1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

5 bài văn học trung đại lớp 9

29 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương trong “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ
Tác giả Nguyễn Dữ
Trường học Đại học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Hà Nội
Chuyên ngành Văn học trung đại
Thể loại bài văn cảm nhận
Năm xuất bản XVI
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 486,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chào các bạn, sau đây là bộ tài liệu văn mẫu cảm nhận phân tích về 5 bài văn học trung đại lớp 9. Bộ tài liệu này rất đầy đủ và đặc sắc. Cảm ơn các bạn đã đón nhận. Chúc các bạn học tốt Chin cảm ơn các bạn rất nhiều....

Trang 1

Đề bài: Cảm nhận của em về nhân vật Vũ Nương trong “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn

Dữ

Bài làm

Nguyễn Dữ là nhà văn tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam thế kỉ XVI Ông là người học rộng tài cao, nhưng sống ẩn dật, thanh khiết Tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” là một trong những truyện hay nhất của tập “ Truyền kì mạn lục” Trong truyện nhân vật Vũ Nương hiện lên là người phụ nữ dưới chế độ phong kiến

có vẻ đẹp toàn diện nhưng cuộc đời bi kịch đắng cay

Nguyễn Dữ viết tác phẩm này vào thế kỉ XVI khi nhà Lê đã bắt đầu khủng hoảng, các tập đoàn phong kiến Lê

- Trịnh - Mạc tranh giành quyền bính gây ra các cuộc nội chiến kéo dài Lúc này đời sống nhân dân vô cùng bi thảm, đáng thương hơn cả là những người phụ nữ Tập “ Truyền kì mạn lục” được coi là một áng "thiên cổ kì bút", nhằm khẳng định vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ và bày tỏ niềm cảm thương sâu sắc với số phận oan nghiệt của họ dưới chế độ xã hội phong kiến xưa

Trong truyện Vũ Nương hiện lên là người phụ nữ có vẻ đẹp toàn diện, đẹp người đẹp nết Trước hết nàng đẹp ở tư dung Nguyễn Dữ chỉ nhận xét Vũ Nương rằng “ tính đã thùy mị nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp” Cách nói gợi hình dung về nhan sắc mặn mà đằm thắm của Vũ Nương Không chỉ có vẻ đẹp nhan sắc, Vũ Nương còn đẹp ở nhân cách phẩm giá Khi đi lấy chồng, với chồng , Vũ Nương là người vợ thương yêu, thủy chung tình nghĩa

và có tấm lòng nhân hậu vị tha Biết chồng có tính hay ghen, nàng cư xử dịu dàng, nhường nhịn, “ luôn giữ gìn

khuôn phép” để gia đình trong ấm ngoài êm Trương Sinh phải tòng quân đi lính ở xa, nàng chỉ thiết tha với mong

ước nhỏ nhoi trong lời dặn dò đầy tình nghĩa: “thiếp chẳng mong đeo được ấn phong hầu chỉ mong ngày về mang theo hai chữ bình yên” Với nàng sự bình yên của chồng là quan trọng nhất, vinh hoa bổng lộc nào có nghĩa lý gì Nàng còn cảm thông cho nỗi vất vả gian lao mà chồng phải chịu đựng “ chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường, giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao” Vũ Nương cũng bày tỏ nỗi nhớ nhung khắc khoải của mình “ nhìn trăng soi thành cũ, trông liễu rủ bãi hoang lại thổn thức tâm tình nhớ người đẩt thú” Chồng đi xa,

nàng đã thay chồng báo hiếu mẹ, ăn ở không để ai chê trách gièm pha Vì thủy chung ,tình nghĩa nên cách biệt ba

năm vẫn “ giữ gìn một tiết”, “tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng”, “ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót” Nàng

chỉ bóng mình trên vách là để nguôi lòng cả nỗi nhớ cha của con, cả nỗi nhớ vợ chồng Khi Trương Sinh trở về nghi oan vợ,Vũ Nương đã phân trần để chồng hiểu rõ nỗi lòng mình, nàng khẳng định tấm lòng thủy chung trong trắng và tha thiết xin chàng đừng nghi oan Nàng đã hết lòng hàn gắn hạnh phúc gia đình có nguy cơ tan vỡ

Trong gia đình Vũ Nương là người con dâu rất hiếu thảo, lễ nghĩa Chồng chinh chiến xa nhà, Vũ

Nương thay chồng phụng dưỡng mẹ chồng, nuôi con nhỏ chu đáo vẹn toàn Vũ Nương quý mẹ chồng chẳng khác

gì mẹ đẻ Mẹ chồng ốm bệnh Vũ Nương thay chồng hết sức thuốc thang , lễ bái thần phật, chăm sóc miếng cơm miếng cháo”, ngọt ngào khôn khéo để khuyên lơn Khi mẹ mất việc tang chay tế lễ nàng lo liệu chu toàn Như thế

nàng đối với mẹ chồng đâu chỉ bằng trách nhiệm mà còn bằng tình thương Lời trăng trối của mẹ chồng trước khi

nhắm mắt “ xanh kia quyết chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ” là cách đánh giá thật chính xác và khách

quan Bà đã khẳng định công lao, đức hạnh và phẩm chất hiếu thảo của con dâu mình Để hiếu thảo với mẹ chồng

nếu chỉ giàu lòng yêu thương và trách nhiệm thôi chưa đủ, Vũ Nương còn phải đảm đang tháo vát lắm, Trương Sinh

ra trận gánh nặng gia đình đặt cả lên vai Vũ Nương Nàng vừa phải làm vợ, làm mẹ, làm dâu vừa phải gánh vác giang sơn nhà chồng, Tất cả những công việc lớn bé ấy, một tay nàng sắp đặt đảm đang tháo vát đến vô cùng Sự hiếu thảo của Vũ Nương với mẹ chồng khiến ta nhớ đến nhân vật Thúy Kiều trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du – một cô gái sẵ sang bán thân mình để cứu cha và em Có thể nói rằng tấm lòng thủy chung hiếu thảo là nét phẩm chất chung của những người phụ nữ trong XHPK Họ đáng để chúng ta trân trọng và yêu thương

Nàng còn là người mẹ đảm đang tháo vát đó còn hết lòng yêu thương con Một mình nuôi con thơ

khi vắng chồng nên nàng muốn dành trọn cho con tình yêu thương của người mẹ và của cả người cha Nàng muốn con lớn lên có cả tình mẹ và nghĩa cha, muốn khỏa lấp nỗi trống vắng bóng hình người cha trong lòng con trẻ nên mới chỉ bóng mình trên vách và bảo rằng đó là cha

Con người thủy chung tình nghĩa ấy dù sau khi tự vẫn, không còn ở cõi nhân gian, sống ở thủy cung sung sướng vẫn hướng lòng về chồng con, gia đình, quê hương, xứ sở Vũ Nương không một lời hờn

trách, oán giận chồng Nghe Phan Lang nhắc đến chàng Trương tình cảnh sầu thảm, nàng đã ứa nước mắt khóc và

nói “tôi tất phải tìm về có ngày” Tấm lòng vị tha bao dung ấy chỉ có ở người phụ nữ Việt Nam Nàng khát khao được phục hồi danh dự Khi Trương Sinh lập đàn giải oan, nàng cảm kích nhưng đã thề sống chết cũng không bỏ Linh Phi Vũ Nương là người sống ân nghĩa, trước sau như một Tóm lại, trong câu chuyện Vũ Nương là người phụ

nữ xinh đẹp nết na hiền thục đảm đang tháo vát, rất mực hiếu thảo, một dạ thủy chung với chồng, vị tha bao dung

và sống có tình nghĩa Nàng đã hội tụ đầy đủ vẻ đẹp của người phụ nữ xưa và nay “ công, dung, ngôn, hạnh”

Một thiếu phụ đẹp người đẹp nết như thế trong xã hội bình thường phải được hưởng hạnh phúc

nhưng sống dưới xã hội phong kiến xưa, cuộc đời Vũ Nương vô cùng bất hạnh đắng cay.Trước hết nàng là nạn nhân của chế độ hôn nhân phong kiến Cuộc hôn nhân của nàng đâu có xuất phát từ tình yêu mà “ Trương

Sinh xin với mẹ trăm lạng vàng để cưới về ” Chính vì vậy nàng lấy phải người chồng không tương xứng Vũ

Trang 2

Nương là người phụ nữ đẹp người đẹp nết, chỉ vì nhà nghèo mà phải chấp nhận lấy một người chồng đa nghi vô

học và hay ghen Nàng còn là nạn nhân của chiến tranh phong kiến phi nghĩa Đời làm vợ “ sum họp chưa

thỏa”, “đã chia phôi vì động việc lửa binh” Trương Sinh ra trận Vũ Nương phải sống cảnh vợ trẻ xa chồng Những

ngày ở nhà Vũ Nương chờ đợi ngóng trông chồng như nàng Vọng Phu Cuộc sống của Vũ Nương đầy những lo toan vất vả phiền muộn Ở nhà nàng vừa khắc khoải nhớ thương vừa lo làm lụng sớm khuya nuôi con nuôi mẹ Gánh nặng gia đình cùng bao nhiêu nỗi gian nan vất vả trút cả lên đôi vai bé nhỏ yếu đuối của nàng Mẹ già đau yếu rồi mất Con thơ ngây bé dại Vũ Nương một thân một mình chẳng ai đỡ đần sẻ chia trăm công nghìn việc

Hơn nữa người đọc càng thương cảm hơn khi thấy nàng chính là nạn nhân của tư tưởng nam quyền độc đoán trong xã hội phong kiến Nỗi đau khổ lớn nhất của nàng là bị nghi oan thất tiết Mong mỏi của cả đời nàng chỉ là

thú vui “nghi gia nghi thất” Nàng gắng sức đi qua nhọc nhằn vất vả để đợi mong một ngày hội ngộ, gia đình đoàn

tụ ấm êm Sau ba năm đợi chờ Trương Sinh trở về bình yên đúng như ước nguyện Nhưng oái oăm thay lúc chàng Trương trở về cũng chính là lúc nàng bị kết tội mà không được giải thích lí do, oan ức mà không thể thanh minh Trương Sinh lạnh lùng tàn nhẫn: mắng nhiếc, đánh đập, xua đuổi bỏ ngoài tai những lời phân trần của vợ , không tin ai, cũng không nói ra duyên cớ để vợ có cơ hội được minh oan Bị bôi nhọ danh dự, nàng phải chọn cái chết để

chứng minh sự trong sạch của mình Nàng chỉ biết than kêu thống thiết: “kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, xin thần sông chứng giám cho nỗi oan khuất Vũ Nương

chết vì tuyệt vọng uất ức và tủi hổ Cái chết của nàng đã nói lên số phận oan nghiệt và bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến

Chưa hết cuộc đời Vũ Nương bi kịch lại càng thêm bi kịch Trương Sinh đã lập đàn giải oan đúng

ba ngày đêm trên bến Hoàng Giang Vậy mà Vũ Nương chỉ hiện về và nói vọng vào từ giữa sông những lời nghẹn

ngào, chua xót, ngậm ngùi: “ Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa ”.Rồi trong chốc lát,

bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần rồi biến mất làm cho bi kịch càng thêm bi kịch Tính bi kịch của truyện tiềm

ẩn ngay trong cái lung linh kì ảo này Lễ giáo phong kiến khắt khe hẹp hòi không chấp nhận nàng Ước ao trở về

mà không thể trở về, khát khao hạnh phúc mà không thể nào có được hạnh phúc – đấy phải chăng là bi kịch của Vũ Nương cũng là bi kịch đau đớn nhất của kiếp người Điều đó tố cáo xã hội phong kiến sâu sắc Xã hội ấy không có chỗ cho những người thủy chung trong trắng như nàng để dung thân

Bi kịch ấy có nguyên nhân từ đâu? Ttừ người chồng vũ phu vô học ghen tuông mù quáng, độc đoán

chuyên quyền, từ tư tưởng trọng nam khinh nữ trong xã hội phong kiến xưa Vì trọng nam nên xã hội phong kiến

xưa đã tiếp tay cho hành động tăm tối mù quáng của Trương Sinh, dồn dẩy vợ đến chỗ chết mà vẫn vô can Vì

khinh nữ nên người phụ nữ dù xinh đẹp đức hạnh như Vũ Nương cũng không được bảo vệ Chiến tranh phong kiến

là nguyên nhân sâu xa dẫn đến bi kịch của Vũ Nương Bởi lẽ không có chiến tranh thì làm gì có chia li đau đớn Tóm lại Vũ Nương là người phụ nữ đức hạnh nhưng cuộc đời thật bất hạnh Sống trong xã hội phong kiến bất công,

Vũ Nương cũng như bao người phụ nữ khác – người con gái bình dân trong “Bánh trôi nước”, Thúy Kiều, Đạm Tiên trong “Truyện Kiều” đều phải sống long đong, trôi dạt, phải tìm đến cái chết giải nỗi oan ức, phải thoát khỏi cuộc đời đầy khổ đau ở chốn nhân gian Đại thi hào Nguyễn Du đã khái quát về cuộc đời, thân phận người phụ nữ bằng tiếng kêu đầy ai oán:

“ Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”

Nhân vật Vũ Nương hiện lên sinh động nhờ đặc sắc nghệ thuật Đó là nghệ thuật dựng truyện giàu

kịch tính với những chỗ thắt nút mở nút bất ngờ mà vẫn hợp lí, cách dẫn dắt tình tiết hợp lí Truyện thành công với nghệ thuật miêu tả nhân vật thông qua lời nói đối thoại, lời tự bạch Ngôn ngữ đối thoại góp phần quan trọng vào việc khắc họa tính cách nhân vật Kết hợp yếu tố hiện thực và hoang đường kì ảo, tự sự và tữ tình đã hoàn thiện thêm phẩm chất và số phận của Vũ Nương Nhà văn với tấm lòng đồng cảm và sự thấu hiểu sâu sắc đã ngợi ca phẩm giá của người phụ nữ, lên án chế độ nam quyền và chiến tranh phong kiến phi nghĩa, bênh vực và kêu cứu cho quyền sống hạnh phúc của con người Những yếu tố đó góp phần tạo nên giá trị nhân đạo sâu sắc cho tác phẩm “Chuyện người con gái nam xương”là một áng văn hay thành công về mặt dựng truyện ,khắc hoạ nhân vật ,kết hợp tự sự và trữ tình, hiện thực và lãng mạn Truyện đã khơi gợi trong lòng người đọc không ít những tình cảm đẹp Nó khiến ta thêm cảm phục trước tài năng của nhà văn, thêm trân trọng, yêu mến những người phụ nữ trong XHPK Từ một chiếc bóng oan khiên tác phẩm đã gợi ra biết bao điều chúng phải suy ngẫm về đạo vợ chồng,về cách hành xử trong cuộc sống, về nhân cách, về cuộc đời con người Và có lẽ cũng chính vì thế mà sau bao thăng trầm của lịch sử, “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ vẫn còn mãi trong lòng bạn đọc

Trang 3

Đề 2: Trình bày cảm nhận của em về vẻ đẹp của nhân vật Vũ Nương trong đoạn trích sau:

“ Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương, tính đã thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp Trong làng

có chàng Trương sinh, mến vì dung hạnh, xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về Song Trương có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức Nàng cũng giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hòa Cuộc sum vầy chưa được bao lâu thì xảy ra việc triều đình bắt lính đi đánh giặc Chiêm Trương tuy con nhà hào phú nhưng không có học, nên tên phải ghi trong sổ lính đi vào loại đầu Buổi ra đi mẹ chàng có dặn rằng:

-Nay con phải tạm ra tòng quân, xa lìa dưới gối Tuy hội công danh từ xưa ít gặp, nhưng trong chỗ binh cách, phải biết giữ mình làm trọng, gặp khó nên lui, lường sức mà tiến, đừng nên tham miếng mồi thơm để lỡ mắc vào cạm bẫy Quan cao tước lớn nhường để người ta Có như thế, mẹ ở nhà mới khỏi lo lắng vì con được Chàng quỳ xuống đất vâng lời dạy Nàng rót chén rượu đầy tiễn chồng rằng:

-Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường, giặc cuồng còn lẫn lút, quân triều còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chín quá kì, khiến cho tiện thiếp băn khoăn, mẹ hiền lo lắng Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu tàn

rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình, thương người đất thú! Dù có thư tín nghìn hàng, cũng sợ không có cánh hồng bay bổng

Nàng nói đến đây, mọi người đều ứa hai hàng lệ Rồi đó, tiệc tiễn vừa tàn, áo chàng đành rứt Ngước mắt cảnh vật vẫn còn như cũ, mà lòng người đã nhuộm mối tình muôn dặm quan san.”

(Chuyện người con gái Nam Xương – SGK Ngữ văn 9 tập 1)

Tham khảo

Tất cả mọi thứ trên thế gian này theo thời gian đều sẽ bị bào mòn và băng hoại chỉ có duy nhất nghệ thuật, mình nó không thừa nhận cái chết Có những tác phẩm dù trải qua bao nhiêu thế kỉ, qua sự thách thức của dòng đời, nó vẫn còn nguyên sức sống của mình “Chuyện người con gái Nam Xương” là một tác phẩm như thế Qua câu chuyện về cuộc đời và cái chết thương tâm của Vũ Nương, tác phẩm đã làm nổi bật vẻ đẹp và số phận đau thương của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến Đọc tác phẩm này và nhất là phần đầu của tác phẩm, người đọc sẽ cảm nhận được một cách rõ nét vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật Vũ Nương – nhân vật chính của

truyện

Nguyễn Dữ là nhà văn tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam thế kỉ XVI Ông là người học rộng tài cao, nhưng sống ẩn dật, thanh khiết Tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” là một trong những truyện hay nhất của tập “ Truyền kì mạn lục” , được người đời đánh giá là “thiên cổ kì bút”- cây bút kì diệu truyền tới ngàn đời Truyện được viết từ cốt truyện cổ tích “Vợ chàng Trương”, nhưng với ngòi bút tài năng của mình, Nguyễn Dữ đã sáng tạo nên “Chuyện người con gái Nam Xương” rất riêng, giàu giá trị và ý nghĩa Đoạn trích trên thuộc phần đầu tác phẩm, giới thiệu chung về Vũ Nương, cuộc hôn nhân của nàng và

kể lại việc Vũ Nương tiễn chồng đi lính với lời dặn dò thiết tha tình nghĩa, từ đó thể hiện nổi bật phẩm chất của

quát một cách đầy đủ và trọn vẹn vẻ đẹp tâm hồn của Vũ Nương, nàng không chỉ đẹp về hình thức bên ngoài

mà còn có một tâm hồn đẹp, ở nàng hội tụ đầy đủ cả công – dung – ngôn – hạnh.Và cũng bởi mến vì dung hạnh của nàng nên Trương Sinh đã xin mẹ trăm lạng vàng cưới về Chi tiết này càng tô đậm thêm vẻ đẹp của

Vũ Nương Nhưng điều đó có nghĩa là ngay ở phần đầu của tác phẩm, Nguyễn Dữ đã xây dựng giữa hai nhân vật này là một sự cách bức Nếu như Vũ Nương xinh đẹp nết na đức hạnh thì Trương Sinh lại có tính đa nghi Trương Sinh lại có cái quyền của một người đàn ông trong xã hội phong kiến Nam quyền, có quyền của nhà giàu đã phải bỏ trăm lạng vàng để cưới vợ Với sự cách bức như thế thì hẳn là cuộc sống của Vũ Nương sẽ gặp

rất nhiều khó khăn Hơn thế nữa, Trương Sinh với vợi lại luôn phòng ngừa quá sức nhưng Vũ Nương luôn giữa gìn khuôn phép, không từng để vợ chồng phải đến thất hòa Nếu không phải là một người phụ nữ khéo léo, tế

nhị thì hẳn là nàng sẽ không giữ được hòa khí trong gia đình như vậy

Không chỉ là một người phụ nữ xinh đẹp, nết na, đức hạnh , Vũ Nương còn là một người vợ yêu thồng, một người mẹ thương con và luôn khao khát hạnh phúc gia đình. Vẻ đẹp ấy của nàng được Nguyễn Du làm nổi bật khi Trương Sinh ra trận Trương Sinh và Vũ Nương cưới nhau chưa được bao lâu thì Trương Sinh phải ra trận bởi Trương Sinh tuy con nhà hào phú nhưng thất học nên phải đi lính vào buổi đầu

