Cuộc sống - ngờitrọng tài khách quan và công bằng nhất- đã làm hổ thẹn tất cả những ngời chống lại nhà nớc,tả khuynh cũng nh hữu khuynh, và một lần nữa đã khẳng định rằng không có nhà nớ
Trang 1G v atamantruc
lý thuyếtquản lý nhà nớcNgời dịch: Phạm hồng thái và phí văn ba
Xuất bản lần thứ 2, có bổ sungNhà xuất bản omega-lMoscva, 2004
Lời ngời dịch
Giáo s, tiến sỹ khoa học luật - G V Atamantrúc một nhà khoa học có tiếng thời Xô viết
và nớc Nga ngày nay, mà nhiều nhà khoa học Việt Nam từng học ở các nớc cộng hòa thuộcLiên Xô trớc đây biết tên tuổi của ông với các công trình nghiên cứu về luật học, quản lý nhànớc Ông là một trong những nhà khoa học Xô viết đầu tiên góp phần đặt nền tảng triết lýkhoa học về quản lý nhà nớc ở Việt Nam Vào những năm đầu của thập kỷ tám mơi thế kỷ
XX GS TSKH Atamantrúc cùng với nhiều nhà khoa học khác đã sang Việt Nam giảng dạycác khoá bồi dỡng kiến thức quản lý nhà nớc cho cán bộ cao, trung cấp của Đảng và nhà nớcViệt Nam tại Trờng Hành chính Trung ơng, ( nay là Học viện Hành chính Quốc gia) mà khi
đó chúng tôi đã trực tiếp dịch các bài giảng của ông
Do những thăng trầm của lịch sử, những gì thuộc về trờng phái khoa học quản lý nhànứơc Xô Viết, ngày nay ở nớc ta ít ngời có quan tâm đúng mức, thậm chí có ngời còn phủnhận cả những nguyên lý, quan điểm cơ bản của những triết lý khoa học về quản lý nhà nớc
Trang 2Lịch sử của quốc gia, dân tộc có thể có những biến đổi nhng những công trình khoahọc nghiên cứu cơ bản vẫn còn nguyên những giá trị của nó đối với nhiều thời đại, nhiều quốcgia trên thế giới.
Xuất phát từ quan niệm nh vậy và tỏ lòng quý trọng tác giả cuốn sách “ Lý thuyết quản
lý nhà nớc” đã nhiều lần làm việc với mình, và muốn giới thiệu với đông đảo các bạn đọc, cácthế hệ sinh viên, học viên của mình và những ai quan tâm đến lĩnh vực khoa học này, đợc sựkhích lệ của bạn bè, đồng nghiệp, chúng tôi cố gắng dành thời gian để dịch cuốn sách của tácgiả
Khi bắt tay vào dịch mới nhận thấy những khó khăn phức tạp của nó về học thuật, ngônngữ, sự không tơng thích giữa ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Nga trong lĩnh vực khoa học quản
lý nhà nớc, hơn nữa tác giả lại sử dụng cả những thuật ngữ tiếng Nga cổ, cả những thuật ngữ
có gốc từ không phải là tiếng Nga, đã đợc nga hóa hoặc cha đợc nga hóa
Cuốn sách là kết quả nhiều năm nghiên cứu và trải nghiệm của tác giả, qua nhữngchính thể chính trị- xã hội khác nhau Sách đợc viết để giảng dạy cho các quan chức thuộcHọc viện Công vụ trực thuộc Tổng thống Liên Bang Nga, cho các nhà khoa học, các nhà quản
lý ở bặc cao vì vậy cũng rất trừu tợng, với cố gắng của mình chúng tôi không muốn làm chonhững vấn đề lý luận trừu tợng bị đơn giản hóa, mất đi cái phong cách ngôn ngữ Nga vốn rấtphức tạp, chặt chẽ về ngữ pháp, mất đi phong cách của GS.TSKH G.V Atamantrúc Vì vậy,
cố giữ những gì thuộc phong cách, ngôn ngữ Nga, phong cách của nhà khoa học, không dùngvăn của mình để mô tả nội dung cuốn sách, mà muốn chuyển mã một cách chính sác nội dung
và văn phong của tác giả, không xé lẻ những câu phức tạp thành nhiều câu đơn giản, nhng lạiphải diễn tả thế nào đó để bạn đọc có thể hiểu đợc ý tứ trong nguyên bản tiếng Nga
Sau khi dịch song ngời dịch đã tự biên tập lại nhiều lần và đa cho bạn bè đọc, có ngờibảo nh vậy là giữ đợc văn phong Nga, có ngời lại bảo nh vậy là Nga quá Đây là công trìnhdịch thuật chứ không phải là viết lại trên nền nội dung của cuốn sách, nên cứ giữ cái vănphong đó, có lẽ nh vậy thì ngời đọc mới nhận thấy đây là tác phẩm dịch nếu không thì đã làviết lại Chúng tôi nghĩ rằng sau khi dịch sang tiếng Việt và đa dịch lại sang tiếng Nga nó phải
là tác phẩm của tác giả về cả nội dung, cấu trúc ngữ pháp, phong thái của nhà khoa học, chứnếu thành tác phẩm khác thì có lẽ không gọi là dịch nữa
Dịch thuật là lĩnh vực sáng tạo đầy phức tạp, mỗi ngời lại có quan niệm về dịch thuậtriêng của mình, vì vậy dù có cố gắng đến đâu chăng nữa bản dịch cũng không tránh khỏinhững thiếu sót, mong nhận đợc góp ý của các bạn đọc
lời nói đầu
Đã qua 6 năm kể từ lần xuất bản đầu tiên Tuy đó là một khoảng thời gian không lớn,nhng hoàn toàn đủ để có thể phán xét về sự tiếp thu, nhận thức và sử dụng cuốn sách nàytrong t duy lý luận, mà cũng có thể cả trong hoạt động lập pháp và thực tiễn Nhng trớc khi đa
ra những kết luận nào đó cần phải so sánh hoàn cảnh khi cuốn sách này đợc viết ra, với hoàncảnh đang tồn tại hôm nay, khi chuẩn bị lần xuất bản mới của nó
Thời điểm giữa những năm 90 ở nớc Nga, khi cuốn sách trớc của tôi đợc xuất bản [Nhànớc mới: Những tìm tòi, những ảo tởng, những khả năng - M : Nxb Slavinxki Dialog, 1996,
222 tr.], đã đợc đặc trng bởi thái độ h vô chủ nghĩa về nhà nớc và quản lý với các quan niệmcủa phái này “ít nhà nớc hơn”, “lãnh thổ mở” và với sự trông chờ hoàn toàn vào điều là bảnthân sự t nhân hoá, sở hũ t nhân, tự do và thị trờng, thông qua cuộc chơi tự do của các lực lợngkinh tế sẽ giải quyết đợc những vấn đề khủng hoảng của đất nớc Vào lúc đó các tập đoàn đầu
sỏ mới hình thành trên thực tế đã khống chế các cơ quan quyền lực nhà nớc liên bang và áp
đặt chính sách của mình: phát triển ngành nguyên liệu, xuất khẩu t bản và thông qua đó- xíchgần với Phơng Tây
Trong những điều kiện và môi trờng trí thức nh vậy thì những suy xét về quản lý nhànớc bị coi là sự thụt lùi, là những tàn d của tình trạng “dễ bảo”, lạc hậu về nhận thức và nhữngthô lậu khác của quá khứ Mặc dù vậy cuốn sách vẫn đợc xuất bản, mà phần nhiều là nhờ vào
sự ủng hộ của I D Laptev, khi đó là Bộ trởng về các vấn đề in ấn và là ngời đã đa cuốn sách
Trang 3này vào chơng trình in ấn sách của Chính phủ Vì thế, khi cuốn sách ra đời đã ít hy vọng vào
điều là những t tởng đợc đa ra trong đó sẽ tạo nên mối quan tâm, thu hút sự chú ý, và bản thân
nó sẽ đợc cần đến và có thể là đợc thu hút vào quá trình nghiên cứu khoa học tiếp theo Thêmvào đó, “những ngời anh em” của tôi- các luật gia, mà tất cả những công trình về Luật hiếnpháp và Luật Hành chính đều chứng tỏ điều này, đã rất vui mừng vì một điều là trong Hiếnpháp Liên bang Nga năm 1993 không có khái niệm “quản lý nhà nớc”, thế nghĩa là cũngkhông có hiện tợng này
Qua đó nhận thấy những thay đổi quan trọng đã xảy ra vào những năm này, không chỉtrong nớc nói chung, mà chính là trong thái độ đối với quản lý nhà nớc Cuộc sống - ngờitrọng tài khách quan và công bằng nhất- đã làm hổ thẹn tất cả những ngời chống lại nhà nớc,tả khuynh cũng nh hữu khuynh, và một lần nữa đã khẳng định rằng không có nhà nớc vànhững hiện tợng đợc tạo lập trong khuôn khổ của nó - quyền lực nhà nớc, bộ máy nhà nớc,quản lý nhà nớc, công vụ nhà nớc- thì không thể đảm bảo sự toàn vẹn, chủ quyền, an ninh, trật
tự và sự phát triển của xã hội công dân, mà trong đó có các quyền và tự do của mỗi con ng ời
và mỗi công dân Vấn đề hiện thực đã và đang ( luôn là có tính lịch sử!) tồn tại ở chỗ là trong vô số các yếu tố và thông số của chúng thì các định chế nhà nớc nào là cần cho xã hội Chính
những t duy khoa học, chính trị, sáng tạo pháp luật và thực tiễn hàng ngày đã thúc dục phảigiải quyết vấn đề này Đây đã và đang là ý tởng xuyên suốt của tất cảc các xuất bản phẩm củatôi
Những thay đổi đã động chạm đến trớc hết là nhận thức xã hội, mà sự nhận thức này dùcòn dè dặt, với sự cân nhắc đến các châm ngôn của những ngời cấp tiến cánh hữu, cũng bắt
đầu thấu hiểu thực chất và ý nghĩa của quản lý nhà nớc cộng hoà một cách dân chủ và theopháp luật và tính cấp thiết của việc hiện đại nó về chất Chí ít là cùng với việc bầu V V Putinvào chức vụ Tổng thống Liên Bang Nga, trong các thông điệp của ông gửi Hội nghị Liên Bangcủa Liên Bang Nga, trong vô số các văn kiện chính trị và pháp luật của ông và của các cơquan nhà nớc khác thì đề tài này đã bắt đầu có tiếng vang lớn hơn, thờng xuyên và liên tụchơn Trong các trờng đại học của đất nớc đã có chuyên ngành “Quản lý nhà nớc và thịchính”, theo đó đã xây dựng tiêu chuẩn học vấn nhà nớc và đang tiến hành đào tạo các nhàquản lý Tất nhiên là để đảm bảo giảng dạy chuyên ngành mới này đã xuất bản một số giáotrình và sách tham khảo của các tác giả khác nhau [Thí dụ, xem: GlazunovaH I Hệ thốngquản lý nhà nớc: Giáo trình dùng cho các trờng đại học M :Iunti-Dana, 2002; Pikulkin A V
Hệ thống quản lý nhà nớc: Giáo trình dùng cho sinh viên các trờng đại học Xuất bản lần thứ
2 M :IUNITI-Dana, 2000; Utkin E A., Denisov A F Quản lý nhà nớc và thị chính: Sáchtham khảo M : EKMOS, 2001; Chirkin V E Quản lý nhà nớc: Sách tham khảo M : NxbIurist, 2001; và các ấn phẩm khác]
Tôi sẽ không phân tích và đánh giá các ấn phẩm này: khi đã có cầu thì ắt có cung Dùvậy, cũng có thể tự phỉnh nịnh bản thân rằng trong các ấn phẩm này có những trích dẫn cuốnsách của tôi Và nói chung sẽ không phải là phóng đại nếu nói rằng trong suốt những năm này
“Giáo trình bài giảng” đã thâm nhập rộng rãi và chắc chắn vào guồng máy khoa học và đợc
sử dụng trong rất nhiều ấn phẩm, và đơng nhiên là trong giảng dạy Tôi quan tâm đến những
ấn phẩm chuyên ngành mà trong đó t duy khoa học đợc phản ánh và phát triển Bởi vì cuốnsách của tôi đợc viết ra dành cho việc nhận thức lý luận về quản lý nhà nớc và vì thế điềuquan trọng có tính nguyên tắc là xem xét xem các ý tởng cơ bản của cuốn sách đợc tiếp nhận
nh thế nào Liệu có hay không và theo hớng nào sự tăng lên của trí thức khoa học?
Điều này cũng cấp thiết cả đối với ấn phẩm giáo khoa-phơng pháp luận, bởi vì chỉ cóthể dạy khi đối tợng đào tạo đợc nghiên cứu và nhận rõ đầy đủ, dù là chỉ đối với các giảngviên
Trong những công trình trực tiếp dành cho quản lý nhà nớc, đợc
chia ra:
* Xuất bản ở Rostov-na-Donu- Radchenko A I Cơ sở quản lý nhà nớc và thị chính:sách giáo khoa Nxb AOOT “Rostizdat”, 1997, 448 tr.; Zerkin D P Ignatov B G Cơ sở lýthuyết quản lý nhà nớc: Giáo trình baig giảng Trung tâm xuất bản “Mart”, 2000 448 tr.;
* Xuất bản ở Moskva- Glazunova N I Quản lý nhà nớc nh là một hệ thống: Sáchchuyên khảo Nxb Guu, 2001, 372 tr.; Quản lý nhà nớc: cơ sở lý luận và tổ chức: Sách giáo
Trang 4khoa Biên tập Kozbanenko Nxb Statum, 2000 912 tr (có cả lần xuất bản thứ 2); Shamkhalov
F Lý thuyết quản lý nhà nớc Nxb Ekonomika, 2002 638 tr
Trong số các công trình ở mức độ này hay mức độ khác có động chạm đến các khíacạnh khác nhau của quản lý nhà nớc, có thể kể ra các công trình nh: Quyền lực thừa hành( quyền lực hành pháp) ở Liên bang Nga Các vấn đề phát triển M : Nxb Ngời luật gia(Iurist), 1998, 432 tr.; Quản lý xã hội: Giáo trình bài giảng M.: Nxb RAGS, 2000 438 tr.;Starilov Iu N Luật hành chính: Hai phần Phần 2 Cuốn sách thứ nhất: Các chủ thể Các cơquan quản lý Công vụ nhà nớc Voronez: Nxb Đại học tổng hợp quốc gia Voronez, 2001 624tr
Tất nhiên cũng đã xuất bản nhiều công trình khác với các thể loại khác nhau: sáchchuyên khảo của tập thể tác giả, các tuyển tập bài báo, các tạp chí, các tài liệu hội thảo vv
Tôi dẫn ra đây tất cả các ấn phẩm kể trên chỉ nhằm dựa trên những ấn phẩm này để lýgiải tính cấp thiết của lần xuất bản thứ hai cuốn sách này và đồng thời chỉ ra sự khác biệt lớncủa quan điểm (mô hình lý thuyết) đợc trình bày trong đó về quản lý nhà nớc với các quan
điểm đã đợc xây dựng nên trớc đây (trong thời kỳ Xô Viết) và đang đợc tái tạo lại hôm nay
Có lẽ, tôi cũng không có lỗi trong việc là đã không biết chứng minh cái mới và ý nghĩathực tiễn của mô hình lý thuyết tổng hợp quản lý nhà nớc theo nguyên nhân khách quan, chủ
quan và có hiệu quả về mặt xã hội đã đợc đa ra từ lâu, trong đó, bắt đầu từ cuốn sách thứ nhất,
tôi đã soi dọi tất cả các ấn phẩm của mình [Xem: Quản lý nhà nớc: các vấn đề phơng phápluận nghiên cứu pháp luật M Nxb ấn phẩm pháp lý, 1975; và các cuốn sách tiếp theo (xemdanh mục tài liệu)] Đồng thời cũng phải tính đến một điều (và cũng theo cả các xu hớng khoahọc xã hội khác) là ở nhiều ngời t duy lý luận đôi khi trì trệ, bảo thủ, rập khuôn hơn so vớicuộc sống hiện thực Trong cuộc sống hiện thực thờng thờng các hiện tợng mới, các mối tơnggiao, các cơ chế đã tác động từ lâu, còn những ngời viết về cuộc sống hiện thực thì vẫn tiếptục lặp lại những xét đoán, những kết luận, những lời nói vốn dĩ đã là có căn cứ trong hoàncảnh hoàn toàn khác
Đặc biệt là các khuôn mẫu t duy trong lĩnh vực quản lý nhà nớc Hôm nay về cơ bảnngời ta giải thích chúng nh là di sản của chủ nghĩa xã hội, sản phẩm của hệ thống chính quyềnXô Viết Nhng thực chất chúng có nguồn gốc sâu xa hơn, liên quan với những quan niệm về
xứ mệnh thần thánh của quyền lực chuyên chế tối cao, mà xuất phát từ đó tất cả thần dân đãcần phải chỉ biết phục vụ nó, tuân thủ và biết ơn vì ân huệ của nó Chủ nghĩa xã hội đã không
đóng góp cái gì mới ở đây: nó chỉ thay kẻ chuyên chế bằng lãnh tụ, còn sự tiền định thầnthánh thì thay bằng sự hiện thực hoá lý tởng cộng sản Tất nhiên là trong hệ biến hoá nh vậythì trong nhiều năm sự quản lý đã đợc đặc trng thông qua hoạt động (hoạt động quản lý), bởi
lẽ nhiệm vụ của bộ máy nhà nớc đã tựu trung lại ở việc nghe, lĩnh hội và thừa hành ý chí lãnh
đạo cấp trên Cái chính là: làm vừa lòng quyền lực, làm cho nó dễ chịu và đổi lại là nhận đợchoặc là chức vụ, hoặc là bổng lộc khác
Vì thế tất cả các “thủ trởng”, bắt đầu từ cấp làng, đã có thói quen luôn nhìn lên trên vàbiết rõ rằng số phận của họ phụ thuộc vào các quyết định của “cấp trên” Cái gì đã xảy ra ở d-
ới đã không mấy làm họ bận tâm, còn nếu nh quan tâm thì là theo chỉ bảo của “cấp trên” Do
đây mà có sự lạc hậu vĩnh cửu của chúng ta, sự bất cập của cuộc sống, sự bỏ phế các lực lợngsản xuất, mà trong đó chủ yếu là tiềm lực con ngời Ngoại trừ những giai đoạn rất hãn hữu vàngắn ngủi có sáng tạo, lại cũng nhờ quyền lực tối cao, khi mà ngời ta đã đi tới “ô cửa”, nh th-ờng nóí
Tôi đã không ngạc nhiên rằng việc tôi đề xuất ra quan điểm hệ thống quản lý nhà nớc
(không nên nhầm với hệ thống các cơ quan nhà nớc!), mà nền tảng và tâm điểm của nó là các
khách thể bị quản lý- hoạt động của con ngời để sản xuất các sản phẩm vật chất, xã hội và tinh thần- các giá trị tiêu dùng với những hậu quả hoàn toàn mới xuất phát từ đó, đã không đ-
ợc ủng hộ bởi chế độ quan liêu độc đoán của đảng [ Xem: Bản chất của quản lý nhà nớc XôViết M : Nxb ấn phẩm pháp lý, 1980; Những đặc điểm của các quá trình quản lý trong chủnghĩa xã hội phát triển M.: Nxb T tởng, 1985; Đảm bảo tính hợp lý của quản lý nhà nớc M.:Nxb ấn phẩm pháp lý, 1990] Nhng buộc phải kinh ngạc khi mà chính điều này lại vẫn hiệnhữu trong điều kiện dân chủ, kinh tế thị trờng, quyền và tự do của con ngời Bởi vì quan niệmnày định hớng quyền lực nhà nớc (suy nghĩ và hành vi của ngời nắm quyền lực) vào sự phát
Trang 5triển các lực lợng sản xuất, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho công việc làm ăn, công việckinh doanh, đảm bảo an toàn cho sở hữu t nhân và cá nhân, vào việc hiện thực hoá những giátrị nền tảng tạo nên bản chất của chế độ dân chủ và tự do.
Có lẽ là bất kỳ một bộ óc lành mạnh nào cũng hiểu đợc rằng với tất cả ý nghĩa củaquyền lực (mà không chỉ là quyền lực nhà nớc), thì quá trình đời sống hiện thực- tái sản xuấtcon ngời, xã hội và thiên nhiên- xảy ra ở phía dới- trên mảnh đất lầm lỗi ở đây nền kinh tế(nhng không phải là kinh tế thợng hạng- kinh tế tài phiệt), môi trờng xã hội, tinh thần và vănhoá hoạt động, tạo ra và tiêu thụ t bản, lao động, hàng hoá, dịch vụ, thông tin Nghĩa là, quản
lý đợc thực hiện khi mà tất cả các hiện tợng đời sống, các quan hệ, các quá trình (xin nhấnmạnh- trong một xã hội công dân tự do) thực sự đợc duy trì, phát triển, có đợc những thông sốmới tích cực, chất lợng Tuy nhiên, điều này- quan trọng nhất- lại không mấy làm bận tâm cácchủ thể của chúng ta trong các loại hình quản lý khác nhau Họ bận bịu với việc tự tán d ơng
và làm giầu cho bản thân Nói chung trong t duy quản lý (không thể nói là trong khoa học, bởitrong nó không thể nh thế) đã hình thành và đang nhân lên vô hạn một tình trạng nghịch lý.Thông qua những ngời đại diện chân chính của mình, xã hội đang kêu ca về tình trạng, xu h-ớng suy thoái của lực lợng sản xuất của đất nớc, của tất cả các bộ phận cấu thành, vốn đã đợcsản sinh ra bởi “các mệnh lệnh” của M.S Gorbachov và B N Elxin Những con ngời khôngthể bị nghi ngờ về những đam mê chính trị nào đó đã viết: Solzenixn A I Nớc Nga sụp đổ M.Nxb Con đờng Nga (Ruski put), 1998; Moiseev N N Sự hấp hối của nớc Nga M NxbExpres- ZM, 1996; Forianov I Ia Chìm xuống vực thẳm M.: Nxb Eksmo, 2002; những ngờitham dự các quá trình đã xảy ra cũng viết: Laptev I D Chính quyền không vinh quang M.:Nxb Olma-Pres, 2002; Tretiakov V T Chính sách Nga và các chính sách về chuẩn mực vàbệnh lý: Nhìn qua những sự kiện của đời sống Nga 1990-2000 M.: Nxb Ladomir, 2001; viết
về bi kịch của tiềm lực con ngời: Gundarev I A Thảm hoạ dân số học ở nớc Nga: nguyênnhân, cơ chế, các con đờng khắc phục M.: Nxb Editorial URSS 2001; viết về bi kịch suythoái kinh tế: Petrakov N Ia Cái thớc cuốn Nga Cuộc thực nghiệm kinh tế bằng cái giá 150triệu sinh mạng M.: Nxb Ekonomika, 1998; Fedorenko N P Nớc Nga: Những bài học củaquá khứ và những bộ mặt của tơng lai M.: Nxb Ekonomika, 2000; nói chung,vấn đề đợc đặt
ra là: có hay không ở nớc Nga những cơ hội cho tơng lai: Popov G Kh Liệu sẽ có thiên niên
kỷ thứ hai ở nớc Nga hay không? M.: Nxb Ekonomika, 1998; Con đờng đi vào thế ký XXI.Những vấn đề chiến lợc và triển vọng của nền kinh tế Nga M.: Nxb Ekonomika, 1999; ngời
ta cũng viết về nhiều điều khác mà ngời nào có mắt, có tai đều nhìn thấy, nghe thấy, nhng những gì đã và đang xảy ra hình nh không liên quan đến những ai làm công việc mô tả các vấn đề quản lý.
Đối với họ, vẫn nh cũ, ở vị trí hàng đầu là các vấn đề: phô trơng sự “uyên bác” củamình bằng cách trích dẫn những ấn phẩm từ Mỹ và châu Âu (nhng không hiểu sao lại không
từ châu ắ, nơi mà quản lý ở một loạt nớc cao hơn nhiều) và trong việc lý giải cá nhân (theokhẩu vị chủ quan) về những khái niệm đã hình thành từ lâu; mô tả vô tận và lặp lại những quychế pháp luật của các cơ quan nhà nớc, thẩm quyền, cơ cấu, quy trình hoạt động, thành phầncán bộ và chất lợng cán bộ của họ, và tất nhiên cả các mối tơng tác giữa họ (theo chiều ngang
và chiều dọc) Không muốn kể tên để không làm phật lòng các tác giả, nhng tôi nghĩ rằng mỗingời đọc sách về quản lý sẽ tự biết họ Một cách hợp mốt trên bình diện trừu tợng, với việcthu hút những t tởng xa lạ từ Socrat, Platon, Aristotel và tiếp theo cho đến thời đại chúng ta làluận giải trong giới hạn các chủ thể quản lý (cụ thể: của quản lý nhà nớc) với việc sử dụngnhững khẳng định có tính giáo huấn: “nhất thiết”, “cần phải”, “nên”, “do đó”, “đã chín muồi”v v Thêm nữa là những đề nghị (và rất nhiều) thờng đợc đa ra bởi những ngời cha từng mộtngày làm việc ở một cơ quan nhà nớc nào
Và rất ít ai nghĩ đến điều là, chẳng hạn nếu nh một cái gì đó,”cần”, “mong muốn”,
nh-ng nó khônh-ng thực hiện đợc, thì chắc là có các nh-nguyên nhân, các cơ sở, các tình huốnh-ng, các mốiquan tâm nào đó vv đáng phảỉ đợc khảo sát Nói chung, câu hỏi “vì sao” ít đợc đặt ra trong
t duy khoa học xã hội, thêm vào đó là đối với cả lịch sử cũng nh thời đại ngày nay Tất cả đềutrợt theo bề mặt và đồng thời, nh những đứa trẻ ngây thơ, chúng ta đều sửng sốt khi từ trongsâu thẳm bỗng nhiên bắt đầu sôi sục, ầm ầm, nổi sóng, tung lên và làm lật “con thuyền nhỏ”của chúng ta
Tình trạng tơng tự kỳ lạ hơn, hoàn toàn tái tạo lại các sơ đồ t duy và hành vi nh đã nóitrong quản lý nhà nớc, cũng tồn tại cả trong lĩnh vực làm ăn, sản xuất kinh doanh, sử dụng sở
Trang 6hữu t nhân, tức là trong hệ thống các quan hệ pháp luật dân sự thị trờng Trong nỗ lực kíchthích hoạt động kinh tế trên đất nớc có thể nói đã xuất bản một “biển” sách về quản trị củacác tác giả nớc ngoài và trong nớc Ngay tức khắc ở chúng ta ở mọi nơi đã xuất hiện từ quảntrị bao hàm vô số các đặc trng thể loại: quản trị nhà nớc, quản trị chiến lợc, quản trị độngviên, quản trị nhân sự, quản trị có hiệu quả vv [ Xem chỉ một số công trình: Daft R L Quảntrị: Dịch từ tiếng Anh SPb.: Piter, 2000; Fisher S., Dornbush R., Shmalenzi R Kinh tế: dịch từtiếng Anh M.: Nxb Delo,2001; Busgin A V Quản trị có hiệu quả Sách giáo khoa M.: NxbFinpres, 2000; Utkin E A Quản trị động viên M Nxb TANDEM: AKOS, 1995; và các tácphẩm khác] Nhng tất cả các cuốn sách đó, không còn bàn cãi, đều tài giỏi, xúc tích, dựa trênkinh nghiệm rộng lớn ở nớc ngoài, đều ít tác động đến nền kinh tế Nga và không chỉ không
đảm bảo sự tăng trởng của nó, mà thậm chí còn không thức tỉnh nó ở đây cần nhìn thẳng vào
sự thật và nếu nh bình ổn tình hình bằng cách nào đó, thì cho dù là từ bờ vực thẳm vẫn phải từ
nh vậy sẽ dẫn đến điều là khi thu đợc lợi nhuận thì chủ sở hữu lại đầu t lợi nhuận vào sản xuấthoặc dịch vụ và bằng cách đó tạo ra vòng tuần hoàn vận động của các yếu tố kinh tế và tăngtrởng chắc chắn tiềm lực của chúng Tất cả điều này đã đợc viết trong “T bản luận” của K.Marx và vô số công trình của những ngời đợc nhận giải thởng Nobel về kinh tế, họ gồm 44ngời, cũng nh của các tác giả khác
Tuy nhiên ở chúng ta ít có các chủ sở hữu nh thế Mà cũng không thể khác đợc Đa sốtrong số họ đã cha trởng thành, cha tạo ra sở hữu (giá trị khác nhau) bằng đầu óc và lao độngcủa mình, mà đợc cho không: các đối tợng nào đó của sở hữu nhà nớc đợc chia cho họ Và, tấtnhiên là việc đầu tiên là họ bắt đầu làm giầu cho bản thân và tạo cho mình những dự trữ ở đâu
đó tại Phơng Tây, phòng trờng hợp “tai nạn” Lợi dụng khuôn khổ những lợi ích u tiên đặc
biệt của chủ thể quản lý (tầng lớp “quý tộc” xa xa trong lịch sử, nhng bền vững hôm nay).
