Hình thức đầu tư này đóngvai trò quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế tại mỗi quốcgia.1.3; Vốn đầu tư: Căn cứ theo nguồn hình thành và mục tiêu sử dụng:Vốn đầu t
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU:
Sau 22 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều thay đổi đáng kể.Từnền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp nền kinh tế đang chuyển dầnsang nền kinh tế thị trường, vận hành theo các quy luật của nền kinh tế thịtrường.Trong đó doanh nghiệp nhà nước đó giữ vị trí then chốt đóng vai trò quantrọng cho sự phát triển của nền kinh tế Sau khi gia nhập WTO nền kinh tế ViệtNam đã đạt nhiều thành tựu to lớn Để đạt được điều đó vấn đề cần quan tâm hàngđầu là đầu tư phát triển
Đầu tư phát triển đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của nềnkinh tế.Đầu tư phát triển tác động trực tiếp tới tổng cung, tổng cầu; tác động tớităng trưởng kinh tế; tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế; tới sự phát triển của khoa học.Trong thời gian qua đầu tư phát triển trong doanh nghiệp đã đạt được những kếtquả to lớn, đã đưa nền kinh tế tiến thêm những bước thêm vững chắc hơn trên conđường công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Tuy nhiên công tác thực hiện đầu
tư phát triển có hiệu quả hay không cũng vẫn tồn tại nhiều vướng mắc trong cácdoanh nghiệp
Chính vì vậy chúng ta cần nghiên cứu rõ bản chất, đặc điểm của đầu tư phát triển
để quán triệt nó vào trong công tác đầu tư để đạt hiệu quả đầu tư tốt nhất Sau đâychúng em xin nêu lên đề tài thảo luận về các đặc điểm của đầu tư phát triển và sựquán triệt các đặc điểm đó trong công tác chuẩn bị thực hiện và vận hành kết quảđầu tư Chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS –TS Từ Quang Phương,người đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo cho ch úng em trong suốt quá trình thựchiện đề tài này
Trang 2Chương I: Lý luận chung về đầu tư phát triển
I _ Các vấn đề cơ bản của đầu tư phát triển trong nền kinh tế nói chung và trongdoanh nghiệp nói riêng
1- Các khái niệm
1.1 Đầu tư , đầu tư phát triển
Đầu tư theo nghĩa chung nhất là sự bỏ ra hay sự hi sinh các nguồn lực ởhiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm đạt các kết quả ,thực hiện đượccác mục tiêu nhất định trong tương lai
Tuy nhiên đứng dưới các góc độ khác nhau thì nó cụ thể như sau:
- Theo quan điểm tài chính : Đầu tư là một chuỗi các hoạt động chi tiêu đểchủ đầu tư nhận về một chuỗi các dòng thu nhằm hoàn vốn sinh lời
- Theo góc độ tiêu dùng : Đầu tư là hình thức hạn chế tiêu dùng hiện tại đểthu về một mức độ tiêu dùng nhiều hơn trong tương lai
Để có thể hiểu rõ bản chất của hoạt động đầu tư chúng ta cần làm rõ nhữngyếu tố như :Nguồn lực đầu tư,hoạt động đầu tư,đối tượng của hoạt động đầu tư
- Nguồn lực đầu tư:Theo nghĩa hẹp được hiểu là bao gồm tiền vốn,còn theonghĩa rộng nó bao gồm vốn bằng tiền,đất đai,máy móc,lao động
- Mục tiêu của hoạt động đầu tư :bao gồm những lợi ích về mặt tài chính gắnliền với doanh nghiệpchủ đầu tư;những lợi ích về mặt kinh tế và những lợi ích vềmặt xã hội mà do hoạt động đầu tư tạo nên
- Đối tượng của hoạt động đầu tư : Đầu tư vào tài sản hữư hình (tài sản vậtchất), đầu tư vào tài sản vô hình (nghiên cứu và phát triển,dịch vu,quảng cáo,thương hiệu), đầu tư vào tài sản sản xuất hay đầu tư vào tài sản lâu bền
1.2 Đầu tư phát triển
- Khái niệm: Đầu tư phát triển là hoạt động sử dụng cácc nguồn lực tàichính,nguồn lực vật chất,nguồn lực lao động và trí tuệ để xây dựng ,sửa chữa nhà
Trang 3cửa và kiến trúc hạ tầng,mua sắm trang thiét bị và lắp đặt chúng trên nền bệ và,bồidưỡng đào tạo nguồn nhân lực,thực hiện chi phí thường xuyên gắn liền với hoạtđộng của các tài sản này nhăm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồntại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế-xã hội,tạo ra việc làm và nâng cao đờissống của mọi thành viên trong xã hội.
Đầu tư phát triển làm gian tăng tài sản cho nền kinh tế mà không phải là sựchu chuyển giữa đơn vị này sang đơn vị kia của nền kinh tế
Đầu tư phát triển là hình thức đầu tư quan trọng nhất trong nền kinh tế, nó làtiển đề, cơ sở cho các hoạt động đầu tư khác Các hình thức đầu tư khác không thểtồn tại và vận động nếu không có đầu tư phát triển
Theo tiêu thức quan hệ quản lý của chủ đầu tư, đầu tư được chia thành đầu tư giántíêp và đầu tư trực tiếp:
Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn không trực ttiếptham gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư Chẳnghạn như nhà đầu tư tiến hành mua cổ phiếu hoặc trái phiếu trên thị trường chứngkhoán thứ cấp Trong trường hợp này nhà đầu tư có thể được hưởng lợI ích vậtchất ( như cổ tích, tiền lãi trái phiếu), lợì ích phi vật chất (quyền biểu quyết, quyềntiên mãi) nhưng không được tham gia quản ýy trực tiếp tài sản mà mình bỏ vốnđầu tư
Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư trong đó ngườI bỏ vốn trực tiếp tham giaquản lý, điều hành quá trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư Đầu tư trực tiếpbao gồm đầu tư dịch chuyển và đầu tư phát triển Đầu tư dịch chuyển là một hìnhthức đầu tư trong đó việc bỏ vốn là nhằm dịch chuyển quyền sở hữu giá trị của tàisản Thực chất trong đầu tư dịch chuyển không có sự gia tăng giá trị tài sản Nhưvậy theo cách tiếp cận này, đầu tư phát triển là một hình thức đầu tư trực tiếp Hoạtđộng đầu tư này nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong sản xuất kinh doanhdịch vụ và sinh hoạt đời sống.Đây là hình thức đầu tư trực tiếp tạo ra tài sản mới
Trang 4cho nền kinh tế, đơn vị sản xuất và cung ứng dịch vụ Hình thức đầu tư này đóngvai trò quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế tại mỗi quốcgia.
