1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến quần thể nhện đỏ hai chấm tetranychus urticae koch hại rau tại gia lâm và đông anh, hà nội năm 2022 (khoán luận tốt nghiệp)

110 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến quần thể nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae Koch hại rau tại Gia Lâm và Đông Anh, Hà Nội năm 2022
Tác giả Vũ Thị Huế
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Đức Tùng
Trường học Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Nông học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 2,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiệu lực của một số loại thuốc BVTV đối với nhện trưởng thành cái quần thể nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae thu tại Văn Đức, Gia Lâm, Hà Nội .... Hiệu lực của một số loại thuốc BVTV

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

KHOA NÔNG HỌC



KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

TÊN ĐỀ TÀI:

“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC TRỪ SÂU

ĐẾN QUẦN THỂ NHỆN ĐỎ HAI CHẤM Tetranychus

Trang 2

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Đức Tùng Số liệu và kết quả trong khóa luận này hoàn toàn trung thực và chưa được công bố sử dụng và bảo vệ cho một học vị nào Các trích dẫn trong khóa luận đều được ghi nguồn gốc rõ ràng

Tôi xin chịu trách nhiệm với tính trung thực của toàn bộ nội dung khóa luận tốt nghiệp

Hà Nội, ngày tháng năm 2022

Sinh viên

VŨ THỊ HUẾ

Trang 3

L ỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban chủ nhiệm khoa Nông Học, các thầy cô giáo trong Bộ môn Côn trùng, gia đình và cùng toàn thể bạn bè trong và ngoài Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Đức Tùng, Bộ môn Côn trùng, Khoa Nông Học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã trực tiếp tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện tốt cho tôi thực hiện đề tài nghiên cứu và hoàn chỉnh khóa luận

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy, cô Bộ môn Côn Trùng, Khoa Nông Học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành khóa luận

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, giúp

đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực tập tốt nghiệp

Hà Nội, ngày tháng năm 2022

Sinh viên

VŨ THỊ HUẾ

Trang 4

M ỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC HÌNHDANH MỤC TỪ VIẾT TẮT viii

TÓM TẮT KHÓA LUẬN xi

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC 3

2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 3

2.1.1 Một số nghiên cứu chung về nhện 3

2.1.2 Một số nghiên cứu chung về nhện hại 3

2.1.3 Một số nghiên cứu về phân loại và đặc điểm sinh học nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae 7

2.1.5 Một số nghiên cứu về hiệu lực và ảnh hưởng của một số hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật 9

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 16

2.2.1 Một số nghiện cứu về đặc điểm sinh học sinh thái nhện hại cây trồng 16

2.2.2 Một số nghiện cứu về đặc điểm sinh học sinh thái nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae 19

2.2.3 Một số nghiên cứu về hiệu lực và ảnh hưởng của một số hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật 20

PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 22

Trang 5

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 23

3.3 Nội dung nghiên cứu 23

3.4 Phương pháp nghiên cứu 24

3.4.1 Điều tra mức độ sử dụng thuốc BVTV trừ nhện đỏ 24

3.4.2 Phương pháp điều tra thành phần và diễn biến mật độ nhện đỏ hai chấm 24

3.4.3 Phương pháp trồng cây đậu cove 25

3.4.4 Phương pháp nuôi nhện đỏ hai chấm 25

3.4.5 Phương pháp xác định hiệu lực thuốc và tính kháng thuốc BVTV đối với nhện đỏ hai chấm 26

3.4.6 Phương pháp xác định nồng độ LC30 và LC50 đối với một số hoạt chất của quần thể nhện đỏ hai chấm 29

3.4.7 Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc tới đặc điểm sinh học của nhện đỏ hai chấm 30

3.4.8 Phương pháp tính toán và xử lý số liệu 31

3.4.9 Phương pháp đo kích thước nhện đỏ hai chấm 32

PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34

4.1 Điều tra tình hình sử dụng thuốc tại xã Văn Đức, huyện Gia Lâm 34

4.2 Điều tra thành phần nhện hại và nhện bắt mồi trên cây họ đậu tại xã Văn Đức, huyện Gia Lâm 35

4.3 Điều tra diễn biến mật độ nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae tại xã Văn Đức, huyện Gia Lâm 36

4.4 Đánh giá hiệu lực thuốc trên quần thể nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae trên cây đậu cove 38

4.5 Đánh giá tính kháng thuốc BVTV nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae trên cây đậu cô ve 49

4.6 Xác định nồng độ LC30 và LC50 của một số thuốc BVTV đối với nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae thu tại Văn Đức, Gia Lâm, Hà Nội 51

Trang 6

4.7 Đánh giá ảnh hưởng của một số hoạt chất thuốc BVTV tới các thông số

sinh học của nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae tại xã Văn Đức,

huyện Gia Lâm 53

PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72

5.1 Kết luận 72

5.2 Kiến nghị 72

PHẦN 6: TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

PHỤ LỤC 79

Trang 7

Đức, huyện Gia Lâm, năm 2022 35

Bảng 4.3 Diễn biến mật độ nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae trên đậu

cove tại Văn Đức, Gia Lâm, Hà Nội vụ xuân hè 2022 37 Bảng 4.4 Hiệu lực của một số loại thuốc BVTV đối với nhện trưởng thành

cái quần thể nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae thu tại Văn

Đức, Gia Lâm, Hà Nội 39 Bảng 4.5 Hiệu lực của một số loại thuốc BVTV đối với nhện trưởng thành

cái quần thể nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae thu tại Vân

Nội, Đông Anh, Hà Nội 41 Bảng 4.6 So sánh hiệu lực của một số loại thuốc BVTV giữa quần thể nhện

đỏ hai chấm Tetranychus urticae thu tại Văn Đức – Gia Lâm và

Vân Nội – Đông Anh 43 Bảng 4.7 Hiệu lực của thuốc Borneo 11SC và Goldmite 240SC đối với

trứng của quần thể nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae thu tại

