44 Bảng 3.4: Số lượng và nguồn gốc các loại thuốc BVTV được người dân sử dụng trong sản xuất rau ..... Trong quá trình sản xuất rau, một số loài sâu, bệnh xuất hiện thành dịch đã gây hại
Tính cấp thiết của đề tài
Sau gần 60 năm phát triển, ngành bảo vệ thực vật (BVTV) đã có những đóng góp quan trọng, giúp Việt Nam trở thành một trong những quốc gia hàng đầu về xuất khẩu nông sản Năm 2022, tổng giá trị xuất khẩu nông nghiệp đạt 36,2 tỷ USD, khẳng định vai trò thiết yếu của hệ thống thuốc BVTV trong nền kinh tế nông nghiệp.
2017, trong đó, ngành trồng trọt chiếm tới 20 tỷ USD về giá trị kim ngạch xuất khẩu (Bảo Phương và Diệu Thúy, 2019)
Việt Nam, với khí hậu nhiệt đới và nền nông nghiệp phát triển, cần thiết phải sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) để nâng cao chất lượng nông sản và hàng hóa Tuy nhiên, việc lạm dụng thuốc BVTV ngày càng gia tăng đã gây ra nhiều tác hại cho sản xuất, môi trường và sức khỏe cộng đồng, đe dọa sự phát triển bền vững của nông nghiệp Hệ quả là nhiều nông sản Việt Nam đã bị ảnh hưởng tiêu cực trên thị trường quốc tế do tồn dư thuốc trừ sâu vượt mức cho phép.
Theo số liệu của Bộ NN-PTNT, năm 2017, Việt Nam đã chi 989 triệu USD cho việc nhập khẩu thuốc trừ sâu và nguyên liệu, tăng 36,4% so với năm 2016 Trung Quốc là nguồn cung chính, chiếm 52,6% tổng giá trị nhập khẩu Trong chín tháng đầu năm 2018, mặc dù lượng nhập khẩu giảm so với cùng kỳ năm 2017, Việt Nam vẫn chi 681 triệu USD cho mặt hàng này, với 49,4% tổng giá trị nhập khẩu đến từ Trung Quốc (Bảo Phương và Diệu Thúy, 2019).
Rau là thực phẩm thiết yếu trong bữa ăn hàng ngày của con người, đặc biệt quan trọng đối với các dân tộc Châu Á Nhu cầu tiêu thụ rau xanh không chỉ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng mà còn góp phần vào sức khỏe tổng thể.
Việc sử dụng rau hàng ngày ngày càng gia tăng, nhưng trong quá trình sản xuất, sâu bệnh có thể gây hại đến năng suất và chất lượng rau Do đó, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) đã được sử dụng để phòng chống Sử dụng thuốc BVTV đúng cách mang lại nhiều lợi ích như phòng trừ sâu bệnh, tăng năng suất và bảo quản nông sản Theo các chuyên gia, nếu không có thuốc BVTV, hơn 50% sản lượng lương thực toàn cầu sẽ bị thất thoát do sâu bệnh và cỏ dại, gây thiệt hại kinh tế lớn cho nông dân Tuy nhiên, lạm dụng thuốc BVTV có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng như dư lượng thuốc trên nông sản, giảm chất lượng sản phẩm, tăng nguy cơ ngộ độc thực phẩm, và tiêu diệt cả côn trùng có ích Do đó, việc lạm dụng thuốc BVTV giống như sử dụng con dao hai lưỡi, ảnh hưởng đến sức khỏe nông dân và tạo ra sản phẩm không an toàn.
Xã Văn Đức, huyện Gia Lâm, Hà Nội, nằm ven bờ tả ngạn sông Hồng, là xã cuối cùng của huyện về phía Tây Nam, nổi bật với việc thâm canh các loại cây trồng chủ lực như ngô và rau xanh Với truyền thống thâm canh lâu đời, việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật trên đồng ruộng là điều không thể tránh khỏi.
Chính vì vậy, dưới sự hướng dẫn của Th.S Nguyễn Thị Bích Hà, tôi đã
3 thực hiện đề tài: “ Đ ánh giá hi ệ n tr ạ ng qu ả n lý và s ử d ụ ng thu ố c B ả o v ệ th ự c v ậ t trên m ộ t s ố lo ạ i rau t ạ i xã V ă n Đứ c, huy ệ n Gia Lâm, thành ph ố
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá hiện trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên một số loại rau ở khu vực nghiên cứu
Để giảm thiểu ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và môi trường, cần đề xuất một số giải pháp sử dụng hợp lý thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất rau Việc áp dụng các biện pháp này sẽ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất đồng thời bảo vệ sức khỏe cộng đồng và hệ sinh thái.
- Đánh giá được hiện trạng phát triển sản xuất rau ở Văn Đức
- Đánh giá được thực trạng sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật trên một số loại rau
- Ảnh hưởng của hóa chất Bảo vệ thực vật đối với sức khỏe người dân
Đề xuất một số biện pháp sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hiệu quả nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường và sức khỏe cộng đồng.
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Tổng quan chung về thuốc Bảo vệ thực vật
1.1.1 Khái quát về thuốc BVTV
Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là các hợp chất độc hại, có thể là tự nhiên hoặc tổng hợp, được sử dụng để kiểm soát sâu bệnh, cỏ dại và chuột gây hại cho cây trồng và nông sản Những chất này được gọi chung là vi sinh vật gây hại cho cây trồng và nông sản (Trần Quang Hùng, 1999).
Theo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Phú Thọ, thuốc bảo vệ thực vật bao gồm các hợp chất hóa học, chế phẩm sinh học, và chất có nguồn gốc từ thực vật, động vật, nhằm bảo vệ cây trồng và nông sản khỏi sự phá hoại của sinh vật gây hại.
