1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng việc làm và đời sống vật chất của lao động di cư tự do trong đại dịch covid 19 (nghiên cứu trường hợp tại phố nam dư, phường lĩnh nam, hoàng mai, hà nội)

117 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng việc làm và đời sống vật chất của lao động di cư tự do trong đại dịch COVID-19 (nghiên cứu trường hợp tại phố Nam Dư, phường Lĩnh Nam, Hoàng Mai, Hà Nội)
Tác giả Lưu Hồng Kỳ
Người hướng dẫn ThS. Trần Thanh Hương
Trường học Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Xã hội học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN 1: GIỚI THIỆU (13)
    • 1.1. Tính cấp thiết (13)
    • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu (16)
      • 1.2.1. Mục tiêu chung (16)
      • 1.2.2. Mục tiêu cụ thể (16)
    • 1.3. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu (16)
      • 1.3.1. Đối tượng nghiên cứu (16)
      • 1.3.2. Khách thể nghiên cứu (16)
      • 1.3.3. Phạm vi nghiên cứu (16)
  • PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (18)
    • 2.1. Các lý thuyết nền cho đề tài nghiên cứu (18)
      • 2.1.1. Lý thuyết về di cư của Ravenstein (1834-1913) (18)
      • 2.1.2. Lý thuyết cấu trúc chức năng (20)
    • 2.2. Các nghiên cứu liên quan (21)
      • 2.2.1. Những nghiên cứu về đặc điểm và việc làm của người lao động di cư tự do trong đại dịch Covid-19 (21)
      • 2.2.2. Những nghiên cứu về đời sống của người lao động di cư tự do (25)
    • 2.3. Các khái niệm liên quan (27)
      • 2.3.1. Khái niệm di cư (27)
      • 2.3.2. Khái niệm đại dịch Covid-19 (28)
      • 2.3.3. Khái niệm người lao động (28)
      • 2.3.4. Khái niệm việc làm (28)
      • 2.3.5. Khái niệm đời sống vật chất (29)
  • PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (30)
    • 3.1. Chọn điểm nghiên cứu (30)
    • 3.2. Phương pháp thu thập thông tin (31)
      • 3.2.1. Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp (31)
      • 3.2.2. Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp (31)
      • 3.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin (32)
    • 3.3. Khung phân tích (33)
  • PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (35)
    • 4.1. Đặc điểm chung của người lao động di cư tự do tại phố Nam Dư, phường Lĩnh Nam, Hoàng Mai, Hà Nội (35)
      • 4.1.1. Độ tuổi của người lao động di cư (35)
      • 4.1.2. Trình độ học vấn của người lao động di cư trong mẫu điều tra (36)
      • 4.1.3. Nơi ở gốc của người lao động di cư (38)
      • 4.1.4. Lý do di cư của người lao động (39)
      • 4.1.5. Quyết định di cư của người lao động di cư tự do trong mẫu điều tra (41)
      • 4.1.6. Điều kiện kinh tế gia đình nơi xuất cư (42)
    • 4.2. Tình hình việc làm của người di cư tự do trong đại dịch Covid-19 tại phố Nam Dư, phường Lĩnh Nam, Hoàng mai, Hà Nội (43)
      • 4.2.1. Nghề nghiệp trước khi di cư và nghề nghiệp hiện tại của người (43)
      • 4.2.2. Mức thu nhập trung bình hàng tháng của người lao động di cư (46)
      • 4.2.3. Hợp đồng lao động và người lao động di cư (47)
      • 4.2.4. Thời gian làm việc hiện nay của người lao động di cư (49)
      • 4.2.5. Nâng cao trình độ trong quá trình làm việc (50)
      • 4.2.6. Môi trường làm việc của người lao động di cư (52)
      • 4.2.7. Các chế độ đãi ngộ mà người lao động được hưởng trong quá trình làm việc (54)
      • 4.2.8. Ảnh hưởng bởi dịch covid-19 đối với công việc của người lao động (56)
      • 4.2.9. Áp lực của người lao động di cư trong quá trình làm việc (58)
      • 2.4.10. Mức độ hài lòng của người lao động về công việc hiện tại (59)
    • 4.3. Thực trạng điều kiện vật chất của người di cư tự do trong đại dịch Covid-19 tại phố Nam Dư, phường Lĩnh Nam, Hoàng mai, Hà Nội (61)
      • 4.3.1. Những khoản chi tiêu nhiều nhất của người lao động di cư (62)
      • 4.3.2. Tiền tiết kiệm (63)
      • 4.3.3. Điều kiện nhà ở của người lao động di cư (65)
      • 4.3.4. Phương tiện đi lại của lao động di cư (71)
      • 4.3.5. Vấn đề chăm sóc sức khỏe của người lao động di cư (72)
      • 4.3.6. Người lao động di cư tham gia bảo hiểm (75)
      • 4.3.7. Ảnh hưởng của Covid-19 đối với sinh hoạt của người lao động (77)
      • 4.3.8. Đánh giá của người lao động di cư về điều kiện sống hiện tại (79)
      • 4.3.9. Mong muốn của người lao động di cư (81)
  • PHẦN 5: KẾT LUẬN (84)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (86)
  • PHỤ LỤC (88)
    • Hộp 4.1. Những lý do di cư của người lao động (0)
    • Hộp 4.2. Cách chọn công việc của lao động di cư (0)
    • Hộp 4.3. Các chế độ đãi ngộ mà người lao động được hưởng trong quá trình làm việc (0)
    • Hộp 4.4. Phòng trọ của người lao động di cư tại địa phương (0)
    • Hộp 4.5. Khó khăn của người lao động trong dịch Covid-19 (0)
    • Hộp 4.6. Mong muốn hiện tại của lao động di cư (0)

Nội dung

Đề tài “Thực trạng việc làm và đời sống vật chất của người lao động di cư tự do trong đại dịch Covid-19” Nghiên cứu trường hợp tại phố Nam Dư, phường Lĩnh Nam, Hoàng Mai, Hà Nội được tiế

GIỚI THIỆU

Tính cấp thiết

Quá trình đô thị hóa gắn liền với sự phát triển mạnh mẽ của các đô thị, dẫn đến sự tập trung dân cư ngày càng lớn và nhanh chóng Di cư, một hiện tượng xã hội khách quan, diễn ra trong suốt lịch sử nhân loại, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia Hiện nay, di cư là xu thế chủ yếu ở cả các nước phát triển và đang phát triển, trong đó có Việt Nam.