Văn Đức, Gia Lâm, Hà Nội 45 Bảng 4.8 Hiệu lực của thuốc Borneo 11SC và Goldmite 240SC đối với

nhện non tuổi 1 của quần thể nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae thu tại Văn Đức, Gia Lâm, Hà Nội 46 Bảng 4.9 Hiệu lực của thuốc Borneo 11SC và Goldmite 240SC đối với

nhện non tuổi 3 của quần thể nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae thu tại Văn Đức, Gia Lâm, Hà Nội 47 Bảng 4.10 Hiệu lực của thuốc Borneo 11SC và Goldmite 240SC đối với

trưởng thành của quần thể nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae

thu tại Văn Đức, Gia Lâm, Hà Nội 48

Trang 8

Bảng 4.11 Mức độ kháng của một số thuốc BVTV đối với quần thể nhện đỏ

hai chấm Tetranychus urticae thu tại Văn Đức, Gia Lâm, Hà Nội 49

Bảng 4.12 Mức độ kháng của một số loại thuốc BVTV đối với quần thể

nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae thu tại Vân Nội, Đông

Anh, Hà Nội 50 Bảng 4.13 Giá trị LC30 và LC50 của một số thuốc BVTV đối với nhện đỏ

hai chấm Tetranychus urticae thu tại Văn Đức, Gia Lâm, Hà Nội 52 Bảng 4.14 Chiều dài các pha phát dục của nhện đỏ hai chấm Tetranychus

urticae thế hệ thứ 2 sau xử lý thuốc BVTV ở nồng độ LC30, nuôi bằng lá đậu cove ở 27⁰C 53

Bảng 4.15 Chiều rộng các pha phát dục của nhện đỏ hai chấm Tetranychus

urticae thế hệ thứ 2 sau xử lý thuốc BVTV ở nồng độ LC30, nuôi bằng lá đậu cove ở 27⁰C 55 Bảng 4.16 Thời gian phát dục các pha của nhện đỏ hai chấm cái

Tetranychus urticae thế hệ thứ 2 sau xử lý thuốc BVTV ở nồng độ

LC30, nuôi bằng lá đậu cove ở 27⁰C 58 Bảng 4.17 Thời gian phát dục các pha phát dục của nhện đỏ hai chấm đực

Tetranychus urticae thế hệ thứ 2 sau xử lý thuốc BVTV ở nồng độ

LC30, nuôi bằng lá đậu cove ở 27⁰C 61

Bảng 4.18 Một số chỉ tiêu sinh sản của nhện đỏ hai chấm Tetranychus

urticae thế hệ thứ 2 sau xử lý thuốc BVTV ở nồng độ LC30, nuôi bằng lá đậu cove ở 27⁰C 63

Bảng 4.19 Bảng sống (life – table) của nhện đỏ hai chấm cái Tetranychus

urticae thế hệ 2 sau xử lý nước lã, nuôi bằng đậu cove ở 27⁰C 66

Bảng 4.20 Bảng sống (life – table) của nhện đỏ hai chấm cái Tetranychus

urticae thế hệ 2 sau xử lý thuốc Catex 3.6EC ở nồng độ LC30, nuôi bằng lá đậu cove ở 27⁰C 67

Bảng 4.21 Bảng sống (life – table) của nhện đỏ hai chấm cái Tetranychus

urticae thế hệ 2 sau xử lý thuốc Danisaraba 20SC ở nồng độ LC30, nuôi bằng lá đậu cove ở 27⁰C 68

Trang 9

Bảng 4.22 Bảng sống (life – table) của nhện đỏ hai chấm cái Tetranychus

urticae thế hệ 2 sau xử lý thuốc Banter 500WG ở nồng độ LC30, nuôi bằng lá đậu cove ở 27⁰C 69 Bảng 4.23 Một số chỉ tiêu về sức tăng quần thể của nhện đỏ hai chấm

Tetranychus urticae thế hệ thứ 2 sau xử lý thuốc BVTV ở nồng độ

LC30, nuôi bằng lá đậu cove ở 27⁰C 70

Trang 10

DANH M ỤC HÌNH

Hình 3.1: Một số dụng cụ và thuốc BVTV nghiên cứu 22

Hình 3.2 Cây đậu cove nhân nguồn nhện đỏ hai chấm trong phòng thí nghiệm 26

Hình 3.3: Đĩa lá thí nghiệm thuốc trên nhện đỏ hai chấm T urticae 27

Hình 3.4: Tháp phun thuốc BVTV Potter (Burckard Manufacturing, Rickmansworth, Vương quốc Anh) 28

Hình 3.5: Lồng mica nuôi sinh học 30

Hình 3.6: Tủ định ôn 30

Hình 4.1 Nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae 36

Hình 4.2 Nhện bắt mồi Neoseiulus longispinosus 36

Hình 4.3 Diễn biến mật độ nhện đỏ hai chấm T urticae trên đậu côve tại xã Văn Đức, huyện Gia Lâm, năm 2022 37

Hình 4.4 Triệu chứng gây hại của nhện đỏ hai chấm 38

Hình 4.5 Ruộng đậu tại xã Văn Đức, huyện Gia Lâm, Hà Nội 38

Hình 4.6 Hình thái các pha phát dục của nhện đỏ hai chấm cái Tetranychus urticae 57

Hình 4.7 Nhịp điệu đẻ trứng của nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae thế hệ 2 sau xử lý thuốc BVTV, nuôi trên đậu cove ở 27⁰C 65

Trang 11

DANH M ỤC TỪ VIẾT TẮT

N longisnosus Neoseiulus longispinosus

Trang 12

TÓM T ẮT KHÓA LUẬN

Nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae là loài sinh vật gây hại nguy hiểm trên nhiều loại cây như các cây họ đậu, họ cà và họ bầu bí Nhằm xác định được các loại thuốc trừ sâu có hiệu quả đối với nhện đỏ hai chấm, tôi tiến hành thí nghiệm đánh giá hiệu lực và ảnh hưởng của một số thuốc trừ sâu đến nhện đỏ

hai chấm T urticae nuôi trên lá đậu cove ở nhiệt độ 27⁰C Qua thí nghiệm, tôi

thu được kết quả quan trọng, đánh giá được hiệu lực thuốc, trong đó Catex 3.6EC có hiệu lực cao nhất đối với quần thể nhện đỏ hai chấm tại Gia Lâm và Đông Anh Với liều khuyến cáo hiệu lực sau 24 giờ và sau 48 giờ đối với quần thể Gia Lâm là 98,75% và 100%, đối với quần thể Đông Anh lần lượt là 100%

và 100% Hiệu lực của cả 12 loại thuốc đối với hai quần thể là không khác biệt

rõ rệt Bên cạnh đó ở nồng độ LC30 ba thuốc Catex 3.6EC, Danisaraba 20SC, Banter 500WG đã ảnh hưởng rõ rệt tới thời gian sống và khả năng đẻ trứng của trưởng thành cái sau thử thuốc Vòng đời của nhện đỏ hai chấm sau khi xử lý thuốc Catex 3.6EC, Danisaraba 20SC, Banter 500WG dài hơn rõ rệt so với đối chứng Tổng số lượng trứng đẻ ở công thức đối chứng là 65,77 (quả/con cái) là cao nhất, tiếp theo là ở công thức Banter 500WG (37,75 quả) và Danisaraba 20SC (27,56 quả), thấp nhất là Catex 3.6EC Tỷ lệ tăng tự nhiên ở công thức đối chứng 0,325 cao hơn rõ rệt so với các công thức Catex 3.6EC, Danisaraba 20SC, Banter 500WG (lần lượt là 0,195; 0,221; 0,246)

Trang 13

PH ẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Nền nông nghiệp nước ta giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế đất nước không những làm tăng thu nhập, tăng việc làm cho người nông dân mà còn cung cấp lượng thực, thực phẩm hằng ngày Tuy nhiên dịch bệnh, côn trùng gây hại, động vật hại đã và đang suất hiện ngày càng nhiều Chúng lan rộng đe dọa đến các thời kỳ phát triển của cây trồng làm thiệt hại lớn về kinh tế Do đó, công cuộc Bảo vệ thực vật là tiềm năng để tăng năng xuất chất lượng nông sản phẩm Biện pháp bảo vệ thực vật sau một thời gian dài phát triển, đã có nhiều thay đổi rõ ràng Đối với các loại dịch hại đã có nhiều biện pháp phòng trừ được

áp dụng và nghiên cứu, một trong số biện phá như: biện pháp sinh học, biện pháp canh tác, biện pháp hóa học,…

Đối với biện pháp sinh học hay canh tác, đây đều là các biện pháp an toàn

và bền vững Tuy nhiên, muốn đạt được hiệu quả cao thì người nông dân phải có một lượng kiến thức nhất định về cây trồng, dịch bệnh, sâu hại, động vật hại, thiên địch và nhiều yếu tố khác Bên cạnh đó, đây cũng là cách làm khá tốn kém

và không thể dập được dịch hại một cách nhanh chóng Hiện nay, với cách canh tác của bà con nông dân thì biện pháp hóa học vẫn là một trong những biện pháp hiệu quả trong thực tế sản suất Sử dụng đúng cách biện pháp hóa học, chúng ta

có thể dập dịch một cách nhanh chóng, đạt năng suất cao, bên cạnh đó ta có thể giảm được tác hại của thuốc đến môi trường, con người và các sinh vật có ích khác

Nông nghiệp nước ta gặp những trở ngại lớn do nhện hại gây ra làm cho cây còi cọc sinh trưởng phát triển kém, ảnh hưởng lớn đến năng xuất Do chúng khó phát hiện với cơ thể nhỏ bé (con trưởng thành 0,5 mm), sức sinh sản rất lớn

Bà con nông dân chưa có kiến thức rõ ràng về loài động vật hại nguy hiểm này Bên cạnh đó, biện pháp sinh học đối với nên nông nghiệp nước ta vẫn còn rất mới và có rất ít loài thiên địch, do đó chưa có tính hiệu quả cao trong thực tế sản suất của bà con nông dân Biện pháp hóa học là biện pháp dễ áp dụng, có tính hiệu quả cao, không yêu cầu quá cao về trình độ kiến thức Nếu sử dụng đúng cách và các khuyến cáo, ta sẽ đạt được hiệu quả cao trong sản suất

Trang 14

Trong những năm gần đây, diện tích rau đang phát triển khá nhanh, kéo theo đó là các dịch hại phát triển nhiều Hiện nay một số vùng xuất hiện loài nhện đỏ hai chấm thuộc chi Tetranychus gây hại nhiều làm giảm năng suất cây trồng Trước tình hình đó, người dân sử dụng nhiều thuốc BVTV mà chủ yếu dùng thuốc hoá học Vì thế, việc tìm ra được các loại thuốc hóa học có hiệu quả cao trong phòng trừ nhện đỏ hai chấm, ít ảnh hưởng đến môi trường, con người

và sinh vật có ích khác là một việc cực kì cấp thiết Từ đó để nghiên cứu tìm ra các hoạt chất hóa học đảm bảo được các yêu cầu trên, dưới sự hướng dẫn trực

tiếp của PGS.TS Nguyễn Đức Tùng chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu

ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến quần thể nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae Koch hại rau tại Gia Lâm và Đông Anh, Hà Nội năm 2022”

1.2 Mục đích và yêu cầu

1.2.1 M ục đích

Thông qua các thí nghiệm đánh giá hiệu lực thuốc trừ nhện, để tìm ra

được các loại thuốc có hiệu quả trong phòng trừ nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae Koch, an toàn với môi trường, con người và sinh vật có ích khác

1.2.2 Yêu c ầu

- Điều tra các loại thuốc trừ nhện đỏ trên rau đang được bà con nông dân

sử dụng tại Gia Lâm, Hà Nội

- Điều tra thành phần, diễn biến mật độ nhện đỏ trên rau tại Gia Lâm, Hà

Nội

- Đánh giá hiệu lực của các loại thuốc trừ nhện đang được sử dụng ngoài sản xuất đối với một số quần thể nhện đỏ hai chấm thu được trên rau tại Gia

Lâm và Đông Anh, Hà Nội

- Xác định mức độ kháng thuốc của một số quần thể nhện đỏ hai chấm đối với một số hoạt chất thuốc trừ nhện hiện đang được sử dụng rộng rãi ngoài sản

xuất

- Đánh giá ảnh hưởng của thuốc trừ sâu nhện đến đặc điểm sinh học của nhện đỏ hai chấm

Trang 15

PH ẦN 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ

NGOÀI NƯỚC

2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

2.1.1 M ột số nghiên cứu chung về nhện

Nhện thuộc ngành động vật chân khớp Anthropada, nhện là nhóm có bụng không phân đốt rõ ràng (Krantz, 1978) Theo Krantz (1978)cho đến nay đã

có hơn 30000 loài nhện đã được miêu tả trong nửa triệu loài Theo nghiên cứu trên, ở các vùng khác nhau thì sự phân bố của các loài nhện là khác nhau, có những họ chỉ có ở vùng ôn đới mà không có ở vùng nhiệt đới Như họ Antypidar, họ Parotopidae chỉ có ở Amazon, hay họ Migidae chỉ ở vùng Nam Phi và trên đảo Madagasca, Milan Nhện hại là các đối tượng gây hại nghiêm trọng trên nhiều loài cây trồng ở nhiều vùng trên thế giới, chúng là điểm thu hút của nhiều nhà khoa học Nhện hại cây trồng là những loài động vật nhỏ đến rất nhỏ nằm trong:

2.1.2 M ột số nghiên cứu chung về nhện hại

Nghiên cứu về nhện nhỏ hại cây trồng mới chỉ được tập trung vào nửa sau của thế kỉ 20 Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào 2 tổng họ: tổng họ Tetranychidea và tổng họ Eriophyoidea Tổng họ Eriophyoidea có khoảng 3.000 loài, tổng họ Tetranychidea bao gồm 2 họ chính là họ Tetranychidae có khoảng 1.200 loài và họ Tenuipalpidae có khoảng 800 loài Một số loài nhện hại cây trồng thuộc tổng họ Eriophyidae hoặc Tenuipalpidae là môi giới quan trọng trong việc truyền bệnh virus cho cây trồng (Vásquez & cs., 2012) Acarina thuộc lớp Arachnida phân ngành động vật chân kìm Môi trường sống chủ yếu của chúng là trên cạn, số ít sống dưới nước, với hơn 50.000 loài được mô tả trên

Trang 16

toàn thế giới, thức ăn của chúng rất phong phú như thực vật, xác chết động vật

và kí sinh trùng Cơ thể của nhện được chia làm ha phần chính gồm đầu ngực và bụng, có 4 cặp chân, không có cánh và râu Đối với ấu trùng ve bét chỉ có 6 chân, tới giai đoạn nhộng và trưởng thành mới đủ 8 chân Ve bét có kích thước rất nhỏ, hầu hết dài từ 0,3-0,5 mm riêng họ Eriophyidae chỉ dài 0,1-0,2 mm Các cấu trúc của phần phụ có sự biến đổi tùy thuộc vào điều kiện sinh thái, thói quen sinh hoạt và tùy thuộc vào thức ăn Trong một số trường hợp các phần phụ có tác dụng giúp giao phối thuận tiện và dễ dàng hơn (Zhang & Zhi-Qiang, 2003) Lớp da của ve bét rất mỏng gồm nhiều lớp biểu bì, sau mỗi lần lột xác ta dễ thấy

da của chúng trở lên xanh xao, yếu ớt và dần trở lại màu vàng sau 1 thời gian

Ve bét có thể hô hấp qua da hoặc khí quản, các khí quản mở qua 1-4 cặp lỗ thở nằm ở phía trước của cơ thể hoặc ở hai bên Ve bét có một hoặc hai cặp mắt, đôi khi chỉ có một mắt Ve bét là đơn tính khác gốc Lưỡng hình giới tính được thể hiện dưới nhiều hình thức của họ Các vị trí của lỗ sinh dục khác nhau rất nhiều Hầu hết ve và bọ ve là loài đẻ trứng Các giai đoạn phát triển gồm trứng, ấu trùng, nhộng và trưởng thành (Uri Gerson & cs., 1988) Trong bộ nhện hại cây trồng gồm 4 họ chính là họ Tetranychidae, Tarsonemoidae, Tenuipalpidae, Eriophyidae

Theo Zhang & Zhi-Qiang (2003), họ Tetranychidae hay còn gọi là họ nhện chăng tơ thuộc bộ Acari có khoảng 1200 loài, phân bố trên toàn thế giới, gây hại kinh tế nghiêm trọng trên các cây lương thực chính và cây cảnh Cơ thể của nhện mềm, dài khoảng 0,4 mm thường có màu đỏ, cam hoặc vàng trong Vòng đời của nhện kéo dài 1-2 tuần hoặc hơn tùy thuộc vào các yếu tố sinh học, sinh thái như loài nhện, nhiệt độ, độ ẩm, cây chủ, con người và các yếu tố môi trường khác Họ Tetranychidae có hai loài cực kì nguy hiểm chúng gây thiệt hại

nặng nề cho nền nông nghiệp đó là nhện đỏ son (Tetranychus cinnabarinus Boisduval), nhện đỏ 2 chấm (Tetranychus urticae)

Nhện đỏ 2 chấm Tetanychus urticae (Koch) thuộc họ Tetranychidae là

một trong những loài nhện nhỏ hại cây trồng phân bố cực kì phổ biến trên toàn thế giới, chúng gây hại trên 150 cây kí chủ có giá trị kinh tế và hơn 300 loài thực

Trang 17

vật trong nhà kính Nhện chích hút vào lá tạo ra các vết đốm nhỏ, nếu nhiều các vết đốm có thể liên kết với nhau, khi đó lá chuyển từ màu xanh sang màu vàng nhạt đến nâu Thiệt hại nặng có thể gây khô rụng lá dẫn đến cây bị chết (Zhang

& Zhi-Qiang, 2003)

Nhện đỏ son Tetranychus cinnabarinus (Boisduval) (Acari:

Tetranychidae) phân bố phổ biến trên toàn thế giới, chúng gây hại chủ yếu trên các cây rau như rau đậu, cây họ cà, cây họ bầu bí Ngoài ra chúng còn gây hại trên cây ăn quả và cây cảnh Chúng sống ở mặt dưới lá, chúng dùng vòi chích hút vào mặt mô lá tạo những vết chích nhỏ li ti, vết chích ban đầu trắng nhạt sau chuyển sang vàng nhạt Nếu không kiểm soát sẽ gây rụng lá (Ronald FL Mau & cs., 1992)

Họ Tarsonemoidae hay còn gọi là nhện trắng thuộc lớp Arachnida Trên thế giới có khoảng 500 loài Thức ăn của chúng rất đa dạng bao gồm nấm, thực vật và kí sinh vật cộng sinh trên côn trùng (Ashraf A & cs., 2010) Nhện trắng

có kích thước rất nhỏ, chiều dài trung bình khoảng 0,1 mm và không thể nhìn thấy bằng mắt thường, chu kì sống của nhện rất ngắn, thường kéo dài hơn 1 tuần, vòng đời của nhện bao gồm trứng, ấu trùng và trưởng thành các tuổi Con cái đẻ trung bình khoảng 3 trứng mỗi ngày và đẻ trong 1-2 tuần Cá thể cái có tuổi thọ dài hơn cá thể đực và thường xuất hiện nhiều hơn (Zhang, 2000)

Nhện trắng Polyphagotarsonemus latus (Banks) (Acari: Tarsonemoidae)

là mối đe dọa lớn trên khắp các vùng nhiệt đới và cây trồng trong nhà kính của vùng ôn đới Chúng tấn công nhiều loài cây, trong đó nhiều cây có giá trị kinh tế cao như cà chua, tiêu, dưa chuột, hoa cúc Chúng thường xuất hiện ở mặt dưới của lá non Khi nhện chính hút, chúng gây triệu chứng như lá nhăn nheo, đổi màu, dị dạng Nếu không được kiểm soát cây sẽ ngừng tăng trưởng và sự sống, năng suất của cây bị đe dọa (Zhang & Zhi-Qiang, 2003)

Nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley (Acari: Tarsonemidae) được

coi là một dịch hại nghiêm trọng trên lúa (Karmakar, 2008) Nhện có kích thước rất nhỏ và có khả năng sinh sản rất cao Chúng sống tập trung trong bẹ lá và gân

Trang 18

lá Nhện tấn công mạnh làm lúa thiếu dinh dưỡng dẫn đến lúa không trỗ, hạt lép Nếu mật độ nhện cao, chúng sẽ làm giảm năng suất lúa (Hummel & cs., 2009)

Nhện Phytonemus pallidus Banks (Acari: Tarsonemoidae) phân bố phổ

biến ở Bắc Mỹ, Nam Mỹ, châu Á, châu Úc, châu Âu và châu Phi Nhện gây hại trên một số loại cây như trên dâu tây, violet, hoa đỗ quyên, cẩm chướng, hoa cúc, hoa đồng tiền, cải xoong và nhiều cây cảnh giống anh thảo Chúng thích sinh sống và chích hút trên lá non và nụ hoa Triệu chứng thường gặp là lá bị xoăn, biến dạng, khi bị nhiễm nhện nặng lá sẽ giòn, chuyển sang màu nâu hoặc màu bạc, hoa và quả non cũng bị đổi màu nặng chuyển màu đen dẫn đến cây chết (Zhang & Zhi-Qiang, 2003)

Họ Eriophyidae phân bố trên toàn thế giới gồm 1859 loài Eriophyidae hại trên rất nhiều loài thực vật như cà chua, đào, táo, nho, lúa, ngô, hành, tỏi, gây triệu chứng quăn lá, phồng rộp, gỉ sắt, mạ bạc, rám quả Chúng có kích thước rất nhỏ không thể quan sát bằng mắt thường, có hình củ cà rốt, màu vàng nhạt, không giống như hầu hết các loài nhện khác Eriophyidae chỉ có 4 chân nằm gần đầu Chúng không có mắt, trên lưng mang lá chắn, 2 cặp chân hướng về phía trước Các lỗ sinh dục ở cá thể cái là ngang và nằm ở phía sau (Davis & Beddes, 2011) Chúng di chuyển rất chậm nhưng chúng có thể phát tán một quãng đường

xa nhờ gió và con người, sau khi di chuyển được đến một cây nào đó, nhện có thể phân biệt được đó có phải cây kí chủ hay không (Kazak & Kibritci, 2008)

Cả con đực và con cái đều hoàn thành chu kì sống khoảng 1 tuần Chúng sinh sản rất nhanh, con cái có thể đẻ 3 quả trứng mỗi ngày và mỗi con cái đẻ tới 87 quả trứng trong gần 1 tháng sinh sản Chu kì sống trải qua các pha trứng, ấu trùng, nhộng cà trưởng thành (Zhang & Zhi-Qiang, 2003) Mùa đông chúng ẩn nấp trong chồi lá hoặc các kẽ hở của cây Một số loài có thể truyền virus làm biến dạng thực vật và gây thiệt hại kinh tế cho các loại cây trồng khác nhau Để kiểm soát chúng, cần cắt tỉa, sử dụng xà phòng, các loại dầu làm vườn, nhện bắt mồi và thuốc trừ sâu (Davis & Beddes, 2011)

Nhện rám vàng hại cam chanh Phyllocoptruta oleivora thuộc họ

Eriophyidae là một dịch hại nghiêm trọng trên cam quýt gây thiệt hại lớn về

Trang 19

kinh tế nếu không được kiểm soát Tại Israel, nhện gây hại trên tất cả cây có múi Nhện rám vàng có kích thước rất nhỏ, con trường thành dài 0,15 mm có màu vàng nhạt Ở điều kiện lí tưởng nhện sinh sôi nhanh chóng, con cái đẻ từ 20 đến 30 quả trứng trong 20 ngày Trứng có hình cầu, thường nằm cạnh gân chính Nhện phát triển mạnh vào khoảng tháng 6, tháng 7 Nhện thích những quả ở tán bên ngoài tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, nhưng khi chích hút sẽ chọn chích phần không tiếp xúc với ánh sáng mặt trời của quả đó (Maoz & cs., 2014) Khi cây bị nhện tấn công, lá cây sẽ xoắn lại, xuất hiện những vết li ti trên mặt lá do nhện chích hút, quả bị nám và đổi màu (McCoy & Albrigo, 1975)

2.1.3 M ột số nghiên cứu về phân loại và đặc điểm sinh học nhện đỏ hai

Loài: Tetranychus urticae (nhện đỏ 2chấm) Nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae thuộc họ Tetranychidae, thuộc

tổng họ Tetranychoidea Họ Tetranychidae có trên 1200 loài thuộc 70 giống, là loài ăn thực vật và một số đang là dịch hại chính trên đồng ruộng Một số nghiên cứu của Prichard & Baker (1955) về phân loại đã được Nguyễn Văn Đĩnh đề cập đến cho thấy họ Tetranychidae có đặc điểm chính sau: có kìm di dộng dài trong đầu giả hoặc kìm có các đốt nhập chung gốc, đốt xúc biện thứ 4 có 1 vuốt to, đốt bàn I, II và đôi khi đốt ống có các đôi lông đặc trưng, bàn chân có các lông nhỏ, đệm vuốt có hoặc không có lông mịn, lỗ sinh dục cái là đặc trưng cho họ và cho loài Thông thường, có ba đôi lông phía trước lưng, bốn đôi lông mép lưng, 5 đôi lông lưng và 1 đôi lông mép ngang giữa lưng

Nhện đỏ hai chấm là một loài động vật phổ biến, hiện diện trên toàn thế giới trên nhiều loại thực vật (Helle & Sabelis, 1985) Nó là một loài dịch hại thực vật có thể gây thiệt hại năng suất đáng kể ở nhiều loại cây nông nghiệp, bao

Trang 20

gồm trái cây, bông, rau và cây cảnh (Stumpf & cs., 2001),(Van Leeuwen & cs., 2007) Cho đến nay, 3.877 loài ký chủ đã được báo cáo trên khắp thế giới ở cả cây trồng ngoài trời và nhà xanh (Migeon, 2007) Từ giai đoạn ấu trùng cho đến khi trưởng thành, nhện đỏ ăn ở bề mặt dưới của lá Cây ký chủ có thể bị ảnh hưởng theo những cách khác nhau, bao gồm giảm khả năng quang hợp hoặc tiêm chất độc thực vật khi cho ăn Hơn nữa, sự tích tụ của phân, màng và sự rụng lá có thể ảnh hưởng đến hình dáng cũng như giá trị thương mại của cây (Johnson & Lyon, 1998) Sự kết hợp của các yếu tố này có thể làm giảm lợi ích kinh tế của người sản xuất và khách hàng và có thể dẫn đến thiệt hại kinh tế nghiêm trọng Tổn thất năng suất có thể lên tới 15% đối với dâu tây ở Mỹ, 14% đối với ngô ở Pháp và 14–44% đối với cây bông (Attia & cs., 2013)

Theo nghiên cứu của van & cs (2003) cho thấy nhện T urticae có nhiều

loại cây ký chủ Tuy nhiên, chúng không ưa thích tất cả các loại cây vì sự khác biệt về thành phần dinh dưỡng và độc tố của các loài cây Các yếu tố khác, chẳng hạn như sự cảm ứng của các chất trao đổi thứ cấp, hình thái của bề mặt lá

và mật độ thiên địch đã đóng một vai trò quan trọng trong sự lựa chọn cây kí chủ của nhện Thí nghiệm đã so sánh các cây từ các họ khác nhau về mức độ ưa thích của chúng đối với nhện, để có được dấu hiệu về khả năng phòng vệ trực

tiếp của cây Glycine max (đậu tương), Humulus lupulus (hoa bia), Laburnum anagyroides (chuỗi vàng) và Nicotiana tabacum (thuốc lá) là các cây được nhện

đỏ hai chấm ưa thích Mật độ lông ở bề mặt lá hay thân giữa các giống cây thuốc

lá không ảnh hưởng đáng kể đến khả năng thích ứng của chúng đối với nhện

Solanum melalonga (cà tím), Vigna unguiculata (đậu đũa) và Datura stramonium (táo gai) là các cây nhện có mức độ ưa thích thấp hơn Vitis vinifera

(cây nho) ít được nhện lựa chọn làm cây kí chủ chính Một số loại cây nhện không ưa thích có thể do cấu tạo lá hoặc lượng chất dinh dưỡng thấp không đáp

ứng đủ nhu cầu của nhện Ngoài ra, Capsicum annuum (ớt ngọt) và đặc biệt là Ginkgo biloba (bạch quả) ít được nhện lựa chọn, có thể là do sự có mặt của một

số chất chuyển hóa thứ cấp trong lá, các chất này đạt tới mức có thể xua đuổi nhện Nhện chấp nhận tất cả các cây thuộc họ Fabaceae để kiếm ăn, nhưng

Trang 21

những cây thuộc họ Solanaceae cho thấy sự khác biệt lớn hơn trong việc chấp nhận nhện, từ chấp nhận tốt (thuốc lá) đến chấp nhận kém (ớt ngọt)

2.1.5 M ột số nghiên cứu về hiệu lực và ảnh hưởng của một số hoạt chất thu ốc bảo vệ thực vật

Theo Cranham & Helle (1985), nhện đỏ hai chấm là nhóm nhện khó kiểm soát bằng biện pháp hóa học, bởi hầu hết quần thể đã phát triển đến khả năng kháng một số nhóm hóa chất sau một vài năm sử dụng Một số nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng nhện đỏ hai chấm có khả năng kháng chéo thuốc, theo Thwaite (1991), nhện kháng với ovicide clofentezine phát triển khá nhanh, và suất hiện hiện tượng kháng chéo với hexythiazox Theo Aslan & cs (2004) báo cáo rằng

suất hiện một dòng kháng bromopropylate (R) của T urticae cho thấy chúng

kháng chéo mạnh đối với dicofol và hỗn hợp dicofol và tetradifon, kháng chéo vừa phải đối với amitraz và kháng chéo âm tính thấp đối với chlorpyrifos Không thấy có hiện tượng kháng chéo đối với abamectin và dinobuton

Dưới sự tăng lên rất nhanh của quần thể nhện đỏ hai chấm, các nhà khoa học liên tục nghiên cứu để tạo ra các loại thuốc có hiệu quả cao trong phòng chống nhện đỏ hai chấm Một số nghiên cứu như: các dẫn xuất axit béo (Silva-Flores & cs., 2005), đường este (Puterka & cs., 2003), chiết xuất thực vật, bao gồm cả tinh dầu (Kawka & Tomczyk, 2002); (Aslan & cs., 2004), (Aslan & cs., 2005), (Shi & cs., 2012); (Kawka, 2004), thuốc trừ sâu thực vật có nguồn gốc từ

cây neem (Azadirachta indica) (Pavela, 2003) Trong số các chất chiết xuất từ thực vật khác nhau được thử nghiệm cho hoạt tính diệt khuẩn chống lại T urticae ở Plovdiv, Mateeva & cs (2003) báo cáo rằng cây gai (Datura stramonium ), cây ngải cứu (Artemisia absinthium) và cây húng quế (Ocimum basilicum) là có khả năng gây hại đối với các giai đoạn hoạt động của nhện đỏ

hai chấm Saber (2004) cho biết chiết xuất ethanol của cây ngải cát (Artemisia monosperma ) ít hiệu quả nhất đối với T urticae so với ete dầu hỏa, chloroform

hoặc ethyl acetate Hoạt tính diệt khuẩn của các chất chiết xuất từ Lamiaceae Úc

cũng đã được thử nghiệm chống lại T urticae với các kết quả khác nhau

(Rasikari & cs., 2005) Các chất chiết xuất từ các phân họ Ajugoideae,

Trang 22

Scutellarioideae, Chloanthoideae, Viticoideae và Nepetoideae cho thấy hoạt tính diệt khuẩn, và 14 loài thuộc họ hoa môi cho thấy độc tính tiếp xúc từ trung bình

đến cao đối với T urticae

Theo Li & cs (2017) nghiên cứu về tác động của bifenazate đối với vòng

đời và các thông số quần thể của nhện hai chấm Tetranychus urticae đã cho thấy

rằng khi các cá thể cái mới xuất hiện được xử lý bằng hai nồng độ bifenazate là:

LC10 (4,92 μg / mL) và LC20 ( 8,77 μg / mL) So với đối chứng, việc tiếp xúc với nồng độ gây chết 10% (LC10) và LC20 của bifenazate ảnh hưởng nghiêm

trọng đến thế hệ cha mẹ của T urticae, bao gồm tỷ lệ sống (giảm 9% và 13%),

thời kỳ đẻ trứng (giảm 77,6% và 83,1%), khả năng sinh sản trên mỗi con cái (giảm 89,2% và 76,9%) và tuổi thọ (giảm 79,2% và 83,1%) Bên cạnh đó, các thông số về quần thể của thế hệ con cháu từ những cá thể cái được xử lý được đánh giá chi tiết Kết quả cho thấy thế hệ con cháu có tốc độ gia tăng nội tại thấp hơn (rm) và tốc độ gia tăng hữu hạn (λ), thời gian tạo trung bình (Tc) dài hơn so với đối chứng Các kết quả cho thấy tác động của bifenazate đối với sự phát

triển quần thể của T urticae là đáng kể, và kết quả của nghiên cứu này một đánh

giá quan trọng để người trồng trọt có thể đưa ra các quyết định sử dụng hợp lý bifenazate trên đồng ruộng để quản lý tốt loài nhện này

Theo Urbaneja & cs (2008) một số hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật như: Mineral oil, Clofentezine, Tebufenpyrad, Fenazaquin, Fenbutatin oxide có ảnh hưởng đáng kể tới nhện đỏ hai chấm Tỷ lệ nở của trứng giảm đáng kể ở tất cả các công thức ngoại trừ oxit fenbutatin Hiệu quả dao động từ 74,7% đối với clofentezine đến 94,8% đối với tebufenpyrad Tỷ lệ tử vong ở cá thể trưởng thành tăng từ ngày thứ nhất đến ngày thứ bảy, và về sau, sự khác biệt có ý nghĩa giữa tất cả các công thức so với công thức đối chứng, ngoại trừ clofentezine Hiệu quả dao động từ 71,7% đối với oxit fenbutatin đến 91,3% đối với dầu khoáng, nhưng các giá trị này không khác nhau có ý nghĩa