Thuốc bảo vệ thực vật không chỉ có tác dụng phòng ngừa và trừ sâu bệnh hại mà còn bao gồm các chế phẩm giúp điều hòa sinh trưởng, làm khô cây hoặc rụng lá, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hoạch Những chế phẩm này có khả năng xua đuổi hoặc thu hút các sinh vật gây hại cho cây trồng (Minh Huệ, 2019).
Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) có nguồn gốc hóa học là giải pháp hiệu quả trong việc phòng trừ sâu bệnh, bảo vệ năng suất cây trồng và cải thiện chất lượng nông sản Sản phẩm này dễ sử dụng, có thể áp dụng rộng rãi và thường là biện pháp duy nhất mang lại hiệu quả ổn định Từ khi ra đời, thuốc BVTV đã được đánh giá cao và được xem là một trong những thành tựu lớn của khoa học kỹ thuật, để lại dấu ấn quan trọng trong nền nông nghiệp hiện đại Ngày nay, khoa học đã đạt được nhiều thành tựu lớn trong lĩnh vực sinh thái học dịch hại và miễn dịch cây trồng.
Nhiều biện pháp phòng, trừ dịch hại như tạo giống chống chịu sâu bệnh, áp dụng biện pháp sinh học và quản lý dịch hại tổng hợp đã được thực hiện với hiệu quả cao Tuy nhiên, thuốc bảo vệ thực vật vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc kiểm soát dịch bệnh trong nông nghiệp Đối với nông dân, việc sử dụng thuốc BVTV được xem là phương pháp đơn giản và thường xuyên được áp dụng.
Hiện nay, thị trường thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) rất đa dạng với nhiều loại sản phẩm khác nhau Theo “Thông tư 10/2020/TT-BNNPTNT” của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, có 1847 hoạt chất và 4229 tên thương phẩm được phép sử dụng tại Việt Nam Đồng thời, danh mục thuốc BVTV cấm sử dụng bao gồm 31 hoạt chất khác nhau.
Tuy nhiên, tùy theo mục đích nghiên cứu có nhiều cách để phân loại thuốc BVTV:
1.1.2.1 Phân loại theo tính độc
Các nhà sản xuất thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) luôn chỉ rõ mức độ độc hại của từng loại sản phẩm, được đo bằng LD50 (Lethal Dose 50) với đơn vị tính là µg/g hoặc mg/kg Đối với các sinh vật nhỏ có kích thước không đồng đều, mức độ độc có thể được biểu thị bằng µg/sinh vật (ví dụ: µg/ong) Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2019, thuốc BVTV được phân loại theo mức độ độc hại.
- Vạch màu đỏ tròn là thuốc độc nhóm Ia, Ib rất độc
- Vạch màu vàng là thuốc độc nhóm II, nguy hiểm
- Vạch màu xanh da trời là thuốc độc nhóm III, cảnh báo
- Vạch màu xanh lá cây là thuốc độc nhóm IV, cẩn thận
Băng màu: Theo quy định nhãn thuốc phải có băng màu tương ứng với độc của thuốc
Bảng 1.1: Bảng phân loại độ độc của thuốc BVTV theo WHO
LD50: Liều lượng của hóa chất phơi nhiễm trong cùng một thời điểm, gây ra cái chết 50% của một nhôm động vật cùng thử nghiệm
Theo bảng 1.1, giá trị LD50 của thuốc BVTV cho thấy rằng chất có LD50 nhỏ hơn có độ độc cao hơn Do đó, khi lựa chọn giữa các loại thuốc có tác dụng tương tự, nên ưu tiên chọn loại có giá trị LD50 cao để đảm bảo an toàn hơn.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Trần Oánh và cộng sự (2007), thuốc bảo vệ thực vật được phân loại dựa trên đối tượng phòng chống, nguồn gốc hóa học và con đường xâm nhập.
1.1.2.2 Phân loại theo đối tượng phòng chống
Thuốc BVTV được chia thành từng nhóm tùy theo công dụng của
Nhóm Ký hiệu và vạch màu
LD50 qua miệng (mg/kg)
LD50 qua miệng (mg/kg
Thể lỏng Thể rắn Thể lỏng
Chữ đen, vạch màu đỏ
Ib Độc Chữ đen, vạch màu đỏ
Chữ đen, vạch màu xanh vàng
Chữ đen, vạch màu xanh biển
Chữ đen, vạch màu xanh lá cây
Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) được chia thành hai loại chính: thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ Ngoài ra, còn có các loại thuốc khác như thuốc trừ bệnh, thuốc diệt chuột và thuốc điều hòa sinh trưởng Theo nghiên cứu của Nguyễn Trần Oánh và cộng sự (2007), thuốc BVTV được phân loại dựa trên đối tượng phòng chống.
Thuốc trừ sâu (Insecticide) là các chất hoặc hỗn hợp các chất có khả năng tiêu diệt, xua đuổi hoặc di chuyển côn trùng trong môi trường Chúng được sử dụng để loại bỏ hoặc ngăn chặn tác hại của côn trùng đối với cây trồng, rừng, nông lâm sản, gia súc và con người.
Trong thuốc trừ sâu, người ta phân loại dựa vào khả năng gây độc cho từng giai đoạn sinh trưởng, bao gồm thuốc trừ trứng (Ovicide) và thuốc trừ sâu non (Larvicide).
Thuốc trừ bệnh (Fungicide) bao gồm thuốc trừ nấm (Fungicides) và thuốc trừ vi khuẩn (Bactericides) Thông thường, thuốc trừ vi khuẩn có khả năng tiêu diệt cả nấm, trong khi thuốc trừ nấm thường ít hiệu quả trong việc tiêu diệt vi khuẩn.