Lúc tiễn chồng ra trận, Vũ Nương đã rót chén rượu đầy mà rằng “Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong được đeo ấn hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ

Trang 4

rồi Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường.Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chín quá kì, khiến thiếp ôm nỗi quan hoài, mẹ già triền miên lo lắng.Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình, thương người đất thú! Dù có thư tín nghìn hàng,cũng sợ không có cánh hồng bay bổng.”Rõ ràng là trong lời nói của Vũ Nương

ta nhận ra tình cảm tha thiêt mà nàng dành cho chồng Nàng mong chồng trở về bình yên chứ không cần công danh hiển hách Nàng lo cho nỗi vất vả của chồng nơi chiến trận và dự cảm cả nỗi cô đơn trong những ngày vắng bóng chồng Nàng không một lời than vãn về những vất vả mà mình sẽ phải gánh vác Những lời nói của

Vũ Nương cảm động đến mức khiến cho những người xung quanh ai nấy đều ứa hai hàng lệ và có lẽ người đọc cũng không khỏi động lòng Rồi Trương Sinh ra trận ra trận, Vũ Nương ở nhà nhớ chồng da diết Nguyễn Dữ

cũng viết về nỗi nhớ ấy của nàng “Ngày qua tháng lại, thoắt đã nửa năm, mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi thì nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn được” Bằng một vài hình ảnh ước lệ tượng

trưng, Nguyễn Du đã diễn tả trọn vẹn nỗi nhớ triền miên, dai dẳng, ngày qua ngày, tháng qua tháng của Vũ Nương với người chồng nơi chiến trận của nàng Nàng vừa thương chồng, vừa nhớ chồng, vừa thương xót cho chính mình đêm ngày phải đối mặt với nỗi cô đơn vò võ Tâm trạng nhớ thương đau buồn ấy của Vũ Nương cũng là tâm trạng chung của những người chinh phụ trong mọi thời loạn lạc xưa nay:

"… Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời

Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu

Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong…"

(Chinh phụ ngâm)

Thể hiện tâm trạng ấy, Nguyễn Dữ vừa cảm thông với nỗi đau khổ của Vũ Nương, vừa ca ngợi tấm lòng thủy chung, thương nhớ đợi chờ chồng của nàng.Tấm lòng, tình yêu thương chồng của Vũ Nương khiến ta nhớ đến nhân vật chị Dậu trong tiểu thuyết “Tắt đèn” của nhà văn Ngô Tất Tố Dù chỉ là một người phụ nữ nông dân thấp cổ bé họng nhưng chị đã liều mạng để bảo vệ chồng Có thể nói rằng tấm lòng thủy chung son sắt, tình yêu thương dành cho chồng con chính là những nét chung đẹp đẽ trong tâm hồn của những người phụ nữ Việt Nam Vẻ đẹp ấy thật đáng trân trọng

Nhân vật Vũ Nương hiện lên sinh động nhờ nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Dữ

Nghệ thuật khắc họa tính cách nhân vật thông qua hành động lời nói kết hợp tài tình giữa tự sự và tữ tình ,cách

kể chuyện tự nhiên, chân thực, đoạn trích đã giúp người đọc cảm nhận được những nét đẹp tâm hồn ở nhân vật

Vũ Nương Nàng hiện lên không chỉ là là một người phụ nữ xinh đẹp, nết na, đức hạnh, khéo léo tế nhị biết nhún nhường mà còn là một người vợ thương chồng và thủy chung hết mực Xây dựng nhân vật này, Nguyễn

Dữ muốn gửi vào đó lời ngợi ca, trân trọng đối với những người phụ nữ trong xã hội xưa Và phải thực sự là một người luôn trân trọng và cảm thong với số phận và cuộc đời của họ, Nguyễn Dữ mới có được một tác

phẩm độc đáo đến như vậy

Đoạn trích nói riêng và tác phẩm “Chuyện người con gái nam xương” nói chung là một áng văn hay thành công về mặt dựng truyện ,khắc hoạ nhân vật ,kết hợp tự sự và trữ tình, hiện thực và lãng mạn Truyện đã khơi gợi trong lòng người đọc không ít những tình cảm đẹp Nó khiến ta thêm cảm phục trước tài năng của nhà văn, thêm trân trọng, yêu mến những người phụ nữ trong XHPK Từ một chiếc bóng oan khiên tác phẩm đã gợi ra biết bao điều chúng phải suy ngẫm về đạo vợ chồng,về cách hành xử trong cuộc sống, về nhân cách, về cuộc đời con người Và có

lẽ cũng chính vì thế mà sau bao thăng trầm của lịch sử, “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ vẫn

còn mãi trong lòng bạn đọc

Trang 5

Đề 4: Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương qua đoạn trích sau:

“ Chàng quỳ xuống đất vâng lời dạy Nàng rót chén rượu đầy tiễn chồng mà rằng:

- Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thể là đủ rồi Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chín quá kì, khiến cho tiện thiếp băn khoăn, mẹ hiền lo lắng Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trồng liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình, thương người đất thú! Dù có thư tín nghìn hàng, cũng sợ không có cảnh không bay bổng

Nàng nói đến đây, mọi người đều ứa hai hàng lệ Rồi đó, tiệc tiễn vừa tàn, áo chàng đành rứt Ngước mắt cảnh vật vẫn còn như cũ, mà lòng người đã nhuộm mối tình muôn dặm quan san!

Bấy giờ, nàng đương có mang, sau khi xa chồng vừa đẩy tuần thì sinh ra một đứa con trai, đặt tên là Đản Ngày qua tháng lại, thoắt đã nửa năm, mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi, thì nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn được, bà mẹ cũng vì nhớ con mà dân sinh ổm Nàng hết sức thuốc thang

lễ bái thần phật và lấy lời ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn, song bệnh tình mỗi ngày một trầm trọng, bà biết không sống được, bèn trối lại với nàng rằng:

- Ngắn dài có số, tươi héo bởi trời ( ) Sau này, trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ

Bà cụ nói xong thì mất, nàng hết lời thương xót, phàm việc và cay tế lễ, lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình."

Bài làm

Tất cả mọi thứ trên thế gian này theo thời gian đều sẽ bị bào mòn và băng hoại chỉ có duy nhất nghệ thuật, mình nó không thừa nhận cái chết Có những tác phẩm dù trải qua bao nhiêu thế kỉ, qua sự thách thức của dòng đời, nó vẫn còn nguyên sức sống của mình “Chuyện người con gái Nam Xương” là một tác phẩm như thế Đọc tác phẩm này và nhất là phần đầu của tác phẩm, người đọc sẽ cảm nhận được một cách rõ nét vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật Vũ Nương – nhân vật chính của truyện Vẻ đẹp của nàng được hiện lên rõ nét khi nàng khi tiễn chồng ra trận và trong những ngày Trương Sinh không có ở nhà

Nguyễn Dữ là nhà văn tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam thế kỉ XVI Ông là người học rộng tài cao, nhưng sống ẩn dật, thanh khiết Tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” là một trong những truyện hay nhất của tập “ Truyền kì mạn lục” , được người đời đánh giá là “thiên cổ kì bút”- cây bút kì diệu truyền tới ngàn đời Truyện được viết từ cốt truyện cổ tích “Vợ chàng Trương”, nhưng với ngòi bút tài năng của mình, Nguyễn Dữ đã sáng tạo nên “Chuyện người con gái Nam Xương” rất riêng, giàu giá trị và ý nghĩa Đoạn trích trên kể lại việc Vũ Nương tiễn chồng đi lính với lời dặn dò thiết tha tình nghĩa và những ngày đằng

đằng chờ chồng, chăm mẹ ốm đau, từ đó thể hiện nổi bật phẩm chất của nàng

Trước hết Vũ Nương còn là một người vợ yêu thồng, một người mẹ thương con và luôn khao khát hạnh phúc gia đình. Vẻ đẹp ấy của nàng được Nguyễn Du làm nổi bật khi Trương Sinh ra trận.Trương Sinh và Vũ Nương cưới nhau chưa được bao lâu thì Trương Sinh phải ra trận bởi Trương Sinh tuy con nhà hào phú nhưng thất học nên phải đi lính vào buổi đầu Lúc tiễn chồng ra trận, Vũ Nương đã rót chén rượu đầy mà

rằng “Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong được đeo ấn hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường.Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chín quá kì, khiến thiếp ôm nỗi quan hoài,

mẹ già triền miên lo lắng.Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình, thương người đất thú! Dù có thư tín nghìn hàng,cũng sợ không có cánh hồng bay bổng.”Rõ

ràng là trong lời nói của Vũ Nương ta nhận ra tình cảm tha thiêt mà nàng dành cho chồng Nàng mong chồng trở

về bình yên chứ không cần công danh hiển hách Nàng lo cho nỗi vất vả của chồng nơi chiến trận và dự cảm cả nỗi cô đơn trong những ngày vắng bóng chồng Nàng không một lời than vãn về những vất vả mà mình sẽ phải gánh vác Những lời nói của Vũ Nương cảm động đến mức khiến cho những người xung quanh ai nấy đều ứa hai hàng lệ và có lẽ người đọc cũng không khỏi động lòng Rồi Trương Sinh ra trận ra trận, Vũ Nương ở nhà

nhớ chồng da diết Nguyễn Dữ cũng viết về nỗi nhớ ấy của nàng “Ngày qua tháng lại, thoắt đã nửa năm, mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi thì nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn được” Bằng

một vài hình ảnh ước lệ tượng trưng, Nguyễn Du đã diễn tả trọn vẹn nỗi nhớ triền miên, dai dẳng, ngày qua ngày, tháng qua tháng của Vũ Nương với người chồng nơi chiến trận của nàng Nàng vừa thương chồng, vừa nhớ chồng, vừa thương xót cho chính mình đêm ngày phải đối mặt với nỗi cô đơn vò võ Tâm trạng nhớ thương đau buồn ấy của Vũ Nương cũng là tâm trạng chung của những người chinh phụ trong mọi thời loạn lạc xưa nay:

"… Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời

Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu

Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong…"

(Chinh phụ ngâm)

Trang 6

Thể hiện tâm trạng ấy, Nguyễn Dữ vừa cảm thông với nỗi đau khổ của Vũ Nương, vừa ca ngợi tấm lòng thủy chung, thương nhớ đợi chờ chồng của nàng

Cùng với tình yêu thương chồng con, Vũ Nương còn là một người con dâu hiếu thảo Xưa nay mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu rất phức tạp Người xưa thường nói:

Trời mưa ướt lá dai bì

Con mẹ, mẹ xót, xót gì con dâu!

