TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Tổng quan về nguyên liệu
Quả bơ (Persea americana) là một loại thực vật có hoa thuộc họ Lauraceae, có nguồn gốc từ cây bơ hoang dại ở Mexico và Trung Mỹ Hiện nay, cây bơ được trồng rộng rãi ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, bao gồm nhiều quốc gia như Mexico, Mỹ, Brazil, Indonesia, và Việt Nam Tại Việt Nam, bơ lần đầu tiên xuất hiện ở tỉnh Lâm Đồng do người Pháp đưa vào từ những năm 1940, và hiện nay diện tích trồng bơ đã mở rộng ra nhiều vùng khác nhau Các vùng sản xuất bơ chính bao gồm Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Lâm Đồng, Đắk Lắk, Phú Thọ, và Quảng Trị.
Cây bơ phát triển tốt trên nhiều loại đất như đất sét pha cát, đất pha sét và đất thịt nặng Đây là loại cây xanh lá quanh năm, với quả có hình dáng đa dạng từ hình cầu đến hình quả lê Quả bơ bao gồm ba phần chính: vỏ, thịt và hạt, với tỷ lệ giữa các phần này phụ thuộc vào giống cây Màu sắc vỏ quả thay đổi từ xanh sáng, xanh nhạt, xanh vàng, tím đến tím sẫm khi chín, trong khi thịt quả thường có màu vàng kem hoặc vàng sáng.
Hình 2.1 Một số hình ảnh về quả bơ 2.1.2 Các giống bơ
Hiện nay, thế giới có nhiều giống bơ, trong đó phần lớn các giống thương mại thuộc ba chủng chính: Mexico, Guatemala và West India Các chủng này được phân biệt bởi một số đặc tính cụ thể.
Bảng 2.1 Đặc điểm của các chủng bơ chính Đặc điểm Chủng Mexico Chủng Guatemala Chủng West India
Lá Lá màu xanh lục, thay đổi về kích thước, mặt dưới nhạt hơn mặt trên
Lá màu xanh sẫm, đọt non màu đỏ tối
Lá to, có màu sắc gần nhƣ đồng đều ở
Kích thước quả Vừa phải, giống quả lê hay đu đủ
Lớn Lớn, cuống quả ngắn Đặc điểm vỏ quả Nhẵn, mềm, trơn láng, khi chín có màu xanh, vàng xanh hay đỏ tím, đỏ sẫm tùy giống
Dày, cấu trúc vỏ thô ráp, màu vỏ thay đổi từ xanh lục đến đen lúc trưởng thành
Vỏ của quả có độ dày trung bình từ 0,8-1,5mm, ban đầu có màu xanh và chuyển sang màu vàng khi chín Hạt của quả tương đối lớn, nhỏ và được giữ chặt bên trong.
Khá lớn và nằm lỏng trong quả, khi chín lắc qua nghe tiếng kêu Hàm lƣợng chất béo
Khả năng chịu lạnh của cây
Không có khả năng chịu lạnh Các giống tiêu biểu Fuerte, Zutano Hayes, Hopkins và
Theo báo cáo của FAS (2017), người dân Việt Nam phân loại bơ dựa vào chất lượng thịt quả, chủ yếu dựa vào hàm lượng lipid Có ba nhóm bơ: bơ sáp, bơ mỡ và bơ nước Bơ sáp có hàm lượng lipid cao nhất, trong khi bơ nước chứa ít lipid và chủ yếu là nước Bơ mỡ có hàm lượng lipid gần bằng bơ sáp nhưng có vỏ sáng bóng hơn Nhìn chung, hàm lượng lipid cao hơn thường mang lại hương vị ngon hơn và giá trị kinh tế cao hơn (Sở Khoa học và Công nghệ Đắk Lắk, 2006).
Theo nghiên cứu của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông- Lâm nghiệp Tây Nguyên, Việt Nam hiện có 83 giống bơ, bao gồm 43 giống thương mại nhập khẩu từ Mexico, Mỹ, Úc và Cuba, cùng với 40 giống bơ nội địa Các giống bơ này được phân thành 2 nhóm phổ biến.