Thuốc trừ chuột (Rodenticide hay Raticide) là các hợp chất vô cơ, hữu cơ hoặc sinh học có hoạt tính sinh học khác nhau, được sử dụng để tiêu diệt chuột gây hại trong ruộng, nhà và kho tàng Chúng chủ yếu tác động đến chuột qua con đường vị độc và xông hơi trong các không gian kín.
Thuốc trừ nhện (Acricide hay Miticide) là các chất chủ yếu dùng để kiểm soát nhện hại cây trồng, đặc biệt là nhện đỏ Hầu hết các loại thuốc trừ nhện hiện nay đều có tác dụng tiếp xúc và là những sản phẩm đặc hiệu, có khả năng diệt nhện với độ chọn lọc cao, ít gây hại cho côn trùng có ích và thiên địch Nhiều loại thuốc còn có khả năng tiêu diệt trứng và nhện mới nở, trong khi một số khác có thể diệt nhện trưởng thành.
Nhiều loại thuốc trừ nhện có thời gian hữu hiệu dài, ít độc với động vật
8 máu nóng Một số thuốc trừ nhện nhưng cũng có tác dụng diệt sâu Một số thuốc trừ sâu, trừ nấm cũng có tác dụng trừ nhện
Lịch sử phát triển và sử dụng thuốc BVTV trên thế giới và tại Việt Nam11 1 Lịch sử phát triển và sử dụng thuốc BVTV trên thế giới
1.2.1 L ị ch s ử phát tri ể n và s ử d ụ ng thu ố c BVTV trên th ế gi ớ i
1.2.1.1 Lịch sử phát triển thuốc BVTV trên thế giới
Theo Nguyễn Trần Oánh và cs (2007), quá trình phát triển của biện pháp hoá học BVTV trên thế giới có thể chia thành một số giai đoạn:
Giai đoạn 1 (Trước thế kỷ 20) đánh dấu thời kỳ nông nghiệp với trình độ canh tác lạc hậu và giống cây trồng có năng suất thấp Trong bối cảnh dịch hại chưa gây ra tác động lớn, người nông dân chủ yếu dựa vào các biện pháp canh tác truyền thống và giống cây có sẵn để bảo vệ mùa màng Sự phát triển của nông nghiệp trong giai đoạn này phụ thuộc nhiều vào yếu tố may rủi.
Từ lâu, con người đã sử dụng các loài cây độc và lưu huỳnh trong tro núi lửa để kiểm soát sâu bệnh Kể từ thế kỷ 19, nhiều sự kiện đã diễn ra liên quan đến việc áp dụng những phương pháp này trong nông nghiệp.
12 đáng ghi nhớ, tạo điều kiện cho biện pháp hoá học ra đời Benediet Prevest
Vào năm 1807, nước đun sôi trong nồi đồng đã được chứng minh có khả năng diệt bào tử nấm than đen Ustilaginales Đến năm 1848, lưu huỳnh được sử dụng để trừ bệnh phấn trắng Erysiphacea hại nho, và dung dịch boocđô ra đời vào năm 1879 Lưu huỳnh vôi được áp dụng để diệt rệp sáp Aspidiotus perniciosus hại cam vào năm 1881 Sự kiện sử dụng HCN để trừ rệp vảy Aonidiella aurantii hại cam vào năm 1887 đánh dấu bước khởi đầu cho việc dùng các chất xông hơi trong bảo vệ thực vật Năm 1889, aseto asenat đồng được sử dụng để diệt sâu Leptinotarsa decemlineata hại khoai tây, và vào năm 1892, gipxin (asenat chì) được dùng để trừ sâu ăn quả và sâu rừng Porthetria dispar Trong nửa cuối thế kỷ 19, cacbon disulfua (CS2) được áp dụng để chống chuột đồng và các ổ rệp Plutella xylostella hại nho Tuy nhiên, vào thời điểm này, biện pháp hóa học vẫn chưa đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp.
Giai đoạn 2 (đầu thế kỷ 20 đến năm 1960) chứng kiến sự ra đời của các thuốc trừ dịch hại hữu cơ, làm thay đổi vai trò của biện pháp hóa học trong sản xuất nông nghiệp Ceresan, thuốc trừ nấm thủy ngân hữu cơ đầu tiên, được giới thiệu vào năm 1913, tiếp theo là các thuốc trừ nấm lưu huỳnh vào năm 1940 và các nhóm thuốc khác Thuốc trừ cỏ xuất hiện muộn hơn, vào những năm 40 của thế kỷ 20 Sự phát hiện khả năng diệt côn trùng của DDT vào năm 1939 đã khởi đầu một cuộc cách mạng trong biện pháp hóa học bảo vệ thực vật Nhiều loại thuốc trừ sâu mới ra đời, bao gồm clo hữu cơ (1940-1950) và các thuốc lân hữu cơ, cacbamat (1945-1950) Thời điểm này, người ta tin rằng mọi vấn đề bảo vệ thực vật đều có thể giải quyết bằng hóa chất, với hy vọng loại trừ hoàn toàn một loài dịch hại trong một khu vực rộng lớn Tuy nhiên, từ cuối những năm 1950, những tác hại của thuốc bảo vệ thực vật đối với con người và môi trường bắt đầu được phát hiện, dẫn đến sự ra đời của khái niệm phòng trừ tổng hợp sâu bệnh.
