Giai đoạn từ tháng 8/1996 đến nay: Tháng 8/1996 UBND Thành phố Hà Nội quyết định tách Công ty KDNS Hà Nội thành hai công ty,trong đó toàn bộ các nhà máy,trạm sản xuất nước và mạng nước
Lịch sử hình thành và phát triển
Tên công ty: CÔNG TY KINH DOANH NƯỚC SẠCH HÀ NỘI -
Trụ sở: 44 Đường Yên Phụ - Quận Ba Đình - Hà Nội Điện Thoại: (04)8.293.179 - (04)8.296.166 - (04)7.163.611
Website: http://ww.Hwbco44Fhn.vnn.vn
Công ty KDNS Hà Nội, được thành lập theo quyết định số 564/QĐUB vào ngày 04 tháng 04 năm 1994, là doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân Với hơn 106 năm hình thành và phát triển từ năm 1894, công ty đã trải qua nhiều giai đoạn quan trọng.
Giai đoạn từ năm 1894 đến năm 1954, thực dân Pháp đã chiếm đóng nước ta, biến Việt Nam thành thuộc địa Trong thời gian này, Sở máy nước Hà Nội được người Pháp đầu tư xây dựng từ năm 1984, bao gồm 5 nhà máy.
1- Nhà máy nước Ngô Sỹ Liên xây dựng năm 1909.
2- Nhà máy nước Yên Phụ xây dựng năm 1931.
3- Nhà máy nước Đồn Thuỷ xây dựng năm 1939.
4- Nhà máy nước Bạch Mai xây dựng năm 1944.
5- Nhà máy nước Gia Lâm xây dựng năm 1953.
SVTH: Nguyễn Quốc Tú Lớp: Kế toán K38 Định kỳ
Đến năm 1954, tổng số giếng khai thác đạt 17 giếng với công suất 26.000 m³/ngày, hệ thống truyền dẫn và phân phối kéo dài khoảng 80 km Tổng giá trị tài sản cố định trong giai đoạn này ước tính khoảng 4 tỷ đồng theo giá hiện tại, với đội ngũ công nhân gồm 314 người.
Giai đoạn từ năm 1955 đến 1965 đánh dấu sự phát triển quan trọng của ngành cấp nước Hà Nội, bắt đầu từ việc giải phóng Thủ đô vào tháng 10/1954 Sở máy nước được chuyển giao cho Chính Phủ và đổi tên thành “Nhà máy nước Hà Nội” Trong thời gian này, Hà Nội đã xây dựng thêm 4 nhà máy nước mới: Hạ Đình, Ngọc Hà 1, Tương Mai, và Lương Yên 1, nâng công suất khai thác từ 26.000 m³/ngđ lên 86.500 m³/ngđ.
Giai đoạn từ năm 1965 đến 1975 là thời kỳ chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, trong đó ngành cấp nước không thể xây dựng thêm nhà máy mới Thay vào đó, ngành này chỉ khai thác tối đa công suất của các nhà máy nước hiện có và các trạm nhỏ do các cơ quan, xí nghiệp trong thành phố tự xây dựng Đến cuối năm 1975, sản lượng nước toàn ngành đạt 154.500 m³/ngày đêm.
Giai đoạn từ năm 1975 đến 1985 đánh dấu sự thống nhất và hòa bình của đất nước, bắt đầu quá trình xây dựng lại nền kinh tế sau chiến tranh Trong thời gian này, hệ thống cấp nước được cải tạo và xây mới, nâng tổng công suất lên 240.000 m³/ngày Năm 1978, Nhà máy nước Hà Nội được đổi tên thành Công ty cấp nước Hà Nội, trực thuộc Sở công trình đô thị điều hành.
Giai đoạn từ năm 1985 đến tháng 8/1996: Năm 1985 thành phố Hà
Chính phủ Cộng Hoà Phần Lan đã cung cấp viện trợ không hoàn lại nhằm hỗ trợ thành phố trong việc cải tạo, nâng cấp và mở rộng hệ thống cung cấp nước sinh hoạt.
SVTH: Nguyễn Quốc Tú Lớp: Kế toán K38 Định kỳ
3 năm 1985 đến năm 1997 nâng công suất khai thác lên hơn 370.000m 3 nước/ngđ phục vụ cho hơn 1,5 triệu dân và một phần phục vụ cho sản xuất.