Thế nhưng Vũ Nương đã hóa giả được những định kiến ấy Chồng xa nhà, nàng đã thay chồng phụng dưỡng

mẹ chu đáo Khi bà ốm nàng đã thuốc thang lễ bái thần phật và lấy những lời khôn khéo để khuyên răn để bà vơi bớt nỗi nhớ thương con Đến khi bà mất, nàng đã hết lời thương xót, ma chay tế lễ cẩn trọng hệt như với cha

mẹ đẻ của mình Cái tình ấy quả có thể cảm thấu cả trời đất cho nên trước lúc chết người mẹ già ấy đã trăng trối

những lời yêu thương, động viên, trân trọng con dâu “Sau này, trời xét lòng lành, ban cho phúc đức giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ lòng con như con đã chẳng phụ mẹ" Những lời nói của

bà cụ hơn hẳn ngàn vạn lời kể của nhà văn Nó một lần nữa chứng minh rằng Vũ Nương là một người con dâu hiếu thảo Sự hiếu thảo của Vũ Nương với mẹ chồng khiến ta nhớ đến nhân vật Thúy Kiều trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du – một cô gái sẵ sang bán thân mình để cứu cha và em Có thể nói rằng tấm lòng thủy chung hiếu thảo là nét phẩm chất chung của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến Họ đáng để chúng ta trân trọng

Tuy có phẩm chất đáng quý như vậy nhưng Vũ Nương có số phận thật đáng thương Đời làm vợ “

sum họp chưa thỏa”, “đã chia phôi vì động việc lửa binh” Trương Sinh ra trận Vũ Nương phải sống cảnh vợ

trẻ xa chồng Những ngày ở nhà Vũ Nương chờ đợi ngóng trông chồng như nàng Vọng Phu Cuộc sống của Vũ Nương đầy những lo toan vất vả phiền muộn Ở nhà nàng vừa khắc khoải nhớ thương vừa lo làm lụng sớm khuya nuôi con nuôi mẹ Gánh nặng gia đình cùng bao nhiêu nỗi gian nan vất vả trút cả lên đôi vai bé nhỏ yếu đuối của nàng Mẹ già đau yếu rồi mất Con thơ ngây bé dại Vũ Nương một thân một mình chẳng ai đỡ đần sẻ chia trăm công nghìn việc

Nhân vật Vũ Nương hiện lên sinh động nhờ nghệ thuật xây dựng nhân vật đặc sắc Nghệ thuật

khắc họa tính cách nhân vật thông qua hành động lời nói kết hợp tài tình giữa tự sự và tữ tình ,cách kể chuyện tự nhiên, chân thực, đoạn trích đã giúp người đọc cảm nhận được những nét đẹp tâm hồn ở nhân vật Vũ Nương Nàng hiện lên không chỉ là là một người phụ nữ xinh đẹp, nết na, đức hạnh, khéo léo tế nhị biết nhún nhường

mà còn là một người vợ thương chồng và thủy chung hết mực Xây dựng nhân vật này, Nguyễn Dữ muốn gửi

vào đó lời ngợi ca, trân trọng, cảm thông sâu sắc đối với những người phụ nữ trong xã hội xưa

Đoạn trích nói riêng và tác phẩm “Chuyện người con gái nam xương” nói chung là một áng văn hay thành công về mặt dựng truyện ,khắc hoạ nhân vật ,kết hợp tự sự và trữ tình, hiện thực và lãng mạn Truyện đã khơi gợi trong lòng người đọc không ít những tình cảm đẹp Nó khiến ta thêm cảm phục trước tài năng của nhà văn, thêm trân trọng, yêu mến những người phụ nữ Từ một chiếc bóng oan khiên tác phẩm đã gợi ra biết bao điều chúng phải suy ngẫm về đạo vợ chồng,về cách hành xử trong cuộc sống, về nhân cách, về cuộc đời con người

Và có lẽ cũng chính vì thế mà sau bao thăng trầm của lịch sử, “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn

Dữ vẫn còn mãi trong lòng bạn đọc

Trang 7

Đề 3: Phân tích nhân vật Vũ Nương trong đoạn trích sau:

Qua năm sau, giặc ngoan cố đã chịu trói, việc quân kết thúc Trương Sinh về tới nhà, được biết mẹ qua đời, con vừa học nói Chàng hỏi mồ mẹ, rồi bế đứa con nhỏ đi thăm; đứa trẻ không chịu, ra đến đồng, nó quấy khóc Sinh dỗ dành:

- Nín đi con, đừng khóc Cha về, bà đã mất, lòng cha buồn khổ lắm rồi

Đứa con ngây thơ nói:

- Ô hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít Chàng ngạc nhiên gạn hỏi Đứa con nhỏ nói:

- Trước đây, thường có một người đàn ông, đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả

Tính chàng hay ghen, nghe con nói vậy, đinh ninh là vợ hư, mối nghi ngờ ngày càng sâu, không có gì gỡ ra được

Về đến nhà, chàng la um cho hả giận Vợ chàng khóc mà rằng:

- Thiếp vốn con nhà kẻ khó, được nương tựa nhà giàu Sum họp chưa thỏa tình chăn gối, chia phôi vì động việc lửa binh Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót Đâu có sự mất nết hư thân như lời chàng nói Dám xin bày tỏ để cởi mối nghi ngờ Mong chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp

Chàng vẫn không tin Nhưng nàng hỏi chuyện kia do ai nói ra, thì lại giấu không kể lời con nói; chỉ lấy chuyện bóng gió này nọ mà mắng nhiếc nàng, và đánh đuổi đi Họ hàng làng xóm bênh vực và biện bạch cho nàng, cũng chẳng ăn thua gì cả Nàng bất đắc dĩ nói:

- Thiếp sở dĩ nương tựa vào chàng vì có cái thú vui nghi gia nghi thất Nay bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió; khóc tuyết bông hoa rụng cuống, kêu xuân cái én lìa đàn, nước thẳm buồm xa, đâu còn có thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa

Đoạn rồi nàng tắm gội chay sạch, ra bến Hoàng Giang ngửa mặt lên trời mà than rằng:

- Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông

có linh xin ngài chứng giám Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu mĩ Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho

cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ, và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ

Nói xong nàng gieo mình xuống sông mà chết ”

(“Chuyện người con gái Nam Xương” - Nguyễn Dữ, Ngữ văn 9, tập I, NXB Giáo dục Viết Nam, 2019)

I.MỞ BÀI:

Nguyễn Dữ là người học rộng tài cao, ông sống trong thời gian nhà Lê bắt đầu khủng khoảng, các tập đoàn phong kiến tranh quyền, đoạt vị với nhau Bởi vậy ông ra làm quan không lâu sau đó lui về ở ẩn Thời gian lui về ở ẩn, ông sưu tầm các truyện dân gian để sáng tác lại thành tập “Truyền kì mạn lục” Trong số hai mươi truyện của truyền kì mạn lục, nổi bật nhất là tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương Tác phẩm vừa giàu giá trị hiện thực vừa thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc của tác giả Đọc tác phẩm này người

đọc không khỏi ấn tượng với nhân vật Vũ Nương nhất là qua đoạn trích trên

“Chuyện người con gái Nam Xương” là một trong số 20 truyện trích trong “Truyền kì mạn lục”, áng văn được người đời đánh giá là “thiên cổ kì bút”- cây bút kì diệu truyền tới ngàn đời - Truyện được viết từ cốt truyện cổ tích “Vợ chàng Trương”, nhưng với ngòi bút tài năng của mình, Nguyễn Dữ đã sáng tạo nên

“Chuyện người con gái Nam Xương” rất riêng, giàu giá trị và ý nghĩa Qua câu chuyện về cuộc đời và cái chết thương tâm của Vũ Nương, tác phẩm đã làm nổi bật vẻ đẹp và số phận đau thương của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến Truyện có sức hấp dẫn người đọc bởi các chi tiết đắt giá, các yếu tố hoang đường kì ảo

*Tóm tắt

Chuyện kể về Vũ Nương, quê ở Nam Xương đẹp người đẹp nết, lấy chồng là Trương Sinh – con nhà giàu,

ít học, tính đa nghi, cả ghen Gia đình đang yên ấm hạnh phúc thì chàng Trương phải đi lính Ở nhà, Vũ Nương sinh được con trai đặt tên là Đản Nàng chăm sóc con và mẹ chồng chu đáo, lo thuốc thang, cầu khấn thần Phật khi mẹ chồng ốm, lo ma chay chu tất khi mẹ chồng mất Khi trở về, Trương Sinh nghe theo lời con trẻ nghi ngờ vợ phản bội Vũ Nương một mực phân trần, giải thích nhưng Trương Sinh không nghe, thậm chí còn mắng nhiếc đánh đuổi đi Vũ Nương không minh oan được bèn trẫm mình xuống sông Hoàng Giang tự vẫn Nàng không chết do được các nàng tiên cứu Dưới thuỷ cung, tình cờ nàng gặp người cùng làng là Phan Lang Nghe kể chuyện nhà, Vũ Nương rơm rớm nước mắt và muốn trở về dương gian Phan Lang về nói với Trương Sinh, chàng Trương hối hận, lập đàn giải oan cho nàng Vũ Nương trở về lộng lẫy,

rực rỡ giữa dòng sông, nói với chồng vài lời cảm tạ rồi biến mất

2 Phân tích nhân vật Vũ Nương

Trang 8

a Ở phần đầu của tác phẩm, Nguyễn Dữ đã cho người đọc thấy được ở nhân vật Vũ Nương là rất nhiều những phẩm chât tốt đẹp Nàng xinh đẹp, nết na, yêu chồng, thương con, hiếu thảo Với những phẩm chất đẹp đẽ ấy, nàng xứng đáng có được một cuộc đời hạnh phúc nhưng có ai ngờ nàng lại bị chính người chồng của mình đẩy vào một nỗi oan nghiệt ngã Ngày Trương Sinh trở vể cũng là lúc bi