Nhng nếu lợi nhuận đợc tạo ra (dù là chỉ về mặt vật chất) bởi các khách thể quản lý, thì hoàntoàn (hoặc gần nh hoàn toàn) bị thu hồi bởi các chủ thể quản lý- những chủ sở hữu đối với
nhu cầu cá nhân của mình, thì trong trờng hợp này cũng không có sự quản trị nh là sự hoà
trộn nhuần nhuyễn khoa học, nghệ thuật và kinh nghiệm về phát triển các khách thể quản lý,vốn dĩ cùng tạo nên phần cơ bản của lực lợng sản xuất của đất nớc Nghĩa là, cả trong quản trịcũng cần một mô hình t duy và hành động của các chủ thể quản lý (ngời quản trị) đối lập lạimô hình ngày nay về mặt xu hớng
Một cách cụ thể (và ngắn gọn) cũng có thể nói cả về quản lý xã hội- quản lý từ phía cácliên kết xã hội trong khuôn khổ pháp luật và chức năng theo điều lệ của họ Những chủ thểquản lý này có tới vài chục ngàn, nhng điều điển hình đối với tất cả họ là mặc dù tình trạngphong lu trên đất nớc còn thấp, nhng trên thực tế những ngời lãnh đạo của tất cả các cơ cấu xãhội đều sống cao hơn một hai bậc so với các công dân tham gia vào các cơ cấu đó và nóichung là dựa vào bản thân họ (cho dù các hình thức cung cấp tài chính có thể rất kín đáo vàgián tiếp)
Vì thế mô hình quản lý nh là sự tơng tác chủ thể-khách thể có hệ thống đợc đa ra trongcuốn sách này có ý nghĩa tổng hợp đối với tất cả các loại hình quản lý, cho đến cả t duy, hành
vi và hoạt động của từng con ngời riêng biệt Nếu nh con ngời muốn một cái gì đó, hớng tớimột cái gì đó, thì nó cần không chỉ nói, suy xét, mơ ớc về điều đó, mà cái chính là bằng lao
động, nghị lực, kiến thức của mình, sau đó đạt tới việc thực hiện thực tế điều đã nghĩ ra Thức
dậy sớm vào mỗi buổi sáng hàng ngày và suốt đời làm công việc thu đợc các kết quả kháchquan với giá trị tiêu dùng hiện thực cho bản thân và cho xã hội Chỉ áp dụng mô hình này trêncác bình diện xã hội, các tập thể, các nhóm ngời và mỗi cá nhân sẽ cho phép thực sự (chứkhông phải h ảo, hão huyền) chuyển sang các quan hệ sở hữu t nhân, dân chủ, kinh doanh,
công bằng, tự do, bình đảng và dần dần thoát khỏi các chủ thể quản lý của những nhân vật
kiểu Famusov, Onegin, Chichikov, Oblomov, Manilov vv , đã đợc ghi danh một cách tốt đẹp
Trang 7trong các ấn phẩm văn học và đợc lan truyền rộng rãi ra xung quanh, là những ngời biết tất cả,luôn lập dị, không vừa lòng mọi thứ , nhận thức cuộc sống hời hợt, ôm đầy những mơ tởngphiêu lu, và tất nhiên không vì lẽ gì họ bắt con ngời phải đổ mô hôi để kiếm đợc miếng bánh
mỳ sống còn của mình Chính những con ngời loại này, luôn bị ám ảnh bởi khát vọng đợcsống mức sống cao, trong khi không làm gì cả, phần lớn đều hớng tới quyền lực (các loại) và
đa vào xã hội chủ nghĩa h vô, tuỳ tiện, cách mạng, phản cách mạng, đảo chính, chủ nghĩa hậutân thời và những sự ngông cuồng khác của t duy và hành vi, mà vì chúng hàng triệu ngời bịchìm đắm, còn đất nớc thì trở thành hoang tàn, trên đó mọc đầy cỏ dại [Chính về điều này đãphải cảnh báo từ 12 năm trớc.- Cỏ dại đang mọc trên đống tro tàn// Diễn đàn công nhân, ngày4- tháng 6 năm 1991 Bởi lẽ mục tiêu của cải cách và phơng pháp cải cách là những cái rấtkhác nhau, dẫn tới các kết quả khác nhau]
Một cách công bằng, việc con ngời sáng tạo ra chiếc bánh xe đợc coi là phát minh vĩ
đại nhất, mà việc sử dụng nó đã mở đầu cho việc hình thành nhân loại Cơ cấu của cái bánh xe
đã thúc đẩy nhận thức về vòng tuần hoàn trong thiên nhiên, trong xã hội, trong hoạt độngsống của con ngời Sự chuyển động của “một điểm” lên trên và quay trở lại xuống dới ở vị trímới đã cho phép nhận thấy sự cách biệt trong khoảng cách đã đi qua và đo đếm sức lực đã chiphí cho việc này
Quan niệm về sự tơng tác hệ thống chủ thể-khách thể (mô hình quản lý nhà nớc vì chủthể và vì khách thể có hiệu quả về mặt xã hội và các loại hình quản lý khác) đã đợc xây dựngtrên quy luật bánh xe (vòng tuần hoàn), mà tơng ứng với nó khởi đầu là nhận thức (phản ánh)nhu cầu và lợi ích của khách thể quản lý- quá trình khách thể hoá (hình thành các liên hệ ng-
ợc đối với các tác động quản lý), sau đó xây dựng và thực hiện các tác động quản lý bởi chủthể quản lý- quá trình khách thể hoá các quyết định và hành động quản lý và ghi nhận nhữngcải tạo đã đạt đợc (các kết quả) trong các khách thể quản lý
Vòng tròn khép kín và theo nó có thể đo đếm và đánh giá tính thiết yếu, tính mục đích
và tính hành động của t duy, hành vi và hoạt động của các chủ thể quản lý Thêm vào đó, và
điều này cần đặc biệt nhấn mạnh, bánh xe có ý nghĩa và thực hiện chức năng của mình khi
nó chuyển động trên mặt đất- trong không khí thì nó không thể làm đợc gì
Tôi bổ sung thêm: không đi sâu vào lịch sử, mà trong đó cũng đầy ắp những cái tơng tự,ngày nay nhận thấy rõ ràng hai vectơ trong trạng thái và trong động thái của chủ thể và kháchthể quản lý thuộc hầu hết các loại hình: sự phong lu và làm giầu tiếp tục của các chủ thể quản
lý (tất nhiên là còn theo cơ cấu thang bậc của họ) và sự sa sút, tàn lụi, thoái hoá của đa sốkhách thể bị quản lý Khắc phục khuynh hớng khác nhau trong phát triển của các chủ thể vàkhách thể quản lý sẽ có vẻ nh là liên kết và phối hợp (trong những giới hạn có thể) những nhu
cầu và lợi ích của họ chắc sẽ có thể đạt đợc nếu chuyển từ trong các mối quan hệ qua lại giữa
các chủ thể và khách thể quản lý trong mọi loại hình quản lý sang mô hình bánh xe (vòng
tuần hoàn) và tạo nên ở đây các mối liên hệ hai chiều hoạt động tích cực và duy trì chắc chắn.
Trong khi nắm giữ quyền lực, các u thế về trí tuệ, thông tin, pháp luật và các u thế khác,chắc chắn là chủ thể quản lý phải có hoàn cảnh phong lu, nếu không nó không thể có khảnăng thực hiện sứ mệnh của mình Nhng trong thời đại hậu công nghiệp, thời đại thông tin,trong điều kiện toàn cầu hoá, dân chủ hoá, thông tin hoá, tự do vv thì các khách thể quản lý
để thực hiện tốt định mệnh của mình cũng cần phải có đợc mức độ thỏa mãn các nhu cầu vậtchất, xã hội và tinh thần của mình một cách tơng ứng và cân bằng Bởi lẽ mức độ này càngcao thì tiềm lực sản xuất và sáng tạo của họ cũng càng cao
Cuối cùng cần nói rằng sự chuyển đổi trong quản lý, và do đó trong toàn bộ hoạt động
đời sống của chúng ta, tới mô hình bánh xe (vòng tuần hoàn) có thể gây ảnh hởng rộng lớn
đến nhiều mối quan hệ xã hội học, thế giới quan, chính trị, tâm lý, s phạm và các quan hệkhác, các hiện tợng và các quá trình trên đất nớc Chúng ta thu đợc một “thang toạ độ” phân
bố trên mảnh đất lầm lỗi, mà theo đó, dù sẽ chỉ là (tối thiểu) xác định cái giá của những lờinói, những ý đồ, những cải cách, các chơng trình, các quan niệm, thậm chí là các hình ảnhnghệ thuật và các cấu trúc thông tin theo quan điểm lợi ích thực tế của chúng Không nên cứmãi mãi soi dọi, nguỵ trang, lạc lối và xám hối, khích động bằng những lời rỗng tuyếch, lạithức tỉnh hy vọng và lại lừa dối, nhng lại ít làm gì để cải thiện sự phì nhiêu của đất đai, hoànthiện các thành phố và làng mạc của chúng ta, đổi mới công nghệ sản xuất công nghiệp vànông nghiệp, củng cố sức khoẻ, học vấn và văn hoá của toàn thể dân c và để giải quyết thực tế
Trang 8những vấn đề khác mà cuộc sống đang thờng xuyên đặt ra Sự tiến triển theo hớng này hớng
tới tính khách quan, sự thành thạo và hiệu quả là quan trọng đối với tất cả, nhng đặc biệt và
trớc hết là đối với các chủ thể quản lý, và trong tổng thể- đối với các cơ quan nhà nớc Nếu
nh những ngời nộp thuế nuôi họ, thì nghĩa là ngời ta chờ đợi từ họ những quyết định và hành
vi quản lý sáng suốt (dựa trên kiến thức), hợp lý (xuất phát từ kinh nghiệm thực tế) và có triểnvọng (đáng tin về mặt chiến lợc)
Theo cấu trúc (bố cục) của mình, cuốn sách này đợc viết chính là dựa trên nguyên lýbánh xe (vòng tuần hoàn) Tất cả những khái niệm, thuật ngữ, các mối liên hệ logic, suy lý,luận giải, kết luận và các đề xuất đợc dùng trong sách đều tuân thủ bố cục này và đều hớngvào việc luận chứng, khám phá, giải thích, nhận thức nó và đa vào t duy chính trị, pháp luật vàthực tiễn, hành vi và hoạt động của con ngời- những thành viên tham gia quản lý Với mục
đích này, sự chú ý đặc biệt đợc dành cho chơng I- “Quản lý nhà nớc - hiện tợng xã hội có tính
hệ thống”, trong đó trình bày các cơ sở của các yếu tố và các mối tơng giao tạo nên chiếcbánh xe (vòng tuần hoàn) quản lý trong hệ thống của mình Các chơng còn lại ( chơng II- “Tổchức quản lý nhà nớc”, Chơng III- “Đảm bảo quản lý nhà nớc”, chơng IV- “Hợp lý hoá quản
lý nhà nớc”) đều tuân thủ chơng thứ nhất và chỉ đặc trng một cách phân hoá và chi tiết hơncác yếu tố và các mối tơng giao của hệ thống quản lý nhà nớc (tơng tác chủ thể - khách thể cótính hệ thống) Trong tất cả các bài giảng (và các mục của các bài giảng ), bắt đầu từ kháiniệm và kết thúc bằng sự phát triển và lĩnh hội những khả năng của quản lý nhà nớc, xây dựngmột chuỗi mắt xích thống nhất những xét đoán (trình bày cái vành bánh xe), từ đó mỗi xét
đoán đều có vị trí của mình trong hệ thống và có ý nghĩa của mình, dùng làm cơ sở cho sự xét
đoán tiếp theo và phù hợp với nó Không tính đến những mối ràng buộc và lệ thuộc lẫn nhau
về mặt khái niệm này thì khó có thể hiểu đợc nội dung của cuốn sách, thực chất của mô hình
lý thuyết đợc trình bày trong sách
Tuy nhiên, nếu xét đoán theo các xuất bản phẩm mà trong đó có viện dẫn cuốn sáchcủa tôi, hoặc trích dẫn các mục khác nhau của nó, cũng nh theo nội dung của riêng chúngphản ánh các quan niệm của tác giả, thì đúng là vẫn không thể nhận thức toàn vẹn mô hình
có luận cứ này Theo thói quen từ lâu nay, từ một bản văn ngời ta tách ra một số khái niệm, đềxuất, xét đoán riêng lẻ, tạo cho chúng một nội dung phù hợp với các tác giả, rồi chúng đợc
“điền vào” các bản văn của các tác giả đợc trích dẫn khác, kết quả là từ chúng chẳng còn lạigì cả Tôi luôn phiền lòng vì một câu hỏi: liệu các tác giả này có đọc các cuốn sách khác từ
đầu đến cuối hay không, để từ đó họ chọn ra cái gì đó? Hay là họ chỉ xem qua mục lục vàtheo đề tài công trình của mình để tìm một chơng hoặc mục cần thiết, mà trong chơng mục
đó- có tập hợp từ phù hợp Bởi vì không thể gọi tên những từ này hoặc từ khác đợc trích ra từtoàn bộ bản văn không phải nh là một tập hợp, mà theo cách khác
Bởi vì hôm nay nhờ t duy lý luận thế giới và trong nớc và tài liệu quy phạm đã xâydựng nên những biểu thị nói chung là dễ hiểu và đồng nhất của nhiều yếu tố, quá trình vàquan hệ quản lý- mục đích, chức năng, cơ cấu, hình thức, phơng pháp, thủ tục, quyết định,công nghệ vv và vv Thờng thấy nhất là vấn đề tựu trung ở sự thiết lập từ chúng các hệ
thống có cơ sơ logic, trong đó chúng liên kết dới dạng một cơ cấu toàn vẹn hoạt động thực tế.
Những chi tiết cha phải là cơ cấu (bộ máy), cũng nh những yếu tố và các mối tơng giao riêng
lẻ đều cha phải là hệ thống quản lý nhà nớc hoặc một loại hình quản lý nào khác
Và rốt cuộc, nh là tiền đề cần thiết để nghiên cứu hoặc đọc qua “Giáo trình bài giảng”.Quản lý là hiện tợng xã hội có hệ thống liên quan với tất cả các cơ cấu và các quy luật của xãhội: với các lý tởng hiện hành trong nó, với các giá trị và mục đích, với những nhu cầu thiếtthực vào thời điểm nhất định, với những lợi ích và đòi hỏi, với trình độ đã đạt đợc về tri thức,kinh nghiệm, học vấn và thông tin, với những nguồn lực hiện hữu và có thể, tiềm lực và tiềmnăng, với tình trạng sức khoẻ, tâm lý và lối sống của con ngời, với chất lợng của việc chế địnhhoá các quan hệ, hiện tợng và quá trình xã hội về mặt nhà nớc-pháp luật và về các mặt khác,với ý thức, hành vi và hoạt động cụ thể của những cá nhân cụ thể và với nhiều cái khác Trongsách mô tả thuần tuý các yếu tố và các mối tơng giao quản lý nhà nớc, nhng khi lý giải chúngthì luôn phải nhớ đến nguyên cớ gây nên chúng bởi các yếu tố và các mối tơng giao xã hộikhác, bởi vì ngay cả ngôn ngữ giao tiếp cũng có ý nghĩa đối với chúng Để lĩnh hội sâu sắcquản lý nhà nớc không thể không hiểu biết triết học, sử học, xã hội học, kinh tế, chính trị, nhànớc, pháp luật, tâm lý học và các khoa học khác Thu hẹp quản lý nhà nớc tới mức chỉ là hiệntợng pháp luật, thêm nữa lại chỉ mang tính thừa hành, thì không thể gọi khác đi là sự nghèo
Trang 9nàn t duy Quản lý nhà nớc chỉ là nh vậy trong trờng hợp nếu nh trong nó trình bày tất cả sựphong phú của văn minh con ngời, tất cả những khả năng của t duy, tri thức, kinh nghiệm vàtài năng con ngời.
Lần xuất bản thứ hai có mở rộng và bổ sung dựa trên cơ sở không phải là chỉnh lý môhình, mà tăng cờng biện giải, đa vào thêm những chứng cứ thuyết phục hơn, giải thích chi tiếtcác vấn đề còn cha hiểu (có thể đa ra kết luận thế nào từ các xuất bản phẩm sau và trên cơ sở
đọc cuốn sách này), sử dụng trong bản văn những công trình khoa học mới, các văn bản phápquy và một số t liệu thống kê Kèm theo lần xuất bản này còn có danh mục các ấn phẩm thiếtyếu trong lĩnh vực quản lý nhà nuớc, từ điển các khái niệm đợc sử dụng và các sơ đồ hình họalogic cho mỗi bài giảng, giúp khám phá nội dung một cách trực quan Hy vọng rằng điều này
sẽ đợc độc giả đón nhận với sự cảm thông và kết cục lại là tạo khả năng nâng cao trình độquản lý nhà nớc ở Liên Bang Nga- Tổ quốc thống nhất và thân yêu của chúng ta
nhập môn
Đây là giáo trình bài giảng đầu tiên trong lịch sử nớc Nga, mà có thể là không chỉ ở nớcNga về lý thuyết quản lý nhà nớc, phần đại cơng, phần phơng pháp luận của nó Điều này làmnhiều ngời cảm thấy kỳ lạ: sao lại thế, ngời ta nói, bởi vì chỉ xét theo những nguồn t liệuthành văn thì hiện tợng nhà nớc đã tồn tại 6 ngàn năm, và rằng chẳng lẽ đã không có ai suynghĩ về quản lý nhà nớc? Nhng ở đây không có gì là kỳ lạ và khó giải thích cả
Vào thời kỳ nông nghiệp ( mông muội) của lịch sử loài ngời thì mục đích chính lànắm quyền lực và giữ quyền lực Từ đây mà nảy sinh những cuộc đụng độ và chiến tranh triềnmiên, những gian kế, những âm mu, những cuộc thơng lợng Bắt đầu từ Platon, nhà nớc đã đ-
ợc nhìn nhận một cách truyền thống nh là tổ chức cỡng chế bảo đảm cho sự thống trị củanhững ngời này và sự áp bức những ngời khác Một cách tơng ứng, quản lý nhà nớc đã là sựhiểu biết về các phơng thức giữ hoặc nắm quyền lực, đàn áp những ngời cạnh tranh và thu giữcác phơng tiện để nuôi dỡng quyên lực đó Từ điểm mấu chốt này các tác phẩm của hầu hếtcác nhà nghiên cứu nhà nớc và chính trị đã đợc viết ra (theo định nghĩa hiện đại về các lĩnhvực tri thức khoa học)
Chỉ có bớc chuyển đổi khởi sinh bởi cuộc cách mạng công nghiệp sang xã hội côngnghiệp mới dẫn đến sự hình thành tri thức mà ngày nay đợc ám chỉ bằng khái niệm “quản lý”.Không phải ngẫu nhiên mà trong số những ngời mở đầu khoa học quản lý bao gồm G Ford,
F Taylor, A Fiol, G Emerson và các nhà quản lý sản xuất khác, là những ngời đầu tiên biếtkết hợp kiến thức, kỹ thuật và con ngời vào một hệ thống động phức tạp Thực tế, toàn bộ sựquản trị đã trởng thành trong khuôn khổ các quá trình kinh tế và sản xuất Cần nhận thấy rằngmột thời gian dài bản thân các quy luật của chủ nghĩa t bản nh là nền sản xuất kinh doanh tự
do, đã kìm hãm việc áp dụng những thành tựu lý luận và thực tiễn của quản trị trong lĩnh vựcquản lý nhà nớc Thậm chí nhiều ngờì đã đặt đối lập hai loại hình quản lý này với nhau
Bớc ngoặt sâu sắc trong nhận thức về quản lý nhà nớc là nguyên cớ gây nên sự hìnhthành nó nh là hiện tợng xã hội có tính hệ thống hiện thực, đã xảy ra dới ảnh hởng của các sựkiện chiến tranh thế giới lần thứ nhất, các cuộc cách mạng, sự đình đốn kinh tế “vĩ đại”(1929-1933), các cuộc thực nghiệm cực đoan, chiến tranh thế giới lần thứ hai và những hậuquả do các sự kiện này gây ra Trong sự phát triển quản lý nhà nớc kết hợp quyền lực nhà nớcvới tri thức quản lý đã nhận thấy không chỉ là sự thiết lập nhà nớc Xô Viết, vốn đã không đemlại sự tăng trởng kinh tế có tính lịch sử nh mong muốn, mà còn cả “đờng lối mới” của F D.Ruzvelt tạo khả năng tìm kiếm và sử dụng các cơ chế tơng tác mềm dẻo của nhà nớc và kinh
tế thị trờng, điều chỉnh pháp luật và hoạt động sinh sống tự do của con ngời Trên bình diệnchủ quan, đã có vai trò to lớn là những ý tởng về nhà nớc pháp quyền, nhà nớc xã hội (phúclợi cho mọi ngời), tự quyết dân tộc, quyền và tự do của con ngời và công dân, còn trên bìnhdiện khách quan- là cuộc chiến tranh “lạnh”, sự gay gắt của tình trạng sinh thái, nguy cơ hạtnhân đối với nhân loại, “sự bùng nổ” dân số, sự hình thành một thế giới lệ thuộc lẫn nhau(toàn cầu hoá) và các tình huống khác đòi hỏi sự phân tích đặc biệt
Vào cuối thế kỷ XX loài ngời đã bớc vào thời kỳ phát triển mới về chất, khi mà nhìn lạiquá khứ chẳng có ích gì, thậm chí là cái quá khứ làm hài lòng ai đó Nh ngời sáng lập và Chủtịch đầu tiên của Câu lạc bộ Roma A Pechei đã viết, khi giải quyết bất kỳ vấn đề nào giờ đâycon ngời luôn luôn phải tính đến “những giới hạn bên ngoài” của hành tinh, “những giới hạnbên trong” của bản thân con ngời, di sản văn hoá mà nó thu đợc, là cái mà nó có bổn phận
Trang 10phải chuyển giao cho những ngời kế tiếp, cộng đồng thế giới mà nó cần phải xây dựng, môitrờng sinh thái mà nó cần phải bảo vệ bằng mọi giá, và cuối cùng là tính đến hệ thống sảnxuất tổng hợp và phức tạp mà đã đến lúc con ngời phải bắt đầu tổ chức lại [Pechei A Nhữngphẩm chất con ngời: Dịch từ tiếng Anh M 1985 Tr.292] Những điều kiện khách quan màtrong đó con ngời phải hành động trong thế kỷ XXI đang áp đặt những hình thức t duy, hành
vi và hợp tác mới của con ngời Yếu tố chủ quan cũng cần phải đợc đào tạo và tổ chức tơngứng theo cách mới Tất cả những gì sẽ cần phải làm chỉ thực sự có thể trong điều kiện quản lýnhà nớc phát triển bên trong mỗi quốc gia và sự phối hợp bình đẳng hoạt động của các quốcgia trên trờng quốc tế [Nh là một thí dụ, điều này cho thấy một cách trực quan kinh nghiệm
và động thái mở rộng và củng cố Liên minh châu Âu] Mà điều này đơng nhiên đòi hỏi sựnghiên cứu căn bản và khai thác thực tế các nguồn và các nhân tố xã hội, vốn quyết định bảnchất hiện đại của quản lý nhà nớc Nói cách khác, cần một lý thuyết về quản lý nhà nớc dớihình thức tri thức khoa học tổng hợp, “bao chùm” các quy luật và các hình thức quản lý nhà n-
ớc tổng hợp, toàn thế giới, cũng nh các quy luật và hình thức quản lý nhà nớc thuần tuý dântộc, đặc thù đối với nớc này hoặc nớc khác Thêm vào đó là cả những hiểu biết phát triển vàthích ứng, có khả năng nhận thức những thách thức của cuộc sống và trả lời những thách thức
đó
***
Viết lý thuyết là rất phức tạp, và ở đây sai lầm thờng là nhiều Không phải ngẫu nhiên
mà cả các bác học cũng nh các nhà văn hoá đều thích quan tâm đến lịch sử, đến quá khứ, màtrong đó cái gì đó đã xảy ra, đã định hình đã có sự ổn định và đã cho các kết quả nào đó.Trong đó các quyết định, các hành động và các hậu quả của chúng đợc xem xét rõ hơn Còn lýthuyết thì dù có thái độ hoài nghi thế nào đi nữa đối với các khả năng thực tế của nó, thì nó
vẫn liên quan với lịch sử Một cách lý tởng, mà thực ra là cái không có, lý thuyết- đó là lịch sử
đợc trình bày trong các khái niệm, logic của cuộc sống đã qua và hiện tại của con ngời Nókhông dễ đợc nhận thức, thêm vào đó lại thờng bị mất uy tín bởi mọi điều phán xét Cũngkhông nên quên rằng trong truyền thống của nớc Nga không hiểu sao nhiều khi ngời ta hiểu lýthuyết chỉ là kiến thức và những xét đoán về một cái gì đó cao hơn, xa cách với cuộc sống.Thêm nữa, nếu nh lịch sử là tri thức đợc giáo huấn (dạy giỗ), thì lý thuyết- là tri thức hành
động thực tế đợc đa vào suy nghĩ, hành vi và hoạt động của con ngời Tất nhiên, ở đây là nói
về lý thuyết khoa học với ý nghĩa đợc hiểu nh K Jaspers, là ngời đã viết rằng “ có ba dấuhiệu thuộc tính của khoa học: các phơng pháp nhận thức, tính xác đáng và có ý nghĩa chung”.[Jaspers K ý nghĩa và công dụng của khoa học: dịch từ tiếng Đức M 1994 Tr 101]
Tri thức có tính chất lý luận khi nó đợc hệ thống hoá trên các cơ sở xác đáng, trải qua
sự kiểm tra (so sánh) rộng rãi và tự do bởi sự thật, các sự kiện và hiện tợng của cuộc sống,nghĩa là có sức thuyết phục đối với nhiều ngời và đợc họ thử nghiệm khi giải quyết các vấn
đề, giữ đợc giá trị của những luận điểm và kết luận của mình trong một thời gian dài, soi sángcho việc tìm kiếm những hình thức và cách tiệm cận mới trong việc tiến hành các công việcnày hay các công việc khác Cựu Tổng giám đốc UNESCO F M Saragos ở một trong nhữngcông trình của mình đã viết: Nghiên cứu- nghĩa là nhìn thấy cái mà mọi ng” ời nhìn thấy, nhng nghĩ khác so với những ngời khác” (tôi viết nghiêng- G A.) Nghiên cứu- nghĩa là so sánh sự t-
ởng tợng, logic, sự đánh giá khách quan các phát minh, nhng đồng thời cũng đóng góp tàinăng của mình, sự nóng lòng, không lặp lại, khát khao những cách tiếp cận mới, những tơngquan mới” [Saragos F M Ngày mai luôn luôn là muộn: Dịch từ tiếng Tây Ban Nha M ,
1989 Tr 221]
Tất nhiên, lý thuyết là cách nhìn, theo quan điểm chủ quan của tác giả lên hiện thực
đ-ợc nghiên cứu Và cho dù có cố gắng khách quan đến đâu, lý trí lạnh lùng đến đâu, thì trongmỗi lời của tác giả vẫn nhận thấy ngọn lửa của tâm hồn anh ta, những suy nghĩ trăn trở, những
đau khổ của trái tim anh ta Vì vậy, cần có sự thông cảm và thái độ thiện chí đối với những gì
đợc đa ra và biện giải Điều cốt yếu không phải là ở chỗ tác giả không hiểu cái gì đó hoặckhông giống nh ngời nào đó cảm thấy, xem xét vấn đề này hay vấn đề khác (tất cả chúng ta
đều dễ lầm lẫn), mà là ở sự chân thành và trung thực của anh ta trớc độc giả
Trong giáo trình các bài giảng tác giả bắt đầu suy nghĩ về lý thuyết và tạo ra các cuộctrò chuyện với những ai sẽ đọc và nghiên cứu nó, trên cơ sở bình đẳng, dới hình thức đối thoạigiữa những con ngời tôn trọng lẫn nhau Lý thuyết quản lý nhà nớc cho dù có phức tạp đến
Trang 11đâu, thiết nghĩ rằng với sự chú ý và kiên trì cần thiết, với việc tìm hiểu thêm các ấn phẩm bổsung, với việc thảo luận các định đề và giả thiết của nó với bạn bè và đồng nghiệp, tức là khi
có sự nhận thức, thì hầu nh mỗi ngời đều có thể lĩnh hội và đánh giá tất cả những gì sẽ đợc nói
đến, do đó mà hiểu và chia sẻ ý nghĩa và ngôn ngữ của lý thuyết
***
Sách đợc viết ở nớc Nga và cho nớc Nga và đợc hoàn thành vào năm 1995 Vì vậy,trong phần nhập môn lý thuyết quản lý nhà nớc tác giả coi là mình có bổn phận phải bày tỏ,
dù là một cách chung nhất, về tình trạng hiện tại của xã hội chúng ta và những triển vọng có
thể có của nó Nh thế sẽ tạo ra sự định hớng đối với những xét đoán xuyên suốt các đề tài đợc
xem xét và các chủ đề cụ thể của chúng
Thế kỷ XX đối với nớc Nga, mà ở đây tác giả muốn nói đến đất đai và các dân tộc củamột phần sáu trái đất, đã là thế kỷ bi thảm Sự bắt đầu của nó đã đi vào ký ức lịch sử bởi thảmkịch Port-Artur và Susima, còn kết thúc của nó đợc đánh dấu bởi sự phá huỷ Liên Xô và thếvào chỗ đó là 15 quốc gia, bởi những cuộc xung đột giữa các dân tộc, bởi sự sụp đổ kinh tế,kết quả là vào năm 1995 Liên Bang Nga với gần 150 triệu dân đã có tổng sản phẩm quốc nộinhỏ hơn so với Nam Triều Tiên nhỏ bé Còn giữa đầu và cuối thế kỷ- là hai cuộc chiến tranhthế giới và một số cuộc chiến tranh cục bộ, ba cuộc cách mạng và một cuộc nội chiến, nhữngchi phí khổng lồ các nguồn lực thiên nhiên, vật chất và con ngời Cuộc thực nghiệm xã hộikhông bình thờng, chiến thắng vĩ đại nhất, sức ép khổng lồ của sức mạnh (vũ khí tên lửa-hạtnhân, vũ trụ), cuộc đấu tranh không ngừng giữa con ngời với nhau- và kết cục là không mộtvấn đề nào đợc giải quyết: lơng thực thực phẩm, nhà ở, công trình công cộng vv… Thật cay
đắng, nặng nề và đau xót phải nhận thức tất cả những cái đó
Nhng thậm chí từ tình trạng khó khăn nhất thì vẫn luôn luôn có ít nhất là một số lốithoát Lối thoát đơn giản và dễ dàng nhất- chấp nhận số phận, buông xuôi tay, chờ đợi của bốthí hoặc trông cậy vào Chúa trời Còn lối thoát của những ngời mạnh mẽ và can đảm: nhìnthẳng vào hiểm nguy, đánh giá nó, cân nhắc thực tế các nguồn lực của mình, phân tích nhữngsai lầm và nhầm lẫn đã xảy ra, làm phong phú thêm những hiểu biết của mình, xắn tay áo lên,lao động cật lực và tạo bớc ngoặt cho cuộc sống tốt hơn Tất cả là dựa vào sự lựa chọn Cuốnsách này đợc viết dành cho những ngời can đảm, kiên quyết, cần cù lao động, kiên cờng, sãnsàng tạo nên một nớc Nga của thế kỷ XXI Những tình cảm và suy nghĩ của tôi chính là hớngtới họ
Rõ ràng là mọi hành động đều bắt đầu từ mong muốn làm một cái gì đó Thêm nữa,cũng rõ ràng rằng mong muốn còn là ít, cần phải hiểu biết, hiểu biết còn là ít, cần phải biết
làm, biết làm còn là ít, cần phải có khả năng (có sức lực, các nguồn lực), có khả năng còn là
ít, cần phải làm thực sự, phải thể hiện điều mong muốn vào cuộc sống Mặc dù đã trải quanhững thử thách đau đớn, nhng ở nớc Nga vẫn còn duy trì đợc những tiềm lực thiên nhiên, cơ
sở hạ tầng sản xuất, tiềm năng con ngời, những thành tựu trí tuệ Nghĩa là những tiền đề, hơnnữa là khá vững chắc, những hy vọng vẫn còn Vấn đề đặt ra là dựa vào việc sử dụng nhữngtiền đề này, đa chúng vào hoạt động, do đó cũng dựa vào quản lý, mà trong số các loại hìnhquản lý cũng dựa vào quản lý nhà nớc
Tiện thể xin nói thêm, các tiền đề đã luôn luôn có, cả trớc cách mạng và sau cáchmạng, cả trong những thập kỷ gần đây Tuy nhiên chúng đã không trở nên hữu hiệu vì mộtloạt nguyên nhân Tất nhiên không thể xem xét tất cả các nguyên nhân này, mà đó cũngkhông thuộc đối tợng của giáo trình bài giảng này Tuy nhiên, dù sao tôi vẫn muốn nói lênmột số xét đoán liên quan đến quản lý nhà nớc Bởi vì hình nh vẫn có cái gì đó cản trở chúng
ta giải quyết thành công những vấn đề từ lâu nay vẫn làm cho các dân tộc chúng ta lo lắng, cócái gì đó đang kìm hãm sự phát triển của chúng ta và nứu giữ chúng ta trong tình trạng tụt hậuhoặc phải rợt đuổi Và điều này là một cái gì đó đang nằm không phải trong các cơ sở kháchquan (với tất cả tính phức tạp của chúng), mà đúng hơn là trong yếu tố chủ quan của chúng ta,trong những tính chất nào đó của nhận thức của chúng ta, trong hoạt động của chúng ta, trong
tổ chức, nhng hơn cả là trong nhận thức, vốn là khởi đầu cho tất cả và trong tất cả những gìcon ngời làm ra Khác với những ngời Nga “truyền thống” “ai có lỗi?” và “làm gì đây?”, tácgiả thực sự bận tâm với câu hỏi “vì sao?” Bởi vì chỉ những câu trả lời cho câu hỏi “vì sao?”mới dần dần đa chúng ta tới sự thấu hiểu các quá trình xã hội và làm sáng tỏ dù chỉ là mộtphần nhỏ sự thật
Trang 12Điều trớc tiên mà tôi muốn nói đến trong bối cảnh nhiệm vụ đợc đặt ra có liên quan tớithái độ đối với lịch sử ở chúng ta đã hình thành sự nhận thức hoàn toàn có tính lựa chọn theo
“khẩu vị” đối với cái đã xảy ra trong quá khứ và đã trở thành lịch sử Ngời ta cũng có thểkhông nhận thấy lịch sử, hoặc phủ nhận, và ca tụng lịch sử một cách vô cớ, và cũng tơng tự-phê phán nó một cách vô căn cứ Nhng cái chính là vì sao lại quên rằng, nói một cách hình t-ợng, lịch sử- đó là một dòng chảy lớn mà từ bao đời nay thấm vào nó, giữ trong nó, nghiềnnhỏ và hấp thu tất cả những gì mà những thế hệ đã sống và đang sống đa đến Trong dòngchảy đó mỗi thế hệ nhận đợc phần di sản nhất định của mình từ các tiền bối, sử dụng phần disản đó, làm giầu hoặc tiêu phí nó và truyền lại cho đời sau Cũng hiển nhiên là mỗi thế hệ đều
đã hành động trong những hoàn cảnh đã hình thành vào thời đại của nó và trong khuôn khổthông tin xã hội mà nó có đợc, đã xuất phát từ cái gì đó, đã đợc dẫn dắt bởi cái gì đó và đã h-ớng tới cái gì đó Từ đây cần có thái độ tôn trọng các tiền bối, thậm chí ngay cả khi chúng taxem xét lại các quan điểm và giá trị của họ, làm lại cái mà họ đã làm Bất kỳ thế hệ nào không
biết, không hiểu và không đánh giá lịch sử của mình thì đều không thể hình thành trong môi trờng của mình thái độ nhân phẩm và danh dự.