Vào ngày 4 tháng 4 năm 1994, UBND thành phố Hà Nội đã ban hành quyết định 564/QĐ-UB về việc sát nhập Công ty Đầu tư và Phát triển Ngành Nước cùng với Xưởng Đào tạo Công nhân Ngành Nước vào Công ty Cấp nước Hà Nội, tổ chức lại thành một đơn vị mới.
Công ty kinh doanh nước sạch Hà Nội _ chịu sự quản lý trực tiếp của Sở
Giao thông công chính Hà Nội.
Giai đoạn từ tháng 8/1996 đến nay: Tháng 8/1996 UBND Thành phố
Hà Nội đã quyết định tách Công ty KDNS Hà Nội thành hai công ty, trong đó Công ty KDNS số 2 sẽ quản lý toàn bộ các nhà máy, trạm sản xuất nước và mạng nước tại hai huyện Gia Lâm và Đông Anh Hiện tại, Công ty KDNS Hà Nội đang vận hành 8 nhà máy nước lớn và 15 trạm sản xuất nhỏ với tổng công suất 380.000m³/ngày Sau khi chương trình tài trợ của Phần Lan kết thúc, công ty tiếp tục thực hiện các chương trình vay vốn từ Ngân hàng Thế giới, chính phủ Pháp và Đan Mạch để nâng cấp và cải tạo hệ thống cấp nước cho thành phố Hà Nội.
Nhiệm vụ hoạt động kinh doanh của công ty KDNS Hà Nội
Theo quyết định thành lập công ty số 564/QĐUB của UBND thành phố Hà Nội ra ngày 4/4/1994 qui định Công ty KDNS Hà Nội có các nhiệm vụ sau:
+ SXKD nướcsạch phục vụ các đối tượng sử dụng theo qui định của UBNDThành phố.
+ Sản xuất,sửa chữa đường ống nước,đồng hồ đo nước,các sản phẩm cơ khí và các thiết bị chuyên dùng đáp ứng nhu cầu của ngành nước.
SVTH: Nguyễn Quốc Tú Lớp: Kế toán K38 Định kỳ
+ Thiết kế,thi công,sửa chữa,lắp đặt trạm nước nhỏ và đường ống cấp nước qui mô vừa theo yêu cầu của khách hàng.
Công ty cần phối hợp với chính quyền địa phương và lực lượng thanh tra chuyên ngành để bảo vệ nguồn nước ngầm và hệ thống cấp nước.
Lập kế hoạch đầu tư và dự án đầu tư theo từng giai đoạn phù hợp với quy hoạch cấp nước cho thành phố Hà Nội, đồng thời phối hợp chặt chẽ với các đoàn cố vấn để thực hiện hiệu quả chương trình phát triển ngành nước tại Hà Nội.
Quản lý nguồn vốn vay và vốn phát triển sản xuất là nhiệm vụ quan trọng nhằm đầu tư phát triển ngành nước Điều này bao gồm việc hợp tác với các tổ chức và cá nhân trong nước cũng như quốc tế Nguồn vốn ngân sách được ủy nhiệm bởi UBND Thành phố và Sở Giao thông Công chính.
* Tình hình Tài Chính của Công ty:
Công ty chuyên sản xuất và cung cấp nước sạch sinh hoạt cho các khu dân cư, đồng thời cung cấp nước thô phục vụ nhu cầu của các nhà máy sản xuất.
Bảng 1.1: Sản lượng nước sạch trong 5 năm gần đây của Công ty:
Chỉ tiêu Sản lượng nước
( Nguồn từ phòng tài vụ- kế toán)
SVTH: Nguyễn Quốc Tú Lớp: Kế toán K38 Định kỳ
Sản lượng nước sạch của Công ty từ năm 2004 đến 2008 đã tăng lên 4.840.500 m³, tương ứng với mức tăng 55,77% Đặc biệt, trong hai năm 2007-2008, sản lượng nước khai thác tăng mạnh lên 2.206.050 m³, với mức tăng 19,5% Điều này cho thấy Công ty đang mở rộng mạng lưới cấp nước ra các quận, huyện trong thành phố để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường Sự phát triển kinh tế tại Việt Nam và TP Hà Nội đã tạo ra nhiều khu công nghiệp, mở ra thị trường tiềm năng tiêu thụ nước cho Công ty Trong hai năm qua, sản lượng tiêu thụ nước của Công ty đã tăng mạnh, mang lại nguồn doanh thu lớn Tuy nhiên, nhu cầu sử dụng nước trong thành phố vẫn chưa đạt mức tối đa, chưa khai thác hết công suất thiết kế của dây chuyền đầu tư Đây là thách thức mà ban giám đốc Công ty cần tìm giải pháp hiệu quả để nâng cao sản lượng tiêu thụ nước sạch trong những năm tới.
SVTH: Nguyễn Quốc Tú Lớp: Kế toán K38 Định kỳ
Bảng 1.2: Một số chỉ tiêu Tài Chính của Công ty Đơn vị: triệu đồng
5 Tài sản bình quân trong năm
6 Vốn lưu động bình quân trong năm 90.027 111.094 135.022 142.314 165.023
(Nguồn từ phòng tài vụ- kế toán)
Doanh thu hằng năm của Công ty đã tăng, nhưng vẫn ở mức chưa cao do sản lượng nước hàng năm không tăng nhiều Từ năm 2004 đến năm 2008, doanh thu đã tăng 11.614.000.000 VNĐ, tương ứng với mức tăng 59,3% Lợi nhuận sau thuế cũng có xu hướng gia tăng, với mức tăng 221.760.000 VNĐ trong cùng khoảng thời gian, tương ứng với mức tăng 107,3% Đây là tín hiệu tích cực cho sự phát triển của công ty.
SVTH: Nguyễn Quốc Tú Lớp: Kế toán K38 Định kỳ
Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh
Công ty KDNS Hà Nội chuyên khai thác nguồn nước tự nhiên để sản xuất nước sạch phục vụ sinh hoạt và sản xuất Để tạo ra nước sạch, nguồn nước tự nhiên sau khi khai thác cần trải qua một quy trình xử lý phức tạp.
Sơ đồ : 1.1 Qui trình công nghệ sản xuất và cung cấp nước sạch
Nước sạch của Hà Nội được khai thác ở giếng khoan ở độ sâu từ 60m đến
80m.Nước được đẩy lên giàn mưa thực hiện quá trình khử Sắt (Fe2) thành Sắt 3
(Fe3) và Mangan 2(Mn2) thành Mangan 3 (Mn3) kết tủa,sau đó được dẫn vào bể
SVTH: Nguyễn Quốc Tú Lớp: Kế toán K38 Định kỳ
Sau khi lắng sơ bộ để loại bỏ các chất cặn lớn, nước được dẫn vào bể lọc nhằm loại bỏ các cặn nhỏ còn lơ lửng Khi nước đã trong, quá trình làm sạch tiếp tục bằng cách sử dụng Clo hoặc Zaven với nồng độ từ 0,5g/m³ đến 1,0g/m³ Cuối cùng, nước được tích trữ trong bể chứa, và trạm bơm đợt hai sẽ bơm nước sạch vào hệ thống cung cấp cho thành phố.
SVTH: Nguyễn Quốc Tú Lớp: Kế toán K38 Định kỳ
Kế toán XN Cơ điện XN Cơ giới
P Tổ Chức Đào Tạo Phó Giám đốc sản xuất nước Phó Giám đốc
Kỹ thuật Phó Giám đốc phụ trợ và xây lắp
Kế toán XN Cơ điện XN Tư vấn và
1 Yên Phụ 2.Ngô Sỹ Liên
3 Ba Đình 4.Hai Bà Trưng
ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY KINH
Tổ chức bộ máy kế toán
*Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán của công ty
SVTH: Nguyễn Quốc Tú Lớp: Kế toán K38 Định kỳ
Phó phòng phụ trách TSCĐ-Công nợ-T.toán
Công nợ giữa người mua và người bán, cũng như giữa người giao thầu và các khoản nợ nội bộ, là một phần quan trọng trong quản lý tài chính Các khoản phải thu và phải trả cần được theo dõi chặt chẽ để đảm bảo tính chính xác trong sổ sách kế toán Việc lưu giữ chứng từ và sổ sách hành chính là cần thiết để hỗ trợ cho công tác kế toán tổng hợp và giá thành.
Kế toán thống kê các XN, NM
Quản lý kế toán các công trình XDCB và các dự án đầu t
Tổ chức kế toán và hạch toán kế toán các đơn vị trong công ty và phòng Tài chính kế toán
Tổ chức bộ máy và hình thức kế toán Hướng dẫn bồi dưỡng nghề vụ HTKT thực hiện các chế độ về thu chi TCKT, các nguồn vốn KT, tiền mặt, tiền gửi Quỹ Lập KHTC, công ty Kế toán XDCB, các ban QLDA lập KH các dự án và nguồn vốn.
SVTH: Nguyễn Quốc Tú Lớp: Kế toán K38 Định kỳ
*Chức năng hoạt động của từng bộ phận kế toỏn
Phòng kế toán của công ty gồm 23 nhân viên, do kế toán trưởng kiêm trưởng phòng tài chính lãnh đạo Kế toán trưởng chịu sự chỉ đạo trực tiếp từ giám đốc công ty, trong khi toàn bộ nhân viên trong phòng kế toán làm việc dưới sự quản lý của kế toán trưởng Mỗi bộ phận trong phòng kế toán đảm nhận những chức năng cụ thể.
Kế toán tài sản cố định đóng vai trò quan trọng trong việc theo dõi cơ cấu vốn và hiệu quả kinh tế của tài sản Nó bao gồm việc giám sát tình hình tăng, giảm và sử dụng tài sản tại các bộ phận được giao Đồng thời, kế toán cũng quản lý và tính khấu hao tài sản cố định trong từng quá trình sản xuất để đưa vào chi phí Nguyên tắc đánh giá tài sản cố định dựa trên nguyên giá và giá trị còn lại, trong khi phương pháp tính khấu hao áp dụng là phương pháp khấu hao bình quân.
Kế toán công nợ và thanh toán có vai trò quan trọng trong việc theo dõi và quản lý tình hình tăng, giảm của các khoản công nợ Nhiệm vụ này bao gồm việc giám sát tình hình thanh toán với người mua, người bán, các khoản công nợ nội bộ, cũng như các khoản tạm ứng và các khoản phải thu, phải trả khác.
Kế toán vật liệu có vai trò quan trọng trong việc phản ánh số lượng, chất lượng và giá trị của vật tư, hàng hóa, cũng như công cụ lao động trong quá trình nhập, xuất và tồn kho Nhiệm vụ của kế toán vật liệu bao gồm tính toán và phân bổ vật liệu xuất cho các đối tượng sử dụng, phát hiện tình trạng thiếu hoặc thừa vật tư, và tham gia vào việc kiểm kê, đánh giá lại vật liệu và công cụ lao động Để thực hiện kế toán chi tiết vật liệu, phương pháp thẻ song song được áp dụng, trong khi kế toán tổng hợp vật liệu cũng được sử dụng để quản lý hiệu quả hơn.
SVTH: Nguyễn Quốc Tú Lớp: Kế toán K38 Định kỳ
1 5 phương pháp kê khai thường xuyên và sử dụng giá hạch tóan để tính giá hàng tồn kho.
Kế toán tiền lương có trách nhiệm lập bảng thanh toán lương cho toàn công ty dựa trên các bảng thanh toán lương do nhân viên kinh tế tại xí nghiệp gửi lên Ngoài ra, kế toán tiền lương còn phải tính toán và xác định số tiền bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) và kinh phí công đoàn (KPCĐ) cần phải nộp.
Kế toán tổng hợp chi phí giá thành đóng vai trò quan trọng trong việc theo dõi và ghi chép chi phí ban đầu, xác định cách phân bổ chi phí để tính toán chính xác giá thành sản phẩm Ngoài ra, kế toán tổng hợp còn có nhiệm vụ ghi sổ cái, lập báo cáo tài chính và tổ chức lưu giữ tài liệu kế toán Công ty áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên để tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm.
* Kế toán công tác tài chính : gồm các phần hành kế toán sau
Kế toán tiền mặt và tiền gửi ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc phản ánh tình hình tăng, giảm các loại vốn bằng tiền của công ty, bao gồm việc viết phiếu thu và phiếu chi Trong khi đó, kế toán quỹ có nhiệm vụ quản lý quỹ tiền mặt và ghi chép sổ quỹ một cách chính xác.
Kế toán kế hoạch tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc theo dõi tình hình tài chính của công ty, đồng thời lập ra các kế hoạch tài chính như kế hoạch doanh thu và kế hoạch chi phí.
Kế toán trong xây dựng cơ bản và dự án đầu tư đóng vai trò quan trọng trong việc theo dõi và giám sát quá trình lập và thực hiện dự án Nó bao gồm việc theo dõi các nguồn vốn đầu tư, sự tăng giảm của tài sản cố định do đầu tư, cũng như quá trình thu hồi vốn.
