1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng việc làm và đời sống vật chất của nữ công nhân di cư (nghiên cứu trường hợp tại khu công nghiệp bảo minh, huyện vụ bản, tỉnh nam định)

150 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Việc Làm Và Đời Sống Vật Chất Của Nữ Công Nhân Di Cư (Nghiên cứu trường hợp tại Khu công nghiệp Bảo Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định)
Tác giả Đoàn Thị Thu Hằng
Người hướng dẫn ThS. Trần Thanh Hương
Trường học Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Xã hội học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 1,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN 1: GIỚI THIỆU (13)
    • 1.1. Đặt vấn đề (13)
    • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu (15)
      • 1.2.1. Mục tiêu chung (15)
      • 1.2.2. Mục tiêu cụ thể (15)
    • 1.3. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu (15)
      • 1.3.1. Đối tượng nghiên cứu (15)
      • 1.3.2. Khách thể nghiên cứu (15)
      • 1.3.3. Phạm vi nghiên cứu (16)
  • PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (17)
    • 2.1. Các lý thuyết nền cho đề tài nghiên cứu (17)
      • 2.1.1. Thuyết lựa chọn duy lý (17)
      • 2.1.2. Thuyết cấu trúc chức năng (18)
    • 2.2. Các nghiên cứu liên quan (19)
      • 2.2.1. Thực trạng việc làm của nữ công nhân di cư (19)
      • 2.2.2. Đời sống vật chất của nữ công nhân di cư (24)
    • 2.3. Các khái niệm liên quan (30)
      • 2.3.1. Khái niệm việc làm (30)
      • 2.3.2. Khái niệm đời sống vật chất (30)
      • 2.3.3. Khái niệm công nhân (30)
  • PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (32)
    • 3.1. Chọn điểm nghiên cứu (32)
    • 3.2. Phương pháp nghiên cứu (33)
      • 3.2.1. Thu thập thông tin thứ cấp (33)
      • 3.2.2. Thu thập thông tin sơ cấp (34)
    • 3.3. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu (35)
    • 3.4. Khung phân tích (35)
  • PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (37)
    • 4.1. Đặc điểm, thông tin của các nữ công nhân di cư (37)
      • 4.1.1. Trình độ học vấn của các nữ công nhân trong mẫu điều tra (37)
      • 4.1.2. Nơi xuất cư của các nữ công nhân trong mẫu điều tra (38)
      • 4.1.3. Công việc trước khi di cư của các nữ công nhân (41)
      • 4.1.4. Lý do di cư của các nữ công nhân (44)
      • 4.1.5. Quyết định di cư của các nữ công nhân (46)
      • 4.1.6. Hoàn cảnh kinh tế gia đình tại nơi xuất cư của các nữ công nhân (49)
    • 4.2. Thực trạng việc làm của các nữ công nhân di cư (52)
      • 4.2.1. Bộ phận làm việc của các nữ công nhân trong công ty (52)
      • 4.2.2. Thâm niên, thời gian làm việc và thu nhập của các nữ công nhân (55)
      • 4.2.3. Hợp đồng và loại hợp đồng lao động của nữ công nhân (63)
      • 4.2.4. Đồ bảo hộ lao động của các nữ công nhân (65)
      • 4.2.5. Thưởng và chế độ phúc lợi của các nữ công nhân (67)
      • 4.2.6. Mức độ hài lòng và dự định với công việc hiện tại của các nữ công nhân (71)
    • 4.3. Đời sống vật chất của các nữ công nhân di cư (75)
      • 4.3.1. Người sống cùng nữ công nhân khi di cư (75)
      • 4.3.2. Điều kiện sinh hoạt của các nữ công nhân trong mẫu điều tra (78)
      • 4.3.3. Tiền tiết kiệm của các nữ công nhân di cư (88)
      • 4.3.4. Cách chăm sóc và khám bệnh lúc bị ốm của các nữ công nhân (90)
      • 4.3.5. Tham gia tiêm chủng Vaccine Covid 19 của các nữ công nhân (92)
      • 4.3.6. Chi tiêu trong một tháng của các nữ công nhân di cư (94)
      • 4.3.7. Đánh giá điều kiện sống và đời sống vật chất của các nữ công nhân khi (99)
      • 4.3.8. Mong muốn hiện tại của các nữ công nhân di cư (102)
  • PHẦN 5: KẾT LUẬN (105)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (108)
  • PHỤ LỤC (112)
    • Hộp 4.1: Nơi xuất cư của các nữ công nhân di cư (41)
    • Hộp 4.2: Công việc trước khi di cư của các nữ công nhân (43)
    • Hộp 4.3: Quyết định di cư của các nữ công nhân (48)
    • Hộp 4.4: Hoàn cảnh kinh tế gia đình của các nữ công nhân di cư (51)
    • Hộp 4.5: Bộ phận làm việc của các nữ công nhân di cư (54)
    • Hộp 4.6: Thâm niên làm việc của các nữ công nhân di cư (57)
    • Hộp 4.7: Thu nhập trung bình 1 tháng của các nữ công nhân di cư (62)
    • Hộp 4.8: Mức thưởng dịp lễ Tết của các nữ công nhân (69)
    • Hộp 4.9: Mức độ hài lòng của các nữ công nhân di cư về công việc hiện tại (72)
    • Hộp 4.10: Người ở cùng với các nữ công nhân tại phòng trọ (77)
    • Hộp 4.11: Chi tiêu trong một tháng của các nữ công nhân di cư (99)

Nội dung

GIỚI THIỆU

Đặt vấn đề

Việc làm là mối quan tâm hàng đầu của người lao động, vì nó đảm bảo nguồn thu nhập cho bản thân và gia đình Mặc dù năm 2018 đã tạo ra hơn 1,6 triệu việc làm, vẫn còn khoảng 1 triệu người thất nghiệp, gây áp lực lớn cho giai cấp công nhân, lực lượng chính tạo ra sản phẩm cho xã hội Hiện nay, có khoảng 24,5 triệu lao động làm công hưởng lương, trong đó công nhân chiếm 60%, tương đương 14% dân số và 27% lực lượng lao động xã hội Đặc biệt, công nhân nữ, nhóm yếu thế trong xã hội, gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm Tính đến tháng 12/2016, lao động nữ chiếm 63% trong 325 KCN, với một số ngành như da giày, dệt may có tỷ lệ nữ lên tới 80-90% Mặc dù tỷ lệ cao, công nhân nữ thường phải làm việc trong điều kiện khắc nghiệt, với thu nhập thấp hơn nam giới ở tất cả các khu vực kinh tế Ngay cả trong các ngành chủ yếu tuyển dụng phụ nữ, họ vẫn nhận mức lương thấp hơn so với đồng nghiệp nam và thường chỉ đảm nhận các công việc thông thường, trong khi các vị trí quản lý thường do nam giới đảm trách.

Nữ công nhân di cư thường đối mặt với nhiều khó khăn hơn so với lao động địa phương, đặc biệt là trong việc thích nghi với môi trường mới Thời gian làm việc của họ tại doanh nghiệp thường ngắn hơn, dẫn đến số năm kinh nghiệm thấp hơn và khó khăn trong việc tìm kiếm công việc ổn định Mặc dù tiền lương thấp, nhưng chi tiêu của lao động di cư lại cao hơn, do họ phải chi cho nhà ở, đi lại, chăm sóc y tế và các khoản chi khác như ma chay, hiếu hỷ, sinh nhật Nhiều người còn phải tiết kiệm để gửi tiền về quê hỗ trợ gia đình.

Nữ công nhân di cư không chỉ phải làm tăng ca thường xuyên mà còn đối mặt với nhiều vấn đề trong đời sống vật chất, đặc biệt là về nhà ở Hầu hết họ phải thuê nhà, nhưng các khu nhà trọ thường không đáp ứng các điều kiện sinh hoạt tối thiểu, như diện tích chật hẹp, thiếu ánh sáng và nước sạch Theo khảo sát, 11,8% công nhân sống chung phòng với 2 người, 4,9% với 3 người, 3,5% với 4 người, và 4,1% sống chung với hơn 5 người Đáng chú ý, 17,2% phòng trọ có diện tích dưới 10m², trong khi 35% có diện tích trên 10m².

Năm 2013, hầu hết công nhân nữ di cư phải sống trong các khu nhà trọ có giá cao nhưng điều kiện vật chất không đầy đủ Đến 90% công nhân và người lao động vẫn phải thuê nhà ở trong các khu dân cư chật hẹp, với cơ sở vật chất thiếu thốn, an ninh trật tự và vệ sinh môi trường không đảm bảo Đặc biệt, số lượng nhà trẻ và trường mầm non còn ít, chưa đáp ứng được nhu cầu, khiến các nữ công nhân không yên tâm trong công việc (Báo Phụ Nữ Việt Nam, 2018).

Khu công nghiệp Bảo Minh, tọa lạc tại xã Liên Minh và Liên Bảo, đã hoạt động từ năm 2012 Với sự đa dạng trong các ngành nghề như dệt, may và lắp ráp thiết bị điện tử, khu công nghiệp này đã thu hút một lượng lớn lao động địa phương.

Khu công nghiệp Bảo Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, thu hút một lượng lớn nữ công nhân di cư từ các địa phương khác, chủ yếu do các ngành nghề phù hợp với nữ giới Sự di cư này không chỉ ảnh hưởng đến đời sống của người dân địa phương mà còn tác động đến sự phát triển của khu công nghiệp Vấn đề việc làm và đời sống vật chất của những nữ công nhân di cư cần được quan tâm, nhằm hiểu rõ hơn về tình hình của họ Đề tài “Thực trạng việc làm và đời sống vật chất của nữ công nhân di cư” sẽ giúp làm sáng tỏ những câu hỏi này.

Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng việc làm và đời sống vật chất của nữ công nhân di cư

Tìm hiểu đặc điểm của nữ công nhân di cư trong mẫu điều tra tại khu công nghiệp Bảo Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định

Tìm hiểu thực trạng việc làm của nữ công nhân di cư tại khu công nghiệp Bảo Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định

Tìm hiểu đời sống vật chất của nữ công nhân di cư tại khu công nghiệp Bảo Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng việc làm và đời sống vật chất của nữ công nhân di cư

Công nhân nữ di cư đến làm việc tại khu công nghiệp Bảo Minh, huyện

Vụ Bản, tỉnh Nam Định

Nghiên cứu về việc làm và đời sống vật chất bao gồm nhiều khía cạnh như chất lượng việc làm và ảnh hưởng của nó đến người lao động Bài viết này tập trung vào thực trạng việc làm và đời sống vật chất của nữ công nhân di cư, đặc biệt là những người đang ở trọ tại địa phương Nội dung sẽ làm rõ đặc điểm và tình hình hiện tại của nữ công nhân di cư trong bối cảnh này.

- Phạm vi không gian: khu công nghiệp Bảo Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định

+ Thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu từ tháng 1 – 2022 đến tháng 6 –

Trong bài viết này, tôi sẽ phân tích thực trạng việc làm và đời sống vật chất của các nữ công nhân di cư, bao gồm cả những người đã kết hôn và chưa kết hôn, tại khu vực nghiên cứu.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chọn điểm nghiên cứu

Huyện Vụ Bản, nằm ở phía tây bắc tỉnh Nam Định, cách thành phố Nam Định 13 km và Hà Nội 103 km, có vị trí địa lý và mạng lưới giao thông thuận lợi cho phát triển dịch vụ, vận tải hàng hóa và giao lưu kinh tế, văn hóa Với nguồn nhân lực dồi dào và truyền thống anh hùng, người dân Vụ Bản chăm chỉ trong lao động sản xuất Khu công nghiệp Bảo Minh đã được xây dựng với diện tích 165ha, thu hút 10 nhà đầu tư thứ cấp và đạt tỷ lệ lấp đầy 80%, tạo việc làm cho khoảng 8.500 công nhân với mức lương ổn định từ 3,5 đến 4,5 triệu đồng/tháng Các cụm công nghiệp ở xã Quang Trung và xã Trung Thành cũng đang hoạt động hiệu quả, trong khi các ngành dịch vụ, du lịch và thương mại phát triển đa dạng, đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống của người dân.

Khu công nghiệp Bảo Minh, thành lập năm 2007 và hoạt động từ năm 2010, có diện tích 165 ha, mở rộng thêm 50 ha vào năm 2020 Nằm gần Quốc lộ 10 và đường sắt Bắc - Nam, KCN Bảo Minh thuộc địa phận ba xã: Liên Minh, Liên Bảo, Kim Thái KCN này được biết đến như một đối tác đáng tin cậy của các tập đoàn hàng đầu thế giới, bao gồm Sumi Wirings thuộc Tập đoàn Sumitomo, Nhật Bản, cùng với nhiều công ty may mặc nổi tiếng toàn cầu.

Khu công nghiệp Bảo Minh đã thu hút một lượng lớn lao động từ các tỉnh lân cận như Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa và Thái Bình Với sự hiện diện của các công ty như Sunrise Smart Shirt (Hồng Kông), Luentai, YulunTextile (Trung Quốc), Padmac (Đức) và Junzhen (Đài Loan), khu công nghiệp này đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm đa dạng cho người lao động.

Khu công nghiệp Bảo Minh hiện có khoảng 10 nghìn công nhân, với dự kiến mở rộng diện tích lên 193 ha vào năm 2021, tạo cơ hội việc làm cho khoảng 18.000 người Ngành dệt may là lĩnh vực chủ yếu và phát triển tại đây, thu hút nhiều nữ công nhân di cư, phù hợp với đặc điểm và sức khỏe của họ.

Điều kiện cơ sở hạ tầng tại khu công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút người lao động Khu công nghiệp đã xây dựng nhiều tiện ích như khu nhà ở cho công nhân và chuyên gia, phòng khám đa khoa, cửa hàng tiện lợi, dịch vụ giải trí, trung tâm thể thao tích hợp, ngân hàng, nhà hàng, nhà ăn, cùng với hệ thống phòng cháy chữa cháy, đồn công an và bảo vệ an ninh 24/24.

Xã Liên Minh, trung tâm của khu công nghiệp Bảo Minh, đã chứng kiến sự cải thiện đời sống của người dân kể từ khi khu công nghiệp được xây dựng Sự phát triển của các nhà hàng, quán ăn và dịch vụ vui chơi giải trí đã tạo ra nhiều cơ hội cho người lao động Đặc biệt, hình thức cho thuê trọ ngày càng phổ biến do vị trí thuận lợi gần chợ dân sinh và lượng lao động di cư lớn Hiện tại, Liên Minh cung cấp hai hình thức cho thuê cho người lao động di cư: khu tách biệt và ở cùng chủ nhà Vì vậy, khu công nghiệp Bảo Minh là địa điểm lý tưởng cho đề tài nghiên cứu về “Thực trạng việc làm và đời sống vật chất của nữ công nhân di cư.”

Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Thu thập thông tin thứ cấp

Tiến hành thu thập tài liệu từ nhiều nguồn như sách, báo, tạp chí, luận văn, các công trình nghiên cứu khoa học và internet để nghiên cứu thực trạng việc làm và đời sống.

22 sống vật chất của công nhân nữ di cư Ngoài ra, thu thập thông tin từ KCN và địa bàn nghiên cứu về lao động di cư

3.2.2 Thu thập thông tin sơ cấp

 Phương pháp thu thập bằng bảng hỏi

Nghiên cứu này chọn 65 mẫu từ danh sách hơn 8000 công nhân nữ tại khu công nghiệp Bảo Minh, trong đó có 1200 nữ công nhân di cư Mẫu được chia thành hai nhóm: nhóm 1 gồm 35 công nhân nữ đã lập gia đình và nhóm 2 gồm 30 công nhân nữ chưa lập gia đình Mục tiêu của nghiên cứu là điều tra thực trạng việc làm và đời sống của hai nhóm nữ công nhân di cư đang ở trọ tại địa phương Phương pháp điều tra sử dụng bảng hỏi để thu thập thông tin về đặc điểm và tình hình việc làm, cũng như đời sống vật chất của họ khi làm việc tại các khu công nghiệp.

 Phương pháp phỏng vấn sâu Đề tài thực hiện 12 phỏng vấn sâu:

+ 01 phỏng vấn sâu cán bộ địa phương để tìm hiểu đặc điểm và điều kiện vật chất của nữ công nhân di cư

+ 01 phỏng vấn sâu cán bộ quản lý công nhân để tìm hiểu đặc điểm, thực trạng việc làm của nữ công nhân di cư

+ 05 phỏng vấn sâu đối với nữ công nhân đã lập gia đình để tìm hiểu đặc điểm, thực trạng việc làm và đời sống vật chất của họ

+ 05 phỏng vấn sâu đối với nữ công nhân chưa lập gia đình để tìm hiểu đặc điểm, thực trạng việc làm và đời sống vật chất của họ

Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

Thông tin định tính được thu thập từ phỏng vấn sâu và phỏng vấn nhóm đã được xử lý và tổng hợp qua các báo cáo thực địa, trong khi thông tin định lượng được thu thập thông qua điều tra bảng hỏi và được phân tích bằng phần mềm SPSS.

Khung phân tích

Thực trạng việc làm và đời sống vật chất của nữ công nhân di cư

Công nhân nữ đã kết hôn

Công nhân nữ chưa kết hôn Đặc điểm -Trình độ học vấn

- Công việc trước khi di cư

- …… Đời sống vật chất -Người sống cùng phòng trọ

Đề tài “Thực trạng việc làm và đời sống vật chất của nữ công nhân di cư” được tiếp cận qua ba khía cạnh chính: đặc điểm, thực trạng việc làm và đời sống của nữ công nhân di cư, bao gồm cả nhóm đã và chưa kết hôn Nghiên cứu tập trung vào đặc điểm của nữ công nhân, đặc biệt là công việc trước khi di cư và lý do di cư Về thực trạng việc làm, nghiên cứu xem xét công việc, thời gian, thu nhập, cũng như các chế độ chính sách và phúc lợi mà hai nhóm nữ công nhân được hưởng Cuối cùng, trong khía cạnh đời sống vật chất, nghiên cứu đánh giá điều kiện nhà ở, sinh hoạt và cảm nhận của các nữ công nhân về cuộc sống hiện tại.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm, thông tin của các nữ công nhân di cư

4.1.1 Trình độ học vấn của các nữ công nhân trong mẫu điều tra

Trình độ học vấn phản ánh sự hiểu biết và kiến thức của mỗi cá nhân, đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp của người lao động Những người có trình độ học vấn cao thường có cơ hội tiếp cận các công việc chuyên môn với thu nhập cao, trong khi những người có trình độ hạn chế thường chỉ có thể làm các công việc lao động phổ thông với thu nhập không ổn định Theo bảng (4.1), đa số nữ công nhân di cư có trình độ học vấn từ tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên.

Bảng 4.1 Trình độ học vấn của nữ công nhân di cư Trình độ học vấn Đã kết hôn (35) Chưa kết hôn (30)

Sơ cấp, trung cấp nghề 0 0 2 6.7

Cao đẳng, đại học, sau đại học 5 14.3 3 10.0

Kết quả điều tra năm 2022 cho thấy tỷ lệ nữ công nhân tốt nghiệp trung học phổ thông cao ở cả hai nhóm đã và chưa kết hôn Đặc biệt, trong nhóm nữ công nhân di cư đã kết hôn, tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông đạt 77.1% Một nữ công nhân 23 tuổi chia sẻ: “Học hết lớp 12 thôi, chứ tiền đâu mà học đại học.” Tỷ lệ tốt nghiệp cao đẳng và đại học đạt 14.3%, trong đó tất cả đều tốt nghiệp cao đẳng và đại học, không có ai có bằng sau đại học.

Tỷ lệ tốt nghiệp trung học cơ sở hiện nay chỉ đạt 8.6%, khiến những người có trình độ này gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm, đặc biệt là trong các công ty yêu cầu trình độ từ trung học phổ thông trở lên Nhiều công nhân cho biết, trước đây, sau khi tốt nghiệp cấp 2, họ thường đi làm hoặc học nghề, nhưng hiện tại, hầu hết đều phải thi lên cấp 3 Những người chỉ có bằng cấp 2 thường không được ký hợp đồng và phải làm công việc nặng nhọc hơn Trong khi đó, tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông ở nhóm chưa kết hôn đạt 83.3%, cho thấy sự khác biệt rõ rệt trong trình độ học vấn giữa các nhóm.

Chị tốt nghiệp kế toán từ Học viện Tài Chính, hiện 28 tuổi và chưa kết hôn Trong đó, trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học chiếm 10%, trong khi sơ cấp và trung cấp nghề chiếm 6.7%.

Tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông vẫn cao nhất ở cả hai nhóm đối tượng, trong khi tỷ lệ tốt nghiệp tiểu học là 0% Đối với trình độ trung học cơ sở, nhóm đã kết hôn vẫn có tỷ lệ, trong khi nhóm chưa kết hôn không có Ở trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học, nhóm đã kết hôn có tỷ lệ cao hơn nhóm chưa kết hôn là 4.3% Mặc dù nhóm đã kết hôn có trình độ học vấn cao hơn, vẫn tồn tại những cá nhân có trình độ thấp là trung học cơ sở, cho thấy sự chênh lệch về trình độ học vấn giữa hai nhóm.

4.1.2 Nơi xuất cư của các nữ công nhân trong mẫu điều tra

Nơi xuất cư của nữ công nhân di cư và người di cư nói chung là quê hương, nơi mà họ sinh trưởng và lớn lên Đây là địa điểm mà cá nhân sinh sống trước khi quyết định di cư, có thể là trong cùng một tỉnh hoặc từ tỉnh này sang tỉnh khác Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nữ công nhân di cư từ các huyện trong tỉnh chiếm tỷ lệ cao.

27 hơn các nữ công nhân đến từ tỉnh khác, điều này thể hiện rõ qua 2 nhóm nữ công nhân đã và chưa kết hôn (Bảng 4.2)

Bảng 4.2 Nơi xuất cư của nữ công nhân di cư Nơi xuất cư Đã kết hôn (35) Chưa kết hôn (30)

(Nguồn: Số liệu điều tra 2022)

Theo bảng 4.2, tỷ lệ nữ lao động di cư đã kết hôn trong tỉnh đạt 57.1%, cho thấy khu công nghiệp Bảo Minh có sức hút lớn đối với lao động từ địa phương và các huyện lân cận Khu công nghiệp này nằm trên ba xã Liên Minh, Liên Bảo và Kim Thái, thu hút nhiều nữ công nhân từ các xã như Tam Thanh, Vĩnh Hào Việc di cư giúp nữ công nhân có thời gian thăm gia đình nhiều hơn và thuận tiện cho việc đăng ký thường trú, tạm trú Nhiều nữ công nhân di cư từ huyện này sang huyện khác trong cùng tỉnh vẫn nhận được sự hỗ trợ từ gia đình Một nữ công nhân cho biết: “Chị ở bên Ý Yên, cách đây gần 20 km Đi đi về về mệt lắm, nên chị thuê trọ ở lại đây cho gần.” Tỷ lệ nữ công nhân đã kết hôn di cư trong tỉnh cao hơn ngoài tỉnh, cho thấy họ đã cân nhắc kỹ lưỡng trước khi quyết định di cư Ngoài ra, khu công nghiệp còn thu hút nhiều lao động nữ từ các tỉnh lân cận như Ninh Bình, Hà Nam, Vĩnh Phúc.

Lao động tại miền Trung, đặc biệt là Nghệ An và Thanh Hóa, rất nhạy bén trong việc di cư để tìm kiếm công việc tốt hơn Tỷ lệ nữ công nhân đã kết hôn di cư đến khu công nghiệp Bảo Minh chiếm 42.9%, giúp họ có thu nhập cao hơn và cải thiện đời sống gia đình Tuy nhiên, việc xa nhà và thiếu sự hỗ trợ từ gia đình tạo ra nhiều khó khăn, đặc biệt là đối với nữ giới, do họ còn phải đảm nhận vai trò làm mẹ Đối với nữ công nhân chưa kết hôn, tỷ lệ di cư trong tỉnh đạt 53.3%, với xu hướng di chuyển từ huyện này sang huyện khác để tìm việc Tỷ lệ di cư ngoài tỉnh của nhóm này cũng không chênh lệch nhiều, đạt 46.7%, cho thấy sức hút lớn của khu công nghiệp đối với nữ công nhân trẻ và chưa có gia đình.

Sự khác biệt giữa hai nhóm nữ công nhân di cư trong tỉnh và ngoài tỉnh tại khu công nghiệp Bảo Minh chủ yếu do điều kiện làm việc và chế độ đãi ngộ tốt Các nữ công nhân trong tỉnh ưu tiên làm việc tại đây để tiết kiệm thời gian tìm kiếm việc làm và gần gũi với gia đình Họ tự hỏi liệu công việc ở nơi khác có tốt như trong tỉnh hay không Trong khi đó, các nữ công nhân ngoài tỉnh cũng đã nghiên cứu kỹ lưỡng và cân nhắc trước khi quyết định di cư đến làm việc tại khu công nghiệp này.

Hộp 4.1: Nơi xuất cư của các nữ công nhân di cư

Chị sống tại xã Tân Thành và làm việc tại công ty nến gần Mỹ Xá, nhưng chị lại thích làm việc ở đây hơn Mặc dù công ty ở Mỹ Xá gần hơn, nhưng chị vẫn chọn Bảo.

Minh về nhà chị vẫn gần hơn so với mấy người từ Hải Hậu lên đây làm nên hôm ở trọ hôm về nhà, đi đi về về suốt.”

(PVS, nữ đã kết hôn, 35 tuổi)

Mình sống ở Vĩnh Hào, Vụ Bản, cách nơi làm việc khoảng 5 km Tuy nhiên, do một số lý do, mình đã chọn ở trọ gần chỗ làm hơn, chỉ cách hơn 1 km, giúp tiết kiệm thời gian di chuyển.

(PVS, nữ chưa kết hôn, 26 tuổi)

Hai vợ chồng chị, xuất thân từ Nghệ An, đã từng sống và làm việc tại Hà Nội một thời gian trước khi trở về quê Sau khi được giới thiệu về khu công nghiệp gần nhà, họ đã quyết định chuyển đến Nam Định để phát triển sự nghiệp.

(PVS, nữ đã kết hôn, 33 tuổi)

Tỷ lệ xuất cư trong tỉnh của cả hai nhóm đã kết hôn và chưa kết hôn đều cao, trong đó nhóm đã kết hôn có tỷ lệ xuất cư cao hơn Sự chênh lệch cũng xuất hiện trong tỷ lệ xuất cư ngoài tỉnh giữa hai nhóm Đặc biệt, tỷ lệ xuất cư của nhóm công nhân nữ đã kết hôn ở cả hai khu vực trong tỉnh và ngoài tỉnh đều lớn hơn so với nhóm chưa kết hôn.

4.1.3 Công việc trước khi di cư của các nữ công nhân

Qua bảng (4.3), có thể thấy trước khi di cư, tỷ lệ nữ công nhân là học sinh, công nhân và chưa có việc làm chiểm tỷ lệ khá cao

Bảng 4.3 Công việc trước khi di cư của các nữ công nhân

Công việc trước khi di cư Đã kết hôn (35) Chưa kết hôn (30)

Nông dân 3 8.6 0 0 Ở nhà chưa có việc làm 5 14.3 2 6.7

(Nguồn: Số liệu điều tra 2022)

Kết quả điều tra cho thấy, trong nhóm đối tượng đã kết hôn, tỷ lệ học sinh, sinh viên trước khi di cư chiếm 42.9%, cho thấy nhiều nữ công nhân chọn di cư sau khi hoàn thành chương trình học Nhiều người quyết định ngừng học sau trung học phổ thông để đi làm, trong khi một số khác tiếp tục học cao đẳng, đại học trước khi di cư Tỷ lệ nữ công nhân trước và sau di cư đều cao, đạt 34.3%, cho thấy họ chỉ thay đổi nơi cư trú mà vẫn muốn tiếp tục công việc Các nữ công nhân di cư đã có kinh nghiệm và tay nghề, giúp họ hưởng nhiều quyền lợi hơn so với người mới Tuy nhiên, 14.3% nữ công nhân di cư chưa có việc làm, chủ yếu là các mẹ bỉm sữa do lý do gia đình Tỷ lệ nữ công nhân nông dân trước khi di cư cũng cao, với 8.6%, cho thấy xu hướng một người trong gia đình đi làm kiếm tiền trong khi người còn lại ở nhà làm nông để giữ đất.

“Ở quê chị cũng không phải quá nghèo nhưng so với ở đây thì vẫn còn chưa

Chị đã phát triển nhiều trong cuộc sống, khi trở về từ Hà Nội, chồng chị làm thuê còn chị chăm sóc mấy sào ruộng, vườn tược và nuôi thêm gà lợn.

Thực trạng việc làm của các nữ công nhân di cư

4.2.1 Bộ phận làm việc của các nữ công nhân trong công ty

Trong cơ cấu tổ chức của công ty, các phòng ban và bộ phận đảm nhận những nhiệm vụ và chức năng riêng biệt, phản ánh tính chất công việc của nhân viên Các doanh nghiệp, đặc biệt là trong ngành may, thường có những bộ phận chủ chốt như văn phòng, kỹ thuật và kho Theo kết quả điều tra, nữ công nhân di cư làm việc ở hầu hết các bộ phận trong doanh nghiệp, nhưng tỷ lệ làm việc trong bộ phận hành chính văn phòng và bộ phận sản xuất cao hơn so với các bộ phận khác.

Bảng 4.7 Bộ phận làm việc của các nữ công nhân di cư

Bộ phận làm việc Đã kết hôn Chưa kết hôn

Bộ phận hành chính văn phòng 6 17.1 7 23.3

Bộ phận sản xuất (may) 9 25.7 15 50.0

Theo số liệu điều tra năm 2022, tỷ lệ nữ công nhân di cư làm việc trong bộ phận hoàn thành là rất cao Bộ phận hoàn thành đóng vai trò quan trọng, là công đoạn cuối cùng trước khi sản phẩm được chuyển đến tay người tiêu dùng.

Công nhân sẽ kiểm tra và đánh giá chất lượng sản phẩm để đảm bảo hàng hóa không có vấn đề trước khi ra khỏi nhà máy Bộ phận này yêu cầu sự tỉ mỉ và chính xác, vì vậy tỷ lệ nữ công nhân đã kết hôn làm việc tại đây cao hơn so với những người chưa kết hôn Nữ công nhân đã kết hôn thường có sự tỉ mỉ, cẩn thận và kinh nghiệm nhiều hơn Một công nhân cho biết: “Chị đang làm việc ở bộ phận hoàn thành, kiểm tra quần áo sau khi may xong xem có bị sứt chỉ hay không, đường may như thế nào, hay có lỗi gì không, sau đó đóng gói trước khi xuất hàng ra ngoài thị trường.”

Bộ phận hành chính nhân sự là nơi chuyên xử lý thủ tục, giấy tờ và các vấn đề pháp lý, kinh tế của công ty Để làm việc tại đây, nữ công nhân cần có trình độ từ cao đẳng trở lên, cùng với kỹ năng tin học văn phòng cơ bản và khả năng sử dụng tiếng Anh Ngoài ra, do sự hiện diện của các công ty Trung Quốc và Nhật Bản trong khu công nghiệp, việc biết thêm tiếng Trung và tiếng Nhật sẽ là một lợi thế Hầu hết các nữ công nhân chưa kết hôn đều trẻ tuổi, nhạy bén và có khả năng tự chủ về thời gian, điều này giúp họ dễ dàng hơn trong việc học tập và làm việc tại bộ phận này.

Bộ phận kế toán chịu trách nhiệm kiểm tra thu chi và cung cấp báo cáo thuế cho lãnh đạo Làm việc tại đây không quá khó, đặc biệt khi khu công nghiệp hiện nay có nhiều người Trung Quốc và Nhật Bản, nên việc biết tiếng Trung và tiếng Nhật là một lợi thế Nhiều bạn trẻ mới tốt nghiệp cấp 3 đã có cơ hội làm việc tại đây nhờ vào việc học tiếng Trung và tin học văn phòng cơ bản, giúp họ dễ dàng có được chứng chỉ và gia nhập thị trường lao động Thế hệ trẻ hiện nay rất nhanh nhạy và có khả năng học hỏi tốt.

Bộ phận sản xuất là phần quan trọng nhất trong cơ cấu tổ chức của công ty, với tỷ lệ lao động cao nhất, chuyên trực tiếp sản xuất các sản phẩm như áo, quần Đây là bộ phận đông đảo nhất, thể hiện vai trò thiết yếu trong việc đảm bảo năng suất và chất lượng sản phẩm Thời gian và sức lao động của công nhân trong bộ phận này đóng góp quyết định vào sự thành công của công ty.

Ngành công nghiệp này cần nhiều nhân sự, đặc biệt là những người nhanh nhẹn, vì vậy các công ty thường ưu tiên tuyển dụng công nhân trẻ để đào tạo và gắn bó lâu dài Tuy nhiên, đối với những nữ công nhân có kinh nghiệm và gia đình, sau một thời gian, họ có xu hướng ưu tiên cho gia đình, dẫn đến việc thay đổi công việc hoặc chuyển sang những công việc khác để có thời gian chăm sóc cho gia đình.

Bộ phận kho là nơi lưu trữ và quản lý nguyên liệu đầu vào như vải vóc và hàng hóa xuất ra thị trường như quần áo, yêu cầu sự cẩn thận và chính xác, phù hợp với nữ công nhân Tuy nhiên, thời gian làm việc là trở ngại cho các nữ công nhân có gia đình, dẫn đến việc nhiều nữ công nhân chưa kết hôn làm việc ở đây hơn Trong khi đó, bộ phận cắt và kỹ thuật có sự tham gia đông đảo của nữ công nhân di cư, nhưng chủ yếu là nam giới do liên quan đến máy móc Nữ công nhân chưa kết hôn thường ưu tiên các bộ phận nhẹ nhàng và đơn giản, ít người chọn làm việc ở bộ phận này.

Hộp 4.5: Bộ phận làm việc của các nữ công nhân di cư

Chị làm việc tại bộ phận may, chuyên may áo và quần, nơi ưu tiên tuyển dụng người trẻ, nhanh nhạy và khỏe mạnh Với tình trạng chưa có gia đình, chị được đào tạo để có thể làm việc lâu dài hơn so với những người đã có gia đình và kinh nghiệm Nhiều đồng nghiệp sau khi tích lũy kinh nghiệm thường chuyển sang công ty khác với mức lương cao hơn, hoặc mở tiệm may riêng, hoặc làm cho các nhà tư nhân.

(PVS, nữ chưa kết hôn, 20 tuổi)

“Chị làm bên kho, quản lý nắm bắt số lượng hàng hóa; sắp xếp hàng hóa trong kho cho phù hợp, mất mát hay sai số là nguy hiểm”

(PVS, nữ đã kết hôn, 35 tuổi)

Các công nhân nữ di cư làm việc ở hầu hết các bộ phận trong doanh nghiệp, nhưng có sự chênh lệch giữa nhóm đã kết hôn và chưa kết hôn Nhóm đã kết hôn làm việc ở nhiều bộ phận, trong khi nhóm chưa kết hôn chủ yếu tập trung ở một số bộ phận như sản xuất (may), hành chính văn phòng, kho và hoàn thành Trong bộ phận sản xuất (may) và hành chính văn phòng, nhóm chưa kết hôn chiếm ưu thế hơn, mặc dù sự chênh lệch không quá lớn Tóm lại, cả hai nhóm công nhân nữ di cư đều có thể làm việc trong các bộ phận phù hợp với năng lực, kỹ năng và kinh nghiệm của họ.

4.2.2 Thâm niên, thời gian làm việc và thu nhập của các nữ công nhân

Thời gian làm việc của nữ công nhân di cư bắt đầu từ khi họ ký hợp đồng lao động, và có thể kéo dài từ vài tuần đến nhiều năm tùy thuộc vào từng cá nhân Số năm làm việc này ảnh hưởng đến mức độ tăng lương, phụ cấp và chế độ đãi ngộ mà họ nhận được Kết quả điều tra cho thấy có sự khác biệt rõ rệt về thâm niên làm việc giữa hai nhóm nữ công nhân di cư.

Bảng 4.8 Thâm niên làm việc của các nữ công nhân di cư

Thâm niên làm việc Đã kết hôn (35) Chưa kết hôn (30)

Theo số liệu điều tra năm 2022, 42.9% công nhân nữ đã kết hôn có thời gian làm việc trên 5 năm, cho thấy công việc hiện tại phù hợp với nhu cầu và khả năng của họ.

Thời gian di cư của nữ công nhân khá lâu, với nhiều người gắn bó với công việc hiện tại do phù hợp với bản thân Đặc biệt, những nữ công nhân đã có gia đình gặp khó khăn khi làm việc xa nhà trên 5 năm, nhưng tỷ lệ gắn bó lâu dài vẫn cao, cho thấy công việc giúp họ chăm lo cho gia đình Nữ công nhân đã kết hôn thường mong muốn có công việc ổn định và thu nhập cao hơn, với 31.4% trong nhóm này gắn bó từ 3 đến dưới 5 năm, cho thấy sự ổn định trong công việc Thời gian làm việc từ 1 đến dưới 3 năm chiếm 25.7%, phản ánh giai đoạn khởi đầu của công việc, có thể do họ mới di cư hoặc còn vướng bận gia đình.

Tỷ lệ nữ công nhân chưa kết hôn gắn bó với công việc hiện tại trên 5 năm chỉ đạt 20%, cho thấy họ chưa xác định sẽ gắn bó lâu dài Tuy nhiên, điều này cũng cho thấy một số nữ công nhân mong muốn ổn định công việc và cảm thấy công việc hiện tại phù hợp với yêu cầu của họ Trong khi đó, tỷ lệ nữ công nhân có thâm niên từ 3 đến dưới 5 năm chiếm 43.3%, phản ánh rằng thời gian này thường phù hợp với độ tuổi của những người mới tốt nghiệp trung học phổ thông, cao đẳng hoặc đại học, đánh dấu giai đoạn ổn định công việc đầu tiên trong sự nghiệp của họ.

“Chị làm được hơn 4 năm rồi, công việc đang dần ổn định, mọi thứ đi vào

Trong giai đoạn này, nhiều nữ công nhân chưa kết hôn, như PVS (28 tuổi), đã xác định rõ công việc mà họ muốn theo đuổi lâu dài Khoảng 36.7% trong số họ có thâm niên từ 1 đến dưới 3 năm, cho thấy họ có nhiều thời gian để lựa chọn công việc ổn định Nếu công việc không phù hợp, họ sẵn sàng thay đổi để tìm kiếm cơ hội tốt hơn, đồng thời bắt đầu tìm kiếm công việc phù hợp với bản thân.

Hộp 4.6: Thâm niên làm việc của các nữ công nhân di cư

Đời sống vật chất của các nữ công nhân di cư

4.3.1 Người sống cùng nữ công nhân khi di cư

Vấn đề nhà ở của nữ công nhân di cư rất quan trọng, với phần lớn họ tìm kiếm phòng trọ để thuê Việc tìm người ở ghép phù hợp với tính cách và lối sống cũng cần thiết, vì sau một ngày làm việc mệt mỏi, họ cần có người để tâm sự và chia sẻ Theo bảng (4.17), tỷ lệ nữ công nhân đã kết hôn sống với chồng và con chiếm tỷ lệ cao, trong khi nhóm nữ công nhân chưa kết hôn sống một mình cũng có tỷ lệ đáng kể.

Bảng 4.17 Người sống cùng phòng trọ với nữ công nhân di cư

Người sống cùng phòng trọ Đã kết hôn (35) Chưa kết hôn (30)

(Nguồn: Số liệu điều tra 2022)

Theo bảng 4.17, tỷ lệ nữ công nhân sống cùng chồng và con tại nơi ở chiếm 51.4%, cho thấy họ may mắn được ở bên gia đình, chăm sóc những người thân yêu sau giờ làm việc Việc có con cái gần gũi là động lực lớn giúp họ nỗ lực trong công việc Sống cùng gia đình mang lại cảm giác ấm áp, giúp họ vượt qua khó khăn trong cuộc sống và công việc Ngoài ra, 8.6% nữ công nhân đã kết hôn sống cùng họ hàng, như chị em hay cô dì, tạo sự thân quen và dễ dàng hơn so với sống với người lạ Bên cạnh đó, 22.9% nữ công nhân chọn sống cùng đồng nghiệp, giúp họ có thể trao đổi công việc và nhận được sự thông cảm từ những người cùng ngành.

Tỷ lệ nữ công nhân đã kết hôn sống một mình chỉ đạt 17.1%, chủ yếu vì họ thường sống cùng chồng hoặc con cái, hoặc ở ghép với bạn bè và đồng nghiệp để tiết kiệm chi phí nhà ở Điều này giúp họ có thêm tài chính để gửi về cho gia đình Mặc dù một số nữ công nhân chọn sống một mình để có không gian thoải mái hơn, nhưng chi phí sinh hoạt sẽ cao hơn so với việc ở ghép Đối với nữ công nhân chưa kết hôn, tỷ lệ lựa chọn sống độc lập cao hơn.

Khoảng 50.0% nữ công nhân chọn sống một mình, chủ yếu vì họ còn trẻ và yêu thích cuộc sống tự do Sau một ngày làm việc vất vả, họ trở về phòng và có thể thoải mái làm những điều mình thích mà không bị ai quản lý hay phải lo lắng về ánh mắt của người khác Đây là khoảng thời gian để họ được là chính mình mà không phải gánh vác nhiều trách nhiệm như những người đã kết hôn.

65 công nhân đã kết hôn, cho phép họ tự chi trả chi phí phòng trọ Một nữ công nhân 26 tuổi cho biết: “Nhà chị cách đây hơn 30 km nên chị thuê trọ cho tiện đi lại; với lại sống một mình cho thoải mái.” Tỷ lệ sống cùng đồng nghiệp đạt 33.3%, cho thấy nữ công nhân di cư dễ dàng hòa nhập với môi trường mới và tìm được bạn bè có hoàn cảnh tương tự để chia sẻ Những người đồng nghiệp không chỉ là đồng đội mà còn là bạn bè, giúp họ vượt qua khó khăn khi xa gia đình Cuối cùng, tỷ lệ sống cùng họ hàng là 16.7%.

Hộp 4.10: Người ở cùng với các nữ công nhân tại phòng trọ

Chị hiện đang sống cùng một đồng nghiệp, và cả hai chị em làm việc tại cùng một công ty Họ có tính cách hợp nhau, vì vậy chị đã mời cô ấy về sống chung.

(PVS, nữ đã kết hôn, 33 tuổi)

Trước đây, tôi cảm thấy cô đơn khi sống một mình, đi làm về chỉ lủi thủi một mình Một hôm, con bé trong tổ chị tôi đang tìm nhà trọ, chúng tôi có tính cách gần giống nhau và nói chuyện hợp nhau Thế là tôi đã mời nó về ở chung để có chị có em, và chúng tôi đã sống cùng nhau gần 2 năm rồi.

(PVS, nữ chưa kết hôn, 23 tuổi)

Kết quả nghiên cứu cho thấy phần lớn nữ công nhân đã kết hôn có xu hướng sống chung với chồng và con cái, tạo điều kiện cho gia đình luôn ở bên nhau trong quá trình di cư kiếm việc Ngược lại, các nữ công nhân chưa có gia đình thường chọn sống một mình để tận hưởng sự tự do cá nhân, mặc dù chi phí sinh hoạt cao hơn Ngoài ra, việc sống chung với đồng nghiệp và họ hàng cũng là lựa chọn phổ biến của nữ công nhân ở cả hai nhóm, nhằm duy trì sự gắn kết trong cuộc sống.

Nhiều người cảm thấy nhàm chán sau những giờ làm việc mệt mỏi, vì vậy việc chia sẻ không gian sống với nhau trở thành một giải pháp thú vị Đặc biệt, khi ở ghép, chi phí sinh hoạt sẽ giảm đáng kể, giúp các nữ công nhân có thêm khoản tiết kiệm cho bản thân.

4.3.2 Điều kiện sinh hoạt của các nữ công nhân trong mẫu điều tra

Phòng trọ là nơi cư trú và sinh hoạt của những người di cư, đóng vai trò như ngôi nhà thứ hai cho họ Đây là chốn trở về sau những giờ làm việc căng thẳng, giúp công nhân nghỉ ngơi và tái tạo sức lao động Đặc biệt, phòng trọ của các nữ công nhân di cư có diện tích rộng rãi, phù hợp cho việc sống một mình hoặc ở ghép.

Bảng 4.18 Diện tích phòng trọ của các nữ công nhân di cư

Diện tích phòng trọ Đã kết hôn (35) Chưa kết hôn (30)

Theo số liệu điều tra năm 2022, phòng ở của các công nhân nữ đã kết hôn thường có diện tích dưới 20m², đủ cho 2 người lớn và 1 trẻ con sinh hoạt Mặc dù không rộng rãi, nhưng không gian này tạo cảm giác ấm cúng và gần gũi Một công nhân cho biết: “Phòng này chị không biết chính xác bao nhiêu m² nhưng mà đợt thuê bác chủ có bảo là dưới 20 m².” (PVS, nữ đã kết hôn, 32 tuổi) Một người khác cũng chia sẻ: “Phòng chị dưới 20 m² thôi, để 2 cái xe máy to thì cũng hơi chật.” (PVS, nữ đã kết hôn, 35 tuổi) Các phòng này thường có chi phí thấp, phù hợp với thu nhập của đa số nữ công nhân di cư.

Khoảng 20% nữ công nhân chọn phòng trọ có diện tích 30m2, vì không gian rộng rãi và giá cả hợp lý Họ thường sống cùng gia đình hoặc đồng nghiệp để tiết kiệm chi phí và tạo sự gắn kết Chỉ 5.7% nữ công nhân thuê phòng từ 40m2 trở lên, thường là những gia đình có điều kiện kinh tế tốt, ưa chuộng sự thoải mái Họ thường chọn thuê nhà cũ không còn sử dụng, tạo cảm giác quen thuộc như ở nhà Sau một ngày làm việc căng thẳng, việc trở về căn nhà ấm cúng giúp họ thư giãn và tái tạo sức lao động Một nữ công nhân chia sẻ: “Tôi may mắn thuê được căn nhà cấp bốn cũ, rộng rãi với 3 gian nhà chính, sân vườn nhỏ để trồng rau, và đầy đủ tiện nghi như bếp, nhà tắm, và vệ sinh sạch sẽ.”

Tỷ lệ công nhân nữ chưa kết hôn chọn phòng có diện tích dưới 20m2 chiếm 76.7%, chủ yếu vì họ sống một mình và muốn tiết kiệm chi phí Một công nhân nữ chia sẻ: “Phòng 15 m2 đầy đủ mọi thứ chả khác ở nhà mình là bao, chỉ không rộng rãi như ở quê nhưng mà cũng ấm cúng, bé bé xinh xinh.” Mức thu chi ở quê rẻ hơn so với thành phố, nên với thu nhập của họ, phòng trọ nhỏ là lựa chọn hợp lý Trong khi đó, diện tích phòng từ 20m2 đến dưới 30m2 chiếm 23.3%, thường được các nữ công nhân chọn để sống cùng người thân, bạn bè hoặc đồng nghiệp.

68 nhân chưa kết hôn, giống như các nữ công nhân đã kết hôn, thường chọn người ở ghép để tiết kiệm chi phí và có không gian sinh hoạt thoải mái hơn Các nữ công nhân chưa kết hôn thường ưu tiên thuê những căn phòng nhỏ, vì họ sống một mình, tránh lãng phí diện tích và giảm chi phí thuê phòng cũng như sinh hoạt.

Nơi trọ đóng vai trò quan trọng đối với nữ công nhân, không chỉ là chỗ nghỉ ngơi mà còn là không gian thư giãn giúp tái tạo sức lao động Một chỗ ở tốt mang lại sự thoải mái và niềm vui sau những giờ làm việc căng thẳng, trong khi nơi ở kém chất lượng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến tâm trạng và hiệu suất công việc Hầu hết nữ công nhân đều cân nhắc kỹ lưỡng khi chọn phòng trọ, đảm bảo phù hợp với tiêu chí cá nhân và ngân sách của mình.

Ngày đăng: 11/07/2023, 14:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Lê Ngọc Hùng, 2011. Giáo trình lịch sử và lý thuyết xã hội học. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử và lý thuyết xã hội học
Tác giả: Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
15. Linh Nhi, 2013. Bảo vệ quyền lợi lao động nữ nhập cư: Đòi hỏi bức thiết. 16. Luật Lao Động, 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền lợi lao động nữ nhập cư: Đòi hỏi bức thiết
Tác giả: Linh Nhi
Nhà XB: Luật Lao Động
Năm: 2013
17. Mai Qúy, 2021. Tạo dựng môi trường sống và làm việc an toàn cho lao động nữ. Lao động Thủ đô Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạo dựng môi trường sống và làm việc an toàn cho lao động nữ
Tác giả: Mai Qúy
Nhà XB: Lao động Thủ đô
Năm: 2021
18. Minh Đức, 2021. Giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng lớn mạnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng lớn mạnh
Tác giả: Minh Đức
Năm: 2021
19. Minh Ngọc, 2018. Tạo việc làm bền vững cho lao động nữ nhập cư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạo việc làm bền vững cho lao động nữ nhập cư
Tác giả: Minh Ngọc
Năm: 2018
20. Nam Dương, 2021. Nữ công nhân ngành may: Chi tiêu cho bản thân chỉ chiếm 12% thu nhập. Báo Lao Động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nữ công nhân ngành may: Chi tiêu cho bản thân chỉ chiếm 12% thu nhập
Tác giả: Nam Dương
Nhà XB: Báo Lao Động
Năm: 2021
21. Ngân Anh, 2018. Việc làm cho nữ giới: Chưa hết những rào cản. Báo Nhân Dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc làm cho nữ giới: Chưa hết những rào cản
Tác giả: Ngân Anh
Nhà XB: Báo Nhân Dân
Năm: 2018
22. Ngọc Nga, Sái Trang , 2018. Cuộc sống của nữ công nhân: Lương thấp, công việc bấp bênh, nghỉ việc là hai bàn tay trắng, Gia đình mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc sống của nữ công nhân: Lương thấp, công việc bấp bênh, nghỉ việc là hai bàn tay trắng
Tác giả: Ngọc Nga, Sái Trang
Nhà XB: Gia đình mới
Năm: 2018
23. Ngọc Tú, 2016. Bảo vệ nữ lao động nhập cư: Cần sự chung tay của cả cộng đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ nữ lao động nhập cư: Cần sự chung tay của cả cộng đồng
Tác giả: Ngọc Tú
Năm: 2016
24. Nguyễn Hoàng Anh, Trương Thúy Hằng, 2018. Về chất lượng cuộc sống của lao động nữ di cư ở Việt Nam hiện nay Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chất lượng cuộc sống của lao động nữ di cư ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Hoàng Anh, Trương Thúy Hằng
Năm: 2018
25. Nguyễn Huyền Lê, Nguyễn Thị Hương Huyền, 2014. Thực trạng việc làm, đời sống người lao động trong các khu công nghiệp. Viện Khoa học Lao động và Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng việc làm, đời sống người lao động trong các khu công nghiệp
Tác giả: Nguyễn Huyền Lê, Nguyễn Thị Hương Huyền
Nhà XB: Viện Khoa học Lao động và Xã hội
Năm: 2014
26. Nguyễn Thị Bích Thúy, 2012. Một số khuyến nghị chính sách nhằm cải thiện việc làm, đời sống người lao động trong các khu công nghiệp, khu chế xuất. Viện Khoa học Lao động và Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khuyến nghị chính sách nhằm cải thiện việc làm, đời sống người lao động trong các khu công nghiệp, khu chế xuất
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Thúy
Nhà XB: Viện Khoa học Lao động và Xã hội
Năm: 2012
27. Nguyễn Thị Bích Thúy, Hoàng Thúy Hằng, 2015. Thực trạng đời sống của lao động nam và nữ di cư tới khu công nghiệp ở Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng đời sống của lao động nam và nữ di cư tới khu công nghiệp ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Thúy, Hoàng Thúy Hằng
Năm: 2015
28. Nguyễn Thị Hồng Xoan, 2010. Một số vấn đề về việc làm và đời sống của lao động nữ di cư ở Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về việc làm và đời sống của lao động nữ di cư ở Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Xoan
Năm: 2010
29. Nguyễn Thị Nhan, 2018. Đáp ứng nhu cầu nhà ở cho công nhân tại các khu công nghiệp góp phần phát triển bền vững nến kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay. Tạp chí nghiên cứu khoa học, Đại học Sao Đỏ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đáp ứng nhu cầu nhà ở cho công nhân tại các khu công nghiệp góp phần phát triển bền vững nến kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Nhan
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu khoa học
Năm: 2018
30. Nguyễn Thụy Diễm Hương, Tạ Thị Thanh Thủy, 2013. Đời sống vật chất và tinh thần của công nhân nhập cư tại thành phố hồ chí minh hiện nay, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống vật chất và tinh thần của công nhân nhập cư tại thành phố hồ chí minh hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thụy Diễm Hương, Tạ Thị Thanh Thủy
Nhà XB: Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
Năm: 2013
31. Nguyễn Thúy Quỳnh, 2015. Chăm sóc sức khoẻ nữ công nhân tại các khu công nghiệp. Bộ Y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăm sóc sức khoẻ nữ công nhân tại các khu công nghiệp
Tác giả: Nguyễn Thúy Quỳnh
Nhà XB: Bộ Y tế
Năm: 2015
32. Nguyễn Tuấn Anh, 2022. Thực trạng sức khỏe và tiếp cận dịch vụ y tế của nữ lao động di cư. Cuộc sống an toàn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng sức khỏe và tiếp cận dịch vụ y tế của nữ lao động di cư
Tác giả: Nguyễn Tuấn Anh
Nhà XB: Cuộc sống an toàn
Năm: 2022
33. Phạm Thị Thảo, 2015. Quyền của lao động nữ làm việc tại các khu công nghiệp ở Việt Nam: phân tích từ thực tiễn một số khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền của lao động nữ làm việc tại các khu công nghiệp ở Việt Nam: phân tích từ thực tiễn một số khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội
Tác giả: Phạm Thị Thảo
Nhà XB: Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2015
34. Phạm Thu Hiền, 2009. Công nhân nữ ngoại tỉnh trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nhân nữ ngoại tỉnh trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hà Nội
Tác giả: Phạm Thu Hiền
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.3 Công việc trước khi di cư của các nữ công nhân - Thực trạng việc làm và đời sống vật chất của nữ công nhân di cư (nghiên cứu trường hợp tại khu công nghiệp bảo minh, huyện vụ bản, tỉnh nam định)
Bảng 4.3 Công việc trước khi di cư của các nữ công nhân (Trang 41)
Bảng 4.4 Lý do di cư của các nữ công nhân - Thực trạng việc làm và đời sống vật chất của nữ công nhân di cư (nghiên cứu trường hợp tại khu công nghiệp bảo minh, huyện vụ bản, tỉnh nam định)
Bảng 4.4 Lý do di cư của các nữ công nhân (Trang 44)
Bảng 4.9 Thời gian làm việc trung bình một ngày - Thực trạng việc làm và đời sống vật chất của nữ công nhân di cư (nghiên cứu trường hợp tại khu công nghiệp bảo minh, huyện vụ bản, tỉnh nam định)
Bảng 4.9 Thời gian làm việc trung bình một ngày (Trang 58)
Bảng 4.13 Đồ bảo hộ lao động của các nữ công nhân di cư - Thực trạng việc làm và đời sống vật chất của nữ công nhân di cư (nghiên cứu trường hợp tại khu công nghiệp bảo minh, huyện vụ bản, tỉnh nam định)
Bảng 4.13 Đồ bảo hộ lao động của các nữ công nhân di cư (Trang 66)
Bảng 4.17 Người sống cùng phòng trọ với nữ công nhân di cư - Thực trạng việc làm và đời sống vật chất của nữ công nhân di cư (nghiên cứu trường hợp tại khu công nghiệp bảo minh, huyện vụ bản, tỉnh nam định)
Bảng 4.17 Người sống cùng phòng trọ với nữ công nhân di cư (Trang 75)
Bảng 4.19 Nguồn nước sinh hoạt của các nữ công nhân di cư - Thực trạng việc làm và đời sống vật chất của nữ công nhân di cư (nghiên cứu trường hợp tại khu công nghiệp bảo minh, huyện vụ bản, tỉnh nam định)
Bảng 4.19 Nguồn nước sinh hoạt của các nữ công nhân di cư (Trang 80)
Bảng 4.20 Khu vệ sinh của các nữ công nhân di cư - Thực trạng việc làm và đời sống vật chất của nữ công nhân di cư (nghiên cứu trường hợp tại khu công nghiệp bảo minh, huyện vụ bản, tỉnh nam định)
Bảng 4.20 Khu vệ sinh của các nữ công nhân di cư (Trang 81)
Bảng 4.21 Thiết bị dành cho sinh hoạt của các nữ công nhân di cư - Thực trạng việc làm và đời sống vật chất của nữ công nhân di cư (nghiên cứu trường hợp tại khu công nghiệp bảo minh, huyện vụ bản, tỉnh nam định)
Bảng 4.21 Thiết bị dành cho sinh hoạt của các nữ công nhân di cư (Trang 82)
Bảng 4.22 Phương tiện đi lại của các nữ công nhân di cư - Thực trạng việc làm và đời sống vật chất của nữ công nhân di cư (nghiên cứu trường hợp tại khu công nghiệp bảo minh, huyện vụ bản, tỉnh nam định)
Bảng 4.22 Phương tiện đi lại của các nữ công nhân di cư (Trang 86)
Bảng 4.24 Tiền tiết kiệm của các nữ công nhân  Tiền tiết kiệm  Đã kết hôn (35)  Chưa kết hôn (30) - Thực trạng việc làm và đời sống vật chất của nữ công nhân di cư (nghiên cứu trường hợp tại khu công nghiệp bảo minh, huyện vụ bản, tỉnh nam định)
Bảng 4.24 Tiền tiết kiệm của các nữ công nhân Tiền tiết kiệm Đã kết hôn (35) Chưa kết hôn (30) (Trang 89)
Bảng 4.26 Tiêm vaccine Covid- 19 của các nữ công nhân - Thực trạng việc làm và đời sống vật chất của nữ công nhân di cư (nghiên cứu trường hợp tại khu công nghiệp bảo minh, huyện vụ bản, tỉnh nam định)
Bảng 4.26 Tiêm vaccine Covid- 19 của các nữ công nhân (Trang 92)
Bảng 4.28 Số tiền chi tiêu trong một tháng của các nữ công nhân di cư - Thực trạng việc làm và đời sống vật chất của nữ công nhân di cư (nghiên cứu trường hợp tại khu công nghiệp bảo minh, huyện vụ bản, tỉnh nam định)
Bảng 4.28 Số tiền chi tiêu trong một tháng của các nữ công nhân di cư (Trang 96)
Bảng 4.29  Điều kiện sống của các nữ công nhân   Điều kiện sống  Đã kết hôn (35)  Chưa kết hôn (30) - Thực trạng việc làm và đời sống vật chất của nữ công nhân di cư (nghiên cứu trường hợp tại khu công nghiệp bảo minh, huyện vụ bản, tỉnh nam định)
Bảng 4.29 Điều kiện sống của các nữ công nhân Điều kiện sống Đã kết hôn (35) Chưa kết hôn (30) (Trang 100)
Bảng 4.31 Mong muốn của các nữ công nhân   Mong muốn hiện tại  Đã kết hôn  Chưa kết - Thực trạng việc làm và đời sống vật chất của nữ công nhân di cư (nghiên cứu trường hợp tại khu công nghiệp bảo minh, huyện vụ bản, tỉnh nam định)
Bảng 4.31 Mong muốn của các nữ công nhân Mong muốn hiện tại Đã kết hôn Chưa kết (Trang 103)
PHỤ LỤC 1: BẢNG HỎI  PHIẾU PHỎNG VẤN  THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT CỦA NỮ CÔNG - Thực trạng việc làm và đời sống vật chất của nữ công nhân di cư (nghiên cứu trường hợp tại khu công nghiệp bảo minh, huyện vụ bản, tỉnh nam định)
1 BẢNG HỎI PHIẾU PHỎNG VẤN THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT CỦA NỮ CÔNG (Trang 112)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w