1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng cộng sản việt nam lãnh đạo phát triển kinh tế hàng hải từ năm 1996 đến năm 2011

150 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đảng Cộng Sản Việt Nam Lãnh Đạo Phát Triển Kinh Tế Hàng Hải Từ Năm 1996 Đến Năm 2011
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 2,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thế kỷ XXI được thế giới xem là Thế kỷ của đại dương, các quốc gia có biển rất quan tâm đến biển và coi trọng việc xây dựng chiến lược biển. Khu vực Biển Đông, trong đó vùng biển Việt Nam, có vị trí địa kinh tế và địa chính trị rất quan trọng. Với chiều dài bờ biển hơn 3.260km, dọc biển có nhiều vịnh đẹp và 2.779 hòn đảo lớn nhỏ với tổng diện tích 1.636km2; có 37 cảng biển, với 216 bến cảng, 373 cầu cảng với tổng chiều dài khoảng 43.600m và gần 100 địa điểm có thể xây dựng cảng kể cả cảng trung chuyển quốc tế 46. Vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam rộng khoảng trên 1 triệu km2, nằm trên tuyến hàng hải quốc tế, nối liền các trung tâm kinh tế sôi động nhất của thế giới hiện nay. Trong tương lai, kinh tế biển sẽ là một ngành then chốt của nền kinh tế quốc dân. Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, nhân dân Việt Nam coi vùng biển, đảo của Tổ quốc là địa bàn trọng yếu gắn với bước đường sinh tồn, phát triển của dân tộc. Vì vậy, vấn đề khai thác và phát triển kinh tế biển, trong đó có kinh tế hàng hải (KTHH), nhằm phát huytiềm năng to lớn của đại dương, bảo vệ môi trường tự nhiên và môi trường hòa bình trên biển luôn được đặt ra như một tất yếu.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thế kỷ XXI được thế giới xem là "Thế kỷ của đại dương", các quốc gia

có biển rất quan tâm đến biển và coi trọng việc xây dựng chiến lược biển Khu vực Biển Đông, trong đó vùng biển Việt Nam, có vị trí địa kinh tế và địachính trị rất quan trọng Với chiều dài bờ biển hơn 3.260km, dọc biển cónhiều vịnh đẹp và 2.779 hòn đảo lớn nhỏ với tổng diện tích 1.636km2; có 37cảng biển, với 216 bến cảng, 373 cầu cảng với tổng chiều dài khoảng43.600m và gần 100 địa điểm có thể xây dựng cảng kể cả cảng trung chuyểnquốc tế [46] Vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam rộngkhoảng trên 1 triệu km2, nằm trên tuyến hàng hải quốc tế, nối liền các trungtâm kinh tế sôi động nhất của thế giới hiện nay Trong tương lai, kinh tế biển

sẽ là một ngành then chốt của nền kinh tế quốc dân

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, nhân dân Việt Nam coi vùng biển, đảo của Tổ quốc là địa bàn trọng yếu gắn với bước đường sinh tồn, phát triển của dân tộc Vì vậy, vấn đề khai thác và phát triển kinh tế biển, trong đó có kinh tế hàng hải (KTHH), nhằm phát huy tiềm năng to lớn của đại dương, bảo

vệ môi trường tự nhiên và môi trường hòa bình trên biển luôn được đặt ra như một tất yếu

Thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước Việt Namtừng bước nhận thức sâu sắc hơn tầm quan trọng và lợi thế của biển để pháttriển kinh tế biển và các lĩnh vực liên quan đến biển Theo đó, ngành Hàng hảicũng đã có những đổi mới và phát triển cả về cơ cấu tổ chức, hoạt động sảnxuất, kinh doanh Vai trò của kinh tế biển, trong đó có ngành Hàng hải, ngàycàng trở nên quan trọng và được xác định là lĩnh vực mũi nhọn cần ưu tiênđầu tư, nhằm tạo tiền đề, động lực cho các lĩnh vực khác thuộc ngành kinh tếbiển và kinh tế - xã hội (KT-XH) quốc gia phát triển

Tuy nhiên, xét cả mặt chủ quan và khách quan, thực tế cho thấy trong việc khai thác lợi thế từ biển còn không ít hạn chế, khó khăn và yếu kém Quy

mô kinh tế biển và vùng ven biển của Việt Nam vẫn còn chưa tương xứng với tiềm năng, giá trị tổng sản phẩm hàng năm còn nhỏ bé, chỉ bằng 1/20 của Trung Quốc, 1/94 của Nhật Bản, 1/7 của Hàn Quốc và 1/260 kinh tế biển của thế

Trang 2

giới Những năm qua, do chưa có chiến lược tổng thể nên các ngành, các địaphương thiếu căn cứ để quy hoạch Tính đồng bộ của các chủ trương, chínhsách ở tầm vĩ mô, nhận thức về vị trí, vai trò của biển, sự quan tâm phát triểncác lĩnh vực liên quan đến biển trong đó có KTHH của một số cấp ủy đảng,chính quyền các cấp, các ngành, cả Trung ương và địa phương còn nhiều hạnchế Bên cạnh đó, những biến động về tranh chấp chủ quyền trên biển, đảo ởBiển Đông gần đây ngày càng căng thẳng, mang tính chất nghiêm trọng, ảnhhưởng rất lớn đến các hoạt động bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển, hoạtđộng kinh tế biển nói chung và KTHH nói riêng Trước tình hình đó, Đảng vàNhà nước Việt Nam đã nhanh chóng điều chỉnh chiến lược tổng thể trong

phát triển KT-XH nói chung và kinh tế biển nói riêng, trong đó có Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 với mục tiêu: Phấn đấu đưa Việt Nam trở thành

quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, đến năm 2020 kinh tế trên biển vàven biển đóng góp khoảng 53 - 55% tổng GDP của cả nước [65, tr.121-122].Sau năm 2020, sẽ đưa KTHH từ vị trí thứ hai trong các ngành kinh tế biển lên

vị trí hàng đầu Qua đó cho thấy, vị trí, vai trò quan trọng của KTHH trongkinh tế biển và trong chiến lược phát triển KT-XH của đất nước

Nghiên cứu Đảng lãnh đạo phát triển KTHH trong những năm (1996 2011) nhằm khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng về phát triển KTHH,đánh giá ưu điểm, hạn chế và chỉ rõ nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế

-đó, từ đó rút ra những kinh nghiệm lịch sử để vận dụng vào phát triển mạnhhơn nữa KTHH hiện nay, thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà Chiến lượcbiển Việt Nam đề ra, góp phần đưa Việt Nam trở thành một quốc gia mạnh vềbiển là việc làm hết sức cần thiết

Với ý nghĩa đó, tác giả chọn vấn đề "Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh

đạo phát triển kinh tế hàng hải từ năm 1996 đến năm 2011" làm đề tài luận

án tiến sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu làm sáng tỏ quá trình lãnh đạo của Đảng về phát triển

KTHH Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2011; đúc kết một số kinh nghiệm để vận dụng vào phát triển KTHH trong thời kỳ mới đạt kết quả, hiệu quả cao hơn

Trang 3

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ yêu cầu khách quan Đảng lãnh đạo phát triển KTHH từ năm

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu quá trình lãnh đạo của Đảng phát triển KTHH từ năm 1996 đến năm 2011

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng phát triển

KTHH từ năm 1996 đến năm 2011, nhận xét và rút ra những kinh nghiệm.Trong khuôn khổ của luận án, nghiên cứu sinh tập trung nghiên cứu sự lãnhđạo của Đảng trên ba lĩnh vực chủ yếu của kinh tế hàng hải: Công nghiệpđóng tàu, vận tải biển, cảng và dịch vụ cảng biển

- Về thời gian: Nghiên cứu quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo

phát triển KTHH từ năm 1996 (Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, chuyển hướng đất nước sang thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH) đến năm 2011 (Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, tổng kết 25 năm đổi mới toàn diện đất nước trong đó có phát triển KTHH) Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận án, nghiên cứu sinh sử dụng một số tư liệu có liên quan trước năm 1996 và sau năm 2011

- Về không gian: Nghiên cứu trong phạm vi cả nước, tập trung chủ yếu ở

Trang 4

4.2 Nguồn tư liệu

- Các văn kiện, nghị quyết, chính sách, chỉ thị, hướng dẫn của Đảng, Nhànước; các văn bản của Bộ Giao thông vận tải, cơ quan và các đơn vị hàng hảithuộc Bộ Giao thông vận tải về phát triển kinh tế, trong đó có KTHH; các vănbản của các địa phương về phát triển kinh tế biển, kinh tế hàng hải

- Các sách chuyên khảo, luận án, đề tài nghiên cứu khoa học, kỷ yếu, hội thảo khoa học đã công bố có liên quan đến kinh tế biển, KTHH là nguồn tư liệu tham khảo có giá trị giúp cho việc hoàn thành các nội dung nghiên cứu của luận án

4.3 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án, nghiên cứu sinh sử dụng chủ yếu phương pháp lịch sử, phương pháp logic và kết hợp chặt chẽ hai phương pháp đó Đồng thời, còn sử dụng một số phương pháp khác như phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh , nhằm làm sáng tỏ những vấn đề luận án đặt ra phải giải quyết

5 Những đóng góp mới của luận án

- Hệ thống hóa chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng về phát triển KTHH, qua đó khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự phát triển KTHH trong chiến lược phát triển KT-XH của đất nước

- Rút ra những nhận xét, đánh giá kết quả Đảng lãnh đạo phát triển KTHH; đúc kết một số kinh nghiệm lịch sử vận dụng vào giai đoạn mới

- Luận án là nguồn tài liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy Lịch sử Đảng ở các học viện, trường đại học, cao đẳng trong cả nước

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, tổng quan, kết luận, danh mục công trình khoa học của tác giả liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án gồm 3 chương, 6 tiết

Trang 5

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

Do vị trí và tầm quan trọng của KTHH trong nền kinh tế quốc dân, trongnhiều năm qua, nhiều cơ quan lãnh đạo, quản lý, các tổ chức, các nhà khoahọc trong và ngoài nước đã quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khácnhau, được phân thành các nhóm sau:

1.1 Nhóm công trình nghiên cứu về biển, kinh tế biển

Trong cuốn: “Chính sách, pháp luật biển của Việt Nam và Chiến lược phát triển bền vững” của Nguyễn Bá Diến [53], tác giả giới thiệu tổng quan chính sách, pháp luật về biển của Việt Nam và nguyên tắc phát triển bền vững; phân tích về thực trạng và đề xuất một số kiến nghị, giải pháp với mục đích hoàn thiện chính sách về biển của Việt Nam; phân tích và luận giải về một số hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khai thác tài nguyên biển và lĩnh vực quản lý biển giữa nước ta với các nước trong khu vực; phân tích và luận giải chính sách hợp tác quốc tế giữa nước ta với các nước trong quá trình khai thác, sử dụng và quản lý biển, đảo, những thông tin cơ bản, toàn diện, hệ thống chính sách và pháp luật về biển của Nhà nước Việt Nam

Đặc biệt, tác giả đã phân tích sâu về chiến lược phát triển bền vững trong lĩnh vực kinh tế biển, đảo Đồng thời, đánh giá tổng quan thực trạng, nêu rõ yêu cầu và phác thảo một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành về quản lý biển của một số nước, trong đó có Canada và Philippines là hai đối tác chiến lược với Việt Nam trong dự án “Những nguyên tắc trong thực tiễn quản lý biển và đới bờ” Hai nước này có nhiều kinh nghiệm trong việc hoạch định và thực thi chính sách quốc gia, pháp luật

về biển

Các tác giả Đặng Xuân Phương, Nguyễn Lê Tuấn trong cuốn “Quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển, hải đảo” [108], trên cơ sở chủ trương, chính sách pháp luật về vấn đề biển, đảo, các tác giả tập trung làm rõ

Trang 6

chức năng, nhiệm vụ, thực trạng và phương hướng, giải pháp hoàn thiện côngtác tổ chức bộ máy nhà nước về quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất vềbiển, hải đảo, một nội dung tương đối còn mới mẻ đối với khoa học tổ chức,quản lý của Nhà nước ta hiện nay Trong đó, các tác giả tập trung vào hai nội

dung chính: Thứ nhất, gồm những vấn đề cơ bản trong công tác quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển, hải đảo; thứ hai, gồm phương hướng,

giải pháp hoàn thiện một số vấn đề cụ thể trong quản lý nhà nước tổng hợp vàthống nhất về biển, hải đảo như: Hoàn thiện và vận hành thông suốt thể chếquản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển, hải đảo dựa trên đổi mới

tư duy về hoạch định chiến lược, chính sách biển; hoàn thiện bộ máy tổ chức

và phát triển nguồn nhân lực phục vụ quản lý nhà nước và đẩy mạnh công táctuyên truyền về quản lý, bảo vệ, phát triển bền vững biển, hải đảo Việt Namhiện nay

