Nghiên cứu này được thực hiện nhằm làm rõ sự phân công lao động và quyền quyết định giữa vợ và chồng trong hoạt động sản xuất, hoạt động tái sản xuất và sự tiếp cận, kiểm soát các nguồn
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN TRẦN CHIỀU
PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG GIỮA VỢ VÀ CHỒNG TRONG GIA ĐÌNH SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
(Nghiên cứu tại xã Bạch Đẳng huyện Hòa An tỉnh Cao Bằng)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI
- -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG GIỮA VỢ VÀ CHỒNG TRONG GIA ĐÌNH SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
(Nghiên cứu tại xã Bạch Đẳng huyện Hòa An tỉnh Cao Bằng)
Tên sinh viên: NGUYỄN TRẦN CHIỀU
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận này được thực hiện một cách nghiêm túc, trung thực bằng nỗ lực nghiên cứu của chính tác giả, không gian lận, không sao chép từ các tài liệu khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực của toàn bộ nội dung khóa luận tốt nghiệp
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Trần Chiều
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Ths Nguyễn Thu Hà cô đã hướng dẫn và chỉ bảo tận tình cho tôi về mặt nội dung và phương pháp nghiên cứu để tôi có thể thực hiện thành công nghiên cứu này
Tôi xin cảm ơn chân thành đến các thầy, cô giáo trong bộ môn Xã hội học nói riêng và khoa Khoa học xã hội nói chung đã tận tình giảng dạy cho tôi trong 4 năm học để tôi có đủ kiến thức về kỹ năng chuyên môn để hoàn thành khóa luận này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến ban lãnh đạo UBND xã Bạch Đằng, các gia đình sản xuất nông nghiệp thuộc địa bàn của xã Bạch Đằng đã tham gia trả lời phỏng vấn và giúp tôi thu thập thông tin cần thiết để hoàn thành nghiên cứu này
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, quan tâm, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại trường và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2022
Sinh viên
Nguyễn Trần Chiều
Trang 5TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Phân công lao động giữa vợ và chồng luôn là một chủ đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà xã hội học bởi đây là chủ đề phản ánh mối quan hệ giới trong gia đình Nghiên cứu này được thực hiện nhằm làm rõ sự phân công lao động và quyền quyết định giữa vợ và chồng trong hoạt động sản xuất, hoạt động tái sản xuất và sự tiếp cận, kiểm soát các nguồn lực giữa
vợ và chồng trong các gia đình, thông qua phỏng vấn 42 hộ gia đình có sản xuất nông nghiệp và 9 phỏng vấn sâu Kết quả nghiên cứu cho thấy, Về hoạt động sản xuất nông nghiệp, có sự phân công rõ ràng giữa vợ và chồng, theo
đó, người chồng đảm nhiệm các công việc nặng nhọc, yêu cầu nhiều đến sức khỏe và nhất là trong các công việc sử dụng nhiều đến máy móc, người vợ làm chính các công việc được cho là nhẹ nhàng, yêu cầu sự tỉ mỉ khẽo léo Còn về sự phân công các công vệc gia đình và cộng đồng cũng có những sự khác biệt, khi mà các công việc nhà phần lớn là do người vợ đảm nhiệm, ngược lại người chồng đảm nhiệm nhiều các công việc cộng đồng Điều này cho thấy mô hình phân công lao động truyền thống vẫn được duy trì trong các gia đình sản xuất nông nghiệp, tuy nhiên, có một số gia đình người vợ tham gia cùng người chồng ở các công việc cộng đồng Sự tham gia của người vợ trong các hoạt động sản xuất nhiều hơn so với người chồng.Về quyền quyết định người người chồng (chủ hộ) trong gia đình sản xuất nông nghiệp người chồng là người đưa ra quyết định chính trong các công việc quan trọng Trong tất cả các công việc thông thường đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp quyền quyết định phần lớn do người vợ thực hiện và luôn có sự bàn bạc 2 vợ chồng đối với những công việc quan trọng Về tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực thì việc vay vốn đều do cả hai vợ chồng cùng thực hiện do liên quan đến đầu tư sản xuất của gia đình, bên cạnh đó, cả hai vợ chồng cũng có
sự tham gia tiếp cận học hỏi kỹ thuật, kinh nghiệm chăm sóc cây trồng và vật
Trang 6Như vậy, có thể thấy, mối quan hệ giới trong gia đình luôn có sự chia sẻ và hỗ trợ lẫn nhau, hướng tới sự bền vững của gia đình
Từ khóa: phân công lao động, gia đình, sản xuất nông nghiệp
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT KHÓA LUẬN iii
MỤC LỤC v
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HỘP ix
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT x
PHẦN 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Khách thể nghiên cứu 3
1.3.3 Phạm vi nghiên cứu 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Các lý thuyết nền cho đề tài nghiên cứu 4
2.1.1 Các lý thuyết về giới 4
2.1.2 Lý thuyết cấu trúc - chức năng 5
2.2 Các nghiên cứu liên quan 7
2.2.1 Thực trạng phân công lao động giữa vợ và chồng trong hoạt động sản xuất 7
2.2.2 Sự phân công lao động giữa vợ và chồng trong các công việc tái sản xuất 11
2.2.3 Quyến quyết định và kiếm soát các nguồn lực giữa vợ và chồng 14
2.3 Các khái niệm liên quan đến đề tài 16
2.3.1 Khái niệm gia đình 16
Trang 82.3.2 Vai trò giới 17
2.3.3 Khái niệm phân công lao động theo giới 17
2.3.4 Khái niệm sản xuất nông nghiệp 18
PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1 Chọn điểm nghiên cứu 19
3.2 Phương pháp thu thập thông tin 20
3.2.1 Thu thập thông tin thứ cấp 20
3.2.2 Thu thập thông tin sơ cấp 20
3.3 Phương pháp phân tích và sử lý số liệu 21
3.4 khung phân tích 21
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23
4.1 Tình hình sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình điều tra 23
4.1.1 Đặc điểm nhân khẩu – xã hội của mẫu điều tra 23
4.1.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình 25
4.1.3 nguồn thu nhập chính của gia đình hiện nay 31
4.2 sự phân công lao động và quyền quyết định giữa vợ và chồng trong hoạt động sản xuất giữa các gia đình 32
4.2.1 sự phân công lao động và quyền quyết định giữa vợ và chồng trong hoạt động trồng trọt 32
4.2.2 Sự phân công lao động và quyền quyết định giữa vợ và chồng trong hoạt động chăn nuôi 38
4.3 Phân công lao động và quyền quyết định giữa vợ và chồng trong hoạt động tái sản xuất của các gia đình 42
4.3.1 Phân cộng lao động giữa vợ và chồng trong hoạt động tái sản xuất 42
4.3.2 Quyền quyết định chính các công việc gia đình 46
4.4 Sự tiếp cận và kiểm soát nguồn lực giữa vợ và chồng trong các gia đình 47
4.4.1 người tham gia các lớp tập huấn trồng trọt và chăn nuôi 47
4.4.2 Đóng góp thu nhập cho gia đình 48
Trang 94.4.4 Vay vốn và sử dụng vốn vay 51
PHẦN 5: KẾT LUẬN 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
PHỤ LỤC 58
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1: Độ tuổi của mẫu khảo sát 23
Bảng 4.2: Trình độ học vấn của mẫu điều tra 24
Bảng 4.3: Tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình 26