Giai đoạn 3 (những năm 1960- 1980): Việc lạm dụng thuốc BVTV đã để lại những hậu quả rất xấu cho môi sinh môi trường dẫn đến tình trạng,
Nhiều chương trình phòng chống dịch hại dựa vào thuốc hóa học đã gặp khó khăn, dẫn đến tâm lý e ngại trong việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) và một số người đề xuất loại bỏ hoàn toàn thuốc BVTV trong nông nghiệp Tuy nhiên, các loại thuốc BVTV mới, như thuốc trừ cỏ hiện đại và thuốc trừ sâu nhóm perethroid tổng hợp, đang được phát triển với nhiều ưu điểm và an toàn hơn cho môi trường Các sản phẩm sinh học và chất điều tiết sinh trưởng cũng liên tục ra đời, khiến lượng thuốc BVTV toàn cầu không những không giảm mà còn gia tăng.
Giai đoạn 4 (từ những năm 1980 đến nay) chứng kiến sự gia tăng đáng kể trong việc bảo vệ môi trường Nhiều loại thuốc bảo vệ thực vật mới, bao gồm cả thuốc trừ sâu sinh học, đã được phát triển với hiệu quả cao trong việc kiểm soát dịch hại nhưng vẫn đảm bảo an toàn cho môi trường Vai trò của biện pháp hóa học trong nông nghiệp cũng đã được công nhận.
Tư tưởng sợ thuốc BVTV cũng bớt dần Quan điểm phòng trừ tổng hợp được phổ biến rộng rãi
1.2.1.2 Tình hình sử dụng thuốc BVTV trên thế giới
Mặc dù sự phát triển của biện pháp hóa học gặp nhiều thách thức, tổng giá trị tiêu thụ thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) trên toàn cầu vẫn không ngừng tăng lên, với sự đa dạng về chủng loại và số lượng hoạt chất Nhiều loại thuốc mới và an toàn hơn cho môi trường liên tục được ra mắt, bất chấp các quy định quản lý ngày càng nghiêm ngặt của các quốc gia Đồng thời, kinh phí đầu tư cho nghiên cứu phát triển thuốc mới cũng ngày càng gia tăng.
Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới (WHO), trong giai đoạn từ năm
1972 đến năm 1990, tổng giá trị tiêu thụ (tỉ USD) trong việc sử dụng thuốc BVTV liên tục tăng và được thể hiện qua bảng dưới đây:
Bảng 1.2: Tổng giá trị thuốc tiêu thụ thuốc BVTV của thế giới trong giai đoạn 1972 – 1990 và khối lượng tiêu thụ của các loại thuốc trong năm
Các thuốc khác Tổng giá trị 7,7 16,0 25,9 11,91 8,03 4,66 1,3
Lượng thuốc sử dụng (triệu tấn) - - 3 1,38 0,93 0,54 0,15
(Nguồn: Nguyễn Thị Hồng Hạnh, 2006)
Theo Gifap, giá trị tiêu thụ thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) toàn cầu đã tăng từ 22,4 tỷ USD vào năm 1992 lên 29,2 tỷ USD vào năm 2000 và khoảng 30 tỷ USD vào năm 2010 Trong 10 năm qua, nông dân ở 6 nước châu Á trồng lúa đã gia tăng việc sử dụng thuốc BVTV.
200 - 300% mà năng suất không tăng (VUSTA, 2013)
Theo Sarazy, Kenmor (2008 - 2011) cho biết, trong 10 năm qua (2000 - 2010), các nước châu Á đã tăng cường sử dụng thuốc bảo vệ thực vật lên 200 - 300%, nhưng năng suất lúa hầu như không có sự cải thiện Đặc biệt, số lần phun thuốc trừ sâu không chỉ không tương quan mà còn có thể tương quan nghịch với năng suất (VUSTA, 2013).
Trong 20 năm từ 1980 đến 2000, Thụy Điển đã giảm 60% lượng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) sử dụng, trong khi Đan Mạch và Hà Lan giảm 50% Mặc dù mức tiêu thụ thuốc BVTV toàn cầu đã gia tăng trong 10 năm qua, nhưng xu hướng này đang giảm dần Cơ cấu thuốc BVTV cũng đã có nhiều thay đổi, với sự gia tăng của các loại thuốc sinh học, thân thiện với môi trường và ít độc hại hơn.
1.2.2 L ị ch s ử phát tri ể n, tinh hình s ử d ụ ng thu ố c BVTV ở Vi ệ t Nam
Tại Việt Nam, thuốc BVTV được sử dụng phổ biến từ thế kỉ thứ XIX,
Trước đây, việc diệt trừ sâu bệnh hại chủ yếu dựa vào phương pháp bắt sâu và các biện pháp mê tín Đầu thế kỷ XX, khi nông nghiệp Việt Nam phát triển với nhiều đồn điền và trang trại lớn, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) gia tăng Trong giai đoạn này, Việt Nam chủ yếu áp dụng các hợp chất hóa học vô cơ giống như nhiều quốc gia khác trên thế giới.
Hầu hết thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) tại Việt Nam đều được nhập khẩu, chủ yếu từ Trung Quốc Các doanh nghiệp trong nước chủ yếu tập trung vào việc phân phối sản phẩm ngoại nhập hoặc gia công đóng gói và chiết chai từ hóa chất nhập khẩu.
Do nhu cầu tăng số lượng vụ và năng suất cây trồng, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) tại Việt Nam đã gia tăng đáng kể về cả số lượng và chủng loại trong những năm gần đây Trước năm 1985, mỗi năm Việt Nam chỉ sử dụng khoảng 6.500 tấn thuốc BVTV.
- 9000 tấn thuốc BVTV, thì ở giai đoạn 2012 - 2013, lượng thuốc BVTV nhập khẩu đã tăng một cách đột biến từ 55.000 tấn lên 112.000 tấn (Theo Tạp chí
Theo thống kê năm 2017, Việt Nam đã chi 989 triệu USD cho việc nhập khẩu thuốc trừ sâu và nguyên liệu, tăng 36,4% so với năm 2016 Trong 9 tháng đầu năm 2018, mặc dù lượng nhập khẩu thuốc bảo vệ thực vật và nguyên liệu có giảm so với cùng kỳ.