Nhóm tác giả Nguyễn Hồng Thao, Đỗ Minh Thái, Nguyễn Thị Như Mai,Nguyễn Thị Hường: “Công ước Biển 1982 và Chiến lược biển của Việt Nam”[112], góp phần làm rõ quá trình tham gia và thực hiện các quy định, yêu cầutrong Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển quốc tế năm 1982 đối vớimột số quốc gia ven biển, phân tích và đưa ra một số giải pháp cho nước tatrong phát triển kinh tế biển Đồng thời, tiến hành tổng hợp, đánh giá vàphân tích thực trạng quản lý biển, đảo cùng với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền

và các quyền lợi trên biển Trên cơ sở đó, cần xây dựng một chiến lược biểntoàn diện trên tất cả các lĩnh vực cho phù hợp với điều kiện tự nhiên và trình

độ phát triển kinh tế của Việt Nam

Tác giả Nguyễn Văn Để với cuốn: “Kinh tế biển Việt Nam: Tiềm năng,

cơ hội và thách thức” [72], đã tập trung nghiên cứu, làm rõ tình hình quản lý

và khai thác biển ở Việt Nam, đồng thời đưa ra định hướng Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 (theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tư, khóa X) Trên cơ sở đó, cuốn sách nêu lên một

số nhiệm vụ và giải pháp để nâng cao nhận thức về vị trí và vai trò của biển đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; an ninh trên biển và hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với các vấn đề có liên quan đến biển

Trang 7

Tuy nhiên, cuốn sách chưa đề cập đến những hạn chế, yếu kém trongnhận thức về vị trí, vai trò của biển trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổquốc của các cấp, các ngành và nhân dân như: Quy mô kinh tế biển còn nhỏbé; cơ cấu ngành, nghề chưa hợp lý; mới phát triển một phần ở vùng biểnquốc gia, chưa chuẩn bị điều kiện để vươn ra vùng biển quốc tế; công trình

hạ tầng kỹ thuật biển còn yếu kém và chưa đồng bộ, năng lực vận tải biểncòn nhỏ bé, các tuyến đường ven biển chưa được xây dựng hoàn chỉnh vàđồng bộ

Tác giả Thế Đạt: “Nền kinh tế các vùng ven biển của Việt Nam” [71], đã nêu bật được bức tranh toàn cảnh môi trường của phức hệ sinh thái - kinh tế các vùng ven biển Việt Nam, từ các tỉnh, thành phố vùng biển phía Đông Bắc

Tổ quốc như: Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình đến các tỉnh, thành phố vùng biển Nam Bộ như: Thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau v.v… Đặc biệt, tác giả

đã khái quát được đặc điểm kinh tế gắn liền với biển của các tỉnh, vùng biểnViệt Nam Đây là một bức tranh đầy đủ nhất về tiềm năng kinh tế biển, về

sự phát triển kinh tế gắn liền với phát huy lợi thế về biển của các tỉnh, thành phố ven biển Việt Nam Là cơ sở quan trọng để Đảng đề ra chủ trương, đường lối đúng đắn nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế biển ở Việt Nam hiện nay

Tác giả Nguyễn Thanh Minh với cuốn: “Tiềm năng biển Việt Nam vàchính sách hợp tác quốc tế về biển trong thập niên đầu thế kỷ XXI” [94], tácgiả trình bày rõ vị trí, vai trò của biển và việc phân định ranh giới trên biểngiữa Việt Nam và các nước trong khu vực Đồng thời, cũng nêu bật được tiềmnăng của biển và chính sách về biển của Đảng và Nhà nước trong bối cảnhhội nhập quốc tế hiện nay Tuy nhiên, cuốn sách chưa đề cập đến những quanđiểm, chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế biển, trong đó có KTHH,trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cũng như chưa đưa ra nhữnggiải pháp để phát triển kinh tế biển đạt được hiệu quả cao

Tác giả Phạm Ngọc Anh với bài: “Chiến lược phát triển kinh tế biển ViệtNam trong hội nhập quốc tế” [1], tác giả phân tích và làm rõ cơ sở lý luận,thực tiễn của Chiến lược phát triển kinh tế biển Việt Nam với những lợi thế

Trang 8

phát triển, nêu rõ quan điểm, mục tiêu về phát triển kinh tế biển Trong bốicảnh hội nhập quốc tế gắn liền với bảo vệ chủ quyền biển, đảo và an ninhquốc gia, Việt Nam đang hướng tới một chiến lược mới về phát triển kinh tếbiển, xây dựng một quốc gia kinh tế biển, giàu từ biển, mạnh về biển.

Tác giả Nguyễn Đăng Đạo với bài: “Phát triển kinh tế - xã hội vùng venbiển, hải đảo gắn với bảo vệ môi trường và an ninh quốc gia” [69], đã tậptrung phân tích và làm rõ mối quan hệ mật thiết giữa phát triển KT-XH vùngven biển và hải đảo gắn với bảo đảm an ninh, quốc phòng trên biển, bảo vệ vàgiữ vững môi trường biển Tác giả khẳng định, nếu không phát triển KT-XH

ở những vùng ven biển và hải đảo thì không thể góp phần đảm bảo an ninh,quốc phòng trên các vùng biển, đảo và không thể góp phần bảo vệ chủ quyền

và gìn giữ môi trường biển

Tác giả Phạm Đức Ngoan với bài: “Tiềm năng và vấn đề đặt ra của kinh

tế biển Việt Nam” [100], đã nêu bật được tiềm năng và thế mạnh của biển Việt Nam là rất phong phú và đa dạng, nếu biết khai thác một cách hợp lý và

có hiệu quả sẽ tạo điều kiện cho kinh tế phát triển nhanh và bền vững Tác giả cũng chỉ ra những bất cập trong công tác quản lý, khai thác nguồn tài nguyên biển ở Việt Nam hiện nay như: Tình trạng nhiều bộ, ngành cùng tham gia quản lý khai thác tài nguyên biển, đảo; sự phối hợp giữa các bộ, ngành còn thiếu chủ động, chức năng quản lý biển, đảo còn chồng chéo, dẫn đến bất cập trong thực hiện quy hoạch cũng như khai thác, bảo vệ môi trường biển và sử dụng tiềm năng biển, đảo của Việt Nam

Tác giả Trương Minh Tuấn với bài: “Việt Nam với mục tiêu phát triển kinh tế biển, đảo bền vững trong “thế kỷ của đại dương” [140], đã nêu được

cơ sở lý luận của mục tiêu Chiến lược phát triển kinh tế biển Việt Nam đến năm 2020, nhằm đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề gắn với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả Đồng thời cho rằng, việc phát triển kinh tế biển hiện nay vẫn chưa xứng tầm với các điều kiện và lợi thế địa kinh tế và địa chính trị của Việt Nam Tác giả đề xuất những nhóm

Trang 9

giải pháp cần được quan tâm triển khai một cách đồng bộ như kết hợp chặtchẽ giữa phát triển KT-XH với bảo đảm quốc phòng, an ninh, hợp tác quốc tế;chú trọng công tác quy hoạch và tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách, luậtpháp về lĩnh vực biển; hình thành và phát triển một số ngành kinh tế mũi nhọnphù hợp với lợi thế của các vùng biển, đảo; cần phát triển hợp lý không gianKT-XH vùng biển và ven biển Từ đó, phát huy những thành tựu đã đạt,đồng thời tổ chức triển khai thực hiện một cách đồng bộ, mạnh mẽ của cáccấp, các ngành, cổ vũ động viên, khuyến khích nhân dân nâng cao tinh thầnthi đua yêu nước, yêu biển, đảo quê hương.

Tác giả Nguyễn Đức Phương với đề tài: “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc từ năm 1986 đến năm 2001” [105], tác giả hệ thống được những chủ trương của Đảng về bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc từ năm 1996 đến năm 2001 và quá trình thực hiện đường lối của Đảng vào bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc thông qua các kỳ Đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ Đại hội lần thứ VI đến Đại hội lần thứ IX Từ

đó, rút ra những kinh nghiệm trong quá trình Đảng lãnh đạo bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc

Cùng tác giả Nguyễn Đức Phương với đề tài: “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc từ năm 2001 đến năm 2011” [107], đã góp phần hệ thống các chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc từ năm 2001 đến năm 2011 Trong đó, tác giả nhấn mạnh việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo là một yêu cầu khách quan đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như trong phát triển KT-XHcủa đất nước hiện nay Đồng thời, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong việc tăng cường bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc kết hợp với phát triển kinh tế biển từ năm 1996 đến năm 2011 là đúng đắn và phù hợp với yêucầu khách quan Từ đó, đánh giá và rút ra một số kinh nghiệm từ quá trình Đảng lãnh đạo bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc từ năm 2001 - 2011

Tác giả Nguyễn Thanh Minh với đề tài: “Quá trình triển khai chính sách biển của Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2010” [97], đã nêu bật được các cơ

Trang 10

sở hình thành và nội dung chính sách biển của Việt Nam, trong đó xác định rõ

vị trí và vai trò của biển đối với sự phát triển KT-XH Đồng thời, đưa ra đượcnhững dữ kiện lịch sử và pháp lý để xác lập các vùng biển thuộc chủ quyền,quyền chủ quyền và tài phán của quốc gia, quá trình triển khai những nộidung, chính sách về biển của Việt Nam hiện nay trên tất cả các lĩnh vực anninh, quốc phòng, kinh tế biển, hợp tác quốc tế về biển, phân định biển và bảo

vệ môi trường biển Trên cơ sở đó, tác giả đã nêu lên một số kinh nghiệmtrong quá trình triển khai chính sách về biển của Đảng và Nhà nước hiện nay.Tác giả Nguyễn Thị Anh với đề tài: “Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo phát triển kinh tế biển từ năm 1996 đến năm 2010” [2], đã tập trung làm

rõ những chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ thành phố Hải Phòng trong phát triển kinh tế biển từ năm 1996 đến năm 2010, những kết quả đạt được trong quá trình phát triển kinh tế biển đã giúp cho Hải Phòng vươn lên trở thành một trong những trung tâm kinh tế biển năng động và phát triển ở vùng đồng bằng Bắc bộ Qua đó, tác giả cũng đưa ra một số nhận xét và đúc rút những kinh nghiệm trong quá trình Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo phát triển kinh tế biển như nhận thức đúng được vị trí, vai trò của kinh tế biển trong phát triển KT-XH của thành phố; phát triển kinh tế biển toàn diện, phù hợp với tiềm năng và xu thế phát triển của địa phương v.v Những kết quả

mà thành phố Hải Phòng đạt được trong phát triển kinh tế biển sẽ là mô hình cho các tỉnh có biển trong cả nước tham khảo và học tập

Bên cạnh những công trình nghiên cứu của các học giả trong nước, còn

có các công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài Một trong những cuốn sách nổi tiếng thế giới được nhiều quốc gia dịch, phát hành và coi đây là cuốn cẩm nang trong phát triển kinh tế biển của tác giả Alfred Thayer Mahan, Phạm Nguyên Trường dịch (1890), sách: “Sức mạnh biển đối với lịch sử thời

Trang 11

Mahan đã tổng kết kinh nghiệm lịch sử của các cường quốc mạnh về biển trên thế giới và cho rằng: Sự ham muốn của loài người đối với biển là sự ham muốn vận chuyển, tức là buôn bán Buôn bán trong bất kỳ thời đại nào cũng đều có thể trở nên giàu có, của cải là sự thể hiện sức mạnh của quốc gia Của cải có quan hệ chặt chẽ với biển cả và chính biển cả là điểm xung đột của tất cả những quốc gia muốn trở nên giàu có và hùng mạnh.

Mahan cho rằng, các quốc gia muốn phát triển mạnh thì phải kiểm soátbiển, phải giành lấy và giữ quyền kiểm soát biển, nhất là kiểm soát các tuyếngiao thông biển huyết mạch liên quan đến lợi ích và ngoại thương của quốcgia mình - sức mạnh biển là nhân tố chính làm cho đất nước giàu mạnh.Muốn thế, phải có lực lượng hải quân và đội thương thuyền mạnh cùng vớimột số các căn cứ địa trên biển Cuốn sách của Mahan có ảnh hưởng lớnđến chính sách ngoại giao của các nước và mô hình phát triển kinh tế biển củacác nước này

Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu trực tiếp về Biển Đông,Hoàng Sa, Trường Sa như: “Phân tích về địa lý - chính trị cuộc xung đột vàtranh chấp biên giới Việt - Trung liên quan đến quần đảo Hoàng Sa vàTrường Sa ở biển Nam Trung Hoa” của Peaun Medes Antunes [102]; “Cácđảo tranh chấp ở vùng biển Nam Trung Hoa, Hoàng Sa - Trường Sa - Pratas -Bãi Maccelesfield”, công trình nghiên cứu của Viện Nghiên cứu các vấn đềchâu Á tại Hamburg; “Quần đảo Trường Sa: Liệu có còn thích hợp khi tranhcãi về vấn đề chủ quyền”, công trình nghiên cứu của Viện nghiên cứu Khoahọc pháp lý (trường Đại học Tổng hợp Philippines); “Chủ quyền trên hai quầnđảo Hoàng Sa, Trường Sa: Thử phân tích lập luận của Việt Nam và TrungQuốc” của Từ Đặng Minh Thu; “Lập trường của Trung Quốc trong tranhchấp chủ quyền trên hai hòn đảo Hoàng Sa, Trường Sa và luật pháp quốctế” của Đào Văn Thụy; “Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và sự sử dụng luậtpháp quốc tế trong tranh chấp chủ quyền quần đảo Trường Sa” của MichaelBennett

Điểm chung của các công trình nghiên cứu về tình hình Biển Đông, nhất

là tình hình tranh chấp chủ quyền trên biển giữa các quốc gia trong khu vực đều khẳng định: Biển Đông đang là “vùng biển nóng”, nơi hội tụ nhiều mâu

Trang 12

thuẫn về kinh tế, chính trị của khu vực vă thế giới; tranh chấp chủ quyền trínbiển ở khu vực vừa lă vấn đề của lịch sử, vừa lă vấn đề của hiện tại đang diễn

ra hết sức phức tạp, tiềm ẩn nhiều yếu tố khó lường

1.2 Nhóm công trình nghiín cứu về kinh nghiệm của câc quốc gia phât triển kinh tế biển trín thế giới

Trong câc cuốn sâch “Lịch sử kinh tế của câc nước đảo trín thế giới” của tâc giả Thế Đạt [70] vă “Chiến lược phât triển kinh tế ven biển Trung Quốc” của tâc giả Đoăn Văn Trường [137], về cơ bản câc công trình nghiín cứu tập trung những vấn đề sau:

Thứ nhất, khâi quât quâ trình xuất hiện của “tư duy biển” trong lịch sử

phât triển của loăi người Theo câc tâc giả, câch đđy hơn 2000 năm, triết gia

cổ đại La Mê Cecero nói: “Ai kiểm soât biển thì người đó kiểm soât cả thế giới” Câc dđn tộc ở Tđy vă Bắc chđu Đu từ cổ xưa đê đóng thuyền vượt đại dương đi khắp nơi buôn bân, chiếm đất Câc nước như Tđy Ban Nha, Bồ Đăo Nha, Anh, Hă Lan , tranh giănh nhau lăm bâ chủ trín biển để thực hiện bằng được tư tưởng của Bâ tước Uon-Loi: Ai khống chế biển, người ấy khống chế buôn bân, ai khống chế buôn bân, người ấy khống chế của cải của thế giới

Thứ hai, khâi quât được mô hình phât triển kinh tế biển vă quản lý biển

của một số quốc gia trín thế giới như Mỹ, Trung Quốc, Liín Bang Nga, Nhật Bản, Canada Xĩt dưới góc độ khâi quât mô hình phât triển kinh tế biển của câc quốc gia, tập trung văo: Thúc đẩy câc ngănh nghề biển phât triển phong phú, sôi động (đặc biệt lă ngoại thương); đẩy mạnh khai thâc vùng biển quốc tế; xđy dựng hệ thống quản lý toăn diện vùng biển thuộc chủ quyền biển quốc gia; lăm cho quốc gia năng động hơn trín đại dương (xđy dựng lực lượng hải quđn với trang thiết bị hiện đại, đẩy mạnh phât triển khoa học biển)

Tâc giả Ngọc Hiền với băi: “Xđy dựng hănh lang kinh tế biển một trongnhững mục tiíu Chiến lược biển của Trung Quốc trong tương lai” [78], đê níulín những ý tưởng của Trung Quốc trong việc xđy dựng một hănh lang kinh tếbiển với sự tham gia của câc nước ASEAN, Đông Timo, Papua Niu Ghiní văÔxtrđylia (ASEAN - Hiệp hội câc quốc gia Đông Nam Â) Hănh lang kinh

tế năy có tầm quan trọng, được thể hiện thông qua một số lĩnh vực như: Xđy

Trang 13

dựng tuyến đường thương mại du lịch Tây Thái Bình Dương giữa Bắc vàNam bán cầu, nối liền từ Trung Quốc qua các nước ASEAN đến Châu ĐạiDương; công cuộc mở cửa của Trung Quốc được mở rộng về phía ĐôngNam, giúp quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và ASEAN được cân bằng;giúp điều hòa quyền lợi từ nguồn tài nguyên thiên nhiên trong lòng đạidương giữa các nước một cách công bằng hơn; có vai trò trong việc hợp tácbảo vệ môi trường và tài nguyên; các nước trong hành lang kinh tế biển cùngnhau tìm kiếm phương thức hợp tác mới trong khu vực.

Như vậy, đối với Trung Quốc, việc xây dựng hành lang kinh tế biển như một con đường rộng lớn để thu hút nguồn tài nguyên thiên nhiên được mở xuống khu vực phía Đông Nam Chính vì thế, Trung Quốc đang ra sức đẩy mạnh và phát huy vai trò đầu tàu thể hiện bằng những bước đi, trước hết là thương thảo sớm với các nước chủ yếu ven trục hành lang như

Malaysia, Inđônêsia, Philipines và Ôxtrâylia tiếp theo là tăng cường mức độkhai thác khu vực phía Nam Biển Đông, điều tra nghiên cứu tiềm lực phát triển ở các trung tâm, các thành phố và các khu vực dọc hành lang để đưa ra những phương án phát triển

Tác giả Ngọc Hiền với bài: “Chiến lược kinh tế biển của Hợp chủngquốc Hoa Kỳ” [79], đã nêu bật vai trò của biển trong thế kỷ XXI, đây lànhững lý do để các nhà chiến lược xem thế kỷ XXI là “thế kỷ của đại dương”.Qua đó, cho thấy các nhà chiến lược Hoa Kỳ đã nhận thức rất rõ vai trò củabiển đối với quá trình phát triển KT-XH của quốc gia mình, đồng thời đưa rachính sách quốc gia về biển dựa trên quan điểm chủ đạo "Thế giới hài hòa,đại dương hài hòa" Qua chiến lược kinh tế biển của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ,

sẽ giúp cho các nước có biển khai thác và phát triển tài nguyên biển tích cựchơn Trước tiên, các quốc gia sẽ khai thác nguồn năng lượng, sau đó làkhoáng sản, trong đó có một số kim loại và tiếp đến là các ngành nghề mangtính truyền thống liên quan đến biển như vận tải biển, đóng tàu, đánh bắt hảisản, du lịch biển Ngoài ra, các ngành công nghiệp hóa chất, tận dụng nguồnnước biển và khoa học công nghệ về biển, du lịch và dịch vụ giải trí biển sẽ

là các ngành phát triển mạnh trong tương lai

Trang 14

Tác giả Nguyễn Tương với bài: “Kinh nghiệm của ASEAN trong việc phát triển dịch vụ vận tải biển” [141], đã nêu bật những kinh nghiệm của các nước ASEAN (trừ Lào) trong việc phát triển vận tải biển Tuy nhiên, bên cạnh việc nêu một số kinh nghiệm của các nước ASEAN trong việc phát triển dịch

vụ vận tải biển, tác giả chưa đề cập tới những kinh nghiệm của Việt Nam trong việc học tập mô hình phát triển vận tải biển của các nước ASEAN trong

đó có Singapore; thực trạng và kết quả đạt được từ việc học tập kinh nghiệm đó

Tác giả Đoàn Văn Trường với bài: “Thẩm quyến thần kỳ - hiện đại hóa -quốc tế hóa”; Thông tin chuyên đề số 8: “Chiến lược và mô hình quản lý biển của một số nước” của Văn phòng Trung ương Đảng Xét một cách tổng quát, các công trình nêu trên đều nhấn mạnh biển là nơi đem lại tiềm lực tài chính, sức mạnh quân sự, ngoại giao của các quốc gia có biển, điển hình như Nga, Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc… Bởi vậy, các nước đều có chính sách phát triển mạnh các ngành nghề biển, đặc biệt là ngoại thương; đẩy mạnh khai thác vùng biển quốc tế, làm cho quốc gia năng động hơn trên đại dương bằng việc xây dựng lực lượng hải quân với trang thiết bị hiện đại, đẩy mạnh phát triển khoa học biển và xây dựng chính sách quản lý nghiêm ngặt vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia mình Mô hình phát triển kinh tế, quản lý biển của Trung Quốc và các cường quốc biển lớn trên thế giới đã để lại nhiều kinh nghiệm quý báu cho những nước đang trên đường vươn ra biển lớn như Việt Nam

Trong Đề án của Viện Chiến lược và Phát triển Giao thông vận tải:

“Những kinh nghiệm phát triển cảng biển của Nhật Bản” [146], có nhiều nộidung liên quan đến nhu cầu phát triển cảng biển của Việt Nam Tuy nhiên, Đề

án mới chỉ dừng lại ở việc liệt kê và đưa ra những kinh nghiệm phát triển cảngbiển ở Nhật Bản Việc áp dụng đề án vào phát triển cảng biển ở Việt Namcòn nhiều vướng mắc Đồng thời, những kinh nghiệm này chưa đề cập đếnnhững biện pháp thu hút nguồn vốn nhằm giúp cho các doanh nghiệp khai tháccảng biển phát triển thuận lợi

1.3 Nhóm công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến phát triển kinh tế hàng hải

Tác giả Nguyễn Ngọc Huệ với bài: “Quy hoạch cảng biển Việt Nam cần tính khoa học và đồng bộ” [83], đã nêu lên công tác quy hoạch về dự báo nhu

Trang 15

cầu hàng hoá thông qua các cảng biển quan trọng trên cả nước như quy hoạch

về cảng biển, đội tàu và dịch vụ cảng biển Tuy nhiên, tác giả chưa nêu đượcthực trạng của hệ thống cảng biển Việt Nam với hàng vạn mét vuông khotàng, bãi chứa hàng và hàng trăm cảng biển đang hoạt động; sản lượng hànghóa thông qua cảng hàng năm có tăng nhưng không cao, các cảng vẫn chưakhai thác hết tiềm năng và thế mạnh của mình trong phát triển kinh tế

Tác giả Nguyễn Đức Ngọc với bài: “Vinashin và Chiến lược kinh tếbiển” [101], góp phần nêu bật vai trò của biển và kinh tế biển trong quá trìnhphát triển KT-XH của các quốc gia có biển, trong đó có Việt Nam Đồng thờinêu rõ, muốn ra biển, trước hết phải đóng tàu, muốn đóng tàu phải có cơ sởcông nghiệp Thực tế, Việt Nam đã làm được việc này từ lâu, nhưng tới thờiđiểm này cách làm phải khác, có nghĩa là Việt Nam phải hội nhập, phải xuấtkhẩu và phải tiêu dùng cho chính mình

Vinashin là một tập đoàn kinh tế mạnh thuộc lĩnh vực sản xuất côngnghiệp đóng tàu, nhằm xây dựng đội tàu mạnh để phát triển những ngành dịch

vụ mũi nhọn như vận tải biển, tạo điều kiện đảm bảo an ninh, an toàn chonhững người dân hoạt động trên biển, đảo Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập đầy

đủ, rõ ràng về mục tiêu, phương hướng phát triển của Vinashin trong thờigian tới

Tác giả Đặng Đình Đào với bài: “Phát triển dịch vụ logistics ở ViệtNam” [67], đã tập trung phân tích và làm rõ được sự phát triển dịch vụlogistics ở Việt Nam là cơ hội và thách thức trong quá trình hội nhập Tácgiả cho rằng, logistics là lĩnh vực có ý nghĩa rất quan trọng trong sản xuất

và lưu thông hàng hóa, góp phần vào quá trình phát triển kinh tế đất nước

Về hệ thống cơ sở hạ tầng, đặc biệt là về vận tải đường biển, tác giả khẳngđịnh Việt Nam chỉ có khoảng 20 cảng biển trong số 266 cảng biển có thểtham gia vào hoạt động vận tải hàng hóa quốc tế và khu vực Đây là vấn đềbất cập cần phải được các cơ quan chuyên môn xem xét và triển khai mộtcách đồng bộ, để xứng với tiềm năng của biển và đáp ứng nhu cầu pháttriển của đất nước trong tương lai

Trang 16

Tác giả Trần Văn Hiếu với bài: “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp pháttriển dịch vụ phục vụ hoạt động của các cảng biển trên địa bàn thành phố HảiPhòng từ năm 2010 đến năm 2020” [80], từ việc nghiên cứu thực trạng pháttriển hệ thống cảng biển và các ngành dịch vụ trong và ngoài cảng tại HảiPhòng giai đoạn 2002 - 2006, tác giả đã chỉ ra những yếu kém còn tồn tạicũng như những thách thức trong thời gian tới khi nền kinh tế đất nước pháttriển nhanh, đòi hỏi hệ thống cảng biển khu vực Hải Phòng và các ngành dịch

vụ ngoài cảng phải phát triển phù hợp Đồng thời, tác giả cũng nghiên cứuđưa ra những giải pháp phát triển hệ thống cảng biển và cảng tại Hải Phòngnhư: Cần hoàn thiện kết cấu hạ tầng cũng như các trang thiết bị tại cảng; đổimới công nghệ xếp dỡ; sắp xếp doanh nghiệp theo hướng tập đoàn kinh tế đủsức cạnh tranh với khu vực và quốc tế; đào tạo nâng cao chất lượng nguồnnhân lực; đổi mới cơ chế chính sách thúc đẩy phát triển hoạt động cảng;khuyến khích phát triển các loại hình dịch vụ…

Tác giả Đinh Ngọc Viện với đề tài: “Nghiên cứu các giải pháp tăng năng lực cạnh tranh của ngành Hàng hải Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế” [145], đã trình bày nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về thực trạng của ngành Hàng hải Việt Nam (HHVN) trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế; vị trí, vai trò của biển, đảo Việt Nam hiện nay trong quá trình phát triển KT-XH của đất nước; thực trạng ngành vận tải biển Việt Nam và vấn đề

dự báo đội tàu biển của Việt Nam đến năm 2010

Nguyễn Thị Minh Châm với đề tài: “Hoàn thiện hạch toán chi phí, doanh thu và kết quả hoạt động kinh doanh vận tải biển tại Tổng Công ty Hànghải Việt Nam” [28], đã đưa ra quá trình hạch toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh vận tải biển; thực trạng, phương hướng và giải pháp trong kinh doanh vận tải biển tại Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam

Trần Đào Diệu Linh với đề tài: “Thu hút vốn đầu tư nước ngoài pháttriển hệ thống cảng biển Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” [90], đã nêu lênthực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong việc phát triển hệ thống cảngbiển Việt Nam giai đoạn 2001 - 2007, thông qua các kênh đầu tư như: Thu hút

Trang 17

viện trợ phát triển chính thức của nước ngoài; thu hút vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra một số giải pháp để tăng cườngthu hút vốn đầu tư nước ngoài vào phát triển hệ thống cảng biển Việt Namnhư: Nâng cao chất lượng quy hoạch và tăng cường công tác quản lý quyhoạch phát triển hệ thống cảng biển; hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật vềquản lý cảng biển Việt Nam; cải tiến mô hình quản lý khai thác cảng biển;tăng cường đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; tiếp tục thực hiệncác chính sách thu hút đầu tư nước ngoài nói chung

Như vậy, tác giả đã nêu thực trạng và đề xuất những giải pháp để thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào việc phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam Tuy nhiên, tác giả vẫn chưa nêu cụ thể những chủ trương của Đảng trong việc phát triển hệ thống cảng biển, đặc biệt là chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài thông qua nguồn vốn ODA và FDI

Tác giả Vũ Trụ Phi với đề tài: “Nghiên cứu các giải pháp về vốn để phát triển đội tàu vận tải biển nòng cốt của Việt Nam” [103] và đề tài của TổngCông ty HHVN: “Nghiên cứu khai thác nguồn vốn đầu tư để hiện đại hóa đội tàu biển Việt Nam giai đoạn đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” [132], nhìn chung, các đề tài trên đã phân tích tình hình thực trạng đội tàu biểnViệt Nam và đưa ra những giải pháp nhằm thoát khỏi sự bó hẹp về vốn để phát triển đội tàu: Sự hỗ trợ của Nhà nước, áp dụng khấu hao nhanh, thanh lý tàu cũ, bán và thuê tàu mới, huy động vốn tiết kiệm của người lao động, huy động vốn từ thị trường chứng khoán, mua thuê tài chính Đề tài thực hiện khi nền kinh tế chưa chịu sự cạnh tranh gay gắt khốc liệt như hiện nay, đặc biệt giai đoạn này chưa chịu ảnh hưởng của sự khủng hoảng kinh tế thế giới giai đoạn 2007 - 2009, nên nhiều biện pháp huy động vốn không phù hợp với tình hình hiện tại

2 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ

Phát triển kinh tế biển nói chung và KTHH nói riêng là những vấn đề lớn, mang tính thời sự trong giai đoạn hiện nay, vì thế luôn được các nhà nghiên cứu quan tâm Tổng quan kết quả nghiên cứu của các công trình có liên quan đến đề tài cho thấy, các công trình dưới các góc độ khoa học và trên

Trang 18

nhiều bình diện khác nhau đã đề cập đến nhiều vấn đề liên quan tới phát triểnkinh tế biển nói chung và KTHH nói riêng Các công trình đã đi sâu luận giảilàm rõ một số nội dung sau:

- Tầm quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế biển đối với sự phát triển KT-XH của đất nước, khu vực và thế giới

- Vị trí, vai trò của biển, đảo Việt Nam đối với sự phát triển KT-XH và bảo vệ an ninh, quốc phòng

- Vai trò của khoa học và công nghệ đối với công tác quản lý phát triển kinh tế biển, đảo

- Có một số công trình nghiên cứu đề xuất chủ trương, giải pháp phát triển kinh tế biển, KTHH Việt Nam trong thời kỳ mới

- Một số công trình đi sâu tổng kết, đúc rút kinh nghiệm của Việt Nam

và của một số nước ASEAN, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Canada…., trong phát triển kinh tế biển, KTHH

Như vậy, các công trình trên đều chưa đề cập có hệ thống và đầy đủ về các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về phát triển KTHH (1996 - 2011) Một số công trình có đề cập đến nhưng là những vấn đề mang tính cụ thể, đơn lẻ của một số ngành, một số địa phương Đây được coi là những “khoảng trống” luận án cần tập trung nghiên cứu và làm rõ

3 NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN TẬP TRUNG GIẢI QUYẾT

Từ những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án được trình bày ở trên, luận án tập trung nghiên cứu những nội dung chủ yếu sau:

1 Làm rõ vị trí, vai trò của KTHH; thực trạng phát triển KTHH ở ViệtNam trước năm 1996, xuất phát từ tình hình thực tiễn thế giới và Việt Namtrong những năm 1996 - 2011

2 Phân tích và luận giải làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo phát triểnKTHH của Đảng (1996 - 2011), tập trung vào ba lĩnh vực chủ yếu: Côngnghiệp đóng tàu, vận tải biển, cảng và dịch vụ cảng biển

3 Đánh giá những thành tựu, hạn chế trong quá trình Đảng lãnh đạo pháttriển KTHH trên một số lĩnh vực chủ yếu từ năm 1996 đến năm 2011; đúc kếtnhững kinh nghiệm lịch sử để vận dụng vào quá trình Đảng lãnh đạo pháttriển KTHH trong giai đoạn tiếp theo

Trang 19

Chương 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ HÀNG HẢI

TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2001

1.1 YÊU CẦU KHÁCH QUAN ĐẢNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ HÀNG HẢI (1996 - 2001)

1.1.1 Vị trí, vai trò kinh tế biển, kinh tế hàng hải

- Khái niệm kinh tế biển và kinh tế hàng hải:

Khái niệm kinh tế biển:

Hiện nay, trên thế giới, các nước chưa có sự thống nhất về khái niệm kinh tế biển, bởi mỗi quốc gia biển có cách nhìn riêng phụ thuộc vào giá trị đóng góp của nó đối với nền kinh tế quốc dân

Theo các học giả Dương Kim Thâm, Lương Hải Tân và Hoàng Minh Lỗ(Trung Quốc) cho rằng, kinh tế biển được hiểu bao gồm ba loại ngành nghềtheo các thời kỳ khác nhau là: Nghề biển truyền thống, nghề biển mới pháttriển và nghề biển tương lai Trong đó, nghề đánh bắt hải sản, làm muối vàvận tải biển là những ngành nghề truyền thống và cũng là nghề lâu dài

Theo Hamzah Ahmad - Tiến sĩ, Viện trưởng Viện nghiên cứu biểnMalaysia thì kinh tế biển là một ngành cung cấp cơ sở cho sự tăng trưởng vàphát triển của đất nước bao gồm: Ngành đánh bắt ven bờ và xa bờ, ngưnghiệp ven biển, nuôi trồng thủy sản và ngư nghiệp ven bờ hay nghề “lộngcá”; ngành công nghiệp dầu khí; ngành vận tải hàng hải; vận tải duyên hải venbiển và đại dương; ngành du lịch biển; ngành đóng tàu và sửa chữa tàu thuyền

đi biển; các dịch vụ cảng hàng hải Ngoài ra, trong kinh tế biển còn có ngànhquản lý và quốc phòng hải quân tuy không trực tiếp hoạt động kinh tế nhưng

là ngành thiết yếu mang lại an ninh trên biển và bảo vệ đường biển

Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu kinh tếcũng đã quan tâm nhiều đến phát triển kinh tế biển, tuy nhiên vẫn chưa thậtthống nhất về khái niệm kinh tế biển

Trong cuốn Kỷ yếu hội thảo quốc gia về “Tầm nhìn kinh tế biển và pháttriển ngành thủy sản Việt Nam” tổ chức tại Hà Nội năm 2007 do PGS TS

Trang 20

Nguyễn Chu Hồi (chủ biên), tác giả cho rằng, kinh tế biển là kéo dài của kinh

tế đất liền Cư dân biển phải khác hẳn với cư dân nông nghiệp lúa nước Kinh

tế biển phải được đặt trong bối cảnh hội nhập và đảm bảo an ninh, quốcphòng để hình thành một yếu tố an ninh biển tổng hợp

Trong các nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trungương Đảng khóa VII, VIII; trong Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 vàVăn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (1/2011) nêu ra định hướng vềkinh tế biển “Đối với vùng ven biển, biển và hải đảo gồm: Phát triển kinh tếven biển, biển và hải đảo theo định hướng Chiến lược biển đến năm 2020”[66, tr.203], và chỉ rõ tầm quan trọng của kinh tế biển đối với sự phát triểnKT-XH Đồng thời, cũng đã chỉ ra các ngành cụ thể trong kinh tế biển

Từ những quan niệm về kinh tế biển nêu trên, nghiên cứu sinh cho rằng: Khi nói tới kinh tế biển, tức là nói tới một khu vực hay một vùng kinh tế dùng

để phân biệt với vùng kinh tế đất liền, cũng giống như khi nói tới kinh tế nông thôn là dùng để phân biệt với khu vực kinh tế thành thị trong một quốc gia Theo đó, kinh tế biển là: Toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển, chủ yếu gồm: 1 Kinh tế hàng hải (vận tải biển, khai thác cảng biển và dịch vụ liên quan); 2 Hải sản (đánh bắt, nuôi trồng, khai thác cảng cá); 3 Khai thác dầu khí trên biển; 4 Du lịch biển; 5 Nghề muối biển; 6 Dịch vụ tìm kiếm, cứu

hộ, cứu nạn trên biển; 7 Kinh tế hải đảo Có thể coi đây là quan niệm về kinh

tế biển theo nghĩa hẹp

Các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển gồm: 1.

Đóng và sửa chữa tàu biển; 2 Công nghiệp chế biến dầu khí; 3 Công nghiệpchế biến thủy hải sản; 4 Cung cấp dịch vụ biển; 5 Thông tin liên lạc (biển);

6 Nghiên cứu khoa học công nghệ biển, đào tạo nhân lực phục vụ phát triểnkinh tế biển, điều tra cơ bản về tài nguyên - môi trường biển Như vậy, có thểcoi cách hiểu kinh tế biển bao gồm cả các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển

và các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển ở dải đất liềnven biển là khái niệm về kinh tế biển theo nghĩa rộng

Trang 21

Khái niệm kinh tế hàng hải:

Là một trong những lĩnh vực cơ bản nhất của kinh tế biển, đã có nhiều tác giả đưa ra các khái niệm khác nhau, nhưng tựu chung đều cho rằng, KTHH là một ngành kinh tế bao gồm: Cảng biển, dịch vụ cảng biển, vận tải biển, đóng và sửa chữa tàu biển, trong đó:

Cảng biển, là nơi ra vào, neo đậu của tàu biển, nơi phục vụ tàu và hàng hóa trên tàu, là đầu mối giao thông quan trọng của thành phố, quốc gia có biển Nơi nào có cảng biển, nơi đó sẽ là thành phố với kinh tế công nghiệp và thương mại phát triển, phồn vinh Có thể nói, cảng biển vừa là cửa ngõ giao lưu giữa các vùng của đất nước, vừa là cửa mở lớn ra thế giới, nơi giao lưu chủ yếu của kinh tế đối ngoại và xuất, nhập khẩu

Dịch vụ cảng biển, là những hoạt động diễn ra trực tiếp tại cảng biển, trong đó gồm những dịch vụ như: Dịch vụ hoa tiêu, lai dắt, dịch vụ vệ sinh tàubiển, dịch vụ thả neo , là những dịch vụ hỗ trợ trực tiếp cho vận tải biển

Vận tải biển, là những hoạt động gắn liền với việc di chuyển hàng hóa hoặc hành khách bằng tàu đi biển trên toàn bộ hay một phần của đường biển Bởi vì trên thực tế, muốn vận chuyển hàng hóa bằng đường biển phải có đội tàu, phải có thuyền trưởng và các thuyền viên khác, phải có cảng biển và các dịch vụ bốc xếp hàng hóa, do đó vận tải biển thường gắn liền với cảng biển và dịch vụ tại cảng

Công nghiệp đóng tàu, là ngành công nghiệp tổng hợp, sử dụng sản phẩm của nhiều ngành công nghiệp khác như: Luyện kim, chế tạo máy, điện

tử, hóa chất, vật liệu v.v Đồng thời, với tư cách là một ngành công nghiệp liên ngành, một khi đã phát triển, công nghiệp đóng tàu sẽ có khả năng trang

bị và cung ứng kỹ thuật cũng như chia sẻ kinh nghiệm thị trường với các ngành công nghiệp khác như: Chế tạo các cấu kiện thép lớn của giàn khoan biển, các lò xi măng, dầm cầu lớn, các tổ hợp kết cấu thép mà các ngành cơ khí lắp ráp khác khó có điều kiện thực hiện

Nghiên cứu sinh cho rằng, các nội dung trên là nội hàm khái niệm của

KTHH Như vậy, KTHH là những ngành, lĩnh vực kinh tế có liên quan trực

Trang 22

tiếp tới hàng hải, như hệ thống cảng biển, vận tải biển và dịch vụ hỗ trợ vậntải biển, đóng và sửa chữa tàu, dịch vụ hàng hải Để phát triển KTHH, ngoàiyếu tố tiềm năng ra còn cần có sự quan tâm, đầu tư lớn của Nhà nước tronglĩnh vực này.