Bảng 4.4: Ước tính thu nhập sản xuất nông nghiệp trong 1 năm 26
Bảng 4.5: Chi phí đầu tư 1 vụ lúa 27
Bảng 4.6: Loại vật nuôi và diện tích chăn nuôi 29
Bảng 4.7 Chi phí đầu tư hoạt động chăn nuôi trong 1 năm 30
Bảng 4.8: Nguồn thu nhập chính 31
Bảng 4.9 Sự phân công lao động giữa vợ và chồng trong hoạt động trồng trọt 33
Hộp 4.7: Sự phân công lao động trong hoạt động trồng trọt 35
Bảng 4.10: Quyền quyết định của vợ và chồng trong hoạt động trồng trọt 36
Bảng 4.11 Sự phân công lao động giữa vợ và chồng trong công việc chăn nuôi 38
Bảng 4.12 Quyền quyết định của vợ và chồng trong chăn nuôi 41
Bảng 4.13: Người thực hiện chính công việc phục vụ sinh hoạt gia đình 43
Bảng 4.14: Người chăm lo thuốc men và chăm sóc khi có người ốm trong gia đình 45
Bảng 4.15: Người quyết định các công việc 46
Bảng 4.16: Người tham gia các lớp tập huấn 47
Bảng 4.17: Người tạo ra nhiều thu nhập nhất trong gia đình 49
Bảng 4.18: Người giữ tiền chính 50
Bảng 4.19: Người đứng tên tài sản có giá trị 50
Bảng 4.20: Người vay vốn và người sử dụng vốn 51
Trang 11DANH MỤC HỘP
Hộp 4.1: Độ tuổi của người sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã 24
Hộp 4.2: Trình độ học vấn của người sản xuất nông nghiệp 25
Hộp 4.3: Thu nhập từ trồng trọt 27
Hộp 4.4: Chi phí đầu tư sản xuất 28
Hộp 4.5: Loại vật nuôi và diện tích chăn nuôi 29
Hộp 4.6 Chi phí đầu tư cho chăn nuôi 31
Hộp 4.7: Sự phân công lao động trong hoạt động trồng trọt 35
Hộp 4.8 Quyền quyết định trong hoạt động trồng trọt 37
Hộp 4.9: Quyết định hoạt động chăn nuôi 42
Hộp 4.10: Phục vụ sinh hoạt gia đình 44
Hộp 4.11: Chăm sóc người ốm 46
Hộp 4.12: Tham gia các lớp tập huấn 48
Trang 12DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
THCS: Trung học cơ sở
THPT: Trung học phổ thông
CĐ/ĐH: Cao đẳng/ Đại học
Trang 13PHẦN 1: GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Quá trình công nghiệp hóa – đô thị hóa và việc thực hiện chương trình Nông thôn mới đã tạo điều kiện cho khu vực nông thôn phát triển về mọi mặt đời sống xã hội Sự phát triển kinh tế - xã hội nông thôn đã tác động đến cơ cấu xã hội nông thôn nói chung và cơ cấu của gia đình nhất là khi phụ nữ ngày càng khẳng định được vị thế của mình, trở thành một lực lượng lao động
xã hội đông đảo, đóng góp hiệu quả vào sự phát triển của nền kinh tế
Ở nông thôn, sản xuất nông nghiệp vẫn là hoạt động mang lại thu nhập chính cho nhiều gia đình ở nông thôn Để đảm bảo sản xuất đạt hiệu quả, luôn đòi hỏi phải có sự phối hợp, hỗ trợ giữa vợ và chồng trong các công việc sản xuất, từ việc phòng trừ sâu bệnh hại cho đến chọn mua giống, phân bón…cũng như trong các công việc gia đình Sự phân công lao động hợp lý giữa vợ và chồng trong việc thực hiện các công việc gia đình không những là chìa khóa để đảm bảo cho sự ổn định bền chặt, êm ấm của gia đình, tạo điều kiện cho sự phát triển cho cả nam giới và nữ giới về mặt xã hội mà còn giúp cải thiện địa vị của mỗi giới, đặc biệt là địa vị của người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội (Mai Bích Huy, 2009)
Trong xã hội truyền thống, người phụ nữ (người vợ) mặc định phải biết
nữ công gia chánh, tề gia nội trợ, biết thêu thùa, may vá, chăm sóc các thành viên trong gia đình Ngược lại, vai trò của nam giới (người chồng) là trụ cột gia đình, gánh vác những công việc xã hội theo mô hình “nam ngoại nữ nội” Cho đến nay, khuôn mẫu truyền thống xác định vai trò của vợ và chồng vẫn được lưu giữ trong nhiều gia đình, khiến cho phụ nữ và nam giới đều được gắn cho những loại công việc nhất định được coi là phù hợp với giới tính của mình dù cho cả 2 vợ chồng đều tham gia hoạt động sản xuất, tạo thu nhập cho gia đình (Nguyễn Hữu Minh, 2008), (Lê Tiêu La và Nguyễn Đình Tấn, 2005)
Trang 14chồng) cũng bắt đầu có sự chia sẻ, hỗ trợ phụ nữ (người vợ) thực hiện các công việc nội trợ (Nguyễn Thị Hoàng Anh, 2019)
Trên thực tế, có rất nhiều nghiên cứu đối với vấn đề phân công lao động trong gia đình nhằm mô tả hiện trạng ai làm gì? Ai quyết định việc gì?
Ai là người tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực trong hoạt động sản xuất cũng như trong hoạt động gia đình, cộng đồng… Trong các nghiên đó đó, đều phản ánh tình trạng, cho dù, cả vợ và chồng cùng tham gia hoạt động sản xuất nhưng so với người chồng (nam giới), phụ nữ nông thôn luôn bị lép vế, lao động cực nhọc, thức khuya dậy sớm, ít có tiếng nói trong gia đình, không được tham gia vào các công việc của xã hội Họ vẫn thường đảm nhận vai trò kép, vừa làm lao động sản xuất, lại vừa làm lao động gia đình, mặc dù họ còn
là người mang lại thu nhập chính cho gia đình Chính vì vậy, nghiên cứu về phân công lao động giữa vợ và chồng luôn là một vấn đề cấp thiết Xuất phát
từ thực tế đó, đề tài “Phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình
sản xuất nông nghiệp” (nghiên cứu trường hợp tại xã Bạch Đằng huyện Hòa
An tỉnh Cao Bằng) được thực hiện nhằm tìm hiểu sự phân công lao động giữa
vợ và chồng trong gia đình sản xuất nông nghiệp hiện nay như thế nào? Ai là người có quyền ra quyết định? Ai là người được tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực trong gia đình?
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 15-Tìm hiểu sự phân công lao động và quyền quyết định giữa vợ và chồng trong hoạt động tái sản xuất của các gia đình tại xã Bạch Đằng, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng
- Tìm hiểu sự tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực giữa giữa vợ và chồng trong các gia đình tại xã Bạch Đằng, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng
1.3 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tập trung tìm hiểu sự phân công lao động giữa giữa vợ và chồng trong các gia đình sản xuất nông nghiệp
Trang 16PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Các lý thuyết nền cho đề tài nghiên cứu
2.1.1 Các lý thuyết về giới
Quan điểm về tiếp cận giới cho rằng, việc mỗi giới tự nhận mình trong các vai trò hôn nhân và gia đình đề gắn với yếu tố giới được định hình từ trước Yếu tố giới được dùng để giải thích tại sao phụ nữ có xu hướng làm những việc được coi là việc đàn bà (nấu nướng, giặt giũ…), trong khi nam giới làm việc đàn ông
Những người theo phái nữ quyền (feminists) nhìn gia đình như một kiến trúc có bản chất xã hội, phần nhiều do con người tự nghĩ ra và không dựa trên cơ sở những tất yếu mang tính tự nhiên Các vai trò trong gia đình là kết quả đã định trước của các quan hệ quyền lực mà theo đó nam giới có quyền gán những công việc nhất định cho người phụ nữ và loại trừ họ khỏi các công việc khác
Các nhà kinh tế lập luận rằng, hôn nhân và các dàn xếp trong gia đình hoạt động như những hợp đồng ẩn dụ, bao gồm sự trao đổi thường xuyên giữa hai vợ chồng và những tương tác khác Người chồng thường có quyền nhiều hơn vợ và sự thống trị của nam giới mạnh hơn khi người vợ thuần túy là người nội trợ Sự gia tăng việc làm có thu nhập của người phụ nữ làm cho họ