Vào tháng 10 năm 2017, Việt Nam đã chi tới 618 triệu USD cho việc nhập khẩu thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) Trong đó, thuốc trừ cỏ chiếm 48% với 19.000 tấn, thuốc trừ sâu và trừ bệnh chiếm khoảng 32% với 16.400 tấn, cùng với một lượng lớn thuốc điều hòa sinh trưởng khoảng 900 tấn Đặc biệt, chỉ riêng đối với lúa, có tới 3.321 loại thuốc BVTV được sử dụng, trong khi rau cũng có nhiều loại tương tự.
260 sản phẩm thuốc BVTV Các loại cây lấy quả như điều, hồ tiêu, cà phê cũng có tới hàng chục loại thuốc BVTV/giống cây (Khánh Vũ, 2018)
Theo Phương Mai, trung bình 5 năm trở lại đây, mỗi năm Việt Nam chi từ 500 - 700 triệu USD để nhập khẩu thuốc bảo vệ thực vật Trong đó, 48% là
Nguyên nhân làm tăng ảnh hưởng xấu của hóa chất BVTV tới môi trường
Trong sản xuất nông - lâm nghiệp, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) đóng vai trò quan trọng trong việc tiêu diệt các loài dịch hại như sâu, bệnh, cỏ dại, mối, mọt và nấm mốc Việc sử dụng thuốc BVTV không chỉ giúp nâng cao năng suất mà còn tăng giá trị sản xuất một cách hiệu quả và thiết thực.
Nhiều người vẫn chưa nhận thức được những tác hại nghiêm trọng mà thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) gây ra cho sức khỏe con người và môi trường, cả trong ngắn hạn lẫn dài hạn.
- Gây ô nhiễm môi trường sống (đất, nước, không khí) khi phun thuốc trên đồng ruộng, khử trùng nông sản, ngâm ủ rau quả
Dư lượng độc tố trên nông sản tiêu dùng hàng ngày như gạo, ngô, và rau quả có thể gây hại cho sức khỏe con người, dẫn đến các bệnh nguy hiểm như ung thư và thoái hóa xương khớp Nhiễm độc nặng có thể gây dị tật cho các thế hệ sau.
Việc xây dựng kho thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) không đúng quy định tại một số vùng ở nước ta đã dẫn đến ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước ngầm Hơn nữa, thuốc BVTV cũng là nguyên nhân chính gây ra các đợt dịch sâu bệnh nghiêm trọng trên cây trồng trong những năm tiếp theo.
Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) không đúng cách có thể dẫn đến hiện tượng sâu hại quen thuốc, gây kháng thuốc và chống thuốc Điều này buộc người nông dân phải tăng nồng độ và liều lượng thuốc BVTV qua các năm, dẫn đến việc gia tăng lượng thuốc sử dụng trên cùng một diện tích Hệ quả là không chỉ tốn kém về kinh tế mà còn làm ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, với dư lượng thuốc BVTV cao trên nông sản, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người Theo thống kê của Viện Bảo vệ Thực vật, vào năm 1990, cả nước đã sử dụng 10 nghìn tấn thuốc BVTV.
Đến năm 2003, lượng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) đã tăng lên 45 nghìn tấn, và đến năm 2005, con số này đã đạt 50 nghìn tấn trong một năm Đây là một mức sử dụng đáng báo động và tiềm ẩn nhiều nguy cơ cho môi trường và sức khỏe con người.
Tình hình quản lý và kinh doanh thuốc BVTV ở Việt Nam
Theo Cục Bảo vệ thực vật, từ năm 2011 đến 2014, Việt Nam đã nhập và sử dụng từ 70.000 đến 100.000 tấn thuốc bảo vệ thực vật mỗi năm Trong đó, thuốc trừ sâu chiếm 20,4%, thuốc trừ bệnh chiếm 23,2%, thuốc trừ cỏ chiếm 44,4%, và các loại thuốc bảo vệ thực vật khác chiếm 12% (Ng.Hương, 2014).
Theo thống kê sơ bộ của TCHQ Việt Nam, từ đầu năm đến hết tháng 4/2014, Việt Nam đã nhập khẩu 265 triệu USD mặt hàng thuốc trừ sâu và nguyên liệu, tăng 2,83% so với cùng kỳ năm trước Trong tháng 4, kim ngạch nhập khẩu đạt 64,5 triệu USD, giảm 17,7% so với tháng trước Nguồn nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc, chiếm 57,2% tổng kim ngạch với 151,6 triệu USD, tăng 26,08%, tiếp theo là Ấn Độ với 14,5 triệu USD, tăng 5,77% Tuy nhiên, trong 4 tháng đầu năm 2014, lượng thuốc trừ sâu nhập khẩu từ hầu hết các thị trường đều giảm, với 74% số thị trường có tốc độ tăng trưởng âm, trong khi chỉ 26% có tăng trưởng dương, trong đó Indonesia ghi nhận mức tăng mạnh 156,08%.
Bảng 1.3: Thống kê sơ bộ của TCHQ về thị trường nhập khẩu thuốc trừ sâu và nguyên liệu 4 tháng 2014 Thị trường KNNK 4T/2014 KNNK 4T/2013 % So sánh
Trung Quốc 151.638.982 120.268.991 26,08 Ấn Độ 14.580.575 13.785.638 5,77 Đức 14.364.170 17.715.119 - 18,92
Theo thống kê của Chi cục BVTV Hà Nội (2014), có trên 1.300 cửa hàng buôn bán thuốc BVTV, song mới có 62/74 doanh nghiệp có đăng ký
Trong năm, có 28 doanh nghiệp và 693 cửa hàng đã được cấp chứng chỉ hành nghề, trong khi đó, các cửa hàng nhỏ lẻ và buôn bán theo thời vụ tại các thôn, xóm vẫn chưa được cấp phép hoạt động.