1.3; Vốn đầu tư:
Căn cứ theo nguồn hình thành và mục tiêu sử dụng:Vốn đầu tư được hiểu làtiền tích lũy của xã hội của các cơ sở sản xuất,kinh doanh dịch vụ là tiền tiết kiệmcủa dân cư và vốn huy động từ các nguồn khác được đưa vào trong quá trình táisản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở sẵn có và tạo ra tiềmlực mới cho nền sản xuất xã hội
1.4; Nguồn vốn đầu tư:
Là thuật ngữ dung để chỉ các nguồn tập trung và phân phối vốn cho đầu tưphát triển kinh tế đáp ứng nhu cầu chung của nhà nước và của xã hội.Nguồn vốnđầu tư bao gồm nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài
2 Đặc điểm của đầu tư phát triển
Hoạt động đầu tư phát triển có các đặc điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư phát triển thường rất lớn Vốn là nguồn lực quan trọng của hoạt động đầu tư phát
triển Vốn đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của vốn nói chung Trên phươngdiện nền kinh tế, vốn đầu tư phát triển là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những chi phí
đã chi ra để tạo ra năng lực sản xuất (tăng thêm tài sản cố định và tài sản lưu động)
và các khoản đầu tư phát trỉển khác.Trên phạm vi nền kinh tế, vốn đầu tư phát triểnbao gồm: vốn đầu tư xây dựng cơ bản, vốn lưu động bổ sung và vốn đầu tư pháttriển khác.Trong đó, vốn đầu tư xây dựng cơ bản là quan trọng nhất Đó là nhữngchi phí bằng tiền để xây dựng mới, mở rộng, xây dựng lại hay là khôi phục nănglực sản xuất của tài sản cố định trong nền kinh tế Quy mô các dự án đầu tư có lớnhay không thể hiện ở nguồn vốn đầu tư
Trang 5Để nền kinh tế phát triển lớn mạnh thì trước tiên cần phải có nguồn vốn đủlớn Vốn đầu tư thường nằm khên đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư nênảnh hưởng rất lớn đến cả các hoạt động khác trong nền kinh tế như sản xuất, kinhdoanh dịch vụ…Vì các hoạt động đầu tư phát triển đòi hỏi vốn lớn nên Nhà nướccũng như các chủ thể trong nền kinh tế cần có giải pháp tạo vốn và huy động vốnhợp lý, xây dựng chính sách kế hoạch đầu tư đúng đắn, quản lý chặt chẽ tổng vốnđầu tư, bố trí vốn theo tiến độ đầu tư, thực hiện đầu tư có trọng điểm.
Mặt khác, các dự án đầu tư cũng cần một số lượng lao động rất lớn, đặc biệt
là các dự án trọng điểm quốc gia Chính vì vậy, để đáp ứng một cách tốt nhất nhucầu nhân lực theo tiến độ đầu tư thì công tác tuyển dụng , đào tạo, sử dụng và đãingộ cần tuân thủ một kế hoạch định trước Ngoài ra cần hạn chế đến mức thấp nhấtnhững ảnh hưởng tiêu cực do vấn đề hậu dự án tạo ra như giải quyêt lao động dôidư Có thể nói, quy mô tiền vốn, vật tư, lao động ảnh hưởng rất lớn đến công tácđầu tư bao gồm cả chuẩn bị, thực hiện và vận hành các kết quả đầu tư đòi hỏi cácnhà quả
quản lý cũng như chủ đầu tư cần phải có các kế hoạch cũng như biện pháp quản lý
và sử dụng các nguồn lực hợp lý, tránh thất thoát lãng phí
Đặc điểm thứ hai là thời kỳ đầu tư kéo dài
Thời kỳ đầu tư được tính từ khi khởi công thực hiện dự án cho đến khi dự ánhoàn thành và đưa vào hoạt động Do quy mô các dự án đầu tư thường rất lớn nênthời gian hoàn thành các dự án thường tốn rất nhiều thời gian, có khi tới hàng chụcnăm như các công trình thuỷ điện, xây dựng cầu đường
Thời gian thực hiện các dự án đầu tư dài kéo theo sự ảnh hưởng đến tiến độnghiệm thu công trình và đưa vào sử dụng, do đó có thể làm giảm hiệu quả đầu tư,thời gian thu hồi vốn chậm.Thời gian đầu tư càng dài thì rủi ro cũng như chi phíđầu tư lại càng lớn, hơn nữa, nó còn ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanhnghiệp, nhất là trong điều kiện nền kinh tế hội nhập mạnh mẽ như hiện nay
Trang 6Do vốn lớn lại nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư nên đểnâng cao hiệu quả vốn đầu tư, cần tiến hành phân kỳ đầu tư, bố trí vốn và cácnguồn lực tập trung hoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình, quản lý chặtchẽ tiến độ kế hoạch vốn đầu tư, khắc phục tình trạng thiếu vốn, nợ đọng vốn đầu
tư xây dựng cơ bản nhằm hạn chế thấp nhất những mặt tiêu cực có thể xảy ra trongthời kỳ đầu tư
Đặc điểm thứ ba của đầu tư phát triển đó là thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài
Thời gian vận hành các kết quả đầu tư được tính từ khi đưa vào hoạt độngcho đến khi hết hạn sử dụng và đào thải công trình Một trong những kết quả củađầu tư phát triển là tạo ra tài sản vật chất cho nền kinh tế và quy mô vốn của hoạtđộng đầu tư này thường rất lớn nên thời gian sử dụng dài để có thể thu hồi đượcnguồn vốn đã bỏ ra
Các thành quả của hoạt động đầu tư có thể kéo dài hàng chục năm hoặc lâu hơn thếnhư Vạn lý trường thành ở Trung Quốc, nhà thờ và đấu trường La Mã ởItalia Chính vì thế nên trong quá trình vận hành các kết quả của đầu tư phát triểnchịu tác động cả hai mặt, tích cực và tiêu cực của nhiêù yếu tố tự nhiên, chính trị,kinh tế, xã hội Do đó, yêu cầu đặt ra đối với công tác đầu tư là rất lớn, nhất là vềcông tác dự báo về cung cầu thị trường sản phẩm đầu tư trong tương lai, quản lý tốtquá trình vận hành, nhanh chóng đưa thành quả đầu tư đưa vào sử dụng, hoạt độngtối đa công suất để nhanh chóng thu hồi vốn, tránh hao mòn vô hình, chú ý đến cả
độ trễ thời gian trong đầu tư Đây là đặc điểm có ảnh hưởng rất lớn đến công tácquản lý hoạt động đầu tư.Bên cạnh đó cần chú ý tới độ trễ thời gian trong đầutư.Thành quả đầu tư thường đạt đ ược trong tương lai,đầu tư trong năm nhưngthành quả đầu tư chưa chắc đã phát huy tác dụng ngay trong năm đó mà từ nhữngnăm sau và kéo dài trong nhiều năm,đây là đặc điểm rất riêng của lĩnh vực đầu tư