Kế toán tại các xí nghiệp có nhiệm vụ theo dõi và phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, ghi chép vào các chứng từ liên quan Sau đó, kế toán định kỳ gửi các chứng từ này về phòng kế toán của công ty.
SVTH: Nguyễn Quốc Tú Lớp: Kế toán K38 Định kỳ
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TỔ CHỨC KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY
Ưu điểm
*Về tổ chức bộ máy kế toán
Hình thức tổ chức bộ máy kế toán tập trung giúp hạch toán thống nhất trong toàn công ty, tạo sự chủ động và hài hòa trong công việc Thông tin kế toán được phản ánh trung thực và hợp lý, với các con số được tính toán chính xác Công ty áp dụng hình thức ghi sổ Nhật ký chung và phương pháp hạch toán kê khai thường xuyên, phù hợp với tình hình biến động của vật tư Số liệu được ghi chép một cách khoa học, dễ dàng cho việc kiểm tra và đối chiếu.
Công ty đã áp dụng phần mềm kế toán Fats Accounting 2005, giúp giảm bớt khối lượng công việc kế toán và hạn chế thiếu sót Đồng thời, công ty luôn cập nhật các quy định mới từ Bộ Tài Chính và cơ quan thuế, điều chỉnh phần mềm Fats 2005 để phù hợp với quyết định 15.
*VÒ công tác tổ chức hệ thống chứng từ kế toán
Hệ thống chứng từ của Công ty tuân thủ mẫu quy định của Bộ Tài chính, với số lượng chứng từ phù hợp với hoạt động kinh doanh Các yếu tố trong chứng từ được đảm bảo đầy đủ và chính xác, cung cấp căn cứ pháp lý cho việc ghi chép nghiệp vụ kinh tế Chế độ lập và luân chuyển chứng từ được thiết kế hợp lý, gọn nhẹ, giúp tránh rườm rà nhưng vẫn đảm bảo tính chặt chẽ trong quản lý Mọi chứng từ đều được kiểm tra kỹ lưỡng trước khi ghi chép các nghiệp vụ phát sinh.
SVTH: Nguyễn Quốc Tú Lớp: Kế toán K38 Định kỳ
Các chứng từ được kiểm tra định kỳ với chứng từ gốc để đảm bảo tính chính xác của số liệu trong báo cáo tài chính Sau khi sử dụng, các chứng từ được bảo quản và lưu trữ cẩn thận, thuận tiện cho việc tra cứu sau này Công ty đã sử dụng đầy đủ các chứng từ cần thiết, giúp cho quá trình hạch toán diễn ra thuận lợi.
*VÒ vận dụng hệ thống tài khoản kế toán
Hệ thống tài khoản kế toán được áp dụng linh hoạt theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC, với việc mở thêm các tài khoản chi tiết cấp 2 và cấp 3 phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của công ty Việc sử dụng các tài khoản chi tiết này đã đơn giản hóa công việc kế toán, giúp kế toán viên dễ dàng tính giá thành sản phẩm và hạch toán chính xác hơn, từ đó giảm thiểu nhầm lẫn và theo dõi các đối tượng rõ ràng hơn Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc đưa ra các quyết định điều chỉnh cần thiết.
Theo đặc điểm kinh doanh của Công ty và yêu cầu của cán bộ quản lý, trình tự kế toán các phần hành được xây dựng rõ ràng, từ đó cung cấp thông tin chính xác cho các cấp quản lý và khách hàng.
*VÒ tổ chức hệ thống sổ kế toán
Tổ chức bộ sổ kế toán hợp lý và khoa học là cần thiết để đảm bảo tuân thủ nguyên tắc của chế độ kế toán hiện hành, phù hợp với năng lực của đội ngũ kế toán và đặc điểm hoạt động của Công ty Hiện tại, Công ty đang áp dụng hình thức Nhật ký chung, giúp giảm bớt khối lượng công việc kế toán.
SVTH: Nguyễn Quốc Tú Lớp: Kế toán K38 Định kỳ
Hình thức Nhật ký chung rất phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của Công ty, giúp ghi chép số liệu và tập hợp chi phí sản xuất một cách hiệu quả Ưu điểm nổi bật của hình thức này là tính tương thích với hệ thống tài khoản kế toán, đồng thời dễ dàng sử dụng khi lập trên máy Mẫu sổ Nhật ký chung đơn giản, dễ làm, dễ hiểu và thuận tiện cho việc đối chiếu kiểm tra, đảm bảo tính thống nhất và chính xác trong báo cáo tài chính.