Mặc dù dân số đang tăng, nhưng di cư lại có xu hướng giảm cả về số lượng lẫn tỷ lệ Người di cư thường chọn điểm đến trong phạm vi quen thuộc Trong tổng số 88,4 triệu người từ 5 tuổi trở lên, có 6,4 triệu người di cư, chiếm 7,3% Di cư giữa các tỉnh chiếm tỷ lệ lớn nhất với 3,2%, cao hơn so với di cư trong huyện (2,7%) và di cư giữa các huyện (1,4%) (Tổng cục thống kê, 2019).

Khó khăn trong việc làm, nhà ở, phương tiện đi lại và y tế là những thách thức không thể tránh khỏi đối với người lao động di cư, đặc biệt trong bối cảnh đại dịch Covid-19 Từ cuối năm 2019, đại dịch đã tác động trực tiếp đến tình hình lao động và việc làm trên toàn quốc Đặc biệt, vào tháng 4/2020, khi tình hình dịch bệnh trở nên phức tạp với nhiều ca lây nhiễm trong cộng đồng và các quy định giãn cách xã hội được áp dụng, 31.8 triệu người từ 15 tuổi trở lên đã bị ảnh hưởng tiêu cực, bao gồm mất việc làm, nghỉ giãn việc, giảm giờ làm và thu nhập.

Tình hình dịch bệnh ở Việt Nam đã có dấu hiệu được kiểm soát, nhưng suy thoái kinh tế vẫn là vấn đề nghiêm trọng, dẫn đến mất việc làm và giảm thu nhập kéo dài Theo Bộ LĐTBXH, số lao động làm việc trong quý I/2020 giảm hơn 680 nghìn so với quý 4/2019, với tỷ lệ thiếu việc làm tăng từ gần 590 nghìn (1,22%) lên hơn 970 nghìn (2,03%) Đến tháng 12 năm 2020, có 32,1 triệu người từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch Covid-19, trong đó 69,2% bị giảm thu nhập, 39,9% phải giảm giờ làm hoặc nghỉ giãn việc, và khoảng 14,0% buộc phải tạm ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh.

Người di cư từ nông thôn ra thành phố đang đối mặt với nhiều khó khăn, bao gồm thiếu việc làm và thu nhập thấp Phần lớn họ có trình độ tay nghề thấp và chưa được đào tạo, dẫn đến việc khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm và bảo vệ quyền lợi lao động Nhiều người làm việc trong khu vực kinh tế phi chính thức, chấp nhận làm việc không có hợp đồng và bảo hiểm, chỉ dựa vào thỏa thuận miệng với chủ sử dụng lao động Hệ quả là thời gian lao động của họ thường kéo dài, chế độ nghỉ ngơi không đảm bảo, và khi ốm đau, họ không được chăm sóc sức khỏe đầy đủ.

Những yếu tố như việc làm và trình độ tay nghề khiến người lao động di cư tự do thường không được hưởng các chính sách hỗ trợ từ Nhà nước Họ chủ yếu phải dựa vào nhau để sinh sống hoặc nhận sự giúp đỡ từ các nhà hảo tâm.

Lao động di cư thường đối mặt với nhiều khó khăn, bao gồm vấn đề nhà ở, phương tiện đi lại và tiếp cận dịch vụ xã hội Theo nghiên cứu, 90% lao động di cư gặp khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ an sinh xã hội công, 70% không thể sử dụng dịch vụ y tế công, và chỉ 44% có bảo hiểm y tế Thủ tục hành chính liên quan đến hộ khẩu và cư trú ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của họ, với 49% lao động di cư đăng ký tạm trú và 13,5% không đăng ký Việc thiếu hộ khẩu thường trú có thể gây khó khăn trong việc tiếp cận giáo dục cho con cái và chăm sóc sức khỏe Ngoài ra, việc vay vốn từ nguồn chính thức và đăng ký phương tiện đi lại cũng trở nên phức tạp hơn nếu không có hộ khẩu thường trú, trong khi thủ tục đăng ký này ở nhiều nơi vẫn còn rườm rà.

Phố Nam Dư, phường Lĩnh Nam, nổi bật với vị trí địa lý thuận lợi và sự gia tăng nhanh chóng của người di cư đến sinh sống và làm việc Khu vực này có nhiều chợ dân sinh và xí nghiệp nhỏ, thu hút nguồn lao động di cư Trong bối cảnh đại dịch Covid-19, vấn đề việc làm và đời sống vật chất của lao động di cư tự do trở nên cấp bách Đề tài “Thực trạng việc làm và đời sống vật chất của lao động di cư tự do trong đại dịch Covid-19” được thực hiện nhằm tìm hiểu thực trạng này tại phố Nam Dư, Lĩnh Nam, Hoàng Mai, Hà Nội.

Mục tiêu nghiên cứu

Trong bối cảnh đại dịch Covid-19, bài viết này khám phá thực trạng việc làm và đời sống vật chất của lao động di cư tự do tại phố Nam Dư, phường Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, Hà Nội Nghiên cứu tập trung vào những khó khăn mà nhóm lao động này phải đối mặt, từ việc mất việc làm đến ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập và điều kiện sống.

Tìm hiểu đặc điểm chung của lao động di cư tự do tại phố Nam Dư, phường Lĩnh Nam, Hoàng Mai, Hà Nội

Tình hình việc làm và điều kiện làm việc của lao động di cư tự do tại phố Nam Dư, phường Lĩnh Nam, Hoàng Mai, Hà Nội trong đại dịch Covid-19 đã gặp nhiều khó khăn Nhiều lao động phải đối mặt với việc mất việc làm và thu nhập giảm sút, ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày Các biện pháp giãn cách xã hội đã làm hạn chế cơ hội tìm kiếm việc làm, trong khi điều kiện làm việc không đảm bảo an toàn sức khỏe.

Tìm hiểu đời sống vật chất của lao động di cư tự do trong đại dịch Covid-19 tại phố Nam Dư, phường Lĩnh Nam, Hoàng Mai, Hà Nội.

Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu Đề tài tập trung tìm hiểu thực trạng việc làm và điều kiện vật chất của lao động di cư tự do trong đại dịch Covid-19

Lao động di cư chưa lập gia đình đang thuê trọ sống và làm việc trên 3 năm tại phố Nam Dư, phường Lĩnh Nam, Hoàng Mai, Hà Nội

Nghiên cứu về việc làm và đời sống của người di cư bao gồm nhiều khía cạnh như thực trạng việc làm, chất lượng công việc, và đời sống vật chất cũng như tinh thần Đề tài này tập trung vào việc phân tích thực trạng việc làm, bao gồm nghề nghiệp, thu nhập và trình độ, cùng với đời sống vật chất của lao động di cư tại phố Nam Dư, phường Lĩnh Nam, Hoàng Mai, Hà Nội.

Phạm vi không gian: đề tài được tiến hành tại phố Nam Dư, phường Lĩnh Nam, Hoàng Mai, Hà Nội

Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được thực hiện đối với những người lao động di cư đến địa bàn đang sinh sống và làm việc 3 năm trở lên.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chọn điểm nghiên cứu

Lĩnh Nam, một phường thuộc quận Hoàng Mai, Hà Nội, được hình thành từ những làng cổ có lịch sử lâu dài và đã trải qua nhiều biến động Theo Nghị định số 132/NĐ-CP ngày 06/11/2003, Lĩnh Nam chính thức trở thành phường với diện tích 557.7 ha và dân số tăng từ 22.000 lên 31.000 người Phường này có địa giới hành chính thuận lợi, giáp ranh với huyện Gia Lâm và các phường lân cận, cùng với hệ thống giao thông đường thủy và bộ phát triển, tạo điều kiện cho việc vận chuyển hàng hóa Sự phát triển này đã thu hút nhiều nhà máy và khu công nghiệp, dẫn đến sự gia tăng lao động địa phương và di cư, cùng với sự hình thành của các khu chợ và nhà trọ để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của người dân.

Mặc dù có nhiều thuận lợi, nhưng vẫn tồn tại những khó khăn như tốc độ đô thị hóa và dân số tăng nhanh, hạ tầng đô thị chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, và các dự án giao thông triển khai chậm Gần 2/3 diện tích đất tự nhiên chưa có quy hoạch phân khu được phê duyệt, bao gồm nhiều đất công và đất nông nghiệp xen kẹt Việc cấp phép xây dựng tại khu vực ngoài đê sông Hồng từ năm 2016 đến nay bị tạm dừng, ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân.

Phường Lĩnh Nam, với vị trí địa lý thuận lợi và hạ tầng cơ sở đang phát triển, đã trở thành điểm thu hút lao động từ các tỉnh thành khác đến sinh sống và làm việc Do đó, phố Nam Dư, phường Lĩnh Nam, Hoàng Mai, Hà Nội được chọn làm địa bàn nghiên cứu nhằm làm rõ thực trạng việc làm và đời sống vật chất của người lao động di cư tự do tại khu vực này.

Phương pháp thu thập thông tin

3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp

Tiến hành thu thập thông tin từ sách, báo, tạp chí, internet, luận văn và luận án liên quan đến đời sống và việc làm của lao động di cư Đồng thời, thu thập số liệu thống kê và báo cáo về tình hình kinh tế - xã hội của địa phương để nắm bắt thông tin về người lao động đang sinh sống và làm việc tại khu vực.

3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp

Đề tài nghiên cứu chọn mẫu lao động di cư tự do thông qua phương pháp quả bóng tuyết, bắt đầu từ người trả lời đầu tiên và tiếp theo là những người được giới thiệu Danh sách lao động di cư tự do do UBND Phường cung cấp sẽ được sử dụng để lựa chọn 65 mẫu, bao gồm 35 nam và 30 nữ, tất cả đều đang sinh sống và làm việc từ 3 năm trở lên Mục tiêu là thu thập thông tin về việc làm và đời sống vật chất của lao động di cư Tuy nhiên, trong quá trình thu thập dữ liệu, sẽ gặp phải một số vấn đề cần lưu ý.

Việc tìm kiếm các đối tượng lao động điều tra trong khu trọ trở nên dễ dàng hơn, nhờ vào việc áp dụng phương pháp quả bóng tuyết, giúp thu thập thông tin một cách nhanh chóng và hiệu quả.

+ Khó khăn: đang trong tình hình đại dịch diễn ra nên di chuyển và tiếp cận đối tượng phỏng vấn sẽ khó khăn hơn bình thường

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi đã được thực hiện trên 65 mẫu lao động di cư (35 nam, 30 nữ) để thu thập thông tin về đặc điểm chung, tình hình việc làm và điều kiện vật chất của họ Kết quả cho thấy thực trạng việc làm và đời sống vật chất của người lao động di cư tự do tại địa bàn.

- Phương pháp phỏng vấn sâu:

Nghiên cứu thực hiện 10 phỏng vấn sâu để thu thập thông tin sơ cấp, trong đó có các đại diện sau đây:

Nghiên cứu này tập trung vào 6 PVS với lao động di cư tự do chưa lập gia đình, đang thuê trọ tại địa bàn, nhằm khám phá thực trạng việc làm và đời sống vật chất của họ.

+ 2 PVS với chủ nhà trọ nơi khu vực người lao động trọ nhằm tìm hiểu đời sống sinh hoạt của lao động di cư tại khu trọ

Một PVS được thực hiện với người bán hàng trong khu vực người lao động sinh sống, nhằm mục đích tìm hiểu và đánh giá quan điểm của họ về những người lao động di cư đang sống và làm việc tại địa phương.

+ 1 PVS với tổ trưởng tổ dân phố, nhằm tìm hiểu đánh giá về tình hình đời sống của họ

3.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin

- Sử dụng phần mềm SPSS để xử lý các thông tin:

+ Thông tin định tính: phân tích dựa trên biên bản phỏng vấn sâu, báo cáo thực địa

+ Thông tin định lượng: phân tích dựa trên số liệu điều tra, số liệu thu thập được thông qua bảng hỏi.