kịch cuộc đời nàng xảy ra Câu chuyện của bé Đản, đứa con trai vừa lên ba tuổi, về “ một người đàn ông đêm nào cũng đến” đã làm cho Trương Sinh nghi ngờ Với bản tính hay ghen cộng thêm tính gia trưởng, thất học, Trương Sinh đối xử với vợ hết sức tàn nhẫn Giấu biệt lời con nói, Trương Sinh đã “ mắng nhiếc nàng và đánh đuổi đi” mặc cho Vũ Nương hết sức phân trần, mặc cho “hàng xóm can ngăn cũng chẳng ăn thua gì” Khi hạnh phúc gia đình có nguy cơ tan vỡ, Vũ Nương ra sức cứu vãn, hàn gắn Khi người chồng trút cơn ghen bóng gió lên đầu, Vũ Nương đã ra sức thanh minh, phân trần Nàng đã viện đến cả thân phận

và tấm lòng của mình để thuyết phục chồng “Thiếp vốn con nhà kẻ khó, được nương tựa nhà giàu Sum họp chưa thỏa tình chăn gối, chia phôi vì động việc lửa binh Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót Đâu có sự mất nết hư thân như lời chàng nói Dám xin bày tỏ để cởi mối nghi ngờ Mong chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp.” Lời nói

của nàng thật khiến ta cảm động Nàng thanh minh, giải thích là để chứng minh cho tấm lòng trong sạch của mình, để chồng thấu hiểu những tình cảm của nàng bấy lau nay Nàng muốn níu kéo và hàn gắn hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ tan vỡ, nàng ko muốn bé Đản phải sống trong cảnh cha mẹ chia lìa, không muốn vợ chồng mỗi người một ngả Những lời nói nhún nhường tha thiết đó cho thấy thái độ trân trọng chồng, trân trọng gia đình nhà chồng, niềm tha thiết gìn giữ gia đình nhất mực của Vũ Nương Đọc đến đây, người đọc thấy vô cùng xót xa phẫn nộ vì vô cớ Vũ Nương phải chịu nỗi oan tày trời, bế tắc không thể trông dựa vào đâu, phải tự thanh minh để cầu xin sự thấu hiểu của Trương Sinh mà không được Thật không

ngờ được rằng một cái bóng vô hình có thể đẩy nàng vào nỗi oan nghiệt ngã Từ những lời thanh minh, giải thích ấy của nàng ta nhận ra Vũ Nương là một người phụ nữ luôn khao khát hạnh phúc gia đình Điều đó thật đáng trân trọng

b Giải thích, minh oan ko được, nàng đành tìm đến cái chết để tự giải thoát cho chính mình Trước khi chết, Vũ Nương đã tắm gội chay sạch rồi mới ra bến sông Hoàng Giang Chi tiết này tưởng như ko

có gì đáng chú ý Nhg nó đã cho thấy Vũ Nương không hề vội vã với quyết định của mình Nàng vì quá phẫn uất, quá tuyệt vọng nên mới phải tìm đến cái chết để tự giải thoát cho mình Và dù có phải chết , nàng muốn rửa gột tất cả những oan ức, những nhuốc nhơ mà người chồng đã phủ lên danh dự của nàng Chỉ một chi tiết ấy thôi nhưng cũng đủ cho thấy Vũ Nương là một người phụ nữ rất trọng danh dự, trọng nhân

phẩm Và trước khi trẫm mình xuống sông, nàng đã ngửa mặt lên trời mà than rằng: “ Kẻ bạc mệnh

này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh xin ngài chứng giám Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu mĩ Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ, và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ Lời nói của nàng chẳng khác nào

một lời thề, một lời khẳng định sống cũng như chết nàng sẽ luôn là một người trinh trắng, trong sạch, luôn

là một người vợ đoan trang chung thuỷ Lời thề của nàng trước dòng sông chính là lời nguyền của những

người phụ nữ bị oan khuất trong xã hội phong kiến Sau lời thề đó là hành động tự vẫn của nàng Hành

động của nàng thật quyết liệt đã đẩy câu chuyện đến độ cao trào và kịch tính.Vũ Nương đã tìm đên cái chết

để bảo toàn danh dự Cái chết thể hiện sự bế tắc về số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến nam quyền Nàng đã chọn cái “chết vinh” thay vì “sống nhục”, chọn cái chết để tự chứng minh cho tấm lòng trong sạch của mình, để tự giải thoát cho mình khỏi nỗi oan nghiệt ngã Quyết định ấy chính là minh chứng cho một con người trọng danh dự, trọng nhân phẩm

Vậy nguyên nhân nào đã đẩy Vũ Nương đến cái chết? Phải chăng mầm mống của bi kịch chính là cuộc hôn nhân của nàng là gả bán, không bình đẳng? Trong cuộc hôn nhân ấy, nàng như một cánh bèo trôi

giữa dòng đời Nàng bơ vơ bế tắc, không thể về với bố mẹ đẻ vì nếu về với tội danh như vậy làm nhơ nhuốc

bố mẹ, là bất hiếu Hơn nữa, nàng lại là một người phụ nữ trọng danh dự, nàng không muốn dựa dẫm vào

ai, lại càng không muốn bản thân mình và con trai chịu tiếng nhuốc nhơ cả đời Nàng bị chính người chồng của mình nghi oan là phản bội nên mối quan hệ vợ chồng không thể hàn gắn Nàng vì quá oan ức nên phải tìm đến cái chết Nhưng có lẽ nguyên nhân sâu xa hơn cả khiến nàng phải chết là bởi cái xã hội phong kiến nam quyền với Tư tưởng trọng nam khinh nữ, với thói gia trưởng, sự đôc đoán chuyên quyền của người đàn ông Cái xã hội thối nát, bất công ấy đã không cho nàng được cất lên tiếng nói của mình và cái chết

đến với nàng là một kết cục tất yếu Qua cái chết của VN, Nguyễn Dữ muốn gửi gắm rất nhiều điều Cái chết của nàng chính là lời tố cáo xã hội phong kiến đã dung túng cho cái ác xấu xa, tàn bạo; là lời cảnh tỉnh cho những kẻ đa nghi, hồ đồ độc đoán Nàng chọn cái chết chính là sự chối bỏ hoàn toàn của nàng

nói riêng, của người phụ nữ nói chung đối với xã hội phong kiến Cái chết ấy đã cất lên tiếng nói đòi quyền sống cho những người phụ nữ trong cái xã hội phong kiến đầy bất công

Trang 9

Đoạn truyện thành công với nghệ thuật miêu tả nhân vật thông qua lời nói đối thoại, lời độc thoại tự bạch, góp phần quan trọng vào việc khắc họa tính cách nhân vật Bằng việc sử dụng linh hoạt ngôn ngữ trần thuật, lời văn giàu tính ước lệ - (lời văn biền ngẫu), kết hợp giữa miêu tả hành động và ngôn ngữ của nhân vật, đoạn trích đã cho người đọc nhận ra nỗi oan nghiệt và kết cục đầy bi thương, bất hạnh của nhân vật VN Và cũng từ đó ta nhận ra ở nàng rất nhiều những phẩm chất tốt đẹp Nàng chính là hình ảnh đại diện của những người phụ nữ trong xã hội xưa – những con người dù cho cuộc sống có nhiều trái ngang, bất hạnh nhưng vẫn giữ được những phẩm chất vô cùng đẹp đẽ Qua đoạn trích, người đọc thấy được tấm

lòng yêu mến, trân trọng của tác giả Nguyễn Dữ dành cho những người phụ nữ trong xã hội xưa Trong xã

hội hiện đại, người phụ nữ đã khẳng định vị thế nhưng vẫn còn phải chịu nhiều bất công, thiệt thòi (bị bạo hành, bóc lột, lạm dụng ) Để hạnh phúc, người phụ nữ phải luôn cố gắng hoàn thiện bản thân, độc lập,

tự chủ và nỗ lực đấu tranh đạt đến sự bình đẳng Nhưng dù ở xã hội nào, dù cuôc đời và số phận có ra sao thì họ vẫn xứng đáng để ta yêu thương và trân trọng

Có thể nói trong “Chuyện người con gái Nam Xương” thì đoạn trích trên là một trong những

đoạn truyện hay và cảm động nhất Đoạn trích đã khơi gợi trong lòng người đọc không ít những tình cảm đẹp Nó khiến ta thêm cảm phục trước tài năng của nhà văn, thêm trân trọng, yêu mến, xót xa, thương cảm cho những người phụ nữ trong xã hội phong kiến Từ hình ảnh của nhân vật Vũ Nương, tác giả muốn nhắc nhở chúng ta cần biết trân trọng và yêu thương những người phụ nữ ngay chính xung quanh mình Và có

lẽ cũng chính vì thế mà sau bao thăng trầm của lịch sử, “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn

Dữ vẫn còn mãi trong lòng bạn đọc

Trang 10

Đề 4: Cảm nhận của em về đoạn trích sau:

“Phi bèn đặt yến ở gác Triêu Dương để thết đãi Phan Lang Dự tiệc hôm ấy có vô số những mĩ nhân, quần

áo thướt tha, mái tóc búi xễ Trong số đó, có một người mặt chỉ hơi điểm qua một chút son phấn trông rất giống Vũ Nương Phan có ý nhìn trộm, nhưng không dám nhận Tiệc xong, người đàn bà ấy nói với Phan Lang rằng:

- Tôi với ông vốn người cùng làng, cách mặt chưa bao, đã quên nhau rồi ư?

Bấy giờ Phan mới nhận đích người ấy là Vũ Nương và gạn hỏi duyên cớ Nàng nói:

- Tôi ngày trước không may bị người vu oan, phải gieo mình xuống sông tự tử Các nàng tiên trong cung nước thương tôi vô tội, rẽ một đường nước cho tôi thoát chết, nếu không thì đã vùi vào bụng cá, còn đâu

mà gặp ông

Phan nói:

- Nương Tử nghĩa khác Tào Nga, hờn không Tinh Vệ mà phải ôm mối hận gieo mình xuống nước Nay thóc

cũ không còn, thóc mới vừa gặt, há lại không tưởng nhớ đến quê hương ư?

Nghe đến đây, Vũ Nương ứa nước mắt khóc, rồi quả quyết đổi giọng mà rằng:

- Có lẽ không thể gửi hình ẩn bóng ở đây được mãi, để mang tiếng xấu xa Phải chăng, ngựa Hồ gầm gió bắc, chim Việt đậu cành nam Cản vì nỗi ấy, tôi tất phải tìm về có ngày

Hôm sau, Linh Phi lấy một cái túi bằng lụa tía, đựng mười hạt minh châu, sai sứ giả Xích Hỗn đưa Phan

ra khỏi nước Vũ Nương nhân đó cũng đưa gửi một chiếc hoa vàng mà dặn:

- Nhờ nói hộ với chàng Trương, nếu còn nhớ chút tình xưa nghĩa cũ, xin lập một đàn giải oan ở bến sông, đốt cây đèn thần chiếu xuống nước, tôi sẽ trở về

Lúc đến nhà, Phan đem chuyện kể lại với họ Trương Ban đầu Trương không tin Nhưng khi nhận được chiếc hoa vàng, chàng mới sợ hãi mà nói:

- Đây quả là vật dùng mà vợ tôi mang lúc ra đi

Chàng bèn theo lời, lập một đàn tràng ba ngày đêm ở bến Hoàng Giang Rồi quả thấy Vũ Nương ngồi trên một chiếc kiệu hoa đứng ở giữa dòng, theo sau có đến năm mươi chiếc xe cờ tán, võng lọng, rực rỡ đầy sông, lúc ẩn, lúc hiện

Chàng vội gọi, nàng vẫn ở giữa dòng mà nói vọng vào:

- Thiếp cảm ơn đức của Linh Phi, đã thề sống chết cũng không bỏ Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa

Rồi trong chốc lát, bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất.”

Bài làm

Nguyễn Dữ là người học rộng tài cao, ông sống trong thời gian nhà Lê bắt đầu khủng khoảng, các tập đoàn phong kiến tranh quyền, đoạt vị với nhau Bởi vậy ông ra làm quan không lâu sau đó lui về ở ẩn Thời gian lui về ở ẩn, ông sưu tầm các truyện dân gian để sáng tác lại thành tập “Truyền kì mạn lục” Trong số hai mươi truyện của truyền kì mạn lục, nổi bật nhất là tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương Tác phẩm vừa giàu giá trị hiện thực vừa thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc của tác giả Trong tác phẩm này những

chi tiết ở phần cuối truyện đã để lại nhiều tấn tượng trong lòng bạn đọc

“Chuyện người con gái Nam Xương” là một trong số 20 truyện trích trong “Truyền kì mạn lục”, áng văn được người đời đánh giá là “thiên cổ kì bút”- cây bút kì diệu truyền tới ngàn đời - Truyện được viết từ cốt truyện cổ tích “Vợ chàng Trương”, nhưng với ngòi bút tài năng của mình, Nguyễn Dữ đã sáng tạo nên

“Chuyện người con gái Nam Xương” rất riêng, giàu giá trị và ý nghĩa Qua câu chuyện về cuộc đời và cái chết thương tâm của Vũ Nương, tác phẩm đã làm nổi bật vẻ đẹp và số phận đau thương của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến Truyện có sức hấp dẫn người đọc bởi các chi tiết đắt giá, các yếu tố hoang đường kì ảo

Chuyện kể về Vũ Nương, quê ở Nam Xương đẹp người đẹp nết, lấy chồng là Trương Sinh – con nhà giàu, ít học, tính đa nghi, cả ghen Gia đình đang yên ấm hạnh phúc thì chàng Trương phải đi lính Ở nhà, Vũ Nương sinh được con trai đặt tên là Đản Nàng chăm sóc con và mẹ chồng chu đáo, lo thuốc thang, cầu khấn thần Phật khi mẹ chồng ốm, lo ma chay chu tất khi mẹ chồng mất Khi trở về, Trương Sinh nghe theo lời con trẻ nghi ngờ vợ phản bội Vũ Nương một mực phân trần, giải thích nhưng Trương Sinh không nghe, thậm chí còn mắng nhiếc đánh đuổi đi Vũ Nương không minh oan được bèn trẫm mình xuống sông Hoàng Giang tự vẫn Nàng không chết do được các nàng tiên cứu Dưới thuỷ cung, tình cờ nàng gặp người

Trang 11

cùng làng là Phan Lang Biết việc Phan Lang được trở về, Vũ Nương đã gửi tín vật nhắn Trương Sinh lập đàn giải oan cho nàng Cuối cùng Vũ Nương trở về lộng lẫy, rực rỡ giữa dòng sông, nói với chồng vài lời

cảm tạ rồi biến mất

Đoạn trích là sự sáng tạo của Nguyễn Dữ so với sự tích “Vợ chàng Trương” Nguyễn Dữ đã vô

cùng trăn trở với số phận của người con gái đa đoan trong tác phẩm của mình Tin tưởng và yêu mến nhân vật, nhà văn đã để nàng gửi mình chốn cung mây dưới nước của Linh Phi Chốn ấy dẫu chẳng được sum vầy cùng con trẻ, người thân song vẫn là nơi biết trọng những tâm hồn trong đẹp Các sự việc trong đoạn trích tiếp tục cho ta nhận ra vẻ đẹp của nhân vật Vũ Nương đồng thời đem đến cho người đọc những cảm nhận sâu sắc, những bài học trong cuộc sống của chính mình

Trước hết, qua cuộc gặp gỡ trò chuyện giữa Vũ Nương với Phan Lang dưới thủy cung ta thấy Vũ

Nương là một người phụ nữ trọng danh dự Sau khi được các tiên nữ cứu sống và cho sống dưới thủy cung,

Vũ Nương tình cờ gặp Phan Lang – một người cùng làng với nàng cũng được Linh Phi cứu trong một lần đắm thuyền ở biển Họ có một cuộc trò chuyện ngắn ngủi nhưng qua cuộc trò chuyện ấy, người đọc vẫn thấy được những phẩm chất tốt đẹp của nhân vật Vũ Nương Ở chốn làn mây, cung nước nhưng nàng vẫn một lòng hướng về chồng con, quê hương và khao khát được đoàn tụ Nghe Phan lang kể về chuyện gia đình mình, nàng đã không kìm được mà ứa nước mắt xót thương Không phải Vũ Nương không muốn trở

về, nàng chắc chắn rất muốn được gặp con, gặp người thân của mình nhưng nghĩ đến việc bị chính người chồng của mình nghi ngờ ruồng rẫy, nàng lại ko còn mặt mũi nào để trở về được nữa Với nàng, danh dự

là điều mà không gì có thể đánh đổi được Nàng đã từng chọn cái chết để chứng mĩnh cho tấm lòng trong sạch của mình, đã từng mang cả sinh mệnh quý giá của mình để thề với trời đất thì giờ đây làm sao nàng

có thể dễ dàng quên được nỗi oan ức ấy Nàng khao khát được trả lại phẩm giá, danh dự nên đã gửi chiếc thoa vàng, nhờ Phan Lang nói với Trương Sinh lập đàn giải oan cho mình Có thể thấy rằng dù đã có cuộc sống mới, không còn khổ đau, bất hạnh nhưng nàng vẫn muốn được giải oan, được gột sạch cái tiếng nhuốc nhơ mà nàng đã từng phải gánh chịu Cuộc trò chuyện ngắn ngủi của Vũ Nươngvới Phan Lang tiếp tục cho

ta thấy được những phẩm chất đẹp đẽ trong tâm hồn của người phụ nữ đa đoan bất hạnh Qua cuộc trò chuyện ta thấy Vũ Nương là một người phụ nữ trọng danh dự

Vũ Nương là người trọng tình, trọng nghĩa nên dù thương nhớ chồng con, khao khát được đoàn tụ nhưng vẫn quyết giữ lời hứa sống chết bên Linh Phi Sau đó Phan Lang được đưa về trần gian, Phan đến gặp Trương Sinh để kể rõ sự tình Nghe Phan Lang kể chuyện gặp vợ cùng với việc nhận được tín vật, Trương

Sinh đã quyết định lập đàn giải oan cho vợ mình Ở phần cuối truyện, ta thấy Vũ Nương ngồi trên một chiếc

kiệu hoa đứng ở giữa dòng, theo sau có đến năm mươi chiếc xe cờ tán, võng lọng, rực rỡ đầy sông, lúc ẩn, lúc hiện Số phận oan trái, đắng cay của nàng được thể hiện ngay trong chi tiết mang vẻ đẹp lung linh, kì

ảo nơi khói sóng Hoàng Giang Cái vẻ đẹp lung linh, lộng lẫy đến đâu cũng không thể khỏa lấp được sự thật là nàng ẩn mình ở chốn không có thực, rồi khói hương của đàn tràng giải oan dẫu có nghi ngút khói sương cũng không xoá nhoà được khoảng cách âm dương đôi ngả, vợ chồng chia lìa, mẹ con xa cách Khoảnh khắc ẩn hiện, mờ ảo trên bến sông Hoàng Giang, Vũ Nương không một lời oán hận, trách móc:

“Đa tạ tình chàng Thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa” cho thấy Vũ Nương không chỉ là người

phụ nữ đức hạnh, người con dâu tốt nết mà còn là một người phụ nữ bao dung, giàu lòng vị tha với người chồng đã đẩy đến bước đường cùng Vũ Nương là hiện thân cho vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam thảo hiền, đức hạnh Nhưng nàng là người trọng tình, trong nghĩa nên dù thương nhớ chồng con, khao khát được đoàn

tụ nhưng vẫn quyết giữ lời hứa sống chết bên Linh Phi

Tuy nhiên, điều khiến cho đoạn trích này trở nên hấp dẫn không phải chỉ bởi giá trị nội dung của nó

mà nó còn hấp dẫn chính là nhờ yếu tố kì ảo, hoang đường Những chi tiết này đã phủ lên câu chuyện một lớp sương mờ hư ảo, kỳ quái, đậm chất dân gian, làm cho câu chuyện trở nên lung linh kỳ ảo, tạo nên sự tò mò, hấp dẫn, lôi cuốn cho người đọc Các chi tiết kỳ ảo có vai trò thúc đẩy kết cấu truyện phát triển, giúp nhà văn triển khai được câu chuyện và đạt được mục đích nghệ thuật của mình Không chỉ thế các chi tiết kỳ ảo này còn góp phần hoàn thiện tính cách và nhân phẩm của nhân vật