- Vị trí, vai trò kinh tế biển và kinh tế hàng hải:

Vị trí, vai trò kinh tế biển:

Lịch sử nhân loại đã cho thấy nhiều nước phát triển trên thế giới đều lànhững quốc gia có biển Biển là một nguồn lực hết sức quan trọng cho sự pháttriển của một quốc gia Điều này càng trở nên quan trọng khi nền kinh tế củamỗi nước chịu tác động mạnh mẽ bởi quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc

tế Kinh tế biển là một khu vực được xác định là vai trò “động lực thời đại”,trong bối cảnh loài người đang tiến ra biển và đại dương Phát triển kinh tếbiển đã và đang được coi là chiến lược của nhiều quốc gia có biển

Ở Việt Nam, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng(khóa X) năm 2007 đã đề ra với các lĩnh vực kinh tế cơ bản của vùng biển

và ven biển Việt Nam được xác định theo thứ tự ưu tiên như sau: 1- Khai thác,chế biến dầu khí; 2- Cảng biển, KTHH và công nghiệp đóng tàu; 3- Hải sản;4- Du lịch biển và kinh tế hải đảo; 5- Xây dựng các khu kinh tế, các khu côngnghiệp tập trung và khu chế xuất ven biển gắn với các khu đô thị dọc dải venbiển Hiện tại, 4 lĩnh vực là khai thác dầu khí, dịch vụ hàng hải, hải sản và

du lịch biển chiếm tới 97% GDP của kinh tế trên biển (kinh tế biển theo nghĩahẹp) Sau năm 2020, thứ tự ưu tiên sẽ có sự thay đổi như sau: 1- Cảng biển,kinh tế hàng hải và công nghiệp đóng tàu; 2- Khai thác chế biến dầu khí vàcác loại khoáng sản; 3-Hải sản; 4- Du lịch biển và kinh tế hải đảo; 5- Cáckhu kinh tế, các khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất ven biển gắn vớicác khu đô thị

Như vậy, kinh tế biển Việt Nam luôn có vị trí và vai trò quan trọng đối với công cuộc phát triển KT-XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên biển, vùng biển Hoàn thành một bước xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ cho việc bảo vệ vững chắc chủ quyền và quyền chủ quyền trên biển cũng như phát triển các lĩnh vực KT-XH liên quan đến biển, đảo

Trang 23

Vị trí, vai trò của kinh tế hàng hải:

Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng(khóa X) bàn về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, xác định rõ vị trí

và tầm quan trọng của biển trong chiến lược phát triển KT-XH của đất nước,

đề ra mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế biển Việt Nam, nhằm đưa ViệtNam trở thành một quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển Nghị quyết đềcao vai trò của kinh tế biển, trong đó có KTHH, từ đứng ở vị trí thứ hai saungành khai thác và chế biến dầu khí, sẽ vươn lên đứng vị trí đầu tiên sau năm

2020 Điều đó khẳng định, KTHH sẽ là ngành kinh tế mũi nhọn có nhiệm vụthúc đẩy kinh tế biển Việt Nam phát triển trong thế kỷ XXI Nhận thức đượcđiều đó, trong những năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chú trọng đầu tưcho phát triển kinh tế biển, trong đó có KTHH, đây là chủ trương đúng đắnphù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thế giới trong bốicảnh hội nhập quốc tế sâu rộng

Trong chiến lược phát triển KTHH, hệ thống cảng biển và kết cấu hạ tầng ven biển tuy không trực tiếp tạo ra sự tăng trưởng GDP và tích lũy lớn, nhưng được xác định là ngành kinh tế quan trọng hàng đầu, có vai trò lớn trong việc liên kết và thúc đẩy KT-XH không chỉ của vùng biển và ven biển

mà còn của các vùng khác trong cả nước phát triển nhanh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH,HĐH) và mở cửa mạnh ra nước ngoài, góp phần tăng cường an ninh, quốc phòng và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc Phấn đấu đến năm 2020, kinh tế biển trong đó có KTHH sẽ là ngành kinh tế mũi nhọn đóng góp từ 53% - 55% GDP của cả nước

1.1.2 Biển, đảo và bờ biển Việt Nam tác động đến phát triển kinh tế hàng hải

- Vị trí địa lý Việt Nam

Việt Nam giáp với Biển Đông ở cả ba phía Đông, Nam và Tây Nam Cácvùng biển và thềm lục địa Việt Nam là một phần Biển Đông trải dọc theo bờbiển dài khoảng 3.260km, từ Quảng Ninh đến Kiên Giang, với nhiều bãi biểnđẹp như Trà Cổ, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Cửa Lò, Cam Ranh, Vũng Tàu…, cứ

Trang 24

100km2 lãnh thổ đất liền, có 1km bờ biển, tỷ lệ này cao gấp 6 lần tỷ lệ trung bình của thế giới (600km2 đất liền có 1km bờ biển).

Biển Đông là một biển nửa kín, có diện tích khoảng 3,5 triệu km2, trải dài từ vĩ tuyến 30 Bắc lên đến vĩ tuyến 260 Bắc và từ kinh tuyến 1000 Đông đến 1210 Đông Ngoài Việt Nam, Biển Đông được bao bọc bởi 9 nước và vùng lãnh thổ khác là Trung Quốc, Philippines, Inđônêsia, Bruney, Malaysia, Singapore, Thái Lan, Campuchia và Đài Loan Theo ước tính sơ bộ, Biển Đông có ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của khoảng 300 triệu dân tại các nước và vùng lãnh thổ, đồng thời là đầu nút của nhiều tuyến hàng hải quốc tế nối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương

Trong khu vực Biển Đông, nhiều điểm có thềm lục địa hẹp, dốc và các

hố sâu rất nguy hiểm cho các phương tiện tàu thuyền qua lại lưu thông hàng hóa và các tàu thuyền quân sự hoạt động trong khu vực

Về góc độ kinh tế: Biển Đông là một trong mười tuyến đường hàng hải

lớn nhất thế giới Chính vì vậy, giao thông ở khu vực Biển Đông nhộn nhịp đứng thứ hai trên thế giới sau Địa Trung Hải Mỗi ngày, có khoảng 150 - 200 tàu thuyền từ 5.000 tấn trở lên qua lại (không kể dưới 5.000 tấn) chiếm 1/4 lưu lượng tàu hoạt động trên biển của thế giới Khu vực Biển Đông còn là tuyến hàng hải và hàng không huyết mạch mang tính chiến lược của các nước trong khu vực và trên thế giới, chuyên chở 1/2 sản lượng dầu thô và các sản phẩm thương mại khác của toàn cầu [30, tr.11] Biển Đông còn chứa đựng nhiều nguồn tài nguyên quý hiếm, đặc biệt là nguồn tài nguyên dầu hỏa và khí đốt Đây cũng là một trong những nhân tố dẫn đến tình trạng tranh chấp chủ quyền và gây phạm vi ảnh hưởng ở khu vực Biển Đông

Về góc độ chính trị, quốc phòng và an ninh: Biển Đông là nơi tập trung

các mâu thuẫn cả về chính trị lẫn kinh tế, an ninh và quốc phòng Thực tế cho thấy, Biển Đông đã diễn ra các tranh chấp chủ quyền biển, đảo quyết liệt, phức tạp nhất của thế giới và khu vực, những tranh chấp đó khó giải quyết Bên cạnh đó, vị trí của Biển Đông có liên quan đến nền kinh tế, quốc phòng của nhiều quốc gia (kể cả nước có chủ quyền và không có chủ quyền, các nước trong khu vực và ngoài khu vực)

Trang 25

Theo quy định của luật pháp quốc tế, vùng biển Việt Nam trên BiểnĐông còn có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cùng khoảng 2.577 đảolớn, nhỏ, gần và xa bờ, hợp thành phòng tuyến bảo vệ, kiểm soát các vùngbiển và thềm lục địa Hai quần đảo này có vị trí đặc biệt quan trọng đối vớilĩnh vực quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế biển của Việt Nam Theoquy định của hệ thống luật biển quốc tế hiện đại, Việt Nam có quyền mở rộngcác vùng biển của mình, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát triểnkinh tế biển, hợp tác quốc tế về biển, thực hiện nhiệm vụ giữ gìn và bảo vệmôi trường biển.

- Đặc điểm biển, đảo và bờ biển Việt Nam

Việt Nam là quốc gia có vùng biển rộng và nhiều đảo nhất trong khu vực (trừ hai quốc gia quần đảo Inđônêxia và Philippines), với trên 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ Các đảo nằm rải rác không đều, khoảng 2.300 đảo tập trung trong vùng biển Quảng Ninh, Hải Phòng Việt Nam có các đảo lớn, có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển KT-XH như Cô Tô, Cát Bà, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc Ngoài ra, còn có các đảo ven bờ gần đất liền, có điều kiện phát triển nghề cá, du lịch và cũng là căn cứ để bảo vệ trật

tự, an ninh trên vùng biển và bờ biển Việt Nam như các đảo thuộc huyện đảo Cát Bà, Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), Phú Quý (Bình Thuận), Côn Đảo (Bà Rịa

- Vũng Tàu), Lý Sơn (Quảng Ngãi), Phú Quốc (Kiên Giang) v.v

Với vị trí địa lý thuận lợi, lãnh thổ Việt Nam nằm trải dài ven biển, hiện

cả nước có tới 28 tỉnh, thành phố ven biển, chiếm tới 42% diện tích và 45% dân số cả nước, có khoảng 15,5 triệu người sống gần bờ biển và 16 vạn người sống ở đảo Đây là nguồn nhân lực dồi dào, góp phần quan trọng vào sự phát triển KT-XH của đất nước, đặc biệt là những địa phương có biển

Kết quả khảo sát thăm dò đến nay cho thấy, tiềm năng tài nguyên biển của Việt Nam tuy không được coi là vào loại giàu có của thế giới, nhưng cũng rất đáng kể và có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, bao gồm những nguồn tài nguyên sau:

Trang 26

Dầu khí: Việt Nam nằm trong khu vực có tiềm năng dầu khí, góp phần

quan trọng vào việc thay đổi cơ cấu năng lượng và sự phát triển của đất nước.Tại vùng biển và thềm lục địa Việt Nam, đã xác định nhiều bể trầm tích cótriển vọng dầu khí Tiềm năng trữ lượng được đánh giá khoảng 3 - 4 tỷ m3dầu quy đổi, so với nhiều nước, nguồn tài nguyên dầu khí Việt Nam phát triểnchưa thật lớn, song có vị trí rất quan trọng, đặt biệt là trong giai đoạn khởiđộng nền kinh tế đi vào CNH,HĐH

Khả năng phát triển cảng và vận tải biển: Dọc bờ biển của Việt Nam đã

xác định nhiều khu vực có thể xây dựng cảng, trong đó có một số nơi có thể xây dựng cảng nước sâu như Cái Lân và một số điểm thuộc khu vực vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, Nghi Sơn, Vũng Áng, Hòn La, Chân Mây, Đà Nẵng, Dung Quất, Vân Phong, Cam Ranh, Vũng Tàu, Thị Vải Riêng khu vực từ Thành phố Hồ Chí Minh (cửa sông Soài Rạp) đến Hà Tiên do biển nông, nhiều sình lầy nên ít có khả năng xây dựng cảng biển lớn, nhưng vẫn có thể xây dựng cảng quy mô vừa ở Phú Quốc và Cần Thơ

Tài nguyên du lịch biển: Dọc bờ biển Việt Nam, đã xác định khoảng 125

bãi biển lớn và nhỏ thuận lợi cho phát triển du lịch, có dung lượng đón khách cùng một lúc đến vài trăm ngàn người, trong đó có 20 bãi biển đạt quy mô và tiêu chuẩn quốc tế Các bãi biển của Việt Nam nhìn chung khá bằng phẳng, nước trong, sóng vừa phải, không có các ổ xoáy và cá dữ, rất thích hợp cho tắm biển và vui chơi giải trí trên biển Ngoài ra, vùng biển Việt Nam còn giàu tài nguyên du lịch nhân văn, các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể

Tài nguyên thủy hải sản: Nguồn lợi hải sản của Việt Nam được đánh giá

vào loại phong phú trong khu vực, ngoài cá biển là loại nguồn lợi chính còn nhiều loại đặc sản khác có giá trị kinh tế cao như tôm, cua, mực, hải sâm, rong biển Riêng cá biển đã phát hiện hơn 2.000 loài khác nhau, trong đó trên 100 loài có giá trị kinh tế với tổng trữ lượng có thể khai thác 3 - 4 triệu tấn/năm Đến nay, đã xác định 15 bãi cá lớn quan trọng, trong đó có 12 bãi cá được phân bố ở vùng ven bờ và 3 bãi cá ở các gò nổi ngoài khơi

Trang 27

Tài nguyên khoáng sản (ngoài dầu khí):

Than đá, phân bố dọc ven biển Hòn Gai - Cẩm Phả và kéo dài ra các

đảo Trữ lượng than đá ven biển Quảng Ninh khoảng 3 tỷ tấn, cho phép khai thác trong nhiều năm, tạo ra ngành công nghiệp chủ lực có tác động lớn đến phát triển KT-XH vùng ven biển Đông Bắc của Tổ quốc Tại đảo Kế Bào cũng phát hiện mỏ than lớn với trữ lượng 120 triệu tấn

Than bùn, phân bố rải rác dọc ven biển các tỉnh Thanh Hóa, Quảng

Bình, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam - Đà Nẵng, Cà Mau , đặc biệt tập trung

ở vùng U Minh với trữ lượng trên 100 triệu tấn

Sa khoáng titan, phân bố rất phổ biến dọc bờ biển với trữ lượng dự

đoán khoảng 13 triệu tấn (trữ lượng cấp C1 + C2 là 2,9 triệu tấn) Các khuvực tập trung titan lớn là Bình Ngọc, Sầm Sơn, Kỳ Anh, Cát Khánh và HàmTân Hầu hết các mỏ titan đều nằm lộ thiên ở những khu vực kinh tế tươngđối phát triển, nguồn lao động dồi dào, giao thông thuận tiện , có nhiều điềukiện để khai thác

Cát thủy tinh, là một trong những khoáng sản ven biển có tiềm năng lớn

nhất với trữ lượng dự đoán hàng trăm tỷ tấn (trữ lượng điều tra cấp C1 là 20 triệu tấn) Các mỏ cát thủy tinh lớn và quan trọng là Hải Vân, Ba Đồn, Nam

Ô, Thủy Triều, Hòn Gốm Chất lượng hầu hết các mỏ khá cao, hàm lượng SiO2 ở một số mỏ đạt 99,8%, có thể sử dụng làm nguyên liệu sản xuất các loại thủy tinh cao cấp và vật liệu khác

Tài nguyên muối và các hóa phẩm biển, chủ yếu là các loại muối NaCl,

MgCO, CaSO, K2SO, CaCO, MgBr , trong đó chủ yếu là CaCl, đây là nguồnthực phẩm tối cần thiết cho cuộc sống và là nguyên liệu để điều chế các hóaphẩm công nghiệp khác từ nước biển như Magiê, Clo, Brôm, Kali, hay sảnxuất xút, axit clohydric

- Biển, đảo và bờ biển đối với sự phát triển kinh tế hàng hải

Việt Nam là một quốc gia có thế mạnh về biển, đảo Biển Đông lại là cầu nối quan trọng giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới Đặc biệt là trong xu thế hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, thế mạnh này rất quan trọng đối với nền kinh tế của đất nước Thực tế cho thấy, Việt

Trang 28

Nam có thế mạnh để phát triển các cảng, dịch vụ hàng hải và tìm kiếm, cứu nạn ở Biển Đông.

Xét về hiệu quả kinh tế, tiềm năng giao thông hàng hải Việt Nam là vôcùng to lớn, với tổng sản lượng hàng hóa vận chuyển có thể đạt 50 triệutấn/năm Nhìn vào tương lai, hệ thống liên vận Đông Nam Á, Việt Nam cũng

có thể phát triển một số cảng chuyên dụng hoặc cảng quá cảnh cho các nướcláng giềng Trung Quốc, Lào và Mianma

Xem xét từ góc độ của Luật Biển quốc tế, Việt Nam có lợi thế để mởrộng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình, lợi thế trong phát triểnkinh tế biển, giao thông vận tải biển (GTVT) Tuy nhiên, Việt Nam cũng gặpnhững thách thức lớn, liên quan đến tranh chấp ở Biển Đông, nhất là khiTrung Quốc đưa ra những yêu sách phi lý về vùng biển rộng lớn xung quanhViệt Nam, trái với các quy định của Luật Biển quốc tế

Hiện nay, các nước trong khu vực đang tích cực khởi động chương trình phát triển Tiểu vùng Mê Kông Vì vậy, với vị trí chiến lược ở Biển Đông, Việt Nam có nhiều lợi thế trong việc phát triển KTHH như: Tăng nhanh số lượng đội tàu biển để vận chuyển hàng hóa trong và ngoài nước; phát triển dịch vụ vận tải biển và cho xây dựng tiếp các cảng biển có tầm cỡ quốc tế, đặc biệt là các cảng biển nước sâu để đón các tàu có trọng tải lớn Đồng thời, bảo vệ vững chắc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển, góp phần giữ vững ổn định và phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển KT-

XH với bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường biển; có chính sách hấp dẫn để thu hút nguồn lực cho phát triển kinh tế biển và KTHH

1.1.3 Thực trạng phát triển kinh tế hàng hải Việt Nam trước

năm 1996 - Kinh tế biển, kinh tế hàng hải trong tiến trình phát triển

kinh tế - xã hội

đất nước

Thực tiễn cho thấy, tại các tỉnh, thành phố ven biển, với vị trí địa lý vàđiều kiện tự nhiên thuận lợi, các hoạt động kinh tế gắn liền với lợi thế do tựnhiên tạo ra luôn sôi động Ngành KTHH phát triển (đặc biệt là vận tải biển)

đã mở ra cơ hội hội nhập thị trường quốc tế cho các mặt hàng của nhiều

Trang 29

ngành kinh tế, đồng thời mang về những nguyên liệu, sản phẩm nhập khẩucần thiết cho ngành công nghiệp trong nước Thông qua hoạt động hàng hải,giao lưu kinh tế diễn ra trên khắp các vùng, miền, quốc gia và trên thế giới.

Sự hình thành các hệ thống cảng biển, đặc biệt là các cảng biển nước sâu

sẽ thu hút đầu tư mạnh mẽ để hình thành các khu công nghiệp, khu kinh tế và

đô thị mới Chính nhờ có hệ thống giao thông biển, cảng biển mà các trung tâm công nghiệp lớn ở Việt Nam được hình thành và phát triển Tất cả các cảng đều gắn liền với các trung tâm công nghiệp như: Khu khí điện đạm Phú Mỹ, Cà Mau, Khu lọc hóa dầu Dung Quất, Nghi Sơn, Khu kinh tế Chu Lai Mặt khác, trong tương lai, phát triển kinh tế biển, KTHH còn có tiềm năng to lớn cho việc phát triển ngành công nghiệp điện (điện gió và điện nguyên tử dọc bờ biển)

Bên cạnh đó, vận tải biển cũng có tác động tích cực trong hoạt động dulịch, hàng năm có tới hàng trăm ngàn người từ khắp nơi trên thế giới đến ViệtNam du lịch bằng đường biển, góp phần giúp Việt Nam tiếp cận, giao lưu vớicác nền văn hóa thế giới và khu vực GTVT, trong đó có giao thông hàng hải,

là mạch máu của mọi nền kinh tế Để kinh tế phát triển, GTVT phải đi trướcmột bước Trong suốt những năm qua, kinh tế biển, KTHH đóng vai trò quantrọng trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, thu hút lực lượng laođộng lớn không chỉ của địa phương ven biển, mà còn của các tỉnh, thànhkhác trong cả nước Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theohướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm tỷtrọng nông nghiệp ở các tỉnh, thành ven biển đã và đang tạo điều kiện cho sựphát triển KT-XH của đất nước phát triển

- Quá trình nhận thức của Đảng về kinh tế hàng hải

Ngày 5/5/1965, Bộ Giao thông vận tải ra Quyết định số 1046/QĐ giải thể Cục Vận tải đường thuỷ được thành lập năm 1955, để thành lập Cục Vận tải đường biển và Cục Vận tải đường sông Từ đó, ngày 5/5 hàng năm trở thành ngày truyền thống của Ngành

Ngày 10/7/1965, Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ) ra Quyết định

số 136/CP, chính thức thành lập Cục Vận tải đường biển, tiền thân của Cục

Trang 30

HHVN ngày nay Với chức năng trực tiếp quản lý và điều hành các cơ sở vậtchất của ngành Hàng hải như: Hệ thống cảng biển, đội tàu biển, đại lý tàubiển, bảo đảm hàng hải, công nghiệp sửa chữa cơ khí, xây dựng công trìnhthuỷ và các trường đào tạo công nhân kỹ thuật đường biển…

Sau năm 1975, Việt Nam bắt đầu tham gia Hội nghị Luật Biển quốc tế

và ngày càng quan tâm đến quá trình phát triển của Luật Biển, kể cả tham gia soạn thảo Công ước Luật Biển mới Đến ngày 12/5/1977, Chính phủ ra tuyên

bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng kinh tế đặc quyền và thềm lục địa

Ngày 28/11/1978, Chính phủ ra Quyết định số 300/QĐ thành lập Tổng Cục đường biển Việt Nam, trực thuộc Bộ Giao thông vận tải Với mô hình Tổng cục, ngành Đường biển Việt Nam chuyển sang thời kỳ phát triển mới.Ngày 29/1/1980, Chính phủ ra Nghị định số 30-CP về quy chế cho tàu, thuyền nước ngoài hoạt động trên vùng biển Việt Nam

Ngày 12/11/1982, Chính phủ ra tuyên bố về đường cơ sở để tính chiềurộng lãnh hải Việt Nam Để tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động của CụcVận tải đường biển ở miền Nam, Cục tổ chức và chỉ đạo trực tiếp bốn công tyvận tải biển, tương ứng với 4 đội tàu: VOSCO, VIETCOSHIP, SOVOSCO,VITACO cùng với 8 cảng biển quốc gia và quốc tế gồm: Quảng Ninh, HảiPhòng, Bến Thủy, Đà Nẵng, Bình Trị Thiên, Quy Nhơn, Nha Trang, Sài Gòn.Đến cuối năm 1976, ngành đã quản lý 25.096 lao động

Ngày 4/4/1989, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ký Quyết định số264/TCCB-LĐ về việc chuyển đổi Tổng Cục Đường biển thành Liên hiệpHHVN trực thuộc Bộ Giao thông vận tải

Ngày 14/5/1990, Hội đồng Bộ trưởng chính thức ký Quyết định thành lập Liên hiệp HHVN Các đơn vị sản xuất, kinh doanh nằm trong Liên hiệp gọi tắt là các xí nghiệp thành viên do Liên hiệp HHVN quản lý, điều hành theo kế hoạch của Bộ Giao thông vận tải

Tại kỳ họp thứ VII, ngày 30/6/1990, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam đã chính thức thông qua Bộ Luật HHVN và chính thức cóhiệu lực từ ngày 1/1/1991 Sự ra đời của Bộ luật có ý nghĩa quan trọng, từ đây

Trang 31

ngành Đường biển đã có một cơ sở pháp lý cần thiết để xác lập các mối quan

hệ kinh doanh hợp pháp, tạo ra uy tín cho ngành có thể hội nhập với thịtrường hàng hải khu vực và thế giới

Ngày 29/6/1992, Hội đồng Bộ trưởng ra Nghị định số 239/HĐBT về việc thành lập Cục Hàng hải Việt Nam (Cục HHVN) Cục HHVN ra đời với trọng trách thay mặt Nhà nước quản lý về mặt nhà nước chuyên ngành Hàng hải trên phạm vi cả nước

Ngày 6/5/1993, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 03/NQ-TW bàn về một sốnhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong những năm trước mắt Nghị quyết chỉrõ: “Vị trí và đặc điểm địa lý của nước ta, cùng với bối cảnh phức tạp trongvùng vừa tạo điều kiện, vừa đòi hỏi chúng ta phải đẩy mạnh phát triển kinh tếbiển đi đôi với tăng cường khả năng bảo vệ chủ quyền và môi trường sinhthái biển, phấn đấu trở thành một nước mạnh về biển”, việc nhấn mạnh “trởthành một nước mạnh về kinh tế biển là mục tiêu chiến lược xuất phát từ yêucầu và điều kiện khách quan của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ViệtNam” [11, tr.2]

Ngày 15/8/1993, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 399/TTg về việc thực hiện Nghị quyết 03/NQ-TW của Bộ Chính trị, trong đó tiếp tục nhấn mạnh việc thực hiện mục tiêu trở thành một nước mạnh về kinh tế biển Nhận thức được điều đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã sớm đưa ra những chiến lược để phát triển KTHH, trong đó tập trung đầu tư vào những ngành kinh tế mũi nhọn như: Xây dựng hệ thống cảng biển, vận tải biển và đóng tàu, nhằm phấn đấu đưa Việt Nam trở thành một quốc gia mạnh về biển và làm giàu từ biển

Hơn nữa, hướng ra biển để phát triển kinh tế biển, phát triển KTHH là một đòi hỏi bức thiết của mở cửa và hội nhập khi Việt Nam đang ở điểm xuất phát thấp Là một quốc gia có biển, một yếu tố mà thế giới luôn xem là “địa lợi” cho sự phát triển KT-XH của đất nước, vậy Việt Nam cần tăng cường hơn nữa khả năng vươn ra biển và xác định đây là động lực quan trọng để thúc đẩy các vùng kinh tế khác trong đất liền phát triển

Sau khi Bộ Luật HHVN ra đời và đi vào cuộc sống, đã góp phần thúc đẩy quá trình phát triển KT-XH nói chung và KTHH nói riêng Đồng thời, ngành

Trang 32

HHVN có điều kiện chủ động tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, tạo điềukiện hết sức thuận lợi cho ngành có những bước phát triển vượt bậc về quy

mô và hiệu quả, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế của đất nước

- Kết quả phát triển một số ngành kinh tế hàng hải Việt Nam trước năm 1996.