Khung phân tích

Đặc điểm chung của lao động di cư tại địa bàn

Tình hình việc làm của lao động di cư trong đại dịch

Tình hình đời sống vật chất của lao động di cư trong đại dịch Covid-19

- Công việc trước khi di cư

- Hợp đồng lao động, đãi ngộ

- Thời gian làm việc, môi trường làm việc

- Ảnh hưởng bởi đại dịch

Thực trạng việc làm và đời sống vật chất của lao động di cư tự do trong đại dịch Covid-

- Hoàn cảnh kinh tế gia đình

- Nơi ở gốc trước khi di cư

- Khoản chi tiêu nhiều nhất

- Thông tin nơi ở (diện tích, tiện nghi sinh hoạt, an ninh…)

- Tình hình sinh hoạt khi bị ảnh hưởng bởi đại dịch

Khung phân tích được xây dựng dựa trên lý luận và thực tiễn về tình hình việc làm và đời sống vật chất của lao động di cư tự do Nghiên cứu tập trung vào đặc điểm nhân khẩu của nhóm lao động này, đồng thời khảo sát tình hình việc làm và thực trạng đời sống vật chất của họ, cũng như mối quan hệ giữa hai yếu tố này Mục tiêu là làm rõ những khó khăn mà lao động di cư tự do tại địa phương đang phải đối mặt trong bối cảnh đại dịch.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm chung của người lao động di cư tự do tại phố Nam Dư, phường Lĩnh Nam, Hoàng Mai, Hà Nội

4.1.1 Độ tuổi của người lao động di cư

Lao động tại phố Nam Dư chủ yếu là những người trẻ, đang ở độ tuổi sung sức nhất để làm việc.

Những người chưa lập gia đình, đang thuê trọ và di cư đến nơi ở mới với hy vọng tìm kiếm công việc ổn định, cải thiện đời sống, hỗ trợ gia đình và nâng cao kinh nghiệm cá nhân.

Bảng 4.1 Độ tuổi của người lao động di cư

Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)

(Nguồn: Số liệu điều tra 2021)

Theo bảng 4.1, lao động di cư tại phố Nam Dư chủ yếu là người trẻ, với nhóm nam từ 25 đến dưới 29 tuổi chiếm 60%, trong khi nhóm trên 30 tuổi chỉ chiếm 5,7% Đối với lao động nữ, tỷ lệ giữa hai nhóm tuổi 19 đến dưới 24 và 25 đến dưới 29 gần như tương đương, lần lượt là 46,7% và 50%, trong khi nhóm trên 30 tuổi chỉ chiếm 3,3% Điều này cho thấy nguồn lao động trẻ, năng động, phù hợp với nhu cầu của địa phương có nhiều nhà máy và xí nghiệp nhỏ Như một lao động 28 tuổi chia sẻ: “Độ tuổi này khá phù hợp để làm bệ đỡ cho tương lai sau này.”

Hai nhóm lao động nam và nữ di cư trong khảo sát chủ yếu thuộc độ tuổi từ 20 đến dưới 29, là giai đoạn mà họ vừa tốt nghiệp THPT, Cao đẳng/Đại học và bắt đầu tham gia vào thị trường lao động Họ tìm kiếm việc làm, thu nhập và kinh nghiệm, đồng thời hoài bão tuổi trẻ cũng thúc đẩy họ di cư để trải nghiệm và khám phá những điều mới mẻ.

4.1.2 Trình độ học vấn của người lao động di cư trong mẫu điều tra

Trình độ học vấn là yếu tố quyết định quan trọng đến việc làm và thu nhập của người lao động, với mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa trình độ học vấn và mức lương, đãi ngộ trong công việc Những người có trình độ học vấn, chuyên môn và tay nghề cao sẽ dễ dàng tìm kiếm việc làm và nhận được đãi ngộ tương xứng với sự phát triển của xã hội và khoa học kỹ thuật hiện đại Ngược lại, người có trình độ học vấn thấp và tay nghề kém sẽ gặp khó khăn trong việc tiếp cận các công việc tốt và thu nhập cao Theo số liệu khảo sát, phần lớn lao động di cư có trình độ học vấn chỉ đạt bậc THPT.

Bảng 4.2 Trình độ học vấn của người lao động di cư

Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)

Cao đẳng /trung cấp nghề

(Nguồn: Số liệu điều tra 2021)

Theo số liệu điều tra, đa số người lao động di cư tại phố Nam Dư có trình độ học vấn từ THPT trở lên, với 62.9% nam giới và 56.7% nữ giới đạt trình độ này Một trường hợp điển hình là một phụ nữ 31 tuổi cho biết, do hoàn cảnh gia đình khó khăn, cô không tiếp tục học đại học sau khi tốt nghiệp cấp 3 mà phải làm việc tại tiệm may và phụ giúp gia đình Để có thể sinh sống và làm việc tại thành phố, người di cư cần trang bị kiến thức cơ bản ở bậc phổ thông hoặc cao hơn nhằm tìm kiếm việc làm ổn định và thu nhập tốt.

4.1.3 Nơi ở gốc của người lao động di cư

Người lao động di cư đến phố Nam Dư chủ yếu xuất phát từ các vùng nông thôn và các tỉnh lân cận như Thái Bình, Thanh Hóa, Hòa Bình, Phú Thọ, và Nam Định.

Bảng 4.3 Nơi ở gốc của lao động di cư

Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)

(Nguồn: Số liệu điều tra 2021)

Theo số liệu điều tra, 54.3% lao động nam đến từ các thị xã/huyện lân cận, trong khi 43.4% lao động nữ đến từ các xã/phường nông thôn Lao động nam di cư chủ yếu để tìm kiếm việc làm ổn định, hỗ trợ gia đình và tích lũy kinh nghiệm Ngược lại, lao động nữ từ khu vực nông thôn, nơi có ít việc làm và thu nhập không ổn định, đã quyết định di cư lên thành phố để cải thiện cuộc sống và thoát ly nông nghiệp Một lao động nữ trong mẫu điều tra chia sẻ rằng việc làm nông không dễ dàng và sau khi cha mẹ mất, cô đã chọn lên thành phố để tìm kiếm cơ hội mới Điều này cho thấy nhu cầu tìm kiếm công việc và thu nhập tốt hơn là động lực chính thúc đẩy di cư của người lao động.

Người lao động di cư chủ yếu đến từ các thị xã và huyện, với nền tảng xuất phát từ sản xuất nông nghiệp Họ chọn di cư để thoát khỏi công việc truyền thống và cải thiện chất lượng cuộc sống.