Lĩnh hội lịch sử là đặc biệt cấp thiết vào những giai đoạn bớc ngoặt, bởi vì khi lựa chọncác phơng hớng và con đờng vận động tới tơng lai, những hình thức và cơ chế mới của hoạt
động sống thì điều đặc biệt quan trọng là không đợc sai lầm trong cái “nền tảng”, trong xuấtphát điểm, trong cái điểm tựa mà từ đó và trên cơ sở đó dự định tiến hành công cuộc sáng tạotiếp theo Bởi lẽ nếu không phải ngời này thì cũng là ngời khác sẽ luôn luôn phải trả giá chonhững ảo tởng và nhầm lẫn, lừa dối
Điều thứ hai đáng đợc chú ý- đó là các mối quan hệ của con ngời và xã hội Đã có lúcnhà triết học, thần học, kiều dân V V Zenkovxki , trong khi đánh giá tổng kết những tìm tòi
và suy tởng của gần 120 triết gia Nga trong suốt các thế kỷ XVIII-XX đã viết: ”Nếu cần đa ranhững đặc trng chung nào đó của triết học Nga… thì trớc hết tôi muốn nêu lên thuyết loài ngờitrung tâm của những tìm tòi triết học Nga Triết học Nga không theo trờng phái lý thuyếttrung tâm (mặc dù trong một bộ phận đáng kể các đại diện của mình thì hoàn toàn mang tínhtôn giáo), vũ trụ trung tâm (mặc dù các vấn đề triết học tự nhiên đã rất sớm thu hút sự chú ýcủa các triết gia Nga), mà nó quan tâm trớc hết đến đề tài về con ngời, số phận và đờng đi củacon ngời, về ý nghĩa và mục đích của lịch sử Điều này trớc hết thể hiện ở chỗ là khắp mọi nơi(thậm chí cả trong những vấn đề ngoài đề) phơng châm đạo đức cũng nổi trội” [Zenkovxki V
V Lịch sử triết học Nga T.1 C 1 L., 1991 Tr 16]
Trên thực tế, khó tìm thấy trong ý thức của các dân tộc khác rất nhiều những suy tởng
về bản chất của con ngời và vị trí của con ngời trong Vũ trụ nh là ở dân tộc Nga [Xem:Egorov V S Triết học văn hoá của nớc Nga: các giới hạn và các vấn đề M.: Nxb RAGS,2002] Nhng đồng thời cũng không nên không nhìn thấy rằng những tìm tòi “các điểm tựa”trong t duy, hành vi và hoạt động của con ngời trong đa số trờng hợp đã chỉ đợc tiến hànhtrong bản thân con ngời, chủ yếu là trong lơng tâm của con ngời Còn các vấn đề về cái điều
đã làm cho con ngời trở nên thế này hay thế khác, cái làm cho con ngời không phải luôn luôn
có lơng tâm, cái đã khích động con ngời thực hiện, và khá thờng xuyên, những hành vi khôngtốt, thì lại đều ít đợc đặt ra và xem xét Trong khi đó thì chính các mối quan hệ xã hội, màcon ngời gặp phải từ khi sinh ra, đã đi theo nó suốt đời và đã buộc con ngời phải “hoà nhập”trong chúng, đã ghi dấu ấn quyết định lên tính cách của nó, hình thành nên thế giới quan, trítuệ và tâm hồn của nó Các thể chế xã hội nh là gia đình, sở hữu, đạo đức, pháp luật và nhà n-
ớc, vốn dĩ có ý nghĩa xác định đối với con ngời, thì ở chúng ta hầu nh đã cha bao giờ đợc sửdụng bởi uy tín xuất phát không từ sức mạnh, mà từ bên trong- từ nhận thức Về mặt truyềnthống, chúng xa lạ với con ngời và đối lập với tự do của con ngời, với “cái tôi” cá nhân
Những thể chế xã hội này chỉ thiếu chút nữa là đã bị biến thành số không trong thời kỳXô Viết: gia đình thay bằng sự “mất gốc” và tình đoàn kết giai cấp, sở hữu- thay bằng cái bịcủa “giai cấp vô sản”, đạo đức đợc thay bằng lòng tin vào chủ nghĩa cộng sản, pháp luật- thaybằng lợi ích cách mạng, nhà nớc- thay bằng cơ chế bạo lực thực hiện sự lãnh đạo của Đảng.Cả các thể chế xã hội có tính chất củng cố cũng đã bị mất uy tín: các truyền thống, phong tụctập quán, các quy phạm, những sự khuyến khích, các hình phạt vv… Những hậu quả của tìnhtrạng tơng tự của các mối quan hệ xã hội là hiển nhiên, nh là I A Ilin đã nhìn thấy trớc:
“Chính tâm hồn Nga trong những đau khổ và nhục mạ này đã thay đổi: cái yếu bị phân huỷ,cái mạnh đợc tôi luyện, cái tốt vô dụng, cái ác trở nên tàn bạo; nọc độc của sự cám dỗ tràn
Trang 13ngập tâm hồn- sự sợ hãi, luồn cúi, phản bội, suy đồi đạo đức và tranh giành địa vị cách mạngvô liêm sỉ nhất [Ilin I A Những nhiệm vụ của chúng ta Số phận lịch sử và tơng lai của nớcNga M., 1992 Tr 342].
Vì thế, khi tác giả viết về quản lý nhà nớc và đặt vào đó những niềm hy vọng lớn lao thìcũng không quên và không giảm nhẹ các thể chế xã hội khác; ngợc lại, tác giả xem xét bảnthân nhà nớc trong mối quan hệ chặt chẽ với những thể chế này và cho rằng không có nhữngcải biến nghiêm túc trong gia đình, chế độ sở hữu, đạo đức và pháp luật và tơng ứng là trongcác truyền thống, phong tục tập quán, quy phạm (quy tắc) hành vi, trong các giá trị và t tởng
và những cái khác thì cũng không thể hình thành nên một nhà nớc dân chủ pháp quyền Chính
là ở đây bao hàm tính tổng hợp và tính hệ thống của việc nghiên cứu, mà khi soi sáng mộthiện tợng nào đó (trong trờng hợp này là quản lý nhà nớc) thì nó cũng đặt ra và tính đếnnhiều mối quan hệ xã hội, mà kết cục lại xác định đợc bản chất của nó
Điều thứ ba, biểu hiện trên sự phát triển lịch sử và có ảnh hởng lên nhiều quá trình kháchôm nay, đợc xem xét trong những đặc điểm của nhận thức Nga về mặt xã hội cũng nh cánhân Nhận thấy rằng ở mức độ cao nó không hiện thực, rất tách rời các quá trình của đờisống, tồn tại nh thể là tự thân và chứa đầy những khuôn mẫu ảo tởng Thêm nữa, theo nhữngcăn cứ không rõ ràng nào đó, nhận thức của chúng ta không độc lập, rất dễ uốn theo nhữngphụ họa và ảnh hởng khác nhau Khó liệt kê trong lịch sử nhận thức của chúng ta những ngời
đã không ngả theo: thuyết thần bí, thuyết Sheling, thuyết Hê-gen, chủ nghĩa duy vật, chủnghĩa cấp tiến, chủ nghĩa thực chứng, thuyết Cant mới, chủ nghĩa Mác-xit, chủ nghĩa TânMác-xit, chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa bảo thủ, chủ nghĩa quân chủ, chủ nghĩa dân chủ Thiênchúa giáo vv…và vv… Mà đó lại đúng vào lúc mà các dân tộc chúng ta đã biểu lộ trớc thế giớinhững tài năng độc nhất trong hội họa, âm nhạc, thơ ca, sân khấu và điện ảnh, khoa học, vănhọc, nghệ thuật quân sự, t tởng chính trị, công nghệ hiện đại- hầu nh trong mọi hình thức hoạt
động của con ngời! Nhiều nhà khoa học đã ra nớc ngoài và ở đó họ đã có đợc sự vinh quangcủa các bác học hàng đầu Và còn một điều nữa: khi vay mợn và sao chép ở chúng ta thờngkhông nguyên bản mà đã bị giải thích và biến hoá theo cách là không còn giữ lại đợc baonhiêu từ nguyên bản Cảm thấy là ngời ta mong muốn làm cho mọi cái trở nên thật độc đáo,khác với những ngời khác Nhiều khi những bản duy nhất các phát kiến mới về kỹ thuật hoặccông nghệ đã chứng tỏ một tài năng lớn, nhng đã tỏ ra không thể áp dụng trong sản xuất đạitrà Nói cách khác, nhận thức bao hàm từ những mâu thuẫn sâu sắc, những nghịch lý đầynhững “tiếng tăm ồn ào”, kết quả là có ảnh hởng tiêu cực đến thực tiễn xã hội, và tất nhiên,
đến việc giải quyết các vấn đề xã hội
Có lẽ, thái độ phê phán đối với tình hình và vai trò lịch sử của nhận thức khoa học xã hội cũng sẽ là công bằng Có thể nhiều ngời tán thành với điều là đang nhận thấy sự thu hẹp,
sự hạn chế nhân tạo đối với phạm vi các nguồn tri thức đợc sử dụng trong t duy khoa học Phổbiến là việc tạo ra những cuốn sách từ các cuốn sách khác, sự tiếp nối các tác giả trong khuônkhổ những định đề của các tác giả khác (nguyên tắc trung thành với ai đó và với cái gì đó).Hầu nh không kiểm tra xem những suy nghĩ, ý tởng, nghiên cứu, quan điểm, chơng trình nàykhác đợc thực hiện trong cuộc sống nh thế nào, chúng đem lại cái gì cho cuộc sống, những kếtquả khách quan nào Nếu nh có cái gì đó tơng tự xảy ra, thì thờng là để bác bỏ gay gắt nhữngsuy nghĩ và ý tởng này ngời ta đa ra những ý tởng khác thay thế vào ngay chỗ đó Không thểtìm thấy những nghiên cứu nghiêm túc về hiệu quả của sản xuất tinh thần Định hớng chủ yếu
là dựa theo các nguồn văn hoá châu Âu, và một cách có chọn lọc Sự phong phú của các t ởng Phơng Đông và Phơng Nam (so với nớc Nga) trong trờng hợp tốt nhất thì cũng chỉ đợc sửdụng nh là nguồn tài sản của một số ít các chuyên gia và ít đợc đa vào quá trình trí tuệ chung.Kết quả là t duy khoa học xã hội Nga phát triển không trên cơ sở tổng hợp văn minh thế giới,
t-mà trên cơ sở lĩnh hội chỉ những phần riêng lẻ của nó và “cấy ghép” chúng một cách nhân tạotrên mảnh đất dân tộc
Việc sử dụng những thành quả sáng tạo của bản thân (nớc Nga) cũng hạn chế Sự phânchia nổi tiềng theo các quan điểm tôn giáo và thế tục, lập trờng giai cấp và đẳng cấp, theo
“lòng trung thành” với học thuyết đã biết vv… đã và đang không ngừng dẫn đến một điều lànhiều tác giả sáng tạo trong một không gian đợc vạch sẵn một cách nghiêm ngặt và chỉ dựavào những nguồn nào đáp ứng đối với họ (hoặc những ngời đi trớc) Không thể nào bắt đầu đ-
ợc sự hình thành tính toàn vẹn của quá trình sáng tạo của nớc Nga với tất cả tính mâu thuẫn
Trang 14của quá trình này, với áp lực bên trong và cuộc đấu tranh phán xét, cũng nh tính liên kết và bổsung của toàn bộ phạm vi những tìm tòi trí tuệ, từ siêu “hữu khuynh” đến siêu “tả khuynh”.
Tiếp theo, nhận thấy rõ sự nỗ lực kiên trì của những ngời gắn bó với t duy khoa học xãhội, với việc lập luận nhiễu loạn các kết luận, đánh giá, đề xuất, kiến nghị và những “sángtạo” t duy khác của mình Gần nh là bất kỳ ai, dù chỉ hiểu biết một cái gì đó, cũng tin chắc làkhông có sự nhầm lẫn trong các quan điểm của mình và đã nói lên chân lý, thêm nữa lại làchân lý cuối cùng Có lần I A Ilin, trong khi phát hiện những phơng pháp t duy khác nhau đãviết rằng “sự suy diễn biết trớc tất cả: nó xây dựng các khái niệm tuỳ ý, nêu lên các “quy luật”nắm bắt các khái niệm này, và cố gắng gắn kết các khái niệm , “quy luật” và hình thức này-cho con ngời đang sống và thế giới Chúa trời” [Ilin I A Những nhiệm vụ của chúng ta Tr.169] Hình nh cuộc sống đã dạy một cách cơ bản, nhng cả hôm nay phơng pháp suy diễn vẫnrất phổ biến: thay cho sự thấu hiểu độc lập và có trách nhiệm về lịch sử của mình, di sản củamình và tình trạng hiện tại, ngời ta lại không ngừng đa ra liên tiếp những quan điểm, nhữngchơng trình, những mô hình, những ý tởng mới Cũng chẳng sao khi chúng không trở thànhhiện thực, bởi lẽ thay vào chỗ của chúng ngời ta lại đa ra những cái khác và do vậy tạo nênhiện thực “sôi sục” của t duy khoa học
Đôi khi sự nghèo nàn của các khoa học xã hội và khẳ năng sáng tạo của chúng xảy ra
do nguyên nhân là việc đa ra ý tởng đặc sắc, sự lý giải logic một định đề, việc xây dựng mộtquan niệm nhất định, sự sáng tạo một sản phẩm trí tuệ khác lại thờng đợc coi nh thế là đã đủ
và có vẻ là đã kết thúc quá trình tơng ứng Tơng tự nh thể là lời đã nói ra và cứ thế công việc
đã đợc làm Phải chăng là vì điều này mà ở nớc ta ngời ta rất thích thảo luận các chơng trình,các dự án, các kế hoạch, định ra những mục tiêu khổng lồ, hứa hẹn những thay đổi lớn laovv… và hoàn toàn lẩn tránh việc phân tích xem có đợc gì từ đó và kết quả cuối cùng đạt đợc làgì?
Cũng có cả tình trạng phổ biến là linh thiêng hoá lời nói, khái niệm, thuật ngữ , vốn đã
đợc “thiết kế “ nên, trở thành độc lập tự thân, nổi lên nh là hiện thực và đợc nhận thức nh là
đợc tạo ra trong cuộc sống Điều này cũng có liên quan cả với quá khứ, cả với hiện tại, và có
lẽ cả với tơng lai Quyền lực của lời nói, mà ngời ta ám chỉ nh là khái niệm “biểu tợng”, cũng
đã xuất hiện và đang đợc ủng hộ ý nghĩa của nó đã đợc M Mamardashvili vạch ra nh sau:
“… Trong khuôn khổ quyền lực ấy, tất cả những gì xảy ra chỉ để thông báo về những sự kiện
đã xảy ra Và ngợc lại: chỉ xảy ra cái mà về nó có thể thông báo một cách phù hợp Cái gì cóthể mô tả và cái gì đã có sự mô tả cần thiết rồi Chỉ cái gì phù hợp với sự mô tả sẵn có này mới
có quyền tồn tại: cả công việc, cả tình cảm, cả ý nghĩ… Đó là quyền lực t tởng hoang đờng!Bởi lẽ quyền lực của nó đối với hiện thực và đối với trí tuệ là hoang đờng xét theo mọi ýnghĩa! [Mamardashvili M Tôi hiểu triết học nh thế nào? M., 1992 Tr 136] Thật khó có thểnói rõ hơn về bi kịch của một xã hội mà trong đó lời nói thống trị và xung quanh việc giảithích những lời nói và tìm kiếm những lời nói mới đã tập trung biết bao sức lực trí tuệ, vàthêm vào đó là cả những phơng tiện thông tin đại chúng
Đơng nhiên, cũng có thể khơi lên nhiều tầng lớp khác trong đời sống xã hội và đời sốngcá nhân của chúng ta và thử phân tích chúng Nhng mục đích của tác giả khiêm tốn hơn và chỉgói gọn trong việc xác nhận một điều là điểm tựa lịch sử ở nớc ta rất mâu thuẫn, không chắcchắn, đa nghĩa, hàm chứa trong nó những khả năng khác nhau Trong nó có tất cả những gì cótrong lịch sử hàng ngàn năm của các dân tộc lớn Nó không tốt hơn, nhng không xấu hơn cái
điểm tựa lịch sử mà các dân tộc khác đã từng có hoặc đang có hôm nay Những lời của N A.Nekrasov: “Ngời vừa nghèo nàn, ngời vừa sung túc, ngời vừa mạnh mẽ, ngời vừa yếu đuối, ôingời mẹ Nga!”- cả bây giờ vẫn miêu tả đúng tình trạng của chúng ta Tác giả không tiếp thunhững suy sét mà trong đó ngời ta kêu gọi “rắc tro vào đầu óc”, sám hối, hạ mình, coi mình lànghèo hèn và lạc hậu, còn những ngời khác thì lại kêu toáng lên một cách thiếu căn cứ về sự
vĩ đại của chúng ta và tin tởng vào việc giải quyết nhanh chóng mọi vấn đề
Di sản nhận đợc từ quá khứ đang mở ra cho chúng ta nhiều khả năng Nhng nó không
đảm bảo một khả năng nào cả trong số đó, bởi vì kết quả và chất lợng của bất kỳ công việc
nào cũng tuỳ thuộc vào một điều là ai làm và làm nh thế nào Điều quan trọng là lựa chọn
đúng từ các khả năng.
* * * Trớc hết thấy rằng có lẽ cần phải suy nghĩ về một điều là tại sao trong lịch sử củachúng ta, trên thực tế chiến thắng luôn luôn đi kèm với chiến bại, thành tích đi kèm theo thất
Trang 15bại, sự cất cánh của tài năng bị chìm trong vực thẳm của sự thờ ơ, cơn gió giật đạo đức khônglàm lay động trái tim những kẻ hẹp hòi, những mục tiêu vĩ đại bị hy sinh vì sức ì của quầnchúng, những thuyết giáo đức hạnh Thiên chúa giáo không kéo theo những hành vi thực tế,một cái gì đó đã đợc xây dựng nên ở nơi này luôn bị triệt hạ tới bằng không bởi sự phá hoại ởnơi khác vv… Không có sự nhận thức và vạch rõ (một cách chính trực, can đảm và trung thực)biện chứng thực sự, bản chất (chứ không phải h ảo, có thể) của cuộc sống thì chúng ta khôngthể vợt lên con đờng phát triển chắc chắn, sáng tạo.
Một cách miễn cờng, vẫn còn bập bềnh trong trí nhớ những lời nói đã đợc viết ra gần
100 năm trớc và vẫn còn cấp thiết hôm nay: “Nếu xã hội Nga thực sự còn sống và có sứcsống, nếu nh nó tiềm ẩn trong mình những hạt giống của tơng lai, thì trớc hết và hơn hết sứcsống đó cần phải đợc biểu hiện trong sự sẵn sàng và khả năng học hỏi ở lịch sử” [Bulgakov S
N Chủ nghĩa anh hùng và lòng quả cảm// Các cột mốc Tầng lớp trí thức ở Nga M., 1992 Tr.43-44] Trớc đây đã không học, nói chung lại thờng phủ nhận những quy luật và những bàihọc của lịch sử Mỗi thế hệ đều đã cho rằng chính nó và chỉ có nó sáng tạo nên lịch sử, rằngtất cả đều vừa sức nó và tất cả đều thuộc quyền Có thể, cho dù là bây giờ chúng ta bắt đầuhọc?