2013, Chi cục đã tổ chức thanh tra, kiểm tra 210 cửa hàng và 56 công ty, lấy
Trong quá trình kiểm tra chất lượng, 60 mẫu thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) đã được lưu thông trên thị trường, phát hiện 26 trường hợp vi phạm Trong số đó, 9 trường hợp đã bị cảnh cáo và 17 trường hợp bị xử phạt hành chính với tổng số tiền 19,3 triệu đồng, cùng với việc tịch thu thuốc BVTV quá hạn sử dụng và không có nguồn gốc rõ ràng Thực trạng kinh doanh thuốc BVTV hiện nay đang diễn ra bát nháo do sự gia tăng số lượng đại lý và quy trình cấp phép kinh doanh quá dễ dàng (Ng.Hương, 2014).
- Theo Chu Khôi (2021), tình trạng sản xuất và kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật diễn ra rất phức tạp, cụ thể như sau:
Vào ngày 5/5/2021, Đội quản lý thị trường số 2 thuộc Cục Quản lý thị trường tỉnh Hà Giang đã tiến hành kiểm tra định kỳ tại cửa hàng buôn bán thuốc bảo vệ thực vật và phân bón ở tổ 10 thị trấn Nông trường Việt Lâm, huyện Vị Xuyên Tại đây, cơ quan chức năng phát hiện 3.562 đơn vị sản phẩm thuốc BVTV đã hết hạn sử dụng, bao gồm thuốc trừ cỏ, thuốc trừ bệnh và thuốc trừ sâu.
Vào ngày 26/4/2021, tại tỉnh An Giang, lực lượng liên ngành chống buôn lậu đã phát hiện và bắt giữ một lượng lớn thuốc bảo vệ thực vật và hàng gia dụng không rõ nguồn gốc Số hàng này nghi ngờ được nhập lậu tại một nhà trọ ở phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc Kiểm tra tại hiện trường, lực lượng chức năng phát hiện hàng trăm chai và hàng nghìn gói thuốc bảo vệ thực vật có xuất xứ từ nước ngoài, nhưng chủ hàng không thể xuất trình hóa đơn hay chứng từ chứng minh nguồn gốc hợp pháp.
Lực lượng chức năng đã lập biên bản vi phạm hành chính, tạm giữ toàn bộ tang vật và tiếp tục xác minh, điều tra để xử lý theo quy định của pháp luật.
Theo báo cáo từ Cục Bảo vệ Thực vật, năm 2020, Việt Nam đã nhập khẩu 3.219 lô thuốc và nguyên liệu thuốc BVTV với tổng khối lượng 49.262,38 tấn và giá trị trên 432 triệu USD Trong quá trình kiểm tra, 3 lô thuốc vi phạm quy định đã được phát hiện Cũng trong năm 2020, Cục đã loại bỏ 1.265 hoạt chất của 838 tên thương phẩm thuốc BVTV không đáp ứng quy định ra khỏi danh mục thuốc được phép sử dụng Năm 2021, Cục Bảo vệ Thực vật đã kiểm tra 55 mẫu thuốc BVTV và phát hiện 6 tổ chức, cá nhân vi phạm trong sản xuất và buôn bán thuốc BVTV không đảm bảo chất lượng, trong đó có 9/16 thuốc không đạt yêu cầu.
Các nguyên tắc sử dụng thuốc BVTV
Thuốc bảo vệ thực vật đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, giúp nông dân bảo vệ cây trồng khỏi dịch hại Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc BVTV cần tuân thủ nguyên tắc và kết hợp với các biện pháp khác, chỉ nên áp dụng khi thật sự cần thiết để đạt hiệu quả cao Sử dụng thuốc BVTV không đúng kỹ thuật hoặc không đúng thời điểm có thể không chỉ không mang lại hiệu quả mà còn gây hại cho cây trồng, con người và môi trường.
Theo Nguyễn Trần Oánh (2007), việc sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật cần tuân thủ nguyên tắc “Bốn đúng”: đúng thuốc, đúng lúc, đúng liều lượng và nồng độ, và đúng cách.
Khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), ưu tiên hàng đầu là chọn sản phẩm có hiệu quả kinh tế và kỹ thuật Bên cạnh đó, thuốc cần phải an toàn cho cây trồng và nông sản, đồng thời ít ảnh hưởng đến môi trường.
30 đến thiên địch, môi trường, con người và vật nuôi
Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) đúng lúc là rất quan trọng do sự phát sinh và phát triển phức tạp của các đối tượng gây hại Cây trồng có những thời kỳ nhạy cảm, vì vậy việc áp dụng thuốc vào thời điểm thích hợp giúp tối ưu hóa hiệu quả và giảm chi phí Đối với sâu và rầy, thời điểm sử dụng thuốc là khi chúng còn nhỏ, trong khi đó, các loại bệnh hại cần được xử lý ngay khi mới chớm phát Quyết định phun thuốc cho cỏ dại cần dựa vào điều kiện sinh thái của từng vùng Cần tránh phun thuốc khi cây trồng đang ra hoa, trong thời tiết nắng gắt hoặc vào buổi tối; nếu cần thiết, nên phun vào chiều mát để bảo vệ cây trồng tốt nhất.
Để quản lý dịch hại hiệu quả, cần sử dụng đúng liều lượng và nồng độ thuốc Việc pha thuốc với nhiều nước sẽ mang lại hiệu quả cao hơn so với việc pha với ít nước, đồng thời giảm thiểu ảnh hưởng đến người phun và cây trồng.
