hiểm nhân thọ
Trong khi hầu hết các loại hình bảo hiểm khác có mục đích đơn giản là nhằm bồi thường thiệt hại do hậu quả xấu của sự cố (rủi ro), thì BHNT có thể đáp ứng nhiều nhu cầu khác nhau (đa mục đích) bởi nó không chỉ chi trả khi người được bảo hiểm gặp rủi ro mà còn chi trả trong trường hợp không có rủi ro như tích lũy tài chính cho cá nhân, gia đình hay tạo lập quỹ hưu trí cho bản thân, quỹ giáo dục cho con cái Do vậy, đặc điểm của BHNT là vừa mang tính tiết kiệm vừa mang tính bảo vệ
Bảo hiểm nhân thọ là loại hình bảo hiểm duy nhất có thể bảo hiểm trong cùng một hợp đồng bảo hiểm cho hai sự kiện trái ngược nhau, đó là sự kiện “tử vong” và sự kiện “sống” Đối với bảo hiểm phi nhân thọ, bên bảo hiểm chỉ có thể bảo hiểm cho hậu quả của các sự kiện được bảo hiểm chứ không bảo hiểm cho việc nó không xảy ra Chẳng hạn, người ta bảo hiểm cho sự kiện “cháy nổ” chứ không bảo hiểm cho việc “không cháy nổ” Trái lại, trong BHNT, người ta có thể bảo hiểm:
- Hoặc xảy ra sự kiện tử vong đối với người được bảo hiểm, trong trường hợp này bên bảo hiểm sẽ trả một số tiền cho người thụ hưởng Đó là hợp đồng BHNT cho trường hợp tử vong
- Hoặc không xảy ra sự kiện tử vong đối với người được bảo hiểm trong thời hạn hợp đồng, trường hợp này bên bảo hiểm sẽ trả số tiền bảo hiểm cho người tham gia hoặc người được bảo hiểm Đó là hợp đồng BHNT cho trường hợp sống
Trang 16- Hoặc đồng thời bảo hiểm cho cả hai sự kiện tử vong và không tử vong Đây là hợp đồng BHNT hỗn hợp cho phép bên mua bảo hiểm vừa được bảo hiểm (nếu xảy ra sự kiện bảo hiểm) vừa tiết kiệm (nếu không xảy ra sự kiện bảo hiểm)
Khác với bảo hiểm phi nhân thọ, trong BHNT không có hạn chế “bảo hiểm
trùng 9 ” hay bảo hiểm vượt quá mức bảo hiểm đã ấn định và không chuyển quyền
đòi bồi thường Trong bảo hiểm tài sản, việc xác định số tiền bảo hiểm chịu sự hạn chế của bên tham gia bảo hiểm đối với lợi ích bảo hiểm của tài sản được bảo hiểm và quy định của pháp luật rằng, doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm không được giao kết hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị10, nên không thể bảo hiểm trùng, nghĩa là tổng số tiền bồi thường không được vượt quá giá trị của đối tượng bảo hiểm11 Nhưng, BHNT thì khác hẳn, không có sự hạn chế như vậy,
vì tính mạng, tuổi thọ con người là phạm trù phi giá trị hóa, không thể tính toán được Do đó, bên mua bảo hiểm có thể cùng lúc tham gia mấy loại BHNT, có quyền mua nhiều hợp đồng, ở nhiều doanh nghiệp khác nhau và có thể nhận đầy
đủ tổng số tiền bảo hiểm như đã thỏa thuận trong hợp đồng mà không bị coi là vi phạm pháp luật hay nguyên tắc bảo hiểm
Đối với việc chuyển quyền đòi bồi thường hay quyền cầu hoàn (thế quyền đòi lại người thứ ba) trong BHNT thì trường hợp người được bảo hiểm bị tử vong, bị thương tật hoặc đau ốm do hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp của người thứ
ba gây ra, doanh nghiệp bảo hiểm vẫn có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm mà không có quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm đã trả cho người thụ hưởng (Điều 37, Luật KDBH) Ngược lại, đối với bảo hiểm tài sản hoặc trách nhiệm dân sự, trong trường hợp có sự kiện bảo hiểm xảy ra mà tổn thất cho đối tượng được bảo hiểm là do lỗi của người thứ ba gây ra, nếu doanh nghiệp bảo hiểm đã tiến hành bồi thường cho bên mua bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn lại trong giới hạn số tiền mình đã bồi thường cho bên mua bảo hiểm (Điểm e, khoản 1, Điều 17 Luật KDBH)
Một đặc điểm khác của BHNT đó là mối quan hệ giữa bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm, người thụ hưởng thường là mối quan hệ gia đình, huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng12, rất thân thuộc và gần gũi Xuất phát từ đối tượng bảo hiểm của BHNT là tuổi thọ, tính mạng và sức khỏe con người gắn với lợi ích tinh thần, nên giữa bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm khi tham gia vào quan hệ hợp đồng BHNT bị ràng buộc rất khắc khe, giữa họ phải tồn
9 Bảo hiểm trùng là trường hợp bên mua bảo hiểm giao kết hợp đồng với hai doanh nghiệp bảo hiểm trở lên
để bảo hiểm cho cùng một đối tượng, với cùng điều kiện và sự kiện bảo hiểm (khoản 1, Điều 44 Luật KDBH)
10 Điều 42, Luật KDBH
11 Khoản 2, Điều 44 Luật KDBH
12 Xem khoản 2, Điều 31, Luật KDBH
Trang 17tại cái gọi là Quyền lợi có thể được bảo hiểm13 Xuất phát từ bản chất của bảo hiểm là nhằm chia sẻ rủi ro, bồi thường cho những tổn thất không mong muốn, không tạo cơ hội thu lợi cho bất kỳ ai, do vậy sự tồn tại của quyền lợi có thể được bảo hiểm cần phải được thiết lập trên mọi hợp đồng BHNT để đảm bảo rằng hợp đồng bảo hiểm đã không được ký kết nhằm kiếm lời bất chính Trong quá khứ, đã
có lúc, người ta sử dụng hợp đồng BHNT như một phương tiện để đặt cược Chẳng hạn, họ mua BHNT trên sinh mạng của những người hoàn toàn không có quan hệ với mình và nhờ vậy, có khả năng thu được khoản thu nhập tài chính lớn nếu người được bảo hiểm bị tử vong14 Do vậy, pháp luật ở một số nước yêu cầu khi ký kết hợp đồng BHNT, bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm, chủ hợp đồng bảo hiểm có thể có lợi nếu người được bảo hiểm tiếp tục sống và có thể chịu mất mát hoặc tổn thất nếu người được bảo hiểm tử vong Trong bảo hiểm phi nhân thọ, quyền lợi có thể được bảo hiểm được hiểu là những lợi ích kinh tế của bên mua bảo hiểm, còn đối với BHNT, quyền lợi có thể được bảo hiểm được hiểu là những lợi ích kinh tế hoặc lợi ích tinh thần đối với đối tượng được bảo hiểm của bên mua bảo hiểm Chính vì vậy, trong BHNT, mối quan hệ giữa bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm có tính chất quyết định đến việc xác định xem bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm có thật sự tồn tại quyền lợi có thể được bảo hiểm hay không để hợp đồng bảo hiểm được coi là hợp pháp
Hiện nay, đối với một số nước có thị trường bảo hiểm phát triển, yếu tố quyền lợi có thể được bảo hiểm giữa bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm không còn mang tính bắt buộc Tại Australia năm 1984, định nghĩa về quyền lợi
có thể được bảo hiểm đã thay đổi thông qua đạo luật hợp đồng BHNT 1984 Đến
năm 1995, điều khoản yêu cầu về quyền lợi có thể được bảo hiểm đã bị bãi bỏ15
Do đó, giống với bảo hiểm phi nhân thọ, sẽ không có yêu cầu về quyền lợi có thể được bảo hiểm khi hợp đồng BHNT có hiệu lực Việc bãi bỏ điều khoản quyền lợi có thể được bảo hiểm như là một phần bắt buộc của mọi hợp đồng bảo hiểm
đã được lập nhằm làm cho các hợp đồng linh hoạt hơn và người ta tin rằng những lỗi cẩu thả về đánh giá rủi ro, chấp nhận bảo hiểm của thế kỷ trước sẽ không lặp
13 Khoản 9, Điều 3, Luật KDBH 2000 Theo đó, quyền lợi có thể được bảo hiểm được hiểu là những lợi ích của bên mua bảo hiểm về vật chất hoặc tinh thần đối với đối tượng được bảo hiểm Nếu đối tượng bảo hiểm bị thiệt hại, bên mua bảo hiểm hiểm thật sự bị tổn thất về vật chất, tinh thần Quyền lợi có thể được bảo hiểm phải thỏa mãn điều kiện: Nó phải thực sự tồn tại tại thời điểm giao kết hợp đồng và phải là quyền lợi hợp pháp Quyền lợi không hợp pháp được hiểu là những lợi ích hình thành từ những quan hệ hoặc hành vi không được pháp luật thừa nhận và tất nhiên nó không thể được bảo hiểm do vi phạm pháp luật và nguy cơ gây nguy hại cho xã hội
14 Trung tâm Đào tạo Bảo Việt (2005), Nguyên tắc kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, học phần I, Nxb.Thống kê,
Hà Nội, tr.52 (bản dịch từ bộ tài liệu của LOMA – Hiệp hội các nhà quản lý Bảo hiểm Nhân thọ Mỹ)
15 Viện Bảo hiểm và Tài chính Australia – New Zealand (2007), VII.L03.Tổng quan về bảo hiểm nhân thọ, Dự
án Trung tâm Đào tạo Bảo hiểm Việt Nam, tr.11
Trang 18lại Công tác đánh giá rủi ro một cách cẩn thận ngày nay sẽ ngăn chặn được việc trục lợi, cá cược và bất kỳ công ty BHNT nào cũng sẽ từ chối bảo hiểm cho khách hàng nếu công ty đó cho rằng khách hàng chưa đủ điều kiện tham gia Tương tự như vậy, tại New Zealand, đạo luật sửa đổi về Luật bảo hiểm 1985 cũng đã loại trừ yêu cầu về quyền lợi có thể được bảo hiểm16
Tuy nhiên, pháp luật của một số nước quy định không hoàn toàn thống nhất
về vấn đề này Chẳng hạn, theo quy định của pháp luật Anh, Mỹ, giữa người tham gia bảo hiểm và người được bảo hiểm phải có mối quan hệ thiết thực về tiền bạc Pháp luật các nước Đức, Thụy Sỹ, Pháp, Nhật, Ý quy định chỉ cần có sự đồng ý của người được bảo hiểm mà không cần biết giữa họ có lợi ích bảo hiểm hay không17
1.1.4 Phân loại bảo hiểm nhân thọ
Nhờ tính đa dụng của BHNT là có thể đáp ứng được rất nhiều mục đích khác nhau đối với bên mua bảo hiểm, nên nhà bảo hiểm đã đa dạng hóa các sản phẩm bảo hiểm để đáp ứng nhu cầu đó Bên mua bảo hiểm có mục đích hoặc là để bảo