Và ở đây (về phơng diện thái độ đối với lịch sử) có lẽ cũng cần nhận thức hai sự lệthuộc Mỗi một giai đoạn lịch sử, và thậm chí là một khoảnh khắc, đều biểu hiện mình chỉ
nh là một mắt xích giữa quá khứ và tơng lai Chính là một mắt xích, chứ không phải là sự chiacắt, không phải một khoảng trống, không phải hố ngăn cách Mà một mắt xích không thể chiacắt những đoạn thời gian của dòng lịch sử chung Nó liên kết chúng! Nó liên kết trong tất cả:trong cái tốt và cái xấu, trong cái xứng đáng và cái tiêu cực Những sự nghiệp sau cách mạngtháng Mời đã do những ngời trởng thành vào giai đoạn trớc cách mạng tháng Mời sáng tạonên Và họ đã sử dụng di sản trớc cách mạng tháng Mời Đến lợt mình, những môn đồ của
“chế độ cộng sản”, trong khi dựa trên những gì chế độ này tạo nên, đã tạo nên sự kiện thángTám 1991 và tất cả những gì liên quan với nó
Bất kỳ bớc quá độ nào từ một tình trạng xã hội này sang tình trạng xã hội khác đềukhông đơn giản là sự vứt bỏ, quên lãng cái quá khứ đã hết thời và không biện hộ đợc chomình, mà đồng thời cũng hấp thụ, sử dụng những gì mang đặc trng nhân bản chung (đã làtổng hợp, tiêu biểu), khác biệt bởi tính hợp lý và hiệu quả, thậm chí có khả năng phục vụ choxã hội Suy cho cùng thì trong lịch sử con ngời đã luôn luôn hành động, và họ không thểkhông tạo ra cái gì đó cần thiết, có giá trị, có ích cho chính mình và các thế hệ con cháu Tấtnhiên, hiểu và lĩnh hội di sản lịch sử thu đợc khó khăn và phiền toái hơn nhiều so với việc đơngiản là vứt bỏ nó hoặc phá huỷ nó Rất tiếc, ngay cả hôm nay, khi mà ngời ta đã bắt đầu,không phải trên lời nói, mà trên thực tế, cải tạo lại các hệ thống kinh tế và chính trị, xây dựngnhà nớc dân chủ, pháp quyền, khôi phục nền văn hóa tinh thần, thiết lập các mối quan hệ qualại mới với cộng đồng thế giới, vẫn cha thể nói rằng chúng ta đã tạo ra mối quan hệ có căn cứ
và đúng đắn đối với quá khứ của mình Một lần nữa “chúng ta sẽ san phẳng, còn sau đó…” ,
thay vì điều đó, để cho ngày càng tốt hơn thì phải mang vào tơng lai tất cả những gì đã đợc tạo
ra bởi trí tuệ và bàn tay của các tiền bối của chúng ta và của chính chúng ta Những sự thật
đ-ợc các phơng tiện thông tin đại thờng xuyên dẫn ra về chủ đề này chỉ làm phiền lòng
Những ý tởng nguy hại cho xã hội về sự không cần thiết của quản lý trong các quá trình
đổi mới đã đợc “tung vào” xã hội và đang đợc duy trì Những ảo tởng đang đợc gieo rắc mộtcách có dụng ý hoặc do không hiểu biết rằng những sự cải tạo hiện đại gần nh tự động, nh thể
là tự thân chúng (do biện chứng nội tại của chúng) sẽ đa các dân tộc chúng ta tới một cuộcsống phong lu và văn minh cao Đang có sự định hớng tích cực theo Phơng Tây, nhng lại bỏqua một điều là kể từ kỷ nguyên Phục hng, Phơng Tây đã đi đến trạng thái hôm nay qua gần 5thế kỷ, và ở Phơng Tây việc quản lý- biết tổ chức lao động và sự tơng tác của nhiều ngời- từlâu đã đợc coi trọng nhất
Thêm nữa, loài ngời (trong đó có chúng ta) đã bớc vào thiên niên kỷ mới, thứ ba, trong
đó bất kỳ các vấn đề đợc giải quyết nào cũng không thể đợc thực hiện trong cuộc sống mà
không có quản lý, bỏ qua quản lý, bất chấp quản lý Theo đặc điểm của mình, đó là các vấn
đề có tính chất tổng hợp, tổ chức hệ thống, quy mô lớn, chỉ có thể đợc “nâng lên” bằng những
nỗ lực liên kết, phối hợp của hàng triệu con ngời
Tôi muốn đa ra một số trong số các vấn đề này, bởi lẽ tất cả những gì liên quan trong lýthuyết quản lý nhà nớc đều là nhằm vào việc hoàn thiện các cơ cấu và cơ chế giải quyết các
Trang 16vấn đề cấp thiết của việc đổi mới nớc Nga, và cả các nớc khác đang nằm trong tình trạng tơng
đang đợc duy trì ở nớc ta từ thời cải cách nhà thờ của giáo chủ Nikon
Đơn giản là chúng ta không thể không đi đến sự thấu hiểu một điều là giữa sự khácbiệt và đối lập, giữa sự đa dạng tự nhiên của các quan điểm, khuynh hớng và lập trờng và cuộc
đấu tranh tất yếu của chúng với nhau vẫn có một khoảng cách lớn mà những ngời có giáo dụckhông có ý định xoá bỏ Sự khác biệt và đa dạng là điều kiện và nguồn gốc của sự phong phú,
của tính toàn vẹn và tính năng động của cuộc sống Nhng không nên biến chúng thành những
sự đụng độ thờng xuyên và kết quả là thành nhân tố làm suy kiệt xã hội
Xã hội Nga đang phải thực sự giải quyết các vấn đề khôi phục uy tín của gia đình, họhàng, dòng tộc; mở rộng và củng cố quyền sở hữu để cho mỗi con ngời đều cảm nhận đợc ýnghĩa và giá trị của nó trong đời sống của mình; khôi phục và hiện đại hoá các chuẩn mực đạo
đức và giá trị; đề ra pháp luật và đa nó vào đạo luật và pháp chế; chuyển đổi nhà nớc thànhmột hình thức xã hội và cơ chế tự quản lý xã hội
Vấn đề mấu chốt của nớc Nga, mà việc giải quyết nó chi phối toàn bộ tơng lai của nớcNga là vấn đề nắm vững các công nghệ cao hiện đại ở đây đã tích đọng nhiều nhất các điểm
“bệnh hoạn”: đó là mức hoà hợp thấp của các hiện tợng, các quan hệ và các quá trình xã hội,
là điều không cho phép sử dụng những nguồn lực hiện có theo phơng án tối u; tình trạngkhông hoà hợp trong phát triển các lĩnh vực hoạt động của con ngời, là điều dẫn đến chi phí
đắt cho việc giải quyết nhiều vấn đề xã hội, cản trở việc tập trung các nỗ lực và phơng tiệncho điều này; tình trạng không cân bằng giữa các loại hình chuyên môn hoá hoạt động củacon ngời, là điều kéo dài thời hạn thu hồi về mặt xã hội, thậm chí cả từ những hớng mà ở đó
sự tiến triển không còn phải nghi ngờ và đã tạo ra giá trị dôi d hiệu quả chắc chắn; sự chuyênmôn hoá sản xuất cực kỳ hẹp tạo nên sự hợp tác độc quyền khắt khe với việc thể chế hoá quanliêu đối với các nguồn lực và hoạt động; sự lãng phí nhiều phẩm chất, truyền thống và giá trịtích cực vốn là thuộc tính của công nhân, nông dân và trí thức thậm chí là cả vào thời kỳ trớccách mạng
Các công nghệ hiện đại là các hệ thống: các mục tiêu- các thủ tục (quy tắc)- các
ph-ơng tiện kỹ thuật- các thao tác (hành động)- các động cơ (khuyến khích) Có thể biểu thị
bản chất của chúng nh sau:
-Sự thực hiện thờng xuyên, bắt buộc và có hệ thống những thủ tục và hành động đã quy
định, mà kết cục của những điều này là luôn luôn phải xuất hiện kết quả khách quan (sảnphẩm, vật phẩm) phải tìm (đã đợc hoạch định) với những thông số cho trớc;
- áp dụng hàng loạt, rộng rãi và ở mọi nơi những thủ tục và thao tác hợp lý và có hiệuquả nhất về sản xuất các sản phẩm và các dịch vụ xã hội nhất định (những giá trị tiêu dùng);
- Sử dụng các thủ tục và thao tác, các phơng tiện kỹ thuật và các hình thức hành vithuộc loại những thành tựu mới nhất, tơng ứng với trình độ thế giới và mang lại hiệu quả xãhội tối đa
Vì vậy, khi nói về các công nghệ hiện đại thì không nên nhìn lại phía sau, định hớngvào quá khứ, thậm chí nếu vào thời của mình nó đã là không tồi, hoặc là so sánh chúng với cái
đã đợc làm vào lúc nào đó, chẳng hạn là vào đầu thế kỷ XX; cách tiệm cận chỉ có thể là một:nhìn xung quanh mình và về phia trớc Từ lâu thế giới đã vợt lên trình độ cách mạng côngnghệ, cách mạng thông tin, và điều quan trọng là phải hiểu, nhận thức và sử dụng những khảnăng mới Nói riêng, xuất phát từ điều đã nói cần phải suy nghĩ lại một loạt các cách tiệm cận
đã hình thành
Trang 17Thứ nhất, đó là điều liên quan đến sự thay đổi thái độ đối với tri thức khoa học Nh đãbiết rằng ở nớc Nga, thực tế là theo toàn bộ “mặt trận” tìm tòi khoa học đã thực hiện nhữngcuộc bứt phá có ý nghĩa thế giới, mở ra những chân trời thuận lợi cho sự phát triển kinh tế vàxã hội Nhng tiếc rằng điều này không ngăn cản nớc Nga cho đến nay vẫn nằm trong tìnhtrạng một nớc tụt hậu và đang phải rợt đuổi Nguyên nhân rất rõ: đa số những hoạt động đợcthực hiện không tơng hợp với ý đồ khoa học, với cơ sở lý thuyết, mà theo cách nhìn duy ý chícủa quyền lực cấp trên Và nếu nh sự cách biệt giữa tri thức khoa học và thực tế cuộc sống còn
đang đợc duy trì, thì khó có thể hy vọng cải thiện tình hình trên đất nớc
Sự thay đổi chỉ có thể xảy đến trong trờng hợp có cách tiệm cận mới đối với quản lý.Chính quản lý, nh điều này đã xảy ra ở các nớc khác, có thể đóng vai trò xác định và bắt đầukéo xã hội đi theo xét về ý nghĩa tinh thần Đến lợt mình, quản lý có khả năng trở thành độnglực thực sự của sự phát triển xã hội trong điều kiện khi trong xã hội tích tụ đủ tri thức khoahọc và bản thân việc quản lý và ý nghĩa của nó có đợc sự tôn trọng và bắt đầu đợc sử dụngthực tế Thu hút tri thức khoa học vào các quá trình quản lý chỉ có thể khi xã hội hiểu rằngchỉ những ngời đặc biệt am hiểu, có đạo đức và đợc đào tạo về mặt quản lý mới có quyềnquản lý nó
Thứ hai, ở đây nói về sự lựa chọn các công nghệ cho việc xây dựng nớc Nga tơng lai.Tất nhiên, các công nghệ không nên tách xa trình độ phát triển và những khả năng của xã hội,trong đó kể cả chất lợng tiềm năng con ngời Nhng, mặt khác, chúng nhất thiết phải kíchthích, thúc đẩy sự phát triển xã hội Khó có thể chấp nhận những công nghệ bảo toàn sự lạchậu, biểu thị thời kỳ đã qua đối với các nớc khác Nh thế thì không thể vợt lên trình độ củacác dân tộc tiên tiến
Giờ đây t duy khoa học đã đa ra khái niệm “xã hội thông tin”, mà theo tôi hình dung cóthể dùng làm mô hình định hớng cho những cải tiến đổi mới công nghệ và tổ chức Trong các
ấn phẩm khoa học sự xuất hiện "xã hội thông tin" đợc đặc trng theo những tiêu chí sau:
Về mặt công nghệ - yếu tố mấu chốt- công nghệ thông tin đang đợc sử dụng rộng rãitrong sản xuất, các cơ quan, hệ thống đào tạo và trong sinh hoạt hàng ngày;
Về mặt xã hội- thông tin đang đóng vai trò nh là yếu tố kích thích sự thay đổi chất lợngcuộc sống, hình thành và khẳng định “ý thức thông tin” trong điều kiện tiếp cận rộng rãi vớithông tin;
Về mặt kinh tế- thông tin tạo nên yếu tố chủ chốt trong kinh tế với t cách nh là nguồnlực, dịch vụ, hàng hoá, nguồn giá trị bổ sung và việc làm;
Về chính trị- tự do thông tin dẫn đến quá trình chính trị khác biệt bởi sự tham gia tănglên và sự hoà đồng giữa các giai cấp và các tầng lớp xã hội trong dân c;
Về văn hoá- sự thừa nhận giá trị văn hoá của thông tin thông qua tác động khẳng địnhnhững giá trị thông tin nhằm mục đích phát triển mỗi cá nhân và xã hội nói chung [MartinW.J The Information Society L., 1088 Tr 40]
Nghĩa là cần phải không chỉ giản đơn là thực hiện những cải tạo này nọ, mà là tiếnhành chúng theo hớng sao cho chúng thực sự chuyển biến xã hội Nga đến xã hội thông tincủa thế kỷ XXI
Thứ ba, liên quan đến điều đã nói trên, vấn đề về lĩnh hội kinh nghiệm sản xuất và quản
lý thế giới đợc đa lên vị trí đặc biệt ở đây một công trình trí tuệ tinh tế đang là cấp thiết Tất
nhiên, đang tồn tại nhiều điểm chung, tổng hợp hầu nh trong tất cả các lĩnh vực hoạt động củacon ngời, đặc biệt là trong những gì liên quan tới các công nghệ sản xuất Thêm nữa, điều cótính tổng hợp này lại khớp nối và đan xen với cái mang tính dân tộc tới mức là khó có thể táchbiệt ngay khỏi cái mang tính dân tộc và chuyển vào “mảnh đất” khác Chúng ta hãy nhớ lại
“điều thần kỳ” của Đức và Nhật bản, sự cất cánh kinh tế của các “con hổ” trẻ châu ắ, sự trỗidậy của Thổ Nhĩ Kỳ, Pakistan vv… Và tất nhiên, cả sự phát triển liên tục và năng động củaHoa Kỳ Cũng có thể nhắc đến cả Anh, Pháp, Italia, Tây Ban Nha trong những năm gần đây
và các nớc khác Có vẻ nh ở mọi nơi đều thấy những nguyên lý, những cách tiệm cận, nhữngphơng pháp, những cơ cấu chung và đều đợc sử dụng chắc chắn không phải là chung chung,
mà là cụ thể, phù hợp với những đặc điểm không chỉ của riêng mỗi nớc, mà thậm chí là mỗikhu vực, mỗi địa phơng riêng biệt, mỗi nhóm ngời đặc thù Cần phải học và học cách tậndụng thành tựu lý luận và thực tiễn của thế giới
Đặc biệt cần thiết là kinh nghiệm của thế giới về các vấn đề quản lý, bởi lẽ không có sựquản lý phù hợp thì một lần nữa những ý đồ và khả năng hiện tại của chúng ta lại sẽ chỉ là
Trang 18những mơ ớc trống rỗng Điều quan trọng trớc hết là phải nâng cao đợc sức mạnh và trình độquản lý thuộc tất cả các loại hình của nó, những năng lực gây ảnh hởng thực sự (trên thực tế)lên các quá trình xã hội, lên nhận thức, hành vi và hoạt động của con ngời Để làm đợc điềunày nh là tiền đề cơ bản thì tối thiểu cũng cần phải nhận thức, thấu hiểu quản lý là gì, nó baogồm những yếu tố nào và trong những cơ cấu nào, đợc hình thành và thực hiện ra sao, tínhhợp lý và hiệu quả của nó là ở đâu, và nhiều điều khác.
Còn một vấn đề nữa, mà ở một mức độ rõ rệt là “mặt trái” của vấn đề vừa nói đến (nắmbắt những công nghệ hiện đại), có thể ám chỉ nh là sự quay trở lại, khôi phục và gìn giữ tất cả
những gì tạo nên tính đặc sắc, độc đáo của Nga, mà trong đó có nguồc gốc Nga, bản chất
Nga của sinh hoạt xã hội và cá nhân Nh có thể hiểu từ những điều đã nói, trong khi hoàntoàn không phấn khích bởi gốc rễ “tổ quốc”, bởi những khuôn mẫu và tâm tính của chúng ta,trong khi không tán thành vì lý do này với các quan điểm và lập trờng của nhiều “nhà yêu n-ớc” thô lậu, tác giả vẫn cho rằng mỗi xã hội có thể phát triển bình thờng chỉ trên cơ sở nềnvăn hoá của riêng mình, các truyền thống và tập quán, các quan điểm và phơng châm, các lýtởng và giá trị của mình Chúng có thể làm phiền lòng, gây nên sự không dễ chịu về tâm lýhoặc sự phán xét về đạo đức, nhng trong quản lý không thể không tính đến chúng Cũng nhthế với cả những yếu tố khác của chúng, những cái gây nên một cách chính đáng lòng kiêuhãnh, tự trọng, tình cảm gắn bó với dân tộc đầy tài năng và đặc sắc
Khi xem xét lại những gì tổ tiên đã làm và cố gắng xây nên “ngôi nhà” mới, khi nghiêncứu và sử dụng kinh nghiệm của thế giới, khi mở “cửa” đối với thế giới và đón nhận thề giới,vẫn cần nhớ rằng chúng ta chỉ có thể trở thành thực sự là chính chúng ta,- hoàn toàn lànhững ngời Nga, với lịch sử không lặp lại và nền văn hoá của mình, với mã di truyền và thếgiới cảm giác của mình, với những truyện cổ tích và tập quán công nghệ của mình Vì thế, có
lẽ cũng nên thấu hiểu sâu hơn chính bản thân mình, nhìn thấu đáo hơn và trung thực hơn vàonhững suy nghĩ và việc làm của mình, đánh giá có tính phê phán hơn, nhng trân trọng hơn
đối với những khả năng của mình, và qua các kết quả của việc phân tích nh vậy mà xây dựngcuộc sống tích cực hơn và quản lý nó tốt hơn Cái gần gũi hơn, thân thiết hơn luôn luôn dễhiểu hơn và hợp sức hơn cho việc sáng tạo Bởi lẽ chúng ta cần phải xây nên “ngôi nhà”không phải là Mỹ hay Đức, không phải Nhật Bản hay Trung Quốc, mà là “ngôi nhà” Nga củamình, chính là ngôi nhà nh chúng ta cần, chúng ta hình dung ra, thuận tiện, dễ chịu đối vớichúng ta và thoả mãn những nhu cầu sinh sống và cảm giác thẩm mỹ của chúng ta
Và cuối cùng, mặc dù phần nhập môn lý thuyết đã dài, vẫn cần nói thêm về một vấn đềnữa, còn mới mẻ về mặt lịch sử, nhng có ý nghĩa nhất định đối với tơng lai của đất nớc Vớinghĩa hẹp, đó là thiết lập sự cân bằng sinh thái, còn với nghĩa rộng- là sự hài hoà của hệ
thống tái sản xuất con ngời- xã hội- thiên nhiên Đã đến lúc phải thức tỉnh và hiểu rằng tình
trạng quan hệ của con ngời với thiên nhiên đã đi tới giới hạn khủng hoảng
Tình hình mới đòi hỏi những khái niệm mới Đã không thể nói về môi trờng xungquanh trong khi coi mình là trung tâm vũ trụ Đúng hơn là phải nói về môi trờng sinh sống,bởi vì nó bị suy tàn thì không gì trên hành tinh này có thể cứu đợc nền văn minh nhân loại.Ngày càng hiển nhiên rằng những giới hạn hoạt động của con ngời lên thiên nhiên mang đặc
điểm tuyệt đối, mà vợt quá những ranh giới của chúng thì dù có làm gì chăng nữa cũng mấthết ý nghĩa xã hội Thêm vào đó, thiên nhiên bất lực dới áp lực của con ngời và những phơngtiện kỹ thuật và công nghệ do con ngời tạo ra Việc giải quyết tình trạng lỡng nan này nằmngay trong con ngời
Sinh thái thiên nhiên (cũng nh sinh thái văn hoá) ngày nay đang hình thành nên một hệthống châm ngôn, mà nhất thiết phải là cơ sở cho việc nhận thức, hành vi và hoạt động củacon ngời, và phải thấu suốt tất cả các quá trình quản lý tơng ứng Nhng trong quản lý, chủ yếu
là quản lý nhà nớc, những châm ngôn nh thế cho đến nay vẫn cha đợc xây dựng nên Hơn nữa,chính là các quyết định quản lý gây nên những thiệt hại lớn nhất cho môi trờng sống Sự hìnhthành nhận thức sinh thái đang xảy ra ì ạch, việc kiểm tra sinh thái đợc tổ chức yếu kém,không tiến hành việ đánh giá xã hội về các yếu tố môi trờng sống, các biện pháp bảo vệ thiênnhiên, kể cả các biện pháp pháp lý, đợc thực hiện tha thớt và với quy mô nhỏ hẹp Kết quả làcác quan hệ giữa con ngời, xã hội và thiên nhiên bị mất cân bằng, tác hại lẫn nhau
Về tất cả những điều này có thể nói rất nhiều, nhng thậm chí từ những điều ngắn gọn đã
đợc nói ra đã nẩy sinh một kết luận rằng cách tiệm cận tổng hợp bao quát toàn bộ sự đa dạngcủa những tơng tác giữa con ngời, xã hội và môi trờng sống đang đợc đa lên hàng đầu trong
Trang 19quản lý nhà nớc Cách tiệm cận này có thể là rất phức tạp, nhng cách tiệm cận khác có thểchấn chỉnh tình hình thì chỉ đơn giản là hiện không tồn tại.
Cách tiệm cận tổng hợp trong quản lý- không phải là chơi chữ, mà là một thế giới quanxác định, một triết lý và phơng pháp luận xác định, xuất phát từ một điều là không có các hiệntợng, các quan hệ, các quá trình biệt lập, độc lập tự thân, và trên thế giới tồn tại tính toàn vẹncủa sự đa dạng, mà trong đó mỗi cái độc đáo có ý nghĩa của nó chỉ vì tơng hợp với nó là mộtcái khác cũng độc đáo nh thế Tất nhiên, với mục đích phân tích và mô tả các thành tố khácnhau của tính toàn vẹn cũng cần phải phân chia, tách biệt và xem xét chúng một cách độc lập,tìm ra bản chất trong chúng vv…vv…, nhng đó chỉ hoàn toàn là các thao tác logic, không làmthay đổi các quan hệ bản thể của toàn bộ thực tại Con đờng dẫn đến tái sản xuất đời sống củachúng ta, làm phong phú và cải thiện nó hàm chứa trong mình sự duy trì và phát triển phốihợp của con ngời, xã hội và thiên nhiên
Để tổng kết những gì đã nói ở trên và cùng với lời mở đầu cho những suy nghĩ tiếp theo
có thể nhận xét nh sau:
1.Nớc Nga đã kết thúc thế kỷ XX với gánh nặng to lớn những vấn đề nặng nề, đòi hỏimột thời gian dài và sức lao động khổng lồ để giải quyết nó
2.Trong thế kỷ XX nớc Nga đã có đợc kinh nghiệm xã hội đặc biệt, đã chịu đựng những
đau khổ sâu sắc và, có lẽ, đã hiểu ra nhiều điều, là cái tạo ra những tiền đề phục hồi nó và hợptác bình đẳng trong cộng đồng thế giới
3.Nớc Nga có những nguồn lực thiên nhiên to lớn, tiềm năng sản xuất và con ngời, là
điều đảm bảo không gian rộng lớn cho sự phát triển xã hội- kinh tế và tinh thần của nó
Chỗ yếu có tính lịch sử của nớc Nga- đó là chính quyền và quản lý, nhng hôm nay đang
có những tri thức, kinh nghiệm và tài năng để cải thiện tình hình, dân chủ hoá chính quyền vàhọc quản lý một cách hợp lý và có hiệu quả
******
Giáo trình bài giảng đợc đa ra đây về lý thuyết quản lý nhà nớc là thành quả củanhững quan sát, suy nghĩ và tìm tòi trong suốt thời gian hoạt động nghiên cứu khoa học vàthực tiễn nhiều năm Nhiều trong số những điều đợc nói đến trong sách này đã đợc giới thiệuvới xã hội trong các cuốn sách và các xuất bản phẩm, các bài giảng và các cuộc thảo luận ở
đây tác giả đã cố gắng đa tất cả vào một hệ thống nhất định để có thể nghiên cứu và lĩnh hộithuận tiện và dễ dàng hơn đối với các vấn đề tơng đối phức tạp của lý thuyết quản lý nhà nớc.Tiếc rằng các luận cứ và chứng minh cho những xét đoán và kết luận này nọ vẫn cha đợc đavào lần xuất bản này, và cần tìm kiếm chúng ở những ấn phẩm khác của tác giả, danh mục các
ấn phẩm đó đợc ghi ở phần phụ lục
Hy vọng rằng giáo trình bài giảng và quan điểm đợc trình bày trong sách sẽ gây hứngthú cho những ai liên quan với quản lý, đặc biệt là quản lý nhà nớc, và giúp nâng cao trình độquản lý các quá trình xã hội ở nớc Nga, và có thể là ở cả các nớc khác có cùng những khókhăn và các vấn đề tơng tự
Phần I quản lý nhà nớc - hiện tợng xã hội có tính hệ thống
bài 1 khái niệm quản lý nhà nớc
1.1 quản lý- thể chế xã hội
Trong việc khám phá khái niệm quản lý nhà nớc, và trên cơ sở đó khám phá toàn bộ sựphong phú của tri thức khoa học tơng ứng, ý nghĩa quan trọng thuộc về sự lý giải cả hai yếu tốcấu thành của nó- “nhà n ớc và quản lý” “ ” Vấn đề là ở chỗ, có rất nhiều ý nghĩa, giải thích,sắc thái khác nhau đợc đa vào mỗi một trong số những cái cấu thành khái niệm này, tới mức
là đôi khi ngay cả các chuyên gia cũng khó hiểu ngời ta nói về cái gì và nên hiểu là cái gì
Đăc biệt có nhiều kiến giải đợc gắn cho khái niệm “quản lý”, kết quả là quản lý trở nên baoquát một số lợng lớn gần nh vô biên các hiện tợng, các quan hệ và các quá trình có nội dungrất khác nhau
Sự tơng tác của lực hút, điện từ trờng, phóng xạ và các lực khác trong vũ trụ cũng đợcliệt vào quản lý Trong các thuật ngữ của nó đôi khi ngời ta mô tả cả các quá trình địa chất và
địa lý Ngời ta xem xét các khía cạnh quản lý trong các máy móc, trong các hiện tợng vật lý,hoá học và sinh học Thậm chí đôi khi tác động thiên nhiên, tự phát của các yếu tố thiên nhiên
và xã hội ngời ta cũng cố hiểu nh là quản lý
Trang 20Quản lý đã xuất hiện và đợc thừa nhận nh là một khái niệm thể loại đặc trng cho việcthiết lập trật tự tơng tác của một số lớn nhất định các yếu tố hoặc các phần hợp thành củathiên nhiên, xã hội, bản thân con ngời Quản lý đợc xem xét rộng rãi nhất bởi điều khiển học(N Viner), vốn phân chia những tính chất chung nhất (tổng hợp) của các mối liên hệ qua lại
và các tơng tác trong các hệ thống cơ giới, sinh học và xã hội [Viner N Điều khiển học hayquản lý và mối liên hệ trong thế giới động vật và máy móc: Dịch từ tiếng Anh M.: NxbSovietxkoie Radio, 1968; Viner N Con ngời quản lý: Dịch từ tiếng Anh SPb Piter, 2001] T-
ơng ứng với điều này, các lý thuyết quản lý về mặt toán học và thông tin (K Shennon, I RossEshbi) đã đợc xây dựng nên Từ các cách tiếp cận “chung” tơng tự, nhiều khía cạnh của quản
lý cũng đợc mô tả bởi lý thuyết hệ thống đại cơng (Ludvig fon Berntalanfi), thuyết đồng hoạt(G Haken), “thuyết quản lý hữu cơ” (A N Kolmogorov), bởi các ngành khác, thờng đợc coi
là khoa học chính xác
Cách tiệm cận này đã cho nhiều điều để làm sáng tỏ công dụng và mục đích của quản
lý Nó cũng đã có cả ứng dụng thực tế: tạo khả năng tìm hiểu khoảng không vũ trụ, hoàn thiệnviệc quản lý máy móc cơ giới và các công nghệ sản xuất, các quá trình vật lý và hoá học, làmxuất hiện công nghệ sinh học, thúc đẩy việc phân tích bản chất “mã” di truyền và vai trò của
nó trong phát triển các sinh vật và quần thể của chúng
Thêm nữa, việc mở rộng khái niệm “quản lý”, đa vào nó tác động thiên nhiên của cáclực tự nhiên và xã hội, cũng nh các máy móc cơ giới tự điều chỉnh khách quan đã dẫn đến một
điều là quản lý đã bắt đầu đánh mất ý nghĩa riêng của mình, bắt đầu đợc sử dụng để ám chỉcác hiện tợng, các quan hệ và các quá trình, mà ở đó nói chung là không tồn tại nguyên lýnhận thức, nhân tố liên hệ thờng xuyên của quản lý với con ngời Bởi lẽ dễ nhận thấy rằng cácquy luật thiên nhiên, các hình thức thể hiện của chúng trong trờng hợp tự phát (ngẫu nhiên)hoặc tự điều chỉnh khách quan đều rất khác biệt so với các quan hệ, các quá trình và hiện tợng
đợc hình thành nên bởi con ngời trong khuôn khổ đời sống cá nhân của nó và đặc biệt là đờisống xã hội [Prigozin I., Stenberg I Trật tự từ sự hỗn loạn: Cuộc đối thoại mới của con ngờivới thiên nhiên: Dịch từ tiếng Anh, xuất bản lần thứ 3 M.: Nxb Editoria CHXV Ucrena,2001] Thêm nữa, sự khác biệt ở đây là về chất, cho phép phân biệt những cơ chế tự phát và tự
điều chỉnh và quản lý
Trong thiên nhiên, trong một mức độ rõ rệt, bất kỳ hệ thống tự điều chỉnh nào trong cácgiới hạn tự điều chỉnh cũng đều có đặc điểm biệt lập, định vị, khép kín tới mức độ nào đó(nguyên tử, phân tử, tế bào, cơ thể, quần thể, hệ mặt trời vv…) và đợc xác định một cáchkhách quan (không lệ thuộc vào mong muốn và ý chí của con ngời) bởi các quy luật và cácnguồn (yếu tố kích thích) bên trong, nội tại đối với hệ thống đó, của sự tồn tại, vận động vàphát triển Con ngời buộc phải thấu hiểu những bí mật của các hệ thống này và đa chúng vàohoạt động sống của mình chỉ với điều là nhất thiết phải tính đến những quy luật, những hìnhthức và những khả năng của chúng Sự thể hiện một cách chủ quan, có ý thức của con ngời ở
đây là rất hạn chế và không dễ dàng
Tôi muốn nhấn mạnh tiền đề này một cách đặc biệt Đúng, vật chất nói chung là thốngnhất, nhng những mức độ của nó- cơ học, vật lý học, hoá học, sinh học và xã hội- đều chủ yếu
có các nguồn gốc đặc thù của mình về tái sản xuất, cơ cấu, mối liên quan xác định và các tínhchất và yếu tố khác, mà tổng hợp lại chúng hình thành nên và bảo đảm sự tồn tại của chínhcác mức độ đã cho Hệ thống cơ giới không thể trở thành hệ thống sinh học và ngời lại Mặc
dù khoa học làm chúng gần gũi lại trong một cái gì đó Hệ thống xã hội thể hiện nh là một
b-ớc nhảy vọt về chất Có vẻ nh nó thẩm thấu vào mình các yếu tố và tính chất của tất cả cácmức độ trớc nó, và trong khi dựa vào ý thức của con ngời, nó đem đến cho tất cả các mối tơngquan, các tơng tác và các quá trình của mình một đặc điểm mới, chẳng hạn là đặc điểm nhânhoá Chính ý thức của con ngời thông qua hoạt động của con ngời đã cho phép sáng tạo nênthiên nhiên “thứ hai”, tất cả những gì hôm nay đợc gọi là nền văn minh với nghĩa rộng Nhậnthức cũng sáng tạo ra quản lý, vốn đã là một yếu tố phát triển của nó trong tất cả các giai đoạncủa lịch sử loài ngời Hiểu điều này có nghĩa hiểu công dụng của quản lý
Tất nhiên, quản lý tồn tại trong các hệ thống “con ng ời- kỹ thuật , con ng” “ ời- công nghệ , con ng” “ ời- thiên nhiên , con ng” “ ời kỹ thuật (công nghệ)- thiên nhiên– ” và các hệthống khác, nhng tồn tại chính là bởi lẽ trong chúng thành phần đầu tiên, thành phần “quản
Trang 21lý”, là con ngời, và chúng đợc tạo ra nhằm mục đích phục vụ lợi ích của con ngời Một hệthống tơng tự dù có phức tạp đến đâu cũng đợc hình thành và hoạt động theo mô hình mà conngời đã tạo ra cho nó, và nhằm thoả mãn nhu cầu của con ngời Ngời ta sẽ nói rằng bây giờ
đang hiện hữu các hệ thống tự động hoá (thậm chí là tự động), vốn có thể quản lý các máytính và không có sự tham gia trực tiếp của con ngời Đúng, các hệ thống nh vậy đang ngàycàng nhiều, nhng chúng vẫn đợc tạo ra và lập trình theo ý định của con ngời và là sự phản ánhtiềm năng sáng tạo của con ngời- sản phẩm của ý thức và lao động của con ngời Chính bằngcách đó, tất cả những tri thức đã đợc tích luỹ bởi ngành điều khiển học, lý thuết hệ thống đạicơng, lý thuyết thông tin, toán học, đồng hoạt học, “sinh thể học” và các ngành khoa họckhác, đều đòi hỏi khi áp dụng chúng vào quản lý phải có sự chỉnh lý căn bản về một điều làquản lý là một hiện tợng xã hội
Đồng thời cũng phải chú ý đến điều là vấn đề đợc đặt ra rộng hơn nhiều Đó là vì bất kỳ
hệ thống cơ giới, vật lý, hoá học và sinh học nào, bất kỳ hiện tợng và vật chất nào của thiênnhiên có ý nghĩa đối với con ngời chi khi có sự liên quan của chúng với các nhu cầu, lợi ích
và mục tiêu hoạt động sống của con ngời, khi mà con ngời tiếp giáp với chúng và cảm nhận
đ-ợc chúng trong sự tồn tại của mình Tất nhiên, đây không phải là nói về một con ngời riêngbiệt, mà về loài ngời nói chung, đợc thể hiện trong sự phát triển lịch sử của nó Tất nhiên,quan điểm vị lợi không phải là tốt nhất, nhng không thể không thừa nhận rằng những “sảnphẩm” tự nhiên và những sáng tạo của thiên nhiên nhân tạo “thứ hai” có ý nghĩa đối với conngời chủ yếu là bởi chúng đảm bảo những đòi hỏi cá nhân và xã hội của con ngời
Vũ trụ đã luôn luôn tồn tại, nhng việc thấu hiểu vũ trụ đã cho phép con ngời bắt đầukhai thác và sử dụng nó Cũng tơng tự cả đối với các yếu tố và các mối tơng tác, mà việc pháthiện ra chúng đã dẫn đến sự nắm bắt đợc năng lợng hạt nhân Cũng nh thế có thể nói đếnmỗi một sản phẩm vật chất và tinh thần mà đã có lúc nào đó và do ai đó tạo ra và dần dần trởthành giá trị tiêu dùng đối với con ngời
Vì vậy, quản lý (theo tiếng Latin- regere, theo tiếng Anh- control, management, theotiếng Pháp- administration, theo tiếng Đức- Regierung) theo sát nghĩa của khái niệm này đợckhởi đầu khi trong các mối liên hệ, các quan hệ, các hiện tợng, các quá trình nào đó có tồn tại
nguyên lý ý thức, lợi ích và tri thức, các mục tiêu và ý chí, năng lực và hành vi của con ngời.