Sau 10 năm tiến hành đổi mới đất nước, cùng với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã dần nhận thức được tầm quan trọng và vị trí chiến lược của biển trong tiến trình phát triển KT-XH của đất nước, đặc biệt là phát triển KTHH với 3 lĩnh vực chủ chốt: Công nghiệp đóng tàu, vận tải biển, cảng và dịch vụ cảng biển, bước đầu đã đạt được những kết quả quan trọng sau:

Ngành công nghiệp đóng tàu: Cùng với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập

kinh tế quốc tế, ngành đóng tàu Việt Nam đã từng bước hội nhập sâu rộng thông qua việc đầu tư, đóng mới nhiều tàu có trọng tải lớn, chuyên dùng đạt chất lượng cao và từng bước nội địa hóa các trang thiết bị cho đóng tàu vươn

xa để phục vụ trong nước và thế giới Đồng thời, trình độ, năng lực đóng tàu

đã có tiến bộ vượt bậc, hiện đại hoá một bước theo hướng tập trung quy mô lớn, bước đầu có phân công chuyên môn hoá, vươn ra đóng tàu cỡ lớn, chuyên dùng đạt chất lượng cao trong đó có tàu chở khách từ 100 - 200 chỗ ngồi, tàu hút bùn 1.000 - 2.500m3, tàu công trình, tàu tuần tra cao tốc…, với chất lượng ngày càng cao

Việt Nam đã dần nâng cao được tỷ lệ nội địa hoá, giảm dần nhập khẩu vật tư thiết bị phục vụ cho ngành đối với các sản phẩm phụ trợ như sơn, đúc, que hàn, khí công nghiệp, tấm thép cỡ lớn ghép sàn…Đồng thời, phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ như thép, cơ khí, điện tử hoá chất…, đang trong giai đoạn đầu tư phát triển Tính đến trước năm 1996, tổng số lao động làm việc trong ngành đóng tàu khoảng 20.000 người (riêng Tổng Công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (CNTT) có khoảng 8.500 người)

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, ngành công nghiệp đóng tàu vẫn còn một số yếu kém như sau:

Trang 33

Còn dựa khá nhiều vào chính sách hỗ trợ đầu tư của Nhà nước, kể cả việc đầu tư và cơ chế cấp vốn Các dự án đóng tàu biển lớn còn trông chờ vào

kế hoạch của Nhà nước Nhiều vùng, tỉnh, thành phố có lợi thế về biển, ven biển, nhưng trình độ, quy mô phát triển chưa tương xứng với lợi thế tiềm năng.Chưa xây dựng được chiến lược cụ thể cho từng doanh nghiệp, từngngành hàng gắn với chiến lược thị trường rõ ràng và đầy đủ; thiếu vắng doanhnghiệp, cơ sở đóng tàu mạnh, quản lý hiện đại, đủ sức làm đầu tàu phát triển,

đi đầu trong xu thế cạnh tranh hội nhập

Cơ sở vật chất kỹ thuật và trình độ công nghiệp của ngành vẫn còn ở mức thấp, phần lớn các doanh nghiệp đang trong giai đoạn đầu tư và phát triển, nên năng lực sản xuất chưa được nâng cao, chu kỳ sản xuất còn dài, sức cạnh tranh còn hạn chế Mức độ, tốc độ đầu tư thiết bị, công nghệ theo hướng CNH,HĐH chậm, công nghệ thiết bị và quản lý còn lạc hậu, chưađáp ứng được yêu cầu, chưa thực hiện được đi tắt đón đầu trong đổi mới công nghệ ngành đóng tàu Các thiết bị máy chuyên dùng và cơ sở vật chất kỹ thuật còn lạc hậu, già cỗi, xuống cấp, hao mòn hữu hình tới 46 - 48%, công nghệ phần lớn rất lạc hậu

Cơ chế phối kết hợp giữa các ngành hàng cung cấp vật tư thiết bị vớidoanh nghiệp đóng tàu còn lỏng lẻo Phối kết hợp giữa đóng tàu với yêu cầuđảm bảo an ninh, quốc phòng chưa tốt Năng suất, chất lượng, hiệu quả,sức cạnh tranh còn thấp Chưa có chính sách hợp lý để khuyến khích đóng tàutrong nước Đồng thời, các cơ chế, chính sách chưa thực sự hấp dẫn côngnhân bậc cao, cán bộ quản lý giỏi để xây dựng cơ sở vật chất phục vụ đóngtàu

Ngành vận tải biển: Từ khi Bộ Luật HHVN ra đời và Chỉ thị 399/TTg

của Thủ tướng Chính phủ (năm 1993) về phát triển kinh tế biển, Chính phủ đã quan tâm chỉ đạo để nâng thị phần vận chuyển của đội tàu biển Việt Nam Đặc biệt, một loạt các hiệp định hàng hải với các nước được ký kết, ngành vận tải biển đã đạt được những kết quả quan trọng như:

Phát triển nhanh đội tàu và tham gia tích cực vào vận tải hàng hóa Theo

số liệu thống kê của Cục HHVN năm 1996, tính đến hết tháng 10/1996, Việt Nam đã xây dựng được đội tàu biển quốc gia gồm 408 chiếc với tổng trọng tải

Trang 34

hơn 732.000 DWT (Tấn trọng tải), gấp 2 lần số lượng tàu và 3 lần về trọng tải

so với 1986), bình quân tăng 20% về số lượng và 25% về trọng tải/năm.Trong đó, tàu container có 10 chiếc, trọng tải gần 100.000 DWT; tàu dầu có

40 chiếc, trọng tải gần 450.000 DWT và một số loại tàu khác với số lượnghơn 300 chiếc Nòng cốt của đội tàu biển quốc gia là đội tàu của Tổng Công

ty HHVN - Vinalines, với số lượng gần 100 chiếc, chiếm hơn 20% tổng trọngtải của đội tàu quốc gia Không chỉ tăng năng lực vận tải (tính đến tháng10/1996, sản lượng vận tải đạt 25 triệu tấn, tăng gấp 7 lần so với năm 1986),

mà còn có sự thay đổi cơ bản về cơ cấu, chất lượng đội tàu, tạo thêm thịtrường và trực tiếp tham gia thị trường khu vực, khách hàng nước ngoài đã sửdụng phần lớn năng lực đội tàu của Vinalines

Về cơ chế, chính sách: Ngành đã xây dựng các đề án và quy chế hoạt động theo từng lĩnh vực, đồng thời thực hiện nghiêm túc chủ trương, chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, nhờ đó trong lĩnh vực vận tải đã thu hút được khá nhiều chủ tàu thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh tham gia Đến đầu năm 1995, ngoài quốc doanh có 142 chủ tàu, phân

ra ở 3 khu vực: Miền Bắc, 80 chủ tàu; miền Trung, 22 chủ tàu; miền Nam, 40 chủ tàu, trong đó có không ít chủ tàu là tư nhân Đội ngũ này đã góp phần đáng kể vào việc huy động vốn để phát triển đội tàu và tham gia chia sẻ thị trường vận tải biển, đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hoá của nền kinh tế.Tuy nhiên, ngành vận tải biển vẫn còn một số hạn chế, bất cập như:

Cơ cấu đội tàu chưa cân đối, còn thiếu nhiều tàu chuyên dùng như tàu chở container, tàu chở dầu, tàu chở hàng rời Tuổi bình quân của đội tàu viễn dương cao từ 15 - 17 tuổi, chi phí quản lý khai thác cao, trong khi đó các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn về tài chính, khó vay vốn để đẩy mạnh đổi mới đội tàu và thiết bị trên tàu

Chưa xây dựng được cơ chế, chính sách cụ thể, đặc biệt là cơ chế tàichính và tổ chức đồng bộ thực hiện các chính sách về vận tải biển, cơ chếcung cấp vật tư, thiết bị chuyên dùng, chính sách lương, thưởng… Vì thế, thịphần vận chuyển và tốc độ tăng vận tải hàng hoá của đội tàu biển Việt Nam

Trang 35

chưa tăng đáng kể (năm 1995 chỉ vận chuyển được 14 - 15% tổng khối lượnghàng hoá xuất, nhập khẩu bằng đường biển), hàng hoá xuất, nhập khẩu củaViệt Nam vẫn bị các đội tàu của nước khác cạnh tranh mạnh.

Còn thiếu cơ chế chính sách thiết thực hỗ trợ, khuyến khích phát triển đội tàu biển quốc gia, nhất là chưa có chính sách khuyến khích thuê tàu trong nước, mà chủ yếu thuê tàu nước ngoài, như tàu có độ tuổi ít để phục vụ cho ngành vận tải biển

Công tác quản lý nhà nước, nhất là quản lý đảm bảo an toàn phương tiện vận tải biển chưa thật bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, nên sự cạnh tranh còn thiếu lành mạnh, nhất là đối với các doanh nghiệp kinh doanh vận tải biển tư nhân

Về nguồn nhân lực: Cơ cấu đội ngũ thuỷ thủ, thuyền viên hiện còn mất cân đối lớn, thiếu nhiều thuỷ thủ, thuyền viên giỏi làm việc trên các tàu biển hiện đại, chuyên dùng, nhất là các tàu chở dầu thô và các tàu container cỡ lớn Đội ngũ cán bộ quản lý, khoa học kỹ thuật chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển của ngành vận tải biển, đặc biệt về trình độ ngoại ngữ, luật thương mại

và luật hàng hải quốc tế…

Cảng và dịch vụ cảng biển: Trước năm 1996, hệ thống cảng biển Việt

Nam đã có bước phát triển quan trọng, như: Quy mô cảng ngày càng tăng, nếu cuối năm 1990, Việt Nam chỉ có hơn 70 cầu cảng, với 16.000 mét cầu bến, 7 khu chuyển tải, thì đến năm 1995 đã xây dựng được hơn 90 cầu cảng, với 24.000 mét cầu bến và 10 khu chuyển tải Hệ thống cảng biển này hiện do nhiều thành phần quản lý, trong đó có 8 cảng do Trung ương quản lý, quân đội 4 cảng và 21 cảng quản lý dưới hình thức liên doanh

Khối lượng hàng hoá thông qua cảng tăng, năm 1990 đạt 30 triệu tấn, năm 1995 là 34 triệu tấn, tốc độ tăng bình quân 5%/năm Đã có các cảng mang tầm cỡ khu vực như: Hải Phòng, Cẩm Phả, Tân Cảng, Sài Gòn có công suất gần 10 triệu tấn/năm Bước đầu hiện đại hoá phương tiện xếp dỡ, quy hoạch và sắp xếp lại kho bãi, xây dựng và nâng cấp thêm các cầu cảng nên năng lực xếp, dỡ được nâng cao, giải phóng tàu nhanh Một số cảng được

Trang 36

nâng cấp và mở rộng như Hải Phòng, Cái Lân, Đà Nẵng, Quy Nhơn, NhaTrang, Sài Gòn, Cần Thơ So với quốc tế, nhìn chung quy mô cảng còn nhỏ,nhưng thời gian qua, hệ thống cảng biển đã đảm nhiệm thông qua hầu hếtlượng hàng ngoại thương của Việt Nam và hỗ trợ một phần việc trung chuyểnhàng hoá xuất, nhập khẩu của Lào, góp phần đưa nước ta từng bước tiếp cận

và hội nhập với khu vực và thế giới Hơn 95% khối lượng hàng xuất, nhậpkhẩu được vận chuyển qua hệ thống cảng biển