4.1.4 Lý do di cư của người lao động

Khi xã hội và công nghệ ngày càng phát triển, nhu cầu và lý do di cư của con người cũng gia tăng Theo mẫu điều tra, lý do chính khiến người lao động quyết định di cư là để cải thiện thu nhập và tích lũy kinh nghiệm.

Bảng 4.4 Lý do di cư của người lao động

Kiếm tiền nuôi bản thân/ cải thiện cuộc sống 35 100 29 96.7

Kiếm tiền phụ thêm cho gia đình 19 54.3 17 567

Kiếm một khoản tiền để về quê lập nghiệp 4 11.4 4 13.3

Thoát ly sản xuất nông nghiệp 9 25.7 8 26.7

Tích lũy kinh nghiệm cho bản thân 28 80.0 17 56.7

(Nguồn: Số liệu điều tra 2021)

Theo số liệu điều tra, người lao động di cư có nhiều lý do khác nhau, bao gồm kiếm tiền để nuôi bản thân, cải thiện chất lượng cuộc sống, hỗ trợ gia đình và thoát ly khỏi nông nghiệp.

Lý do di cư chính của lao động nam và nữ chủ yếu là kiếm tiền nuôi bản thân và cải thiện cuộc sống, với tỷ lệ tương ứng là 100% và 96,7% Cả hai nhóm đều mong muốn tìm kiếm công việc ổn định để nâng cao chất lượng cuộc sống Ngoài lý do chính, lao động nam có 80% và lao động nữ 56,7% cho biết họ di cư để tích lũy kinh nghiệm, trong khi 54,3% lao động nam và 56,7% lao động nữ muốn kiếm tiền phụ thêm cho gia đình Lý do kiếm tiền về quê lập nghiệp chiếm tỷ lệ thấp nhất, với 11,4% lao động nam và 13,3% lao động nữ, cho thấy rằng khi đã quyết định di cư để tìm kiếm cuộc sống tốt hơn, rất ít người có ý định quay lại quê hương để lập nghiệp.

Hộp 4.1 Những lý do di cư của người lao động

Anh cảm thấy công việc ở quê nhà khá tẻ nhạt và mong muốn chuyển lên thành phố để thử thách bản thân Một phần lý do là anh muốn cải thiện cuộc sống và trải nghiệm một cuộc sống hiện đại hơn.

Quyết định di cư lên thành phố của tôi nhằm tích lũy kinh nghiệm, mở rộng tầm nhìn, kiếm tiền và cải thiện cuộc sống hiện đại hơn.

Với kết quả điều tra, có thể thấy có rất nhiều lý do để những lao động

Cả lao động nam và nữ di cư đều khao khát có một nghề nghiệp ổn định, mang lại nhiều kinh nghiệm và thu nhập tốt, nhằm phục vụ cho bản thân và cải thiện cuộc sống trong tương lai.

4.1.5 Quyết định di cư của người lao động di cư tự do trong mẫu điều tra

Khi di cư, hầu hết quyết định này đều là do họ tự quyết, chỉ có một số ít là do sự can thiệp của gia đình (bảng 4.5)

Bảng 4.5 Quyết định di cư của người lao động

Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)

Quyết định di cư do

Do bản thân tự quyết định 31 88.6 23 76.7

Do người khác (người thân, bạn bè)

(Nguồn: Số liệu điều tra 2021)

Tình hình việc làm của người di cư tự do trong đại dịch Covid-19 tại phố Nam Dư, phường Lĩnh Nam, Hoàng mai, Hà Nội

4.2.1 Nghề nghiệp trước khi di cư và nghề nghiệp hiện tại của người lao động

Hiện nay, nhiều người trong độ tuổi lao động đang chọn di cư Trước khi di cư, phần lớn người lao động trong mẫu điều tra đã có việc làm.

Di cư đang trở thành xu hướng phổ biến trong số người lao động, vì nó không chỉ cải thiện chất lượng cuộc sống mà còn mở ra nhiều cơ hội việc làm.

Bảng 4.7 Nghề nghiệp trước khi di cư của lao động đến sinh sống và làm việc tại phố Nam Dư

Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)

Học sinh/sinh viên 8 22.9 3 10.0 Ở nhà (chưa có việc làm) 7 20.0 5 16.7 Đã tham gia lao động (nông nghiệp, công nghiệp…)

(Nguồn: Số liệu điều tra 2021)

Theo số liệu điều tra, cả lao động nam và nữ chủ yếu đã tham gia vào các công việc như sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và nghề thủ công trước khi di cư, với tỷ lệ lần lượt là 57.1% và 73.3% Đối với lao động nam, nhóm học sinh chiếm tỷ lệ cao thứ hai (22.9%), chủ yếu di cư để học tập trước khi tìm việc làm, trong khi tỷ lệ lao động chưa có việc làm là 20% Ngược lại, ở nhóm lao động nữ, tỷ lệ chưa có việc làm trước khi di cư đứng thứ hai (16.7%), trong khi nhóm học sinh chỉ chiếm 10%.

Trước khi di cư, những lao động này đã tham gia vào các hoạt động sản xuất như nông nghiệp, nghề mộc và thủ công để kiếm thêm thu nhập và hỗ trợ gia đình.

Kết quả điều tra cho thấy, lao động di cư đến phố Nam Dư chủ yếu là những người trẻ tuổi, với phần lớn có trình độ học vấn từ bậc THPT trở lên và đã từng làm việc trong các lĩnh vực khác trước khi chuyển đến đây.

Người lao động di cư hiện đang tìm kiếm việc làm tốt hơn và thu nhập cao hơn, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế trì trệ do đại dịch Covid-19 Nhiều người lao động rơi vào tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm, trong khi lao động tự do gặp khó khăn hơn do thị trường lao động không ổn định và thời gian giãn cách xã hội kéo dài Hơn nữa, tay nghề và trình độ chuyên môn của họ không đáp ứng được yêu cầu của các công việc ổn định hiện nay Do đó, việc tìm kiếm một công việc ổn định với thu nhập tốt trở thành nhu cầu cấp thiết đối với người lao động di cư.