Quản lý nằm trong một loạt hiện tợng của thiên nhiên “thứ hai” (nhân tạo), xuất hiện vàphát triển trong suốt tiến trình lịch sử của nền văn minh con ngời Quản lý đợc tạo nên bởi conngời nhằm mục đích tự điều chỉnh có ý thức hoạt động sống của mình và trong việc bảo đảmnhững nhu cầu và lợi ích của con ngời, nó cũng có ý nghĩa quan trọng nh là gia đình và quyền
sở hữu, đạo đức và pháp luật, phơng thức sản xuất và nhà nớc, tri thức và thông tin và các thểchế xã hội khác
Từ đây mà có “sự liên quan” của quản lý trình độ phát triển và tổ chức của tiềm năngcon ngời, của toàn bộ sự lệ thuộc của quản lý vào tình trạng xã hội, vào các quy luật và hìnhthức, các lý tởng và giá trị của nó Vào mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, quản lý đợc tái tạo bởimột xã hội tơng ứng, từ xã hội đó mà quản lý “nhận đợc” bản chất của mình, trong xã hội đó
nó thực hiện những khả năng của mình, là một phần của xã hội đó, tồn tại vì xã hội đó, đợc
đặc trng và hoàn thiện theo trình độ phát triển của xã hội đó Trong các mối quan hệ sâu sắc
và tích cực với toàn bộ hệ thống tổ chức và hoạt động chức năng của xã hội, trong sự duy trì
động thái, tính hợp lý, tính hiệu quả của hệ thống, nói chung là ẩn chứa điều bí mật của quản
lý, mà việc phát hiện ra điều bí mật đó, hơn nữa là nắm đợc nó- là nhiệm vụ rất không đơngiản Thêm vào đó, nhiệm vụ này còn nặng nề hơn bởi tính phức tạp đặc biệt của hệ thốngnày, mà trong đó thể hiện những lợi ích và ý chí, nhận thức và hành vi của hàng triệu con ng-
ời, bởi tính ì và tính linh hoạt, tính khốc liệt và tính biến đổi của nó và đồng thời là bởi thànhphần nhân tố đa dạng của bản thân quản lý, bởi giải phổ khổng lồ các mối quan hệ và tơng táccủa nó với xã hội Nói ngắn gọn, quản lý- đó là một trong những lĩnh vực khó khăn nhất và
trách nhiệm nhất của hoạt động trí tuệ và thực tiễn của con ngời Đó là lĩnh vực mà sự bình
yên của xã hội và cuối cùng là số phận của mỗi con ngời tuỳ thuộc rất nhiều vào trạng tháicủa nó
Quản lý tồn tại trong khuôn khổ sự tơng tác của con ngời, trong các giới hạn của yếu tốchủ thể Thông qua quản lý, trớc hết và chủ yếu con ngời liên kết với nhau, bằng những nỗ lựcchung tạo nên “tấm vải” của đời sống tập thể và xã hội Các đối tợng mà vì chúng quản lý đãxuất hiện giữa con ngời với nhau, có thể là các loại vật chất, các phơng tiện kỹ thuật, các quá
Trang 22trình công nghệ, các giá trị xã hội, các sản phẩm sáng tạo tinh thần vv… nhng các tham giatrong quản lý chỉ có thể là con ngời Và tình hình không thay đổi cả khi tạo ra các hệ thốngquản lý tự động hoá (TĐH), cả khi có sự tơng tác của quản lý với các hệ thống kỹ thuật, côngnghệ và sinh học với trình độ cao nhất của sự tự điều chỉnh khách quan và nhân tạo- trong quản lý, tất cả đều xuất phát từ con ngời và định hớng vào con ngời.
Điều đặc biệt quan trọng còn là ở chỗ quản lý nh là hiện tợng đợc xác định bởi cấu trúc
cấp bậc của xã hội và bởi quyền lực do cấu trúc này sinh ra Bằng quyền lực với nghĩa rộng về
mặt xã hội học, biểu thị vô số các mối tơng giao giữa con ngời với nhau, trong đó một số ngờinày do các nguyên nhân, điều kiện và yếu tố khác nhau phải tuân thủ lợi ích và ý chí củanhững ngời khác hoặc những chế định xã hội do con ngời tạo ra- các phong tục, truyền thống,tôn giáo, đạo đức, pháp luật vv… ở nớc Nga, vì lẽ nào đó ngời ta thừa nhận lờ đi một cách ng-ợng ngập sự tồn tại và thể hiện của quyền lực thờng gặp phải trên từng bớc đi và tác độngquản lý lên ý thức, hành vi và hoạt động của chúng ta.Thậm chí lời nói cũng có quyền lực, bởi
nó mang thông tin, định hớng, áp lực tâm lý và nhiều cái khác lên cái mà chúng ta không thểkhông phản ứng Thêm nữa, quyền lực- là phạm trù hoàn toàn mang tính xã hội, mặc dù cũng
có những tác giả cố gắng gán các tính chất của quyền lực cho cả các mối quan hệ tụ c tronggiới động vật, và đôi khi cả thực vật, và hơn nữa là theo nguyên lý tơng tự chuyển chúng cảsang các mối quan hệ con ngời
Vì vậy, không thể không nhấn mạnh đặc biệt rằng quản lý là quá trình và sản phẩm
hoạt động chức năng nhận thức và ý chí của con ngời, hớng tác động quan trọng nhất của trí
năng con ngời Hôm nay vì lẽ gì đó mà nhiều ngời cho rằng trí năng bị vấy bẩn, mặc dù toàn
bộ nền văn minh hiện đại đợc tạo ra bởi trí năng và vẫn đang đợc duy trì và tái sản xuất bởi trínăng Trí năng chi phối một cách khách quan không chỉ hành vi xã hội, mà cả hành vi cá nhâncủa mỗi con ngời Trí năng quyết định số phận của con ngời, mặc dù có sự hiện diện của rấtnhiều tình huống sinh sống Và không nên sợ trí năng đợc biểu hiện trong tri thức, kinhnghiệm, tài năng, mà ngợc lại, nên sợ sự thiếu hụt trí năng- mọi sự xuẩn ngốc, tuỳ tiện, vôvăn hoá, phiêu lu, không có năng lực và những hiện tợng khác tơng tự, mà tiếc rằng những
điều này lại tràn đầy trong lịch sử và đơng đại nớc Nga
Đã đến lúc phải nhận ra rằng tác động thực tế của trí năng đợc hiện thực hoá chính làthông qua quản lý, nhờ vào quản lý, đó là việc liên kết ý thức của con ngời với hoạt động củacon ngời Còn yếu tố trung gian và động lực (năng lực) ở đây là ý chí, là cái dẫn tới một điều
là một cái gì đó đã đợc thấu hiểu, đợc suy nghĩ kỹ, đợc thiết kế một cách logic, đợc biện giải
dễ hiểu, đợc mong muốn, cần thiết sẽ không ngừng đợc đa vào cuộc sống, tạo nên những hành
động thực tế tích cực của con ngời
Cuối cùng, tôi muốn nói, thêm nữa là một ý nghĩ giải thích rất nhiều điều (để khôngphải thờng xuyên quay trở lại điều này) rằng quản lý trong xã hội (lớn hay nhỏ) con ngời luôn
là cấp thiết và vì vậy mà đã xuất hiện, rằng xã hội là một hệ thống mở (K Popper), mà trong
đó tơng lai hoàn toàn không đợc xác định bởi quá khứ, mà tuỳ thuộc vào ý chí, năng lực vàtính tổ chức của các hành động của con ngời Tơng lai trở thành thế nào là do con ngời sángtạo nên trong khi liên hệ với nhau Di sản lịch sử mà con ngời sử dụng làm “vật liệu” để xâydựng cuộc sống của mình (ngày mai) cũng là sản phẩm hoạt động sống của các thế hệ trớc vàcông khai cho ngời đời sau đánh giá và các khả năng của mình Có thể phủ nhận di sản lịch
sử, lật đổ , thoái thác nó và xây dựng trên chỗ trống không Có thể tỏ thái độ trân trọng, có lựachọn đối với di sản lịch sử, nhận lấy tất cả những gì có giá trị và có tính xây dựng và bằngcách đó mà làm tăng thêm sự phồn thịnh của dân tộc Tất cả đều dựa trên sự lựa chọn Và cònnữa: cuộc sống của mỗi con ngời riêng biệt, mỗi tập thể, mỗi xã hội cũng là mở với ý nghĩa làkhông một cái gì trong nó đợc cho một lần và vĩnh viễn, là bất khả phá huỷ và tuyệt đối bềnvững, đợc thực hiện theo một chơng trình rõ rệt Các mối tơng giao cá nhân và xã hội đợc khôiphục từng ngày, tùng giờ, từng phút bởi những nỗ lực nhận thức, bởi hành vi hiện thực và hoạt
động tích cực của con ngời Không có điều này thì sẽ xảy ra sự phân tán (entropi), hỗn loạn,vô chính phủ, tuỳ tiện, tan rã Trong những điều kiện nh thế- tính cởi mở con ngời (xã hội)-quản lý là thể chế xã hội quan trọng nhất của sự tự duy trì, khôi phục, khắc phục sự phân tántiêu cực của xã hội, và thờng khi là của cả dời sống cá nhân Nghĩa là cần phải nghiên cứu,phát hiện, lĩnh hội bản chất của quản lý nhằm sử dụng tốt hơn tiềm năng của quản lý trongviệc giải quyết mọi vấn đề đời sống của con ngời
1.2 bản chất của tác động quản lý
Trang 23Trong các ấn phẩm khoa học, quản lý đợc xem xét ở các khía cạnh khác nhau và tơngứng là nội dung khác nhau đợc đa vào khái niệm tác động quản lý Thêm nữa, ngời ta muốnnói đến không chỉ đơn giản là các cách tiếp cận khác nhau tới quản lý, các khía cạnh khácnhau của quản lý, mà còn hiểu bản thân sự quản lý (ý nghĩa, nội dung, công dụng của quảnlý), mà trên cơ sở đó các quan điểm quản lý đợc hình thành.
Từ lâu và có u thế trong luật học, quản lý đợc đặc trng thông qua thuật ngữ “hoạt
động”, ám chỉ rằng quản lý bao gồm từ các loại hình đặc thù của lao động con ngời, đợc định
hình trong các hình thức tơng thích với chúng Ngời ta nhìn thấy ý nghĩa của hoạt động nàytrong việc thực hiện các hành động mang tính hành chính, trong khuynh hớng thực hiện phápluật, trong việc tạo ra các văn bản pháp luật, thực hiện chúng và tiến hành các biện pháp tổchức Việc hiểu quản lý nh vậy đã rất đợc lòng (và đang đợc lòng!) chế độ quan liêu độc doán,bởi vì một mặt nó không đặt vấn đề về mục đích của quản lý (thực hiện cái gì và vì cái gì?) và
về các kết quả khách quan của việc đạt đợc những mục đích đó, và mặt khác, - luôn cho phéptạo nên tính biểu kiến của quản lý bằng cách ban hành một số lợng lớn các văn bản pháp luật
và tiến hành rất nhiều các biện pháp tổ chức
Không nghi ngờ, trong quản lý hoạt động của con ngời đợc thực hiện và có những vấn
đề phức tạp trong việc tổ chức hoạt động đó, nhng thuật ngữ “hoạt động” không làm sáng tỏbản chất xã hội của quản lý, vị trí đặc thù và vai trò của nó trong cuộc sống con ngời
Không ít các xuất bản phẩm đã đặc trng quản lý nh là mối quan hệ thâm nhập vào hệthống các quan hệ xã hội Trong các xuất bản phẩm này đã chỉ ra rằng quản lý là mối quan hệ
đặc biệt trong hoạt động sống của con ngời: trong cấu trúc cấp bậc xã hội thì quan hệ này vềnguyên tắc là quan hệ dọc theo đặc trng và liên quan với sự hiện hữu ở phía cấp trên khả năngbiểu thị và thực hiện ý chí của mình một cách quyền uy Căn nguyên và đặc thù của quản lý
nh là một mối quan hệ đợc xem xét một cách chính đáng trong cấu trúc (giai cấp) của xã hội,trong phân công lao dộng xã hội, trong bản chất và các chức năng xã hội của quản lý Thêmnữa, trong khoa học kinh tế sự chú ý đợc nhằm chủ yếu vào những nghiên cứu nội dung kinh
tế của quan hệ quản lý, còn trong luật học- hình thức pháp luật của các quan hệ quản lý
Cần thừa nhận rằng trong những sự thể hiện nhất định của mình, có thể coi quản lý dớidạng mối quan hệ, bởi lẽ thực sự nó thâm nhập vào hệ thống các quan hệ xã hội và hình thànhnên các mối quan hệ nhất định giữa con ngời với nhau cả “ theo chiều dọc” cũng nh “theochiều ngang” Nhng sự nhận thức trừu tợng nh thế về quản lý lại bỏ qua sự phân tích và mô tảcác phẩm chất đặc thù riêng của nó, trong đó có cả các phẩm chất làm cho nó tách biệt khỏi
hệ thống các quan hệ xã hội và cho phép nó gây ảnh hởng đặc biệt lên bản thân hệ thống quan
hệ này
Gần gũi, tơng thích nhất, đáp ứng tính bản chất của quản lý là định nghĩa nó bằng thuậtngữ “tác động”, vốn có thể chỉ ra đợc cái chính trong quản lý- yếu tố ảnh hởng lên ý thức,hành vi và hoạt động của con ngời Bởi lẽ quản lý tồn tại khi một chủ thể nào đó gây ảnh hởnglên cái gì đó, làm thay đổi, cải tạo, chuyển đổi cái gì đó từ trạng thái này sang trạng thái khác,tạo ra cho cái gì đó một hớng vận động hoặc phát triển mới Trong nhiều quá trình có thể cóhoạt động (“to lớn”), các quan hệ (và những cái khác), nhng nếu không có tác động thực sự-
sự ảnh hởng đảm bảo một mục đích nào đó,- thì không có quản lý Với ý nghĩa rõ rệt, tác
động- đó là những hoạt động tạo ra kết quả, các tơng tác, các quan hệ
Một cách khách quan, theo chính ý nghĩa của mình, nó giả định sự hiện diện và mốiliên hệ của hai phía, một trong hai phía đó hình thành và thực hiện tác động, còn phía kia tiếpnhận các tác động này, có vẻ nh phản ứng lên các tác động này, trong trờng hợp cần thiết đốivới quản lý- chấn chỉnh hành vi và hoạt động của mình phù hợp với trờng hợp đó Bản chấtcủa quản lý chính là ở chỗ từ những đối tợng này (chẳng hạn là các chủ thể quyền lực) nó đợchớng tới các đối tợng khác (các khách thể bị quản lý) và bằng cách đó phân nhánh khỏi bất kỳhoạt động quản lý nào và chuyển thành mối quan hệ, mà thông qua nó thành hoạt động chấnchỉnh của những ngời mà tác động tơng ứng này hớng tới Từ cơ cấu logic nh vậy nảy sinh ranhiều hậu quả hoàn toàn khác so với khi lý giải về quản lý thông qua hoạt động hoặc các mốiquan hệ Hình thành một hệ thống các yếu tố và các mối tơng giao mới về nguyên tắc
Trong xã hội tồn tại rất nhiều các loại hình hoạt động, tơng tác, quan hệ, tác động khácnhau, và mỗi một loại hình trong số chúng đều có nội dung đặc thù bên trong và biểu hiệnbên ngoài của mình Cả quản lý, cả tác động quản lý của nó cũng đều có tính đặc thù Không
Trang 24phải là có tính chất quản lý, nh nhiều khi ngời ta vẫn viết, mà chính là có tác động quản lý,tức là tác động, kích hoạt, biến đổi, cải tạo thực sự Vì vậy, việc vạch rõ những phẩm chất vànhững khả năng đặc biệt của tác động quản lý là rất quan trọng trong nhận thức về quản lý.
Nh đã nhận xét, tri thức, t duy và ý chí của con ngời có vai trò là sự kích thích và độnglực tạo lập trong quản lý Trớc khi đợc thực hiện, trở thành hiện thực, tác động quản lý đã xuấthiện trong ý thức của con ngời, đi qua con đờng phát triển ở trong nó từ cảm nhận trực giáccần phải thay đổi một cái gì đó, từ ý định và ngẫm nghĩ đến các quyết định cụ thể, đợc củng
cố bởi những tính toán, các nguồn lực, các thiết kế, các mô hình, và cái chính là bởi ý mong muốn và cố gắng thực hiện công việc Điều này có nghĩa là tác động quản lý cần phảihàm chứa trong nó yếu tố đề xuất mục tiêu (phơng hớng) Tác động quản lý cần để làm gì?
chí-Nó có khả năng dẫn đến cái gì? Đó là những câu hỏi đầu tiên xuất hiện trớc mắt bất kỳ chủthể quản lý nào
Trong khi biểu hiện nh là sự phản ánh những nhu cầu và đặc biệt là những lợi ích đợcnhận thức, nh là mẫu mực lý tởng của những con đờng và phơng tiện có thể để thoả mãnnhững nhu cầu và lợi ích này, nh là cấu trúc t duy định hớng và nội dung của hoạt động đợc đềxuất, các mục tiêu thực hiện những chức năng thức tỉnh, kích thích và điều chỉnh bao quáttrong đời sống con ngời Thờng khi kết quả của những nỗ lực xã hội, tập thể và cá nhân phụthuộc hoàn toàn vào sự lựa chọn các mục tiêu Về lẽ này có thể đa ra vô số những thí dụ từlịch sử của các dân tộc và số phận của những con ngời riêng biệt
ở mức độ này hay mức độ khác, mỗi ngời đều bận tâm đến việc đề xuất (dự liệu) mụctiêu Vai trò to lớn trong việc đề xuất mục tiêu phát triển xã hội và các hình thức hoạt động cụthể là thuộc về khoa học, sáng tạo nghệ thuật, tôn giáo, t tởng và các hình thức nhận thức và tduy khác, chính trị và các chế định chính trị Nhng trong quản lý thì việc đề xuất mục tiêu có
đặc điểm đặc biệt, có thể coi nh là định hớng mục tiêu thực tế Trong quản lý, khác với cáclĩnh vực trí tuệ khác, các mục tiêu đều mang tính “tác nghiệp” hơn cả, đều gắn vào thực tế; đó
là một loại nhiệm vụ-mục tiêu Trong quản lý, tất cả những gì đã nói, đã mô tả và suy xét, đợcbiểu thị dới hình thức văn bản và các văn kiện chính trị, đều đã có vẻ nh là đã đợc nghiên cứucho thích ứng với những khả năng hiện thực của chính quyền và chế độ sở hữu đã đợc hìnhthành nên, có tính đến các nguồn lực hiện hữu về vật chất, tài chính, thông tin, pháp luật và tổchức
Tính phức tạp của việc đề xuất mục tiêu là ở chỗ cần phải “chọn lọc” các mục tiêu, từmột lợng lớn tự nhiên của chúng tách riêng ra chính những mục tiêu không chỉ là cần, mà còn
có thể thực hiện trên thực tế Nếu không, quản lý sẽ đánh mất nội dung riêng, sức mạnh cảitạo kiến lập của mình và biến thành hoạt động thông tin hoặc giải thích truyền bá
Mà để cho tất cả các mục tiêu (một cách vô điều kiện, đợc thừa nhận, đợc ủng hộ, đợcchia sẻ, phổ quát, thôi thúc vv…vv…) đợc hỗ trợ bởi quản lý, ngời ta đã bắt đầu dựa vào sứcmạnh và khẩ năng của quản lý, các mục tiêu cần đợc chuyển sang ngôn ngữ nghiêm ngặt và
rõ ràng của các tác động quản lý Không phải là các mục tiêu nói chung, cho dù là tuyệt vờinhất, mà là các mục tiêu đạt đợc vào thời gian ấn định, với khối lợng chính xác và với việc sửdụng các nguồn lực xác định; các mục tiêu đợc phân cấp và cụ thể hoá thực sự, đợc đa đếnchính xác từng tập thể, từng nhóm, từng ngời và đồng thời đợc phối hợp với nhau sao cho mỗimột mục tiêu không mâu thuẫn với mục tiêu khác, mà ngợc lại, tạo khả năng thực hiện mụctiêu khác
Với ý nghĩa này, bất kỳ tác động quản lý nào cũng luôn cần phải hàm chứa trong nó
một mục tiêu chính xác và hớng vận động chính xác tới mục tiêu đó, thêm vào đó, tác động
quản lý cần phải thực tế, tức là gây nên sự vận động thực sự tới mục tiêu và tiệm cận tới mụctiêu
Quản lý là cần thiết ở mọi nơi và mọi lúc, mà ở đó và vào lúc đó xuất hiện nhu cầuphân bố và phối hợp hoạt động của một số lợng ngời nào đó Mỗi ngời riêng biệt tự quản lýhoạt động xã hội của mình Nhng để một nhóm thực hiện các hành vi và hành động phối hợpnào đó thì không thể không cùng nhau xác định những mục tiêu chung và làm cho hành vi đã
đợc ấn định cùng nhau của mỗi thành viên của nhóm phải tuân theo việc thực hiện các mụctiêu đó Thậm chí vào rừng lấy nấm cũng không thể đi theo nhóm, nếu trong nhóm đó không
có sự quản lý, cho dù chỉ là sự quản lý tự do và tự nguyện nhất Bất kỳ hoạt động tập thể cómục đích nào cũng cần có quản lý và sự thể hiện quan trọng của nó nh là yếu tố tổ chức
Trang 25“Tổ chức” có nghĩa là phân bổ con ngời trong các toạ độ không gian (lãnh thổ, côngtrình) và chức năng (vai trò xã hội, các loại hình công việc), liên kết họ với công cụ và phơngtiện lao động, đảm bảo sự tơng tác và trao đổi qua lại của họ trong lao động và trong đời sốngxã hội, mở rộng những khả năng sáng tạo của họ bằng cách phối hợp và tập trung những nỗlực Nh đã biết, việc tổ chức mở rộng những khả năng của con ngời, tạo cho họ phẩm chấtmới
Bất kỳ việc tổ chức tơng tác nào của con ngời cũng có hai “mặt cắt”: mặt tĩnh (cơ tạo cho sự tơng tác tính bền vững, tính xác định, tính liên tục, và mặt động (chức năng)- liênquan với sự tơng tác hiện thực, thực tế, mà hậu quả của nó là xuất hiện kết quả cuối cùng,tổng thể của lao động Cả hai “mặt cắt” chế định lẫn nhau, bởi vì chỉ có cơ cấu dới dạng mộttập thể con ngời đợc tổ chức ở trình độ nhất định mới có thể hoạt động chức năng (thực hiệnhoạt động) và chỉ có sự hoạt động chức năng hiện hữu, thực sự, đợc biểu hiện trong các kếtquả khách quan mới xác nhận cơ cấu và hoạt tính của nó Không có “mặt cắt” này thì không
cấu)-có “mặt cắt” kia
Quản lý có vai trò hình thành, duy trì, cải tạo, hoàn thiện, phát triển vv… cả hai “mặtcắt” này của việc tổ chức sự tơng tác của con ngời Đó là một nhiệm vụ đặc biệt khó khăn, màtính phức tạp của nó tăng lên theo cấp số nhân so với sự tăng số ngời đợc liên kết bởi cơ cấu
tổ chức nhất định Nghĩa là, tác động quản lý cần phải thờng xuyên và liên tục hàm chứa trong
nó yếu tố tổ chức, hớng vào và thực hiện thực tế sự tơng tác của con ngời
Điều quan trọng là nhìn nhận thấy mối liên hệ của các mục tiêu và các yếu tố tổ chức,bởi lẽ thờng khi trong các tác phẩm về lý thuyết tổ chức thì việc tổ chức lại mang đặc điểm
độc lập, và có vẻ nh là ngợc lại- nó tự đặt ra mục tiêu Kết quả là việc tổ chức từ chỗ là phơngtiện thực hiện mục tiêu lại trở thành nguồn đề xuất mục tiêu và bắt đầu buộc những lợi ích vàcác nguồn lực của xã hội tuân thủ nó- xã hội phân rã thành những tổ chức cạnh tranh và chìm
đắm vào cuộc đấu tranh về tổ chức, mà trong đó tính cục bộ phá huỷ tính toàn vẹn
Đồng thời, trong khi tạo cho một quá trình xã hội nào đó những mục tiêu (dự định) nhất
định, trong khi tổ chức trong nó sự tơng tác của con ngời, trong khuôn khổ các mục tiêu và tổchức này, quản lý có vai trò điều chỉnh cụ thể hành vi và hoạt động của mỗi một trong số cácthành viên tham gia quá trình (đợc quản lý) đã định Một số lớn các quy phạm xã hội hớngdẫn và định hớng, đánh giá và khuyến khích hành vi và hoạt động của con ngời đang tác
động trong xã hội Các truyền thống và tập quán, các bài học và các kết luận lịch sử, pháp luật
và đạo đức, các chuẩn mực giá trị và xã hội-kỹ thuật và nhiều yếu tố điều chỉnh khác đang thểhiện nh là những thành tựu quan trọng nhất của nền văn minh con ngời, giúp tạo dựng nênhiện tại và tơng lai một cách khôn ngoan hơn và tiết kiệm hơn
Trong quản lý, những quy phạm xã hội nh thế, trong đó cả các quy phạm đợc củng cốbằng pháp luật, có đợc tính hiện thực, tính gắn kết với một công việc hoặc một con ngời nào
đó, trở thành yếu tố cần thiết của các tác động quản lý Trong quản lý tồn tại sự điều chỉnh trực tiếp và thực tế, mà trong đó quy phạm xã hội này hay quy phạm xã hội khác không chỉ đ-
ợc tuyên bố, đợc thừa nhận, đợc khẳng định vv…, mà trên thực tế còn đợc thực hiện trongcuộc sống, đợc áp dụng khi giải quyết các mục tiêu đã định, nh thể là đợc lờng định trớc Bất
kỳ những sự cải tạo nào trong xã hội cũng không loại bỏ những vấn đề quy phạm hoá xã hội ,nghiên cứu và thực hiện thực tế các quy phạm lao động, các tiêu chuẩn tiêu hao nguyên liệu
và năng lợng, các tiêu chuẩn của sản phẩm thu đợc, những khuyến khích và hình phạt Tất cảnhững cái đó là những yếu tố cực kỳ cần thiết, cần phải đợc thể hiện một cách phù hợp trongmỗi tác động quản lý
Kết cục lại, có thể khẳng định rằng khi nói đến thuật ngữ “tác động quản lý”, thì cũng
có ý nói rằng tính đặc thù của tác động loại này, vốn tách biệt nó với một loạt các tác độngkhác, là ở những tính chất đề xuất mục tiêu, tổ chức và điều chỉnh Chính sự hiện diện tam
đoạn thức của các tính chất này cho phép nói đến sự tồn tại của tác động quản lý
Do đó, quản lý là tác động đề xuất mục tiêu (có ý thức, đợc dự tính trớc, đợc suy xét
kỹ), tổ chức và điều chỉnh của con ngời lên hoạt động sống của bản thân xã hội, tập thể vànhóm, đợc thực hiện trực tiếp (dới các hình thức tự quản lý) cũng nh thông qua các cơ cấu đợctạo lập một cách chuyên biệt (nhà nớc, các liên hiệp xã hội, các đảng phái, các hãng, các hợptác xã, các xí nghiệp, các hiệp hội, các liên đoàn vv…)
1.3- tính đa diện của quản lý
Trang 26Quản lý là một hiện tợng xã hội, đợc con ngời xử lý và làm cho đắc dụng cho việc giảiquyết các vấn đề của đời sống, có đặc điểm đa diện, bao gồm từ các yếu tố và các mối tơnggiao đa dạng Nguyên cớ gây nên điều này là do trong quản lý thì cả chủ thể cũng nh kháchthể của tác động quản lý đều là con ngời- một tạo thể xã hội-sinh học phức tạp nhất của thiênnhiên và xã hội Một điều có ảnh hởng nữa là quản lý thâm nhập một cách hữu cơ vào các cơchế tơng tác của thiên nhiên, con ngời, xã hội.