Trong phát triển cảng biển, đã có một số nhân tố mới năng động trong việc chủ động vay vốn đầu tư, phát triển mở rộng sản xuất như: Cảng Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn; các cảng đầu tư bằng vốn ngân sách đã triển khai cho doanh nghiệp thuê khai thác (cảng Cái Lân, Vũng Áng) nhằm thu hồi vốn nhà nước, tránh được tình trạng chỉ giao vốn, không rõ thời hạn thu hồi như trước đây

Tuy nhiên, cảng biển Việt Nam chủ yếu có quy mô nhỏ Trong tổng số

126 cảng biển ở các vùng, miền thì chỉ có 4 cảng (than Cẩm Phả, Hải Phòng, Sài Gòn, Tân Cảng) có công suất gần 10 triệu tấn/năm, còn lại đều là cảng quy mô nhỏ, khả năng neo đậu được tàu 3.000 tấn trở xuống Thiết bị còn lạc hậu và chưa đồng bộ nên hiệu quả thấp Các chỉ tiêu hàng năm thông qua cảng trên đầu người rất thấp so với các nước trong khu vực (chỉ bằng 1/140 của Singapore, 1/7 của Malaysia và 1/5 của Thái Lan) Năng suất xếp, dỡ bình quân chỉ đạt mức trung bình thấp so với các nước trong khu vực (khoảng 2.500 - 3.000 tấn/mét/năm)

Tổ chức thực hiện quy hoạch cảng chậm, chưa có tầm nhìn về phát triển cảng, việc cập nhật, điều chỉnh bổ sung quy hoạch chưa được kịp thời Nhiều cảng biển xuống cấp chưa được cải tạo nâng cấp Một số cảng còn thiếu bến container, kho tàng thiếu hoặc hư hỏng, trang thiết bị xếp, dỡ quá

cũ và lạc hậu; thiếu thiết bị xếp, dỡ chuyên dùng để bốc dỡ hàng container nên năng suất xếp, dỡ rất thấp, kéo dài thời gian giải phóng tàu Các hành lang vận tải nối đến cảng chưa được nâng cấp, cải tạo, xây dựng kịp thời nên thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu đưa vào rút hàng, đặc biệt là hàng container

Trang 37

Tiến trình đầu tư phát triển xây dựng cảng còn chậm và dàn trải, chưa

có cảng nước sâu đủ đáp ứng cho các tàu có trọng tải lớn cập cảng, gây tăng chi phí vận chuyển, ảnh hưởng tới tiến trình hội nhập và khả năng cạnh tranh

về vận tải biển của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới

Việc tổ chức sắp xếp, quản lý hệ thống cảng biển còn phân tán, manh mún, với nhiều đầu mối, chồng chéo, đã xuất hiện sự cạnh tranh không lành mạnh như giảm giá cước xếp dỡ làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia Tình trạng thiếu sự phối hợp đồng bộ trong quy hoạch giữa Trung ương và địa phương, giữa các ngành với nhau còn phổ biến, gây lãng phí Các địa phương, các ngành xây dựng cảng nhỏ chuyên dùng quá nhiều, không cân đối về địa

lý, làm cho vốn đầu tư xây dựng cảng bị phân tán, việc xây dựng bị kéo dài, hiệu quả phát huy đồng vốn thấp Vẫn còn những cảng hoặc cụm cảng lớn, chưa có sự đầu tư đồng bộ cho hệ thống đường ra, vào cảng, làm ảnh hưởng đến việc đưa hàng vào hoặc rút hàng ra khỏi cảng

Công tác phân loại, phân cấp và xác định rõ vai trò, vị trí của các cảng biển trong hệ thống cảng biển Việt Nam chưa được tiến hành bài bản Vì vậy,

đã xuất hiện hiện tượng cạnh tranh không tích cực giữa các cảng trong khu vực, dẫn đến sự kìm hãm phát triển của toàn bộ hệ thống cảng biển Công nghệ quản lý cảng lạc hậu, còn ở trình độ thấp, chưa đáp ứng nhu cầu phát triển mới trong nền kinh tế thị trường

Có thể nói, phần lớn các cảng Việt Nam có quá trình hoạt động quen với

cơ chế bao cấp, nên khi chuyển sang nền kinh tế thị trường các cảng đã không bắt kịp đòi hỏi của kinh tế ấy Tâm lý chờ đợi, trông chờ vào vốn của Nhà nước, thiếu chủ động vay vốn để đầu tư, đổi mới công nghệ còn tồn tại dai dẳng Sự phối hợp giữa các cảng, ngay cả các cảng biển thuộc Trung ương quản lý chưa được triển khai

Xu thế phát triển của ngành Hàng hải thế giới chưa được cập nhật kịpthời, nên trong khi đội tàu biển thế giới có xu hướng tăng trọng tải thì ViệtNam lại tiếp tục đầu tư cho các cảng nằm sâu trong nội địa, giao thông đi lạikhó khăn như cảng Hải Phòng, Sài Gòn Do đó, không đủ khả năng tiếp nhậnnhững tàu lớn, trong khi chưa đầu tư thoả đáng cho cảng nước sâu

Trang 38

Đầu tư của khu vực tư nhân và nước ngoài vào khu vực cảng biển chưa đáng kể do chưa có chính sách thông thoáng, nên chưa thực sự có sức thu hút lớn đối với tư nhân đầu tư vào cảng biển.

+ Nguyên nhân của thành tựu:

Thứ nhất, công cuộc đổi mới đã được sự quan tâm nhiều hơn của Đảng,

Nhà nước, các bộ, ngành và các địa phương nhất là những địa phương có biển Bộ Luật HHVN ra đời (năm 1990) và sau đó là các Chỉ thị của Đảng

và Chính phủ (năm 1993) về phát triển kinh tế biển đã tạo ra những tiền đề quan trọng trong đổi mới hoạt động của KTHH KTHH đã có sự khởi sắc và đóng góp đáng kể vào tiến trình phát triển KT-XH của các địa phương có biển

và đất nước

Thứ hai, biển Việt Nam được coi là cầu nối và là con đường thông

thương với các nước trong khu vực và thế giới Ngoài ra, biển còn đem lại choViệt Nam rất nhiều nguồn lợi để phục vụ cho phát triển KT-XH Nhận thứcđược điều đó, Đảng và Nhà nước đã bắt đầu chú trọng đến phát triển kinh tếbiển, coi kinh tế biển là ngành kinh tế mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân

Thứ ba, các địa phương có biển và ven biển đã biết phát huy lợi thế biển,

đảo trong sự phát triển KT-XH, tạo điều kiện cho bà con ngư dân vay vốn

để đóng mới tàu thuyền phục vụ cho việc đánh bắt xa bờ và chăm lo tới cácvấn đề an sinh xã hội khác, từ đó giúp bà con yên tâm bám biển và bảo vệvùng trời, vùng biển của Tổ quốc

Thứ tư, bước đầu quan tâm đầu tư lớn cho các ngành thuộc KTHH như

công nghiệp đóng tàu, vận tải biển, cảng biển và các dịch vụ sau cảng Trong

10 năm đầu đổi mới, Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống cảng biểntrong đó có các cảng biển nước sâu nằm ở các trung tâm kinh tế lớn như: HảiPhòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh; các nhàmáy đóng tàu được hình thành và đi vào hoạt động có hiệu quả, tạo cho việcxuất, nhập khẩu hàng hóa được thuận lợi; các khâu dịch vụ, vận chuyển hànghóa tại các hệ thống cảng biển được tăng cường

Thứ năm, triển khai phát triển các vùng kinh tế trọng điểm ven biển Do

xác định kinh tế biển sẽ là ngành kinh tế mũi nhọn trong tương lai, 28 tỉnh,

Trang 39

thành phố có biển trong cả nước đã tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế biểnvới những chiến lược cụ thể và với mũi nhọn là công nghiệp đóng tàu, vận tảibiển, cảng biển, du lịch biển, khai thác và chế biến hải sản, xây dựng kinh tếđảo, nâng cao trình độ dân trí cho bà con vùng biển và ven biển nhằm đáp ứngcho sự nghiệp phát triển kinh tế của địa phương.

Thứ sáu, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển ngành Hàng

hải thông qua hệ thống các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp trực thuộc Bộ Giao thông vận tải như: Trường Đại học Hàng hải - Hải Phòng, Đại học GTVT Thành phố Hồ Chí Minh, ba trường Cao đẳng Hàng hải và một số cơ sở huấn luyện, thuyền viên của các công ty xuất khẩu lao động thuộc ngành Hàng hải, với mục tiêu đào tạo được lượng sĩ quan hàng hải, thủy thủ, thợ máy và các chức danh khác có ít nhất trình độ trung cấp để đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành

+ Nguyên nhân của hạn chế:

Một là, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế

biển, KTHH còn mang tính cục bộ, dàn trải, một số tỉnh sát biển đua nhau làmcảng biển Động lực “vươn ra biển lớn” thật sự chưa rõ ràng, bị chi phối bởi

tư duy lợi ích dự án cục bộ thay vì một mục tiêu đua tranh phát triển lànhmạnh và có tầm nhìn chiến lược

Hai là, chủ trương chung về phát triển KTHH nhìn chung còn chưa có

tính chiến lược và thiếu tính cụ thể, dẫn đến tổ chức thực hiện gặp nhiều lúngtúng, đặc biệt thiếu định hướng phát triển với những lĩnh vực mang tính độtphá

Ba là, nguồn nhân lực chất lượng cao và đội ngũ công nhân lành nghề

phục vụ cho ngành Hàng hải vẫn chưa đáp ứng đủ, tay nghề và trình độ tiếngAnh còn yếu Các cơ sở đào tạo còn lúng túng và thiếu thốn nhiều mặt, nênchưa tạo ra được những sản phẩm đáp ứng yêu cầu của Ngành

Bốn là, tư duy “làm ruộng trên cạn” vẫn còn, tức là tư duy phát triển

truyền thống, coi khai thác tài nguyên thô, dựa vào trình độ kỹ thuật, côngnghệ thấp và những năng lực hạn chế là cách thức chủ đạo của quá trình tăng

Trang 40

trưởng và phát triển kinh tế Việc đầu tư để phát triển các ngành có liên quan đến hàng hải còn thấp so với yêu cầu phát triển nhanh.

Năm là, khu vực Biển Đông đang có sự tranh chấp gay gắt, nên việc hợp

tác quốc tế để phát triển ở khu vực này còn gặp một số khó khăn Việc giảiquyết các tranh chấp có liên quan đến biển, những vi phạm trong quá trình sửdụng và khai thác tài nguyên biển chưa có các quy định cụ thể và còn nhiều bấtcập

1.1.4 Yêu cầu mới về phát triển kinh tế hàng hải trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (1996 - 2001)

- Thế giới có những biến đổi nhanh chóng, phức tạp đã tác động đến phát triển kinh tế hàng hải

Thứ nhất, sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN)

ở Đông Âu đã tác động mạnh mẽ đến tình hình kinh tế, chính trị thế giới Làm cho chủ nghĩa xã hội trên thế giới lâm vào khủng hoảng tạm thời; một số Đảng Cộng sản mất quyền lãnh đạo, chế độ XHCN sụp đổ Tình hình đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến cách mạng Việt Nam

Thứ hai, xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế của các quốc

gia, mà trước hết là sự củng cố và lớn mạnh của khối thị trường chung châu

Âu, cùng đó là sự xuất hiện và lưu hành của đồng tiền chung châu Âu (Euro);

sự phát triển nhanh chóng của các khối kinh tế khác, tại các khu vực khác nhau trên các châu lục, như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á với tổng số thành viên từ 6 lên 10 thành viên (năm 1999) cùng với rất nhiều các hoạt động khác nhau nhằm củng cố sự lớn mạnh của các nước trong khu vực

Thứ ba, sự phát triển kinh tế khá mạnh mẽ của khu vực Đông Nam Á,

Đông Bắc Á với sự xuất hiện của các nước công nghiệp mới (NICs) gồm:Singapore, Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc, đã biến khu vực này thành khuvực có mức tăng trưởng kinh tế cao nhất trên thế giới trong những năm 80,đầu những năm 90 của thế kỷ XX

Thứ tư, nguy cơ chiến tranh thế giới huỷ diệt bị đẩy lùi, nhưng xung đột

vũ trang, chiến tranh cục bộ, xung đột về dân tộc, sắc tộc và tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, ly khai, hoạt động khủng bố, đặc biệt là

Ngày đăng: 11/07/2023, 20:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Bảng phân loại sở hữu tàu - Đảng cộng sản việt nam lãnh đạo phát triển kinh tế hàng hải từ năm 1996 đến năm 2011
Bảng 1.1 Bảng phân loại sở hữu tàu (Trang 59)
Bảng 1.2: Bảng phân nhóm tuổi tàu - Đảng cộng sản việt nam lãnh đạo phát triển kinh tế hàng hải từ năm 1996 đến năm 2011
Bảng 1.2 Bảng phân nhóm tuổi tàu (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w