Trang 7Đặc điểm thứ tư là các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển mà là các công trình xây dựng thường phát huy tác dụng ngay tại nơi nó được tạo dựng nên,
do đó, quá trình thực hiện đầu tư cũng chịu ảnh hưởng rất lớn của các nhân tố về tựnhiên, kinh tế, xã hội vùng Các điều kiện tự nhiên của vùng như khí hậu, đất đai
có tác động rất lớn trong việc thi công, khai thác và vận hành các kết quả đầu tư
Ví dụ như xây dựng nhà máy đường, nhà đầu tư sẽ chọn nơi gần nguồn nguyênliệu mía
Đối với các công trình xây dựng, điều kiện về địa chất ảnh hưởng rất lớnkhông chỉ trong thi công mà cả trong giai đoạn đưa công trình vào sử dụng, nếu nókhông ổn định sẽ làm giảm tuổi thọ cũng như chất lượng công trình Tình hình pháttriển kinh tế của vùng ảnh hưởng trực tiếp tới việc ra quyết định và quy mô vốnđầu tư Nhà đầu tư sẽ xem xét kỹ lưỡng trình độ phát triển kinh tế của địa phương,các cơ sở vật chất kỹ thuật như đường sá, cầu cống để ra quyết định đầu tư cũngnhư có phương án đầu tư phù hợp Ngoài ra môi trường xã hội cũng ảnh hưởngrất lớn đến việc thực hiện các dự án đầu tư như phong tục tập quán, trình độ vănhóa
Đặc điểm thứ năm là hoạt động đầu tư phát triển có độ rủi ro cao
Mọi kết quả và hiệu quả của quá trình thực hiện đầu tư chịu nhiều ảnhhưởng của các yếu tố không ổn định theo thời gian và điều kiện địa lý của khônggian Do quy mô vốn đầu tư lớn, thời kỳ đầu tư kéo dài và thời gian vận hành cáckết quả đầu tư cũng kéo dài nên mức độ rủi ro của hoạt động đầu tư phát triểnthường rất cao, nhiều vấn đề phát sinh ngoài dự kiến buộc các nhà quản lý và chủđầu tư cần phải có khả năng nhận diện rủi ro cũng như biện pháp khắc phục kịpthời Để quản lý hoạt động đầu tư có hiệu quả trươc hết cần nhận diện rủi ro Có rấtnhiều rủi ro trong hoạt động đầu tư,các rủi ro về thời tiết ví dụ như trong quá trìnhđâu tư gặp phải mưa bão, lũ lụt làm cho các hoạt động thi công công trình đềuphải dừng lại ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ và hiệu quả đầu tư Các rủi ro về thị
Trang 8trường như giá cả, cung cầu các yếu tố đầu vào và sản phẩm đầu ra thay đổi, ví dụnhư do thông tin trong sữa Trung Quốc có chất gây bệnh sỏi thận mà cầu về sữagiảm sút nghiêm trọng, hoạt động đầu tư mở rộng cơ sở sản xuất chế biến sữa củamột số doanh nghiệp vì thế cũng bị ngưng trệ
Ngoài ra quá trình đầu tư còn thể gặp rủi ro do điều kiện chính trị xã hộikhông ổn định Khi đã nhận diện được các rủi ro nhà đầu tư cần xây dựng các biệnpháp phòng chống rủi ro phù hợp với từng loại rủi ro nhằm hạn chế thấp nhất tácđộng tiêu cực của nó đến hoạt động đầu tư
II Sự ảnh hưởng của các đặc điểm đầu tư phát triển đến công tác đầu tư
1.Trong công tác quản lý vĩ mô và vi mô
1.1 Cấp vĩ mô:
Nhà nước cần ban hành các văn bản pháp luật về đầu tư một cách chặt chẽ
và có hệ thống cũng như các văn bản liên quan như luật đất đai, luật đấu thầu Cácvăn bản này có tác dụng khuyến khích đầu tư, hướng các hoạt động đầu tư theođịnh hưóng của Nhà nước, khuyến khích các nhà đầu tư tư nhân tham gia vào cáclĩnh vực đầu tư phát triển
Nhà nước cần có các chính sách để huy động mọi nguồn vốn cho đầu tư pháttriển Các nguồn vốn có thể huy động được bao gồm nguồn vốn ngân sách, vốn từdân cư, vốn ODA, FDI, vốn vay thương mại quốc tế Nhà nước cần có các quyđịnh chặt chẽ về phân bổ vốn đầu tư hợp lý theo tiến độ, đầu tư chiều sâu để manglại hiệu quả cao nhất
Mặt khác, nhà nước cũng cần có các quy định về quy hoạch, tránh tình trạngquy hoạch treo gây thất thoát lãng phí nguồn tài nguyên Cùng với đó là đào tạonguồn nhân lực một cách hiệu quả, đáp ứng kịp thời nhu cầu về nguồn lực conngười trong hoạt động đâu tư
Trang 9Ngoài ra, Hệ thống cơ quan chuyên trách về quản lý dự án đầu tư và cán bộ
có trình độ chuyên môn cao đáp ứng yêu cầu thực tế cũng cần được nhà nước chútrọng xây dựng
1.2 Ở cấp vi mô
Khi nhà nước đã có những chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho các nhàđầu tư thì các nhà đầu tư cũng cần có các biện pháp để quản lý hoạt động đầu tư ởtầm vi mô một cách có hiệu quả
Trước khi tiến hành các hoạt động đầu tư, chủ đầu tư cần nghiên cứu kỹ cácđiều kiện về môi trường tự nhiên, kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội ở địa phương
Nó giúp cho chủ đầu tư có thể khai thác tối đa lợi thế vùng và nâng cao hiệu quảvốn đầu tư
Ngoài ra, doanh nghiệp cần xây dựng một chiến lược đầu tư rõ ràng, khoahọc để hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro có thể gặp phải Cần rõ ràng trongchuẩn bị về vốn đầu tư, tiến trình đầu tư Một điều cũng rất quan trọng đó là cầnxác định chính xác sự thay đổi của cung cầu trên thị trường về đầu vào và đẩu racủa dự án, đưa ra được dự báo chính xác trong tương lai để có các biện pháp điềuchỉnh kịp thời
2 Trong công tác chuẩn bị, thực hiện và vận hành các kết quả đầu tư
2.1Công tác chuẩn bị đầu tư
Giai đoạn chuẩn bị đầu tư quyết định sự thành công hay thất bại ở hai giaiđoạn sau, đặc biệt là với giai đoạn vận hành kết quả đầu tư Ở giai đoạn này, vấn
đề chất lượng, chính xác kết của kết quả nghiên cứu Tổng chi phí giai đoạn chuẩn
bị chiếm từ 0,5- 15% vốn đầu tư chảy vào dự án Làm tốt công tác chuẩn bị đầu tư
sẽ tạo tiền đề cho việc sử dụng tốt phần vốn còn lại, tạo cơ sở cho quá trình hànhđộng của dự án được thuận lợi, nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư, nhanh chóng pháthuy hết nguồn lực phục vụ dự kiến
Trang 10Quá trình chuẩn bị đầu tư gồm 4 bước: nghiên cứu cơ hội đầu tư, nghiên cứutiền khả thi, nghiên cứu khả thi và thẩm định dự án.