có khả năng tài chính để quyết định nhiều vấn đề liên quan đến cuộc sống của chính họ và con cái họ
Sự khác biệt giữa nam và nữ về vị trí trong phân tầng xã hội ở cả hai chiều giai cấp và địa vị Collins phân biệt giai cấp như vị trí quyền lực, địa vị như vị trí có liên quan đến các phương tiện vật chất của sự sản xuất mang tính văn hóa Bối cảnh này dẫn đến hai cuộc đấu tranh giai cấp trái ngược nhau: công nhân đối diện với nhà tư bản trong nền kinh tế bên ngoài và các bà nội trợ đối diện với với các ông chồng – nhà tư bản trong nền kinh tế gia đình
Trang 17Lý thuyết giới còn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sinh thái và công nghệ Ba luận điểm cơ bản được nhấn mạnh: Người nào sản xuất ra của cải thì
có xu hướng có nhiều quyền lực và uy tín hơn người tiêu dùng nó Vì nam giới không thể mang thai và nuôi dưỡng trẻ em nên những nhiệm vụ thích hợp đối với việc nuôi dưỡng con cái được giao cho phụ nữ Quyền lực và uy tín lớn nhất thường nằm trong tay người có khả năng kiểm soát việc phân phối các của cải có giá trị vượt ra ngoài khuôn khổ gia đình
Các lý thuyết về giới được vận dụng để tìm ra những nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng giới như do sự khác biệt về giới, do thiên chức được quy định như một chức năng sinh học, những công việc thích hợp với phụ nữ…,
do định kiến xã hội Đồng thời yếu tố kinh tế cũng là một nhân tố quan trọng, góp phần nâng cao vị thế của những người phụ nữ trong gia đình Lợi thế của người đàn ông sẽ giảm đi khi phụ nữ có thu nhập bằng tiền và khi người phụ
nữ dành nhiều thời gian cho công việc ngoài xã hội thì tâm thế của họ hướng
về gia đình giảm đi (Mai Huy Bích, 2009)
Vận dụng các quan điểm lý thuyết về giới trong đề tài này nhằm làm rõ phân công lao động giữa vợ và chồng trong sản xuất nông nghiệp, công việc mỗi người đảm nhậm trong sản xuất, cũng như khả năng tiếp cận và sử dụng các nguồn lực trong sản xuất
2.1.2 Lý thuyết cấu trúc - chức năng
Lý thuyết cấu trúc chức năng ra đời vào những năm 40 – 50 của thế kỷ
XX với những đại diện tiêu biểu như Talcott Parsons, Robert Merton, Murdock
Thuyết cấu trúc phân tích cơ cấu của xã hội, những mối liên hệ giữa các hệ thống khác nhau của nó Họ coi xã hội tương tự như một cơ thể, bao gồm nhiều cơ quan, nhiều bộ phận và mỗi bộ phận đảm nhận một chức năng nhất định Khi một bộ phận này thay đổi, nó kéo theo sự thay đổi của các bộ phận khác nhằm cân bằng lại
Trang 18Khi phân tích về mối quan hệ giới trong gia đình, những nhà xã hội học theo lý thuyết cấu trúc chức năng cho rằng, phụ nữ và nam giới là những bộ phận khác nhau tạo nên hệ thống xã hội và có quan hệ về mặt xã hội hết sức chặt chẽ Việc thực hiện chức năng và vai trò xã hội giữa phụ nữ và nam giới trong phạm vi gia đình và cộng đồng là một trong những yếu tố thể hiện mối quan hệ xã hội giữa họ Theo George Murdock, gia đình thực hiện bốn chức năng cơ bản và phổ biến là chức năng tình dục, tái sinh sản, kinh tế và giáo dục Những chức năng này hết sức quan trọng đối với xã hội vì nếu không có chức năng tình dục và tái sinh sản, sẽ không có các thành viên của xã hội Nếu không có chức năng kinh tế, ví dụ việc cung ứng và chế biến nấu nướng món ăn, cuộc sống sẽ không còn nữa Và nếu không có chức năng giáo dục (education function), tức hóa, sẽ không có văn hóa, nếu không có văn hóa thì
xã hội con người sẽ không thể vận hành (Mai Huy Bích, 2009) Trong khi đó, Talcott Parsons cho rằng, sự chuyển biến xã hội và việc bước sang xã hội công nghiệp hiện đại đã khiến gia đình thay đổi Theo lý thuyết của ông về tiến hóa xã hội hóa, xã hội biến đổi qua một quá trình phân hóa về cấu trúc, nghĩa là các thể chế tiến hóa bằng cách chuyên biệt hóa vào ít chức năng hơn, gia đình không còn thực hiện nhiều chức năng như trước nữa, mà có sự chuyển giao bớt các chức năng của gia đình cho thể chế khác (nhà trường, nhà thờ, nhà trẻ…) Gia đình mất đi nhiều chức năng và gần như trở thành “không còn chức năng” nữa Theo ông để gia đình hoạt động có hiệu quả với tư cách một hệ thống xã hội, phải có sự phân công lao động rõ ràng theo giới Trong gia đình, người chồng là người đi làm kiếm sống, tạo ra thu nhập và vợ ở nhà chăm sóc con cái, lo việc nhà Như vậy người chồng đóng vai trò mà Parsons cho là “công cụ”, người đàn ông suốt ngày đi làm trong một xã hội cạnh tranh
và hướng tới sự thành đạt Điều đó dẫn anh ta tới chỗ căng thẳng và lo lắng Người vợ đóng vai trò “tình cảm” theo nghĩa chăm sóc, hỗ trợ về tình cảm và tạo ra sự an toàn không chỉ cho con, mà cả cho chồng Người vợ giảm bớt sự
Trang 19căng thẳng của người chồng bằng cách yêu thương, thấu hiểu và chu đáo với
sẽ lý giải sự thực hiện vai trò giữa nam giới và phụ nữ tùy vào hoàn cảnh gia đình, xã hội
2.2 Các nghiên cứu liên quan
2.2.1 Thực trạng phân công lao động giữa vợ và chồng trong hoạt động sản xuất
Trong những năm gần đây các nghiên cứu về phân công lao động được tập trung ở khu vực nông thôn là chủ yếu Trong đời sống hộ gia đình nông thôn, phụ nữ và nam giới đều tham gia các hoạt động sản xuất tạo ra thu nhập
để ổn định cuộc sống và phát triển kinh tế Các hoạt hoạt động sản xuất của các nông hộ chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi
Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, phân công lao động giữa nam
và nữ cũng có sự khác biệt Nam giới thường làm các công việc nặng nhọc như cày bừa, phun thuốc, còn phụ nữ ngoài các công việc nội trợ trong gia đình thì còn tham gia sản xuất nông nghiệp như nhổ mạ, cấy, làm cỏ, tham gia thu hoạch và bán sản phẩm Trong sản xuất lúa, tỷ lệ phụ nữ tham gia làm đất chỉ chiếm (2,7%), trong khi đó nam giới chiếm tỷ lệ khá cao cho công việc này (58,7%), cả hai tham gia làm đất chỉ chiếm (9,3%) Công việc thu hoạch sản phẩm như phơi lúa đòi hỏi sử dụng ít công sức thì phụ nữ đảm nhận cao nhất chiếm (19,3%), cả hai cùng làm chiếm (56,7%) Phân công lao động
Trang 20trong chăn nuôi gia súc, gia cầm qua nghiên cứu cũng có sự khác biệt, nữ giới hầu hết đảm nhận các công việc từ việc đi mua thức ăn (48,7%), chăm sóc (69.3%) đến bán sản phẩn (50%), trong khi đó nam giới chỉ chiếm tỷ lệ rất thấp cho các hoạt động mua thức ăn, chăm sóc, bán sản phẩm lần lượt là 30,7%, 11,3% và 35,3%(Phạm Thị Ngọc Nhàn và cộng sự, 2014) Trong hoạt động chăn nuôi cũng có sự tham gia của vợ và chồng trong các khâu của công việc Tuy nhiên vẫn có sự phân công lao động rõ ràng giữa vợ và chồng trong từng khâu của hoạt động chăn nuôi Theo kết quả điều tra của (Nguyễn Thị Hương Giang, 2015) cho thấy người vợ chủ yếu đảm nhận các công việc như chọn giống, chăm sóc vật nuôi, bán sản phẩm vì cho rằng người vợ có sự khéo léo, sự quan sát nhanh nhạy hơn 90 với người chồng do đó việc chăm sóc vật nuôi sẽ tốt hơn Còn người chồng đảm nhiệm việc chuồng trại, áp dụng kĩ thuật như nhân giống, lai tạo chiến tỉ lệ cao (46.7%), vì đây là công việc đòi hỏi kỹ thuật, việc làm chuồng cần phải kiên cố chắc chắn, đòi hỏi sức nên người chồng thực hiện công việc này là chính Đối với sự phân công lao động trong các gia đình dân tộc thiểu số thì: trong sản xuất phụ nữ là lực lượng lao động chính trong trồng trọt và chăn nuôi, phụ nữ vẫn là người đảm nhận nhiều trong các công việc như cấy chiếm (89.7%), làm cỏ chiếm (72.8%), thu hoạch (56.6%), bảo quản sản phẩm (81.0%) Tuy nhiên, trong trồng lúa nước có thể thấy vai trò của nam giới chiếm khá cao trong công việc này, khi mà nam giới là người đảm nhiệm chính trong khâu làm đất, cùng với