vệ mình, người thân tránh khỏi những rủi ro hoặc tiết kiệm để đáp ứng nhu cầu tài chính trong tương lai hoặc tạo lập quỹ hưu trí cho mình, quỹ giáo dục cho con cái v.v… Tuy nhiên, nhìn chung bảo hiểm nhân thọ được chia thành các loại cơ bản sau:
Một là, bảo hiểm nhân thọ suốt đời (hoặc trọn đời) là nghiệp vụ bảo hiểm
cho trường hợp người được bảo hiểm chết vào bất kỳ thời điểm nào trong suốt cuộc đời của người đó Bên mua bảo hiểm sẽ nộp phí bảo hiểm từ khi ký kết hợp đồng cho đến khi người được bảo hiểm chết hoặc sống đến một độ tuổi nhất định (từ năm 55 tuổi đến 65 tuổi) tùy sự lựa chọn của bên mua bảo hiểm
Hai là, bảo hiểm sinh kỳ là nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ cho trường hợp
người được bảo hiểm sống đến một thời hạn nhất định, theo đó, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng, nếu người được bảo hiểm vẫn sống đến thời hạn nhất định được ghi trong hợp đồng bảo hiểm Nếu không may người được bảo hiểm tử vong trong thời hạn bảo hiểm, thì doanh nghiệp bảo hiểm không phải trả tiền bảo hiểm
Ba là, bảo hiểm tử kỳ hay bảo hiểm rủi ro chết trong một thời hạn nhất định
là nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ cho trường hợp người được bảo hiểm chết trong một thời hạn nhất định, theo đó, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm
16 Viện Bảo hiểm và Tài chính Australia – New Zealand (2007), VII.L03.Tổng quan về bảo hiểm nhân thọ, Dự
án Trung tâm Đào tạo Bảo hiểm Việt Nam, tr.12
17 Trương Mộc Lâm và Lưu Nguyên Khánh (2001), Một số điều cần biết về pháp lý trong kinh doanh bảo
hiểm, Nxb.Thống kê, Hà Nội, tr.211
Trang 19cho người thụ hưởng, nếu người được bảo hiểm chết trong thời hạn đã được thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm Nếu hết hạn hợp đồng người được bảo hiểm vẫn còn sống, thì doanh nghiệp bảo hiểm không phải trả tiền bảo hiểm
Bốn là, bảo hiểm hỗn hợp là nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ kết hợp cả hai
nghiệp vụ bảo hiểm sinh kỳ và bảo hiểm tử kỳ hoặc các sản phẩm bảo hiểm bổ trợ khác Có tính chất vừa bảo hiểm vừa tiết kiệm Số tiền bảo hiểm được trả khi người được bảo hiểm bị tử vong hoặc sống đến hết hạn ghi trong hợp đồng
Năm là, bảo hiểm trả tiền định kỳ là nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ cho
trường hợp người được bảo hiểm sống đến một thời hạn nhất định Sau thời hạn
đó, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền định kỳ cho người thụ hưởng theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm
Trên cơ sở những nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ trên, doanh nghiệp bảo hiểm
đã phát triển nhiều loại hình BHNT khác, đan xen giữa các nghiệp vụ với nhau Theo đó, căn cứ chủ thể tham gia bảo hiểm, người được bảo hiểm, sản phẩm bảo hiểm nhân thọ được phân thành: BHNT dành cho cá nhân, BHNT nhóm (bảo hiểm cho tập thể người lao động); BHNT cho trẻ em đến tuổi trưởng thành, BHNT dành cho người lớn từ 18 tuổi đến 65 tuổi (tiết kiệm, tích luỹ)
Căn cứ lãi chia, sản phẩm bảo hiểm nhân thọ được chia thành: Nhóm sản phẩm có tham gia chia lãi và nhóm sản phẩm không tham gia chia lãi
Căn cứ tính bảo hiểm và tiết kiệm, sản phẩm bảo hiểm nhân thọ phân thành: Nhóm sản phẩm mang tính bảo vệ (bảo hiểm tử kỳ, bảo hiểm sinh mạng có thời hạn, các sản phẩm bổ trợ) Nhóm sản phẩm mang tính bảo hiểm và tiết kiệm (bảo hiểm hỗn hợp, bảo hiểm trả tiền định kỳ, bảo hiểm hưu trí)
Căn cứ vào phương thức phân phối, sản phẩm BHNT phân thành: Nhóm sản phẩm phân phối qua kênh truyền thống (đại lý cá nhân), nhóm sản phẩm phân phối qua kênh tổ chức; ngân hàng - bancassurance (đại lý tổ chức)
Căn cứ tiêu chí đầu tư, người ta phân BHNT thành: Nhóm sản phẩm truyền thống (bảo hiểm và tiết kiệm) và nhóm sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư, gồm: Bảo hiểm liên kết chung (Universal life) và bảo hiểm liên kết đơn vị (Unit link)
1.1.5 Vai trò và lợi ích của bảo hiểm nhân thọ
Bảo hiểm nhân thọ là một dịch vụ tài chính, một hoạt động kinh doanh mang lại nhiều lợi ích cho người dân và nền kinh tế quốc gia Vai trò của BHNT không chỉ thể hiện trong từng gia đình và đối với mỗi cá nhân trong việc góp phần ổn định cuộc sống, bù đắp thiệt hại về tài chính khi chẳng may gặp phải rủi ro, tạo lập quỹ hưu trí hay góp phần đảm bảo cho sự phát triển của doanh nghiệp mà còn
Trang 20thể hiện rõ trên phạm vi toàn xã hội Bảo hiểm nhân thọ ngoài vai trò bảo hiểm còn có vai trò thu hút vốn đầu tư nước ngoài, huy động vốn trong nước từ những nguồn tiền mặt nhàn rỗi trong dân cư tập trung thành quỹ lớn phục vụ cho nhu cầu đầu tư và phát triển xã hội Nguồn vốn này không chỉ có tác dụng đầu tư dài hạn, xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, sân bay, đường sá, cảng biển, trường học, bệnh viện v.v…mà còn góp phần thực hành tiết kiệm, chống lạm phát Trên bình diện xã hội, BHNT giải quyết công ăn việc làm cho hàng trăm ngàn lao động18 Ngoài ra, việc phát triển, mở rộng thị trường và các sản phẩm BHNT đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành thị trường vốn, khuyến khích hoạt động đầu tư, nâng cao tỷ lệ tiết kiệm trong dân cư, đặt nền móng cho sự thành công trong việc phát triển kinh tế-xã hội19
Bên cạnh đó, BHNT mang lại sự an tâm cho mỗi người, tạo nên sự bình ổn
về mặt tinh thần cho gia đình những người bị rủi ro, hoạn nạn Bảo hiểm nhân thọ giúp bảo đảm khả năng thanh toán viện phí và những phí tổn hậu sự, đảm bảo thu nhập và bảo vệ tài chính cũng như duy trì mức sống ổn định cho gia đình Mặc khác, BHNT giúp mỗi cá nhân và gia đình thực hiện những chương trình tiết kiệm dài hạn có tính kỷ luật, bảo đảm trong tương lai sẽ có một khoản tài chính vững vàng để thực hiện những kế hoạch lớn như mua xe, mua nhà, có thu nhập cao khi
về hưu, an hưởng tuổi già bên con cháu, tham quan, du lịch hoặc để lại di sản thừa
kế cho người thân hay thực hiện những mong muốn khác
Thêm vào đó, bảo hiểm nhân thọ góp phần đảm bảo nhiều lợi ích cho doanh nghiệp và người lao động như là một chế độ phúc lợi Với việc tham gia BHNT cho người lao động, doanh nghiệp đã tăng thêm quyền lợi cho người lao động một cách thiết thực, tạo động lực làm việc và khuyến khích họ gắn bó lâu dài với doanh nghiệp, nhất là đối với những nhân viên chủ chốt mà doanh nghiệp mong muốn duy trì hợp đồng lao động lâu dài với họ, đồng thời giúp cho doanh nghiệp giảm gánh nặng chi phí, Nhà nước giảm chi ngân sách trong việc chi cho người lao động nếu chẳng may họ bị rủi ro
Để khẳng định thêm vai trò và lợi ích của bảo hiểm nói chung, BHNT nói riêng trong đời sống, chúng tôi xin dẫn ra một số nhận xét sau:
Bảo hiểm là sản phẩm của sự phát triển kinh tế hàng hóa, đồng thời
cũng là biện pháp thúc đẩy và bảo đảm cho nền kinh tế hàng hóa phát
Trang 21triển Tất cả những nước và khu vực có nền kinh tế phát triển đều coi trọng hoạt động bảo hiểm và coi hoạt động bảo hiểm như một cỗ máy
ổn định xã hội tinh xảo20
Để đối phó với tai họa, phương pháp đơn giản và ít tốn kém nhất là hãy đoàn kết lại, cùng nhau mỗi người góp một số tiền Nếu tai họa xảy đến, mỗi người sẽ chỉ chịu tai họa chút ít Điều này có nghĩa là những người may may mắn không bị rủi ro tuy không lấy lại được số tiền đã đóng góp, nhưng họ có được một sự an bình trong tâm hồn Trong khi đó, những người không may gặp rủi ro, sẽ nhận được sự đền bù từ số tiền đóng góp của những người may mắn hơn, và có thể tiếp tục cuộc sống mới mà lẽ ra họ đã mất trắng vì tai họa bất ngờ21
1.2 Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
1.2.1 Khái niệm hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Trong quá trình sản xuất, kinh doanh cũng như trong cuộc sống hằng ngày, một yếu tố không thể thiếu được là phải có sự giao lưu, trao đổi với nhau Đó có thể là sự chuyển giao tài sản, quyền tài sản hoặc thực hiện một dịch vụ giữa chủ thể này với chủ thể kia, pháp nhân này với pháp nhân kia hoặc giữa cá nhân với tổ chức gọi chung là quá trình giao lưu dân sự Việc giao lưu dân sự được hình thành thông qua sự thỏa thuận giữa các bên, bằng một hình thức nhất định, trên cơ sở đó pháp luật buộc các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đã cam kết Sự thoả
thuận giữa các bên được gọi là hợp đồng, “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận
giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”
(Điều 388, BLDS 2005)
Hiện nay, mặc dù BHNT đã xuất hiện khá lâu nhưng chưa có văn bản nào đưa ra khái niệm riêng về hợp đồng BHNT Tuy nhiên, hợp đồng BHNT là một dạng hợp đồng bảo hiểm, do vậy, để làm rõ khái niệm hợp đồng BHNT, thiết nghĩ cần bắt đầu bằng khái niệm hợp đồng bảo hiểm
Khái niệm hợp đồng bảo hiểm được quy định trong Bộ luật dân sự 2005 và
Luật KDBH, Điều 567 Bộ luật dân sự quy định: “Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa
thuận giữa các bên, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, còn bên bảo hiểm phải trả một khoản tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm” Khoản 1, Điều 12, Luật KDBH quy định: “Hợp đồng bảo hiểm là
sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên
20 Trương Mộc Lâm và Lưu Nguyên Khánh (2001), Một số điều cần biết về pháp lý trong kinh doanh bảo
hiểm, Nxb.Thống kê, Hà Nội, tr 29
21 Nhận xét về bảo hiểm của Quốc hội Anh 1825, Prudential (Việt Nam) – Kỷ niệm 2 năm, tr.11
Trang 22mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra
sự kiện bảo hiểm” Ngoài ra, khoản 12, Điều 3 Luật KDBH quy định về BHNT
như sau: “Bảo hiểm nhân thọ là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được
bảo hiểm sống hoặc chết”
Hợp đồng BHNT là một dạng hợp đồng bảo hiểm nên hoàn toàn phù hợp với khái niệm trên Bên cạnh đó, hợp đồng BHNT còn có những đặc điểm riêng như đối tượng bảo hiểm là sức khoẻ, tính mạng, tuổi thọ con người Sự kiện bảo hiểm không chỉ gắn với rủi ro mà còn gắn với việc không bị rủi ro Trách nhiệm trả tiền của doanh nghiệp bảo hiểm phát sinh ngay cả trong trường hợp người được bảo hiểm không bị rủi ro, điều này ngược lại với bảo hiểm phi nhân thọ, trách nhiệm bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm của doanh nghiệp chỉ phát sinh khi đối tượng bảo hiểm bị thiệt hại Do vậy, hợp đồng BHNT có tính bảo hiểm và tiết kiệm đối với bên mua bảo hiểm Từ bản chất của hợp đồng bảo hiểm và những đặc trưng của BHNT, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về hợp đồng BHNT như sau:
Hợp đồng BHNT là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm cam kết bảo hiểm cho sức khỏe, tính mạng, tuổi thọ của người được bảo hiểm còn bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm, và tương ứng, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ trả tiền bảo hiểm hay một khoản trợ cấp định kỳ nếu người được bảo hiểm sống đến một thời điểm nhất định như thỏa thuận trong hợp đồng hoặc bồi thường cho người thụ hưởng nếu người được bảo hiểm bị tàn tật, tử vong thuộc phạm vi bảo hiểm
Trong khoa học pháp lý cũng như thực tiễn pháp luật ở các quốc gia có thị trường bảo hiểm phát triển, hợp đồng BHNT cũng được định nghĩa tương tự22 Luật về hợp đồng BHNT của Đức, Singapore, Thái Lan, Israel đều có khái niệm như vậy Cụ thể, Điều 1, Luật hợp đồng bảo hiểm năm 1981 của Israel quy định:
“Hợp đồng bảo hiểm là một hợp đồng giữa người bảo hiểm và cá nhân người
được bảo hiểm, theo đó người được bảo hiểm có nghĩa vụ, tương ứng với việc nhận phí bảo hiểm, là trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng khi xảy ra sự kiện bảo hiểm đối với người được bảo hiểm” 23
1.2.2 Đặc điểm pháp lý của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Trên phương diện pháp lý, hợp đồng BHNT có các đặc điểm sau:
22 Xem Bộ Tài chính (1999), Luật bảo hiểm một số nước, Nxb.Tài chính, Hà Nội
23 Trần Vũ Hải (2006), Hợp đồng BHNT - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb.Tư Pháp, Hà Nội, tr.12
Trang 23Một là, hợp đồng BHNT là hợp đồng song vụ24 Tính song vụ thể hiện ở quyền và nghĩa vụ của bên bảo hiểm và bên mua bảo hiểm, các quyền và nghĩa vụ này có thể do pháp luật quy định hoặc phát sinh trong quan hệ hợp đồng, theo đó, các bên chủ thể vừa có quyền vừa có nghĩa vụ đối với nhau Quyền của bên này chính là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại, nghĩa vụ của bên này tương ứng là quyền của bên kia
Khoản 1, khoản 2, Điều 17, Luật KDBH quy định quyền và nghĩa vụ của bên bảo hiểm Theo đó, bên bảo hiểm có các quyền: Thu phí bảo hiểm; yêu cầu bên mua bảo hiểm cung cấp thông tin đầy đủ, trung thực; đơn phương chấm dứt hợp đồng bảo hiểm; từ chối trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc từ chối bồi thường cho người được bảo hiểm trong trường hợp không thuộc phạm vi hoặc loại trừ trách nhiệm bảo hiểm; các quyền khác theo quy định của pháp luật Bên bảo hiểm có nghĩa vụ: Giải thích cho bên mua bảo hiểm về các điều kiện, điều khoản bảo hiểm, quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm; cấp cho bên mua bảo hiểm giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc đơn bảo hiểm; trả tiền bảo hiểm; giải thích bằng văn bản lý do từ chối bảo hiểm hoặc từ chối bồi thường; các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật
Khoản 1, khoản 2 Điều 18, Luật KDBH quy định quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm Theo đó, bên mua bảo hiểm có các quyền: Lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động tại Việt Nam để mua bảo hiểm; yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm, cấp giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc đơn bảo hiểm; đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm; yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm; chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm; các quyền khác theo quy định của pháp luật Bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ: Đóng phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn; kê khai đầy đủ, trung thực mọi chi tiết
có liên quan đến hợp đồng bảo hiểm; thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc xảy ra sự kiện bảo hiểm; các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật Ngoài ra, quyền và nghĩa vụ của bên bảo hiểm và bên mua bảo hiểm còn phát sinh trong quan hệ hợp đồng đối với mỗi loại hợp đồng BHNT cụ thể Chẳng hạn như: Bên mua bảo hiểm có quyền nhận lãi chia, bảo tức tích lũy (nếu có); tạm ứng từ giá trị hoàn loại (giá trị giải ước); rút giá trị tài khoản của hợp đồng; khôi phục số tiền bảo hiểm hoặc khôi phục hiệu lực hợp đồng; chuyển đổi sản phẩm (hợp đồng) hoặc thay đổi thời hạn bảo hiểm, dừng nộp phí chuyển sang số tiền bảo hiểm giảm, gia hạn thời gian nộp phí, quyền miễn truy xét v.v…Bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ: Thông báo bằng văn bản mọi yêu cầu thay đổi, bổ sung thông tin, điều kiện hợp đồng cho bên bảo hiểm trước từ 15 đến 30 ngày; hợp tác,
24 Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau (khoản 1, Điều 406, BLDS 2005)
Trang 24cung cấp thông tin, hồ sơ giấy tờ hợp lệ cho bên bảo hiểm trong việc yêu cầu giải quyết bồi thường… Ngược lại, bên bảo hiểm có nghĩa vụ đáp ứng các yêu cầu của bên mua bảo hiểm trong việc thay đổi, bổ sung thông tin, điều kiện hợp đồng hoặc khi bên mua bảo hiểm thực hiện các quyền của mình như đã thỏa thuận Như vậy, chúng ta thấy rằng hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là hợp đồng song
vụ, các bên chủ thể vừa có quyền, vừa có nghĩa vụ đối với nhau, tương ứng với quyền của bên bảo hiểm (thu phí bảo hiểm) là nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm (nộp phí bảo hiểm) Hay quyền của bên mua bảo hiểm (yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm), đối lại là nghĩa vụ của bên bảo hiểm (trả tiền bảo hiểm) Nói cách khác, quyền của bên này chính là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại
Hai là, hợp đồng BHNT là hợp đồng chuyển dịch rủi ro từ bên mua bảo hiểm sang bên nhận bảo hiểm Việc chuyển dịch rủi ro xảy ra trong hợp đồng
BHNT thể hiện rõ nét như là một mục đích khi giao kết hợp đồng Bởi vì, đa số các hợp đồng dân sự, khi các bên tham gia hợp đồng đều hướng đến mục đích nhằm thiết lập một quan hệ nghĩa vụ dân sự để thông qua đó, các bên thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với nhau nhằm thực hiện quá trình trao đổi lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần Trong hợp đồng BHNT, mặc dù các bên cùng nhằm thiết lập một quan hệ quyền - nghĩa vụ, nhưng trong đó, bên mua bảo hiểm hướng đến sự bình
ổn về tình trạng kinh tế của mình hoặc gia đình trong trường hợp có tổn thất tài chính xảy ra do xảy ra rủi ro về sức khỏe, tính mạng của mình hoặc người được bảo hiểm Do vậy, bên mua bảo hiểm ngoài mục đích tiết kiệm còn có mục đích chuyển gánh nặng tài chính do rủi ro xảy ra từ mình hoặc người được bảo hiểm sang bên nhận bảo hiểm trong trường hợp rủi ro đó là sự kiện bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận gánh nặng tài chính đó về phía mình như thỏa thuận trong hợp đồng chính là chấp nhận sự chuyển dịch rủi ro
Ba là, mặc dù có quan hệ mua – bán nhưng hợp đồng BHNT là hợp đồng không chuyển dịch tài sản, quyền sở hữu cũng như quyền sử dụng tài sản giữa các bên, mà chỉ là “bán” lời hứa, lời cam kết của bên bảo hiểm đối với bên mua
bảo hiểm bởi vì đặc điểm của sản phẩm BHNT là sản phẩm “vô hình” không thể