Sự quán triệt các đặc điểm của đầu tư phát triển trong công tác chuẩn bị đầu tư được thể hiện qua các mặt như:
- Với đặc điểm vốn, vật tư lao động cho dự án đầu tư lớn:
Thứ nhất là có giải pháp huy tạo vốn và huy động vốn hợp lý Các chínhsách và giải pháp huy động vốn cho các dựa án đầu tư phải gắn với chiến lược pháttriển kinh tế-xã hội trong từng giai đoạn
Trong điều kiện mà nhu cầu vốn đầu tư rất lớn như hiện nay việc đa dạng hóa cáckênh huy động vốn, hiện đại hóa các hình thức và phương tiện huy động vốn là vôcùng cần thiết Các nguồn huy động vốn cho đầu tư phát triển có thể qua phát hành
cổ phiếu, trái phiếu, vay ngân hàng, các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước Các chính sách huy động vốn phải được tiến hành đồng bộ cả về nguồn vốn vàbiện pháp thực hiện, phù hợp với quy hoạch ngành, lãnh thổ và lĩnh vực ưu tiên
Thứ hai là thực hiện đầu tư có trọng tâm trọng điểm, tránh đầu tư dàn trải,gây thất thoát lãng phí nguồn lực Với các dự án trọng điểm cần tập trung thực hiệndứt điểm, kiên quyết cắt giảm các hạng mục công trình chưa thực sự cần thiết,khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải Đồng thời có các biện pháp bố trí vốn theotiến độ của dự án, kế hoạch bố trí vốn phải bám sát những định hướng, chủ trươngcủa chính phủ, các bộ ngành có liên quan
Thứ ba, cần có các giải pháp về tuyển dụng, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ laođộng một cách hợp lý, sao cho đáp ứng tốt nhất nhu cầu về nhân lực theo tiến độđầu tư Hiện nay vẫn xảy ra tình trạng nhân lực cho các dự án rất dồi dào nhưng sốlượng đáp ứng được các yêu cầu của dự án lại rất thấp, phần lớn lao động khôngđược đào tạo bài bản, hoặc không đáp ứng được yêu cầu của dự án Nhiều dự ánmặc dù đã chính thức đầu tư và khởi công nhưng lại không thực hiện được đúngtiến độ do bài toán về lao động
Trang 11Để tránh tình trạng trên, các dự án khi chuẩn bị đầu tư cần phải xây dựng kếhoạch tuyển dụng , phương án đào tạo lao động kịp thời, để việc đào tạo lao độngsát với nhu cầu thực tế.
-Với đặc điểm thời kỳ đầu tư kéo dài:Yêu cầu đặt ra là cần tiến hành quản lý chặtchẽ tiến độ kế hoạch đầu tư, lập tiến độ thi công xây dựng cụ thể trong từng giaiđoạn, đảm bảo tiến độ ngay từ khâu giải phóng mặt bằng Tiến độ thi công xâydựng công trình phải phù hợp với tiến độ của dự án đã được phê duyệt Một trongcác yếu tố làm cho thời kỳ đầu tư thực tế thường kéo dài hơn nhiều so với dự kiến
đó là tình trạng thiếu vốn Chính vì vậy cần có các giải pháp về bố trí vốn và cácnguồn lực tập trung hoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình, bố trí xen kẽcác công việc cần thực hiện nhằm đảm bảo đúng thời gian hoàn thành dự án
- Về đặc điểm đầu tư phát triển phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên kinh
tế-xã hội vùng Trước hết cần nghiên cứu tiềm năng thế mạnh của từng vùng, địaphương, các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển Điều này ảnh hưởng rất lớnđến việc ra quyết định đầu tư Chủ đầu tư cần nghiên cứu kỹ và lựa chọn địa điểmđầu tư phù hợp nếu không chủ đầu tư sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro về nhiều mặt
cả về tự nhiên lẫn kinh tế xã hội Do đó, khi lựa chon địa điểm đầu tư cần dựa trênnhững căn cứ khoa học, dựa vào hệ thống các chỉ tiêu về tự nhiên, kinh tế, chínhtrị, xã hội nhằm khai thác tối đa lợi thế của vùng, nâng cao hiệu quả vốn đầu t
- Với đặc điểm đầu tư phát triển có độ rủi ro cao: Cần có biện pháp tổng thểquản lý rủi ro bao gồm từ việc nhận diện rủi ro, đánh giá mức độ rủi ro và xâydựng biện pháp phòng và chống rủi ro, điều này rất quan trọng Xác định đúngnguyên nhân rủi ro là khâu quan trọng đầu tiên để tìm ra giải pháp phù hợp để khắcphục Mặt khác, việc đánh giá xếp thứ tự ưu tiên rủi ro sẽ đưa ra được biện pháptối ưu xử lý rủi ro, hạn chế thấp nhất được các thiệt hại có thể có do rủi ro gây ratrong suốt vòng đời của dự án
2.22.2 Quá trình thực hiện đầu tư
Trang 12Giai đoạn thực hiện đầu tư: Vấn đề thời gian là quan trọng hơn cả, 85-95.5%vốn đầu tư được chia ra và huy động trong suốt những năm thực hiện đầu tư Đây
là những năm vốn không sinh lời, thời hạn thực hiện đầu tư cũng kéo dai, vốn ứđọng càng nhiều, tổn thất càng lớn Thời gian thực hiện đầu tư phụ thuộc nhiều vàocông tác chất lượng công tác chuẩn bị đầu tư, quản lý quá trình việc thưc hiệnnhững hoạt động khác có liên quan trực tiếp đến các kết quả của quá trình thựchiện những hoạt động khác có liên quan trực tiếp đến các kết quả của quá trìnhthực hiện đầu tư đã được xem xét trong dự án đầu tư