Bảng 4.8 Việc làm hiện tại của người lao động di cư

Tỷ lệ (%) Công việc của người lao động sau di cư

Lao động nông nghiệp (trồng trọt, thủy-hải sản, )

Buôn bán (kinh doanh, dịch vụ, ) 9 25.7 7 23.4

Lao động giản đơn (xe ôm, phụ hồ, )

(Nguồn: Số liệu điều tra 2021)

Phố Nam Dư, với vị trí địa lý thuận lợi và dân cư đông đúc, đã trở thành điểm đến hấp dẫn cho nhiều lao động Theo thống kê, nhóm lao động nam di cư chủ yếu làm công nhân và kinh doanh, chiếm 25.7%, trong khi nhân viên văn phòng và lao động giản đơn chiếm 22.9% Ngành nông nghiệp chỉ chiếm 2.8%, phản ánh xu hướng tìm kiếm công việc phù hợp với nơi cư trú hơn là công việc trước khi di cư Đối với lao động nữ di cư, họ ưu tiên công việc nhẹ nhàng và ổn định, với 46.7% làm lao động giản đơn, 23.4% trong buôn bán, và chỉ 3.3% làm công nhân, viên chức nhà nước, hay lao động nông nghiệp.

Hộp 4.2 Cách chọn công việc của lao động di cư

Cô đã sống lâu ở khu vực này, nơi có nhiều chợ và nhu cầu ăn uống cao Để đáp ứng nhu cầu đó, cô quyết định mở một quán bún nhỏ tại ngã tư chợ Sau 6 năm kinh doanh, quán bún của cô đã trở thành điểm đến ưa thích nhờ hương vị hợp khẩu vị, thu hút đông đảo khách hàng Nhiều ngày, cô ra chợ từ 5h sáng và đến 7h đã bán hết hàng.

Với hơn mười năm kinh nghiệm trong nghề mộc, anh muốn lên thành phố để học hỏi thêm và hướng tới việc mở xưởng riêng trong tương lai.

Tùy thuộc vào loại hình việc làm, đặc thù nơi di cư, năng lực, kinh nghiệm cá nhân và yêu cầu công việc, hai nhóm đối tượng có thể xác định và lựa chọn những công việc phù hợp để tham gia vào thị trường lao động.

4.2.2 Mức thu nhập trung bình hàng tháng của người lao động di cư

Mức thu nhập là một chỉ số quan trọng phản ánh rõ ràng mức sống và chất lượng công việc của người lao động Nó không chỉ thể hiện tính chất công việc mà còn cho thấy hiệu quả năng suất làm việc Đặc biệt, phần lớn lao động di cư trong mẫu điều tra đều có thu nhập ổn định.

Bảng 4.9 Mức thu nhập trung bình hàng tháng của người lao động di cư

Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%) Mức thu nhập

Theo số liệu điều tra, lao động di cư tại phố Nam Dư có thu nhập ổn định, với 34.3% lao động nam có thu nhập từ 4 đến dưới 6 triệu đồng/tháng Khoảng thu nhập từ 6 đến dưới 8 triệu và từ 8 triệu đồng trở lên cũng chiếm 31.4% Đối với lao động nữ, 36.7% có thu nhập từ 4 đến dưới 6 triệu và từ 6 đến dưới 8 triệu Tỷ lệ lao động nam có thu nhập trên 8 triệu cao hơn nữ do sức khỏe và tính chất công việc khác nhau Thu nhập này chỉ bao gồm tiền công và lương trong tình trạng kinh tế ổn định, có thể có thêm thưởng và phụ cấp Tuy nhiên, đại dịch và giãn cách xã hội đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến thu nhập và việc làm của người lao động, dẫn đến mất việc và tạm ngừng sản xuất.

Người lao động rất chú trọng đến thu nhập của mình, vì đây là yếu tố quan trọng thúc đẩy họ cải thiện năng suất và chất lượng công việc.

4.2.3 Hợp đồng lao động và người lao động di cư

Vùng này nổi bật với sự đa dạng trong các ngành nghề và cơ hội việc làm, bao gồm cả công việc làm thuê và tự do Do đó, không phải tất cả người lao động, đặc biệt là người lao động di cư, đều có hợp đồng lao động.

Bảng 4.10 Tỷ trọng số người lao động làm công ăn lương chia theo loại hợp đồng

Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%) Loại hợp đồng

Có hợp đồng lao động

Không có hợp đồng lao động

(Nguồn: Số liệu điều tra 2021)

Theo số liệu điều tra, tỷ lệ lao động nam có hợp đồng lao động là 62.9%, trong khi tỷ lệ lao động nữ là 60% Đối với lao động có hợp đồng, thường là hợp đồng có thời hạn, sẽ được xem xét gia hạn sau 6 tháng hoặc 1 năm, tùy thuộc vào đánh giá của doanh nghiệp Một nhân viên nữ cho biết, công ty nước ngoài nơi cô làm sẽ đánh giá năng suất làm việc hàng năm để quyết định kéo dài hợp đồng Ngược lại, lao động di cư không có hợp đồng chủ yếu là lao động tự do, như xe ôm truyền thống hoặc kinh doanh nhỏ, và một phần do chủ doanh nghiệp không ký hợp đồng chính thức Một nhân viên nữ khác chia sẻ rằng, với công việc tự do, cô không có hợp đồng và thời gian làm việc rất linh hoạt, không có ngày nghỉ cố định.

Thực trạng điều kiện vật chất của người di cư tự do trong đại dịch Covid-19 tại phố Nam Dư, phường Lĩnh Nam, Hoàng mai, Hà Nội

Công việc và nghề nghiệp phản ánh thực trạng điều kiện vật chất của mỗi người Trong bối cảnh đại dịch Covid-19, người lao động tại phố Nam Dư đang đối mặt với nhiều khó khăn như mất việc, thất nghiệp và tạm dừng sản xuất, ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và đời sống hàng ngày Câu hỏi đặt ra là: họ sẽ làm gì để đối phó với những thách thức này?

4.3.1 Những khoản chi tiêu nhiều nhất của người lao động di cư

Thu nhập hàng tháng của người lao động phản ánh cách thức chi tiêu và các khoản chi tiêu ưu tiên của họ Mỗi tháng, người lao động phải đối mặt với nhiều khoản chi như tiền nhà, tiền ăn, tiền điện nước và xăng xe, trong đó mỗi cá nhân có những ưu tiên chi tiêu riêng.