sờ, không thể nhìn thấy và không thể định lượng Giá cả của sản phẩm bảo hiểm – phí bảo hiểm được xác định hoàn toàn dựa trên kỹ thuật tính toán và sự phán đoán rủi ro của nhà bảo hiểm Kết quả của nó có thể hình thành trong tương lai khi đáo hạn hợp đồng hoặc khi người được bảo hiểm bị rủi ro Do vậy, hợp đồng BHNT thực chất là hợp đồng dịch vụ có tính chất may rủi, đền bù
Bốn là, hợp đồng BHNT là hợp đồng có tính chất gia nhập, bên mua bảo
hiểm không thể thỏa thuận với bên bảo hiểm để đưa thêm vào một số nội dung trong điều khoản mẫu cho phù hợp với nhu cầu của mình Đây là sự khác biệt so
Trang 25với một số loại hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ, bên mua bảo hiểm có thể thỏa thuận với nhà bảo hiểm để thêm vào một số nội dung trong điều khoản hợp đồng, theo ý muốn chủ quan, yêu cầu của bên mua bảo hiểm Nghĩa là, điều khoản hợp đồng BHNT là điều khoản mẫu25, đặc điểm sản phẩm, nội dung điều khoản do bên bảo hiểm thiết kế và soạn sẵn, dưới sự kiểm tra, giám sát và phê duyệt của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Bên mua bảo hiểm sau khi tìm hiểu về sản phẩm, nội dung của điều khoản hợp đồng nếu thấy phù hợp với nhu cầu của mình thì ký gia nhập chứ không thể “mặc cả” Tuy nhiên, trong thực tế giao kết hợp đồng BHNT, doanh nghiệp bảo hiểm không hoàn toàn quyết định tất cả các nội dung của hợp đồng Việc thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung một số nội dung trong hợp đồng xảy ra trong một số trường hợp nhất định như: Thay đổi, bổ sung các sản phẩm bổ trợ, người thụ hưởng, thay đổi người tham gia bảo hiểm…
1.2.3 Đối tượng được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Xuất phát từ đối tượng bảo hiểm của BHNT là tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe
và tai nạn con người (nghĩa rộng) nên đối tượng được bảo hiểm trong hợp đồng BHNT cũng chính là đối tượng bảo hiểm của BHNT Nói cách khác, đối tượng được bảo hiểm trong hợp đồng BHNT chính là sinh mạng, tuổi thọ, sức khỏe và tai nạn con người của bên mua bảo hiểm và/hoặc người được bảo hiểm Con người được bảo hiểm về các yếu tố như tuổi thọ (sống, chết), sinh mạng, tai nạn
và sức khỏe vốn là những vấn đề vô giá, không thể cân đong đo đếm về giá trị, không thể tính toán được bằng tiền, không thể căn cứ vào giá trị thiệt hại Vì vậy,
dù rằng mức độ thiệt hại của người được bảo hiểm có như thế nào đi chăng nữa, doanh nghiệp bảo hiểm cũng chỉ có thể trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận đã ghi trong hợp đồng Việc chi trả tiền bảo hiểm cho các trường hợp này thường được xác định từng vấn đề được bảo hiểm riêng lẻ
Nếu bảo hiểm về tuổi thọ, tính mạng con người đã được bảo hiểm, thì khi người được bảo hiểm bị tử vong, bên bảo hiểm phải chi trả cho người thụ hưởng một khoản tiền được xác định trước tương ứng với mức phí bảo hiểm thành một khoản tiền cụ thể Nếu người được bảo hiểm sống đến một thời điểm nhất định ghi trong hợp đồng thì bên bảo hiểm sẽ trả số tiền bảo hiểm gốc; số tiền bảo hiểm gia tăng hoặc giá trị tài khoản hợp đồng và lãi chia (nếu có) cho bên mua bảo hiểm như đã cam kết trong hợp đồng
25 Điều khoản mẫu của hợp đồng BHNT là điều khoản do doanh nghiệp bảo hiểm đưa ra theo mẫu đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt khi giao kết hợp đồng mà theo đó, nếu bên mua bảo hiểm chấp nhận giao kết thì được coi là chấp nhận tất cả nội dung điều khoản mẫu đó Khái niệm điều khoản mẫu không hoàn toàn đồng nhất với khái niệm hợp đồng theo mẫu trong Bộ luật dân sự Việt Nam Theo đó, Điều 407, Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Hợp đồng theo mẫu là hợp đồng gồm những điều khoản do một bên đưa ra theo mẫu
để bên kia trả lời trong một thời gian hợp lý; nếu bên được đề nghị trả lời chấp nhận thì coi như chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng theo mẫu mà bên đề nghị đưa ra”
Trang 26Nếu bảo hiểm về sức khỏe và tại nạn con người, thì khi người được bảo hiểm gặp rủi ro về sức khỏe, tại nạn con người, bên bảo hiểm phải chi trả cho người được bảo hiểm một khoản tiền trong phạm vi số tiền bảo hiểm được xác định trên
cơ sở căn cứ vào bảng tỷ lệ chi trả và thương tật thực tế của người được bảo hiểm; chi phí thực tế và hợp lý trong việc khám, chữa bệnh, nằm viện và phục hồi sức khỏe của người được bảo hiểm do bệnh tật hoặc tai nạn gây ra
1.2.4 Hình thức của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Hình thức của hợp đồng là phương tiện thể hiện và ghi nhận ý chí của các chủ thể khi thiết lập hợp đồng Nói các khác, hình thức của hợp đồng là phương tiện phản ánh và ghi nhận sự thỏa thuận, cam kết giữa các bên chủ thể Ý chí của chủ thể trong hợp đồng thuộc về phạm trù nội dung, mà nội dung đó bao giờ cũng phải được thể hiện ra bên ngoài bằng một hình thức nhất định Thế nên, muốn thiết lập một hợp đồng, các chủ thể nhất thiết phải sử dụng một trong các hình thức sau: Bằng lời nói; bằng cử chỉ, hành động hoặc bằng văn bản Trong trường hợp các bên thỏa thuận bằng miệng và đưa ra một số các cam kết, song chứng cứ
về nội dung của các cam kết đó sẽ rất khó được xác định Chính vì vậy, đối với
hợp đồng bảo hiểm, Điều 14, Luật KDBH quy định: “Hợp đồng bảo hiểm phải
được lập thành văn bản Bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm là giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm, điện báo, telex, fax và các hình thức khác do pháp luật quy định”
Điều 570, Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Hợp đồng bảo hiểm phải được lập
thành văn bản Giấy yêu cầu bảo hiểm có chữ ký của bên mua bảo hiểm là bộ phận không tách rời của hợp đồng bảo hiểm Giấy chứng nhận bảo hiểm, hoặc đơn bảo hiểm là bằng chứng của việc giao kết hợp đồng bảo hiểm”, so với Điều
574, Bộ Luật dân sự 1995 (BLDS 1995), Điều luật này bổ sung cụm từ “Giấy yêu
cầu bảo hiểm có chữ ký của bên mua bảo hiểm là bộ phận không tách rời của hợp đồng bảo hiểm” Điều này thể hiện sự tiến bộ của pháp luật dân sự và phù hợp với
thực tế ký kết hợp đồng BHNT Việc bổ sung này là cần thiết nhằm bảo vệ quyền
và lợi ích chính đáng của khách hàng Những thông tin trong Giấy yêu cầu bảo hiểm mà bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm đã kê khai và ký xác nhận là cơ
sở để bên bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm hoặc từ chối bảo hiểm, từ chối bồi thường khi giải quyết quyền lợi bảo hiểm Hiện nay, doanh nghiệp bảo hiểm khi cấp hợp đồng cho bên mua bảo hiểm thường gửi kèm bản photocopy có đóng dấu Giấy yêu cầu bảo hiểm mà bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm đã kê khai và
ký xác nhận để họ có thể kiểm tra, theo dõi những thông tin mình đã kê khai hoặc
đề nghị sửa đổi, bổ sung khi cần thiết Do vậy, Điều 570, BLDS 2005 quy định
Trang 27“Giấy yêu cầu bảo hiểm có chữ ký của bên mua bảo hiểm là bộ phận không tách
rời của hợp đồng bảo hiểm” là hoàn toàn phù hợp về mặt lý luận lẫn thực tiễn
Theo những quy định trên thì hợp đồng bảo hiểm hay hợp đồng BHNT bắt buộc phải được thiết lập bằng hình thức văn bản Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao kết hợp đồng giữa bên bảo hiểm và bên mua bảo hiểm, pháp luật thừa nhận văn bản hợp đồng BHNT có thể thể hiện theo nhiều dạng khác nhau nhưng trong thực tế, hầu hết được thể hiện theo một trong hai dạng sau: Giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc đơn bảo hiểm Thêm vào đó, các tài liệu liên quan như Giấy yêu cầu bảo hiểm, bộ điều khoản bảo hiểm, phụ lục hợp đồng, giấy chứng nhận bảo hiểm tạm thời, hóa đơn thu phí và các giấy tờ khác được lưu kèm theo bộ hợp đồng bảo hiểm đều được xem là bộ phận của hợp đồng BHNT đó
Mặc khác, không như các hợp đồng dân sự thông dụng khác có thể thỏa thuận, ký kết bằng miệng bởi thời hạn hợp đồng ngắn, đơn giản Hợp đồng BHNT được xem là một trong những hợp đồng phức tạp với nhiều nội dung cam kết giữa các bên, nhiều thuật ngữ chuyên môn, nhiều yếu tố kỹ thuật của đặc điểm sản phẩm mà không phải ai cũng có thể đọc và hiểu ngay, nên nó cần phải được thể hiện bằng văn bản (giấy trắng, mực đen) để bên mua bảo hiểm có thể “nghiền ngẫm” nội dung, hiểu về quyền và nghĩa vụ của mình đồng thời nó cũng là cơ sở
để giải quyết tranh chấp Hơn nữa, hợp đồng BHNT thường có thời hạn rất dài (ngắn nhất là 5 năm, dài nhất có thể là 100 năm26), hình thức của nó là văn bản thì mới có thể lưu giữ an toàn, bền lâu
1.2.5 Chủ thể của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Chủ thể của hợp đồng bảo hiêm nhân thọ bao gồm hai bên, bên bảo hiểm và bên mua bảo hiểm Ngoài ra, trong hợp đồng BHNT có thể có các chủ thể liên quan như: Người được bảo hiểm, người thụ hưởng
Bên bảo hiểm (còn gọi là bên nhận bảo hiểm hoặc bên bán bảo hiểm) là chủ thể chấp nhận rủi ro của chủ thể khác trên cơ sở nhận được phí bảo hiểm Bên bảo hiểm trong hợp đồng BHNT là doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực BHNT27
Vì trách nhiệm của của doanh nghiệp bảo hiểm rất quan trọng, hoạt động của nó ảnh hưởng lớn đến nhiều người dân, đến kinh tế-xã hội nên luật pháp của các nước cũng có nhiều hạn chế (kiểm soát) về hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ Tương tự, tại Việt Nam, kinh doanh bảo hiểm nhân thọ là một trong những
26 Điều 2, Bộ điều khoản bảo hiểm An Phúc Trọn Đời của công ty AIG life
27 Khoản 2, Điều 60 Luật KDBH quy định: Doanh nghiệp bảo hiểm không được phép đồng thời kinh doanh BHNT và bảo hiểm phi nhân thọ, trừ trường hợp doanh nghiệp BHNT kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm tai nạn con người bổ trợ cho BHNT Quy định này nhằm hạn chế những rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm
Trang 28ngành nghề, dịch vụ kinh doanh có điều kiện28 Do vậy, khi ký kết hợp đồng BHNT, doanh nghiệp bảo hiểm phải thỏa mãn các điều kiện sau: Một là, doanh nghiệp bảo hiểm phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép thành lập
và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam, giấy phép còn hiệu lực tại thời điểm giao kết hợp đồng Điều này nhằm xác định tư cách chủ thể của bên bảo hiểm Hai là, người đại diện của doanh nghiệp bảo hiểm phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
và có thẩm quyền đại diện cho doanh nghiệp
Người đại diện của doanh nghiệp thường có hai dạng, người đại diện giao dịch và người đại diện ký kết Người đại diện giao dịch là người được doanh nghiệp bảo hiểm uỷ quyền thực hiện các hoạt động liên quan đến việc thu xếp việc ký kết hợp đồng bảo hiểm, thu phí bảo hiểm, phục vụ khách hàng và các hoạt động khác trong khuôn khổ quyền và nghĩa vụ của người đại diện Đây là chủ thể trung gian, chủ thể này có thể là đại lý bảo hiểm hoặc nhân viên của đại lý tổ chức thỏa mãn quy định tại Điều 86 Luật KDBH và Điều 28 Nghị định 45/2007/NĐ-CP ngày 27/03/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm (sau đây gọi là Nghị định 45/2007/NĐ-CP) Người đại diện ký kết là người có thẩm quyền ký vào văn bản hợp đồng, thường là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp bảo hiểm (Giám đốc; Tổng Giám đốc) hoặc người được ủy quyền của người đại diện theo pháp luật
Bên mua bảo hiểm (bên tham gia bảo hiểm hay chủ hợp đồng bảo hiểm) là chủ thể tham gia, kê khai, ký tên vào Giấy yêu cần bảo hiểm và đứng tên người tham gia bảo hiểm trong hợp đồng BHNT, đồng thời có nghĩa vụ nộp phí bảo hiểm Bên mua bảo hiểm có thể là cá nhân hoặc tổ chức nếu đáp ứng các điều kiện bên mua bảo hiểm theo quy định của pháp luật và điều khoản hợp đồng Nếu bên mua bảo hiểm là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Tuổi của người tham gia bảo hiểm phải từ 18 đến 65 tuổi, khả năng tài chính ổn định, nếu không đồng thời là người được bảo hiểm thì giữa họ và người được bảo hiểm phải
tồi tại quyền lợi có thể được bảo hiểm Nếu bên mua bảo hiểm là tổ chức thì tổ
chức đó phải hợp pháp, đồng thời giữa tổ chức và người được bảo hiểm (thành viên trong tổ chức đó) phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm
Trong hợp đồng BHNT, ngoài bên bảo hiểm và bên mua bảo hiểm, còn có người được bảo hiểm và người thụ hưởng Những chủ thể này không trực tiếp ký
Trang 29kết hợp đồng với bên bảo hiểm nhưng họ có quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan
hệ hợp đồng được ký kết giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm Tuy nhiên, quyền và nghĩa vụ của hai chủ thể này rất hạn chế và họ có quyền từ chối, nếu muốn
Người được bảo hiểm trong hợp đồng BHNT chỉ có thể là cá nhân có tuổi thọ, tính mạng và sức khỏe là đối tượng bảo hiểm Do đó, người được bảo hiểm phải là con người cụ thể đang sống trong xã hội Đối với hợp đồng BHNT mà bên mua bảo hiểm là tổ chức, thì người được bảo hiểm chính là cá nhân trong tổ chức
đó Hầu hết các doanh nghiệp bảo hiểm quy định tuổi của người được bảo hiểm từ
3 tháng tuổi đến 65 tuổi Thực tế, vẫn có doanh nghiệp chấp nhận bảo hiểm cho trẻ em từ 1 tháng tuổi trở lên như Prudential, AIG life, Manulife, Dai-Ichi đối với một số sản phẩm nhất định Nếu người được bảo hiểm từ đủ 14 tuổi trở lên thì họ phải ký vào Giấy yêu cầu bảo hiểm Người được bảo hiểm có thể đồng thời là bên mua bảo hiểm và ngược lại, nếu bên mua bảo hiểm không phải là tổ chức
Người thụ hưởng trong hợp đồng BHNT có thể là cá nhân (một hoặc nhiều người) hoặc tổ chức được bên mua bảo hiểm chỉ định trong hợp đồng bảo hiểm với sự đồng ý của người được bảo hiểm Họ không phải ký vào bất cứ giấy tờ, hồ
sơ yêu cầu bảo hiểm nhưng những thông tin về họ được ghi vào Giấy yêu cầu bảo hiểm và có tên trong hợp đồng bảo hiểm với tư cách là người thụ hưởng Người thụ hưởng có thể được thay đổi, bổ sung trong thời hạn hợp đồng tùy thuộc vào ý muốn chủ quan của bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm Do vậy, giữa người thụ hưởng và bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm không nhất thiết
phải tồn tại quyền lợi có thể được bảo hiểm
Trong thực tế, bên mua bảo hiểm, có thể là người được bảo hiểm (nếu là cá nhân) đồng thời là người thụ hưởng Đối với một số loại hợp đồng BHNT, người được bảo hiểm cũng đồng thời là người thụ hưởng Nếu người được bảo hiểm sống đến ngày đáo hạn hợp đồng, quyền lợi bảo hiểm sẽ được chi trả cho bên mua bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm Trong trường hợp này, bên mua bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm chính là người thụ hưởng Đối với người thụ hưởng do chỉ định, không hẳn trong bất cứ hợp đồng BHNT nào cũng đều tồn tại Do vậy, nếu người được bảo hiểm bị tử vong, quyền lợi bảo hiểm có thể được chi trả cho bên mua bảo hiểm hoặc người thừa kế của người được bảo hiểm Nếu người được bảo hiểm bị tàn tật, quyền lợi bảo hiểm được chi trả cho người được bảo hiểm hoặc bên mua bảo hiểm
1.2.6 Một số nội dung cơ bản của điều khoản mẫu trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Trang 30Nội dung của hợp đồng BHNT là tổng hợp quyền và nghĩa vụ do các bên thỏa thuận và được ghi trong hợp đồng Theo đó, khoản 1, Điều 13 Luật KDBH quy định hợp đồng bảo hiểm phải có những nội dung sau: Tên, địa chỉ doanh nghiệp bảo hiểm, bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng; đối tượng bảo hiểm; số tiền bảo hiểm, giá trị tài sản được bảo hiểm đối với bảo hiểm tài sản; phạm vi bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, điều khoản bảo hiểm; điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm; thời hạn bảo hiểm; mức phí bảo hiểm, phương thức đóng phí bảo hiểm; thời gian, phương thức trả tiền bảo hiểm hoặc
bồi thường; các quy định giải quyết tranh chấp; ngày, tháng, năm giao kết hợp đồng Khoản 2 quy định: “Ngoài những nội dung quy định tại khoản 1 Điều này,
hợp đồng bảo hiểm thể có các nội dung khác do các bên thỏa thuận” Theo những
quy định trên, hợp đồng bảo hiểm có rất nhiều nội dung, bao gồm những nội dung bắt buộc do luật định và những nội dung do các bên thỏa thuận (các điều khoản tuỳ nghi) Hợp đồng BHNT là một loại hợp đồng bảo hiểm nên tất yếu chịu điều chỉnh bởi quy định này, nghĩa là nó cũng bao gồm những nội dung do luật định và những nội dung do các bên thỏa thuận Trong phần này, chúng tôi chỉ đề cập thêm một số nội dung cơ bản liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm trong điều khoản mẫu ngoài quy định tại khoản 1, Điều 13 và các Điều khoản khác trong Luật KDBH Bởi vì, trong thực tế các nội dung theo luật quy định đều được thể hiện trong hợp đồng BHNT
Về mặt bố cục, các nội dung như: Tên, địa chỉ doanh nghiệp bảo hiểm, bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng; số tiền bảo hiểm; thời hạn bảo hiểm; mức phí bảo hiểm; phương thức đóng phí bảo hiểm; loại hình bảo hiểm; các sản phẩm bổ trợ (nếu có); ngày, tháng, năm giao kết hợp đồng được thể hiện ở Giấy chứng nhận bảo hiểm Các điều khoản về: Phạm vi bảo hiểm; điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm; thời gian, phương thức trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường; giải quyết tranh chấp; quyền và nghĩa vụ của các bên, thời gian gia hạn nộp phí bảo hiểm; khôi phục hợp đồng; chuyển nhượng hợp đồng, thời gian cân nhắc hợp đồng, miễn truy xét, chuyển đổi hợp đồng bảo hiểm, các loại phí, chi phí hợp lý có liên quan bên mua bảo hiểm phải gánh chịu v.v…thể hiện trong bộ điều khoản hợp đồng Ở đây, chúng tôi chỉ phân tích ngắn gọn một