Khi cây trồng còn nhỏ, lượng hợp chất phun nên là 240 lít/ha Tùy thuộc vào đối tượng cần quản lý, lượng hỗn hợp phun có thể dao động từ 320 đến 480 lít/ha Chất lượng nước pha thuốc cũng rất quan trọng; nước trong sẽ giúp tăng hiệu lực của thuốc so với nước đục.
Khi sử dụng hỗn hợp nhiều dạng thuốc, cần tuân theo trình tự sau: đầu tiên là nước, sau đó là thuốc dạng cốm được khuấy tan, tiếp theo là thuốc dạng bột cũng được khuấy tan, rồi đến thuốc dạng nước được khuấy đều, và cuối cùng là thêm đủ nước trước khi phun.
Để quản lý hiệu quả các đối tượng gây hại, cần hiểu rõ vòng đời và hành vi của chúng, vì mỗi loại có cách phát triển và trú ẩn khác nhau Việc phun hoặc rải thuốc cần chú ý đến vị trí mà chúng thường xuất hiện và tấn công Đặc biệt, trong một số trường hợp, ruộng cần có nước trước khi phun thuốc bảo vệ thực vật, và các bộ phận của cây trồng phải được làm ướt Quan trọng là tuân thủ hướng dẫn từ các chuyên gia kỹ thuật trồng trọt để đạt hiệu quả cao nhất.
Trong quá trình sản xuất, việc sử dụng đa dạng các loại thuốc là cần thiết để phù hợp với từng loại dịch hại, nhằm ngăn chặn sự xuất hiện sớm của chúng.
Chỉ nên pha trộn các loại thuốc trừ sâu thuộc các nhóm khác nhau, như nhóm Carbamate với nhóm Pyrethroid hoặc thảo mộc Nên kết hợp các thuốc có tác động khác nhau, bao gồm tiếp xúc, nội hấp và lưu dẫn, cũng như các thuốc có cơ chế tác động khác nhau như ức chế thần kinh tê liệt và chống lột xác Ngoài ra, có thể pha trộn thuốc trừ sâu với thuốc trừ bệnh và kết hợp với thuốc điều hòa sinh trưởng cây trồng như Dekamon, cùng với phân bón lá.
Thuốc trừ sâu vi sinh có thể hỗn hợp với kali, đạm (trừ urê) nhưng không hỗn hợp được với thuốc có nguồn gốc kháng sinh.
Tổng quan về hiện trạng phát sinh bao gói thuốc bảo vệ thực vật
Mỗi năm, Việt Nam tiêu thụ từ 35.000 đến hơn 100.000 tấn hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV), dẫn đến một lượng lớn bao bì và vỏ đựng, chủ yếu là vật liệu không tự phân hủy, gây hại cho môi trường Đặc biệt, ở các vùng nông nghiệp, việc sử dụng thuốc BVTV của nông dân đang có xu hướng gia tăng (Nguyễn Hồng Sáng, 2016).
Mỗi năm, Việt Nam thải ra khoảng 240 tấn bao bì và vỏ hộp các loại, trong khi lượng thuốc bảo vệ thực vật còn sót lại trên bao bì chiếm trung bình 1,85% trọng lượng của chúng (Phương Mai, 2019).
Các loại hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) tồn lưu rất đa dạng, bao gồm nhiều dạng như thuốc, bột, ống, và cả những loại lẫn trong đất Chúng thường xuất hiện tại các khu vực kho cũ của xã, trong các cơ sở và vườn của hộ dân, cũng như tại kho của Chi cục Bảo vệ thực vật và các trạm phục vụ nông nghiệp.
Các kho thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) hiện đang lưu giữ khoảng 217 tấn và 37.000 lít thuốc BVTV cùng với 29 tấn vỏ bao bì Trong số này có nhiều loại bao bì, vỏ chai và thùng phuy chứa thuốc BVTV không có nhãn mác và không rõ nguồn gốc xuất xứ Đây chủ yếu là các loại thuốc BVTV tồn đọng.
32 lưu từ thập niên 80 trở về trước như: DDT, thuốc diệt chuột, gián, muỗi của Trung Quốc (Báo Sức khỏe và cuộc sống, 2019)
Trong số các địa phương trên cả nước có tồn lưu thuốc BVTV thì Nghệ
An là tỉnh có số điểm tồn lưu thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) lớn nhất cả nước với 954 điểm, trong đó có 268 điểm thuốc Theo Quyết định 1946, có 686 điểm phát sinh ngoài Quyết định này Hiện tại, đã hoàn thành điều tra 240 điểm, còn lại 714 điểm đang trong quá trình điều tra, chủ yếu tập trung ở các huyện như Nghĩa Đàn, Thanh Chương, Tân Kỳ, Yên Thành (Đình Tiệp, 2019).
Ông Hồ Trung Kiên, Phó Cục trưởng Cục Quản lí chất thải và Cải thiện môi trường, cho biết ô nhiễm do tồn lưu hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV) đang trở thành một vấn đề môi trường nghiêm trọng Những hợp chất hữu cơ độc hại này, thuộc nhóm chất POPs như DDT, 666, Aldin, rất bền vững trong môi trường và khó phân hủy sinh học Chúng có thể theo nước mưa thấm sâu vào nguồn nước sinh hoạt, hoặc tồn tại trong không khí, thực phẩm và nước uống, góp phần gây ra các bệnh ung thư.
Nhiều người dân chưa nhận thức được tác hại của rác thải từ thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), với 65% người được khảo sát cho biết họ vứt vỏ bao bì ngay tại nơi pha thuốc (Trung Kiên, 2016) Họ coi bao bì và chai lọ thuốc BVTV là rác thải thông thường, không gây hại, dẫn đến việc vứt bỏ ở bất kỳ đâu Điều này cho thấy sự thiếu hiểu biết về tính độc hại của bao bì thuốc BVTV đối với môi trường và sức khỏe con người Số lượng thuốc BVTV được phun để bảo vệ cây trồng đồng nghĩa với việc lượng rác thải từ bao bì thải ra đồng ruộng cũng rất lớn.