Trong các ấn phẩm triết học (B Rassel, K Popper, K Jaspers và những ngời khác)
quản lý đợc phân tích từ quan điểm về sự thể hiện trong nó các tính chất tự quản lý căn bảncủa xã hội Quản lý đợc thừa nhận nh là hiện tợng lịch sử, hàm chứa và phản ánh trong nónhiều quy luật biện chứng của tự nhiên, xã hội và t duy Các luận điểm và kết luận của t duytriết học tạo nên cơ sở phơng pháp luận và thế giới quan nhận thức khoa học và hoàn thiệnthực tế của quản lý, tạo khả năng định hớng cho những tìm tòi sáng tạo
Những khía cạnh quan trọng của quản lý đã đợc phát hiện bởi t duy xã hội học (K.Marx, M Veber, T Beblen, D Bernkhem và những ngời khác), vốn đã chứng minh những sự
lệ thuộc tơng quan sâu sắc giữa tình trạng quản lý và mức độ trật tự của các quá trình xã hội
Và ở đây có cả đặc điểm hai mặt của quản lý (tiến hành những công việc chung và chức nănggiai cấp); có cả quan điểm về chế độ quản lý quan liêu “lý tởng”- lý thuyết đại cơng về quản
lý hành chính; có cả sự đồng nhất quản lý với sự điều khiển tự động hoá trong các hệ thống cơgiới-công nghệ, là điều đã dẫn đến các cách tiệm cận quản lý theo chủ nghĩa kỹ thuật cầmquyền và biến thể của chúng trong các quan niệm về các xã hội thông tin hoặc công nghệthống thủ; có cả những ý tởng về sự hình thành giai tầng các nhà quản trị, và nhiều cái khác,
mà nói chung là phản ánh những chuyển đổi hiện thực đã xảy ra trong quản lý trong suốt haithế kỷ gần đây
Đã xuất hiện khuynh hớng khoa học “xã hội học quản lý”, mà trong khuôn khổ củakhuynh hớng này quản lý đợc xem xét nh là một cơ chế phức tạp của các mối quan hệ qualại giữa các giai cấp, các đẳng cấp, các tầng lớp xã hội và các nhóm nghề nghiệp, các đại diệncủa các dân tộc khác nhau Đồng thời những tri thức xã hội học phản ánh “lát cắt” xã hội của
đời sống xã hội cũng đợc đa vào lý thuyết và thực tiễn quản lý, là điều đã cho phép làm sâusắc hơn các đặc trng xã hội của nhiều yếu tố và các mối tơng giao quản lý (A H Maclou, D.Makgregor và những ngời khác)
Những nghiên cứu kinh tế có ý nghĩa rất lớn đối với nhận thức bản chất của quản lý
và việc sử dụng thực tế của nó Chính là nhờ những nỗ lực trớc hết của các nhà kinh tế mà đã
đặt đợc nền móng cho việc quản trị- lý thuyết quản lý công việc, kinh doanh, sản xuất, dịch
vụ Sự tổng hợp những tri thức kinh tế và công nghệ do G Ford, F Taylor, G Emerson, A Fiol
và những chuyên gia nổi tiếng khác thực hiện, trên thực tế đã trở thành sự thúc đẩy “khởinguồn”, là điều đã dần dần dẫn đến sự hình thành cái hệ thống tri thức mà ngày nay chúng tagọi là “lý thuyết quản lý” Kinh nghiệm của thế kỷ XX đã chứng minh rằng quản lý là chức
năng liên kết nhất thiết của bất kỳ hoạt động kinh tế tập thể nào, đợc gây nên bởi sự chuyên
môn hoá và hợp tác hoá lao động, sản xuất và dịch vụ.Tất nhiên là khi phân tích các khía cạnhkinh tế của quản lý thì sự chú ý đặc biệt đợc dành cho những vấn đề hoạt động chức năng vàphát triển của sức sản xuất, nói riêng, từ quan điểm tăng năng suất lao động, dành cho cácmối quan hệ và tơng tác qua lại của lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất, dành cho sự thểhiện quản lý trong nền kinh tế thị trờng tự do, dành cho sự hoạch định chơng trình của nhà n-
ớc đối với đời sống kinh tế Gắn thêm vào điều này là những phân tích về bản chất và đặc
điểm của quản lý trên các mức độ hoạt động kinh tế khác nhau: khu vực kinh tế lãnh thổ, tập
đoàn quốc gia và xuyên quốc gia, cơ sở hộ gia đình, hãng, liên hiệp sản xuất, xí nghiệp vv…
Về mặt kinh tế, bản thân việc quản lý cũng đợc nghiên cứu Một mặt, quản lý đòi hỏinhững chi phí xã hội (tinh thần và vật chất) đáng kể cho sự hình thành và thực hiện nó, và mặtkhác, nó phải đem lại những kết quả khách quan nào đó, đem lại lợi ích xã hội, đem lại hiệuquả xã hội Đối với những cá nhân riêng biệt cũng nh những tập thể của họ và đối với xã hộinói chung, điều luôn luôn quan trọng là biết rõ cái giá(giá trị) kinh tế của việc quản lý- sựchênh lệch giữa lợi ích thu đợc (vấn đề đợc giải quyết) và những chi phí cho nó
Trong quản lý, con ngời luôn hành động với những lợi ích, mục tiêu, lý tởng, giá trị, ýchí, động cơ, phơng châm và những yếu tố tâm lý khác của mình Thờng khi chính các yếu tốchủ thể này đóng vai trò quyết định trong quản lý, quyết định nội dung, hình thức và khả năngkết quả của nó Sự chú trọng trên các khía cạnh tâm lý của quản lý đợc gợi ra bởi những ý t-
Trang 27ởng phân tích tâm lý (Z Freid) đã cho phép tiếp cận sự nhận thức quản lý nh là một cơ chế rấtphức tạp và thiết yếu của tơng tác tâm lý của con ngời Đã vạch ra những nguồn gốc và hìnhthức của ý chí u trội cá nhân, tập thể và ý chí u trội chung, đã biện giải các cơ cấu và thủ tụcphối hợp lợi ích và định hớng sống (thoả hiệp, hoà đồng, tranh cãi vv…), đã hình thành cácquan điểm (học thuyết) “quan hệ con ngời” khác nhau theo các tiền đề xuất phát điểm Đã bắt
đầu việc nghiên cứu lý thuyết tâm lý học về ra quyết định (Iu Kozelexki) Đã bắt đầu ngàycàng sáng tỏ nhận thức rằng chỉ có sự hiểu biết và tính đến sự đa dạng và “bí tích” của ý thứccon ngời mới tạo ra những điều kiện cho việc quản lý thực sự hợp lý và có hiệu quả [Xem chitiết hơn: Derkach A A Cực điểm luận: Sự phát triển cá nhân và nghề nghiệp của con ngời:Cuốn sách thứ 5 M Nxb RAGS, 2000-2001]
Cũng cần chỉ ra rằng quản lý nh là hiện tợng văn hoá thòng đợc đặc trng theo quan
điểm luân lý học, mỹ học (nghệ thuật), và s phạm Không còn phải nghi ngờ, những phẩm
chất đạo đức của con ngời đợc thực hiện trong quản lý và bản thân quản lý cũng có thể đợcphân tích và đánh giá trong các phạm trù luân lý (đạo đức) Có ý nghĩa xã hội không chỉ là sựnhận thức những giá trị luân lý nhờ sự quản lý, mà còn cả “dự trữ” luân lý mà nó mang trongmình, cũng nh những hậu quả luân lý trong ý thức và hành vi của con ngời do việc thực hiệnthực tế quản lý tạo ra Dù là chậm chạp và khó khăn, luân lý học quản lý cũng đang đi vàocuộc sống (D Karnegi) Những sự luận bàn rất có kết quả cũng đợc đa ra bởi văn học, sânkhấu, điện ảnh, thậm chí cả hội hoạ và kiến trúc, đang mở ra những khả năng của quản lýtrong việc hình thành tính cách của con ngời, trong việc xây dựng nên những khuôn mẫu hành
vi, trong việc khẳng định và thể hiện những định hớng giá trị trong cuộc sống ở đây chỉ cầnnêu ra các tác phẩm của các tác giả nh L N Tolxtoi, F M Doxtoevxki, A P Chekhov, M A.Sholokhov, A I Solzenixun và những đồng bào khác của chúng ta, mà trong đó những sự tuỳthuộc giữa tình trạng quản lý và các sự kiện trên bình diện toàn cầu hoặc cục bộ đã đ ợc mô tảmột cách mạnh mẽ và đầy thuyết phục Về mặt nguyên tắc, thẩm mỹ phản ánh tính hoà hợp,hoàn thiện, cân đối, tơng quan tối u của các hiện tợng, các khía cạnh, các giới hạn, tính kinh
tế của chúng Chính bằng cách này mà thẩm mỹ có t cách nh là một điều lý tởng nhất định đốivới quản lý, là cái mà quản lý phải luôn luôn hớng tới Sự quản lý, đợc thực hiện thông quacác tác động quản lý, hàm chứa trong nó một tiềm năng s phạm đáng kể: nó đào tạo và giáodục con ngời, hình thành nên tính cách và thế giới quan của họ, mở mang kiến thức và kinhnghiệm cho họ
Quản lý, mà bản chất của nó có thể là chỉ mới đợc nhận thức vào thời đại chúng ta, cólịch sử lâu dài của quá trình hình thành, phát triển và tác động thực tế Khía cạnh lịch sử củaquản lý hàm chứa ý nghĩa lớn lao về lý luận và thực tiễn, bởi lẽ nó cho phép nhìn rõ vị trí vàvai trò của quản lý trong các hình thái khác nhau của văn minh nhân loại (A G Tonbi) vàtrong việc giải quyết các vấn đề xã hội, tôn giáo và dân tộc rất khác nhau (ở Nga: N M.Karamzin, S M Soloviev, M M Mikhailovxki) Những nhà cầm quyền, nhà hoạt động nhà n-
ớc, nhà lãnh đạo quân sự và những nhà t tởng, bắt đầu từ những thời kỳ Trung Quốc cổ đại,Vavilon, Ai Cập cổ đại và La Mã cổ đại đã suy nghĩ rất nhiều về quản lý và đã thử nghiệm nótrên kinh nghiệm của bản thân mình Tất nhiên là văn học theo đề tài lịch sử đã rất phong phúbởi các chủ đề về quản lý Chính việc phân tích về mặt lịch sử đã chứng minh nhiều hơn cả vềmột điều là quản lý đã luôn luôn- vào các thời đại lịch sử khác nhau và trong các nền văn hóadân tộc khác nhau- khác biệt bởi đặc điểm phức tạp, đa diện
Dĩ nhiên là quản lý thờng liên quan với quyền lực (với nghĩa rộng về mặt xã hội học),xuất phát từ quyền lực và dựa vào quyền lực, thu hút quyền lực vào các tác động quản lý củamình [Xem: Khalipov V.F.- Cratology- khoa học về quyền lực Quan điểm M.: NxbEkonomika, 2002] Nghĩa là trong nó nhận thấy rõ rệt các khía cạnh chính trị đặc trng chonhững khả năng của quản lý trong việc phân bổ các giá trị và chấn chỉnh các quá trình xã hội.Quản lý tơng tác một cách gắn bó nhất với pháp luật, trong nhiều trờng hợp nó tiếp thụ hìnhthức phấp luật, sử dụng sức mạnh pháp luật, đợc thực hiện theo các thủ tục pháp luật quy định
Các khía cạnh pháp luật của quản lý có tính chất nguyên tắc đối với thực tiễn quản lý, bởi lẽ
không biết (hoặc bỏ qua) chúng thờng biến các quyết định và tác động quản lý trở nên không
đáng kể Trong quản lý tồn tại các hình thức lao động khác nhau của con ngời, sử dụng cáccông cụ và phơng tiện lao động tơng ứng Vì lý do này, các khía cạnh phơng tiện và điều
kiện (T Kotarbinxki) có ý nghĩa quan trọng trong đặc trng của nó Nhng các khía cạnh phơng
Trang 28tiện và điều kiện này có ảnh hởng sâu sắc đối với quản lý nhà nớc tới mức là chúng đòi hỏiphải xem xét riêng và bao quát, điều này sẽ đợc thực hiện trong các đề tài tiếp sau.
Đặc điểm tổng hợp và đa diện của quản lý làm nảy sinh những tiền đề lý thuyết, mànhững tiền đề này cần đợc tính đến khi nghiên cứu và mô tả về mặt khoa học các yếu tố, cácmặt khác nhau của nó, các mối tơng giao và những biểu hiện của chúng Thứ nhất, mỗi cáchtiệm cận (cách nhìn, súc đồ) tới quản lý- từ góc độ triết học, chính trị, lịch sử, t tởng, phápluật, kinh tế, tâm lý-xã hội, phơng tiện-điều kiện, thông tin, s phạm vv… và vv…, đều mangtrong nó ý nghĩa nhận thức, “bám lấy” và soi dọi một khía cạnh, một mặt riêng biệt nào đócủa hiện tợng xã hội phức tạp này Thứ hai, mỗi khía cạnh nghiên cứu đều thực hiện chứcnăng nhận thức của mình và không nên đặt đối lập chúng với nhau, không nên nâng cái nàylên và hạ thấp cái khác, không nên coi cái này là xác đáng, cái kia là sai lầm Chỉ có sự bình
đẳng và sự sâu sắc của các khía cạnh nghiên cứu khác nhau mới có khả năng đa chúng ta tớigần chân lý Và thứ ba, tính thống nhất của bản chất quản lý luôn đặt ra rằng các khía cạnhkhác nhau của việc nghiên cứu quản lý, các yếu tố, các mặt, các giới hạn vv… khác nhau đợcchúng phát hiện ra, đều cần phải phối hợp với nhau một cách logic, tơng quan với bản chấtcủa quản lý, phản ánh và đặc trng cho chính quản lý, chứ không phải là cái gì đó khác, gầnvới quản lý hoặc giống với quản lý Điều này đặc biệt cấp thiết đối với thực tế quản lý, màtrong đó quản lý thể hiện mình nh là sự toàn vẹn phức tạp với tất cả sự phong phú của các yếu
tố của mình và của các tính chất của các yếu tố đó ở đây không thể tách riêng cái gì đó mộtcách tởng tợng, không thể “tãi ra từng thẻ”, mà cần biết tất cả, tính đến và sử dụng tất cả.Không phải ngẫu nhiên khi những khó khăn lớn nhất mà quản lý gây nên không phải là trong
sự nhận thức, mà là trong việc áp dụng
1.4- đặc trng của quản lý nhà nớc
Trong các ấn phẩm khoa học, quản lý đợc chia ra thành các loại hình theo các cơ sởkhác nhau Tuỳ theo các lĩnh vực đời sống xã hội ngời ta chia ra: quản lý cộng đồng xã hộinói chung, quản lý kinh tế, quản lý xã hội, quản lý chính trị, quản lý tinh thần-t tởng; tuỳ theo
cơ cấu của các quan hệ xã hội: quản lý sự phát triển của cộng đồng xã hội về kinh tế và tơng
ứng về chính trị, xã hội và tinh thần; tuỳ theo khách thể quản lý: quản lý kinh tế (sản xuấtkinh doanh), quản lý xã hội-chính trị, quản lý đời sống tinh thần; tuỳ theo đặc điểm và khối lợng các hiện tợng xã hội đợc quản lý bao quát: quản lý cộng đồng xã hội, quản lý nhà nớc,
quản lý các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, quản lý các xí nghiệp, các tổ chức,các cơ sở, các hãng vv…
Với t cách các loại hình quản lý ngời ta cũng nói đến quản lý kế hoạch, quản lý lãnhthổ, quản lý liên lãnh thổ, quản lý chiến lợc, quản lý chơng trình-mục tiêu và các loại khác
Vì vậy vấn đề về các loại hình quản lý, và hiển nhiên là cả các mối tơng quan củachúng với quản lý nhà nớc, có ý nghĩa có tính nguyên tắc, bởi lẽ chỉ có sự phân chia xác đángcủa chúng mới cho phép xây dựng nên cấp bậc và hệ thống làm việc và có hiệu quả của các t-
ơng tác quản lý với các khách thể quản lý Trong trờng hợp ngợc lại, tất cả tuỳ thuộc vào mức
độ tính toán đến một điều là ai sẽ làm công việc phân loại Mà để không xảy ra “sự tuỳ tiện”thì cần xác định chính xác các tiêu chí phân chia
Nếu chúng ta thừa nhận rằng quản lý là sự tác động đợc xác định bởi các tính chất củaxã hội, của trí tuệ, của yếu tố chủ thể, của quyền lực, thì cần phải phân loại các loại hình quản
lý theo các chủ thể quản lý, vốn vừa hình thành, vừa thực hiện các tác động quản lý và chịutrách nhiệm (về mặt lý tởng!) về những hậu quả của chúng Tức khắc cũng trở nên dễ hiểu
nguồn gốc của các lý tởng, các giá trị và các mục tiêu đợc đa vào quản lý Việc phân tích
chúng cũng cho phép làm sáng tỏ vì sao lại xảy ra cái này mà không xảy ra cái kia
Theo chủ thể quản lý có thể phân chia ra thành 6 loại hình quản lý, mà phần nhiềuchúng tơng quan với nhau:
1 Quản lý nhà nớc, mà toàn bộ cuốn sách này dành cho nó và có thể nói ngay về nórằng tất cả các tính chất của nó đều đợc chế định bởi một lẽ rằng chủ thể của nó là nhà nớc,tức là một hình thái xã hội, còn về bản thể- là nhân dân đợc liên kết lại bởi các tính chất củanhà nớc ở đây cơ sở của quản lý là tính toàn vẹn, chủ quyền, an ninh, trật tự và sự phát triểnxã hội Nga trên quy mô lịch sử của thời đại
2.Tự quản địa phơng nh là một loại hình phụ đặc biệt dân chủ cấp cơ sở của quản lý nhànớc, mà chủ thể của loại hình này là dân c tại những nơi c ngụ và các lãnh thổ hành chính,còn mục đích của nó là phục vụ các vấn đề xây dựng tổng hợp nơi c ngụ của con ngời
Trang 293 Quản trị, thể hiện nh là sự quản lý sở hữu tài sản từ phía chủ sở hữu (chủ nhân, ngờinắm sở hữu) [Xem: Bách khoa toàn th kinh tế M.: Nxb Ekonomika, 1999 Tr 412; và nhiềucông trình về quản trị] Tất nhiên là sở hữu đợc hiểu nh là mối quan hệ xã hội mà trong đó conngời hành động với những lợi ích của mình, chứ không phải là sự sử dụng đơn giản các loạivật chất, của cải, dịch vụ vv… Không có gì thay đổi ở đây từ một điều là việc quản lý có thể đ-
ợc chủ sở hữu uỷ thác hoặc tin cậy giao cho những ngời quản trị- những nhà quản lý làm thuê(thậm chí đợc trả lơng cao), cũng nh từ một điều là bản thân quyền sở hữu có thể là t nhân,chung phần, chung, cổ đông, hợp tác, tập thể, thuộc nhân dân, thuộc toà thị chính, thuộc nhànớc vv… Việc đề xuất mục tiêu trong quản lý sở hữu thể hiện khách quan trong việc tăng tr -ởng tài sản sở hữu, tức là có đợc thu nhập, lợi nhuận, lợi tức, nếu không nó sẽ co lại nh
“miếng da thuộc” và đánh mất các tính chất của mình
4 Quản lý xã hội, mà chủ thể của nó là các liên hiệp xã hội đợc chế định hoá (đợc hợpthức hoá về mặt pháp lý- thông qua các đạo luật, các điều lệ) Các chủ thể nh thế trong một xãhội công dân tự do, đa nguyên có rất nhiều và các chủ thể này quản lý trong nội bộ các cơ cấuriêng của mình, cũng nh bên ngoài các cơ cấu đó
5.Tự điều chỉnh nhóm (tập thể), mà chủ thể của nó là các nhóm ngời, mà trên mỗi bớc
đi của đời sống xã hội họ quản lý hành vi và hoạt động chung một cách tự do (theo sự nhìnnhận riêng của mình), đồng thời có tính đến lợi ích của những ngời khác và những chuẩn mựcvăn hoá và sinh hoạt cộng đồng xã hội
6 Hành vi ứng xử hoặc hành động hợp lý của một cá nhân khi trong cuộc sống cá nhân
đó đặt ra cho mình những mục tiêu sáng tạo, nhân đạo và đem hết hiểu biết, sức lực, thời giancủa mình để đạt đợc những mục tiêu đó Đó là nền tảng, cơ sở của tất cả các loại hình quản lý,bởi lẽ nội dung, khối lợng và các cơ chế của các loại hình quản lý đều tuỳ thuộc chính là vào
đặc điểm hành vi ứng xử và các hành động của con ngời Tiếc rằng khi thờng xuyên tròchuyện về con ngời, ngời ta lại thờng quên hành vi ứng xử thực tế của con ngời
Thêm nữa, cũng cần phải nhớ rằng tất cả các loại hình quản lý:đều phải chịu sự điềuchỉnh theo hiến pháp và pháp luật, vốn xác định mối liên hệ qua lại chặt chẽ của quản lý nhànớc với các loại hình quản lý khác; đều liên quan qua lại với nhau, bổ sung, thay thế, tăng c -ờng hoặc làm yếu lẫn nhau; vào mỗi thời điểm lịch sử đều có đợc một trình dộ phát triển củamình, trong đó biểu hiện khả năng quản lý các đối tợng quản lý tơng ứng của chúng
Vì thế không nên tiếp cận một loại hình quản lý nào đó một cách trừu tợng xuất phát từnhững sự u ái nào đó, nh ngày nay vẫn xảy ra đối với việc quản trị Phải luôn luôn nhìn rõ khảnăng có thể quản lý hiện thực của các quá trình, các hiện tợng và các mối quan hệ, vốn cần đ-
ợc quản lý từ phía các chủ thể quản lý cụ thể
Trong số các loại hình quản lý thì quản lý nhà nớc, nh đã có thể hiểu, chiếm vị trí đặcbiệt, mà điều này đợc lý giải bởi một số tính chất, nhng trong đó chỉ có 3 tính chất thuộc tínhcủa nó
Trớc hết, sự ảnh hởng quyết định lên đặc điểm của các tác động định hớng mục tiêu, tổchức và điều chỉnh, vốn đợc thực hiện bởi loại hình quản lý này, là do chủ thể của nó- nhà nớcgây nên Với tất cả những sự khác biệt trong việc luận giải về nhà nớc và tính đa dạng củanhững biểu hiện của nó (sẽ đề cập đến trong bài tiếp theo), hầu nh tất cả mọi ngời đều nhấtchí nêu bật sức mạnh quyền lực mạnh mẽ đợc đặt trong nó Lấy ví dụ, M Veber đã viết: “Nhànớc… là quan hệ thống trị của những ngời này đối với những ngời khác, dựa vào bạo lực chínhthống (tức là đợc coi là chính thống) nh là một phơng tiện” [Veber M.Tuyển tập M., 1990
Tr 646] Sự xét đoán về nhà nớc- cơ cấu có khẳ năng xác định một cách quyền uy cách c xửcủa con ngời và đạt đợc điều này nhờ cỡng chế, trên thực tế đã trở thành kinh điển Trong
“Bách khoa toàn th triết học giản lợc” hiện đại, tập hợp những cái tốt nhất trong nền t tởng thếgiới, nhà nớc đợc hiểu nh là “cơ cấu thống trị thờng xuyên đợc đổi mới qua kết quả của nhữnghành động chung của con ngời, những hành động đợc thực hiện nhờ có cơ quan đại diện, vàkết cục lại cơ cấu đó chấn chỉnh trật tự các hành động xã hội trong lĩnh vực này hay lĩnh vựckhác” [Bách khoa toàn th triết học giản lợc M., 1994 Tr 112]
Thực tế, nhà nớc vì thế mới là nhà nớc và bởi vậy khác với các cơ cấu xã hội khác ở chỗ
là trong nó quyền lực nhà nớc đợc tập trung và do nó thực hiện trong xã hội- theo quan hệ đốivới con ngời Còn quyền lực là mối tơng giao, mà trong quá trình của mối tơng giao đó, vìnhững nguyên nhân khác nhau- vật chất, xã hội, trí tuệ, thông tin vv…- con ngời tự nguyện (có
ý thức) hoặc bị cỡng bức thừa nhận sự tối thợng ý chí của những ngời khác, cũng nh của
Trang 30những quy định có tính quy phạm về mục tiêu, về những giá trị khác, và thực hiện các hành vihoặc hành động này khác, xây dựng cuộc sống của mình phù hợp với những đòi hỏi củachúng Một quyền lực nào đó tồn tại trong gia đình, trong nhóm ngời, trong tập thể , nó đợcgìn giữ trong các truyền thống, tập quán, d luận xã hội, đạo đức vv… Nhng tất cả điều đókhông thể so sánh với quyền lực nhà nớc, mà trong nguồn gốc nó có tính chế định pháp luật(tính chính thống), còn trong việc thực hiện- nó có sức mạnh của bộ máy nhà nớc nắm trongtay các phơng tiện cỡng chế.
Vì thế trong quản lý nhà nớc các tác động quản lý của nhà nớc dựa trên quyền lực nhànớc, đợc củng cố và bảo đảm bởi quyền lực ấy Đó không chỉ đơn giản là những mong muốn,những dự định, những lời kêu gọi, những ý nghĩ và tình cảm tốt đẹp (hoặc ngợc lại- độc ác),
mà là sức ép quyền lực (tất nhiên là khi cần thiết, nhng nó luôn luôn có trong khả năng tiềmtàng), vốn dẫn đến một điều là những mục tiêu đợc đặt ra trong quản lý, những xung động tổchức hàm chứa trong nó và những quy phạm điều chỉnh do nó quy định cần nhất thiết phải đạt
đợc, phải đợc thực hiện, phải đợc hoàn thành Từ đây tất cả mọi vấn đề thực sự có ý nghĩa lịch
sử là ở chỗ nhà nớc đó nh thế nào, làm gì và làm nh thế nào, nó đặt ra những mục tiêu gì vàbằng cách nào thực hiện các mục tiêu đó trong cuộc sống, và rất nhiều vấn đề khác, mà trongviệc giải quyết chúng loài ngời đã tranh đua trong suốt thời gian phát triển văn minh củamình
Tiếp theo, tính chất đặc thù của quản lý nhà nớc là sự lan truyền lên toàn cộng đồng xã
hội, thậm chí vợt ra ngoài giới hạn của nó, lên các cộng đồng xã hội khác của con ngời trong
khuôn khổ chính sách quốc tế do nhà nớc thực hiện Luận điểm này thờng gây ra sự nhầm lẫntrong nhận thức về các hiện tợng quản lý, bởi lẽ nó làm nảy sinh những quan niệm cho rằnghình nh nhà nớc can thiệp (hoặc có thể là cần phải can thiệp) vào tất cả các hành vi và hành
động của con ngời, quản lý tất cả các mối quan hệ qua lại của con ngời Chỉ có nhà nớc cựcquyền trong sự biểu hiện cực độ của nó mới cố thử làm một cái gì đó tơng tự nh thế và cũng tỏ
ra không có khả năng thực hiện điều đó vì không có khả năng thiết lập sự kiểm soát toàn diện
đối với xã hội Trong xã hội luôn còn lại sự tự do, cho dù là không đáng kể Phơng án bìnhthờng của các mối liên hệ qua lại giữa nhà nớc và xã hội cho rằng sinh hoạt xã hội của conngời có một mức độ lớn tự do, tự chủ và tự quản lý Nhng “các bờ”, các giới hạn của sự tự do,
tự chủ và tự quản này cũng đợc xác định bởi nhà nớc, cùng với những chế định xã hội Chínhnhà nớc bằng việc ban hành pháp luật quy định những quy tắc (quy phạm) cơ bản, chung,chuẩn mực về hành vi ứng xử của con ngời trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội vàbảo đảm sự tuân thủ chúng bằng sức mạnh quyền lực của mình
Trong cảnh huống này tôi muốn lu ý đến một tình trạng mà ngời ta gần nh là luôn luônbiểu thị trong một cái gơng “cong” nào đó Đây là muốn nói đến mối tơng quan giữa, mộtmặt, tự do của con ngời và tự do của xã hội, và mặt khác- của nhà nớc Không hiểu vì lẽ gì
đó ngời ta cho rằng, đặc biệt là trong truyền thống trí thức Nga, nhà nớc nhất thiết đối lập với
tự do và tơng ứng là việc quản lý từ phía nhà nớc cũng mang trong nó chỉ toàn những sự hạnchế, cấm đoán, chế tài và hình phạt, và trong nó có (nếu nói chung là có) ít nội dung xâydựng, sáng tạo Và rằng nhà nớc quản lý các quá trình xã hội càng ít, xã hội càng tự do hơnvới nhà nớc, thì sẽ càng tốt hơn cho con ngời và các vấn đề xã hội càng đợc giải quyết nhanhhơn
Thêm nữa, từ lâu và trên cơ sở kinh nghiệm lịch sử đã đi đến kết luận rằng “công lýphải đợc thực hiện bằng pháp luật, trên cơ sở pháp luật lý tởng nào đó, pháp luật tự nhiên Tuynhiên, pháp luật lý tởng này chỉ đợc thể hiện với t cách là pháp luật lịch sử của cộng đồng xãhội, vốn tạo ra cho mình các đạo luật và tuân theo chúng Sự tự do của con ngời bắt đầu từthời điểm, khi trong nhà nớc, mà trong đó con ngời sinh sống, các đạo luật đợc thừa nhận trởnên có hiệu lực” [Jaspers K Tác phẩm đã dẫn Tr 171] Do đó, cộng đồng xã hội, con ngờikhông nên đấu tranh chống lại nhà nớc, mà đấu tranh vì một nhà nớc pháp quyền hoàn thiệnhơn, chủ yếu là dân chủ hơn Quyền tự do cần tìm kiếm đó cần phải đạt đợc không phải là đốitrọng với nhà nớc, mà cùng với nhà nớc, với sự giúp đỡ của nhà nớc, phải trở thành bản chấtcủa nhà nớc
Vấn đề nghiêm trọng nhất của sự “lan truyền quản lý nhà nớc lên xã hội” không phải ởchỗ đặt ra một cách đơn giản hoá là nhà nớc “rút lui” khỏi các lĩnh vực này hay lĩnh vực kháccủa xã hội, chấm dứt tổ chức các quá trình này hay các quá trình khác, chấm dứt việc điềuchỉnh hành vi này hay hành vi khác Bởi lẽ tất cả đều lệ thuộc vào trạng thái của bản thân
Trang 31cộng đồng xã hội, vào trình độ tự điều chỉnh khách quan và tự quản lý chủ quan của nó, vàocung cách ứng xử thực tế của con ngời, trong đó kể cả hành vi đợc đặc trng nh là hành viphạm tội Hơn nữa, việc chấn chỉnh trật tự mỗi lĩnh vực đời sống của xã hội và con ngời, sự
mở rộng trong đời sống quyền tự do ý chí và hành động đợc quyết định trực tiếp bởi một điều
là ở đây quản lý nhà nớc duy trì đợc tới mức nào các quy tắc (quy phạm) ứng xử đã đợc thừanhận chung và đợc củng cố về mặt pháp luật Có nhiều căn cứ để cho rằng (về điều này xinxem bài 3) cả trong triển vọng xa xôi nhất, quản lý nhà nớc vẫn duy trì tính chất gây ảnh hởngcủa mình lên toàn xã hội
Một vấn đề khác là viễn cảnh của ảnh hởng này, chiều sâu và “mức độ chi tiết” của nó,
đặc điểm và nội dung của nó sẽ thờng xuyên thay đổi, trong khi phản ánh và tái tạo trạng tháixã hội Trong quản lý không nên tác nghiệp bằng các khẩu hiệu chung và những bản năngtrừu tợng; nó là cụ thể, thực tế và và đòi hỏi phải nằm trong mối liên hệ tơng quan với quátrình, hiện tợng, mối quan hệ mà nhằm vào đó nó hớng các tác động đề xuất mục tiêu, tổ chức
và điều chỉnh của mình
Nhà nớc vốn là hiện tợng xã hội phức tạp (theo thành phần các yếu tố) và đa diện (theocác chức năng), và với t cách là chủ thể quản lý, nó cũng tạo cho quản lý nhà nớc tính chất hệ
thống Khác với các loại hình quản lý khác, quản lý nhà nớc không thể tồn tại nếu không có
tính chất này Trong nhà nớc hàng chục triệu con ngời, nhiều cơ quan nhà nớc và các cơ cấukhác hoạt động, mà trong các cơ quan và cơ cấu này lại có một số lớn các quan chức và cácnhân viên khác Những nguồn lực vật chất, tài chính và trí tuệ đa dạng và đắt đỏ, nguồn thôngtin rộng lớn đợc sử dụng trong quản lý nhà nớc Nó bao gồm một khối lợng lớn các quyết địnhquản lý và các hành động tổ chức Nếu nh ở đây mỗi ngời đều tự thể hiện bản thân mình, nhtrong câu chuyện ngụ ngôn nổi tiếng về "con thiên nga, con cua và con cá măng", thì khôngkhó hình dung một sự hỗn loạn nh thế nào xuất hiện trong xã hội từ sự quản lý tơng tự Tronglịch sử đã nhiều lần ghi nhận đợc các tình huống khi mà có vẻ nh nhà nớc vẫn tồn tại, có vẻ
nh nó vẫn quản lý, trong khi đó thì sự bất đồng và tình trạng vô chính phủ thống trị trong xãhội Tính hiện thực của quản lý trở thành ảo tởng, trở thành cái bóng ma của nó
Đối với quản lý nhà nớc, tính chất hệ thống có ý nghĩa nguyên tắc Chỉ có sự hiện hữucủa tính chất này mới tạo cho quản lý nhà nớc sự hoà hợp, sự phối hợp, sự trực thuộc cầnthiết, tính mục tiêu, tính hợp lý và tính hiệu quả nhất định Vì vậy, một đề tài riêng đợc dànhcho tính chất này
Nh vậy, quản lý nhà nớc- đó là sự tác động thực tế mang tính tổ chức và điều chỉnh của
nhà nớc (thông qua hệ thống các cơ cấu của mình) lên sinh hoạt xã hội và cá nhân của con
ng-ời nhằm mục đích chấn chỉnh trật tự, duy trì hoặc cải tạo nó, dựa trên sức mạnh quyền lực củanhà nớc
Tất nhiên, bất kỳ sự định nghĩa nào về một hiện tợng xã hội phức tạp luôn luôn là ớc lệ
và hạn chế, bởi lẽ khó tránh khỏi một điều là nó bỏ ra ngoài các giới hạn của sự đặc trng cácyếu tố và các mối tơng giao quan trọng nào đó Phẩm chất của định nghĩa đợc đa ra về quản lýnhà nớc đợc nhìn nhận ở chỗ là nó liên kết vào tính toàn vẹn logic ít nhất là ba yếu tố: nhà nớc
nh là chủ thể quản lý đợc tổ chức một cách hệ thống; sinh hoạt xã hội của con ngời, vốn tiếpnhận các tác động quản lý và phản ứng lên các tác động dó; bản thân các tác động quản lý,vốn tạo nên các mối tơng giao tích cực giữa nhà nớc và xã hội Bằng cách đó mở ra mộtkhông gian cho sự mô tả lý thuyết những sự biểu hiện đa dạng của quản lý nhà nớc, sự nhậnthức và sử dụng thực tế tơng xứng của chúng
Các câu hỏi để xuy nghĩ và thảo luận
1.Quản lý là gì? Quản lý khác với tự điều chỉnh khách quan và các cơ chế tự phát bởi
điều gì?
2.Hãy nêu những nét đặc trng của tác động quản lý
3 Các cơ sở và các nguyên tắc của tính đa diện của quản lý Hãy nêu các khía cạnh(biểu hiện) cơ bản của quản lý và các ngành khoa học nghiên cứu chúng
4.Tồn tại các loại hình quản lý nào? Những sự khác biệt của chúng ở chỗ nào?
5 Đặc điểm và tơng ứng là tiềm năng của quản lý nhà nớc là ở chỗ nào? Dựa trên cácthí dụ lịch sử, hãy chỉ ra những sự lệ thuộc qua lại giữa trình độ quản lý và tình trạng xã hội.Bài 2 nhà nớc là chủ thể quản lý các quá trình xã hội
2.1- Những đặc trng cơ bản của nhà nớc
Trang 32Phải xác nhận rằng mặc dù có các cuộc chiến tranh, các cuộc cách mạng, các bi kịchxã hội khác có quy mô địa phơng và toàn cầu, nhng thế kỷ XX đã không làm sáng tỏ với mức
độ cần thiết bản chất của nhà nớc, vị trí và vai trò của nó trong sinh hoạt đời sống của con
ng-ời Cuộc tranh cãi giữa những ngời theo phái tự do và những ngời theo phái quốc gia khônglắng dịu, sự luận giải một chiều về nhà nớc nh là bộ máy cỡng chế, công cụ trấn áp vẫn đợcduy trì Nhiều khi nhà nớc đợc nhìn nhận nh là sở hữu riêng của những lực lợng chính trị hoặccá nhân đợc phân chia quyền lực trong nhà nớc vào thời điểm đó Ngời ta cũng viết không ít
về nhà nớc nh là một cơ cấu thịnh vợng mà dờng nh có nghĩa vụ đem lại những điều tốt lànhcho mọi ngời
Đáng buồn nhất trong vấn đề này là một thực trạng rằng, mặc dù đã một thập kỷ banhành Hiến Pháp Liên Bang Nga, một bản Hiến pháp đã tuyên bố rằng trên đất nớc đã lập ranhà nớc liên bang dân chủ pháp quyền theo thể chế cộng hoà (điều 1.1), trong đó nhân dân đadân tộc là ngời nắm chủ quyền và là nguồn gốc quyền lực duy nhất (điều 3.1), nhng trong các
ấn phẩm khoa học và sách giáo khoa vẫn tiếp tục sự luận giải cũ về nhà nớc với t cách nh làmột cơ cấu nào đó nằm ngoài xã hội hoặc đứng trên xã hội, nhng dù sao vẫn đứng đối lập vớixã hội Chẳng hạn, tác giả của quan điểm theo thuyết quyền lực cho rằng nhà nớc- đó là tổngthể các cơ quan quyền lực ở nớc này hay nớc khác, là thể chế chủ yếu hoặc phơng thức tổchức đời sống xã hội về mặt chính trị-pháp luật, đứng đầu là cá nhân hoặc tập thể cầm quyền.[Xem: Khalipov V F Quyền lực Từ điển quyền lực học M.: Nxb Respublika, 1997 Tr 112].Ngay cả trong “Bách khoa toàn th pháp luật” cũng nói rằng nhà nớc là “phơng thức tổ chức xãhội có giai cấp”… thiết chế chủ yếu của hệ thống chính trị, hình thức tổ chức quyền lực công Biểu thị khách quan của nhà nớc là tổng thể các cơ quan đại diện, các cơ quan hành pháp và tpháp tạo nên bộ máy nhà nớc” [Xem: Bách khoa toàn th pháp luật M.: Nxb Iuinformistor,
2001 Tr 210.]
Vì lẽ gì đó, đa số những ngời nghiên cứu- các luật gia, các nhà chính trị, kinh tế, xã hộihọc- đều coi nhà nớc là quyền lực nhà nớc đợc nó biểu hiện với một hệ thống các cơ quan (cơcấu) tơng ứng, trong khi đó lại lãng quên hoặc bỏ qua một thực tế là quyền lực nh thế chỉ trởnên có thể nhờ có nhà nớc và là dẫn xuất từ nhà nớc Tất nhiên, trong lịch sử đã không phải tấtcả và không phải luôn luôn nh thế, nhng đây lại chính là nói về nhà nớc dân chủ hiện đại Và
đã đến lúc phải chia tay với những luận giải quá khứ về nhà nớc, đặc biệt là ở nớc Nga, nơinhà nớc đã hoặc là chuyên chế (quân chủ), hoặc là công cụ của đảng (Xô Viết), nếu nh chúng
ta suy nghĩ nghiêm túc để đi đến tơng lai
Cần xác định dứt khoát rằng nhà nớc là hiện tợng đa diện, mà trong nhận thức và trongcuộc sống của con ngời, của xã hội nó đợc phản ánh bởi các diện (các khía cạnh) khác nhautuỳ thuộc vào phơng diện có liên quan với vấn đề, quan hệ, quá trình, cách ứng xử và hành
động vv… cụ thể Thêm vào đó, mỗi biểu hiện của nhà nớc đều có ý nghĩa, bởi vì nó mangtrong mình một cái gì đó từ bản chất của nó
Trớc hết, nhà nớc hiện diện trớc mỗi con ngời với t cách là một hình thái xã hội Nhà
n-ớc bị ràng buộc bởi hệ thống các quan hệ xã hội của con ngời, cùng tham gia trong nhận thức,hành vi và hoạt động của họ, có khả năng tổ chức cuộc sống, trong đó cả đời sống kinh tế,trên lãnh thổ nhất định (của mình) Xin nói thêm, điều này đã đợc thừa nhận từ năm 1905:nhà nớc là “liên minh của các thành viên thuộc các nhóm xã hội, dựa trên nguyên tắc côngbằng chung của con ngời, dới quyền lực tối cao tơng ứng với nó” [Tikhomirov L.A Chế độnhà nớc quân chủ SPb., 1992 Tr 31] Nhà nớc có phạm vi hoạt động và ảnh hởng hạn chếtrong xã hội, là điều không bao giờ đợc quên Nhà nớc liên kết con ngời sinh sống trên mộtlãnh thổ nhất định (đợc vạch ra bởi các đờng biên giới quốc gia) và bảo đảm sự tơng tác của
họ với nhau Đợc thu hút vào mối tơng tác này là các nguồn lực, các phơng tiện, các đối tợngthiên nhiên và xã hội rất đa dạng, nhng nhà nớc gắn với mối tơng tác của con ngời và thôngqua họ mà tổ chức và điều chỉnh các quá trình sản xuất, dịch vụ, đào tạo và các quá trìnhkhác Tóm lại, nhà nớc- cấu trúc xã hội, bảo đảm sự toàn vẹn và trật tự của xã hội, là điềuhoàn toàn không đối lập sự phát triển tự do của xã hội
Nhà nớc- là tổ chức lãnh thổ của con ngời, đây là điều có ý nghĩa về mặt quan điểm.Thứ nhất, chính nhờ điều này mà khắc phục đợc các mối tơng giao mang tính tộc họ (“huyếtthống”) và thay thế bằng các mối quan hệ hoàn toàn mang tính cộng đồng xã hội Thứ hai, tạo
ra cơ cấu có t cách (về lý tởng!) một cơ cấu trung hoà trong quan hệ đối với các dấu hiệu củanhững con ngời khác nhau về dân tộc, tôn giáo và xã hội Về mặt lịch sử, nhà nớc dẫn dắt đến
Trang 33một cộng đồng xã hội mới của con ngời, mà ở đó các lý tởng, các giá trị và mục tiêu khác tác
động
ở đây toàn bộ tính đặc thù, vốn có ý nghĩa mang tính bản chất, là ở chỗ, bằng phơngthức đặc biệt, mang tính pháp lý, nhà nớc liên kết con ngời dới hình thức thể chế công dân.Tiếc rằng, cho dến nay thể chế công dân vẫn không có đợc uy tín và sự ủng hộ mà nó đáng đ-
ợc hởng Bởi lẽ về ý nghĩa pháp lý (pháp luật) chế định công dân làm cho mọi ngời bình đẳngvới nhau, làm cho họ bình quyền trong quan hệ đối với nhà nứơc (các đạo luật và cơ chế củanhà nớc bảo vệ họ) Các tiền đề cho sự phát triển tự do và tự quyết định của con ngời đợc hìnhthành, bởi lẽ quy chế của nó đợc củng cố, mà quy chế này bằng cách nào đó đợc bảo đảmbằng quyền lực nhà nớc ngay cả trong trờng hợp xấu nhất Chế định công dân nh là mối liênquan pháp lý của con ngời với một nhà nớc cụ thể, xác định các quan hệ trách nhiệm qua lại,
là cơ sở quan trọng cho việc xem xét bất kỳ vấn đề gì của quản lý nhà nớc
Do điều là nhà nớc liên kết những con ngời sống trên lãnh thổ của nó, trong đó kể cảnhững ngời không có quốc tịch, cũng nh những ngời nớc ngoài (công dân của các nhà nớckhác), cho nên nhà nớc biểu thị những nhu cầu, lợi ích và mục tiêu liên kết, “cởi mở”, chungcho mọi ngời trong sinh hoạt đời sống cộng đồng của mình Lịch sử đã biết đến không ítnhững thí dụ ngợc lại, khi do lỗi của những ngời cầm quyền bất tài hoặc do mu đồ độc ác của
họ, các nhà nớc đã đối lập lại các công dân của mình, là điều thờng không tạo khả năng cho
sự vĩnh tồn của các nhà nớc đó và chúng đã tan rã
Một vấn đề thờng xuyên (đồng hành với lịch sử nhà nớc) đặt ra là ở chỗ phải làm sao đểtrong mỗi giai đoạn phát triển có thể tìm ra cái hạt nhân vàng, mà một mặt nó có thể đảm bảocác quyền và tự do của con ngời, tạo ra không gian cho tính tích cực và sáng tạo của con ngời,
và mặt khác- đa vào xã hội nguyên tắc tổ chức nhất định, chấn chỉnh trật tự hoạt động củacác cá nhân Nhà nớc không giải quyết các vấn đề, nh thờng có ai đó cảm thấy thế (bản thânnhà nớc không tiến hành cái gì cả), mà nó tạo ra và duy trì trong “trạng thái có khả năng làmviệc” những điều kiện về tổ chức và pháp luật để giải quyết các vấn đề với những nỗ lực củatoàn xã hội, của những ngời đang tham gia sản xuất những sản phẩm vật chất, tinh thần và xãhội Nếu nói một cách cô đọng, thì đối với nhà nớc điều quan trọng trớc hết là phải nhìn thấynhững lợi ích dân tộc của nhân dân là gì, mối liên quan và lệ thuộc lẫn nhau của những lợi íchnày với những lợi ích của các dân tộc khác trong cộng đồng thế giới là nh thế nào, và làm tấtcả những gì cần thiết để thực hiện thực tế các lợi ích này
Điều tiếp theo, vốn tạo cho nhà nớc địa vị đặc biệt trong xã hội, là ở chỗ chính là (vàchỉ) thông qua các cơ cấu và cơ chế của nó mà hình thành và củng cố ý chí chung, là cái tạocho quản lý nhà nớc đặc điểm bắt buộc Thông qua các cơ quan của mình, nhà nớc ban hànhcác đạo luật và các văn bản quy phạm (các quy tắc hành vi) và bảo đảm việc áp dụng chúngvào cuộc sống bằng tất cả các phơng pháp thuộc thẩm quyền của nó, trong đó có cả các phơngpháp hành chính và pháp luật hình sự Có thể nói rằng nhà nớc nắm độc quyền chính thốngtrong việc ban hành pháp luật và cỡng chế khi thực hiện pháp luật
Tất nhiên, đang tồn tại những vấn đề và những mâu thuẫn trong việc biểu thị ý chíchung, trong việc luận cứ về các quyết định đợc thông qua bởi đa số đơn giản (thậm chí bằngtrng cầu dân ý), trong việc phân bổ ý chí quyền lực chung “theo chiều ngang” và “theo chiềudọc”, trong tơng quan của ý chí chung và tự do cá nhân, trong tính tơng xứng của ý chí chungvới các nhu cầu và lợi ích xã hội, trong tính khả thi của ý chí này và theo nhiều khía cạnhkhác Tuy vậy, mặc dù có những khó khăn và tính tơng đối của nhiều cơ chế và hình thức biểu
lộ ý chí (mà những cái khác thì không có), trong hệ thống luật pháp, đợc hình thành nên bởicác cơ quan nhà nớc, vẫn có một phần nhất định của ý chí chung, mà sự phát triển nền dânchủ lại là ở chỗ sao cho cái phần này của ý chí chung đợc mở rộng và mang nội dung phản
ánh những nhu cầu và lợi ích của con ngời, những lý tởng và giá trị của họ
Bản chất của nhà nớc cũng đợc xác định bởi điều là để đảm bảo thực hiện các mụctiêu và chức năng của mình, nhà nớc tạo lập và duy trì với quy mô và trạng thái xác định một
bộ máy của mình- tổng thể những ngời (với các phơng tiện tơng ứng) chuyên trách việc pháthiện những nhu cầu, lợi ích, mục tiêu và ý chí chung, củng cố về mặt chế định những nhu cầu,lợi ích, mục tiêu và ý chí chung đó và thực hiện các quy chế (quy phạm) pháp luật nhà nớctrong cuộc sống Bộ máy này có cấu trúc phức tạp và hoạt động theo những hớng khác nhau.Một phần của bộ máy này phục vụ việc ban hành pháp luật, thực hiện các đạo luật và bảo vệcông dân về mặt t pháp, tức là liên quan với quản lý nhà nớc theo nhận thức về chức năng của
Trang 34nó, phần khác- duy trì sự bền vững và an ninh quốc gia nội tại (trật tự pháp luật) và quốc tế,các mối quan hệ qua lại của nhà nớc với cộng đồng thế giới.
Tình trạng của bộ máy, sự gắn bó của nó với xã hội hoặc xa cách với xã hội, khối lợng
và cấu tạo theo cấp bậc của nó, phẩm chất của viên chức và nhiều tham số khác có ý nghĩaquyết định đối với bản thân nhà nớc, đối với xã hội và quản lý nhà nớc
Dới dạng hình thái xã hội, nhà nớc đồng thời có t cách là một cơ cấu và cơ chế tự quản
lý xã hội Do hậu quả tác động lâu dài của quản lý nhà nớc theo chế độ lãnh tụ- chuyên chế
mà trong nhận thức của nhiều ngời đã ăn sâu khái niệm cho rằng nhà nớc tách rời xã hội,
đứng ở đâu đó “trên cao” và trên đỉnh xã hội, gần nh là từ trên trời cao nhà nớc gửi xuống xãhội (những con ngời) những quyết định và chỉ thị “vĩ đại” của mình Cũng đã làm không ít đểsao cho quyền lực tối cao trở thành một cái gì đó siêu nhiên, “nh chúa trời”, chỉ những ngời
“đặc biệt” với những phẩm chất siêu nhân mới có thể tiếp cận tới đợc Nhiều điều trong sốnhững điều tơng tự đã đa các nhà nớc tới chỗ bế tắc, là điều không cản trở việc liệt kê chúngvào đám thần thánh
Thêm nữa, chắc là mỗi ngời đều tán thành, bởi thực tế nh vậy, rằng các chế định nhà ớc-pháp luật đều do xã hội tạo ra để điều khiển các vấn đề xã hội, và những ngời giữ bất kỳcơng vị nào trong nhà nớc đều đợc xã hội giáo dục và cũng do xã hội đề bạt lên Nhà nớc “đi”
n-từ xã hội và có bổn phận phục vụ những nhu cầu, lợi ích, mục tiêu và ý chí của xã hội Nh vậy,các chế định nhà nớc-pháp luật, ít nhất là trong một nhà nớc dân chủ, đều là các chế định củabản thân xã hội và tuân thủ sự điều khiển của xã hội Nhà nớc chỉ cần có những chế định cầnthiết cho xã hội và đem lại lợi ích cho xã hội, và cần tổ chức để làm sao cho những chế địnhnày thu hút thật nhiều công dân tới mức có thể tham gia vào việc hình thành và hoạt độngchức năng của mình Từ quan diểm này, tính công khai của nhà nớc đối với xã hội và mức độ
thu hút các công dân vào các quá trình hoạt động của nhà nớc đặc trng chủ yếu cho mức độ
phát triển của nhà nớc nh là một thiết chế xã hội dân chủ và pháp quyền
Và còn một điều nữa, vốn phân biệt chính bản thân nhà nớc, không thể không nói đến.Nhà nớc là xã hội những con ngời do nó liên kết lại nh là một thể toàn vẹn (cơ cấu đóng kín)trên trờng quốc tế trong các mối quan hệ qua lại với các nớc và các dân tộc khác Thông quanhà nớc, các quan hệ ngoại giao đợc xác lập và duy trì, các hiệp định và hiệp ớc quốc tế
đợc ký kết và thực hiện, các tổ chức và liên minh khu vực và thế giới đợc thành lập, các quyền
và tự do của con ngời đợc thống nhất hoá và bảo vệ Việc hình thành các xã hội mở làm tăngcác mối quan hệ liên kết giữa các dân tộc, là điều nâng cao vai trò của các nhà nớc (và các cơquan của chúng) trong việc dàn xếp sự hợp tác quốc tế và củng cố trật tự pháp luật thế giới
Nh vậy, nhà nớc thể hiện mình nh là một tạo thể phức tạp, tái tạo và hàm chứa trongbản thân nhiều cái mang tính xã hội và đồng thời gây ảnh hởng lớn lên trạng thái và sự pháttriển của xã hội Giữa nhà nớc và xã hội tồn tại các mối liên hệ xuôi và ngợc, có sự trao đổithông tin và hoạt động Nói cách khác, nhà nớc là quyền lực công khai và chính thống (đợcbiểu hiện một cách quy phạm) của xã hội Có thể bổ sung thêm, sức mạnh tổ chức của xã hội,
và quyền lực cũng vì thế mà trở nên có tổ chức
Bi kịch của lịch sử nhân loại và đơng đại đợc quyết định phần nhiều bởi một điều làmối tơng quan của quyền lực này và xã hội là nh thế nào, quyền lực này xa lạ với xã hội tớimức nào, đối lập lại xã hội hay ngợc lại, gắn bó với xã hội và bảo vệ xã hội, quyền lực này làgì, nó thúc đẩy những mục đích và lợi ích nào và nó đem lại cái gì cho xã hội Những vấn đềxã hội gay gắt nhất này tạo nên phơng hớng trung tâm của những tìm tòi lý thuyết và thực tiễnchính trị, và không có câu trả lời đơn giản cho những vấn đề này ở đây tuỳ thuộc không ítvào bản chất của một nhà nớc cụ thể vào giai đoạn tồn tại cụ thể của nó
Cần nhận thức biện chứng phức tạp của nhà nớc và của các hiện tợng nhà nớc do nóhình thành nên Bản thân nhà nớc là một hệ thống phẳng (theo chiều ngang) liên kết tất cảnhững ngời tham gia vào nó Đã là nh thế ngay cả vào kỷ nguyên của chế độ cực quyền, bởi lẽcác thần dân đều tham gia vào nhà nớc đợc tợng trng bởi ngờì cầm quyền, và đều có bổn phậnduy trì và bảo vệ nó Chính sự liên kết con ngời đã tạo nên quyền lực nhà nớc, và những ngờinày càng nhiều thì quyền lực này càng mạnh Bất kỳ nhà độc tài nào cũng là nhà độc tài bởi vì
có ngời để mà trông cậy Việc thực thi quyền lực nhà nớc đợc tiến hành thông qua bộ máy nhànớc, vốn có cấu trúc phân cấp theo chiều dọc với cấp lãnh đạo tơng ứng Trên hệ thống phẳngnày đợc xây dựng một hình tháp quyền lực nhà nớc, đợc dùng để quản lý hàng ngày các công
Trang 35việc của nhà nớc Nếu bổ sung thêm vào đây cả công vụ nhà nớc, vốn là một trật tự điều khiểncác quan hệ quyền lực và quản lý nhà nớc, thì sẽ trở nên hiển nhiên là về mặt nội tại nhà nớccăng thẳng và mâu thuẫn tới mức nào theo các yếu tố và các mối tơng giao của mình Nghĩa
là, bất kỳ sự lý giải một chiều nào về nhà nớc, tách rời nó khỏi xã hội, khỏi con ngời, chỉchuyển hoá thành quyền lực vv…, đều không cho một khái niệm đầy đủ về hiện tợng xã hộinày và dẫn đến nhiều sai lầm về lý thuyết, phơng pháp luận, quy phạm và thực tiễn, nhữnglầm lạc và những xét đoán không tơng xứng
2.2- hình thức nhà nớc ( hình thái nhà nớc)
Các nhà nớc đang tồn tại hiện nay, cũng nh đã tồn tại trớc đây, đều rất khác nhau Sựkhác biệt này, cả sâu sắc, căn bản, cũng nh đôi khi là không đáng kể, đều có ý nghĩa củamình và thể hiện trong quản lý nhà nớc Vì thế cần phải biết những dấu hiệu cơ bản mà theo
đó ngời ta phân biệt các nhà nớc
Theo nguồn gốc và theo ngời đại diện có chủ quyền (tức là độc lập, không phụ thuộc
và tối cao) của quyền lực từ thời phân loại của Aristotel, các nhà nớc đợc phân ra:
a) quân chủ, có khả năng biến tớng thành bạo ngợc;
b) quý tộc, có khả năng biến tớng thành thủ lĩnh chính trị;
c) dân chủ, có khả năng biến tớng thành công xã (ochlocratie)
Trong nhà nớc quân chủ, quyền lực tối cao [Quyền lực tối cao đợc hiểu là sự biểu thị
cụ thể của nguyên tắc đợc dân tộc chấp nhận vì nguyên tắc liên kết.] thuộc về quốc vơng kế
vị, chỉ chịu trách nhiệm về những hành động của mình trớc Chúa trời Mối liên hệ này thờng
đợc nhấn mạnh bởi một điều là các cấp bậc tôn giáo, vốn vẫn cầu chúc cho nó, đã tham giatrong nghi lễ đăng quang Ngời ta cho rằng trong nhà nớc quý tộc quyền lực tối cao phảithuộc tầng lớp u tú của xã hội, các đại diện tốt nhất, có kinh nghiệm và sáng suốt của nó.Trong nhà nớc dân chủ quyền lực tối cao thuộc về nhân dân- tất cả các công dân của nhà nớc
đó
Các nhà nớc quân chủ thuần tuý, hơn nữa là cực quyền, đã còn lại nh là tài sản của lịchsử; nếu nh ở đâu các chế độ quân chủ còn đợc giữ lại, thì chúng đều đã biến thành quân chủlập hiến (bị hạn chế bởi luật), vốn kết hợp trong bản thân chúng, với những phơng án và tỷ lệkhác nhau, các nguyên tắc quân chủ, quý tộc và dân chủ Phức tạp hơn khi phân chia các nhànớc quý tộc thực sự, bởi lẽ sự cô kết tổ chức của tầng lớp u tú đã luôn là công việc khó khăn.Nhiều khi tầng lớp u tú đã và đang cầm quyền dới sự che đậy hoặc là chế độ quân chủ, hoặc làdân chủ Đối với thế kỷ XX, điều đặc trng là sự thừa nhận những phẩm chất và triển vọng củanhà nớc dân chủ, mặc dù câu “chúng ta, nhân dân… quy định và ban hành…” đã đợc viết ra từlâu, trong Hiến pháp của Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ năm 1787
Trong khung cảnh này cần tính đến một điều rằng mỗi một nguyên tắc quyền lực tốicao đều có biện chứng của nó về tổ chức và hoạt động chức năng của quản lý nhà nớc Trongnguyên tắc quân chủ- đó là sự thống trị cá nhân của quốc vơng (từ trên xuống dới) với nhữngquan cai trị tơng ứng tại địa phơng (theo các tên gọi khác nhau) và những thuộc hạ Nguyêntắc quý tộc đòi hỏi sự quản lý tập thể từ phía tầng lớp u tú với sự phân chia quyền lực nhất
định “theo chiều dọc” và “theo chiều ngang” (một thí dụ lịch sử: nhà nớc Ba Lan cổ) Sự thừanhận nguyên tắc dân chủ của quyền lực tối cao kéo theo nó việc xây dựng quyền lực nhà nớc
và quản lý nhà nớc từ dới lên trên- từ nhân dân thông qua các hình thức biểu lộ ý chí trực tiếp,
đại diện và công vụ nhà nớc công khai Thòng khi tính đặc thù của nhà nớc dân chủ đợc nhấnmạnh qua việc ám chỉ nó bằng thuật ngữ “cộng hoà” (từ tiếng La tinh respublica- tổ chứcchính trị và pháp luật của nhân dân Roma) Nếu nh nhất quán trên nguyên tắc bình quyền củacon ngời, thì phải thừa nhận một cách logic rằng chỉ có nhà nớc dân chủ là phù hợp vớinguyên tắc này và có khả năng đảm bảo tự do và tình đoàn kết của con ngời
Theo hình thức cầm quyền ( chính thể), tức là tổ chức quyền lực nhà nớc chung(hoặc, nh đôi khi ngời ngời ta vẫn nói, quyền lực nhà nớc tối cao), ngời ta phân biệt các nhànớc cộng hoà đại nghị và và cộng hoà tổng thống Cũng có các hình thức pha trộn: cộng hoànửa tổng thống và quân chủ nghị viện Cái chính ở đây là- thừa nhận nguyên tắc phân chiaquyền lực và tính đặc thù của các cơ chế thực hiện thực tế nguyên tắc này
Trong nhà nớc cộng hoà đại nghị, có u thế rõ rệt là cơ quan lập pháp đợc bầu ra, mà từthành phần của mình nó hình thành nên chính phủ trực thuộc nó (Italia, Liên Bang Đức) Tơng
tự nh thế là cơ chế hình thành và tơng quan của quyền lực lập pháp và hành pháp trong chế độ
Trang 36quân chủ lập hiến (Anh, Đan Mạch, Italia, Nhật Bản) Chính là ở đây và chỉ ở đây tồn tại chức
vụ Thủ tớng
Trong nhà nớc cộng hoà tổng thống, cơ quan lập pháp (quốc hội hoặc tên gọi khác) vàngời đứng đầu quyền lực hành pháp (cũng là ngời đứng đầu nhà nớc) đều đợc bầu nh nhau bởidân c, độc lập trong các chức năng của mình, nhng liên quan với nhau thông qua cơ chế “kiềmchế và đối trọng” (Mỹ, Arhentina, Mexico và các nớc khác) Có quy chế đặc biệt là các tổngthống- những ngời đứng đầu các nhà nớc ở Nga, Pháp và các nớc khác, là những ngời đảmbảo sự hoạt động chức năng và sự tơng tác của các cơ quan quyền lực nhà nớc “phân chia” với
t cách là trọng tài và ngời bảo đảm Trong các nớc này có tồn tại chính phủ trực thuộc tổngthống là chủ yếu
Việc lựa chọn hình thức cầm quyền, các chức năng, cơ cấu và các tham số khác củaquyền lực nhà nớc chung có ảnh hởng căn bản đến quản lý nhà nớc Biểu thị một cách hình t-ợng, đó là trung tâm “đầu não” của “cơ thể” nhà nớc, và trạng thái và hoạt động chức năngcủa các phần hợp thành của nó- các cơ quan khác nhau của nhà nớc- tuỳ thuộc nhiều vào một
điều là “cơ thể” đó đợc xây dựng nh thế nào, và cái chính là nó tác động nh thế nào Vì thế,các quá trình chính trị chung của dân tộc đa phần là tập trung xung quanh việc lựa chọn hìnhthức cầm quyền và việc xắp xếp nhân sự các cơ cấu của nó
Theo hình thức thiết chế nhà nớc ( cấu trúc), tức là theo phơng thức phân chia nhà
n-ớc thành các phần nhất định phù hợp với sự phân chia quyền lực theo sự quản lý chúng, tồn tạichủ yếu hai loại hình nhà nớc- nhà nớc đơn nhất và nhà nớc liên bang Đôi khi ngời ta cũngnói về nhà nớc liên minh, nhng sự biểu thị nh vậy khó có thể thừa nhận là chính xác: liênminh- đó chỉ là một khối liên kết các nhà nớc do các nhà nớc này tạo nên để thực hiện một sốmục tiêu chung Các nhà nớc đơn nhất đợc phân chia thành các đơn vị hành chính-lãnh thổ đ-
ợc quản lý theo chiều dọc bởi một hệ thống thống nhất của quyền lực nhà nớc Trong các đơn
vị hành chính-lãnh thổ này có thể thành lập các cơ cấu tự trị, cũng nh có thể tồn tại sự tự quảncao của địa phơng Liên bang cũng là nhà nớc thống nhất với chế độ tự trị nhà nớc rộng rãicủa các phần hợp thành của nó ở mức độ nhất định, phơng thức phân bổ quyền lực nhà nớcnày theo chiều dọc ít nhất cũng đợc các nhà nghiên cứu Mỹ hiểu nh là chế độ liên bang.[Xem, thí dụ: Ostrom V ý nghĩa của chế độ liên bang Mỹ Xã hội tự quản lý là gì?: Dịch từtiếng Anh M., 1993]
Dễ hiểu rằng đặc trng của việc xây dựng nhà nớc nh một hệ thống phức tạp, nhiều cấp
độ phân cấp, vốn bao quát và liên kết xã hội thành một thể toàn vẹn, xác định nhiều sự thểhiện và phẩm chất của quản lý nhà nớc
Tất nhiên, có ý nghĩa quan trọng là sự khác biệt của các nhà nớc theo chế độ chính trịhiện hành trong chúng- theo nội dung của các phơng pháp và thủ pháp thực hiện thực tế quyềnlực nhà nớc Đôi khi cũng dùng từ đồng nghĩa- chế độ nhà nớc, nhng thích hợp hơn vẫn làthuật ngữ “chế độ chính trị”, bởi vì thuật ngữ “ chế độ chính trị” đã vạch ra đợc cái căn bảnnhất là: thái độ của quyền lực nhà nớc đối với các quyền và tự do của con ngời và công dân.Bởi lẽ theo các dấu hiệu hình thức ở một nhà nớc này hay nhà nớc khác đôi khi có thể tìmthấy không ít tính dân chủ (hiến pháp, các cơ quan đại diện, các phơng tiện thông tin đạichúng, lãnh đạo tập thể vv…), nhng chế độ chính trị thực tế hiện hành trong nó lại đa tất cảnhững khởi xuất dân chủ trở nên bằng không Chính chế độ chính trị là hiện thực của quyềnlực nhà nớc Về mặt lịch sử, đã ghi nhận một số kiểu chế độ chính trị:
- Chuyên chế, bao gồm cả các chế độ cực quyền, độc quyền, độc đoán; ở đây phơng
thức thực hiện ý chí nhà nớc đợc đại diện bởi ngời cầm quyền tối cao (đế chế, vua, lãnh tụ,ngời cầm lái anh minh vv…) là cỡng chế đàn áp, tuỳ tiện, hạn chế tự do, thiết lập chế độ kiểmsoát truy tầm đối với hành vi của từng con ngời;
- Tự do, trong đó quyền lực nhà nớc xuất phát trớc hết từ các quyền và tự do của con
ngời và bắt buộc những khả năng của mình phải hớng tới thực hiện những quyền và tự donày; có vẻ nh quyền lực phục vụ cho tự do; tiếc rằng chế độ này thờng chỉ thể hiện bằng khẩuhiệu chính trị hơn là thực tế, và do những nguyên nhân không chỉ phụ thuộc vào nhà nớc;
- Dân chủ pháp quyền, bản chất của nó là ở chỗ ý chí chung (quyền lực), đợc hình
thành nên một cách dân chủ, của nhân dân đợc thực hiện trong cuộc sống trong khuôn khổnghiêm ngặt của pháp luật vật chất và pháp luật tố tụng Ngày nay ở nhiều nớc trên thực tế
đang hớng tới việc xây dựng một chế độ chính trị nh vậy
Trang 37Khi xem xét hình thức nhà nớc không thể không nhắc đến hình thái Xô Viết trong việc
tổ chức nhà nớc Cho dù có đánh giá thế nào chăng nữa, thì đó cũng đã là một cái mốc tronglịch sử tổ chức nhà nớc mà khoa học không thể bỏ qua Thậm chí cả những kinh nghiệmkhông thành công, thất bại của nó cũng cần phải biết để không thực hiện những sai lầm tơng
tự Tổ chức nhà nớc Xô Viết đã đợc sao bản với sự cải biến khác nhau ở ít nhất là 15 nớc và đã
có ảnh hởng lên tính chất của nhà nớc tại nhiều nớc đang phát triển Bản chất của nó là ở dạnghoàn chỉnh, bởi lẽ nó đã bắt đầu với ý tởng tự quản nhân dân, sự thống nhất của quyền lực nhànớc trên cơ sở nguyên tắc tập trung quan liêu Điều này giải thích cả những thành tựu, sựphát triển tích cực ban đầu của nó, bởi lẽ sự tập trung quyền lực trong tay đã cho phép huy
động tối đa những nguồn lực của đất nớc cho những mục tiêu nhất định, cũng nh những thấtbại và tan vỡ cuối cùng, bởi chính sự tập trung quyền lực này đã chỉ có thể đợc duy trì bằngcác phơng tiện chuyên quyền, trấn áp tự do Mà sự trấn áp tự do, đến lợt nó, đã làm tê liệt tiềmnăng con ngời, giết chết sự hứng thú, sáng kiến và sáng tạo của con ngời Đã xuất hiện mộtvòng luẩn quẩn, mà để phá vỡ nó chỉ có thể trả giá bằng sự tan rã của lực lợng sản xuất Mộtbài học đáng để không bao giờ quên
Trong mỗi nhà nớc vào mỗi thời điểm lịch sử tồn tại của nó đều có sự kết hợp các kiểuhình thái khác nhau của việc tổ chức nhà nớc Do vậy, cần phải có sự hiểu biết cụ thể về các
đặc trng của hình thái nhà nớc, mà chỉ có sự hiểu biết này mới có khả năng tạo ra những tiền
đề cấu trúc tơng ứng cho sự nhận thức bản chất của quản lý nhà nớc trong nhà nớc đó Cũngcấp thiết nh thế là các tiền đề về nội dung, vốn đem lại sự hiểu biết về các chức năng xã hộicủa nhà nớc
2.3- các chức năng xã hội của nhà nớc
Bản chất của nhà nớc đợc khám phá và hiện thực hoá trong mối tơng tác với xã hội là ởchỗ nhà nớc làm cái gì và làm nh thế nào trong việc trật tự hoá và hoàn thiện sinh hoạt đờisống cá nhân, tập thể và xã hội của con ngời Sự “chìm ngập“ này của nhà nớc vào xã hội đợcbiểu thị đặc tính qua khái niệm “chức năng của nhà nớc” Từ “chức năng” có nguồn gốc từtiếng La tinh functio, vốn ám chỉ sự thừa hành, nghĩa vụ, phạm vi hoạt động Đã biết sự biểuthị của I V Gete: “Chức năng- đó là sự tồn tại đợc t duy bởi chúng ta trong hành động” Tấtnhiên, chức năng là mối quan hệ mà qua đó phía này- trong trờng hợp này là nhà nớc- “giót”,chuyển bản chất của mình (sức mạnh, tiềm năng) vào phía khác- xã hội ở đây chính là nói vềcác chức năng xã hội của nhà nớc, bởi vì nhà nớc ở ngoài mối tơng tác với xã hội thì sẽ mấthết ý nghĩa, mà bản chất xã hội của nhà nớc cũng đợc nhận thấy thông qua các chức năng này.Việc phân tích các chức năng xã hội của nhà nớc cho phép nhìn thấy sự tồn tại hiện thực củanhà nớc
Có thể chia ra một số chức năng xã hội của nhà nớc, vốn là thuộc tính đối với nhà nớctrong giai đoạn hiện nay
Trớc hết, đó là chức năng đảm bảo tính toàn vẹn và khả năng duy trì của cái xã hội
mà nhà nớc này có t cách nh là hình thái của nó Có thể gọi chức năng này là chức năng chính
trị, bởi lẽ mục tiêu cuối cùng của chính trị với ý nghĩa khách quan tựu trung ở việc tạo ra
những điều kiện cho sự phát triển bình an và hài hoà của xã hội Nhà nớc đã xuất hiện nh là sự
cố gắng khắc phục sự chia rẽ, bất đồng, đấu tranh trong xã hội, giải quyết những mâu thuẫntrong khuôn khổ của luật
Nhng cho đến nay nhiều lực lợng chính trị vẫn xem nhà nớc nh là đồng xu lẻ khi đã đạt
đợc những lợi ích ích kỷ của mình Vì vậy, ngay khi nắm đợc quyền lực họ liền hớng quyềnlực ấy vào việc đoạn tuyệt với vai trò xã hội và đàn áp những ngời đối lập của mình, và thờngkhông tính đến ý kiến của phe đối lập và thiểu số Phe đối lập và thiểu số, vốn đã bị yếu thế,
tổ chức sự đối đầu, huy động những khả năng của mình và qua một thời gian nào đó làm thay
đổi tình thế theo hớng có lợi cho mình Những “cái đu”đặc biệt nh vậy thờng xuyên đem đếncho xã hội sự căng thẳng và làm sao nhãng sự sáng tạo của xã hội
Thêm nữa, từ lâu đã biết, và ngời ta đã viết không ít về điều này, kể cả vào đầu thế kỷ
XX, rằng “bản thân nhà nớc hiện đại dựa trên sự thoả hiệp, và hiến pháp của mỗi nhà nớcriêng biệt là một sự thoả hiệp làm hoà dịu những khát vọng khác nhau của các nhóm xã hội có
ảnh hởng nhất trong nhà nớc đó” [Kistiankovxki B A Bảo vệ pháp luật (trí thức và ý thứcpháp luật)// Các cột mốc Trí thức ở nớc Nga: Tập hợp các bài báo (năm 1909-1910) M.,
1991 Tr 118] Nhà nớc là thành tựu của toàn xã hội, và nó không thể và không nên chỉ đitheo lợi ích của những ngời này, trong khi bỏ qua lợi ích của những ngời khác Quên điều này
Trang 38và biến nhà nớc thành công cụ cỡng chế (và thắng lợi) của một bộ phận xã hội này đối với bộphận khác, tất yếu sẽ làm suy yếu nhà nớc, cắt đứt các mối liên hệ của nó với xã hội, thì sớmhay muộn cũng sẽ phá huỷ nó Kinh nghiệm cho thấy rằng tình trạng tốt nhất của xã hội là khihoà bình, sự bình yên, hợp tác, sáng tạo xây dựng ngự trị trong xã hội Và nếu nh nhà nớckhông duy trì tình trạng tơng tự nh thế của xã hội, mà lại cho phép các lực lợng chính trị nàyhay các lực lợng chính trị khác khuấy động, phá vỡ, xô đẩy vào các cuộc sung đột, ấy là chanói đến các cuộc chiến tranh sắc tộc hay nội chiến, thì tất nhiên nó không hoàn thành chứcnăng xã hội quan trọng nhất của mình, không biện minh đợc cho sự tồn tại của mình Trongtình thế nh vậy thì nói chung khó có thể nói về sự quản lý nhà nớc nào đó.
Chức năng cấp thiết của nhà nớc tiếp theo là bảo đảm các quyền và tự do của mỗi ngời
và mỗi công dân trên toàn lãnh thổ của mình Bởi lẽ chính vì điều này mà con ngời tạo lập ra
nhà nớc và ủng hộ nó về tinh thần và vật chất Nhà xã hội học tha phơng ngời Nga I A Ilinvào những năm 30 của thế kỷ XX- thời đại khủng bố trên quê hơng ông- đã viết: “Thiên chứccủa nhà nớc là ở chỗ phải làm sao để trong mọi điều kiện đều quan hệ với mỗi công dân nh là
với một trung tâm sức mạnh tự do và sáng tạo về mặt tinh thần, bởi lẽ các tác phẩm và công trình của các trung tâm tinh thần này dệt nên tấm vải của đời sống nhân dân và đời sống nhà nớc Không ai có thể bị loại trừ ra khỏi hệ thống nhà nớc bảo vệ, chăm sóc và trợ giúp; và
đồng thời tất cả đều phải có cơ hội làm việc và sáng tạo theo sáng kiến tự do, sáng tạo của
mình (tác giả viết nghiêng- G A) [Ilin I.A Con đờng đi đến sự hiển nhiên M., 1993 Tr.
266]
Hiển nhiên rằng tự do của con ngời đợc thực hiện trong xã hội, trong sự giao tiếp vàhợp tác của con ngời Tự do đợc điều chỉnh bởi gía đình, sở hữu, đạo đức, pháp luật, các thểchế xã hội khác (truyền thống, tập quán, tôn giáo), mà tổng hoà lại cùng tạo nên môi trờngsinh hoạt con ngời Nhng không nghi ngờ rằng những ngời khác nhau thì cũng sử sụng cùngmột môi trờng này để đạt đợc những mục tiêu khác nhau, trong đó kể cả các mục tiêu có ý đồ
độc ác Chỉ có ngời duy tâm ngây thơ mới không nhìn thấy điều này Trong những trờng hợp
nh vậy, chỉ có quyền lực của xã hội (nhà nớc) mới có khả năng đảm bảo rằng tự do sẽ đợc gìngiữ, đợc bảo vệ, sẽ trở nên bền vững và đáng tin cậy Đến cuối thế kỷ XX, đa số các nền dânchủ công nghiệp đã khẳng định bằng pháp luật quốc gia sự thừa nhận toàn bộ các quyền và tự
do của con ngời đợc đa ra bởi các bản tuyên ngôn thế giới
Thêm vào đó, thực tiễn hàng ngày của chính các quốc gia này đang chứng minh rằnggiữa sự quy định pháp lý về các quyền và tự do của con ngời và việc thực hiện thực tế cácquyền và tự do đó đang có một khoảng cách rất lớn Cho đến nay cuộc sống của con ngời vẫn
bị đe doạ bởi các mối nguy hiểm thờng xuyên và thờng bị chấm dứt bởi bàn tay tội phạm Tộiphạm có tổ chức đã trở thành hiện tợng toàn cầu Các quyền và tự do khác của con ngời cũng
bị xâm hại, nói chung là dễ dàng và không bị trừng phạt
Sau đó, khi đặt ra vấn đề về chức năng xã hội của nhà nớc, thì nội dung của chức năngnày không kết thúc bởi việc tuyên bố và bảo vệ các quyền và tự do của con ngời Nội dungnày rộng hơn và phức tạp hơn nhiều: đây là nói đến việc tạo ra tất cả những điều kiện đa dạngcho sự tái sản xuất và phát triển của con ngời, bắt đầu từ việc sinh sản các thế hệ mới, đào tạo
và giáo dục họ, và kết thúc ở việc giữ gìn ký ức về những tiền bối đã chết; hình thành nênkhông gian xã hội-văn hoá thuận lợi cho sự hiện thực hoá tự thân của mỗi con ngời, chứkhông phải chỉ những ngời đợc lựa chọn; khuyến khích sự tăng trởng sáng tạo của con ngời và
sử dụng tài năng và những năng lực của nó; thực hiện các nguyên tắc công bằng xã hội trongcuộc sống và nhiều cái khác Tự do của con ngời trong xã hội dù có lớn đến đâu cũng vẫnluôn luôn phải giữ gìn cái sợi chỉ vốn liên kết con ngời với nhà nớc, biến nó thành công dân
và bằng cách đó tạo cho nó tính kiên định và lòng tin trong cuộc sống
Nửa sau thế kỷ XX đã làm thay đổi các mối quan hệ giữa nhà nớc và nền kinh tế thị ờng tự do Sự hình thành thị trờng thế giới, sự tăng cờng cạnh tranh trên cơ sở các công nghệcao, sự cần thiết phải phát triển tiềm năng con ngời nh là thành phần chủ yếu của lực lợng sảnxuất, việc mở rộng các mối nguy hiểm của những vua công nghệ và những cái khác, nhữnghoàn cảnh hoàn toàn mới của cuộc sống đã dẫn đến một điều là các nhà nớc đã bắt đầu đóngvai trò đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế của xã hội Gần nh ở mọi nơi đều nhận thấy sự xích lạigần nhau của các lợi ích toàn cầu của quốc gia dân tộc và doanh lợi dân tộc Nhà nớc hiện đạikhông giảm nhẹ, mà ngợc lại, tăng cờng chức năng kinh tế của mình, bao hàm ở việc tạo ra
Trang 39tr-những tiền đề tổ chức-pháp lý, vốn cần thiết cho hoạt động kinh tế trật tự và hiệu quả của xãhội.
Một nhà nghiên cứu từ Mỹ đã dành một công trình cơ bản cho những cải tạo trong kỷnguyên thông tin, xác nhận: “…để hiểu các mối quan hệ giữa công nghệ và xã hội, điều quantrọng là phải nhớ rằng vai trò của nhà nớc kìm hãm, tăng tốc hay dẫn dắt sự đổi mới côngnghệ, là yếu tố quyết định của toàn bộ quá trình phát triển, là yếu tố tổ chức và phản ánh bảnchất của các lực lợng xã hội và văn hoá, vốn đang chiếm u thế trong không gian và thời gian
đó” (tác giả nhấn mạnh- G A.) [Xem: Kastel M Kỷ nguyên thông tin: kinh tế, xã hội và vănhoá: Dịch từ tiếng Anh M.: Nxb GU BshE, 2000 Tr 35] Tiếc rằng ý tởng xác định nh vậy đãkhông thể nào thấu suốt đợc vào t duy của các nhà lãnh đạo các cơ quan nhà nớc Nga, và cảcác nhà chính trị
Mối liên hệ của nhà nớc và kinh tế đã đợc nhìn thấy từ lâu bởi những ngời gần nh đứngtrên lập trờng đối lập về t tởng Nhà bác học Nga, ngời theo chế độ quân chủ ngay từ đầu thế
kỷ XX đã viết rằng” hệ thống kinh tế thực sự, vững chắc của đất nớc chỉ có thể đợc xây dựngnên trên ý tởng phát triển các lực lợng sản xuất Đó là một hệ thống độc lập kinh tế của đất n-
ớc, của sự hoàn thành tất cả các lực lợng của nó, khai thác và chế biến, bổ sung hài hoà chonhau và kết quả là tạo ra một đất nớc tự đáp ứng đợc về kinh tế, ít nhất là trong giới hạn cầnthiết Theo ý nghĩa nội tại, hệ thống này hoàn toàn phù hợp với lý tởng độc lập, vốn xuyênsuốt các mục tiêu và ý nghĩa của nhà nớc nói chung” (tác giả nhấn mạnh- G A.) [Tikhomirov
L A Tác phẩm đã dẫn Tr 640] Nhng vào đầu thế kỷ XXI, mặc dù đã có một số lợng khổng
lồ các chứng cứ từ kinh nghiệm thực tế của bất kỳ quốc gia công nghiệp phát triển nào, vẫntìm thấy những ngời, nói riêng là giữ các cơng vị lãnh đạo nhà nớc, cho rằng kinh tế thị trờng,
đặc biệt là của thời kỳ quá độ, cần phải hoạt động không có sự can thiệp của nhà n ớc, không
có ảnh hởng có ý thức của nhà nớc lên cấu trúc và các cơ chế Hai cách tiệm cận hoà trộn:việc xác định chi tiết hoạt động kinh tế gần nh là thuộc mỗi ngời (là điều mà nền kinh tế kếhoạch tập trung đã cố thử làm) và việc hình thành không gian pháp lý, trong đó các nhu cầukinh tế, các lợi ích, mục tiêu, quy tắc, quy phạm, khuyến khích, chế tài, hành vi và hành động
đều đã đợc suy xét kỹ, đã đợc thực hiện bằng phơng thức hợp lý, đã đem lại hiệu quả xã hội,
đã hoà hợp các quan hệ con ngời- xã hội- thiên nhiên
Sự khủng hoảng môi trờng sống của con ngời, sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiênnhiên không thể hồi phục, sự suy thoái tinh thần của con ngời đang đa vào chơng trình nghị sựnhững hệ biến hoá mới của hành vi xã hội và kinh tế t nhân, mà việc nắm vững hành vi này sẽ
là không thể nếu bỏ qua nhà nớc, không dựa trên lợi ích chung của nhà nớc và ý chí chung.Cần phải tìm và sử dụng các cơ chế tơng tác của nhà nớc và nền kinh tế, vốn có thể loại bỏ
“tính độc quyền” của nhà nớc và tình trạng vô chính phủ của thị trờng, và kết cục lại có thểtạo ra sự phát triển xã hội tối u
Cuối cùng, nhà nớc thực hiện chức năng xã hội thuộc tính chỉ của riêng nó nh duy trì
nền tự do, chủ quyền và sự tồn tại lịch sử của các dân tộc trên đất nớc mình trong khuôn khổ
cộng đồng thế giới Con ngời hiện thân trong nhân dân (dân tộc mình), các dân tộc- hiện thântrong mối tơng tác với các dân tộc khác Không hiểu vì lẽ gì, đôi khi ngời ta quên những hoàncảnh địa - chính trị, vốn xác định số phận của các dân tộc, những lợi ích dân tộc hàng thế kỷ.Nhờ có thuyết vũ trụ- chính trị của các phơng tiện thông tin đại chúng mà các định hớng, lý t-ởng, giá trị dân tộc đang bị xói mòn, đang xảy ra sự phơng tây hoá theo một khuôn mẫu, màkhi phân tích kỹ càng thì khuôn mẫu này tỏ ra rất vụ lợi và trói buộc vào những lợi ích cụ thể
Qua kết quả nghiên cứu lịch sử 200 năm của Hoa Kỳ và so sánh nó với lịch sử của cácdân tộc khác, Schlesinger (Jr) đã đi đến kết luận có ý nghĩa tổng hợp: “Raisons d’etat (có thểdịch là các cơ sở của nhà nớc), chứ không phải động thái phát triển của chủ nghĩa t bản đã dẫn
đến khát vọng của Mỹ muốn có ảnh hởng trên thế giới…” Và tiếp theo: “Các động cơ chính
trị và chiến lợc, sự hùng mạnh dân tộc và an ninh dân tộc (tác giả nhấn mạnh-G.A.) có sức
sống và sức mạnh riêng của mình không lệ thuộc vào các hệ thống t tởng và sở hữu” [Xem:Schlesinger A M (Jr) Các chu trình của lịch sử Mỹ: Dịch từ tiếng Anh M., 1992 Tr 688].Một dân tộc nhất định đã giành đợc lãnh thổ này hay lãnh thổ khác và các vùng lân cận theonơi phân bố của nó do hậu quả của những cuộc cuồng say phức tạp, thờng khi là bi kịch, tronglịch sử Việc làm lại lãnh thổ và cải thiện tình trạng địa lý hôm nay là rất đẫm máu và nhữngtổn hại khổng lồ về vật chất Vì thế nhà nớc có bổn phận thực hiện chức năng đối ngoại củamình với những xuy tính chiến lợc, biết xây dựng các mối tơng giao theo tất cả chu vi các đ-
Trang 40ờng biên giới của mình, duy trì và củng cố sự hợp tác với thật nhiều quốc gia tới mức có thể,bằng mọi cách tạo khả năng phát triển các cơ cấu quốc tế vì hoà bình và sự bình yên trên quymô toàn cầu và khu vực Cũng thể hiện rõ sự lệ thuộc giữa nội dung và thực tế thực hiện chứcnăng đối ngoại của nhà nớc và những thành tựu trong việc thực hiện chức năng đối ngoại của
nó Chính là tình hình quốc tế thuận lợi sẽ tạo ra những điều kiện cho sự phát triển sáng tạocủa bất kỳ nhà nớc nào
2.4- chính sách nhà nớc trong xã hội công dân
Sự biểu thị tập trung “bản chất của nhà nớc” đợc thể hiện trong chính sách do nhà nớc
tiến hành- tổng thể các mục tiêu và nhiệm vụ đợc thực hiện thực tế bởi nhà nớc và các phơngtiện đợc sử dụng trong quá trình đó ý nghĩa của chính sách nhà nớc tiên định rất nhiều về nộidung và công nghệ quản lý nhà nớc Tuy nhiên, bản thân chính sách nhà nớc đợc hiểu khácnhau, là điều liên quan với tơng quan và sự khác biệt giữa nhà nớc và xã hội Không hiếm khi
có sự chuyển các hiện tợng từ một cấp độ này sang cấp độ khác, mà kết quả là chúng mất đinhững đặc trng riêng của mình
Xã hội công dân- đó là lĩnh vực sinh hoạt tự do, sáng tạo của cá nhân, tập thể và của
cộng đồng con ngời Sự đa dạng của các quan điểm và cách tiệm cận, các động cơ và lợi ích,
sự cá nhân hoá tối đa các hình thức giao tiếp và ứng xử trong xã hội công dân không chỉ là
đ-ợc phép, mà còn là cần thiết, mong muốn Chỉ có sự tự biểu hiện đầy đủ, tất nhiên là sángsuốt, của mỗi con ngời mới tạo ra trong xã hội một tiềm năng bảo đảm sự phát triển năng
động của xã hội Vì thế, tính đa nguyên tồn tại trớc hết trong xã hội công dân Chính trong xãhội này các lực lợng chính trị đa dạng đợc kêu gọi hoạt động, mà chủ yếu bằng con đờng tiếpxúc theo chiều ngang, thoả thuận, kiềm chế, hiểu biết lẫn nhau vv… các lực lợng chính trị nàyphải đạt đợc các mục tiêu của mình Chế độ đa nguyên đợc thực hiện trong các giới hạn củaxã hội công dân, trong khuôn khổ của nó và bằng các phơng thức đặc thù cho các mối tơngtác văn minh giữa những con ngời Vai trò đặc biệt ở đây thuộc về sự hoà đồng và thoả hiệpgiữa các lực lợng chính trị khác nhau vì những giá trị xã hội căn bản, cho dù đợc hiểu theocách khác nhau
Khác với xã hội công dân, nơi mà có bao nhiêu con ngời và bao nhiêu liên hiệp của họthì cũng có bấy nhiêu lợi ích và các phơng thức thể hiện lợi ích, nhà nớc là duy nhất và thốngnhất, thể hiện mình, nh đã nói, là cái “khung đỡ” và đồng thời là hình thái (“cái đai thùng”)của xã hội Vì thế trong nhà nớc không thể có nhiều chính sách, “sự lôi kéo” từ một hớng nàysang hớng khác, “phụng sự” lúc thì cho các lực lợng này, lúc thì cho các lực lợng khác Các
định hớng chiến lợc là cơ sở của chính sách nhà nớc, nếu không thì đó không còn là chínhsách nhà nớc Hơn nữa, chỉ trong các khuôn khổ và thủ tục phù hợp và đợc củng cố bởi nhà n-
ớc thì mới tồn tại không gian có tính xây dựng cho những va chạm của các t tởng và quan
điểm chính trị, làm sáng tỏ và so sánh các lập trờng và chơng trình chính trị, không gian rộnglớn cho tuyên truyền và thu hút cử tri về phía mình Trong nhà nớc, điều quan trọng là lợi íchchung (hoặc liên kết) và ý chí của đa số công dân Có thể có bất kỳ ý kiến nh thế nào củamình đối với những mệnh lệnh mang tính nhà nớc-pháp luật, từ tiêu cực cho đến tích cực, nh-
ng một khi chúng đã đợc đa ra thì chỉ đơn giản là cần phải tuân theo
Từ đây mà có tính cấp thiết tối đa của chính sách nhà nớc, vốn cần đợc củng cố bằngcác cơ cấu nhà nớc-pháp luật, phải đợc biết đến và dễ hiểu đối với xã hội Có lúc, khi tổng kếtkinh nghiệm nhiều thế kỷ của sự phát triển nhân loại, K Popper đã viết: “Chúng ta cần phảihiểu rằng tất cả các vấn đề chính trị xuy đến cùng đều mang đặc trng chế định (tác giả nhấn
mạnh- G.A.), rằng vì thế trong chính sách sự thể thức hoá pháp lý các vấn đề chính trị quantrọng nh thế nào thì các ý kiến cá nhân cũng quan trọng nh vậy, và rằng sự tiến bộ trên con đ-ờng tới bình đẳng chỉ có thể đợc đảm bảo nhờ sự kiểm soát chế định đối với quyền lực”.[Popper K Xã hội mở và các kẻ thù của nó: Dịch từ tiếng Anh M., 1992 T 2 Tr 189]
Về mặt lý tởng, chính sách nhà nớc là sự tổng hợp tối u các khuynh hớng khách quancủa sự phát triển xã hội và những xét đoán chủ quan chiếm u thế của con ngời về các lợi íchcủa mình trong đó Với ý nghĩa nhất định, chính sách nhà nớc cách biệt với chính sách củacác lực lợng chính trị cụ thể, thậm chí là vào lúc nào đó chiếm đa số trong các cơ quan đạidiện quyền lực Thứ nhất, cần phải làm sao cho phe thiểu số cũng cùng chia sẻ chính sách nàyvới mức độ nào đó, nếu không sẽ gặp những khó khăn không thể khắc phục khi thực hiệnchính sách Thứ hai, chính sách nh vậy cần phải trở nên đủ chắc chắn, ổn định, có triển vọng