Nhóm giống bơ nội là những giống được chọn lọc bởi các cơ quan, viện nông nghiệp dựa trên tiêu chuẩn năng suất và giá trị kinh tế cao Các giống này được đặt tên và ký hiệu bởi các viện nghiên cứu giống trong nước Một số giống bơ nội tiêu biểu bao gồm bơ 034, TA5, TA3, TA44, HTS1, EST4, và các giống CĐD-BO-41.01 đến CĐD-BO-41.05, cùng với bơ tứ quý và bơ HA.
Nhóm giống bơ ngoại nhập bao gồm các giống bơ được nhập từ các quốc gia trên thế giới, chủ yếu từ Mỹ và Úc Hiện tại, có 10 giống bơ mới được nghiên cứu và khảo nghiệm tại Việt Nam, trong đó có nhiều giống nổi tiếng toàn cầu như Hass, Fuerte, Ettinger, Reed và Booth7 Giống bơ Booth7 được khuyến cáo trồng ở khu vực Tây Nguyên, đặc biệt là ở những vùng có độ cao 800m.
Quả bơ là nguồn năng lượng phong phú, cung cấp nhiều chất dinh dưỡng thiết yếu cho cơ thể, bao gồm chất béo, chất xơ, protein và các vitamin A, C, E Đặc biệt, bơ chứa hàm lượng lipid cao, chủ yếu là chất béo không bão hòa, có lợi cho sức khỏe, với các acid béo không bão hòa như acid oleic và acid palmioleic.
Bảng 2.2 Thành phần dinh dƣỡng của quả bơ ( trong 100g ăn đƣợc)
Thành phần dinh dƣỡng Khối lƣợng
Chất béo không bão hòa đơn 9,8g
Chất béo không bão hòa đa 1,82g
Nguồn: USDA Food Composition Databases, 2017
Quả bơ có tác dụng ổn định huyết áp nhờ vào hàm lượng kali cao và natri thấp, giúp điều chỉnh cân bằng điện giải và áp lực máu trong cơ thể Ngoài ra, bơ còn chứa chất béo có lợi, đóng vai trò quan trọng trong việc giảm huyết áp cho những người mắc bệnh cao huyết áp.
Bơ rất tốt cho tim mạch nhờ vào hàm lượng vitamin E, giúp giảm nguy cơ bệnh tim mạch vành khoảng 30-40% Ngoài ra, bơ còn chứa chất béo không bão hòa lành mạnh, đặc biệt là axit béo không bão hòa đơn, góp phần cải thiện sức khỏe tim mạch.
7 palmioleic, myristoleic) và axit béo không no nhiều nối đôi (linoleic, linolenic,…) giảm nồng độ cholesterol trong máu, ngăn ngừa các vấn đề về tim mạch
Bơ chứa hàm lượng chất béo không bão hòa đơn lành mạnh, giúp giảm cholesterol xấu và ngăn ngừa các bệnh tim mạch Nghiên cứu cho thấy, việc bổ sung bơ vào chế độ ăn hàng ngày trong một tuần có thể giảm 22% cholesterol và triglycerides xấu, đồng thời tăng 11% cholesterol tốt.
Vitamin E trong bơ và các chất chống oxy hóa như lutein, zeaxanthin rất quan trọng cho việc duy trì làn da khỏe mạnh và chắc khỏe Chúng giúp bảo vệ da khỏi tác hại của tia cực tím và ngăn ngừa lão hóa sớm.
Bơ là thực phẩm giàu protein và chất xơ, giúp kiểm soát cơn đói và duy trì cảm giác no lâu hơn Ngoài ra, bơ còn hỗ trợ kiểm soát cân nặng nhờ vào chất béo không bão hòa, giúp cân bằng lượng calo khi tiêu thụ hợp lý.
Bơ chứa nhiều hợp chất thực vật có lợi, giúp ngăn ngừa ung thư hiệu quả Các chất chống oxy hóa như glutathione, vitamin C, E và carotenoid trong bơ cũng góp phần phòng chống một số loại ung thư, bao gồm ung thư miệng, da và tuyến tiền liệt.
Ảnh hưởng của nồng độ xử lý 1-MCP và thời gian bảo quản đến hàm lượng
Quả bơ chứa hàm lượng lipid cao và các acid béo không no cần thiết cho sức khỏe như acid oleic, linoleic và acid palmitoleic, tạo nên giá trị dinh dưỡng và hương vị đặc trưng Nghiên cứu của Nguyễn Minh Nam và cộng sự cho thấy xử lý 1-MCP ở nồng độ 500ppm trong 21 giờ giúp giảm tổn thất quả bơ xuống 4,5% sau 12 ngày bảo quản, thấp hơn so với các nồng độ khác Đặc biệt, hàm lượng lipid tổng số ở mẫu bơ xông 1-MCP 500ppm chỉ giảm 1,8% so với mẫu đối chứng Nghiên cứu của Nguyễn Văn Toản và cộng sự cũng chỉ ra rằng hàm lượng lipid tổng số ở các mẫu bơ có xử lý 1-MCP tăng trong suốt quá trình bảo quản, cho thấy hiệu quả của chất kháng ethylene này.
Hình 2.4 minh họa sự biến động của hàm lượng lipid tổng số trong quá trình bảo quản bơ khi áp dụng xử lý 1-MCP với các nồng độ khác nhau Nguồn: Nguyễn Văn Toản & cs (2017).
Trong 9 ngày đầu tiên của quá trình bảo quản, hàm lượng lipid biến động không đáng kể Tuy nhiên, vào ngày thứ 21, hàm lượng lipid ở mẫu đối chứng và mẫu xử lý 1-MCP 100ppb tăng nhanh, đạt 15,15% và 15,18%, trong khi các mẫu 300 ppb, 500 ppb và 700 ppb tăng chậm hơn Điều này có thể giải thích rằng lipid trong quả bơ chủ yếu tồn tại dưới dạng giọt lỏng trong tế bào chất béo, liên kết bởi protopectin Mặc dù sự tổng hợp lipid ngừng lại sau khi quả tách khỏi cây mẹ, nhưng trong quá trình chín, protopectin bị thủy phân, khiến các tế bào chất béo tách ra và dễ bị phá vỡ, dẫn đến sự gia tăng hàm lượng lipid trong thịt quả theo thời gian, như nghiên cứu của Blakey R.J (2011) đã chỉ ra.
Sự biến động hàm lượng lipid tổng số ở các mẫu khác nhau không giống nhau, với mẫu đối chứng và mẫu xử lý 1-MCP ở nồng độ 100 ppb có tốc độ biến thiên nhanh nhất Mẫu xử lý với dung dịch 1-MCP ở nồng độ 300, 500 và 700 ppb cho thấy khả năng hạn chế tốt nhất sự biến đổi của hàm lượng lipid trong quả bơ, phù hợp với nghiên cứu của Pathirana và cộng sự (2013) về sự thay đổi lipid và chất chống oxy hóa trong bơ khi xử lý với 1-MCP Jeong và cộng sự (2002) cũng khẳng định rằng 1-MCP có khả năng kìm hãm tác động của ethylene, từ đó ức chế hoạt lực của các enzyme phân giải cấu trúc tế bào, làm chậm quá trình biến đổi hàm lượng lipid Hơn nữa, tế bào quả bơ chứa hệ thống chất chống oxy hóa, giúp bảo vệ và chống lại sự phá hủy lipid do oxy hóa (Abd & cs, 2009).
Ảnh hưởng của thời gian xử lý 1-MCP và thời gian bảo quản đến hàm lƣợng lipid tổng số trong quả bơ
Việc áp dụng chất kháng ethylene 1-MCP lên rau quả tươi ở Việt Nam nhằm kéo dài thời gian bảo quản sau thu hoạch vẫn còn mới mẻ và thiếu nghiên cứu Nghiên cứu của Nguyễn Minh Nam và cộng sự (2012) cho thấy, việc xử lý 1-MCP với nồng độ 500ppm trong các khoảng thời gian 12, 15, 18, 21 và 24 giờ ảnh hưởng đến chất lượng quả bơ Cụ thể, thời gian xử lý 1-MCP 12 giờ mang lại chất lượng và giá trị cảm quan tốt nhất cho bơ trong thời gian bảo quản.
Sau 12 ngày bảo quản, 14 mẫu cho thấy hiệu quả tốt nhất so với các thời gian xông còn lại Đặc biệt, hàm lượng lipid tổng số ở mẫu xử lý 1-MCP sau 12 giờ chỉ giảm 0,73% so với mẫu đối chứng vào ngày đầu tiên.
2.5 Ảnh hưởng của xử lý 1-MCP và thời gian bảo quản đến thành phần acid béo trong chất béo của quả bơ
Quả bơ là một loại trái cây đặc biệt, nổi bật với hàm lượng cao các acid béo không bão hòa, bao gồm oleic, palmitoleic, myristoleic, cùng với các acid không bão hòa đơn nhiều nối đôi như linoleic và linolenic.
Theo nghiên cứu của Pathirana & cs (2013), việc xử lý 1-MCP ở nồng độ 1μL/L trong 24 giờ và bảo quản ở 5°C đến ngày thứ 21, sau đó chuyển sang 20°C trong 14 ngày để làm chín quả, cho thấy không có sự thay đổi đáng kể về các acid béo, ngoại trừ hàm lượng acid palmitoleic và acid linoeic Tuy nhiên, sau 14 ngày làm chín, hàm lượng acid béo không bão hòa giảm đáng kể, trong khi hàm lượng acid béo bão hòa tăng lên, cho thấy sự thay đổi này liên quan đến quá trình oxi hóa chất béo.
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu
Giống bơ Booth 7, với thời gian sinh trưởng khoảng 210 ± 10 ngày từ khi ra hoa, được trồng tại huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La Sau khi thu hoạch và xử lý, quả bơ được chuyển đến phòng thí nghiệm của bộ môn Thực phẩm và Dinh dưỡng thuộc Khoa Công nghệ thực phẩm, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam.
+ Hóa chất bảo quản: Chế phẩm 1-MCP, nguồn gốc: Viện Cơ Điện Nông Nghiệp và Công Nghệ Sau Thu Hoạch
+ Hóa chất dùng trong phòng thí nghiệm: Dung môi tinh khiết n-hexan 99% + Hóa chất dấm chín: Ethrel 0,8% hoạt chất
3.1.3 Thiết bị và dụng cụ
+ Tủ lắc vi sinh vật
+ Cân phân tích với độ chính xác ± 0.0001 (g)
+ Đĩa petri, giấy lọc, bình tam giác 100ml, 250ml, pipet 20ml
+ Ống nghiệm nhựa PS trắng trong có nắp 5ml
+ Dây chun cao su, bút viết kính, giấy mã hóa, nút bông, giấy bạc, túi bóng đen + Buồng xông 1-MCP có thể tích 6,3 lít và 19,2 lít
+ Máy cô quay chân không
Phạm vi nghiên cứu
Địa điểm: phòng thí nghiệm Bộ môn Thực phẩm và Dinh dƣỡng, Khoa Công nghệ thực phẩm, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Thời gian: Từ tháng 5/2021 đến tháng 8/2021
Nội dung nghiên cứu
+ Ảnh hưởng của nồng độ xử lý 1-MCP và thời gian bảo quản đến hàm lượng lipid tổng số trong quả bơ
+ Ảnh hưởng của thời gian xử lý 1-MCP và thời gian bảo quản đến hàm lượng lipid tổng số trong quả bơ
+ Ảnh hưởng của xử lý 1-MCP và thời gian bảo quản đến thành phần acid béo trong chất béo của quả bơ
Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Hình 3.1 Quy trình xử lý quả bơ Booth 7 Mộc Châu sau thu hoạch
Thuyết minh quy trình xử lý quả bơ booth Mộc Châu sau thu hoạch:
Quả bơ được thu hái từ các cây có độ tuổi từ 7 đến 10 năm tại Huyện Mộc Châu, Tỉnh Sơn La Những cây này được chăm sóc trong cùng một điều kiện và quả được thu hoạch khi đạt độ già khoảng 210 ± 10 ngày kể từ khi ra hoa.
+ Dụng cụ: Kéo cắt, xốp bọc quả, sọt đựng quả, thùng carton
+ Thời gian thu hoạch: bơ đƣợc thu hoạch vào ngày 2 tháng 10 năm 2020, thời gian 7- 9 giờ sáng
Xử lý tại thời điểm thu hái
Để thu hoạch quả, cần sử dụng kéo và dụng cụ thu hái cắt vuông góc với cuống quả, cách quả khoảng 4-5 mm Sau khi thu hoạch, xếp quả vào các sọt nhựa đã được làm sạch và khử trùng để chuẩn bị cho quá trình xử lý tiếp theo.
Xử lý tại thời điểm thu hái:
Loại bỏ những quả hỏng như quả bị sâu, dập, nứt, trầy xước, dị dạng và không có cuống Sau đó, xử lý bằng cách nhúng cuống và núm vào thuốc SCHOLAR ®230SC (fludioxonil 230g/l) với nồng độ 300ppm và để khô trong 2 giờ.
Vận chuyển về phòng thí nghiệm:
Sau khi thu hoạch, quả bơ được bọc xốp và đóng gói vào thùng carton có lỗ, giúp dễ dàng vận chuyển và giảm thiệt hại trong quá trình chuyển đến phòng thí nghiệm.
+ Bơ đƣợc vận chuyển trong khoảng 10-12 giờ với điều kiện nhiệt độ khoảng
+ Tại phòng thí nghiệm bơ đƣợc lựa chọn kỹ về độ chín và độ đồng đều về kích thước, loại bỏ những quả sâu thối, bầm dập,
Lấy mẫu và cho các quả vào buồng xông, đảm bảo rằng số lượng và khối lượng bơ trong các buồng xử lý là đồng đều.
Thí Nghiệm 1: ảnh hưởng của nồng độ xử lý 1-MCP đến hàm lượng lipid trong quả bơ Chia làm 4 CT
CÔNG THỨC NỒNG ĐỘ( ppb) THỜI GIAN(giờ)
CTĐC Không xử lý Không xử lý
+ Cân chế phẩm 1-MCP 0.03% cho vào đĩa petri, thêm 10ml nước cất 40 0 C -
Ở nhiệt độ 20°C, tiến hành xông 1-MCP với nồng độ 400ppb, 500ppb và 600ppb trong buồng xông, đặt đĩa petri ở giữa và đóng kín buồng Thời gian xông được tính là 16 giờ, trong khi mẫu đối chứng T0 không được xử lý bằng 1-MCP.
Bơ sau khi xử lý sẽ được bảo quản trong túi LDPE dày 0.03mm, có lỗ thoát khí chiếm 1% diện tích, và được lưu trữ trong kho lạnh với nhiệt độ 9°C ± 1°C.
Định kỳ 6 ngày, tiến hành lấy mẫu để phân tích chỉ tiêu lipid tổng số và lipid thành phần Thí nghiệm 2 nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian xử lý 1-MCP đến hàm lượng lipid tổng số, được chia thành 4 công thức thí nghiệm.
CÔNG THỨC NỒNG ĐỘ (ppb) THỜI GIAN (giờ)
CTĐC Không xử lý Không xử lý
+ Cân chế phẩm 1-MCP 0.03% cho vào đĩa petri, thêm 10ml nước cất 40 0 C -
Ở nhiệt độ 50°C, nồng độ 1-MCP là 500 ppb Đặt đĩa petri vào giữa buồng xông và nhanh chóng đóng kín buồng để bắt đầu tính thời gian xông Thời gian xông lần lượt là T1 giờ, T2 giờ, và T3 = 20 giờ ở nhiệt độ 20°C Mẫu đối chứng T0 không được xử lý bằng 1-MCP.
Bơ sau khi xử lý sẽ được bảo quản trong túi LDPE dày 0.03mm, có lỗ thoát khí chiếm 1% diện tích, và được lưu trữ trong kho lạnh với nhiệt độ 9°C ± 1°C.
+ Định kỳ 6 ngày/lần lấy mẫu phân tích chỉ tiêu lipid tổng số và lipid thành phần
3.4.2.1 Phương pháp xác định hàm lượng lipid tổng số bằng phương pháp trích ly động (Ortiz & cs., 2004)
Nguyên tắc: Xác định hàm lượng lipit bằng phương pháp trích ly động Dựa vào tính tan hoàn toàn của chất béo vào dung môi hữu cơ
Sử dụng dung môi hữu cơ n-hexan để trích ly chất béo từ quả bơ Sau khi bay hơi hoàn toàn dung môi, bã còn lại được sấy khô đến khi đạt khối lượng không đổi Cuối cùng, bã được cân để tính toán hàm lượng chất béo có trong sản phẩm thực phẩm.
- Giấy lọc cắt và gấp thành túi nhỏ (hở 1 đầu để cho mẫu vào)
- Chuẩn bị đĩa petri và túi giấy lọc sấy đến khổi lƣợng không đổi (3 tiếng)
- Cân mẫu bơ đã đƣợc sấy đông khô vào túi giấy lọc, đúng 0.25g
- Gấp kín đầu túi còn lại để mẫu không bị thoát ra ngoài
- Lặp lại mỗi công thức 3 lần và làm đến mẫu bơ cuối cùng
- Cân khối lƣợng túi và mẫu
- Chuẩn bị bình tam giác có chứa dung môi n-hexan (tỷ lệ 1g/60ml)
- Cho tất cả các mẫu bơ trên vào bình tam giác theo từng công thức
- Bọc kín miệng bình và thành bình bằng giấy bạc và lắc trong bóng tối 4 giờ
- Sau 4 giờ, rót dung môi đã ngâm vào bình rồi lấy mẫu ra tráng qua bằng dung môi sạch
- Xếp mẫu vào đĩa petri theo từng công thức, sấy ở 105 0 C trong 3 giờ
Cân mẫu lần 1 được thực hiện để xác định hiệu suất trích ly tương đối của lần trích ly thứ nhất, từ đó làm cơ sở điều chỉnh chế độ cho lần lắc thứ 2 một cách phù hợp.
Cho mẫu vào bình tam giác chứa dung môi n-hexan với tỷ lệ 1g/60ml để thực hiện quá trình chiết mẫu lần 2 Bọc kín bình và lắc trong bóng tối trong 4 giờ.
- Lấy mẫu ra, tráng qua bằng dung môi sạch Xếp mẫu vào đĩa theo từng công thức
- Sấy mẫu lần 2 ở 105°C trong 3 giờ
Hàm lƣợng lipit tổng số đƣợc tính theo công thức:
- P là khối lƣợng nguyên liệu đã sấy khô (g)
- P1 là khối lượng mẫu đã sấy khô + giấy lọc gói trước khi ngâm (g)
- P 2 là khối lƣợng mẫu đã sấy khô + giấy lọc sau khi ngâm và sấy (g)
3.4.2.2 Phương pháp phân tích thành phần acid béo trong chất béo của quả bơ (TCVN, 2020)
- Giấy lọc cắt và gấp thành túi nhỏ (hở 1 đầu để cho mẫu vào)
- Chuẩn bị đĩa petri và túi giấy lọc sấy đến khổi lƣợng không đổi
- Lấy mẫu bơ đã đƣợc sấy đông khô vào túi giấy lọc, đúng 5g
- Gấp kín đầu túi còn lại để mẫu không bị thoát ra ngoài
- Lặp lại mỗi công thức 3 lần và làm đến mẫu bơ cuối cùng
- Chuẩn bị bình tam giác có chứa dung môi n-hexan (tỷ lệ 1g/60ml)
- Cho tất cả các mẫu bơ trên vào bình tam giác theo từng công thức
- Bọc kín miệng bình và thành bình bằng giấy bạc và lắc trong bóng tối 4 giờ
Sau 4 giờ, lấy mẫu ra khỏi bình tam giác và xếp vào đĩa theo từng công thức Sau đó, sấy ở 105 độ C trong 3 giờ Dung môi chiết mẫu lần 1 được thu đƣợc, đậy kín và bảo quản trong bóng tối ở nhiệt độ lạnh.
Cho mẫu vào bình tam giác chứa dung môi n-hexan với tỷ lệ 1g/60ml để thực hiện chiết mẫu lần 2 Bọc kín bình và lắc trong bóng tối trong 4 giờ.
- Lấy mẫu ra khỏi bình tam giác Mang dung môi thu đƣợc sau 2 lần chiết đi cô quay ở áp suất 125 bar, nhiệt độ 42°C