Bảng 4.20 Những khoản chi tiêu nhiều nhất của người lao động di cư

Tỷ lệ (%) Các khoản chi tiêu Điện nước 9 25.7 14 46.7

Tiền nhà 26 74.3 25 83.4 Ăn uống 34 97.1 27 90.0 Điện thoại/mạng internet 6 17.1 7 23.4

Tiền gửi về cho gia đình 6 17.1 13 43.4

(Nguồn: Số liệu điều tra 2021)

Theo kết quả điều tra, chi tiêu cho ăn uống là ưu tiên hàng đầu của người lao động, với 97.1% lao động nam di cư và 90% lao động nữ cho rằng đây là khoản tốn kém nhất Một người lao động nam 28 tuổi chia sẻ: “Vì mình là người lao động chân tay mà, phải ăn mới có sức để làm.”

Khoản chi tiêu ưu tiên thứ hai của lao động di cư là tiền thuê nhà, với 74.3% lao động nam và 83.4% lao động nữ cho biết đây là khoản chi lớn nhất Do tính chất công việc di chuyển nhiều và kinh tế hạn chế, việc thuê trọ trở thành lựa chọn tối ưu Mỗi khu trọ có mức giá và chất lượng khác nhau, như một lao động nam 28 tuổi chia sẻ: “Rất may mắn cho anh là tìm được một căn trọ khá ưng, đầy đủ tiện nghi, lại gần xưởng, khu trọ chủ yếu cho công nhân thuê nên cũng khá thoải mái, đối với anh 2.400.000/tháng/2 người mà được như này là không lớn và rất chất lượng.”

Ngoài ra, nhiều người lao động cho biết họ chi tiêu nhiều cho các khoản như tiền điện nước, tiền xăng xe, tiền điện thoại/internet và tiền gửi về cho gia đình.

Những người lao động di cư, mặc dù phải đối mặt với nhiều chi phí hàng ngày, vẫn biết cách lập kế hoạch tài chính và ưu tiên những khoản chi cần thiết nhất.

Cuộc sống con người đang thay đổi nhanh chóng với sự gia tăng của cải vật chất, nhưng tài nguyên thiên nhiên lại có hạn Nếu không biết tiết kiệm, mọi thứ sẽ sớm cạn kiệt Tiết kiệm là một phẩm chất quan trọng của con người Sau một tháng làm việc và chi tiêu, người lao động thường giữ lại một khoản tiền, lớn hay nhỏ, tùy thuộc vào thu nhập và chi phí cá nhân.

Bảng 4.21 Tiết kiệm hàng tháng

Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)

(Nguồn: Số liệu điều tra 2021)

Kết quả điều tra cho thấy, phần lớn người lao động di cư tham gia khảo sát có khả năng tiết kiệm hàng tháng, với 85.7% lao động nam và 70% lao động nữ Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể dành ra khoản tiết kiệm do phải đối mặt với nhiều chi phí vượt quá thu nhập Cụ thể, 14.3% lao động nam và 30% lao động nữ không có tiền tiết kiệm hàng tháng Trong bối cảnh dịch bệnh và giãn cách xã hội, khoản tiết kiệm trở thành “hũ gạo” giúp người lao động vượt qua khó khăn Một người lao động nam 26 tuổi chia sẻ rằng, trong thời gian dịch bệnh, việc có một khoản tiết kiệm rất quan trọng để trang trải cho các nhu cầu thiết yếu như lương thực, tiền nhà, và thuốc men, nhằm tránh khủng hoảng tinh thần.

Tiết kiệm là một đức tính quý báu của con người, đặc biệt trong bối cảnh xã hội hóa và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ Những khoản tiết kiệm giúp người lao động tự chăm sóc và trang trải cuộc sống khi gặp khó khăn.

4.3.3 Điều kiện nhà ở của người lao động di cư

Trong cuộc sống của mỗi chúng ta, chắc hẳn ai cũng từng nghe đến câu

“An cư lạc nghiệp” có nghĩa là để khởi nghiệp thành công, con người cần ổn định nơi ở Một chỗ ở vững chắc giúp tạo tâm lý an tâm, từ đó tập trung vào sự nghiệp Cuộc sống của người lao động di cư đang được chú ý vì ảnh hưởng lớn đến văn hóa, an ninh và kinh tế khu vực Những người lao động di cư thường thuê trọ, do đó, các yếu tố như diện tích, vệ sinh, tiện nghi và an ninh trở thành mối quan tâm hàng đầu trong các khảo sát đánh giá.

Bảng 4.22 Diện tích phòng trọ

(Nguồn: Số liệu điều tra 2021)

Diện tích nhà ở có tác động lớn đến cuộc sống hàng ngày của người lao động Mỗi cá nhân sẽ chọn diện tích phù hợp và thoải mái nhất dựa trên tính chất công việc và nhu cầu riêng của mình.

Qua số liệu điều tra từ bảng 4.22, có thể thấy chủ yếu là sống một mình

Trong số lao động di cư, 57.1% nam giới và 60% nữ giới đang thuê phòng dưới 20m2 Diện tích phòng từ 20m2 đến 30m2 cũng được ưa chuộng, với 31.4% nam và 23.3% nữ lựa chọn Những lao động có thu nhập cao hơn thường chọn không gian rộng rãi hơn, với 11.5% nam và 16.7% nữ thuê phòng từ 30m2 trở lên.

Hộp 4.4 Phòng trọ của người lao động di cư tại địa phương

Anh tìm được một căn trọ ưng ý, đầy đủ tiện nghi và gần xưởng làm việc Khu trọ chủ yếu dành cho công nhân, tạo cảm giác thoải mái Với mức giá 2.400.000 đồng/tháng cho 2 người, đây là một lựa chọn không lớn nhưng chất lượng.

Chị đã chuyển đến một căn phòng thuê 1.200.000đ/tháng với diện tích khoảng 18m2 sau khi xin vào công ty, nhằm thuận tiện cho việc đi lại Căn phòng có nhà vệ sinh riêng, nhưng chị phải tự trang bị điều hòa, bình nóng lạnh và các vật dụng khác.

Trong bối cảnh dịch bệnh, vấn đề tiền thuê trọ trở nên nghiêm trọng đối với người lao động di cư, đặc biệt là những người bị ảnh hưởng bởi việc làm và thu nhập Nhiều chủ nhà trọ không sẵn sàng hỗ trợ, khiến cho người lao động gặp khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày Một người lao động chia sẻ: “Em gặp khá nhiều khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày, bị ngừng thu nhập nhưng vẫn phải chi tiêu đều, bác chủ nhà cũng gây khó khăn khi không giảm tiền thuê nhà Gánh nặng về tiền bạc là khó khăn nhất đối với em trong hoàn cảnh này.”

Ngày đăng: 11/07/2023, 14:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. UNFPA (2010). Di cư trong nước: Cơ hội thách thức đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di cư trong nước: Cơ hội thách thức đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam
Tác giả: UNFPA
Năm: 2010
2. Ban Nữ công Tổng Liên đoàn (2012). Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho lao động nữ trong các khu công nghiệp và vai trò của Công đoàn. Đề tài cấp bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho lao động nữ trong các khu công nghiệp và vai trò của Công đoàn
Tác giả: Ban Nữ công Tổng Liên đoàn
Năm: 2012
3. Nguyễn Thị Thanh (2015). Thực trạng đời sống lao động nông thôn di cư đến thành phố Hà Nội làm nghề thu mua phế liệu. Khóa luận tốt nghiệp, Học viện nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng đời sống lao động nông thôn di cư đến thành phố Hà Nội làm nghề thu mua phế liệu
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh
Nhà XB: Học viện nông nghiệp Việt Nam
Năm: 2015
4. Tổng cục Thống kê (2015). Điều tra di cư nội địa quốc gia 2015. NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra di cư nội địa quốc gia 2015
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2015
5. Tổng cục thống kê và Qu dân số Liên hợp quốc (2016). Điều tra dân số và Nhà ở giữa kỳ 2014: Di cư và đô thị hóa ở Việt Nam. NXB Thông tấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra dân số và Nhà ở giữa kỳ 2014: Di cư và đô thị hóa ở Việt Nam
Tác giả: Tổng cục thống kê, Qu dân số Liên hợp quốc
Nhà XB: NXB Thông tấn
Năm: 2016
6. Lê Văn Sơn (2014). Lao động di cư nội địa ở Việt Nam hiện nay. Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lao động di cư nội địa ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Lê Văn Sơn
Nhà XB: Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
Năm: 2014
7. Nguyễn Trí Đào (2014). Đời sống lao động trong các khu công nghiệp. NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống lao động trong các khu công nghiệp
Tác giả: Nguyễn Trí Đào
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2014
8. Lê Bá Xuân và Lưu Đức Khải (2009). Một số giải pháp việc làm cho lao động nông thôn Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và Dự báo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp việc làm cho lao động nông thôn Việt Nam
Tác giả: Lê Bá Xuân, Lưu Đức Khải
Nhà XB: Tạp chí Kinh tế và Dự báo
Năm: 2009
9. Viện nghiên cứu chính sách và phát triển (2016). Tổng quan một số lý thuyết về di dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan một số lý thuyết về di dân
Tác giả: Viện nghiên cứu chính sách và phát triển
Năm: 2016
10. Trần Thị Hòa (2017). Thực trạng đời sống của người di cư. Khóa luận tốt nghiệp, ngành Xã hội học, Khoa Khoa học xã hội. Học viện Nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng đời sống của người di cư
Tác giả: Trần Thị Hòa
Nhà XB: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Năm: 2017
11. Nguyễn Hữu Trí (2018). Tổng quan về lao động di cư trong nước và những thách thức đặt ra ở Việt Nam. Tham luận hội thảo, Trường Đại học luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về lao động di cư trong nước và những thách thức đặt ra ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hữu Trí
Nhà XB: Tham luận hội thảo
Năm: 2018
12. Nguyễn Đức Hải (2018). Những thách thức của di cư tự do từ nông thôn ra thành thị ở Việt Nam hiện nay. Tạp chí lý luận chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thách thức của di cư tự do từ nông thôn ra thành thị ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Đức Hải
Nhà XB: Tạp chí lý luận chính trị
Năm: 2018
14. Dương Thùy Lương (2018). Thực trạng đời sống vật chất và đời sống tinh thần của phụ nữ sau ly hôn. Luận văn thạc sĩ khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng đời sống vật chất và đời sống tinh thần của phụ nữ sau ly hôn
Tác giả: Dương Thùy Lương
Nhà XB: Luận văn thạc sĩ khoa học
Năm: 2018
15. Nguyễn Hồng Chí (2020). Những đặc điểm cơ bản trong xu hướng di cư tại Việt Nam. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc điểm cơ bản trong xu hướng di cư tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hồng Chí
Nhà XB: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Thái Nguyên
Năm: 2020
16. Nguyễn Ánh Kim (2021). Người lao động ở các khu trọ trong mùa dịch Covid-19: Không ai bị bỏ lại phía sau. Báo Bạc Liêu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người lao động ở các khu trọ trong mùa dịch Covid-19: Không ai bị bỏ lại phía sau
Tác giả: Nguyễn Ánh Kim
Nhà XB: Báo Bạc Liêu
Năm: 2021
17. Nguyễn Đức Vinh (2020). Tác động kinh tế - xã hội của đại dịch Covid- 19 tại Việt Nam. Báo điện tử - Đảng Cộng sản Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động kinh tế - xã hội của đại dịch Covid- 19 tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đức Vinh
Nhà XB: Báo điện tử - Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2020
18. Tổng cục thống kê (2020). Báo cáo tác động của đại dịch Covid-19 đến tình hình lao động, việc làm quý IV và năm 2020. NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tác động của đại dịch Covid-19 đến tình hình lao động, việc làm quý IV và năm 2020
Tác giả: Tổng cục thống kê
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2020
19. Tổng cục thống kê (2020). Báo cáo tác động của đại dịch Covid-19 đến tình hình lao động việc làm tại Việt Nam Quý III/2020. NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tác động của đại dịch Covid-19 đến tình hình lao động việc làm tại Việt Nam Quý III/2020
Tác giả: Tổng cục thống kê
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2020
20. Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam (2021) Đại dịch Covid-19 tác động đến lao động việc làm ở Việt Nam qua phân tích số liệu thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại dịch Covid-19 tác động đến lao động việc làm ở Việt Nam qua phân tích số liệu thống kê
Tác giả: Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam
Năm: 2021
13. Tổng điều tra dân số (2019). Thông cáo báo chí kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019. NXB Thông Tấn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w