Tổng quan về hiện trạng thu gom, xử lí bao gói thuốc bảo vệ thực vật
Trong thời gian qua, tình trạng ô nhiễm môi trường do vỏ bao bì thuốc
BVTV gây ra nhiều vấn đề phức tạp, đặc biệt là ở các địa phương Sau mỗi vụ sản xuất nông nghiệp, người dân thường thải ra môi trường một lượng lớn bao bì và chai lọ thuốc BVTV, dẫn đến ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng.
Theo Thông tư liên tịch số 05/2016/TTLT-BNNPTNT-BTNMT, người sử dụng thuốc BVTV phải thu gom bao gói sau khi sử dụng và không được trộn lẫn với rác thải sinh hoạt Tuy nhiên, nhiều địa phương hiện nay không thực hiện đúng quy định này do nguồn kinh phí hỗ trợ thu gom và xử lý bao bì thuốc BVTV còn hạn chế Hơn nữa, sau khi thu gom, bao bì thuốc BVTV thường bị đốt hoặc xử lý cùng với rác thải sinh hoạt, không tuân thủ quy định về xử lý an toàn.
Nhiều người dân nhận thức rằng bao bì và vỏ chai thuốc bảo vệ thực vật là rác thải nguy hại cho môi trường Tuy nhiên, do không có bể chứa hoặc bể chứa quá xa, họ thường phải vứt bỏ chúng ngay tại ruộng hoặc gom thành đống nhỏ để chôn lấp hoặc đốt, mà chưa có biện pháp xử lý nào khác.
Theo các nhà khoa học, bao bì thuốc bảo vệ thực vật được xem là chất thải nguy hại, vì khi đốt sẽ phát thải khí Dioxin, một chất gây ung thư Do đó, việc tiêu hủy loại rác thải này cần tuân thủ quy trình đúng và áp dụng phương pháp xử lý an toàn.
Theo Thanh Lê (2009), để nâng cao kiến thức về việc sử dụng an toàn và hiệu quả thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), cần giảm thiểu tối đa các nguy cơ gây độc trong quá trình sử dụng và sau khi sử dụng Nỗ lực này được thực hiện với sự tài trợ từ Tổ chức CropLife.
Vietnam và CropLife Asia, cùng với Chi cục BVTV Kiên Giang và Cục BVTV, đã khởi xướng phong trào “Toàn dân thu gom vỏ chai, bao bì thuốc BVTV đã qua sử dụng để tiêu hủy” Các vật liệu này sẽ được phân loại, đóng gói và vận chuyển đến nhà máy xi măng Holcim Việt Nam ở Hòn Chông, Kiên Giang để tiêu hủy bằng công nghệ đốt nhiệt độ cao Đồng thời, Trung tâm Công nghệ Hóa học và Môi trường (ECHEMTECH) đã nghiên cứu một giải pháp mới cho việc tiêu hủy thuốc BVTV không cần đốt, giúp giảm chi phí xử lý từ 50% đến 60% so với phương pháp truyền thống.
Hình 1.3: Quy trình xử lý thuốc BVTV
Dựa trên tính tan trong nước của thuốc BVTV, GS-TSKH Trần Mạnh Trí đã pha loãng thuốc đến nồng độ cần thiết và xử lý nước chứa thuốc này Ông áp dụng kỹ thuật tích hợp giữa các quá trình phân hủy sinh học và hóa học để hỗ trợ lẫn nhau, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tiếp theo Kết quả là phân hủy hoàn toàn các chất hữu cơ độc hại thành các chất vô hại như CO2, H2O và các axit vô cơ phân tử thấp Hệ tích hợp này bao gồm các quá trình phân hủy hóa học và sử dụng các nhân oxy.
Hấp thụ trên than hoạt tính
Các hóa chất hữu cơ độc hại khó phân hủy được xử lý bằng 35 hóa mạnh, kết hợp với các quá trình phân hủy sinh học sử dụng giá thể có bề mặt lớn để tăng mật độ vi sinh và hiệu quả phân hủy Quá trình hấp thụ vật lý trên than hoạt tính giúp loại bỏ các hợp chất hữu cơ còn sót lại, đảm bảo nước xử lý hoàn toàn sạch Bao bì sau khi rửa sạch thuốc bảo vệ thực vật sẽ được xử lý chung với quy trình trên Bao bì thủy tinh sẽ được tái chế hoặc chuyển đến các công ty sản xuất thuốc bảo vệ thực vật, trong khi bao bì giấy và nhựa sẽ được tiêu hủy trong lò đốt rác công nghiệp hai cấp nhiệt độ.
Cơ sở pháp lí trong quản lí bao gói thuốc bảo vệ thực vật
Thông tư liên tịch 05/2016/TTLT/BNNPTNT-BTNMT, ban hành ngày 16 tháng 5 năm 2016, hướng dẫn quy trình thu gom, vận chuyển và xử lý bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau khi sử dụng Thông tư này nhằm đảm bảo an toàn môi trường và sức khỏe cộng đồng, đồng thời nâng cao ý thức của người dân trong việc xử lý chất thải nông nghiệp.
- Công văn 7838/VPCP – KTN của văn phòng chính phủ về việc xử lí tiêu hủy thuốc bảo vệ thực vật tồn đọng, cần tiêu hủy ở các tỉnh
Thông tư 10/2020/TT-BNNPTNT, ban hành ngày 09 tháng 9 năm 2020, quy định về danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng và cấm sử dụng tại Việt Nam, do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành.