1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Vận dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề với chủ đề giáo dục kiến thức an toàn giao thông trong môn vật lí 10

27 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề với chủ đề giáo dục kiến thức an toàn giao thông trong môn vật lí 10
Tác giả Nhóm tác giả
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Trung học phổ thông ABC
Chuyên ngành Vật lí 10
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2021-2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, an toàn giao thông đang là vấn đề nhức nhói được xã hội quan tâm. Khi hàng ngày, hàng giờ, chúng ta liên tục nhận được thông tin về những vụ tai nạn giao thông xảy ra khắp nơi trên cả nước. Điều đáng chú ý nhất, đến 90% số vụ tai nạn giao thông có liên quan đến học sinh THPT(1) và tỉ lệ này đang có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây. Vì vậy, câu hỏi đặt ra về giáo dục ATGT như thế nào là hiệu quả càng trở nên cấp thiết hơn. Nếu chỉ dừng lại ở việc tuyên truyền các quy định về ATGT thì công tác giáo dục không đạt được hiệu quả cao như mong đợi. Cần phải có nhiều phương pháp và hình thức giáo dục phong phú, sinh động, thiết thực hơn để hướng đến mục tiêu trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản để phòng tránh tai nạn giao thông và có ý thức chấp hành pháp luật khi tham gia giao thông đảm bảo an toàn cho chính mình và người khác. Với đặc thù môn Vật lí là môn khoa học tự nhiên gắn liền với thực tiễn. Vì vậy, trong quá trình dạy học người giáo viên có thể chia sẻ những kiến thức Vật lí nhằm giải quyết các vấn đề, giải thích các tình huống trong cuộc sống. Nhiều tình huống giao thông có thể được phân tích mức độ nguy hiểm cũng như cách phòng tránh dưới góc độ kiến thức Vật lí. Thông qua đó, giúp học sinh có những kiến thức cơ bản về vấn đề ATGT, chuyển hóa nhận thức, thái độ, hành vi thành hành động đúng khi tham gia giao thông. Như Galileo Galile đã từng nói: “Chúng ta không thể dạy người khác bất cứ điều gì. Chúng ta chỉ có thể giúp họ phát hiện ra điều gì đó ngay trong chính bản thân họ”. Vì vậy, quá trình giảng dạy Vật lí ở trường THPT không chỉ là quá trình truyền thụ kiến thức của giáo viên cho học sinh, mà còn là quá trình tương tác giữa giáo viên và học sinh nhằm đạt đến kiến thức chân lý. Việc cải cách giáo dục đang dần thay đổi, lấy vai trò người học làm trung tâm, nhằm phát triển năng lực bản thân, tự giải quyết vấn đề, đáp ứng nhu cầu của xã hội. Với phương pháp dạy học giải quyết vấn đề, giáo viên sẽ định hướng cho học sinh tự tìm hiểu kiến thức, qua đó sẽ khắc phục lối truyền thụ kiến thức một chiều, ghi nhớ máy móc của học sinh. Chính vì những lí do trên, tôi đã thực hiện sáng kiến: “Vận dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề với chủ đề: Giáo dục kiến thức an toàn giao thông cho học sinh THPT Vật lí 10” ở lớp 10A7 năm học 2021 2022.

Trang 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

vụ tai nạn giao thông có liên quan đến học sinh THPT(1)

và tỉ lệ này đang có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây Vì vậy, câu hỏi đặt ra về giáo dục ATGT như thế nào là hiệu quả càng trở nên cấp thiết hơn Nếu chỉ dừng lại ở việc tuyên truyền các quy định về ATGT thì công tác giáo dục không đạt được hiệu quả cao như mong đợi Cần phải có nhiều phương pháp và hình thức giáo dục phong phú, sinh động, thiết thực hơn để hướng đến mục tiêu trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản để phòng tránh tai nạn giao thông và có ý thức chấp hành pháp luật khi tham gia giao thông đảm bảo an toàn cho chính mình và người khác

Với đặc thù môn Vật lí là môn khoa học tự nhiên gắn liền với thực tiễn Vì vậy, trong quá trình dạy học người giáo viên có thể chia sẻ những kiến thức Vật lí nhằm giải quyết các vấn đề, giải thích các tình huống trong cuộc sống Nhiều tình huống giao thông có thể được phân tích mức độ nguy hiểm cũng như cách phòng tránh dưới góc độ kiến thức Vật lí Thông qua đó, giúp học sinh có những kiến thức cơ bản về vấn đề ATGT, chuyển hóa nhận thức, thái độ, hành vi thành hành động đúng khi tham gia giao thông

Như Galileo Galile đã từng nói: “Chúng ta không thể dạy người khác bất cứ điều gì Chúng ta chỉ có thể giúp họ phát hiện ra điều gì đó ngay trong chính bản thân họ” Vì vậy, quá trình giảng dạy Vật lí ở trường THPT không chỉ là quá trình

Trang 2

truyền thụ kiến thức của giáo viên cho học sinh, mà còn là quá trình tương tác giữa giáo viên và học sinh nhằm đạt đến kiến thức chân lý Việc cải cách giáo dục đang dần thay đổi, lấy vai trò người học làm trung tâm, nhằm phát triển năng lực bản thân, tự giải quyết vấn đề, đáp ứng nhu cầu của xã hội Với phương pháp dạy học giải quyết vấn đề, giáo viên sẽ định hướng cho học sinh tự tìm hiểu kiến thức, qua

đó sẽ khắc phục lối truyền thụ kiến thức một chiều, ghi nhớ máy móc của học sinh

Chính vì những lí do trên, tôi đã thực hiện sáng kiến: “Vận dụng phương pháp

dạy học giải quyết vấn đề với chủ đề: Giáo dục kiến thức an toàn giao thông cho học sinh THPT - Vật lí 10” ở lớp 10A7 năm học 2021 - 2022

Hình 1: Học sinh THPT vi phạm luật giao thông

Hình 2: Tai nạn giao thông

3.2 Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến

3.2.1 Mục đích của giải pháp

Trang 3

Phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ

năng của học sinh

Thông qua việc đưa các tình huống, các quy định pháp luật về ATGT lồng ghép vào các bài giảng Vật lí, mục đích mà đề tài hướng đến là hướng dẫn học sinh

sử dụng kiến thức Vật lí đã học để phân tích được những nguy hiểm trong các tình huống giao thông, hiểu rõ hơn các quy định về ATGT Từ đó, học sinh tự rút ra được các biện pháp phòng tránh tai nạn khi tham gia giao thông, giúp học sinh hiểu hơn về ý nghĩa của việc học Vật lí, môn học có tính thực tiễn cao gắn liền với cuộc sống

3.2.2 Điểm mới của giải pháp

Lồng ghép các tình huống trong thực tế, các quy định pháp luật về ATGT

vào các bài giảng Vật lí

Vận dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh, làm rõ được vai trò và tầm quan trọng của việc sử dụng kiến thức Vật lí gắn liền với thực tế trong đổi mới dạy học và kiểm tra đánh giá ở

trường THPT hiện nay

Giải pháp giúp học sinh tích cực hơn, chủ động hơn trong các hoạt động nhận thức, xử lý tình huống Qua đó, kích thích hứng thú học tập và góp phần

phát triển năng lực cho học sinh

Xây dựng được hệ thống các bài tập Vật lí lớp 10 tiếp cận vấn đề về ATGT, đưa lí thuyết gắn liền với thực tế Các bài tập được xây dựng tương đối đa dạng, chủ yếu mang tính định hướng đảm bảo những yêu cầu theo chuẩn đánh giá về kiến thức và kỹ năng, giúp giáo viên định hướng và thay đổi phù hợp với điều kiện

giảng dạy thực tế của mình

3.2.3 Giải pháp được thực hiện thông qua các bước sau

a Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề

 Dạy học giải quyết vấn đề

Dạy học giải quyết vấn đề là phương pháp dạy học tích cực trong đó giáo viên tạo ra những tình huống có vấn đề, học sinh phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn đề và thông qua đó chiếm lĩnh tri thức, phát triển các năng lực như lập kế hoạch, tự định hướng học tập, hợp tác, các kỹ năng tư duy bậc cao, kỹ năng vận động, kỹ năng tương tác

 Quy trình thực hiện

Trang 4

Hình 3: Sơ đồ dạy học giải quyết vấn đề

 Giải thích sơ đồ

Bước 1 Xây dựng tình huống có vấn đề:

+ Làm nảy sinh tình huống có vấn đề cần giải quyết xuất phát từ: kiến thức

cũ, kinh nghiệm thực tế, thí nghiệm, bài tập…

+ Nghiên cứu chuẩn kiến thức – kĩ năng của bài học để lựa chọn nội dung bài học đáp ứng được yêu cầu của tình huống có vấn đề

Bước 3 Đề xuất các giả thuyết:

+ Tiếp cận tình huống, phân tích vấn đề, nội dung của tình huống, xác định nhiệm vụ cần thực hiện

+ Học sinh huy động kiến thức liên quan và đưa ra những giả thuyết

+ Dựa vào kiến thức đã có để lập luận, nghiên cứu thêm thông tin mới để khẳng định hay bác bỏ giả thuyết, từ đó hình thành giải pháp, trình bày giải pháp

Trang 5

+ Phương hướng đề xuất có thể được điều chỉnh khi cần thiết Kết quả của

việc đề xuất các giả thuyết là hình thành được một giải pháp

Bước 4 Kiểm tra tính đúng đắn của giải pháp:

+ Nếu giải pháp đúng  rút ra kết luận giải quyết vấn đề ngay, nếu giải pháp sai  lặp lại từ bước phân tích vấn đề cho đến khi tìm được giải pháp đúng

+ Sau khi đã tìm ra một giải pháp, có thể tiếp tục tìm thêm những giải pháp khác, so sánh chúng với nhau để lựa chọn phương án tối ưu và rút ra kết luận

Bước 5 Thực hiện giải pháp:

Đề xuất các giả thuyết

Thực hiện giải pháp

Kiểm tra, đánh giá và rút ra kết luận

- HS phát biểu vấn đề cần giải quyết

GV gợi ý để

HS tìm ra cách giải quyết vấn đề

GV hướng dẫn

HS thực hiện

- GV định hướng HS rút

ra kết luận và vận dụng kiến thức -GV đánh giá kết quả làm việc của các nhóm

- HS phát biểu vấn đề cần giải quyết

- GV gợi ý để

HS tìm ra cách giải quyết vấn đề

- HS thực hiện,

GV giúp đỡ khi cần

- GV định hướng HS rút

ra kết luận và vận dụng kiến thức

- GV và HS cùng đánh giá

HS tự lực đề xuất các giả thuyết và lựa

HS thực hiện

kế hoạch giải quyết vấn đề

- GV định hướng HS rút

Trang 6

huống có

vấn đề

sinh cần giải quyết

chọn các giải pháp

vận dụng kiến thức

- Các nhóm tự đánh giá lẫn nhau

- GV đánh giá kết quả của các nhóm

HS tự đề xuất

ra giả thuyết, xây dựng kế hoạch giải quyết

HS thực hiện

kế hoạch giải quyết vấn đề

- GV định hướng HS rút

ra kết luận và vận dụng kiến thức

- HS tự đánh giá chất lượng

và hiệu quả GQVĐ của nhóm

- Các nhóm tự đánh giá lẫn nhau

- GV đánh giá các nhóm

 Bảng so sánh phương pháp truyền thống và phương pháp dạy học giải

quyết vấn đề trong việc vận dụng vào dạy học Vật lí

Phương pháp dạy học truyền thống

Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề

Trang 7

Phương

pháp

Người dạy là trung tâm, tổ chức

kiến thức thành các nhiệm vụ giao

GV đưa ra phương pháp làm việc HS tự lựa chọn phương pháp làm

việc và có thể làm việc trong hoặc ngoài trường học

Hiểu biết mới dẫn đến thành công

Có sẵn và do GV lựa chọn Được lựa chọn và xây dựng bởi HS

trong quá trình dạy học

HS và đánh lẫn nhau giữa các HS

b Tổ chức dạy học theo phương pháp dạy học giải quyết vấn đề với chủ

đề "Giáo dục kiến thức an toàn giao thông cho học sinh THPT” trong môn Vật lí 10

Sau đây chúng ta sẽ nghiên cứu một số bài học Vật lí lớp 10 liên quan đến nội dung giáo dục, nâng cao ý thức tham gia giao thông cho học sinh

Bài 3: Chuyển động thẳng biến đổi đều

Trang 8

 Đường biểu diễn sự phụ thuộc toạ độ theo thời gian có dạng là một phần của đường parabol

Bài toán thực tiễn:

Bài tập 1: Tại sao trên một số tuyến

đường, đặc biệt là đường cao tốc lại có

quy định về khoảng cách an toàn của

các phương tiện giao thông ?

Trả lời:

Theo công thức của chuyển động thẳng

biến đổi đều: v = v0 + at; s = v0t + 1

2at2

để một phương tiện đang từ vận tốc khác

0 thay đổi về bằng 0 cần có một khoảng

thời gian nhất định và phải di chuyển

một đoạn đường nhất định Quy định về

khoảng cách an toàn giúp cho xe phía

sau không va chạm vào xe phía trước,

khi xe phía trước xảy ra sự cố cần thắng

gấp

Bài tập 2: Một người đi xe máy đang chạy với tốc độ 54 km/h, thấy một chướng

ngại vật trước mặt cách 20m không thể tránh Người ấy phanh gấp với lực cản tối

đa để bánh xe trượt trên mặt đường và xe dừng lại khi vừa chạm vào chướng ngại vật Tính gia tốc của xe từ lúc phanh đến khi dừng lại Nếu người ấy chạy với tốc

độ 72 km/h và cũng phanh như lúc đầu liệu có an toàn không? Vì sao?

Bài tập 3: Một xe Container khối lượng 30 tấn đang chuyển động với vận tốc 72

km/h thì hãm phanh chuyển động chậm dần đều bằng lực hãm tối đa Fh = 6.104 N Tính vận tốc từ lúc hãm phanh đến khi xe đi được 50m Nếu gặp đèn đỏ, muốn xe dừng lại đúng quy định thì phải hãm phanh cách vị trí dừng bao xa? Tại sao khi tham gia giao thông, chúng ta cần phải đi cách xa các xe Container?

Trả lời:

Hình 4: Va chạm giao thông do không giữ

khoảng cách an toàn

Trang 9

Khi tham gia giao thông chúng ta phải đi cách xa các xe Container vì khi gặp sự cố

xe rất khó dừng lại nên dễ gây tai nạn Mặt khác, xe Container chở hàng nặng, trọng tâm của xe nâng lên cao nên rất dễ mất cân bằng Nếu tài xế đánh lái đột ngột, thùng Container dễ bị lật xuống đường do không được cài chắc chắn vào xe, thậm chí khi cài chắc chắn rồi có thể lật cả xe, gây tai nạn rất nghiêm trọng Hơn thế nữa, khi chúng ta chạy gần xe Container do xe cao nên tầm nhìn ở kính chiếu hậu sẽ bị hạn hẹp và tài xế không thấy xe con, nên dễ gây tai nạn

Bài tập 4: Một ô tô chạy trên đường thẳng với vận tốc không đổi là 30 m/s vượt

quá tốc độ cho phép và bị cảnh sát giao thông phát hiện Chỉ sau 1s khi ô tô đi ngang qua, một cảnh sát phóng xe chuyên dụng đuổi theo với gia tốc không đổi 3 m/s2 Hỏi sau bao lâu cảnh sát đuổi kịp ô tô, quãng đường đi được là bao nhiêu?

Trả lời:

Chọn hệ quy chiếu gắn với quãng đường, gốc tọa độ tại vị trí cảnh sát giao thông đứng, gốc thời gian lúc xe ô tô chạy qua, chiều dương cùng chiều chuyển động Phương trình chuyển động của ô tô là: x1 = 30t

Phương trình chuyển động của xe cảnh sát là:

x2 = 1a(t1)2  1.3(t1)2 1,5t2 3t 1,5

Khi cảnh sát đuổi kịp ô tô: x1 = x2  30t = 1,5t2 - 3t + 1,5  t = 21,9(s)

Vậy chỉ sau 21,9 giây thì xe cảnh sát đã đuổi kịp ô tô

Quãng đường mà 2 xe đã đi được là: s1 = s2 = 30.21,9 = 657,6 (m)

Bài tập 5: Xe Container cần quãng đường bao nhiêu để phanh dừng lại?

Trả lời:

Thông thường, những chiếc xe đầu kéo có khối lượng rất lớn (kể cả khi chạy không tải) nên khi ở tốc độ cao chúng thường mất một quãng đường khá lớn để có thể dừng lại hoàn toàn, do quán tính lớn Theo tính toán dựa trên các số liệu của xe Container: Trên mặt đường khô ráo, nếu xe chạy ở tốc độ 60 km/h thì cần 81 m để

phanh dừng, trong khi xe con chỉ mất 32 m Còn ở tốc độ 100 km/h, quãng đường

với xe Container phanh dừng tăng lên là 185 m, của xe con khi đó là 76 m

Trang 10

Nội dung giáo dục kiến thức về ATGT

Thông tin pháp luật: Theo Thông tư 91/2015/TT-BGTVT có hiệu lực từ

ngày 01/3/2016 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải(2)

quy định về tốc độ và

khoảng cách của xe cơ giới, xe máy chuyên dụng tham gia giao thông đường bộ

- Thứ nhất: Khi mặt đường khô ráo thì khoảng cách an toàn ứng với mỗi tốc độ:

+ Tốc độ lưu hành 60km/h khoảng cách an toàn tối thiểu là 35 mét

+ Tốc độ lưu hành 80km/h khoảng cách an toàn tối thiểu là 55 mét

+ Tốc độ lưu hành 100km/h khoảng cách an toàn tối thiểu là 70 mét

+ Tốc độ lưu hành 120km/h khoảng cách an toàn tối thiểu là 100 mét

- Thứ hai: Khi điều khiển xe chạy với tốc độ từ 60 km/h trở xuống, trong khu vực

đô thị, đông dân cư, người lái xe phải chủ động giữ khoảng cách an toàn phù hợp với xe chạy liền trước xe của mình Khoảng cách này tùy thuộc vào mật độ phương tiện, tình hình giao thông thực tế để đảm bảo an toàn

- Thứ ba: Khi trời mưa, có sương mù, mặt đường trơn trượt, đường có địa hình quanh co, đèo dốc, người lái xe phải điều chỉnh khoảng cách an toàn thích hợp lớn hơn khoảng cách an toàn ghi trên biển báo hoặc khoảng cách khi mặt đường khô ráo

Quy tắc 2 giây để xác định khoảng cách an toàn khi đang lưu thông

trên đường:

Trong điều kiện bình thường, 2 giây là khoảng thời gian đủ để cho tài xế tiếp nhận thông tin (ví dụ như thấy xe phía trước phanh đột ngột), sau đó xử lý và có hành động cần thiết (đạp phanh, đánh lái để tránh…) Nói cách khác, quy tắc 2 giây khuyên bạn nên giữ khoảng cách tối thiểu với xe đi trước sao cho nếu có tình huống bất thường từ xe phía trước đó, bạn cũng có ít nhất là 2 giây để chủ động xử

lý trước khi xe bạn kịp đến vị trí vừa xảy ra tình huống

Bài 6: Tính tương đối của chuyển động Công thức cộng vận tốc

Kiến thức trọng tâm:

Công thức cộng vận tốc: v 1 , 3 v 1 , 2 v 2 , 3

Trong đó: số 1 ứng với vật chuyển động, số 2 ứng với hệ quy chiếu chuyển động,

số 3 ứng với hệ quy chiếu đứng yên

+ Trường hợp các vận tốc cùng phương cùng chiều, về độ lớn: v1,3  v1,2  v2,3

+ Trường hợp vận tốc tương đối cùng phương, ngược chiều với vận tốc kéo theo

về độ lớn: v1,3  v1,2 v2,3

Bài toán thực tiễn:

Bài tập 1: Ô tô A đang chuyển động với vận tốc 60 km/h Ô tô B đang chuyển

động với vận tốc 50 km/h Tính vận tốc của ô tô A so với ô tô B trong 2 trường hợp hai xe chuyển động cùng chiều và hai xe chuyển động ngược chiều Nếu xảy

ra va chạm giữa hai xe thì trường hợp nào tai nạn nghiêm trọng hơn (cùng chiều hay ngược chiều) Tại sao?

Trả lời:

Trang 11

Áp dụng công thức cộng vận tốc: v 1 , 3 v 1 , 2 v 2 , 3

Khi hai xe chạy cùng chiều: Độ lớn: v1,3  v1,2  v2,3  60 – 50 = 10 (km/h)

Khi hai xe chạy ngược chiều: Độ lớn: v1,3  v1,2  v2,3  60 + 50 = 110 (km/h)

Nếu xảy ra va chạm giữa hai xe thì khi chạy ngược chiều tai nạn sẽ nghiêm trọng hơn, vì vận tốc tương đối lớn hơn nên động năng lớn hơn nhiều lần Năng lượng càng lớn thì hậu quả tai nạn càng nặng nề

Bài tập 2: Khi đi xe trong trời mưa ta thường có cảm giác giọt mưa rơi nghiêng

(hắt vào mặt ta) ngay cả khi trời lặng gió Hãy giải thích vì sao? Để tránh bị mưa tạt vào người, các bạn học sinh thường cầm ô che mưa khi đi xe và hướng ô về phía trước, điều đó có an toàn không? Vì sao?

v : là vận tốc của mặt đất so với người đi xe (ngược

lại với vận tốc của xe)

Dễ dàng nhận thấy vận tốc v1,3

xiên góc α so với phương thẳng đứng Vì vậy, ta thấy giọt mưa luôn rơi xiên góc hắt vào mặt người đi xe Để tránh mưa tạt vào người, chúng ta cầm ô che mưa hướng về phía trước xiên góc α như trên là đúng Tuy nhiên, khi tham gia giao thông làm như thế sẽ rất nguy hiểm, vừa che khuất tầm nhìn, vừa gây cản trở trong quá trình điều khiển xe Nếu gặp gió lớn có thể làm chúng ta bị ngã gây tai nạn Vì vậy, tuyệt đối không được sử dụng ô khi đi xe đạp, xe máy điện để đảm bảo an toàn cho bản thân và cho người khác khi tham gia giao thông

Nội dung giáo dục kiến thức về ATGT

Khi học về tính tương đối của chuyển động, chúng ta hiểu đúng quy luật chuyển động của các phương tiện giao thông Ví dụ: khi đang đi cùng chiều với các phương tiện khác, chúng ta dường như thấy mình đi chậm lại và muốn tăng tốc thêm để vượt qua Nếu điều kiện không an toàn, hoặc xe cùng chiều phía trước đột

ngột dừng lại thì tai nạn có thể xảy ra

Bài 10: Ba định luật Niu - tơn

Kiến thức trọng tâm định luật I Niu - tơn:

 Định luật I Niu-tơn: Nếu một vật không chịu tác dụng của lực nào hoặc chịu tác dụng của các lực có hợp lực bằng 0 thì nó giữ nguyên trạng thái đứng yên hoặc chuyển động thẳng đều

 Ý nghĩa của định luật: Mỗi vật đều có xu hướng bảo toàn vận tốc của mình Tính chất đó gọi là quán tính Quán tính có hai biểu hiện :

+Xu hướng giữ nguyên trạng thái đứng yên Ta nói các vật có “tính ì”

Hình 5: biểu diễn công thức cộng vận tốc

Trang 12

+Xu hướng giữ nguyên trạng thái chuyển động thẳng đều Ta nói các vật chuyển động có “đà”

Bài toán thực tiễn:

Bài tập 1: Tại sao ở nhiều nước lại có quy định bắt buộc người lái xe và những

người ngồi trong xe ô tô phải thắt dây an toàn khi xe chạy?

Trả lời:

Khi xe đang chạy mà hãm phanh

đột ngột thì xe sẽ dừng lại

Những người ngồi trên xe do vẫn

đang có xu hướng chuyển động

nên sẽ lao về phía trước theo

Bài tập 2: Tại sao khi đi xe đạp, xe

đạp điện, xe máy nếu dùng phanh

người có thói quen dùng phanh trước

để dừng xe vì phanh sau thời gian

dừng xe lâu hơn Tuy nhiên, việc này

lại có thể khiến người đi xe gặp nguy

hiểm vì khi làm thế phần phía trước

của xe dừng lại đột ngột trong khi

phần sau xe và cả người vẫn tiếp tục

chuyển động theo quán tính và sẽ bị

lật nhào hoặc trượt về phía trước

Bài tập 3: Tại sao khi hành khách ngồi trên ô tô đang chuyển động, nếu ô tô

chuyển động sang trái thì người trong xe sẽ nghiêng sang bên phải và ngược lại?

Trả lời:

Vì khi xe đang chạy trên đường thẳng, cả người và xe đang có vận tốc hướng thẳng

về phía trước Nhưng khi xe chuyển động sang trái, người vẫn còn bảo toàn vận tốc chuyển động theo hướng thẳng Vì vậy, mặc dù xe đã nghiêng sang trái nhưng theo quán tính người sẽ nghiêng sang bên phải của xe Tương tự, cho trường hợp xe nghiêng sang bên phải

Bài tập 4: Tại sao tàu hỏa không thể dừng lại ngay khi gặp chướng ngại vật?

Trả lời:

Hình 6: Vai trò của dây an toàn khi phanh gấp

Hình 7: Người và xe lật nhào về trước khi

bóp phanh trước đột ngột

Trang 13

Tàu hỏa không giống các phương tiện giao thông đường bộ khác, muốn dừng là dừng được ngay, mà cần có thời gian nhất định Với tàu khách chạy 80 km/h khi hãm phanh gấp mất một đoạn đường dài 400 m mới dừng hẳn; tàu chở hàng nặng cũng phải mất quãng đường 500 m – 600 m Với những trường hợp phát hiện vật cản quá gần, lái tàu cũng sẽ không phanh khẩn cấp được bởi có thể làm lật tàu hoặc trật bánh các toa tàu khỏi đường ray ảnh hưởng tới hành khách ngồi trên các toa tàu

Nội dung giáo dục kiến thức về ATGT:

Thông tin pháp luật: Điều 5 nghị định 171/2013/NĐ-CP(3) quy định: Phạt 100.000 - 200.000 đồng đối với người điều khiển xe ôtô, các loại xe tương tự

xe ô tô và người được chở trên xe ô tô không thắt dây an toàn khi xe đang chạy

Để phanh xe an toàn, cần thực hiện theo các bước sau:

+ Nên giữ xe thẳng và cân bằng vì phanh sẽ trở thành tác nhân khiến tình huống trở nên tồi tệ hơn nếu xe và người đang nghiêng

+ Sử dụng cả phanh trước và sau, trong đó 75% lực phanh dồn cho phanh trước Nếu chỉ sử dụng phanh sau, khoảng cách để dừng xe sẽ dài hơn hoặc có thể gây rê bánh khi đang chạy tốc độ cao

Bài 10: Ba định luật Niu-tơn(tt)

Kiến thức trọng tâm định luật II Niu-tơn:

 Gia tốc của một vật luôn cùng hướng với lực tác dụng lên vật

 Độ lớn của vectơ gia tốc tỉ lệ thuận với độ lớn của vectơ lực tác dụng lên vật và tỉ

lệ nghịch với khối lượng của vật

m

F a

 hoặc là Fm a Trong đó: a là gia tốc, m là khối lượng

 Khối lượng của một vật là đại lượng đặc trưng cho mức quán tính của vật

 Khi vật rơi tự do, nó chỉ chịu tác dụng của trọng lực P

và thu được gia tốcg

Theo định luật II Niu-tơn có :Pm g

Độ lớn P của trọng lực gọi là trọng lượng của vật: P = mg

Kiến thức trọng tâm định luật III Niu-tơn:

Khi vật A tác dụng lên vật B một lực, thì vật B cũng tác dụng trở lại vật A một lực Hai lực này là hai lực trực đối: FAB FBA

Bài toán thực tiễn:

Bài tập 1: Em có biết việc chở quá tải trọng trên xe gây ra nguy hiểm như thế nào

khi xe tham gia giao thông?

Trả lời:

Theo Định luật II Niu - tơn với cùng một lực tác dụng, vật có khối lượng càng lớn thì gia tốc thu được càng nhỏ Khi tham gia giao thông gặp tình huống nguy hiểm cần thắng gấp với cùng lực hãm của phanh xe nếu xe chở quá tải trọng sẽ có gia

Ngày đăng: 11/07/2023, 15:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2: Tai nạn giao thông - Vận dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề với chủ đề giáo dục kiến thức an toàn giao thông trong môn vật lí 10
Hình 2 Tai nạn giao thông (Trang 2)
Hình 1: Học sinh THPT vi phạm luật giao thông - Vận dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề với chủ đề giáo dục kiến thức an toàn giao thông trong môn vật lí 10
Hình 1 Học sinh THPT vi phạm luật giao thông (Trang 2)
Hình 3: Sơ đồ dạy học giải quyết vấn đề - Vận dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề với chủ đề giáo dục kiến thức an toàn giao thông trong môn vật lí 10
Hình 3 Sơ đồ dạy học giải quyết vấn đề (Trang 4)
Hình 4: Va chạm giao thông do không giữ - Vận dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề với chủ đề giáo dục kiến thức an toàn giao thông trong môn vật lí 10
Hình 4 Va chạm giao thông do không giữ (Trang 8)
Hình 7: Người và xe lật nhào về trước khi - Vận dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề với chủ đề giáo dục kiến thức an toàn giao thông trong môn vật lí 10
Hình 7 Người và xe lật nhào về trước khi (Trang 12)
Hình 6: Vai trò của dây an toàn khi phanh gấp - Vận dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề với chủ đề giáo dục kiến thức an toàn giao thông trong môn vật lí 10
Hình 6 Vai trò của dây an toàn khi phanh gấp (Trang 12)
Hình 8: Hệ thống phanh cơ xe đạp điện - Vận dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề với chủ đề giáo dục kiến thức an toàn giao thông trong môn vật lí 10
Hình 8 Hệ thống phanh cơ xe đạp điện (Trang 15)
Hình 12: Hợp lực giữa trọng lực của xe và phản lực của mặt đường đóng vai trò lực hướng tâm - Vận dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề với chủ đề giáo dục kiến thức an toàn giao thông trong môn vật lí 10
Hình 12 Hợp lực giữa trọng lực của xe và phản lực của mặt đường đóng vai trò lực hướng tâm (Trang 17)
Hình 11: Ma sát nghỉ đóng vai trò lực hướng tâm - Vận dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề với chủ đề giáo dục kiến thức an toàn giao thông trong môn vật lí 10
Hình 11 Ma sát nghỉ đóng vai trò lực hướng tâm (Trang 17)
Hình  13:    Ô  tô  bị  văng  ra  khỏi  làn  đường  khi - Vận dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề với chủ đề giáo dục kiến thức an toàn giao thông trong môn vật lí 10
nh 13: Ô tô bị văng ra khỏi làn đường khi (Trang 18)
Hình 15: Ảnh đoàn tàu E1 bị lật và đứt lìa các toa tại Lăng Cô – Thừa Thiên - Vận dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề với chủ đề giáo dục kiến thức an toàn giao thông trong môn vật lí 10
Hình 15 Ảnh đoàn tàu E1 bị lật và đứt lìa các toa tại Lăng Cô – Thừa Thiên (Trang 19)
Hình 16: Thiếu niên ném đá vào xe ô tô đang chạy - Vận dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề với chủ đề giáo dục kiến thức an toàn giao thông trong môn vật lí 10
Hình 16 Thiếu niên ném đá vào xe ô tô đang chạy (Trang 20)
Hình 17: Hậu quả nghiêm trọng của  việc ném đá vào ô tô đang chạy - Vận dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề với chủ đề giáo dục kiến thức an toàn giao thông trong môn vật lí 10
Hình 17 Hậu quả nghiêm trọng của việc ném đá vào ô tô đang chạy (Trang 21)
Hình 18: Nhường ghế - hành động lịch sự, - Vận dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề với chủ đề giáo dục kiến thức an toàn giao thông trong môn vật lí 10
Hình 18 Nhường ghế - hành động lịch sự, (Trang 24)
Hình 19: Biểu đồ phân phối tần suất điểm kiểm tra - Vận dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề với chủ đề giáo dục kiến thức an toàn giao thông trong môn vật lí 10
Hình 19 Biểu đồ phân phối tần suất điểm kiểm tra (Trang 26)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w