Vũ Nương trở về trực tiếp nói lời từ biệt cuối cùng Nàng hãy còn lưu luyến trần gian nhưng nàng không trở về được nữa vì thế gian này đâu còn chỗ nào để người hiền lành, thủy chung và đức hạnh như nàng dung thân được nữa Trương Sinh vì thế mà cũng tỏ ra là người biết hối lỗi, khát khao hạnh phúc trong muộn màng Nguyễn Dữ thực sự đã rất thành công trong việc sử dụng, sắp xếp hài hoà giữa yếu tố kỳ ảo

và hiện thực Các yếu tố kỳ ảo được đưa vào xen kẽ với những yếu tố thực vể địa danh, về thời điểm lịch

sử, nhân vật và sự kiện lịch sử, những chi tiết thực về trang phục của các mĩ nhân, về tình cảnh nhà Vũ Nương không người chăm sóc sau khi nàng mất… làm cho thế giới kỳ ảo lung linh, mơ hồ trở nên gần với

cuộc đời thực, làm tăng độ tin cậy, khiến người đọc không cảm thấy ngỡ ngàng Mặt khác các chi tiết kỳ

ảo cũng làm tăng thêm giá trị hiện thực và nhân đạo cho tác phẩm Đó là tiếng nói bênh vực con người, là minh chứng cho đạo lý ở hiền gặp lành của nhân gian Chi tiết này thể hiện ước mơ thầm kín

Trang 12

của Nguyễn Dữ trong việc “tích thiện phùng thiện”: Vũ Nương ở hiển, chịu đau khổ tủi nhục nhưng rồi

sẽ được đền đáp xứng đáng Chi tiết này cũng giúp hoàn thiện tính cách của Vũ Nương, làm hoàn chỉnh thêm nét đẹp vốn có của nàng: nặng tình, nặng nghĩa, quan tầm đến chồng con, phẩn mộ tổ tiên, khao khát

được phục hồi danh dự Cách kết thúc truyện – Vũ Nương hiện về đẹp lộng lẫy, huyền ảo rồi biến mất – thể hiện ước mơ về công bằng của người phụ nữ và cũng là của chính tác giả: Vũ Nương được giải oan,

sống trong nhung lụa giàu có và được bất tử nơi thuỷ cung

Chi tiết kỳ ảo cuối truyện làm cho người đọc nghĩ về một cái kết có hậu nhưng thực ra nó ẩn chứa bi kịch bên trong Vũ Nương trở về mà vẫn xa cách giữa dòng bởi nàng và chồng con vẫn âm dương

chia hai đôi ngả, hạnh phúc vĩnh viễn rời xa Hạnh phúc gia đình, thiên chức làm mẹ của Vũ Nương đã mã mãi bị tước đoạt Tác giả đưa người đọc vào giấc chiêm bao rồi lại kéo chúng ta sực tỉnh giấc mơ để trở vê’ cõi thực, rằng Vũ Nương không thể trở về hưởng hạnh phúc nơi dương gian được nữa Sự ân hận muộn màng của người chồng hay đàn tràng giải oan đều không cứu vãn được hạnh phúc cho người phụ nữ Đây

là lời cảnh tỉnh của tác giả Nó để lại dư vị ngậm ngùi trong lòng người đọc và là bài học thấm thìa về giữ gìn hạnh phúc gia đình

Bằng việc sử dụng linh hoạt ngôn ngữ (trần thuật và đối thoại) giàu tính ước lệ - (lời văn biền ngẫu),

kết hợp miêu tả hành động; dùng nhiều điển tích, điển cố, sự kết hợp giữa yếu tố hiện thực và hoang đường

kì ảo, tự sự và tữ tình đã hoàn thiện thêm phẩm chất và số phận của Vũ Nương Đoạn trích đã cho ta thấy được vẻ đẹp của nhân vật Vũ Nương – một người phụ nữ vị tha, bao dung, trọng ân nghĩa, trọng danh dự Tuy nhiên đằng sau những phẩm chất tốt đẹp ấy, đằng sau cái kết lung linh kì ảo mà tác giả tạo ra, ta vẫn phải xót xa mà thừa nhận những khổ đau, những bất hạnh mà người phụ nữ phải gánh chịu Vũ Nương có nhiều phẩm chất tốt đẹp nhưng cuối cùng vẫn k thể trở về mà phải gửi mình ở cõi hư vô Qua đoạn trích, người đọc thấy được tấm lòng yêu mến, trân trọng, niềm tương cảm xót ca của tác giả Nguyễn Dữ dành cho những người phụ nữ trong xã hội xưa Trong xã hội hiện đại, người phụ nữ đã khẳng định vị thế nhưng

vẫn còn phải chịu nhiều bất công, thiệt thòi (bị bạo hành, bóc lột, lạm dụng ) Để hạnh phúc, người phụ

nữ phải luôn cố gắng hoàn thiện bản thân, độc lập, tự chủ và nỗ lực đấu tranh đạt đến sự bình đẳng Nhưng

dù ở xã hội nào, dù cuôc đời và số phận có ra sao thì họ vẫn xứng đáng để ta yêu thương và trân trọng

Có thể nói trong “Chuyện người con gái Nam Xương” thì đoạn trích trên là một trong những

đoạn truyện hay và cảm động nhất Đoạn trích đã khơi gợi trong lòng người đọc không ít những tình cảm đẹp Nó khiến ta thêm cảm phục trước tài năng của nhà văn, thêm trân trọng, yêu mến, xót xa, thương cảm cho những người phụ nữ trong xã hội phong kiến Từ hình ảnh của nhân vật Vũ Nương, tác giả muốn nhắc nhở chúng ta cần biết trân trọng và yêu thương những người phụ nữ ngay chính xung quanh mình Và có

lẽ cũng chính vì thế mà sau bao thăng trầm của lịch sử, “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn

Dữ vẫn còn mãi trong lòng bạn đọc

Trang 13

Đề bài: Cảm nhận của em về vẻ đẹp của hình tượng người anh hùng áo vải Quang Trung qua hồi thứ 14 của tác phẩm “ Hoàng Lê nhất thống chí” của Ngô gia văn phái

Bài làm

Mà nay áo vải cờ đào,

Giúp dân dựng nước xiết bao công trình

( Ngọc Hân)

"Áo vải cờ đào" đã thành biểu tượng ca ngợi Quang Trung, người con ưu tú của dân tộc, nhân vật chính của tác phẩm “ Hoàng Lê nhất thống chí” Đó là một cuốn tiểu thuyết lịch sử bằng chữ Hán được viết theo thể chương hồi do nhóm tác giả Ngô gia văn phái ( Ngô Thì Chí, Ngô Thì Du ) sáng tác Đây là một bức tranh sâu rộng, vừa phản ánh được sự thối nát suy tàn của triều đình Lê -Trịnh, vừa phản ánh được sự phát triển của phong tào Tây Sơn Đặc biệt trong hồi thứ 14 của tác phẩm, hình tượng người anh hùng Quang Trung hiện lên thật cao đẹp với khí phách hào hùng, trí tuệ sáng suốt và tài thao lược hơn người

Đoạn trích hồi thứ 14 đã tái hiện một sự kiện lịch sử trọng đại là cuộc tiến quân thần tốc ra Thăng Long và chiến thắng vĩ đại của quân ta dưới sự chỉ huy của Quang Trung Trong đoạn trích, Quang Trung hiện lên là một

vị tướng lĩnh quân sự xuất sắc, phi thường, được coi là vị anh hùng trẻ tuổi làm vẻ vang rạng ngời cho lịch sử dân tộc Việt Nam

Trước hết Quang Trung là một con người hành động với tính cách mạnh mẽ, quyết đoán Từ đầu đến cuối

đoạn trích, trong mọi tình huống, Nguyễn Huệ luôn luôn thể hiện là con người hành động một cách xông xáo, giải quyết nhanh gọn và có chủ đích và rất quả quyết Điều đó thể hiện qua từng thái độ, từng hành động của nhân vật Nghe tin giặc đã đánh chiếm đến tận Thăng Long, mất cả một vùng đất đai rộng lớn mà ông không hề nao

núng, chỉ “giận lắm”,” và “định thân chinh cầm quân đi ngay”.Chỉ trong vòng thời gian ngắn, Nguyễn Huệ đã làm rất nhiều việc lớn: tế cáo trời đất, lên ngôi hoàng đế để “chính vị hiệu”,”giữ lấy lòng người”, tự mình “đốc suất đạo binh” ra Bắc, tìm gặp người cống sĩ ở huyện La Sơn là Nguyễn Thiếp để hỏi kế sách, tuyển mộ quân sĩ

và “mở cuộc duyệt binh lớn” ở Nghệ An, phủ dụ tướng sĩ.Tất cả kế hoạc, chuẩn bị đối phó với giặc Thanh đều

do một mình ông vạch ra và tiến hành thực hiện

Đó còn là một con người có trí tuệ sáng suốt, nhạy bén trước thời cuộc Ngay khi mấy chục vạn quân Thanh

do Tôn Sĩ Nghị cầm đầu hùng hổ kéo vào nước ta, thế giặc đang mạnh, tình thế khẩn cấp, vận mệnh đất nước

ngàn cân treo sợi tóc, Nguyễn Huệ quyết định lên ngôi hoàng đế để chính danh vị lấy niên hiệu là Quang Trung Việc lên ngôi đã được tính kĩ với mục đích thống nhất nội bộ hội tụ anh tài và quan trọng hơn là “ để yên lòng kẻ phản trắc và giữ lấy lòng người”, được dân ủng hộ Quang Trung đặc biệt sáng suốt trong việc phân tích tình hình thời cuộc, thế tương quan giữa ta và địch Trong lời phủ dụ quân sĩ trước lúc lên đường ở Nghệ

An, Nguyễn Huệ đã khẳng định chủ quyền của dân tộc(“đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng, người phương Bắc không phải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt khác”) Ông còn vạch rõ tội ác của chúng đối với nhân dân ta, lên

án hành động xâm lăng phi nghĩa, trái đạo trời của quân Thanh, nêu bật dã tâm của chúng Quang Trung đã khích

lệ tướng sĩ dưới quyền bằng những tấm gương chiến đấu dũng cảm chống giặc ngoại xâm giành lại độc lập của cha ôngtừ ngàn xưa như: Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, Trưng Nữ Vương, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi Kêu gọi quân lính đồng tâm hiệp lực đánh đuổi giặc ngoại xâm Quang Trung đã dự kiến được việc Lê Chiêu Thống về nước có thể làm cho một số người phù Lê “ thay lòng đổi dạ với mình” nên ông đã đề ra kỉ luật nghiêm khắc:

Chớ có quen thói cũ ăn ở hai lòng, nếu như việc phát giác sẽ bị giết chết ngay tức khắc, không tha một ai” Lời

phủ dụ có thể xem như một bài hịch ngắn gọn mà ý tứ phong phú, sâu xa, nó tác động, kích thích lòng yêu nước,

ý chí quật cường của dân tộc Ngay cả khi không vừa lòng thuộc cấp, ông vẫn chọn được cách nhắc nhở tế nhị

nhất, thấm thía nhất, mà không hề "đao to búa lớn" Đó là sự sáng suốt trong việc xét đoán và dùng người Điều

này thể hiện rõ qua cách xử trí vừa có lí vừa có tình với các tướng sĩ trong dịp hội quân ở Tam Điệp qua lời nói của Quang Trung với Sở và Lân Ông hiểu rất rõ việc rút quân của các tướng sĩ này Đúng ra thì quân thua tại tướng, nhưng ông hiểu tường tận năng lực của bề tôi sức mình ít không địch nổi đội quân hùng tướng hổ của nhà Thanh nên đành phải bỏ thành Thăng Long để bảo toàn lực lượng Như vậy Sở và Lân còn được ngợi khen Đối với Ngô Thì Nhậm ông đánh giá rất cao và sử dụng như một vị quân sư “đa mưu túc trí” Việc Sở và Lân rút chạy Quang Trung cũng đoán là do nhậm chủ mưu, vừa là để bảo toàn lực lượng vừa gây cho địch sự chủ quan Ông

đã tính đến việc dùng Nhậm là người biết dùng lời khéo léo để dẹp việc binh đao Tất cả đó đủ để chứng tỏ một trí tuệ mẫn tiệp xuất chúng của Quang Trung

Người anh hùng Nguyễn Huệ còn có ý chí quết chiến quyết thắng và tầm nhìn xa trông rộng Mới khởi binh,

chưa lấy được tấc đất nào, vậy mà Quang Trung đã tuyên bố chắc như đinh đóng cột “phương lược tiến đánh đã

có sẵn”, “Chẳng qua mươi ngay có thể đuổi được người Thanh” Biết trước kẻ thù “lớn gấp mười nước mình”, bị thua một trận “ắt lấy làm thẹn mà lo mưu báo thù” khiến việc binh đao không bao giờ dứt nên Nguyễn Huệ còn tính sẵn cả kế hoạch ngoại giao sau chiến thắng để có thời gian “yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng”, làm cho nước

giàu quân mạnh Quang Trung đã nói với Nhậm về quyết sách ngoại giao và kế hoạch 10 năm tới ta hòa bình

Trang 14

Đối với địch thường thì biết là thắng việc binh đao không thể dứt ngay được vì sỉ nhục của nước lớn còn đó Nếu

“chờ mười năm nữa ta được yên ổn mà nuối dưỡng lực lượng, bấy giờ nước giàu quân mạnh thì ta có sợ gì chúng”

Quang Trung là vị tướng có tài dụng binh như thần, tài thao lược của nhà vua quả là hơn người Trước hết là tài năng trong việc chỉ huy cuộc hành quân thần tốc của nghĩa quân Tây Sơn Ngày 25 tháng Chạp xuất

quân từ Phú Xuân(Huế), ngày 29 đã tới Nghệ An, vượt khoảng 350km qua núi , qua đèo Đến Nghệ An, vừa tuyển quân, tổ chức đội ngũ, vừa duyệt binh, chỉ trong vòng một ngày Hôm sau, tiến quân ra Tam Điệp(cách

khoảng 150km) Và đêm 30 tháng Chạp đã “lập tức lên đường”, tiến quân ra Thăng Long Quân tướng đi như

bay trong đêm, qua rừng rậm, cánh đồng, làng mạc Mà tất cả đều là đi bộ Từ Tam Điệp ra Thăng Long (khoảng hơn 150km), vừa hành quân, vừa đánh giặc mà đến ngày mồng 5 đã thắng trận Ngọc Hồi Cuộc hành quân thần tốc do Quang Trung chỉ huy đến nay vẫn còn làm chúng ta kinh ngạc Kế hoạch vạch định từ 25 tháng chạp đến mùng 7 tháng giêng sẽ vào ăn tết ở Thăng Long, trên thực tế, đã thực hiện kế hoạch sớm hơn hai ngày: trưa mồng

5 đã vào Thăng Long Hành quân xa liên tục như vậy, thường quân đội sẽ mệt mỏi, rã rời, nhưng nghĩa binh Tây

Sơn “cơ nào đội ấy vẫn chỉnh tề”,”từ quân đến tướng, hết thảy cả năm đạo quân đều vâng mệnh lệnh, một lòng một chí quyết chiến quyết thắng” Đó là nhờ tài năng quân sự lỗi lạc ở người cầm quân: hơn một vạn quân mới

tuyển đặt ở trung quân, còn quân tinh nhuệ từ đất Thuận Quảng ra thì bao bọc ở bốn doanh tiền, hậu, tả, hữu Thêm vào đó, người tổ chức các trận đánh hợp lí, ít hao tổn binh lực, trận Hà Hồi chỉ bắc loa truyền gọi, cho quân lính thay phiên nhau dạ ran đã khiến quân giặc sợ hãi xin hàng mà không cần đánh Trận Ngọc Hồi sử dụng ván che, hạn chế tới mức thấp nhất thương vong cho quân sĩ Quả thật là con người với tài cầm quân xuất quỷ nhập thần, bách chiến, bách thắng

Xuất hiện trong đoạn trích ấn tượng nhất là hình ảnh vị anh hùng lẫm liệt trong chiến trận.Vua Quang

Trung thân chinh cầm quân không phải chỉ trên danh nghĩa Ông làm tổng chỉ huy chiến dịch thực sự vừa hoạch định chiến lược, sách lược,vừa thân chinh cầm quân ra trận, vừa trực tiếp tổ chức quân sĩ, bài binh bố trận, rồi tự mình thống lĩnh một mũi tiến công, cưỡi voi đi đốc thúc, xông pha nơi trận tiền Dưới sự lãnh đạo tài tình của vị tổng chỉ huy này nghĩa quân Tây Sơn đã đánh những trận thật đẹp thắng áp đảo kẻ thù Đánh trận Hà Hồi nửa đêm ngày mông 3 tháng giêng, vua cho người bắt hết quân do thám của địch, bất ngờ, nhanh gọn, không mất giọt máu nào Vua bắc loa truyền gọi, cho quân lính thay phiên nhau dạ ran, làm cho lính trong đồn ai nấy đều rụng rời mà nhanh chóng xin hàng.Mờ sáng ngày mồng 5 đánh trận Ngọc Hồi vua cho quân sĩ lấy ván ghép phủ rơm dấp nước làm mộc che, rồi dàn trận chữ nhất tiến đánh nên quân Thanh bắn ra chắng trung người nào Dưới sự chỉ huy cửa nhà vua khi giáp lá cà , nghĩa quân Tây Sơn đã quăng ván xuống đất cầm dao chém bừa khiến quân giặc không kịp trở tay Khí thế đội quân làm cho kẻ thù khiếp vía Hình ảnh người thủ lĩnh ấy đã làm quân sĩ nức lòng, tạo niềm tin quyết chiến quyết thắng, đồng thời khiến kẻ thù kinh hồn bạt vía, rơi vào cảnh đại bại nhanh chóng Ngòi bút trần thuật như thần làm nổi bật hình ảnh vị vua cưỡi voi tả đột hữu xung, trong “ khói tỏa mù trời, cách gang tấc không thấy gì” , chỉ nổi bật màu áo bào đỏ đã sạm đen khói súng Quang Trung quả là con người văn võ toàn tài, trí dũng vô song Hình ảnh người anh hùng đã được khắc họa đậm nét với tính cách quả cảm, mạnh mẽ, trí tuệ sáng suốt, nhạy bén, tài dùng binh như thần, là người tổ chức và là linh hồn của chiến công

vĩ đại

Hình ảnh Nguyễn Huệ được khắc họa rất thành công nhờ các biện pháp nghệ thuật đặc sắc Truyện được

ghi chép theo đặc điểm của thể chí, phản ánh hiện thực rất khách quan nhưng không thuật lại một cách khô khan mà sáng tạo nhiều chi tiết nghệ thuật sinh động độc đáo Trình tự kể theo diễn biến các sự kiện lịch sử.,

vừa chính xác vừa sống động Lời văn vừa đảm bảo tính khách quan vừa thích hợp với việc thể hiện thái độ chủ

quan của tác giả với nhiều cung bậc sắc thái cảm xúc.Việc kể chuyện xen lẫn phương thức miêu tả khiến các sự việc và nhân vật lịch sử hiện lên hết sức cụ thể sinh động Giọng điệu trần thuật độc đáo, kể chuyện xen lẫn miêu

tả chi tiết, cụ thể đôi chỗ đan xen bình luận, nhận xét, gây ấn tượng mạnh, Xây dựng thành công nhân vật qua chọn lọc và tô đậm về ngôn ngữ, hành động.Các nhà văn là người rất có cảm tình với nhà Lê nhưng lại phản ánh ghi chép rất trung thực hình ảnh Nguyễn Huệ Không những vậy trong khi miêu tả họ còn thể hiện thái độ ngợi

ca trân trọng bởi Nguyễn Huệ là nhân vật kiệt xuất, một thiên tài thực sự

Tóm lại đoạn trích đã khắc họa rất thành công hình ảnh Nguyễn Huệ một con người quả cảm mạnh mẽ, có tấm lòng yêu nước thiết tha cháy bỏng Các nhà văn đã tạc vào văn học Việt Nam một tượng đài sừng sững uy nghi về người anh hùng Nguyễn Huệ Hình tượng ấy đã để lại trong lòng người niềm tự hào cảm phục và biết ơn vô cùng Mãi mãi đến mai sau nhân dân ta vẫn sẽ còn khắc ghi trong lòng hình ảnh đẹp đẽ của nhà vua

Ngày đăng: 11/07/2023, 15:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w