1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động xét xử hành chính ở việt nam thực trạng và giải pháp hoàn thiện

112 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoạt động xét xử hành chính ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
Tác giả Nguyễn Thị Tuyết Thanh
Người hướng dẫn PGS.TS. Phạm Hồng Thái
Trường học Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hành chính
Thể loại Luận văn thạc sĩ luật học
Năm xuất bản 2007
Thành phố TP.Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 876,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tòa án nhân dân có thêm thẩm quyền xét xử vụ kiện hành chính; cá nhân, tổ chức có thêm một phương thức bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình được kỳ vọng là một “luồng gió mới” khả dĩ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

- -

NGUYỄN THỊ TUYẾT THANH

HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

TP.Hồ Chí Minh - 2007

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

- -

NGUYỄN THỊ TUYẾT THANH

HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

Chuyên ngành : Luật Hành chính

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

* PGS.TS Phạm Hồng Thái

TP.Hồ Chí Minh - 2007

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sĩ này là công trình nghiên cứu của cá nhân

tôi Các tư liệu, trích dẫn là trung thực và chính xác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Tuyết Thanh

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan

Mục lục

Mở đầu - 1

Chương 1: Xét xử hành chính và đặc thù của xét xử hành chính - 6

1.1 Quan niệm về xét xử hành chính - 6

1.1.1 Quan niệm của các nước theo hệ thống luật chung - 6

1.1.2 Quan niệm của các nước theo hệ thống châu Âu lục địa - 7

1.1.3 Quan niệm của Trung Quốc, Nhật Bản và các nước theo giải pháp trung gian - 8

1.1.4 Quan niệm của Việt Nam - 10

1.2 Đặc thù của xét xử hành chính - 12

1.2.1 Nguyên tắc tiền tố tụng hành chính - 12

1.2.2 Nguyên tắc tính không bị trì hoãn của quyết định hành chính bị khiếu kiện - 17

1.3 Đối tượng của xét xử hành chính - 20

1.3.1 Quyết định hành chính - 20

1.3.2 Hành vi hành chính - 25

Chương 2: Thực trạng xét xử hành chính của Tòa án - 32

2.1 Thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án và thực trạng việc thực hiện thẩm quyền - 32

2.1.1 Thẩm quyền chung - 32

2.1.2 Thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và thực trạng việc thực hiện thẩm quyền - 52

2.1.3 Thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện và thực trạng việc thực hiện thẩm quyền - 58

Trang 5

2.2 Thực trạng áp dụng pháp luật về xét xử hành chính - 63

2.3 Thực trạng đội ngũ thẩm phán xét xử hành chính - 78

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động xét xử hành chính ở Việt Nam - 84

3.1 Hoàn thiện pháp luật xét xử hành chính theo hướng ban hành Luật Tố tụng hành chính - 84

3.1.1 Về thẩm quyền theo việc của cơ quan xét xử hành chính - 88

3.1.2 Về thủ tục “ tiền tố tụng” - 91

3.2 Nâng cao năng lực đội ngũ thẩm phán xét xử hành chính - 93

3.3 Nâng cao vai trò của luật sư trong xét xử hành chính - 97

Kết luận - 100

Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước sự xâm hại của những quyết định hành chính, hành vi hành chính trái pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ, công chức của cơ quan này, cá nhân, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân

Nếu như quyền khiếu nại được pháp luật quy định ngay từ những ngày đầu xây dựng Hiến pháp là một trong những quyền cơ bản của công dân thì quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án của cá nhân, tổ chức chỉ được quy định và được thực hiện trên thực tế vào ngày 01/7/1996 Quy định này đáp ứng được những yêu cầu mới của những quan hệ kinh tế, xã hội thời kỳ đổi mới Tòa án nhân dân có thêm thẩm quyền xét xử vụ kiện hành chính; cá nhân, tổ chức có thêm một phương thức bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của

mình được kỳ vọng là một “luồng gió mới” khả dĩ làm thay đổi thực trạng

hiện hành - là mọi khiếu nại của công dân, tổ chức đối với các quyết định hành, hành vi hành chính của cơ quan hành chính và những người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan hành chính được giải quyết chủ yếu theo con đường hành chính; nghĩa là được giải quyết bởi chính cơ quan hành chính đã ban hành quyết định hành chính, thực hiện hành vi hành chính bị khiếu nại hoặc cấp trên của các cơ quan đó Đây là hệ thống “tự xét xử” theo kiểu “Bộ trưởng - Quan tòa”, hay “vừa đá bóng, vừa thổi còi”, hạn chế lớn đến việc bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức bị xâm hại bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính vi phạm pháp luật của bộ máy hành chính nhà nước

Tuy nhiên, khởi kiện hành chính chưa chứng tỏ được vị thế là một chỗ dựa đáng tin cậy cho cá nhân, tổ chức khi quyền lợi hợp pháp của họ bị xâm

Trang 7

hại bởi cơ quan công quyền Chỉ nhìn từ thủ tục tố tụng hành chính đã có thể thấy quá nhiều cản trở làm nản lòng và chặn bước người khởi kiện trên đường tới cơ quan xét xử hành chính Một phần không nhỏ các cản trở này nằm ở thủ tục “tiền tố tụng” - thủ tục khiếu nại hành chính trước khi khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án

Quy trình giải quyết khiếu nại hành chính cần được cải tiến để không trở thành thủ tục cản trở, phức tạp hóa việc khởi kiện hành chính mà chỉ có tác dụng hỗ trợ, giảm bớt gánh nặng cho Tòa án khi thực hiện thẩm quyền xét

xử vụ án hành chính để cùng hướng đến mục tiêu chung là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, kiểm soát hoạt động hành chính Bởi suy cho cùng, con đường tư pháp vẫn là con đường tối cao để bảo vệ quyền lợi của công dân Vai trò của giải quyết khiếu nại như một thiết chế độc lập song song cùng tồn tại với xét xử hành chính nhằm bảo vệ quyền công dân, quyền con người, tăng cường pháp chế, xây dựng nhà nước pháp quyền

Chúng ta đang trong quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới Quá trình này đòi hỏi cơ chế xét xử hành chính của nước ta phải có sự tương thích nhất định với các quốc gia trên thế giới và quy định của các tổ chức quốc tế mà chúng ta là thành viên Các văn kiện của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) đều có các yêu cầu về khiếu kiện hành chính, giải quyết khiếu kiện hành chính và việc xem xét lại quyết định giải quyết khiếu kiện hành chính bằng con đường tư pháp - xét xử hành chính Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu

tổ chức và hoạt động của cơ quan xét xử hành chính của các nước có nền tài phán hành chính phát triển để rút ra những kinh nghiệm nhằm hoàn thiện cơ chế xét xử hành chính nước ta Hoàn thiện cơ chế xét xử hành chính một cách khoa học, hệ thống, toàn diện, phát huy hiệu quả và phù hợp với đặc điểm của Việt Nam là yêu cầu bức xúc hiện nay

Trang 8

Vì những lý do trên, tôi xin chọn đề tài luận văn Cao học là: “Hoạt

động xét xử hành chính ở Việt Nam- Thực trạng và giải pháp hoàn thiện.”

Trong điều kiện hạn chế, không thể nắm bắt được thực trạng hoạt động xét xử hành chính ở 64 tỉnh, thành trong cả nước nên luận văn so sánh thực trạng hoạt động xét xử hành chính tại tỉnh Bình Thuận với một số tỉnh có điều kiện tương tự về phát triển kinh tế, xã hội như tỉnh Bình Thuận gồm: tỉnh Đồng Nai, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, tỉnh Bình Dương Qua đó, khái quát hóa hoạt động xét xử hành chính ở nước ta, nêu thực trạng và đưa ra giải pháp để hoàn thiện cơ chế xét xử hành chính

2 Tình hình nghiên cứu:

Về tổ chức và hoạt động của cơ quan xét xử hành chính ở nước ta đã có nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu với những mức độ, khía cạnh khác nhau như: Đề tài: Tòa án hành chính - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, đề tài khoa học độc lập cấp nhà nước của Thanh tra Chính phủ nghiệm thu năm 1997; Quyết định hành chính, hành vi hành chính - Đối tượng xét xử của Tòa

án do PGS.TS Phạm Hồng Thái làm chủ biên - nhà xuất bản Đồng Nai, năm 2001; Một số vấn đề về đổi mới cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính ở Việt Nam của TS Nguyễn Văn Thanh và Đinh Văn Minh, nhà xuất bản Tư pháp, năm 2004; Mối quan hệ giữa khiếu nại và khởi kiện hành chính - đề tài nghiên cứu khoa học của ThS Nguyễn Hoàng Anh - khoa Luật, Trường đại học quốc gia Hà Nội, tháng 12/2006 và nhiều bài báo khoa học đăng trên các tạp chí khác nhau

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động của cơ quan xét

xử hành chính, vấn đề xét xử hành chính cần được tổng kết, tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, toàn diện hơn; nghiên cứu, học tập kinh nghiệm của các nước có nền hành chính phát triển cùng hệ thống cơ quan xét xử hành chính tương đối

Trang 9

hoàn thiện nhằm tiếp tục phát triển và hoàn thiện cơ chế xét xử hành chính ở Việt Nam hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn:

Góp phần vào quá trình nghiên cứu để tìm ra giải pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan xét xử hành chính ở nước ta, phù hợp với tiến trình cải cách hành chính, cải cách tư pháp, đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân

Thực hiện mục tiêu trên, luận văn có nhiệm vụ:

- Nghiên cứu thực trạng hoạt động xét xử hành chính và tổ chức của Tòa án nhân dân một số tỉnh trong nước có đối chiếu, so sánh; đánh giá được thực trạng về xét xử hành chính ở Việt Nam; đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế xét xử hành chính ở Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng xét xử hành chính ở Tòa án nhân dân ở Việt Nam, những vướng mắc trong cơ chế giải quyết án hành chính từ đó đưa ra những kiến nghị

Trong quá trình nghiên cứu, luận văn cũng đề cập đến việc thành lập cơ quan tài phán hành chính và mối quan hệ giữa cơ quan tài phán hành chính với cơ quan xét xử hành chính

5 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng, Nhà nước về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, pháp luật, khiếu nại và giải quyết khiếu nại, tài phán hành chính, khởi kiện và xét xử vụ án hành chính

Vận dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, lô gíc, tổng kết thực tiễn để xem xét, giải quyết các vấn đề cụ thể về lý luận và thực tiễn

Trang 10

6 Những nội dung mới và ý nghĩa của luận văn:

Mặc dù đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau về tổ chức, hoạt động của cơ quan xét xử hành chính Nhưng qua việc nghiên cứu thực trạng hoạt động xét xử hành chính ở nước ta hiện nay, tác giả mong muốn nêu lên được những vướng mắc, hạn chế ảnh hưởng đến hiệu quả xét xử hành chính, đưa ra những kiến nghị có cơ sở lý luận và thực tiễn để hoàn thiện cơ chế xét xử hành chính và nâng cao hiệu quả, hiệu lực của Tòa án nhân dân khi thụ lý, giải quyết vụ án hành chính

7 Kết cấu của luận văn:

Nội dung luận văn được thể hiện qua kết cấu sau:

1 Chương 1: Xét xử hành chính và đặc thù của xét xử hành chính;

2 Chương 2: Thực trạng xét xử hành chính của Tòa án;

3 Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động xét xử hành chính ở Việt Nam

Trang 11

CHƯƠNG 1 XÉT XỬ HÀNH CHÍNH

Tranh chấp hành chính ở các nước này được giải quyết trước hết bởi các

cơ quan đã ban hành ra quyết định hành chính bị khiếu nại, hoặc bởi các cơ quan cấp trên của cơ quan đó Trong trường hợp không thỏa mãn với việc giải quyết khiếu nại này, người dân được quyền kiện ra tòa án Tuy nhiên, các nước này không thành lập hệ thống Tòa án hành chính chuyên trách giải quyết các tranh chấp kể trên, hệ thống Tòa án thường được trao quyền xét xử các tranh chấp hành chính Do vậy, thủ tục được áp dụng để giải quyết các vụ kiện hành chính tại các Tòa án tư pháp giống như thủ tục tố tụng dân sự

1 Trường đại học Luật Hà Nội - Giáo trình Luật tố tụng hành chính - NXB Tư pháp, Hà Nội, 2005, tr11

Dự án Luật tổ chức Tòa án hành chính của Chính phủ tại kỳ họp lần thứ 7 Quốc hội X, Hà Nội, 1995 Rene David - Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới đương đại - Sách tham khảo, NXB TP.Hồ Chí

Trang 12

Theo quan niệm của các quốc gia này hoạt động giải quyết các tranh

chấp hành chính thuộc thẩm quyền của Tòa án tư pháp, nhằm đảm bảo chức năng xét xử chung của một loại cơ quan tài phán

Như vậy ở các quốc gia theo hệ thống luật chung việc giải quyết tranh chấp hành chính và tranh chấp trong đời sống dân sự đều do một loại cơ quan thực hiện, được gọi là “nhất hệ tài phán”, chỉ công nhận duy nhất một hệ thống cơ quan xét xử là Tòa án tư pháp

1.1.2 Quan niệm của các nước theo hệ thống châu Âu lục địa (continental law hay civil law) 2:

Các nước theo hệ thống luật này bao gồm Pháp, Đức, Bỉ, Thụy Điển, Hà Lan , các nước châu Mỹ La tinh, châu Phi và Indonexia (thuộc Đông Nam Á)

Các nước theo hệ thống luật này có sự phân biệt rạch ròi giữa luật công

và luật tư Chính sự phân biệt này dẫn đến các tranh chấp pháp lý xảy ra cũng được phân định rõ ràng về tính chất cũng như thẩm quyền xem xét, giải quyết các tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như dân sự, hình sự, kinh tế, lao động, hành chính Tranh chấp hành chính được xác định là một tranh chấp trong lĩnh vực luật công, phát sinh giữa các tổ chức, cá nhân công dân với cơ quan, tổ chức công quyền

Xuất phát từ đặc thù của các tranh chấp hành chính, bên cạnh việc cho phép các cơ quan công quyền được “tự xem xét” các quyết định, hành vi hành chính của mình khi bị khiếu nại, để đảm bảo tính độc lập, khách quan trong việc giải quyết cũng như đảm bảo sự thống nhất giữa hai nội dung "hành chính quản lý" và "hành chính tài phán" tập trung trong tay chính phủ Các

2 Trường đại học Luật Hà Nội - Giáo trình Luật tố tụng hành chính - NXB Tư pháp, Hà Nội, 2005, tr13

Dự án Luật tổ chức Tòa án hành chính của Chính phủ tại kỳ họp lần thứ 7 Quốc hội X, Hà Nội, 1995 Rene David - Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới đương đại - Sách tham khảo, NXB TP.Hồ Chí Minh, 2003 (TS Nguyễn Sỹ Dũng và ThS Nguyễn Đức Lam dịch)

Trang 13

quốc gia này đã thành lập cơ quan tài phán hành chính độc lập (Tòa án hành chính - cơ quan phán xét những tranh chấp hành chính) bên cạnh hệ thống Tòa án tư pháp để chuyên thực hiện chức năng xét xử các khiếu kiện hành chính Hình thức này được gọi là hình thức “lưỡng hệ tài phán”

Cơ quan tài phán hành chính, theo quan niệm của các quốc gia này, vừa thực hiện hoạt động xét xử các tranh chấp hành chính giữa công dân và tổ chức của họ với các tổ chức, cá nhân công quyền và hoạt động tư vấn pháp luật cho chính phủ

Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp hành chính được trao cho hệ thống

cơ quan tài phán hành chính độc lập trong nền hành chính quốc gia (hệ thống Tòa án hành chính), bên cạnh thẩm quyền “tự xem xét” giải quyết các thủ tục khiếu nại của cơ quan hành chính

1.1.3 Quan niệm của Trung Quốc, Nhật Bản và những nước theo giải pháp trung gian 3:

* Ở Trung Quốc, các tranh chấp hành chính chủ yếu được giải quyết

bằng con đường hành chính, tức là được giải quyết bởi cơ quan hành chính có thẩm quyền Tháng 10/1990, sự ra đời và có hiệu lực của luật kiện tụng hành chính đánh dấu một bước ngoặc trong sự phát triển của hệ thống cơ quan xét

xử Luật kiện tụng hành chính cho phép người dân được quyền khởi kiện vụ

án hành chính tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền để kiểm tra tính hợp pháp của các quyết định, hành vi hành chính của các cá nhân, cơ quan công quyền Trung Quốc chọn mô hình thành lập Tòa chuyên trách xét xử các tranh chấp hành chính bên cạnh các Tòa dân sự, hình sự, kinh tế, lao động nằm trong

cơ cấu Tòa án nhân dân

3 Trường đại học Luật Hà Nội - Giáo trình Luật tố tụng hành chính - NXB Tư pháp, Hà Nội, 2005, tr17

Dự án Luật tổ chức Tòa án hành chính của Chính phủ tại kỳ họp lần thứ 7 Quốc hội X, Hà Nội, 1995 Rene David - Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới đương đại - Sách tham khảo, NXB TP.Hồ Chí

Trang 14

Các nước theo mô hình này còn có Công Gô, Madogaxca, Senegan, Việt Nam

* Ở Nhật Bản, năm 1889, theo Hiến pháp vua Minh Trị, Tòa án hành

chính độc lập được thành lập ở Tokyo chuyên giải quyết các vụ án hành chính bên cạnh hệ thống Tòa án tư pháp Sau thất bại trong Đại chiến thế giới lần thứ II, Hiến pháp năm 1947 đã thay đổi hệ thống tài phán của Nhật Bản từ hệ thống luật châu Âu lục địa được đặc trưng bởi sự tồn tại của Tòa án hành chính độc lập sang hệ thống luật Anh - Mỹ, trong đó các vụ kiện hành chính được giải quyết ở Tòa án thường

Tài phán hành chính ở Nhật Bản không phải là một lĩnh vực pháp lý mới

mẻ, tuy nhiên, khái niệm tài phán hành chính chưa được phát triển để trở thành một khái niệm pháp lý do vẫn còn những tranh luận nhất định xuất phát

từ đặc điểm hỗn hợp của hai hệ thống tài phán cùng tồn tại ở Nhật Bản

Nhật Bản công nhận tranh chấp hành chính là một dạng tranh chấp pháp

lý được giải quyết tại Tòa án thường và thủ tục tố tụng dân sự được áp dụng

để giải quyết Nhưng điểm khác là, theo quy định tại Luật kiện tụng hành chính (ban hành ngày 16/5/1962), Nhật Bản xác định rõ đây là một dạng tranh chấp đặc biệt phát sinh giữa công quyền và công dân nên có quy định rất rõ

về đối tượng, thẩm quyền một số trình tự được áp dụng để giải quyết Tòa án thường sẽ vừa phải dựa vào luật tố tụng dân sự (về mặt thủ tục), vừa phải căn

cứ vào luật kiện tụng hành chính (cả về thủ tục lẫn nội dung) để giải quyết các tranh chấp hành chính

Như vậy, quan niệm về tài phán hành chính ở Nhật Bản hiện nay cũng giống với các nước theo hệ thống luật chung, tức là việc xét xử hành chính sẽ

do Tòa án thường giải quyết để đảm bảo chức năng xét xử chung của một loại

cơ quan tài phán, nhưng lại áp dụng một thủ tục đặc biệt để giải quyết theo luật kiện tụng hành chính

Trang 15

* Hàn Quốc là một quốc gia chịu nhiều ảnh hưởng của Nhật Bản và Mỹ,

trong hệ thống pháp luật nói chung và quan niệm về tài phán hành chính nói riêng cũng mang những đặc trưng giống Nhật Bản; các tranh chấp hành chính bên cạnh được giải quyết bởi hệ thống cơ quan hành chính theo luật khiếu nại hành chính, còn được giải quyết bởi hệ thống Tòa án thường theo luật tố tụng dân sự và luật kiện tụng hành chính

1.1.4 Quan niệm của Việt Nam 4:

Ở Việt Nam nhu cầu bức thiết về việc thành lập Tòa án hành chính đã được ghi rõ trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương

Đảng khóa VII: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước cộng hòa xã hội

chủ nghĩa Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính” và “đẩy mạnh việc giải quyết các khiếu kiện của dân xúc tiến việc thiết lập hệ thống Tòa án hành chính để xét xử các khiếu kiện của dân đối với các quyết định

đối đầu hay kiềm chế hoạt động cơ quan hành chính nhà nước mà thông qua hoạt động xét xử, cơ quan xét xử hành chính sẽ giúp cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ, công chức của cơ quan này thấy được những hạn chế của mình

để khắc phục và hoàn thiện hơn trong hoạt động chấp hành điều hành

Khi thiết lập mô hình Tòa án hành chính, ở nước ta cũng có hai phương

án khác nhau: phương án thiết lập Tòa án hành chính theo khu vực độc lập với hệ thống hành chính, độc lập với Tòa án tư pháp - thực chất là theo mô hình của Pháp; mô hình Tòa án hành chính là một bộ phận của Tòa án nhân dân các cấp; mô hình Tòa án hành chính được thành lập như Tòa án Quân sự Sau khi phân tích những thuận lợi, khó khăn của từng mô hình có thể áp dụng

4 Tòa hành chính Tòa án nhân dân tối cao - Thực trạng tổ chức và hoạt động của Tòa hành chính trong hệ thống Tòa án nhân dân (từ tháng 7/1996 đến tháng 7/2006), Hà Nội, 1997, tr2

5 Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 23/01/1995 của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trọng tâm là cải cách một bước

Trang 16

vào Việt Nam, ngày 28/10/1995, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Tòa án nhân dân, trong đó trao cho Tòa án nhân dân chức năng xét xử những vụ án hành chính và thiết lập một Tòa hành chính trong Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án nhân dân cấp tỉnh, bên cạnh các Tòa hình sự, dân sự, kinh tế, lao động để thực hiện chức năng này Ngày 21/5/1996, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, có hiệu lực ngày 01/7/1996 (gọi tắt là Pháp lệnh 1996) Đây là văn bản quy phạm pháp luật quan trọng đánh dấu một sự kiện lớn - sự ra đời của cơ quan xét xử hành chính

Hơn 10 năm thành lập và hoạt động, vấn đề tài phán hành chính vẫn tiếp tục thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu do chưa có quan điểm thống nhất

Quan điểm thứ nhất: đã đồng nhất tài phán hành chính, một loại hoạt

động nhà nước với cơ quan thực hiện hoạt động đó, hoặc đã đồng nhất tài phán hành chính là hoạt động giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước

Quan điểm thứ hai: cho rằng trong quản lý nhà nước xuất hiện nhiều

tranh chấp khác nhau, không chỉ do Tòa án hành chính giải quyết, mà do cả

cơ quan khác xem xét giải quyết theo những trình tự rất khác nhau

Quan điểm thứ hai chính xác hơn, vì nó có nghĩa lý luận lẫn thực tiễn, chỉ ra được bản chất của xét sử hành chính là xét xử các khiếu kiện của cá nhân, tổ chức, cơ quan đối với các cơ quan quản lý nhà nước và là chức năng

cơ bản của Tòa án hành chính (tài phán hành chính theo thủ tục tư pháp); còn hoạt động mang tính chất tài phán hành chính do các cơ quan khác của nhà nước tiến hành (theo thủ tục tài phán hành chính công)

Ở nước ta, theo quy định tại Điều 127 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Điều 1 Luật tổ chức Tòa án nhân dân thì chỉ có Tòa án

Trang 17

mới có quyền xét xử và xét xử là chức năng cơ bản của Tòa án, hoạt động xét

xử nhằm thực hiện quyền lực nhà nước, nhân danh nhà nước Tòa án là cơ quan được giao quyền phán quyết khi giải quyết các vụ việc pháp lý Trong quá trình giải quyết các khiếu kiện, quyết định của Tòa án là quyết định cuối cùng; chỉ có Tòa án cấp trên mới có quyền xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới theo trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm

Những phán quyết của Tòa án là sự quyết định mang tính quyền lực nhà nước, nhân danh nhà nước nên khi các phán quyết có hiệu lực pháp luật thì bắt buộc các công dân, tổ chức, cơ quan nhà nước có liên quan phải chấp hành nghiêm chỉnh

Như vậy, dù về xét xử hành chính còn có nhiều quan niệm khác nhau ở các nước, nhưng giới hạn trong hoạt động xét xử về hành chính của Tòa án thì

tài phán hành chính được hiểu là: Tài phán hành chính (xét xử hành chính) là

hoạt động xét xử các tranh chấp hành chính giữa các công dân, cơ quan, tổ chức với các cơ quan quản lý nhà nước, do cơ quan Tòa án thực hiện theo trình tự tố tụng nhất định được pháp luật quy định nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, cơ quan góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước

1.2 Đặc thù của xét xử hành chính:

1.2.1 Nguyên tắc “tiền tố tụng” hành chính:

Việc xác lập thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án nhân dân nhằm khắc phục những nhược điểm của cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính trước đó (trước ngày 01/7/1996) Tuy nhiên, sự ra đời của cơ chế xét xử hành chính không nhằm mục đích thay thế cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính theo thủ tục hành chính, mà tạo ra một cơ chế đối trọng nhằm khắc phục tình trạng độc quyền trong việc giải quyết khiếu nại hành chính của các cơ quan

Trang 18

hành chính nhà nước, bảo đảm thực chất quyền lựa chọn cơ quan bảo vệ quyền lợi của người khiếu kiện hành chính

Xuất phát từ yêu cầu đảm bảo quyền lựa chọn cơ quan bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đối tượng quản lý hành chính, có quan điểm cho rằng cần quy định cho người có quyền lợi bị xâm hại có thể thực hiện ngay quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi có căn cứ cho rằng các quyền lợi đó bị xâm hại một cách trái pháp luật từ phía các chủ thể quản lý hành chính nhà nước, mà không phải qua giai đoạn “tiền tố tụng” hành chính

Ngược lại với quan điểm trên, xuất phát từ yêu cầu bảo đảm quyền “tự kiểm tra, tự sửa chữa sai lầm” của các cơ quan hành chính nhà nước, cần phải quy định giai đoạn “tiền tố tụng” hành chính là điều kiện bắt buộc trước khi lựa chọn khiếu nại tiếp tục theo thủ tục hành chính hay khởi kiện theo thủ tục

tố tụng hành chính

Xuất phát từ điều kiện kinh tế, xã hội, trình độ dân trí và mức độ hoàn thiện của cơ chế xét xử hành chính và yêu cầu bảo đảm mối quan hệ thống nhất trong tổ chức giải quyết các khiếu kiện hành chính đòi hỏi:

- Thứ nhất: cùng một vụ việc không thể do hai cơ quan cùng thụ lý, giải

quyết dễ dẫn đến sự chồng chéo, đùn đẩy trách nhiệm và kém hiệu quả Do đó cần có cách thức kiểm soát và giải quyết hợp lý các tranh chấp về thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính giữa các cơ quan nhà nước

- Thứ hai: để tránh tình trạng cùng một vụ khiếu kiện hành chính có

nhiều quyết định giải quyết đã có hiệu lực pháp luật của nhiều cơ quan có thẩm quyền, cần xác định rõ trách nhiệm của người khiếu kiện trong việc tôn trọng, thực hiện nghiêm chỉnh các quyết định giải quyết khiếu kiện đã có hiệu lực pháp luật và không được quyền khiếu kiện tiếp

Trang 19

Phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam, Điều 2 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm

2006 (gọi tắt là Pháp lệnh 2006) quy định:

“1 Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện để Tòa án giải quyết

vụ án hành chính về các khiếu kiện quy định tại các khoản từ khoản 1 đến khoản 16 Điều 11 của Pháp lệnh này trong các trường hợp sau đây:

a Đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu,

nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo

mà khiếu nại không được giải quyết và không tiếp tục khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai;

b Đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu

theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, nhưng không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu và không tiếp tục khiếu nại đến người

có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai;

c Đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu,

nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo

mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết, nhưng không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu trong trường hợp pháp luật quy định không được quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai;

d Đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai,

nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo

mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết, nhưng không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai

2 Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện để Tòa án giải quyết vụ

án hành chính về khiếu kiện quy định tại khoản 17 Điều 11 của Pháp lệnh này trong các trường hợp sau đây:

Trang 20

a Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai

do Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải

quyết khiếu nại lần đầu, nhưng người khiếu nại không đồng ý với quyết định

giải quyết đó và không tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

b Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai

do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết

khiếu nại lần đầu, nhưng người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải

quyết đó

3 Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện để Tòa án giải quyết vụ

án hành chính về khiếu kiện quy định tại khoản 18 Điều 11 của Pháp lệnh này

nếu đã khiếu nại với cơ quan lập danh sách cử tri, nhưng không đồng ý về

cách giải quyết của cơ quan đó

4 Cán bộ, công chức giữ chức vụ từ Vụ trưởng và tương đương trở xuống theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức có quyền khởi kiện

để Tòa án giải quyết vụ án hành chính về khiếu kiện quy định tại khoản 19

Điều 11 của Pháp lệnh này nếu đã khiếu nại với người đã ra quyết định kỷ

luật, nhưng không đồng ý với quyết định giải quyết đó và không tiếp tục

khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo

5 Cá nhân, tổ chức có quyền khởi kiện để Tòa án giải quyết vụ án hành

chính về khiếu kiện quy định tại khoản 20 Điều 11 của Pháp lệnh này nếu đã

khiếu nại với Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, nhưng không đồng ý với quyết định giải quyết đó

6 Cá nhân, tổ chức có quyền khởi kiện để Tòa án giải quyết vụ án hành

chính về khiếu kiện quy định tại khoản 21 Điều 11 của Pháp lệnh này nếu đã

khiếu nại với Hội đồng cạnh tranh hoặc Bộ trưởng Bộ Thương mại, nhưng

không đồng ý với quyết định giải quyết đó

Trang 21

7 Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện để Tòa án giải quyết vụ

án hành chính về khiếu kiện quy định tại khoản 22 Điều 11 của Pháp lệnh này theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên về các khiếu kiện đó."