Nhược điểm
*Về tổ chức bộ máy kế toán
Mặc dù khối lượng công việc kế toán lớn, nhưng số lượng nhân viên kế toán lại ít, dẫn đến việc mỗi nhân viên phải đảm nhiệm từ 2 đến 3 phần hành Điều này dễ gây ra sai sót trong hạch toán và có nguy cơ gian lận trong sổ sách, vi phạm nguyên tắc phân công phân nhiệm.
*VÒ công tác tổ chức hệ thống chứng từ kế toán
Hiện nay, các chứng từ kế toán của Công ty được sử dụng đồng nhất theo quy định Tuy nhiên, do đặc thù ngành cấp nước và chính sách đầu tư mở rộng, việc luân chuyển chứng từ về phòng kế toán chưa được cập nhật kịp thời Điều này dẫn đến việc nhập dữ liệu vào sổ nhật ký chung không còn chính xác.
“ ghi sổ hàng ngày khi có nghiệp vụ kinh tế pháp sinh”.
*VÒ vận dụng hệ thống tài khoản kế toán
Công ty đang gia tăng hiệu quả kinh doanh và mở rộng quy mô, do đó, việc sử dụng các tài khoản chi tiết theo tên từng cá nhân là rất cần thiết.
SVTH: Nguyễn Quốc Tú Lớp: Kế toán K38 Định kỳ
Một dự án có thể không đạt hiệu quả và tính phù hợp nếu Công ty tiếp tục thực hiện các dự án cung cấp nước đã hoàn thành trước đó Việc này dễ dẫn đến nhầm lẫn trong hạch toán giữa các dự án đã hoàn tất và các dự án đang triển khai, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc xác định các yếu tố cần thiết cho thiết kế dự án cũng như việc tập hợp chi phí và tính giá thành sau này, từ đó làm giảm uy tín của Công ty đối với khách hàng.
*VÒ tổ chức hệ thống sổ kế toán
Mặc dù Công ty áp dụng hình thức Nhật ký chung phù hợp với hoạt động kinh doanh, việc sử dụng mẫu sổ dạng tờ rời gây khó khăn trong việc đối chiếu và lưu trữ số liệu Điều này làm cho việc tìm kiếm thông tin cũ trở nên phức tạp và dễ dẫn đến mất mát dữ liệu nếu không được lưu trữ cẩn thận Ngoài ra, số liệu trên máy tính cũng có nguy cơ bị mất do virus hoặc sao chép trái phép Hơn nữa, mẫu sổ chỉ áp dụng cho các tài khoản cấp 1, không mở rộng cho các tài khoản chi tiết cấp 2 và cấp 3, dẫn đến khó khăn trong việc kiểm soát và tổng hợp thông tin chính xác từ các tài khoản chi tiết.
Hệ thống báo cáo kế toán của Công ty tuân thủ đầy đủ quy định về số lượng và thời gian của các báo cáo bắt buộc Báo cáo tài chính phản ánh trung thực và hợp lý tình hình tài chính, kết quả kinh doanh và luồng tiền của doanh nghiệp Tất cả các báo cáo được lập và trình bày theo chuẩn mực kế toán và các quy định hiện hành.
Mặc dù Công ty đã hoàn thành các báo cáo tài chính theo quy định, nhưng trong nội bộ, Công ty vẫn chưa lập được các báo cáo cần thiết.
SVTH: Nguyễn Quốc Tú Lớp: Kế toán K38 Định kỳ
Kế toán quản trị đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ ra quyết định quản lý và xây dựng chiến lược phát triển cho Công ty trong tương lai Do đó, Công ty cần thiết lập thêm một số báo cáo quản trị để phục vụ cho quá trình ra quyết định của ban lãnh đạo.
Công tác kế toán trong Công ty vẫn còn một số hạn chế, nhưng nhìn chung đã đáp ứng đầy đủ các yêu cầu, cung cấp thông tin cần thiết cho cán bộ quản lý, nhà đầu tư và những người quan tâm Điều này giúp nhà quản trị xác định hướng đi đúng đắn và phù hợp, đồng thời ngày càng hoàn thiện hơn.
SVTH: Nguyễn Quốc Tú Lớp: Kế toán K38 Định kỳ