đó nam giới đảm nhiệm công việc chính trong trồng rừng, khai thác rừng, chăn nuôi trâu bò và cá nước ngọt (Lê Thị Kim Lan, 2006)
Đối với các hộ gia đình có vợ hoặc chồng đi di cư, mặc dù vẫn tham gia vào công việc đóng góp kinh tế cho hộ gia đình nhưng sự phân công lao động trong các hộ gia đình này có sự thay đổi rõ rệt Những người ở lại vừa phải tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh tế, vừa phải đảm nhận thay công việc của người đi di cư Đặc biệt là các hộ gia đình có vợ đi di cư Sau khi vợ
Trang 21đi làm ăn xa, phần lớn các công việc sản xuất như cày, cấy, gặt, sơ chế nông sản, phun thuốc trừ sâu, trồng hoa màu, chăn nuôi, ngành nghề Sự tham gia của người chồng tăng lên (Lê Việt Nga, 2012)
Trong việc sản xuất nông nghiệp, những công việc gieo trồng, bón phân, chăn nuôi gia súc thì tỷ lệ tham gia giữ vợ và chồng là tương đối, những công việc sản xuất đơn thuần là người vợ đảm nhiệm còn người chồng đảm nhiệm những công việc đòi hỏi về sức khỏe, kỹ thuật như xây, mộc (Lê Ngọc Lân, 2007) Trong cuộc sống hàng ngày, phụ nữ và nam giới đều tham gia hoạt động sản xuất để tạo thu nhập cho gia đình Các hoạt động tạo thu nhập của các hộ gia đình đều rất phong phú và đa dạng từ nghề nông đến các nghề mua bán nhỏ lẻ, tiểu thủ công nghiệp như đan lục bình, may đồ, làm thuê Hộ nông dân chủ yếu vẫn là sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, ngoài ra còn một số
hộ còn hoạt động dịch vụ trong nông nghiệp như buôn bán phân, thuốc trừ
sâu (Sử Kim Anh và các cộng sự, 2014)
Theo khảo sát ở một số xã ở Hải Dương, Hoà Bình, Bình Định, Tiền Giang, nghiên cứu chỉ ra rằng, phụ nữ đang là lực lượng chủ yếu tham gia trồng lúa và cây ăn quả Bên cạnh đó, đất đai ở nông thôn đang bị thu hẹp do công nghiệp hóa, hoạt động nông nghiệp ngày càng hiện đại hơn nhờ cơ giới hoá nên tình trạng “nữ nội, nam ngoại” khá phổ biến Phụ nữ hiện nay không chỉ làm những công việc trồng trọt truyền thống như gieo cấy, làm cỏ… mà còn đảm nhiệm cả những hoạt động vốn trước kia của nam giới như cày bừa, bón phân, phun thuốc sâu… Điều đó làm tăng áp lực công việc nông nghiệp
cho phụ nữ (Viện Nghiên cứu Gia đình- Giới, 2015)
Trong hoạt động trồng trọt, công việc của nam giới và phụ nữ có sự khác biệt rõ rệt Nam giới thường làm những công việc nặng nhọc như cày bừa, phun thuốc, cải tạo đất; còn phụ nữ ngoài các công việc nội trợ gia đình thì còn tham gia sản xuất lúa như nhổ mạ, cấy, làm cỏ, tham gia thu hoạch và bán sản phẩm Trong sản xuất nông nghiệp, tỷ lệ phu nữ tham gia làm đất
Trang 22chiếm 2.7% trong khi nam giới chiếm tỷ lệ khá cao 58.7%, cả hai giới đều tham gia làm đất chỉ chiếm 9.3% Trong việc thu hoạch sản phẩm như phơi lúa đòi hỏi sử dụng ít công sức thì phụ nữ đảm nhận cao nhất chiếm 19.3%, cả hai giới cùng tham gia cho hoạt động phơi lúa chiếm 56.7% Phân công lao động trong chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn nghiên cứu cho thấy, nữ giới hầu hết đảm nhận các công việc từ việc đi mua thức ăn (48,7%), chăm sóc (69,3%) đến bán sản phẩm (50%), trong khi nam giới chỉ chiếm tỷ lệ rất thấp cho các hoạt động mua thức ăn, chăm sóc, bán sản phẩm lần lượt là 30,7%, 11,3% và 35,3% Hoạt động chăn nuôi trong gia đình là hoạt động nhỏ
lẻ, đòi hỏi sử dụng ít sức lao động vì vậy nữ giới thường tham gia các hoạt động này nhằm tạo thêm thu nhập cho gia đình (Phạm Ngọc Nhàn và cộng sự, Nông hộ trên địa bàn huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang, 2014)
Đối với phân công lao động trong hoạt động chăn nuôi cũng có sự tham gia của cả vợ và chồng trong các khâu của các nhóm công việc Tuy nhiên, vẫn có sự phân công lao động rõ ràng giữa vợ và chồng trong từng khâu của hoạt động chăn nuôi Kết quả điều tra cho thấy, người vợ chủ yếu đảm nhiệm các công việc như chọn giống, chăm sóc vật nuôi, bán sản phẩm vì cho rằng người vợ có sự khéo léo, sự quan sát nhanh nhạy hơn 90% với người chồng
do đó việc chăm sóc vật nuôi sẽ tốt hơn Còn người chồng đảm nhiệm việc làm chuồng trại, áp dụng kĩ thuật như nhân giống, lai tạo chiếm tỷ lệ cao (46.7%), vì đây là công việc đòi hỏi kĩ thuật, việc làm chuồng cần phải kiên
cố và chắc chắn, đòi hỏi sức nên người chồng thực hiện công việc này là chính (Nguyễn Thị Hương Giang, 2015)
Trong sản xuất lúa, phụ nữ làm nhiều công đoạn hơn Nam giới hay làm nhất là phun thuốc và làm đất Còn phụ nữ tham gia vào hầu hết các khâu
từ gieo trồng, bón phân, làm cỏ, thu hoạch, trông nom, chế biến, bán sản phẩm, quản lý thu chi Tỷ lệ phụ nữ tham gia làm đất chỉ chiếm 2,7%, trong khi nam giới chiếm tỷ lệ khá cao cho công việc này (58,7%), cả hai tham gia
Trang 23làm đất chỉ chiếm 9,3% Công việc thu hoạch sản phẩm như phơi lúa đòi hỏi
sử dụng ít công sức thì phụ nữ đảm nhận cao nhất (chiếm 19,3%), cả hai cho hoạt động phơi lúa chiếm 56,7% và tỷ lệ thuê mướn (người khác) chiếm thấp nhất 2,7% (Phạm Ngọc Nhàn và Cộng sự, Vấn đề giới trong phân công lao động phát triển kinh tế nông hộ, 2014) Nhìn chung, ta có thể thấy trong các hoạt động đòi hỏi sức khỏe cao thì chủ yếu do người chồng đảm nhiệm, người
vợ đảm nhiệm các công việc nhẹ nhàng, dễ thực hiện hơn Các công việc nặng nhọc, nguy hiểm trong sản xuất hầu hết do người chồng đảm nhiệm chính, người vợ thực hiện các công việc này với vai trò tham gia phụ giúp Ở hoạt động sản xuất chè, tỉ lệ người chồng tham gia làm đất khá cao (58.3%), trong giai đoạn chăm sóc người chồng đảm nhiệm nhiều công việc phun thuốc sâu ( 70.0%), tưới nước (63.3%) và đốn chè ( 61.7%).(Nguyễn Thị Hoàng Anh, 2019)
Các nghiên cứu phân công lao động trong sản xuất nông nghiệp đã chỉ
ra sự khác biệt giữa vợ và chồng trong các hoạt động sản xuất Người chồng với vai trò trụ cột trong gia đình chủ yếu đảm nhận các công việc nặng nhọc, những công việc yêu cầu đến sức khỏe, yêu cầu kỹ năng Còn người vợ thường đảm nhận các công việc nhẹ nhàng nhưng đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ, tháo vát Người vợ là người tham gia nhiều hơn các công việc trong gia đình
2.2.2 Sự phân công lao động giữa vợ và chồng trong các công việc tái sản xuất
Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới xếp các công việc tái sản xuất vào lĩnh vực “không hoạt động kinh tế” và coi là công việc dành riêng cho phụ nữ Phân công lao động trong gia đình bao gồm nhiều công việc như: nội trợ, dọn dẹp nhà cửa, chăm sóc gia đình, giáo dục con cái Các nghiên cứu về phân công lao động trong gia đình thường tập trung vào việc nêu thực trạng ai làm việc gì trong gia đình, trong đó nhấn mạnh vào sự phân công lao động giữa vợ và chồng, các nghiên cứu đều cho rằng vẫn tồn tại vào sự bất bình đẳng giữa người vợ và người chồng khi thực hiện các công việc trong gia đình và mô hình phân công lao động truyền thống “nam ngoại, nữ nội” tức là
Trang 24(nam lo việc ngoài xã hội, nữ lo việc gia đình) ít có sự thay đổi hay chuyển biến gì nhiều Những quan niệm công việc nội trợ là của phụ nữ đã phần nào làm ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của người vợ trong gia đình
Việc phân công lao động theo giới vẫn là xu hướng chủ yếu của các gia đình hiện nay Công việc nhà đóng một vai trò quan trọng trong đời sống của mỗi cá nhân và cộng đồng Các công việc nhà bao gồm các hoạt động cung cấp, chế biến thức ăn, nấu nướng, giặt giũ, lau dọn trang hoàng nhà cửa và chăm sóc các thành viên trong gia đình… Công việc gia đình thực tế là bề bộn, đa dạng và phải thực hiện cấp bách hàng ngày Vì vậy vấn đề nổi lên là mỗi quan hệ chia sẻ mọi việc trong gia đình, có sự hợp lý và bình đẳng giữa
vợ và chồng Trên thực tế, các công việc trong gia đình như làm nội trợ vẫn
do nữ đảm nhiệm là chính, những công việc nội trợ gia đình tỷ lệ phụ nữ đảm nhiệm cao hơn hẳn so với nam giới, vợ làm chính chiếm 70,4% so với chồng làm chính có 2,3% Việc chăm sóc con, đặc biệt là con nhỏ, tỷ lệ phụ nữ tham gia cũng cao hơn hẳn nam giới 48,9% so với 3% Việc giáo dục, giúp đỡ con học tập, người vợ tham gia 21,6% không kém nhiều so với người chồng 299,8% Nam giới chủ yếu tham gia làm các công việc liên quan đến lao động sản xuất (Lê Thi, 2009) Xét những công việc trong gia đình thì tình trạng bất bình đẳng trong sự phân công lao động theo giới rất rõ nét Phụ nữ vẫn đóng vai trò lớn trong việc nội trợ và chăm sóc con cái thường mất nhiều thời gian
và công sức để hoàn thành như nấu nướng hay giặt giũ, phụ nữ vẫn là người chịu trách nhiệm chính Sự đóng góp của nam giới vào các công việc này là tương đối hạn chế, và họ thường có quyền lựa chọn từng công việc cụ thể cũng như khối lượng công việc mà họ muốn tham gia Đối với công việc khác như sửa chữa vặt trong nhà, tham gia sinh hoạt cộng đồng, hay thờ cúng tổ tiên, nam giới thường là người gánh vác chính trong gia đình (Ngô Vân Hà, 2017) Nhưng mức độ tham gia của nam giới cũng đang tăng lên Khi giá trị của cá nhân ngày càng được đề cao thì vai trò của người phụ nữ càng được
Trang 25nâng lên, họ được chủ động hơn trong đời sống gia đình Điều này thể hiện qua việc hai vợ chồng cùng nhau bàn bạc mọi sự kiện trọng đại của gia đình
và ở thế hệ trẻ thì cao hơn so với trung niên và già (Lê Thi, 2009)
Trong khung cảnh kinh tế Việt Nam đang chuyển dần sang kinh tế thị trường, đời sống gia đình có nhiều lĩnh vực biến đổi Ngay trong lĩnh vực nội trợ cũng có biến đổi so với mô hình phân công lao động truyền thống là người chồng làm trụ cột kinh tế gia đình và người vợ là nội trợ Chỉ có 6% phụ nữ cho rằng nghề nghiệp của họ là nội trợ Phụ nữ đã có đóng góp về thu nhập thì công việc nội trợ cũng được chia sẻ với người chồng, nhưng đa số người vợ vẫn là người làm chính trong công việc nội trợ trong gia đình (Vũ Tuấn Huy
và Deborah S.Carr, 2000) Trong việc nội trợ và chăm sóc gia đình sự phân công lao động giữa vợ và chồng cơ bản vẫn theo mô hình truyền thống: bất bình đẳng thể hiện khá rõ Họ cho rằng người phụ nữ biết nội trợ giỏi, biết nuôi dạy con cái được coi là quan trọng hơn đối với các đặc điểm như có học vấn cao, nghề nghiệp, có uy tín và có địa vị trong xã hội (Vũ Tuấn Huy và Deborah S.Carr, 2000) Khi nghiên cứu về phân công lao động trong gia đình phần lớn các tác giả như: (Hoàng Bá Thịnh, 2008), (Mai Huy Bích, 2003), (Vũ Tuấn Huy và Debora S.Carr, 2000), (Vũ Thị Thanh Mai, 2009) đều có chung nhận định: người phụ nữ khi lập gia đình gắn liền với vai trò của mình
là làm vợ, làm mẹ, phải đảm nhiệm mọi công việc của gia đình như đi chợ, nấu cơm, giặt giũ, chăm sóc con, suốt ngày bận các công việc trong nhà Họ thậm chí không có thời gian nghỉ ngơi, rất ít có thời gian để tham gia vào các hoạt động xã hội Vì vậy, theo Mai Huy Bích (2012), phụ nữ ít có khả năng trở thành người lãnh đạo, quản lý Nguyên nhân chủ yếu là do dành quá nhiều thời gian cho gia đình hơn là công việc ở cơ quan
Như vậy, qua các nghiên cứu trên đã cho thấy được sự phân công lao
động về giới trong hoạt động tái sản xuất của gia đình có sự thay đổi đáng kể Mặc dù trong các nghiên cứu chỉ ra rằng người vợ hầu như đều tham gia các
Trang 26hoạt động trong việc tái sản xuất chiếm phần trăm lớn hơn so với người chồng
cụ thể những công việc như là nội trợ chăm sóc thành viên trong gia đình
2.2.3 Quyến quyết định và kiếm soát các nguồn lực giữa vợ và chồng
Khi nghiên cứu về vai trò của phụ nữ trong nông nghiệp, các tác giả (Quyền Đình Hà và cộng sự, 2006) đã đưa ra nhận định: Phụ nữ chưa hoàn bình đẳng trong quyết định công việc lớn ở gia đình, trong kiểm soát tài sản, trong thừa kế, mặc dù họ là người nắm giữ trách nhiệm quản lý tài chính trong gia đình Phụ nữ ít được tham gia hội họp thôn xóm, ít được tiếp cận với các phương tiện truyền thông, chưa được bình đẳng trong họ tộc và gia đình Cán cân quyền lực giữa vợ và chồng trong gia đình Việt Nam có mối liên hệ chặt chẽ với sự phân bố nguồn lực kinh tế - xã hội giữa họ Người vợ ít có quyền quyết định công việc sản xuất kinh doanh (một trong những công việc quan trọng của gia đình) và điều này phổ biến ở những gia đình cả vợ và chồng có trình độ học vấn thấp, mức đóng góp kinh tế của gia đình người vợ thấp hơn người chồng (Trần Thị Cẩm Nhung, 2009) Nguyên nhân cơ bản dẫn đến tồn tại bất bình đẳng là yếu tố nghề nghiệp của người phụ nữ, yếu tố văn hóa, quan niệm của người dân coi công việc nội trợ chăm sóc con cái là của phụ nữ, họ không coi đó là bất bình đẳng mà là điều hiển nhiên (Vũ Thị Thanh, 2009) Có thể nói mối quan hệ quyền lực giữa vợ và chồng trong gia đình đang có nhữ chuyển biến, phụ nữ ngày càng tiếp cận gần hơn với giáo dục và thị trường lao động giúp họ ít nhiều có thêm ưu thế để tham gia vào quá trình quyết định trong gia đình Khi nhận thức của cá nhân và xã hội về bình đẳng giới ngày càng tăng lên thì quyền lợi của người phụ nữ sẽ được bảo
vệ (Trần Thị Cẩm Nhung, 2009) Cho đến nay ở nhiều khu vực nông thôn sự phân công lao động theo giới không quá rõ nét và bắt buộc Nam giới và nữ giới cùng làm việc để tìm kiếm sự đa dạng hóa trong sinh kế cho toàn hộ gia đình, dù ai có đứng tên là chủ sở hữu tài sản hay đảm nhận công việc tạo ra
thu nhập (Nguyễn Thị Diễn, 2015)
Trang 27Với các gia đình làm kinh tế theo hướng tự kinh doanh buôn bán và sản xuất thì có tỉ lệ người chồng quyết định mặt hàng buôn bán cũng như mặt hàng kinh doanh chiếm tới 48% cao hơn nhiều so với người vợ quyết định (17,8%) Trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp, người chồng vẫn là người quyết định chủ yếu trong công việc, từ những công việc như chọn giống, xây dựng quy mô trên đất sản xuất nông nghiệp, người chồng đều là người quyết định (Đoàn Thị Tỵ, 2008) Bên cạnh đó, các chỉ báo khác như việc quyết định
về quy mô kinh doanh, nguồn lấy hàng, giá trị mặt hàng, … đều là người chồng quyết định chính (Trương Phúc Hưng – 2008)
Quyền quyết định trong gia đình có sự chênh lệch là do một số chỉ báo
về học vấn, nghề nghiệp, tuổi tác Ngoài ra còn vì nguồn thu nhập của người
vợ hoặc người chồng Ở những gia đình mà người vợ và người chồng đều có trình độ học vấn thấp thì người vợ ít có quyền quyết định trong các hoạt động sản xuất kinh doanh Đối với yếu tố nghề nghiệp ở những gia đình có người
vợ làm trong các ngành nghề yêu cầu trình độ chuyên môn, tỉ lệ người chồng quyết định chính các hoạt động sản xuất kinh doanh cao hơn 1,7 lần so với gia đình có người vợ làm nghề lao động sản xuất Độ tuổi không phải là yếu tố ảnh hưởng tới quyền quyết định trong sản xuất kinh doanh (Trần Thị Cẩm Nhung, 2009)
Theo Trần Thị Kim (2003) yếu tố khiến phụ nữ ít được tham gia bàn bạc các công việc trong gia đình là do trình độ học vấn Trình độ học vấn ảnh hưởng đáng kể đến vấn đề bàn bạc dân chủ trong gia đình Xu hướng cùng bán bạc, chia sẻ, cùng quyết định trong gia đình thể hiện rõ nhất ở những người có trình độ học vấn THPT trở lên Ở các gia đình có trình độ học vấn thấp hơn, người quyết định chủ yếu là người chồng, nhất là những việc quan trọng Các công việc lớn của gia đình như mua đất, sửa nhà, đầu tư sản xuất kinh doanh người ra quyết định là nam giới còn việc nhỏ là của người phụ nữ Trong những năm gần đây quyền quyết định và kiểm soát nguồn lực của
Trang 28người vợ được nâng lên Người vợ đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý
và tiếp cận nguồn lực của hộ Họ là người tham gia chính vào các quyết định của hộ Cùng với chồng quyết định tất cả về sử dụng các nguồn lực của hộ trong phát triển kinh tế sản xuất nông nghiệp
Như vậy có thể thấy rằng về cơ bản, nam giới vẫn là người quyết định những vấn đề lớn, những vấn đề quan trọng trong gia đình, cũng như là người đại diện gia đình đưa ra những quyết định đóng góp trong xã hội, trong việc bầu cử cũng như các hoạt động ở nơi sinh sống Phụ nữ có thể tự do bày tỏ ý kiến của mình song đó chỉ là đưa ra hướng giải quyết, chưa thể mang tính chất quyết định
2.3 Các khái niệm liên quan đến đề tài
2.3.1 Khái niệm gia đình
Gia đình là một khái niệm vừa bao gồm những yếu tố sinh học vừa bao hàm những yếu tố xã hội nên gia đình được định nghĩa dưới nhiều góc độ khác nhau:
Gia đình là một dạng thiết chế xã hội đặc biệt liên kết con người lại với nhau nhằm thực hiện việc duy trì nòi giống và chăm sóc con cái Các mối quan hệ gia đình và còn được gọi là mối quan hệ họ hàng Đó là những sự liên kết ít nhất cũng là của hai người dựa trên cơ sở huyết thống, hôn nhân, và việc nhận con nuôi Những người này có thể sống cùng hoặc khác mái nhà (Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Quý, 2007)
Gia đình với tư cách là tế bào xã hội đã tồn tại từ lâu trong sự phát triển lịch sử Cơ sở của nó là mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, thân tộc Theo quan niệm chung nhất, gia đình là một nhóm xã hội nhỏ đặc thù có đặc trưng
cơ bản là được thiết lập dựa trên cơ sở hôn nhân mà từ đó hình thành các quan
hệ huyết thống giữa các thành viên Các kiểu loại gia đình đã tồn tại và phát triển trong lịch sử với những hình thức phong phú của nó (Lê Tiêu Lan và Nguyễn Đình Tấn, 2005)
Trang 29Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà mỗi thành viên của nó gắn bó với nhau bởi mối quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt và trách nhiệm đạo đứcc với nhau nhằm đáp ứng nhu cầu riêng của các thành viên cũng như
để thực hiện tất yếu của xã hội về tài sản con người (Mai Huy Bích, 2009)
Từ các khái niệm này, gia đình trong đề tài được hiểu là một thiết chế xã hội, được liên kết với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan
hệ nhận nuôi con cuôi; mỗi thành viên đều có trách nhiệm, nghĩa vụ đối với nhau cũng như đối với gia đình, đảm bảo gia đình ổn định, hạnh phúc
2.3.2 Vai trò giới
Vai trò giới là những trông đợi về những hành vi và quan điểm mà nền văn hóa xác định là phù hợp đối với phụ nữ và nam giới Các vai trò giới cơ bản bao gồm: vai trò sinh sản, vai trò sản xuất và vai trò quản lý cộng đồng Những vai trò giới này được học thông qua quá trình xã hội hóa Vai trò giới
và mỗi quan hệ giới có thể biến đổi qua các thời kỳ xã hội và khác nhau giữa các nền văn hóa (Hoàng Bá Thịnh, 2008)
2.3.3 Khái niệm phân công lao động theo giới
Phân công lao động là sự chuyên môn hóa nhiệm vụ lao động nhằm thực hiện chức năng ổn định và phát triển xã hội, củng cố mối quan hệ gắn bó giữa cá nhân và trật tự xã hội Phân công lao động không chỉ là sự chuyên môn hóa lao động mà thực chất là quá trình gắn với sự phân hóa xã hội và bất bình đẳng xã hội (Nguyễn Thị Lan Anh, 2006)
Phân công lao động theo giới là kết quả của sự phân định chức năng giữa hai giới trên cơ sở của sự thống nhất và sự khác biệt về mặt sinh học và những đặc trưng kinh tế - xã hội giữa hai giới (Lê Tiêu La và Nguyễn Đình Tấn)
Từ khái niệm trên, , trong đề tài này, phân công lao động theo giới được hiểu là sự thể hiện vai trò giới, là sự phân định chức năng, nhiệm vụ, là việc gắn từng giới vào từng công việc cụ thể đảm bảo mối liên kết chặt chẽ
Trang 30giữa hai giới và sự phát triển hài hòa giữa chuyên môn hóa và hợp tác hóa, tạo nên sự kết hợp giữa hai giới trong hoạt động sản xuất nông nghiệp Như vậy, phân công lao động theo giới trong đề tài này được hiểu là phân công lao động giữa vợ và chồng trong các gia đình sản xuất nông nghiệp
2.3.4 Khái niệm sản xuất nông nghiệp
Sản xuất Nông nghiệp là quá trình làm ra sản phẩm của nông nghiệp, vật chất chủ yếu của nền kinh tế cũng như cung cấp những sản phẩm thiết yếu như lương thực, thực phẩm… cho con người tồn tại (Đỗ Kim Chung và cộng
sự, 2009)
Trang 31PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Chọn điểm nghiên cứu
Bạch Đằng là một xã vùng III thuộc huyện Hòa An, bao gồm 12 xóm, các xóm nằm rải rác và chủ yếu là bám dọc theo đường Quốc lộ 3 Cao Bằng-
Hà Nội Xã có tổng diện tích km2 là 59,62 km², hiện nay xã có khoảng hơn 2.200 người đang sinh sống học tập và làm việc chủ yếu là dân tộc tày Về vị trí địa lý xã Bạch Đằng: Bắc giáp với xã Hưng Đạo và phường Đề Thám của thành phố Cao Bằng Nam giáp hai xã Lê Chung (Hòa An), xã Canh Tân (Thạch An)
Tây giáp với xã Thịnh Vượng (Nguyên Bình), xã Bình Dương (Hòa An)
Xã Bạch Đằng có tuyến quốc lộ 3 và tỉnh lộ 209 chạy qua địa bàn với đèo Tài
Hồ Sìn Các nguồn nước mặt tại Bạch Đằng bao gồm sông Hiến, suối Nà Ngòa và hồ Khuổi Lái Một số ngọn núi trên địa bàn xã là Khuổi Bao, Khau Mười, Khau Lá, Khau Câu, Khau Quân, Ngảm Hoài, Phia Đim, Phia Hu Cách trung tâm thành phố Cao Bằng khoảng 20km địa hình chủ yếu là đồi núi cao ít đồng bằng, điều kiện sống của người dân nơi đây còn khá khó khăn, giao thông chưa được chú trọng đầu tư phát triển nên việc đi lại giữa các xóm với nhau còn gặp nhiều khó khăn Nền kinh tế của toàn xã còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo của xã trong giai đọan từ năm 2010- 2015 chiếm 20% trong tổng số
482 hộ gia đình đang sinh sống trên địa bàn xã người dân ở đây sinh sống dựa vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp như trồng lúa, ngô…
Các hộ gia đình có truyền thống làm nghề nông nghiệp, được tiếp xúc
và tham gia các hoạt động sản xuất nông nghiệp từ nhỏ nên đã quen với thói quen sản xuất nông nghiệp với 100% hộ dân trên địa bàn sống chủ yếu nhờ vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp như trồng ngô lúa và chăn nuôi gia súc gia cầm nhưng chủ yếu đều ở quy mô hộ gia đình tự cung tự cấp Hiện
Trang 32phân công lao động cũng có sự thay đổi, nam giới tham gia nhiều hơn các công việc liên quan đến việc nặng nhọc và máy móc, còn phụ nữ tham gia các công việc được coi là nhẹ nhàng như các công việc nhẹ nhàng như gieo giống
và chăm sóc…Tuy nhiên vẫn còn những công việc có sự tham gia của cả hai giới Hơn nữa trên địa bàn xã số gia đình sản xuất nông nghiệp chiếm số lượng lớn vì vậy Việc phân công lao động cũng được cũng được phân chia cồng việc của bản chất của công việc người chồng trong gia đình luôn luôn đảm nhận công việc nặng nhọc và khó khăn hơn nhưng trong việc quyết định mọi công việc thì đa phần là người vợ đảm nhiệm Do đó, xã Bạch Đằng được chọn làm địa điểm để thực hiện nghiên cứu này
3.2 Phương pháp thu thập thông tin
3.2.1 Thu thập thông tin thứ cấp
Để thực hiện đề tài, tiến hành thu thập các tài liệu từ sách, báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu…về phân công lao động trong gia đình, quyền quyết định giữa vợ và chồng, cơ hội tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực trong gia đình …Đồng thời, thu thập các thông tin thứ cấp từ UBND xã về tình hình sản xuất nông nghiệp, các hộ gia đình sản xuất nông nghiệp và tình hình kinh
tế - xã hội của địa phương để phục vụ cho mục tiêu của đề tài.,
3.2.2 Thu thập thông tin sơ cấp
Phương pháp điều tra bảng hỏi: Dựa trên số liệu về các hộ gia đình sản
xuất nông nghiệp tại xã Bạch Đằng, chọn ngẫu nhiên 42 hộ gia đình sản xuất nông nghiệp (vừa trồng lúa vừa chăn nuôi) để tiến hành thu thập thông tin qua bảng hỏi Đại diện tham gia trả lời phỏng vấn của các hộ gia đình là người chồng (nam giới) và có tham gia hoạt động sản xuất của hộ nhằm điều tra và thu thập thông tin Nội dung bảng hỏi gồm các câu hỏi về tình hình sản xuất nông nghiệp của hộ, sự phân công lao động giữa vợ và chồng trong hoạt động sản xuất, tái sản xuất, cơ hội tiếp cận và kiểm soát nguồn lực giữa vợ và chồng
Trang 33Phương pháp phỏng vấn sâu: Đề tài thực hiện 9 phỏng vấn sâu, bao
gồm:
- 1 người cán bộ xã phụ trách khuyến nông để tìm hiểu cụ thể các thông tin về số lượng các gia đình đang sản xuất nông nghiệp trên địa bàn, đồng thời tìm hiểu ý kiến đánh giá của họ về tình hình phân công lao động giữa vợ và chồng trong các hộ sản xuất nông nghiệp hiện nay
- 08 PVS hộ gia đình sản xuất nông nghiệp nhằm hiểu rõ hơn về sự phân công, phối hợp giữa vợ và chồng trong các công việc sản xuất, tái sản xuất cũng như việc tiếp cận và sử dụng các nguồn lực của gia đình
3.3 Phương pháp phân tích và sử lý số liệu
Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu thu thập được từ cuộc điều tra được kiểm tra mã hóa và xử lý thông tin bằng phần mềm Excel, SPSS
Phương pháp phân tích thông tin:
Thông tin định tính được phân tích dựa trên các biên bản phỏng vấn sâu
và báo cáo thực địa
Thông tin định lượng được phân tích dựa trên số liệu thu được qua điều
Trang 34Khung phân tích của đề tài dựa trên quan điểm giới và lý thuyết cấu trúc chức năng nhằm chỉ ra sự phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình sản xuất nông nghiệp qua các công việc sản xuất, tái sản xuất, sự tiếp cận
và kiểm soát nguồn lực giữa vợ và chồng
Trang 35PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Tình hình sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình điều tra
Bạch Đằng là một xã địa hình chủ yếu là đồi núi cao ít đồng bằng, điều kiện sống của người dân nơi đây còn khá khó khăn, người dân ở đây sinh sống dựa vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp như trồng lúa, ngô, sắn và các loại nông sản khác
4.1.1 Đặc điểm nhân khẩu – xã hội của mẫu điều tra
Đề tài hướng đến làm rõ sự phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình từ góc nhìn của người chồng (nam giới) trong gia đình Trong 42 gia đình sản xuất nông nghiệp tham gia điều tra, đặc điểm nhân khẩu – xã hội của người tham gia trả lời (người chồng) được mô tả qua các chỉ báo: độ tuổi, trình
độ học vấn, vị trí trong gia đình (chủ hộ) Trong các hộ gia đình điều tra, 100% chủ hộ đều là nam giới, phản ánh tập quán truyền thống tại địa phương, khẳng định vị trí của người chồng trong gia đình và họ cũng là người đại diện gia đình trong các mối quan hệ xã hội như giáo tiếp với chính quyền địa phương
Độ tuổi người sản xuất nông nghiệp là một chỉ báo nhắm đánh giá được thực trạng người người sản xuất nông nghiệp chủ yếu nằm trong độ tuổi nào bởi dựa vào độ tuổi có thể biết được thời gian tham gia sản xuất nông nghiệp,
tỷ lệ tham gia sản xuất nông nghiệp thuộc độ tuổi nào
Bảng 4.1: Độ tuổi của mẫu khảo sát
Trang 36Về độ tuổi: Tuổi tác cũng là một yếu tố rất quan trọng trong qúa trình sản xuất nông nghiệp Theo kết quả điều tra Có thể thấy phần lớn những người sản xuất nông nghiệp đang trong độ tuổi trung niên vẫn có sức khỏe tốt
Cụ thể với người chồng trong gia đình sản xuất nông nghiệp độ tuổi từ 40 đến dưới 50 tuổi chiếm (38,1%) có tỷ lệ cao nhất, tiếp đến là độ tuổi 50 đến 60 tuổi chiếm (23,8%) Lý do là vì thanh niên trong độ tuổi lao động có sức khỏe
họ di chuyển đến các khu công nghiệp làm công nhân nên độ tuổi sản xuất nông nghiệp từ 40 đến dưới 50 có tỉ lệ cao Hiện trạng này cũng phản ánh xu hướng già hóa lao động nông nghiệp tại địa bàn khảo sát trong những năm tiếp theo, nếu như thiếu tầng lớp lao động trẻ trong lĩnh vực nông nghiệp
Hộp 4.1: Độ tuổi của người sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã
“ở địa phương người sản xuất nông nghiệp chủ yếu ở độ tuổi trung niên
tương đối nhiều, thanh niên chủ yếu đều nằm trong độ tuổi từ 18 đến 25 bởi vì
độ tuổi này người ta đi làm công nhân.”
PVS, nam, cán bộ xã)
Trình độ học vấn của người sản xuất nông nghiệp là một chỉ báo cũng rất đáng quan tâm bởi trình độ học vấn có liên quan đến nghề nghiệp của họ Như vậy ta có thể thấy rằng người nông dân thường là người có trình độ học vấn thấp, hơn nữa, do địa điểm nghiên cứu là một xã vùng cao nên địa hình không bằng phẳng, nhấp nhô, diện tích sản xuất nông nghiệp nhỏ, không phù hợp với sử dụng máy móc thiết bị hiện đại nên công việc trồng trọt của các hộ gia đình chủ yếu vẫn là lao động chân tay
Bảng 4.2: Trình độ học vấn của mẫu điều tra
Trang 37Trình độ học vấn: Theo kết quả điều tra cho thấy trình độ học vấn của người chồng trong gia đình sản xuất nông nghiệp là khá thấp Đối với người chồng ở mức tiểu học có 8 người (chiếm 19%), bậc THCS chiếm (42,9%), bậc THPT chiếm (35,7%), bậc CĐ/ĐH thì chỉ có một người chiếm (2,4%) còn trên đại học không có ai Trình độ học vấn thấp là một trở ngại cho người sản xuất nông nghiệp khi muốn ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, nhằm nâng cao hiệu quả, năng xuất cây trồng cũng như chất lượng nông sản, đáp ứng nhu cầu của thị trường
Hộp 4.2: Trình độ học vấn của người sản xuất nông nghiệp
“tỷ lệ người dân trên địa bàn được đi học còn thấp Chủ yếu chỉ học hết
cấp 2 là bỏ học ở nhà phụ giúp gia đình làm nông nên trình độ học vấn lúc bấy giờ còn kém, ít người có trình độ học vấn cao.”
(PVS, , nam, cán bộ xã)
Tóm lại, những người nam giới (người chồng) đại diện hộ gia đình tham gia vào khảo sát phần lớn đã ở độ tuổi trung niên và có trình độ học vấn không cao Đây không chỉ là đặc trưng của mẫu khảo sát mà nó còn phản ánh tình trạng chung của lao động trong lĩnh vực nông nghiệp Do đó, để sản xuất nông nghiệp đạt được hiệu quả, tạo ra thu nhập ngày càng nhiều cho hộ gia đình, cần thiết phải nâng cao trình độ học vấn của người lao động nông nghiệp
4.1.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình
4.1.2.1 Hoạt Động trồng Trọt
Để sản xuất nông nghiệp thì cần phải có đất đai để sản xuất Đối với các hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, đất đai là phương tiện sản xuất quan trọng Nhìn chung, đất sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình trong mẫu khảo sát bao gồm đất trồng lúa, đất trồng hoa màu và đất trồng các loại cây khác Tuy nhiên, diện tích của các hộ là khác nhau (xem bảng 4.3)
Trang 38Bảng 4.3: Tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình
(nguồn: số liệu điều tra,2021)
Theo kết quả điều tra tại bảng 4.3 cho thấy diện tích sản xuất nông nghiệp cả các hộ gia đình khá lớn, hộ gia đình có diện tích đất sản xuất nông nghiệp trên 5000 m2 chiếm tỉ lệ (42,9%) và diện tích sản xuất từ 3000m2 đến dưới 5000 m2 cũng chiếm (42,9%) Các hộ có diện tích sản xuất khá nhỏ từ
1000 m2 đến dưới 3000 m2 chiếm (14,2%) Lý do các hộ gia đình có số diện tích lớn như vậy là do đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn khá rộng và mật
độ dân cư thưa thớt và số lượng người thấp do diện tích đất nông nghiệp khá lớn nên đa số các hộ gia đình không thuê mượn đất để sản xuất
Thu nhập là khoản của cải thường được tính thành tiền mà một cá nhận được trong một khoảng thời gian nhất định từ công việc Nguồn thu nhập của các gia đình sản xuất nông nghiệp là khá đa dạng ngoài trồng lúa thì các gia đình còn có thêm thu nhập từ trồng cây hoa màu, và cây ăn quả…, Tuy nhiên, hầu hết thu nhập từ trồng trot của các hộ gia đình trong mẫu điều tra tương đối thấp, rất ít hộ có thu nhập từ 20 triệu trở lên/năm (xem bảng 4.4)
Bảng 4.4: Ước tính thu nhập sản xuất nông nghiệp trong 1 năm
Trang 39Theo số liệu điều tra tại bảng 4.4 cho thấy 100% gia đình được hỏi có nguồn thu nhập từ sản xuất nông nghiệp là bởi toàn bộ số gia đình trong mẫu điều tra trên địa bàn khảo sát đều tham gia sản xuất nông nghiệp Từ số liệu
có thể thấy rằng thu nhập của gia đình sản xuất nông nghiệp là khá thấp cụ thể như: trong 42 gia đình thì có 21 gia đình thu nhập là dưới 10 triệu/năm chiếm (50%), có 19 gia đình thu nhập từ 10 triệu – dưới 20 triệu/năm chiếm (45,2%),
số gia đình có thu nhập cao từ sản xuất nông nghiệp rất thấp cụn thể chỉ có 1 hộ trong các hộ được phỏng vấn là có thu nhập từ sản xuất nông nghiệp từ 30 triệu đến dưới 40 triệu chiếm tỉ lệ (2,4%) Lý do nhiều hộ có thu nhập thấp từ sản xuất nông nghiệp là do trình độ thấp chưa biết áp dung khoa hoạc kí thuật vào sản xuất Sản xuất chủ yếu để phục vụ cho gia đình và bán lẻ theo kết quả điều tra thì 100% các hộ đều sản sản xuất lúa 2 vụ trong 1 năm
Hộp 4.3: Thu nhập từ trồng trọt
gia đình có con học tại học viện nông nghiệp nên có kiến thức về cây trồng nên năng xuất tăng đáng kể
pvs, nam 50 tuổi gia đình thuần nông, làm nông nghiệp là chủ yếu, ước tính thu nhập trong 1 năm từ việc sản xuất nông nghiệp dưới 10 triệu
pvs,nữ,63 tuổi
Nói đến thu nhập thì không thể bỏ qua được chi phí để sản suất, chi phí
để mua giống nhằm sinh lời để có được thu nhập Trong tổng số 42 hộ được khảo sát Chi phí đầu tư cho một vụ lúa của hộ gia đình sản xuất nông nghiệp khá thấp
Bảng 4.5: Chi phí đầu tư 1 vụ lúa
Trang 40Theo kết quả điều tra chi phí đầu tư cho một vụ lúa trên địa bàn xã khá thấp Ở mức dưới 1 triệu tỷ lệ chiếm (42,3 %) Từ 1 đến 2 triệu chiếm tỷ lệ (35,7 %), chi phí đầu tư cao từ 3 triệu trở lên chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ với (4,8%) (xem bảng 4.5) Lý do là vì tùy thuộc vào diện tích trồng lúa của các
hộ gia đình hộ nào có diện tích nhỏ thì chi phí thấp, hộ nào có diện tích lớn hơn thì chi phí cao Chi phí chủ yếu dùng để mua giống là phần lớn, mặc dù được nhà nước hỗ trợ một lượng phân bón nhưng một số hộ gia đình có diện tích sản xuất lớn nên không đủ để phục vụ nên chi phí cao hơn những hộ có diện tích sản xuất nhỏ
Hộp 4.4: Chi phí đầu tư sản xuất
Chi phí đầu tư dưới 1 triệu chủ yếu mua giống và 1 chút phân bón, vì địa bàn nằm trên vùng đặc biệt khó khăn nên mỗi năm được nhà nước có hỗ trợ phân bón
(PVS, nữ, 63 tuổi) Chi phí đầu tư từ 2 đến 3 triệu tùy thuộc vào giá giống cây và phân bón
Pvs nam 50 tuổi
Tóm lại các gia đình sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm chung sau: Về diện tích đất sảm xuất cảu các gia đình phân lớn dùng để trồng lúa, một phần nhỏ dùng để trồng cây ăn quả Chi phí đầu tư cho sản xuất nông nghiệp khá lớn, thu nhập từ việc sản xuất nông nghiệp không lớn chỉ đủ để cung cấp cho gia đinhg và bán lẻ ra thị trường
4.1.2.2 Hoạt động chăn nuôi
Chăn nuôi là một ngành mũi nhọn trong phát triển kinh tế tại các địa phương trên cả nước, đặc biệt là chăn nuôi gia xúc gia cầm Tại xã Bạch Đằng hiện nay chăn nuôi chủ yếu là gia súc với gia cầm nhưng chưa thực sự hiệu quả, chủ yếu chăn nuôi tại địa phương là để phục vụ cho gia đình