Theo quy định này thì trước khi Tòa án xem xét giải quyết khiếu kiện hành chính theo thủ tục tố tụng hành chính, các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc cán bộ, công chức phải thực hiện việc khiếu nại lần đầu theo thủ tục hành chính Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết các khiếu nại đó theo quy định của Luật Khiếu nại - Tố cáo

Thực tế, quản lý nhà nước vốn phức tạp và đa dạng nên đôi khi cơ quan hành chính nhà nước đã không áp dụng đầy đủ và chính xác các căn cứ để ra quyết định hay thực hiện hành vi hành chính Do đó, việc tạo điều kiện để cho

họ xem xét lại quyết định, hành vi của mình hoặc của cấp dưới là rất cần thiết khi có khiếu kiện Khi xem xét lại các quyết định, hành vi nói trên, họ có thể thay đổi hoặc hủy quyết định bị khiếu kiện và khắc phục các hậu quả do việc ban hành quyết định hoặc thực hiện hành vi bị khiếu kiện gây ra Mặt khác, cá nhân, tổ chức, cơ quan là người chịu tác động của quyết định hành chính, hành vi hành chính có thể do không hiểu biết pháp luật hoặc không có đủ thông tin nên cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật Vì vậy, việc giải thích cặn kẽ và đầy đủ thông tin, nhận thấy những yêu cầu của mình

là thiếu căn cứ, có thể họ sẽ rút đơn khiếu kiện

Quy định giai đoạn tiền tố tụng hành chính là trình tự bắt buộc trước khi khởi kiện vụ việc ra Tòa án không chỉ tạo cơ hội cho các cơ quan hành chính nhà nước có thể tự kiểm tra và sửa chữa những sai sót trong quá trình hoạt động của mình mà còn có thể sớm giải quyết các bất đồng không cần đến việc

tố tụng trước Tòa án

Trang 22

Hơn nữa, việc thi hành án hành chính vốn là vấn đề phức tạp Tòa án không thể tổ chức cưỡng chế thi hành án hành chính đối với các cơ quan hành chính nhà nước, mà việc thi hành án hành chính chắc chắn chỉ có thể dựa vào chính các cơ quan hành chính nhà nước Do đó, việc giải quyết dứt điểm khiếu kiện hành chính bằng thủ tục hành chính cũng có ý nghĩa trong việc khôi phục kịp thời các quyền lợi hợp pháp cho người khiếu nại Mặt khác, kết quả của việc giải quyết khiếu nại theo thủ tục hành chính cũng là cơ sở thực tiễn, pháp lý cần thiết giúp Tòa án có thể giải quyết nhanh chóng, đúng pháp luật các vụ án hành chính

1.2.2 Nguyên tắc tính không bị trì hoãn của quyết định hành chính bị khiếu kiện:

Các quyết định hành chính bị khiếu kiện là một dạng quyết định quản lý nhà nước cá biệt - quyết định áp dụng pháp luật trong quản lý Các quyết định này thường có tính chấp hành ngay để giải quyết một cách nhanh chóng, dứt điểm và đúng pháp luật các vụ việc cụ thể đã phát sinh trong quản lý nhà nước; tránh tình trạng tồn đọng công việc làm giảm hiệu quả quản lý, xâm hại tới lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức

và qua đó làm hạn chế hiệu lực của pháp luật

Khiếu kiện hành chính không mặc nhiên làm đình chỉ việc thi hành các quyết định hành chính, nên pháp luật hiện hành quy định các trường hợp, trình tự và thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ việc thi hành quyết định hành chính bị khiếu kiện là rất cần thiết để phòng ngừa những hậu quả khó khắc phục có thể xảy ra

Điều 33 Pháp lệnh 2006 quy định:

“1 Sau khi Tòa án đã thụ lý vụ án, đương sự có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ lợi ích cấp thiết của đương sự, bảo đảm việc thi hành án; đương sự phải chịu trách

Trang 23

nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình, nếu có lỗi trong việc gây thiệt hại thì phải bồi thường

2 Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của Viện kiểm sát có thể ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và phải chịu trách nhiệm về quyết định đó; nếu do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trái pháp luật mà gây thiệt hại thì phải bồi thường Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể được tiến hành ở bất cứ giai đoạn nào trong quá trình giải quyết vụ án

3 Yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải được Tòa án xem xét trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; nếu có đủ căn cứ pháp luật và xét thấy cần thiết chấp nhận yêu cầu thì Tòa án ra ngay quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

4 Trong quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải ghi rõ thời hạn có hiệu lực của quyết định, nhưng không được quá thời hạn giải quyết vụ

án theo quy định của pháp luật

5 Trong trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay bằng chứng, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 34 của Pháp lệnh này đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện cho Tòa án đó

Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong trường hợp này được thực hiện theo các quy định tương ứng của Bộ luật tố tụng dân sự."

Và Điều 34 Pháp lệnh 1996 quy định các biện pháp khẩn cấp tạm thời gồm có:

“1 Tạm đình chỉ việc thi hành các quyết định hành chính bị khiếu kiện;

Trang 24

2 Cấm hoặc buộc đương sự tổ chức, cá nhân khác thực hiện những hành vi nhất định nếu xét thấy cần thiết cho việc giải quyết vụ án hành chính hoặc để bảo đảm cho việc thi hành án.”

nhằm tạm đình chỉ việc thi hành quyết định hành chính bị khiếu kiện

Việc áp dụng biện pháp tạm đình chỉ việc thi hành quyết định hành chính

bị khiếu kiện đã đối trọng trực tiếp tới “tính không bị trì hoãn” của quyết định hành chính Vì vậy, Tòa án, đương sự, Viện kiểm sát có yêu cầu áp dụng biện pháp này phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định hay yêu cầu của mình, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường Ngoài ra để tránh việc lạm dụng thẩm quyền này hay gây trở ngại không cần thiết cho quản lý hành chính nhà nước, pháp luật hiện hành cũng quy định cho Tòa án chỉ được áp dụng biện pháp này nếu có đủ căn cứ pháp luật và xét thấy cần thiết

Ngoài ra, xét xử hành chính còn có các đặc thù sau:

- Cơ quan xét xử hành chính là cơ quan chuyên trách, độc lập với hệ thống hành chính nhà nước Không có cơ quan xét xử hành chính thì không

có xét xử hành chính theo thủ tục tố tụng hành chính

- Người bị kiện trong vụ án hành chính luôn luôn là cán bộ, công chức,

cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền

- Đối tượng xét xử của cơ quan xét xử hành chính là quyết định hành chính, hành vi hành chính của cán bộ, công chức, cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền

- Đối tượng bị xâm phạm của quyết định hành chính, hành vi hành chính

bị khiếu kiện không chỉ là các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức mà còn là lợi ích của nhà nước

- Cơ quan xét xử hành chính có quyền phán quyết tính hợp pháp hay bất hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính; hủy bỏ một phần hay toàn bộ quyết định hành chính có nội dung trái pháp luật

Trang 25

- Hoạt động xét xử của cơ quan xét xử hành chính được thực hiện theo thủ tục tố tụng hành chính nghiêm ngặt quy định tại Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính

1.3 Đối tượng của xét xử hành chính:

Đối tượng xét xử về hành chính của Tòa án là các quyết định hành chính, hành vi hành chính trái pháp luật xâm phạm đến quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức và bị khiếu kiện tại Tòa án Khi nghiên cứu đối tượng xét xử về hành chính của Tòa án trước hết cần xuất phát từ khái niệm quyết định hành chính và hành vi hành chính nói chung Đồng thời căn cứ vào pháp luật thực định để xác định phạm vi quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc đối tượng xét xử của Tòa án

1.3.1 Quyết định hành chính 6:

Quyết định hành chính là một dạng của quyết định quản lý nhà nước (quyết định quản lý nhà nước cá biệt), nó mang bản chất và có đầy đủ đặc trưng của một quyết định quản lý nhà nước là tính ý chí, tính quyền lực và tính pháp lý Tuy nhiên, bên cạnh những đặc trưng đó, quyết định hành chính cũng có những đặc thù riêng như:

- Tính đơn phương: khi ban hành các quyết định hành chính, các cơ quan

nhà nước, người có thẩm quyền căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình, căn cứ vào pháp luật để ra quyết định một cách đơn phương theo ý chí của mình, không phụ thuộc vào việc chủ thể bị điều chỉnh có đồng ý hay không Việc ra quyết định hành chính không phải là kết quả của sự thỏa thuận ý chí giữa chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý, mà là kết quả của sự thể hiện ý chí đơn phương của chủ thể quản lý

6

PGS.TS Phạm Hồng Thái chủ biên - Quyết định hành chính, hành vi hành chính, đối tượng xét xử của Tòa

Trang 26

- Tính chấp hành ngay: mọi quyết định hành chính (quyết định quản lý

nhà nước cá biệt, cụ thể) đều có hiệu lực bắt buộc chấp hành ngay Tính chất này ràng buộc cả công dân lẫn cơ quan nhà nước Đối với cơ quan nhà nước, nếu quyết định cho phép công dân được hưởng các quyền và lợi ích nhất định, công dân có quyền đòi hỏi được hưởng những quyền lợi chính đáng đó và cơ quan nhà nước phải có nghĩa vụ thỏa mãn ngay những đòi hỏi đó Đối với công dân, khi một quyết định hành chính quy định những nghĩa vụ mà công dân phải thực hiện thì công dân có trách nhiệm thi hành ngay những nghĩa vụ

đã được chỉ ra trong quyết định Ngay cả trong trường hợp, công dân cho rằng quyết định hành chính đó trái pháp luật thì họ vẫn phải chấp hành ngay và thực hiện việc khiếu nại sau

- Được áp dụng một lần: nếu như quyết định quy phạm được áp dụng

nhiều lần thì quyết định cá biệt chỉ được áp dụng một lần Tính “áp dụng một lần” thể hiện ở chỗ nó không có hiệu lực đối với các trường hợp khác mà chỉ

có hiệu lực đối với những đối tượng cụ thể trong những điều kiện nhất định

đã được chỉ rõ trong quyết định Sau khi thực hiện những yêu cầu đã được chỉ

ra trong quyết định hay nói khác đi là sau khi quyết định được thực hiện thì tự thân nó làm chấm dứt hiệu lực của chính mình

- Chỉ có giá trị ràng buộc đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể: có

nghĩa là quyết định hành chính không có hiệu lực áp dụng đối với tất cả các đối tượng, mà chỉ có giá trị bắt buộc thi hành với những chủ thể đã được quyết định hành chính xác định

- Chỉ áp dụng đối với một vấn đề cụ thể: quyết định hành chính không

điều chỉnh cùng một lúc nhiều vấn đề, mà chỉ điều chỉnh một vấn đề nhất định

cụ thể nào đó

Từ những đặc trưng nói trên của quyết định hành chính (quyết định cá

biệt) có thể đi đến định nghĩa về quyết định hành chính như sau: “Quyết định

Trang 27

hành chính là một loại quyết định quản lý do cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền hoặc cơ quan, tổ chức được giao quyền ban hành nhằm giải quyết các công việc cụ thể, cá biệt trong quản lý nhà nước, có hiệu lực thi hành ngay và chỉ được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng

hợp cá biệt, cụ thể, nó được ban hành trên cơ sở các quyết định chung và quyết định quy phạm hoặc thậm chí trên cơ sở các quyết định cá biệt của cơ quan cấp trên

Xuất phát từ bản chất và những đặc điểm nói trên, quyết định hành chính

có vai trò khá quan trọng trong cơ chế điều chỉnh pháp luật Nó làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các cá nhân, tổ chức nên thiếu nó trong nhiều trường hợp pháp luật không thể đi vào thực tiễn đời sống Thực tế, hoạt động quản lý nhà nước ở nước ta cho thấy trong tổng

số các quyết định quản lý nhà nước thì quyết định hành chính chiếm một tỷ lệ rất lớn và càng xuống các cơ quan cấp thấp, cấp cơ sở thì tỷ lệ càng cao Vì vậy, thực tế sẽ không tránh khỏi trường hợp các quyết định hành chính ban hành trái pháp luật xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, ảnh hưởng tới chất lượng và hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước

Để đảm bảo quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của công dân trước sự xâm hại của các quyết định hành chính trái pháp luật, nhà nước đã thiết lập nhiều phương thức bảo đảm khác nhau, trong đó cho phép công dân có quyền khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền các quyết định hành chính trái pháp luật

Điều 4 Pháp lệnh 2006 quy định: “Quyết định hành chính là quyết định

bằng văn bản của cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc

7

PGS.TS Phạm Hồng Thái chủ biên - Quyết định hành chính, hành vi hành chính, đối tượng xét xử của Tòa

Trang 28

một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính”

Trên cơ sở đó, Nghị quyết số 04/2006/NQ-HĐTP ngày 04 tháng 8 năm

2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh 2006 (gọi tắt là Nghị quyết 04/2006/NQ-HĐTP) quy định các quyết định hành chính là đối tượng khiếu kiện để yêu

cầu Tòa án giải quyết vụ án hành chính: là quyết định hành chính lần đầu

Ngoài những quyết định hành chính được cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành lần đầu trong khi giải quyết, xử lý những việc cụ thể thuộc thẩm quyền của mình, thì những quyết định hành chính sau đây cũng được coi là quyết định hành chính lần đầu:

 Sau khi ban hành quyết định hành chính nhưng chưa có khiếu nại, cơ

quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước đã ban hành quyết định hành chính đó ban hành một quyết định hành chính khác thay thế quyết định hành chính trước, thì quyết định mới được ban hành này là quyết định hành chính lần đầu;

 Sau khi ban hành quyết định hành chính nhưng chưa có khiếu nại,

cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước đã ban hành quyết định hành chính đó ban hành một quyết định hành chính khác sửa đổi, bổ sung một số điểm của quyết định hành chính trước, thì phần của quyết định hành chính trước không bị sửa đổi, hủy

bỏ và quyết định sửa đổi, bổ sung một số điểm của quyết định hành chính trước đều là quyết định hành chính lần đầu;

Tuy nhiên, đối với hai trường hợp trên đây nếu các quyết định sau được ban hành sau khi cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước đã nhận được đơn khiếu nại và các quyết

Trang 29

định đó là kết quả giải quyết khiếu nại, thì các quyết định sau là quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà không phải là quyết định hành chính lần đầu;

 Sau khi Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính

ra quyết định hủy một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính bị khởi kiện; giao cho cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước giải quyết lại vụ việc đối với phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính đã bị hủy và kết quả giải quyết lại là cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước đã ra quyết định hành chính mới, thì quyết định mới này là quyết định hành chính lần đầu;

 Sau khi người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai ra quyết định

giải quyết khiếu nại và người có quyết định hành chính đã ra quyết định hành chính sửa đổi một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính đó, thì quyết định hành chính sửa đổi một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính trước và phần của quyết định hành chính trước không bị sửa đổi đều là quyết định hành chính lần đầu

* Quyết định kỷ luật buộc thôi việc: theo quy định tại khoản 3 Điều 4

Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các

vụ án hành chính năm 1998 (gọi tắt là Pháp lệnh 1998) thì đây là quyết định

bằng văn bản của người đứng đầu cơ quan, tổ chức để áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việc đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ từ Vụ trưởng và tương đương trở xuống thuộc quyền quản lý của mình theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức Đây cũng là đối tượng khiếu kiện để yêu cầu Tòa

án giải quyết vụ án hành chính

Như vậy, theo quy định này thì không phải tất cả các quyết định hành chính đều thuộc đối tượng xét xử của Tòa hành chính Một quyết định hành chính chỉ trở thành đối tượng xét xử của Tòa án khi thỏa mãn đồng thời các

Trang 30

dấu hiệu sau:

- Về hình thức của quyết định: một quyết định hành chính thuộc đối

tượng xét xử của Tòa án phải được thể hiện dưới hình thức văn bản

Trên thực tế có hai quan điểm khác nhau về phạm vi đối tượng xét xử

của Tòa hành chính Quan điểm thứ nhất cho rằng Tòa hành chính chỉ xét xử

những quyết định hành chính cá biệt thể hiện bằng văn bản mà văn bản đó phải có tên gọi là “Quyết định” Ví dụ như “Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện”, “Quyết định xử lý kỷ luật buộc thôi việc” còn những văn bản không có tên gọi là “Quyết định” sẽ không

thuộc đối tượng xét xử của Tòa án Quan điểm thứ hai cho rằng bất kỳ một

văn bản nào mà nội dung của nó chứa đựng một quyết định hành chính cá biệt đều thuộc đối tượng xét xử của Tòa hành chính không phụ thuộc vào nó có được ban hành đúng tên gọi hay không Ví dụ “Thông báo xử lý kỷ luật buộc thôi việc”, “Công văn trả lời đơn khiếu nại” Quan điểm thứ hai là đúng đắn

vì một khi quyết định hành chính cá biệt được ban hành không đúng thủ tục, tên gọi cũng đã là một căn cứ để công dân, tổ chức có thể khởi kiện tại Tòa hành chính có thẩm quyền

1.3.2 Hành vi hành chính 8:

Hành vi hành chính là một dạng của hành vi công vụ Hành vi công vụ là

hành vi mang tính quyền lực pháp lý nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của nhà nước

Tính quyền lực ở đây là quyền lực nhà nước, hành vi công vụ xuất hiện trực tiếp từ quyền lực nhà nước và nhằm thực hiện quyền lực nhà nước do các

cơ quan, tổ chức nhà nước, nhân viên nhà nước thực hiện trên cơ sở thẩm quyền của mình Tính pháp lý được thể hiện ở hậu quả pháp lý của hành vi,

8

PGS.TS Phạm Hồng Thái chủ biên - Quyết định hành chính, hành vi hành chính, đối tượng xét xử của Tòa

án - NXB Đồng Nai, năm 2001 - tr21

Trang 31

nghĩa là nó có giá trị bắt buộc đối với mọi người, nó tác động làm thay đổi đến quyền và nghĩa vụ pháp lý của các cá nhân, tổ chức và nó được nhà nước bảo vệ bằng sự cưỡng chế của nhà nước

Như vậy, khác với các hành vi thông thường khác, hành vi công vụ dựa trên cơ sở sử dụng quyền lực nhà nước, nó được bảo đảm bằng quyền lực nhà nước và nhằm sử dụng quyền lực đó để thực hiện các nhiệm vụ quản lý của nhà nước

Hành vi công vụ có nội dung như trên có một phạm vi rất rộng Nó bao gồm tất cả các hoạt động của nhà nước trong các lĩnh vực lập pháp, hành

pháp, tư pháp Trong đó, những hành vi công vụ thực hiện trong lĩnh vực

hành chính được gọi là hành vi hành chính Nói cách khác, hành vi hành

chính là một dạng của hành vi công vụ nói chung thực hiện trong hoạt động chấp hành, điều hành

Hành vi hành chính là một dạng của hành vi công vụ cho nên nó có đầy

đủ các đặc điểm của hành vi công vụ nói chung, tuy nhiên, nó khác với hành

vi lập pháp, tư pháp ở những đặc điểm sau:

- Thứ nhất: hành vi hành chính được thực hiện trong lĩnh vực chấp hành

và điều hành của nhà nước, lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, trong đó nội dung của nó bao gồm: chấp hành pháp luật, điều hành các hoạt động của nhà nước, tổ chức thực hiện pháp luật

- Thứ hai: hành vi hành chính được thực hiện một cách thường xuyên,

liên tục, tương đối ổn định và diễn ra trên mọi lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước

- Thứ ba: hành vi hành chính được thực hiện trên cơ sở pháp luật, các

quy định hành chính Đặc điểm này xuất phát từ đặc trưng của hoạt động hành pháp nói chung, là hoạt động mang tính dưới luật, được tiến hành trên cơ sở luật và để thực hiện pháp luật

Trang 32

Hành vi hành chính có một phạm vi rất rộng lớn, tuy nhiên, không phải tất cả các hành vi hành chính đều thuộc đối tượng xét xử của Tòa hành chính

Khoản 2 Điều 4 Pháp lệnh 2006 quy định: “Hành vi hành chính là hành

vi của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.” Trên cơ sở đó, Nghị quyết 04/2006/NQ-HĐTP đã cụ

thể hóa quy định này: hành vi hành chính là đối tượng khiếu kiện để yêu cầu

Tòa án giải quyết vụ án hành chính bao gồm các hành vi của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong các việc hoặc các lĩnh vực được quy định tại các khoản từ khoản 3 đến khoản 17 Điều 11 của Pháp lệnh và trong các việc hoặc các lĩnh vực khác mà pháp luật có quy định

Như vậy, để xác định một hành vi hành chính thuộc đối tượng xét xử của Tòa án cần dựa trên những dấu hiệu sau:

* Chủ thể của hành vi hành chính: Pháp lệnh năm 1996 và các Pháp lệnh

năm 1998, 2006 không trực tiếp quy định vấn đề này, tuy nhiên, có thể nhận dạng nó thông qua điều khoản quy định về thẩm quyền xét xử về hành chính của Tòa án Theo quy định Điều 12 Pháp lệnh 2006, chủ thể của hành vi hành chính thuộc đối tượng xét xử của Tòa án gồm:

- Cơ quan nhà nước từ cấp huyện trở xuống;

- Cơ quan nhà nước cấp tỉnh;

- Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan chức năng của các cơ quan này;

- Thủ trưởng, cán bộ, công chức của các cơ quan nêu trên

Cán bộ, công chức, theo quy định tại Điều 1 Pháp lệnh cán bộ công

Trang 33

chức (sửa đổi, bổ sung năm 2003) là công dân Việt Nam, trong biên chế, bao

gồm:

“a Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong

cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương;

ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh); ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện);

b Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;

c Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;

d Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;

đ Thẩm phán Tòa án nhân dân, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân;

e Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan,

hạ sĩ quan chuyên nghiệp;

g Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân; Bí thư, Phó bí thư Đảng ủy; người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã);

h Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã.”

Trang 34

* Hình thức biểu hiện của hành vi: phải là hành vi thực hiện hoặc không

thực hiện nhiệm vụ, công vụ trái pháp luật

Hành vi thực hiện nhiệm vụ, công vụ trái pháp luật là chủ thể làm một

việc mà pháp luật cấm, qua đó làm thay đổi trạng thái bình thường của trật tự quản lý hành chính nhà nước

Hành vi không thực hiện nhiệm vụ, công vụ trái pháp luật là chủ thể

không làm hoặc làm không đầy đủ một việc mà pháp luật quy định phải làm mặc dù có điều kiện và khả năng để thực hiện việc đó

Một cách khái quát, hành vi hành chính thuộc đối tượng xét xử của Tòa hành chính khi đó là hành vi thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà

nước, được thể hiện dưới dạng hành động hay không hành động trái pháp luật

xâm phạm đến quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân bị khởi kiện tại Tòa hành chính

* Phạm vi của hành vi hành chính: những hành vi hành chính thuộc đối

tượng xét xử của Tòa án phải là hành vi thực hiện hay không thực hiện nhiệm

vụ, công vụ trong các lĩnh vực quy định tại khoản 3 đến khoản 17 Điều 11 Pháp lệnh 2006:

 Hành vi hành chính trong việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính;

 Hành vi hành chính trong việc áp dụng hoặc thi hành biện pháp xử lý hành chính bằng một trong các hình thức giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh; quản chế hành chính;

 Hành vi hành chính trong việc áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ nhà ở, công trình, vật kiến trúc kiên cố khác;

 Hành vi hành chính trong việc cấp, thu hồi giấy phép về xây dựng cơ bản, sản xuất, kinh doanh; giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và chứng chỉ