số nội dung quan trọng “ẩn” bên trong điều khoản mẫu của hợp đồng, phát sinh từ quan hệ hợp đồng có thể làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua BHNT, bao gồm những điều khoản sau:
Trang 31Điều khoản thời gian cân nhắc hợp đồng 29, là thời gian trong hạn 14 hoặc
21 ngày30 kể từ ngày hợp đồng phát sinh hiệu lực hoặc phát hành hợp đồng, bên mua bảo hiểm có quyền từ chối tiếp tục tham gia bảo hiểm và yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm hoàn lại số phí đã nộp sau khi trừ đi một số chi phí hợp lý có liên quan Điều này cho phép bên mua bảo hiểm có thời gian đọc, xem xét thật kỹ hợp đồng và nếu nhận thấy không phù hợp với nhu cầu của mình hoặc nội dung hợp đồng không giống như sự tư vấn của đại lý bảo hiểm thì có quyền từ chối tiếp tục tham gia và nhận lại phí đóng sau khi bị trừ đi một số các chi phí như: Chi phí đánh giá rủi ro, phát hành hợp đồng (chi phí hành chính, in ấn), chi phí khám sức khỏe, xét nghiệm y khoa (nếu có)
Tại Việt Nam, điều khoản của tất cả các loại hợp đồng BHNT của các doanh nghiệp đều có nội dung này
Điều khoản miễn truy xét, là trường hợp bên mua bảo hiểm nhầm lẫn khi kê
khai các thông tin trong hồ sơ yêu cầu bảo hiểm, các nội dung kê khai không chính xác hoặc bỏ sót sẽ không bị bên bảo hiểm truy xét khi người được bảo hiểm còn sống và hợp đồng đã có hiệu lực liên tục được 24 tháng trừ những thông tin được coi là quan trọng, cần thiết ảnh hưởng đến việc doanh nhiệp bảo hiểm chấp nhận hoặc từ chối hoặc tăng phí bảo hiểm Quy định này nhằm miễn trừ những thiếu sót không quan trọng của bên mua bảo hiểm khi kê khai Giấy yêu cầu bảo hiểm Hợp đồng bảo hiểm sẽ không mất hiệu lực vì những thiếu sót không quan trọng này Trong thực tế, điều khoản này có trong tất cả các loại hợp đồng BHNT
Điều khoản chuyển đổi hợp đồng bảo hiểm, là trường hợp trong thời gian
hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực, bên mua bảo hiểm có thể yêu cầu chuyển đổi hợp đồng sang một loại hợp đồng BHNT khác phù hợp với mục tiêu, nhu cầu của mình và thỏa mãn các quy định của bên bảo hiểm tại thời điểm yêu cầu chuyển đổi Trong mỗi giai đoạn hợp đồng, bên mua bảo hiểm có thể có những mục đích bảo hiểm khác nhau Quy định này giúp cho bên mua bảo hiểm có thể chuyển đổi sang một loại sản phẩm khác phù hợp với hoàn cảnh, nhu cầu của mình hơn Điều khoản này chỉ có trong một số sản phẩm và ở một vài doanh nghiệp (Bảo Việt Nhân thọ)
Điều khoản thay đổi thời hạn nộp phí; thời hạn bảo hiểm là trường hợp bên
mua bảo hiểm yêu cầu bên bảo hiểm thay đổi thời hạn nộp phí; thời hạn bảo hiểm sang một thời hạn mới, ngắn hơn hoặc dài hơn thời hạn đã chọn phù hợp với quy định của bên bảo hiểm tại thời điểm yêu cầu thay đổi Quy định này, giúp cho bên
29 Hiện nay, thuật ngữ này không được sử dụng thống nhất: Thời gian cân nhắc hợp đồng (Prudential); Từ chối tiếp tục tham gia bảo hiểm (Bảo Việt Nhân thọ, AIG life, Manulife, Dai-Ichi); Tự do xem xét (Prevoir) Trong bài viết này, chúng tôi dùng thuật ngữ “Thời gian cân nhắc hợp đồng”, theo chúng tôi là phù hợp, dễ hiểu
30 Bảo Việt Nhân thọ, Prevoir (14 ngày); AIG life, Prudential, ACElife, Manulife, Dai-Ichi (21 ngày)
Trang 32mua bảo hiểm có thể thay đổi phương án bảo hiểm phù hợp với mục tiêu trong từng giai đoạn cụ thể, đồng thời nó cũng làm cho hợp đồng BHNT có tính linh hoạt hơn, hấp dẫn hơn Nội dung này thường được quy định trong điều khoản của các sản phẩm thế hệ mới như sản phẩm liên kết đầu tư của Bảo Việt Nhân thọ, Prudential, AIG life, ACE life, Manulife, Dai-Ichi life
Các loại phí, chi phí hợp lý có liên quan bên mua bảo hiểm phải gánh chịu, có thể bao gồm: Chi phí đánh giá rủi ro, phát hành hợp đồng; chi phí khám,
xét nghiệm y khoa; phí dịch vụ; phí rút một phần giá trị tài khoản (còn gọi là phí giải ước một phần); phí quản lý quỹ liên kết chung; phí chấm dứt hợp đồng; phí khuyến khích duy trì hợp đồng; chi phí quản lý và một số phí, chi phí khác Nội dung của quy định này thể hiện trong hầu hết các loại hợp đồng BHNT của tất cả các doanh nghiệp, đặc biệt đối với dòng sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư, các loại chi phí này khá cao nhưng đại lý bảo hiểm khi tư vấn cho khách hàng thường không đề cập Hiện tại, trong hợp đồng BHNT các loại phí, chi phí này không được quy định số tiền cụ thể mà tuỳ vào mỗi sản phẩm, mỗi trường hợp riêng biệt
và mỗi doanh nghiệp quy định khác nhau Đây là điều bên mua bảo hiểm cần hết sức lưu ý, phải tìm hiểu thật kỹ trước khi ký kết hợp đồng
Do sự đa dạng của sản phẩm BHNT nên trong thực tế, không phải hợp đồng BHNT nào cũng có đầy đủ các nội dung nêu trên Tùy thuộc vào mỗi doanh nghiệp bảo hiểm, mỗi loại hợp đồng, đặc tính của sản phẩm mà nó có thể có nhiều nội dung hoặc chỉ có một số nội dung cơ bản theo quy định của pháp luật mà thôi
1.2.7 Các trường hợp hợp đồng bảo hiểm nhân thọ vô hiệu
Trong mỗi hệ thống pháp luật, thậm chí trong cùng một hệ thống pháp luật của một quốc gia nhưng ở từng thời kỳ khác nhau hoặc từng loại hợp đồng cụ thể thì pháp luật quy định căn cứ làm cho hợp đồng vô hiệu là khác nhau, điều này phụ thuộc vào quan điểm lập pháp cũng như lợi ích mà pháp luật cần bảo vệ Thực tiễn pháp lý cho thấy có hai cách tiếp cận về hợp đồng vô hiệu Cách thứ nhất là trực tiếp quy định những trường hợp làm cho hợp đồng vô hiệu Cách thứ hai là quy định các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, nếu hợp đồng thiếu một trong những điều kiện được quy định thì hợp đồng đó vô hiệu Bộ luật dân sự nước ta tiếp cận về giao dịch vô hiệu đa phần theo cách thứ hai Theo đó, Điều
122 BLDS 2005 quy định giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện:
- Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;
- Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;
Trang 33- Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện
- Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định
Điều 127 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Giao dịch dân sự không có một
trong các điều kiện quy định tại Điều 122 của Bộ luật này thì vô hiệu” Ngoài ra,
các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu cụ thể như do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội; do giả tạo; do nhầm lẫn; do bị lừa dối, đe dọa; do vi phạm hình thức v.v được quy định từ Điều 128 đến Điều 134 Bộ luật dân sự
Bộ luật dân sự Pháp cũng đưa ra các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng Theo đó, Điều 1108 Bộ luật dân sự Pháp quy định bốn điều kiện chủ yếu sau đây
Ngoài ra, Điều 1109 quy định: Sự thỏa thuận không có giá trị nếu đạt được
do bị nhầm lẫn, bị đe dọa, bị lừa dối
Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan trực tiếp quy định những trường hợp làm cho những hành vi pháp lý vô hiệu, theo đó nếu:
- Mục tiêu của nó rõ ràng là bị pháp luật ngăn cấm hoặc không thể thực hiện được, hoặc trái với trật tự công cộng hoặc trái với đạo đức (Điều 113)
- Không theo đúng hình thức của pháp luật (Điều 115)
Dù là hình thức thể hiện khác nhau như hầu hết các hợp đồng, giao dịch hoặc hành vi pháp lý vô hiệu đều có chung một điểm là đã vi phạm pháp luật hoặc trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, không được Nhà nước bảo vệ Bởi vì, việc
vi phạm này làm phương hại đến lợi ích Nhà nước, trật tự công cộng, lợi ích của các bên hoặc gây tổn hại đến trật tự pháp lý mà Nhà nước cần bảo vệ Do đó, về nguyên tắc hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên Đối với hợp đồng bảo hiểm, khoản 1, Điều 22 Luật KDBH quy định: Hợp đồng bảo hiểm vô hiệu trong các trường hợp sau:
- Bên mua bảo hiểm không có quyền lợi có thể được bảo hiểm;
- Tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm không tồn tại;
Trang 34- Tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm biết sự kiện bảo hiểm đã xảy ra;
- Bên mua bảo hiểm hoặc doanh nghiệp bảo hiểm có hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng bảo hiểm;
- Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật
Đây là quy định “mở”, vì ngoài những trường hợp hợp đồng bảo hiểm vô
hiệu cụ thể như liệt kê, khoản 1, Điều 22 còn quy định “các trường hợp khác theo
quy định của pháp luật” Nghĩa là, các trường hợp vô hiệu của hợp đồng bảo hiểm
không chỉ hạn chế trong phạm vi khoản 1, Điều 22 luật KDBH mà còn mở rộng ra theo các quy định về hợp đồng vô hiệu trong các văn bản pháp luật khác
Với tư cách là một loại hợp đồng bảo hiểm, vấn đề vô hiệu của hợp đồng BHNT cũng được điều chỉnh bởi quy định trên Theo đó, hợp đồng BHNT bị vô hiệu trong các trường hợp sau:
Một là, bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm không có quyền lợi có thể được bảo hiểm Nghĩa là, mối quan hệ giữa họ không thỏa mãn quy định tại khoản 2, Điều 31, Luật KDBH Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp BHNT không
có cơ chế để giám sát việc này mà hoàn toàn phụ thuộc vào việc kê khai của bên mua bảo hiểm về mối quan hệ giữa họ và người được bảo hiểm, trên cở sở kê khai này bên bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm cho họ Do vậy, trong thực tế, vấn đề hợp đồng BHNT bị vô hiệu do bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm không có quyền lợi có thể được bảo hiểm chỉ được xem xét khi xảy ra rủi ro, giai đoạn tiến hành thủ tục bồi thường Cho đến nay, tại Việt Nam chưa có trường hợp nào hợp đồng BHNT bị vô hiệu do bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm không có quyền lợi có thể được bảo hiểm
Hai là, tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm không tồn tại Đối với hợp đồng BHNT, đối tượng bảo hiểm là tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe và tai nạn con người của người được bảo hiểm vì vậy, người được bảo hiểm phải là cá nhân, con người cụ thể, hiện hữu đang sống bình thường Chẳng hạn, người mẹ đang mang thai thì không thể ký kết hợp đồng BHNT cho thai nhi vì thai nhi chưa phải là cá nhân cụ thể, hiện hữu tại thời điểm giao kết hợp đồng, nếu hợp đồng được ký kết thì hợp đồng BHNT đó vô hiệu Bởi vì, tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm không tồn tại Trong thực tế, đối với hợp đồng BHNT trường hợp này hiếm khi xảy ra
Ba là, tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm biết sự kiện bảo hiểm đã xảy ra cho người được bảo hiểm Nói cách khác, tại thời điểm giao kết hợp đồng người được bảo hiểm đã bị rủi ro thì dù hợp đồng đã được ký
Trang 35kết cũng sẽ vô hiệu, nhất là đối với những hợp đồng bảo hiểm không cần chữ ký của người được bảo hiểm trong Giấy yêu cầu bảo hiểm Hiện nay, các doanh nghiệp bảo hiểm quy định, nếu người được bảo hiểm từ 14 tuổi trở lên thì họ phải
ký tên vào Giấy yêu cầu bảo hiểm trước sự chứng kiến của đại lý bảo hiểm nên hiếm khi xảy ra trường hợp hợp đồng bảo hiểm vô hiệu do vi phạm quy định này Bốn là, bên mua bảo hiểm hoặc doanh nghiệp bảo hiểm có hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng bảo hiểm Trong thực tế, chỉ khi có tranh chấp xảy ra đối với vấn đề bồi thường thiệt hại, quy định này mới được xem xét Tuy nhiên, việc chứng minh doanh nghiệp bảo hiểm có hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng BHNT để tuyên bố hợp đồng vô hiệu là rất khó, nếu không muôn nói là không thể Khác với bảo hiểm phi nhân thọ, doanh nghiệp BHNT thường không trực tiếp tiếp xúc, đàm phán ký hợp đồng với bên mua bảo hiểm mà công việc tư vấn, giới thiệu sản phẩm, giải thích về nội dung điều khoản hợp đồng, thu xếp việc ký kết hợp đồng… đều thông qua đại lý bảo hiểm, bên bảo hiểm căn cứ vào hồ sơ yêu cầu bảo hiểm để chấp nhận bảo hiểm và cấp hợp đồng cho bên mua bảo hiểm hoặc từ chối bảo hiểm Do vậy, nếu đại lý bảo hiểm cố tình che giấu một số các thông tin quan trọng, đặc tính của sản phẩm, các điều kiện ràng buộc của hợp đồng mà nếu biết những điều này bên mua bảo hiểm sẽ không mua hay nói cách khác đại lý bảo hiểm đã tư vấn không trung thực về hợp đồng bảo hiểm, làm cho bên mua nhầm lẫn về nội dung hợp đồng, trong trường hợp này bên mua bảo hiểm cũng khó có cơ hội yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối vì việc chứng minh đại lý, doanh nghiệp bảo hiểm có hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng là không đơn giản Ngược lại, doanh nghiệp bảo hiểm thường dễ dàng hơn trong việc đưa ra chứng cứ chứng minh hợp đồng BHNT vô hiệu do hành vi lừa dối của bên mua bảo hiểm trong khi giao kết hợp đồng nhằm từ chối bồi thường Việc kê khai thông tin trong hồ sơ yêu cầu bảo hiểm của bên mua bảo hiểm được lưu lại đầy đủ và thể hiện bằng văn bản, bút tích, doanh nghiệp bảo hiểm có thể kiểm chứng những thông tin này bằng nhiều cách khác nhau chứ không như bên mua bảo hiểm, “chẳng có gì để chứng minh” hành vi lừa dối của đại lý bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm khi giao kết hợp đồng
Hiện nay, tranh chấp về hợp đồng BHNT bị coi là vô hiệu do bên mua bảo hiểm có hành vi lừa dối thường xảy ra nhiều hơn các trường hợp hợp đồng vô hiệu khác Cụ thể, bên bảo hiểm thường cho rằng bên mua bảo hiểm cố tình kê khai không trung thực, che giấu thông tin về tình trạng sức khỏe của người được bảo hiểm để giao kết hợp đồng nhằm trục lợi bảo hiểm Nói các khác, theo nhà bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm đã vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin, kê khai
Trang 36trung thực quy định tại Điều 573 BLDS 2005; khoản 2, Điều 18 và khoản 1, Điều
19 Luật KDBH, nên doanh bảo hiểm từ chối bồi thường
Năm là, các trường hợp khác theo quy định của pháp luật, thông thường là các trường hợp hợp đồng vô hiệu được quy định trong Bộ luật dân sự 2005 như
đã trình bày trên, từ Điều 127 đến Điều 134
Về hậu quả pháp lý của hợp đồng BHNT vô hiệu, Luật KDBH quy định rất
rõ, theo đó, “Việc xử lý hợp đồng bảo hiểm vô hiệu được thực hiện theo quy định
của Bộ luật Dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan” (khoản 2,
Điều 22, Luật KDBH) Điều 137, Bộ luật dân sự 2005 quy định hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu như sau:
- Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập
- Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được
bị tịch thu theo quy định của pháp luật Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường
Do đó, khi hợp đồng BHNT bị tuyên vô hiệu, hậu quả pháp lý sẽ được xử lý theo quy định của Bộ luật dân sự, các quy định khác của pháp luật có liên quan và thực tiễn pháp lý của Việt Nam mà không có sự phân biệt giữa hợp đồng BHNT
Theo cách hiểu thông thường, quyền là điều được phép làm hoặc không làm
mà không bị coi là vi phạm pháp luật hay xã hội lên án Theo từ điển tiếng Việt
thì “Quyền là điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho phép được hưởng,
được làm và được đòi hỏi”31 Như vậy, theo định nghĩa này thì quyền có thể là quyền pháp lý do pháp pháp luật quy định hoặc có thể là quyền do các quy phạm đạo đức, xã hội điều chỉnh
Dưới góc độ pháp lý, quyền chủ thể là cách thức xử sự mà pháp luật cho phép chủ thể tiến hành và được pháp luật bảo vệ Nói cách khác, quyền chủ thể là khả năng của chủ thể xử sự theo cách thức nhất định được pháp luật cho phép và
31 Viện khoa học xã hội Việt Nam (1998), từ điển tiếng Việt, Nxb.Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr.803
Trang 37đảm bảo thực hiện bằng quyền lực Nhà nước32 Nói là khả năng có nghĩa là chủ thể có thể lựa chọn giữa việc xử sự theo cách thức mà nó được phép tiến hành hoặc không sử xự như vậy Quyền của chủ thể luôn tồn tại trong nó những thuộc tính thống nhất và không thể tách rời, đó là:
- Khả năng của chủ thể sử xự theo cách thức nhất định mà pháp luật cho phép và bảo hộ
- Khả năng yêu cầu các chủ thể khác chấm dứt các hành động cản trở chủ thể
có quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ hoặc yêu cầu chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng quyền của chủ thể có quyền và thực hiện nghĩa vụ đối với chủ thể có quyền phát sinh từ quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể
- Khả năng của chủ thể yêu cầu các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Tuy nhiên, quyền chủ thể là phạm trù pháp
lý có giới hạn Đó là vấn đề có tính nguyên tắc bởi vì không một xã hội nào lại cho phép một người nào đó có quyền làm tất cả những gì anh ta muốn33
Bên mua bảo hiểm (chủ hợp đồng BHNT) với tư cách là chủ thể pháp lý độc lập trong quan hệ pháp luật, quan hệ hợp đồng bảo hiểm liên quan đến quyền của chủ hợp đồng BHNT cũng thỏa mãn đầy đủ các thuộc tính trên Như vậy, có thể nói quyền của bên mua BHNT là khả năng của chủ hợp đồng sử xự theo phương pháp, cách thức nhất định được pháp luật cho phép tiến hành, đồng thời được bảo đảm thực hiện bằng quyền lực Nhà nước Tương tự như quyền chủ thể, quyền của bên mua BHNT cũng là phạm trù pháp lý có giới hạn, không phải bên mua bảo hiểm được quyền làm tất cả những gì họ muốn mà những quyền đó phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật và quy định của hợp đồng Khoản 1, Điều 18 Luật KDBH quy định bên mua bảo hiểm có các quyền sau:
Một là, lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động tại Việt Nam để mua bảo hiểm34
Hai là, yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm giải thích các điều kiện, điều khoản hợp đồng; cấp giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc đơn bảo hiểm;
Ba là, đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm; yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường; chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm;
32 Đại học Luật Hà Nội (2004), Giáo trình lý luận Nhà nước và pháp luật, Nxb.CAND, Hà Nội, tr.441
33 Đại học Luật Hà Nội (2004), Giáo trình lý luận Nhà nước và pháp luật, Nxb.CAND, Hà Nội, tr.442
34 Quyền này không còn phù hợp khi Việt Nam thực hiện cam kết WTO Xem Phan Thị Thành Dương – Phan
Huy Hồng (2007), “Pháp luật kinh doanh bảo hiểm trước yêu cầu sửa đổi, bổ sung để phù hợp với cam kết
WTO và thực tiễn”, Tạp chí Khoa học Pháp lý, (03), tr.12 - 19
Trang 38Bốn là, các quyền khác theo quy định của pháp luật, ví dụ như: Quyền chậm nộp phí bảo hiểm (khoản 2, Điều 572, BLDS 2005 và khoản 2, Điều 35 Luật KDBH); quyền khôi phục hiệu lực hợp đồng (khoản 4, Điều 35 Luật KDBH)… Ngoài ra, còn các quyền phát sinh do quan hệ hợp đồng như:
- Quyền từ chối tiếp tục tham gia hợp đồng BHNT;
- Quyền tạm ứng (vay) từ giá trị hoàn lại (giá trị giải ước) của hợp đồng;
- Quyền giảm số tiền bảo hiểm hoặc ngừng nộp phí chuyển sang số tiền bảo hiểm giảm;
- Quyền hủy bỏ hoặc tham gia bổ sung các sản phẩm bổ trợ;
- Quyền nhận lãi chia (bảo tức tích lũy);
- Quyền thay đổi định kỳ nộp phí; thay đổi nhân viên thu phí v.v…
Phạm vi của các quyền này tùy theo ý chí của nhà nước và lợi ích mà nhà nước cần bảo vệ ở từng giai đoạn hoặc tùy nội dung điều khoản của từng loại hợp đồng bảo hiểm khác nhau là khác nhau Cơ sở pháp lý để bảo vệ các quyền này là toàn bộ các quy phạm pháp luật có liên quan mà Nhà nước đã ban hành nhằm tạo điều kiện cho bên mua bảo hiểm thực hiện các hành vi của chủ thể có quyền nhằm
bảo đảm lợi ích của mình và trật tự pháp lý
1.3.1.2 Khái niệm lợi ích của bên mua bảo hiểm nhân thọ
Cụm từ “lợi ích” là từ Hán Việt, theo cách hiểu thông thường thì lợi ích là cái có ích, có lợi mà cá nhân hay tổ chức có được từ việc khai thác hoặc sử dụng
tài sản, quyền về tài sản hoặc quyền nhân thân Theo từ điển tiếng Việt thì “Lợi
ích là cái có tác dụng tốt đáp ứng một nhu cầu nào đó của con người, điều có lợi cho tập thể hay một cá nhân…”35 Từ điển Triết học định nghĩa: “Lợi ích là khái
niệm nói lên đặc điểm của cái có ý nghĩa khách quan, cần thiết cho cá nhân, gia đình, tập thể, giai cấp, dân tộc, xã hội nói chung”36 Theo nghĩa pháp lý, lợi ích hợp pháp là những lợi ích vật chất hoặc tinh thần phù hợp với quy định của pháp luật37 Từ các định nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu lợi ích hợp pháp của bên mua
BHNT như sau: Lợi ích hợp pháp của bên mua BHNT là tất cả những gì phát sinh
từ quyền của bên mua bảo hiểm – chủ hợp đồng theo thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng hoặc do pháp luật quy định Nói các khác, lợi ích hợp pháp của
bên mua BHNT là những điều có lợi đối với bên mua bảo hiểm mà pháp luật và điều khoản hợp đồng cho phép họ được hưởng và bên bảo hiểm có nghĩa vụ đáp
35 Việt khoa học xã hội Việt Nam (1998), từ điển tiếng Việt, Nxb.Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr.460
36 Từ điển Triết học, Nxb.Tiến bộ Maxcơva, M.1975, tr.332
37 Bộ Tư pháp (2004), Một số chuyên đề Bộ luật dân sự, tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (02), tr.26
Trang 39ứng Lợi ích hợp pháp của bên mua BHNT có thể là những lợi ích vật chất hoặc tinh thần mà bên mua bảo hiểm muốn hướng đến, đó có thể là số tiền bảo hiểm đáo hạn hoặc được bồi thường khi sự kiện bảo hiểm xảy ra; hưởng lãi chia tích lũy từ kết quả đầu tư của bên bảo hiểm; vay theo hợp đồng khi cần; tiết kiệm định
kỳ, có lãi và được bảo hiểm; hợp đồng BHNT như một quà tặng cho con cái, người thân hay nhận được sự chăm sóc của bên bảo hiểm, đại lý bảo hiểm vào ngày sinh nhật v v…
Quyền và lợi ích hợp pháp là hai phạm trù pháp lý có mối quan hệ mật thiết với nhau Đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm là đảm bảo khả năng của chủ hợp đồng tự do lựa chọn cách thức sử xự trong mối quan hệ pháp lý, hợp đồng với doanh nghiệp bảo hiểm nhằm thỏa mãn những lợi ích của mình, phù hợp với quy định của pháp luật và quy định trong hợp đồng (những cam kết trong hợp đồng)
Từ khái niệm về quyền, về lợi ích hợp pháp của bên mua BHNT và những phân tích trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm chung về quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua BHNT như sau:
Quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua BHNT là khả năng của chủ hợp đồng sử xự theo cách thức nhất định (những hành vi) và những điều có lợi cho chủ hợp đồng mà pháp luật và nội dung điều khoản hợp đồng hai bên đã cam kết chủ hợp đồng được phép tiến hành, được hưởng lợi và được Nhà nước bảo hộ
1.3.2 Sự cần thiết phải bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm nhân thọ
1.3.2.1 Những đòi hỏi khách quan cần phải bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm nhân thọ
Các nhân tố khách quan dẫn đến sự cần thiết phải bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua BHNT được chúng tôi xem xét trên hai phương diện, phương diện lý luận và phương diện thực tiễn
* Trên phương diện lý luận:
- Quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nói chung luôn được Nhà nước tôn trọng và bảo hộ Điều này đã được khẳng định trong Hiếp pháp38, pháp luật nước ta39, trong đường lối, chính sách và trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng40 Với mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân,
do dân và vì dân, mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội đều phải tuân thủ pháp luật
38 Điều 51, Hiến pháp 1992, sửa đổi bổ sung ngày 25/12/2001 theo Nghị quyết số 51/2001/QH10
39 Điều 1 BLDS 2005, theo đó, “Bộ luật dân sự có nhiệm vụ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân…”
40 Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (2006), ngày 18/04/2006, Nxb.Sự thật, Hà Nội
Trang 40và chỉ có pháp luật, đồng thời xây dựng một đất nước Việt Nam giàu, mạnh; một
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh thì quyền và lợi ích hợp pháp của công dân càng phải được bảo vệ hơn nữa Như vậy, quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua BHNT nói riêng cũng được pháp luật bảo vệ như một mục tiêu của Nhà nước và pháp luật41
- Do tính chất may rủi của hợp đồng bảo hiểm, những rủi ro là không chắc chắn mà thường là các tình huống giả định ở mức độ khái quát cao, sử dụng nhiều thuật ngữ chuyên môn, nhiều thuật ngữ pháp lý Điều khoản hợp đồng BHNT thường rất dài, phức tạp và khó hiểu, nên không phải ai cũng có thể hiểu rõ ràng, đầy đủ nội dung của hợp đồng nếu không muốn nói là ít người có trình độ, hiểu biết chuyên môn để hiểu một cách tường tận và thống nhất với nhà bảo hiểm Do vậy, thật khó bảo đảm rằng trước hoặc sau khi ký kết hợp đồng bên mua bảo hiểm
đã hiểu đúng, hiểu rõ ràng và đầy đủ các nội dung liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như nghĩa vụ của họ cho dù đã được đại lý tư vấn, giải thích, chưa nói là trường hợp đại lý bảo hiểm tư vấn không đầy đủ, không trung thực Rõ ràng, trong trường hợp này, quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm rất dễ bị xâm hại, họ cần phải được bảo vệ, đó là sự công bằng và hợp lý
- Đặc trưng của sản phẩm BHNT là có thể đáp ứng các mục đích khác nhau như bảo vệ, tiết kiệm, đầu tư Vì thế, hệ thống sản phẩm BHNT đa dạng về chủng loại, tính chất, mức độ phức tạp theo đặc tính của từng loại sản phẩm là khác nhau Điều này dẫn đến sự mâu thuẫn giữa tính phức tạp, chuyên biệt của BHNT với mức độ hiểu biết còn hạn chế về bảo hiểm của đại đa số người mua Thế nên, việc bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của bên mua bảo hiểm nhân thọ là hết sức cần thiết
* Trên phương diện thực tiễn:
- Bảo hiểm nhân thọ tuy đã xuất hiện rất lâu trên thế giới nhưng tại Việt Nam, dịch vụ này còn tương đối mới đối với bên mua bảo hiểm, thậm chí nó mới đối với cả nhà quản lý, các nhà làm luật Hầu hết, các hợp đồng BHNT đều dựa theo mẫu của nước ngoài nên khi chuyển đổi ngôn ngữ sang tiếng Việt, một số từ ngữ còn rất mới mẻ và khó hiểu Hơn nữa, do thị trường BHNT nước ta chỉ thực
sự phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây, việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật bảo hiểm cho người dân một cách rộng rãi chưa được quan tâm đúng mức nên mức độ hiểu biết về BHNT của xã hội nói chung, của bên mua bảo hiểm nói riêng là không cao Trong khi đó, ngoại trừ Bảo Việt Nhân thọ, các doanh nghiệp kinh doanh BHNT khác có hàng trăm năm kinh nghiệm như Prudential
41 Khoản 1, Điều 4 Luật KDBH Theo đó, Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm và các tổ chức kinh doanh bảo hiểm