Quá trình thực hiện đầu tư gồm: hoàn tất thủ tục đầu tư, thiết kế lập tổng dựtoán, xây dựng mua sắm trang thiết bị, tuyển dụng đào tạo lao động, nghiệm thu,thanh quyết toán, bàn giao kết quả
Sự quán triệt các đặc điểm của đầu tư phát triển ở giai đoạn hai này được thểhiện ở chỗ:
Thứ nhất cần quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư Do ở giai đoạn nàyvốn nằm khê đọng trong thời gian dài nên để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, cầntiến hành phân kỳ hoạt động đầu tư, bố trí vốn và các nguồn lực tập trung hoànthành dứt điểm từng hạng mục công trình, quản lý chặt chẽ tiến độ kế hoạch đầu
tư, khắc phục tình trạng thiếu vốn, nhất là trong xây dựng cơ bản Do yếu kémtrong quản lý mà nhiều chủ đầu tư đã làm thất thoát nguồn vốn, khiến cho vốn đầu
tư thực tế cao hơn rất nhiều so với dự toán ban đầu Cần có chính sạch đào tạonguồn nhân lực, đãi ngộ công nhân và chuyên gia Điều này càng đảm bảo hơn cho
sự thành công của giai đoạn thực hiện đầu tư
Mặt khác, cần rút ngắn thời gian đầu tư, đảm bảo đúng tiến độ thi công côngtrình Thời gian hoàn thành dự án càng ngắn thì chi phí và rủi ro càng ít Hoạt độngđầu tư luôn luôn gắn liền với yếu tố rủi ro, điều quan trọng là nhận biết và khắcphục được chúng trong quá trình thực hiện đầu tư Kéo dài thời gian thực hiện làkéo thêm một khoản chi phí, tăng thêm những rủi ro, những bất trắc, mất đi cơ hội
Trang 13cạnh tranh trên thị trường, hiệu quả đầu tư vì thế cũng giảm sút.Bên cạnh đó cầnquản lý chặt chẽ việc sử dụng nguyên vật liệu, tránh lãng phí, nâng cao hiệu suất
sử dụng
Bên cạnh đó, cũng cần có sự đầu tư về mặt công nghệ, lắp đặt các dâychuyền thiết bị hiện đại, phù hợp với trình độ quản lý và sử dụng giúp cho chủ đầu
tư nâng cao được chất lưọng sản phẩm, mặt khác lại tiết kiệm được đáng kể chi phí
về vận hành, về nhân công, nguyên vật liệu và năng lường, góp phần nâng cao hiệuquả trong thực hiện đầu tư
2.3 Quá trình vận hành kết quả đầu tư
Giai đoạn vận hành các kết quả của giai đoạn thực hiện đầu tư nhằm đạtđược các giai mục tiêu của dự án, nếu các két quả do giai đoạn thực hiện đầu tư tạo
ra đảm bảo tính đồng bộ, tồn tại thấp, chất lượng tốt, đúng tiến độ tại thời điểmthích hợp, với quy mô tối ưu thì hiệu quả hoạt động của các kết quả này và mụctiêu của dự án chỉ còn phụ thuộc trực tiếp vào quá trình tổ chức quản lý hoạt động.Làm tốt công tác của giai đoạn chuẩn bị và thực hiện đầu tư sẽ tạo thuận lợi choquá trình tổ chức quản lý phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư Thời gian pháthuy tác động của các kết quả đầu tư chính là đời của dự án nó gắn với đời sống củasản phẩm trên thị trưòng
Đây là giai đoạn thu hồi vốn, dự án có đạt mục tiêu hay không phụ thuộc vào kếtquả hoạt động của giai đoạn này Giai đoạn vận hành khai thác là giai đoạn màhiệu quả khai thác nguồn lực được thể hiện rõ nét phụ thuộc vào năng lực tổ chứcquản lý điều hành Sự quán triệt các đặc điểm của đầu tư phát triển trong công tácvận hành kết quả đầu tư bỉểu hiện ở các mặt:
Thứ nhất, xây dựng cơ chế và phương pháp dự báo khoa học nhằm có nhữngbước đi phù hợp trong mỗi giai đoạn cụ thể cả ở cấp vĩ mô và vi mô về nhu cầu thịtrường đối với sản phẩm đầu tư tương lai, dự kiến khả năng cung ứng từng năm và
Trang 14toàn bộ vòng đời của dự án Từ đó nắm bắt được thời cơ để tạo ra những bứơcnhảy vọt trong đời của dự án.
Thứ hai, quản lý tốt quá trình vận hành, nhanh chóng đưa thành quả đầu tưvào sử dụng, hoạt động tối đa công suất để nhanh chóng thu hồi vốn, tránh các haomòn vô hình Đồng thời cần tuân thủ chiến lược về công suất Vòng đời sản phẩmcủa dự án càng dài thì lợi nhuận thu được càng lớn, do đó hiệu quả đầu tư càngcao
Ngoài ra, cần chú ý đúng mức đến yếu tố độ trễ thời gian trong đầu tư Đầu
tư trong năm nhưng thành quả đầu tư chưa chắc đã phát huy tác dụng ngay trongnăm đó mà từ những năm sau và kéo dài trong nhiều năm Đây là đặc điểm rấtriêng của lĩnh vực đầu tư, ảnh hưỏng lớn đến công tác quản lý hoạt động đầu tư
CHƯƠNG II:THỰC TRẠNG CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ TÌNH HÌNH QUÁN TRIỆT CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG CÔNG TÁC ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
I,Thực trạng đầu tư phát triển ở Việt Nam
1,Huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển.
Thực tiễn Việt Nam từ khi thực hiện chính sách đổi mới mở cửa ,bên cạnhviệc thoát khỏi khủng hoảng kinh tế Việt Nam còn đạt đựoc thành tích tăng trưởngkinh tế cao liên tục.Nếu so sánh với các nước trong khu vực thì tốc độ tăng trưởngcủa nước ta đứng thứ 2 sau Trung Quốc, cao hơn các nước ASEAN khác nhưMalaysia, Indonesia, Philipin và Thái Lan (từ năm 1991,nền kinh tế Việt Nam bắtđầu có những khởi sắc với tốc độ tăng trưởng 8.7% và đạt mức cao nhất vào năm
1995 với tốc độ tăng trưởng là 9.5% Sáu năm liên tục từ 1991 đến 1996 Việt Namđạt mức tăng trưởng trên 8%.Do chịu sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng năm
1997 nên tốc độ tăng trưởng Việt Nam giảm xuống 5.8% năm 1998 và 4.8 năm1999.Đến năm 2003 tăng trưởng kinh tế đã có đấu hiệu phục hồi tốc độ tăng
Trang 15trưởng trung bình giai đoạn 2003-2007 đạt 8.04%) Điều đó làm cho khả năng huyđộng ,khai thác và sử dụng các nguồn vốn đầu tư được mở rộng hơn.Tốc độ giatăng quy mô đầu tư gia tăng đáng kể trung bình tăng hơn 20%/năm).Tỷ trọng vốnđầu tư phát triển gia tăng mạnh mẽ (năm 1991 chỉ khoảng 17.6% GDP thì đến năm
2006 đã tăng lên đến 41% GDP và ước đạt 41.7% GDP năm 2007), đây cũng là tỉ
lệ đạt cao so với 1 số nước trong khu vực
(nguồn: WB,Atlas of Global Development 2005)
Theo hình trên ta thấy: Nếu tính trung bình giai đoạn 1995-2005, tỷ lệ đầu tư trongGDP của Việt Nam đứng thứ 9 trên thế giới và tỉ lệ này đều cao hơn mức trungbình của thế giới và các nước có thu nhập thấp
Nếu chi đầu tư theo thành phần kinh tế bao gồm 3 khu vực là khu vực kinh tếnhà nước, kinh tế ngoài quốc doanh và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài thì đầu
tư của khu vực kinh tế nhà nước luôn chiếm tỷ trọng cao trên dưới 50% tổng vốnđầu tư toàn xã hội tỷ trọng đầu tư của kinh tế nhà nước tăng từ 42% năm 1995 lên59.8% năm 2001 và giảm xuống 52% năm 2005 và 50.1% năm 2006 Đặc biệt tỷtrọng đầu tư của kinh tế nhà nước tăng mạnh trong giai đoạn 1998-2002 do việcthực thi chính sách kích cầu của nhà nước Trong thời gian này đầu tư của khu vựcngoài quốc doanh và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài giảm Trong giai đoạn năm1995-1997 vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam tăng mạnh nên tỷ trọng
Trang 16đầu tư của khu vực này cũng tăng và chiếm đến 28.1% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.Nhưng do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính ở Đông Á nên lượng vốn FDI vàoViệt Nam giảm mạnh trong thời kỳ 1998 – 2002 nên tỷ trọng khu vực này trongtổng vốn đầu tư chỉ còn chiếm 18,2%.Nguồn FDI mới bắt đầu tăng trở lại từ năm2005.Đầu tư của khu vực ngoài quốc doanh cũng giảm mạnh trong giai đoạn 1997– 2002 do ảnh hưởng của khủng hoảng ở Đông Á Tuy nhiên tốc độ giảm khu vựcnày không nhiều do luật doanh nghiệp ra đời năm 2000 đã thúc đẩy đầu tư của khuvực tư nhân Tỷ trọng đầu tư của khu vực ngoài quốc doanh tăng mạnh từ năm
2002 đã vượt mức 1/3 tổng vốn đầu tư toàn xã hội
Vốn đầu tư phân theo thành phần kinh tế
Tổng số Chia ra
Trang 17Kinh tế Nhà nước
Kinh tế ngoài quốc doanh
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
Vốn nhà nước tăng liên tục qua các năm;năm 2005 là 1.198,814 tỷ đồng,năm 2006 là 1.244,303 tỷ đồng, năm 2007 là 1138,762 tỷ đồng Ngân sách nhànước chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn đầu tư phát triển và vốn ngân sách nhànước chiếm khoảng 70% vốn nhà nước.Trong ngân sách nhà nước thì nguồn thuchủ yếu là từ thuế và phí (chiếm tới 90%),tăng trung bình 17%/năm.Trong đó ngânsách trung ương chiếm khoảng 10%(năm 2007 vốn ngan sách trung ương là 74,911
tỷ đồng trong tổng ngân sách nhà nước là 778,46 tỷ đồng, chiếm khoảng9,624%);ngân sách địa phương đóng góp khoảng 90%(năm 2007 vốn ngân sáchđia phương là 703,549 tỷ đồng, chiếm khoảng 90,376%) GDP đóng góp vào ngân
Trang 18sách nhà nứơc khoảng 23.5%.Tỷ lệ đầu tư phát triển chiếm 29.7% trong tổng vốnngân sách nhà nước Nguồn vốn tín dụng đầu tư cũng cố những chuyển biến tiến
bộ, tuy nhiên trong những năm gần đây nguồn vốn đầu tư tín dụng Nhà nước xuhướng giảm dần do nhà nước có chủ trương thu hẹp đối tương cho vay ,hạn chếcho vay theo dự án và đẩy mạnh thực hiện hỗ trợ lãi suất đầu tư.Năm 2005 số vốntín dụng nhà nước là 159,816 tỷ đồng, năm 2006 là 117,554 tỷ đồng,, và năm 2007