Trang 35

hành nghề hoặc hành vi hành chính khác liên quan đến hoạt động kinh doanh, tài chính của thương nhân;

 Hành vi hành chính liên quan đến thương mại hàng hoá quốc tế hoặc trong nước;

 Hành vi hành chính liên quan đến chuyển giao tài chính trong nước và quốc tế, dịch vụ và cung ứng dịch vụ;

 Hành vi hành chính trong việc trưng dụng, trưng mua, tịch thu tài sản;

 Hành vi hành chính trong việc áp dụng thuế, thu thuế, truy thu thuế;

 Hành vi hành chính trong việc áp dụng phí, thu phí, lệ phí; thu tiền sử dụng đất;

 Hành vi hành chính trong quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ;

 Hành vi hành chính trong quản lý nhà nước về đầu tư;

 Hành vi hành chính của cơ quan hải quan, công chức hải quan;

 Hành vi hành chính về quản lý hộ tịch;

 Hành vi hành chính đối với việc từ chối công chứng, chứng thực;

 Hành vi hành chính về quản lý đất đai trong trường hợp giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; gia hạn thời hạn sử dụng đất;

Với sự ra đời của cơ quan xét xử hành chính, vấn đề bảo đảm thực hiện

pháp luật, kỷ luật trong quản lý nhà nước nói chung bảo đảm quyền công dân, lợi ích của cá nhân, tổ chức nói riêng đã có một bước tiến trong quá trình cải cách tư pháp Việc thành lập cơ quan xét xử hành chính, mặc dù hoạt động bước đầu còn gặp nhiều khó khăn nhưng đã thể hiện chủ trương cải cách nền

Trang 36

của công dân, cơ quan, tổ chức tiến tới xây dựng nhà nước pháp quyền, một

xã hội công dân

Trang 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XÉT XỬ HÀNH CHÍNH CỦA TÒA ÁN

Trước một quyết định hành chính, hành vi hành chính trái pháp luật xâm hại quyền, tự do, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Cá nhân, tổ chức

có quyền khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền yêu cầu Tòa án xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính, buộc các cơ quan,

cá nhân gây ra thiệt hại phải bồi thường Nhưng không phải mọi quyết định hành chính, hành vi hành chính đều thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án Do vậy, để bảo đảm sự thuận tiện, tiết kiệm về mặt thời gian và tiền của của công dân trong việc bảo vệ các quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của họ cần xác định công dân có quyền khiếu kiện tại Tòa án những loại quyết định hành chính, hành vi hành chính nào Và nếu khiếu kiện thì Tòa án nào sẽ là Tòa án

có thẩm quyền giải quyết

2.1 Thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án nhân dân và thực trạng việc thực hiện thẩm quyền:

Theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 12 Pháp lệnh Xử lý vi phạm

hành chính thì các hình thức xử phạt chính bao gồm: phạt cảnh cáo, phạt tiền

Và điểm a, b khoản 2 Điều 12 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính quy

định các hình thức xử phạt bổ sung có: tước quyền sử dụng giấy phép, chứng

Trang 38

chỉ hành nghề; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính

Khoản 3 Điều 12 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính quy định ngoài các hình thức xử phạt chính, xử phạt bổ sung các cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng một hoặc các biện pháp khắc phục hậu quả sau:

“a Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm

hành chính gây ra hoặc buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép;

b Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh do vi phạm hành chính gây ra;

c Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hóa, vật phẩm, phương tiện;

d Buộc tiêu hủy vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi và cây trồng, văn hóa phẩm độc hại.”

Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính còn có quy định tại khoản 4 Điều

12 áp dụng cho người nước ngoài thực hiện hành vi vi phạm hành chính trên

lãnh thổ Việt Nam: “Người nước ngoài vi phạm hành chính còn có thể bị xử

phạt trục xuất Trục xuất được áp dụng là hình thức xử phạt chính hoặc xử phạt bổ sung trong từng trường hợp cụ thể.”

Vậy, quyết định xử phạt vi phạm hành chính bao gồm: quyết định áp dụng các hình thức xử phạt chính, xử phạt bổ sung, quyết định áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (gọi tắt là Pháp lệnh) qua ba lần sửa đổi, bổ sung đều không giới hạn các lĩnh vực xử phạt Do

đó, có thể hiểu tất cả các quyết định xử phạt vi phạm hành chính trên tất cả các lĩnh vực bị khởi kiện đều thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án, với bất kỳ hình thức xử phạt nào như xử phạt chính, xử phạt bổ sung

Trang 39

* Khiếu kiện quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính (khoản 2)

Mặc dù Pháp lệnh 1996 và Pháp lệnh 1998 chỉ quy định là “khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính” nhưng trong xét xử hành chính, Tòa

án phán quyết cả việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử lý

vi phạm hành chính

Thực tế xử lý vi phạm hành chính, nếu áp dụng các biện pháp phòng ngừa và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính thì các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền thường ra một quyết định độc lập với quyết định xử phạt

Để cụ thể hóa thẩm quyền của Tòa án trong xét xử các khiếu kiện hành chính đồng thời đáp ứng được yêu cầu về tính minh bạch, rõ ràng, công khai

và thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật Pháp lệnh 2006 quy định quyết định

áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính

là đối tượng khiếu kiện độc lập yêu cầu Tòa án xét xử

Khoản 1 Điều 43 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính quy định trong trường hợp cần ngăn chặn kịp thời vi phạm hành chính hoặc để bảo đảm việc

xử lý vi phạm hành chính, người có thẩm quyền có thể áp dụng các biện pháp

sau đây theo thủ tục hành chính: tạm giữ người; tạm giữ tang vật, phương tiện

vi phạm hành chính; khám người; khám phương tiện vận tải, đồ vật; khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; bảo lãnh hành chính; quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất; truy tìm đối tượng phải chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh trong trường hợp bỏ trốn

Trang 40

* Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính (khoản 3):

Đây là quy định hoàn toàn mới sau khi Pháp lệnh được sửa đổi, bổ sung năm 2006 Từ ngày 01/6/2006, tất cả những quyết định hành chính, hành

vi hành chính trong việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trở thành đối tượng khởi kiện tại Tòa án

Theo quy định tại khoản 1 Điều 66 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính thì các biện pháp cưỡng chế thi hành bao gồm: khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập, khấu trừ tiền từ tài khoản tại ngân hàng; kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá; các biện pháp cưỡng chế khác để thực hiện tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính, buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra hoặc buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép, buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh, buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, buộc tái xuất hàng hóa, vật phẩm, phương tiện, buộc tiêu hủy vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng, văn hóa phẩm độc hại

Các hành vi hành chính trong lĩnh vực này trở thành đối tượng khởi kiện vụ án hành chính là những hành vi tiến hành các biện pháp nêu trên mà không căn cứ vào quyết định của người có thẩm quyền hoặc những hành vi vi phạm pháp luật khác có liên quan

* Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc áp

dụng hoặc thi hành biện pháp xử lý hành chính bằng một trong các hình thức giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh; quản chế hành chính (khoản 4):

Ngày đăng: 12/07/2023, 09:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Luật Sở hữu trí tuệ và văn bản hướng dẫn thi hành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Sở hữu trí tuệ và văn bản hướng dẫn thi hành
1. Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2001 (sửa đổi, bổ sung) Khác
2. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật Khác
3. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Khác
4. Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân. 5. Luật Cạnh tranh Khác
6. Luật Công chứng và văn bản hướng dẫn thi hành Khác
8. Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành. 9. Luật Đầu tư Khác
14. Luật Tổ chức tòa án nhân dân 15. Pháp lệnh Cán bộ công chức Khác
16. Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân Khác
18. Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính Khác
19. Nghị định 158/2005 của Chính phủ ngày 27/12/2005 về Đăng ký và quản lý hộ tịch Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w