là 91,877 tỷ đồng; giảm khoảng 42,5% trong vòng 3 năm Nguồn vốn tín dụng từcác nguồn khác tăng lên rất nhanh;năm 2005 là 122,317 tỷ đồng, năm 2006 là288,165 tỷ đồng;năm 2007 là 221,608 tỷ đồng; mức tăng khoảng 81,17%
Vốn đầu tư của khu vực ngoài quốc doanh trong những năm gần đây đượcchú trọng, tăng khoảng 78,5%trong vòng 3năm 2005-2007 (năm 2005 là 2024,563
tỷ đồng và năm 2007 là 3613,629 tỷ đồng).Theo điều tra thực tế năm 2007 thì sốvốn của các hộ gia dình là 1283,919 tỷ đồng và vốn của các tổ chức doanh nghiệp
là 2329,71 tỷ đồng
Để tăng vốn cho đầu tư phát triển, chính phủ thực hiện huy động vốn thôngqua việc phát hành trái phiếu chính phủ từ năm 2003.Năm 2003 là 8.1 nghìn tỷđồng, năm 2004 là 6.5 nghìn tỷ đồng và năm 2006 khoảng 13.1 tỷ đồng
Trang 19Nguồn hình thành vốn đầu tư trong nước và nước ngoài
Bên cạnh đó, chúng ta luôn coi trọng việc thu hút nguồn vốn từ bên ngoài.Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản luật và cơ chế chính sách với mục đíchkhuyến khích nhà đầu tư nước ngoài mang vốn,công nghệ quản lý hiện đại vàoViệt Nam.Cùng với đó là tạo lập môi trường đầu tư thuận lợi cho các nhà đầu tưnước ngoài,giữ vững môi trường kinh tế vĩ mô ổn định,giảm chi phí đầu tư,giảiquyết những vướng mắc cụ thể cho các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước Đặcbiệt từ khi Việt Nam là thành viên của tổ chúc thương mại thế giới WTO vốn đầu
tư nước ngoài vào Việt Nam gia tăng đáng kể.Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài năm
2005 là 78,400 tỷ đồng, năm 2006 là 97,175 tỷ đồng, năm 2007 99,525 là tỷđồng.Vốn đầu tư nước chiếm khoảng 30% tổng vốn đầu tư phát triển của nền kinhtế.Ngoài các nguòn vốn chủ yếu là ODA và FDI,vào Việt Nam còn có lượng vốn
mà doanh nghiệp tự đi vay nước ngoài hoặc vốn huy động thông qua phát hành tráiphiếu chính phủ bằng ngoại tệ ra nước ngoài.Tuy nhiên chúng ta cũng chỉ mới pháthành tráiphiếu chính phủ ra nước ngoài nên nguồn vốn này chưa đáng kể
Trang 20Nguồn vốn ODA trong thời gian qua đạt thành tựu quan trọng.tổng mức ODAcác nhà tài trợ cam kết cho nước ta trong giai đoạn 2000-2006 ước tính đạt 31 tỷUSD,trong đó các khoản viện trợ không hoàn lại chiếm 15-20%.Nguồn vốn ODA đãđược giải ngan khoảng 15.5 tỷ USD ,chiếm khoảng 50% giá trị ODA cam kết tàitrợ,trong đó 80% nguồn vốn đầu tư cho đầu tư phát triển còn lại là chi cho sựnghiệp,tốc độ giải ngân là 11.3%.Hiện nay có 25 nhà tài trợ song phương,14 tổ chứctài trợ đa phương và trên 350 NGO hoạt động tại Việt Nam.
Thu hút vốn FDI cũng đạt kết quả tích cực khoảng 298,4 nghìn tỷ đồng,tương ứngkhoảng 19.5% nguồng vốn đầu tư phát triển của toàn nền kinh tế.Trong số 64 nướcđầu tư tại Việt Nam ,các nước châu Á chiếm trên 76% số dự án và trên 70% số vốnđăng kí,trong đó Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc ,Hồng Kông chiếm trên 605 số dự
án và đăng kí còn các nước EU chiếm khoảng 16% vê số dự án và 24% số vốnđăng kí,Hoa Kì chiếm khoảng 19.55 số dự án va 2.7%sô vốn đăng kí
Bên cạnh ODA và FDI thì một lượng vốn không nhỏ được chuyển vào nước
ta là kiêu hối chuyển về hang năm Lượng kiều hố năm 2006 dạt 4.5 tỷ USDvànăm 2007 lên tới 10 tỷ USD, mức cao nhất từ trước tới nay.So với tổng mức ngoại tệViệt kiều gửi về nước năm 2006, lượng kiều hối năm 2007 tăng gần 50% Nguyênnhân là do chính phủ Việt Nam áp dụng các quy chế mới đối với Việt kiều trong cáclĩnh vực đầu tư, bất động sản và miễn thị thực nhập cảnh Đặc biệt gần đây quốc hộithông qua điều luật cho Việt kiều mua nhà tại Việt Nam
Ngoài các nguồn vốn trên thì còn một lượng vốn vay của nước ngoài Tuynhiên, lượng vốn này không đáng kể, chỉ đạt khoảng 50 nghìn tỷ đồng Lượng tráiphiếu chính phủ phát hành ra nước ngoài bằng ngoại tệ khoảng 5.5 nghìn tỷ đồng
TỔNG VỐN ĐẦU TƯ TOÀN XÃ HỘI
(Giá hiện hành)
Triệu đồng
Trang 212005 2006 2007
- Vốn của các tổ chức, doanh nghiệp 946.608 972.666 1.283.919
Phân theo cấu thành
1 Vốn đầu tư xây dựng cơ bản 2.896.277 3.558.001 4.133.852 trong đó
Nguồn :www.gso.gov.vn (trang web của Tổng cục thống kê)
2.Tình hình đầu tư phát triển tài sản hữu hình và tài sản vô hình
2.1, Đầu tư phát triển tài sản hữu hình.
Trong những năm gần đây, do điều chỉnh chính sách và cơ cấu đầu tư nênquy mô vốn đầu tư vào các ngành các vùng tăng lên rõ rệt Cơ cấu vùng có nhiềucải thiện, tỷ trọng vốn đầu tư vào các vùng miền núi, vùng khó khăn tăng hơn sovới thời kỳ trước So với tổng vốn đầu tư toàn xã hội, vốn đầu tư vùng núi phíaBắc chiếm 8.1%, vùng đồng bằng sông Hồng chiếm 24.4%, vùng bắc trung duchiếm 7.8%, vùng duyên hải miền Trung chiếm 12.2%, vùng Tây Nguyên chiếm5%, vùng Đông nam bộ chiếm 27.4% và vùng Đồng bằng Sông Cửu Long chiếm15.1% Vốn đầu tư tuy vẫn chủ yếu tập trung trong ngành công nghiệp, chiếm
Trang 22khoảng 43.5% vốn đầu tư toàn xã hội, với mức tăng bình quân 11%/năm, nhưng đãgia tăng cho lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp, tăng bình quân 13.2%/năm, đầu tưcho lĩnh vực khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa tăng 15.2%/năm,nên tỷ trọng vốn đầu tư cho các lĩnh vực này đã đạt tương ứng là 12.7% và 8.1%;ngoài ra còn đầu tư cho hạ tầng giao thông vận tải và thông tin liên lạc 8.2%, cácngành khác khoảng 20.7%
Riêng nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước ước tính thực hiện trong 3năm (2001-2003) đạt trên 118 nghìn tỷ đồng (theo giá năm 2000), đã tập trung hơncho lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội; trong đó đầu tư cho lĩnh vựcnông nghiệp và nông thôn khoảng 25%, công nghiệp 7.9%, giao thông vận tải vàbưu chính viễn thông 28.7%, khoa học và công nghệ, giáo dục đào tạo, y tê, vănhoá, thể dục thể thao 21.1%; các ngành khác 17.3%
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2005 là 2896,277 tỷ đồng, năm 2006 là 3558,001
tỷ đồng, và năm 2007 là 4133,852 tỷ đồng Như vậy từ năm 2005-2007 vốn đầu tưxây dựng cơ bản tăng khoảng 42.7% Trong đó vốn đầu tư xây lắp chiếm khoảng75% vốn đầu tư xây dựng cơ bản và vốn đầu tư mua sắm thiết bị máy móc chiếmkhoảng gần 20%
Cơ cấu nguồn vốn tín dụng đầu tư của nhà nước trong giai đoạn 2001-2005như sau: cho vay các dự án thuộc ngành công nghiệp xây dựng chiếm 52.2%, các
dự án thuộc ngành nông, lâm thuỷ sản 15.7%, các dự án thuộc ngành giao thôngvận tải, bưu điện 27.8%, các dự án khác chiếm khoảng 4.3% Trong thời gian qua,Quỹ hỗ trợ phát triển đã đẩy mạnh việc hỗ trợ lãi suất sau đầu tư, bảo lãnh tín dụngđầu tư Hình thức hỗ trợ lãi suất sau đầu tư được thực hiện từ năm 2003 Quỹ đãthực hiện giao kế hoạch vốn đầu tư đến từng công trình dự án, nên thủ tục nhanhhơn, linh hoạt hơn, phù hợp hơn với nhu cầu thực tế
VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TOÀN XÃ HỘI PHÂN THEO
Trang 23Thương nghiệp; Sửa chữa xe có động cơ, mô
tô, xe máy, đồ dùng cá nhân và gia đình 3035 7953 11962 14763 15659 18359 20154 22592 Khách sạn và nhà hàng 4453 2975 3847 4230 5549 6628 8613 9899 Vận tải; kho bãi và thông tin liên lạc 19913 26999 32398 38226 39381 48252 58410 79495
Các hoạt động liên quan đến kinh doanh tài
sản và dịch vụ tư vấn 4031 1735 2612 3605 5025 5705 6920 12034 QLNN và ANQP; đảm bảo xã hội bắt buộc 3914 3854 3072 4452 8260 9727 11914 13236 Giáo dục và đào tạo 6084 6225 5882 7118 8614 10097 13234 14402
Y tế và hoạt động cứu trợ xã hội 2323 2770 3207 4370 5665 5775 6150 6717 Hoạt động văn hóa và thể thao 2812 2228 3029 4288 4583 4893 5625 6257 Các hoạt động Đảng, đoàn thể và hiệp hội 793 342 818 892 1015 1217 1456 1624
HĐ phục vụ cá nhân, cộng đồng và các hoạt
Nguồn: www.gso.gov.vn (trang web của Tổng cục thống kê)
Trong những năm trở lại đây, phạm vi sử dụng nguồn vốn đầu tư Nhà nướccũng được mở rộng đáng kể,vốn đầu tư cho khu vực thương mại khoảng 42.9%,
trong công nghiệp và xây dựng chiếm khoảng 31.3%, trong nông nghiệp chiếm
khoảng 3.8% và các dịch vụ khác và kinh doanh chung chiếm khoảng 21.8% Khu
vực kinh tế tư nhân mà chủ yếu là các doanh nghiệp đã mở rộng hoạt động đầu tư
trong các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, hoạt động trong các ngành
Trang 24công nghiệp và dịch vụ cao cấp Tuy nhiên phân bổ nguồn vốn này còn chênh lệchlớn giữa các địa phương, các vùng miền khác nhau Khối lượng chủ yếu vẫn dànhcho các vùng kinh tế trọng điểm,các vùng có điều kiện kinh tế- xã hội thận lợi.Nguồn vốn huy động thông qua trái phiếu chính phủ tuy có tỷ trọng nhỏ nhất trongtổng vốn đầu tư trong nước nhưng lại có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựngcác công trình trọng điểm quốc gia, công trình mang tính xã hội, trong các lĩnh vựcnhư giao thông, thuỷ lợi,công trình phúc lợi xã hội… Việc sử dụng nguồn vốn tráiphiếu Chính phủ được thực hiện theo quy định cụ thể của chính phủ nhằm thựchiện các nhiệm vụ và chương trình đầu tư Tổng số vốn trái phiếu Chính phủ tronggiai đoạn 2003-2010 khoảng 110 nghìn tỷ đồng Bố trí vốn khoảng 16 nghìn tỷđồng cho các dự án đầu tư theo nghị quyết 33/2004/QH11, và khoảng 14 tỷ đồngcho các dự án giao thông thuỷ lợi và tái định cư khoảng, khoảng 76 tỷ đồng chocác dự án theo quyết định 183/2003; 286/2004; 252/2004 của Thủ tướng Chínhphủ
Nguồn vốn FDI được sử dụng khá hiệu quả, có gần 6 nghìn dự án đầu tư vớitổng số vốn đăng ký đạt gần 50 tỷ USD, chủ yếu tập trung vào công nghiệp và xâydựng khoảng 66,9% số dự án và 57.2% số vốn đăng ký Các dự án FDI tập trungchủ yếu ở vùng kinh tế trọng điểm phía nam với 56% tổng vốn đăng ký
Nguồn vốn đầu tư vào tài sản hữu hình chiếm tỷ trọng lớn trong các nguồnvốn đầu tư phát triển trong những năm gần đây Trong đó nguồn vốn dân cư tưnhân FDI được sử dụng khá hiệu quả Bên cạnh đó, nguồn vốn Nhà nước cònnhiều hạn chế trong việc phân bổ và sử dụng bắt nguồn từ sự bao cấp của Nhànước, sự thiếu chặt chẽ trong quản lý sử dụng và tình trạng dàn trải thất thoát lãngphí tiêu cực không đáng có trong đầu tư
2.2 Đầu tư tài sản vô hình
Trong thời gian qua đầu tư nguồn nhân lực trở thành mối quan tâm hàng đầucủa Chính phủ cũng như các doanh nghiệp Bởi nguồn nhân lực có vị trí đặc biệt