Theo Hossain & cs (2006), thí nghiệm nghiên cứu hiệu quả của 4 loại hóa chất thường được sử dụng là Deltamethrin, cypermethrin, malathion và lưu

huỳnh đối với nhện hai chấm (TSSM), Tetranychus urticae Koch trên cây đậu

Trang 23

trồng trong chậu và trên thí nghiệm trên đãi lá đĩa lá Số lượng nhện vẫn thấp hơn đáng kể ở tất cả các công thức thí nghiệm ngoại trừ công thức xử lý bằng

malathion Quần thể T urticae có sự khác biệt đáng kể do các hóa chất khác

nhau và nó vẫn thấp hơn cho đến tuần thứ 4 trên các cây phun một lần, con số này lại tăng lên Nhưng ở những cây được phun hai lần, số lượng nhện được kiểm tra và vẫn thấp hơn đáng kể Giá trị LC50 ước tính đối với cypermethrin, malathion, deltamethrin và lưu huỳnh lần lượt là 2,9956, 15,8663, 0,5386 và 20,7045 nl.cm-2 khi hóa chất được phun trước khi thả nhện Nhưng các giá trị

LC50 đối với những hóa chất này được phun sau khi thả mạt được ước tính là 1,8110, 8,2746, 0,2192 và 6,8308 nl.cm-2 Việc sử dụng hóa chất là điều cần thiết để cây trồng có năng suất tốt hơn Trong số bốn hóa chất được thử nghiệm, pyrithroid (cypermethrin và deltamethrin) được tìm thấy hiệu quả hơn đối với TSSM so với hai hóa chất còn lại Bốn loại thuốc diệt côn trùng được chọn là Deltamethrin, cypermethrin, malathion và lưu huỳnh đã được thử nghiệm chống

lại T urticae Hai nhóm được chọn cho mỗi loại hóa chất, lại được tách ra để

phun đơn và phun kép, trong đó thuốc trừ sâu được phun một lần sau hai tuần nhiễm nhện trên cây nhóm phun đơn và thuốc trừ sâu được phun hai lần trên cây được phun kép Trên những cây này, phun lần đầu sau hai tuần nhiễm bệnh và phun lần hai sau bốn tuần nhiễm Việc pha loãng và lượng thuốc diệt côn trùng được duy trì theo quy định của nhà phân phối Không có hóa chất nào được phun trên các cây trồng đối chứng và nuôi cấy Kết quả thu được cho thấy có sự khác nhau giữa các công thức Thí nghiệm hiện tại cho thấy nhện tăng lên theo cấp số nhân cho đến tuần thứ 5 nhiễm bệnh trong các công thức đối chứng Sau tuần thứ 5, số lượng nhện giảm dần và cây chết do sự tấn công ồ ạt của nhện Số lượng nhện vẫn thấp hơn cho đến tuần thứ 4 trên các cây phun một lần nhưng lại tăng lên Nhưng ở các ô phun kép, số lượng nhện được kiểm tra và vẫn thấp hơn đáng kể Việc sử dụng hóa chất dường như là điều cần thiết để tạo ra năng suất cây trồng tốt hơn Trong số bốn hóa chất được thử nghiệm, pyritheroid

cypermethrin và deltamethrin có hiệu quả hơn đối với T urticae Giá trị LC50

ước tính cho cypermethrin, malathion, deltamethrin và lưu huỳnh lần lượt là

Trang 24

2,9956, 15,8663, 0,5386 và 20,7045 nl.cm-2 khi hóa chất đã được phun trước khi thả mạt Nhưng các giá trị LC50 cho những hóa chất này được phun sau khi thả mạt là 1,8110, 8,2746, 0,2192 và 6,8308 nl.cm-2 Các phương trình hồi quy

và giá trị χ2 chỉ ra rằng không có sự không đồng nhất trên các quần thể được thử nghiệm Giá trị LC50 cho deltamethrin là giá trị tối thiểu trong cả hai phương pháp được áp dụng Thứ tự độc tính là deltamethrin> cypermethrin> malathion> lưu huỳnh trong phương pháp đầu tiên trong khi deltamethrin> cypermethrin> lưu huỳnh> malathion được ghi nhận trong phương pháp thứ hai Rõ ràng là từ

các kết quả trên rằng deltamethrin có hiệu quả nhất đối với T urticae

Theo Pavela (2003) nghiên cứu về tác động của spirodiclofen, abamectin

và pyridaben đối với nhện đỏ Cho thấy nhện đỏ hai chấm Tetranychus urticae

Koch là một trong những loài gây hại kinh tế quan trọng nhất trên nhiều loại cây

trồng trong nhà kính và vườn cây ăn quả trên toàn thế giới Việc kiểm soát T urticae chủ yếu dựa vào việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật Tác dụng của spirodiclofen, pyridaben và abamectin đã được đánh giá chi tiết trong nghiên cứu Giá trị LC25 của spirodiclofen, abamectin và pyridaben (tương ứng là 3,84, 0,04 và 136,96 µg a.i./ml) được sử dụng cho các nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng Tất cả các loại thuốc trừ nhện đều cho thấy những ảnh hưởng đáng kể

đến các thông số sinh học của T urticae bao gồm thời gian phát triển, tỷ lệ sống

và khả năng sinh sản Những con cái được thí nghiệm bằng spirodiclofen, abamectin và pyridaben tại LC25 cho thấy tỷ lệ sinh sản thuần (R0) giảm đáng

kể, tỷ lệ tăng hữu hạn (λ) và tỷ lệ tăng nội tại (r) Tỷ lệ tăng nội tại của các nhóm được điều trị bằng spirodiclofen, abamectin và pyridaben và đối chứng lần lượt

là 0,0138, 0,0273, 0,039 và 0,2481 con cái mỗi con cái mỗi ngày Kết quả chỉ ra rằng nồng độ của thuốc trừ sâu đã được thử nghiệm ảnh hưởng mạnh đến đặc tính sống của nhện và do đó có thể ảnh hưởng đến sự phát triển số lượng cá thể của nhện trong các thế hệ tương lai

Khả năng kháng clofentezine ở T urticae lần đầu tiên được xác nhận ở Úc

vào năm 1987 sau khi hoạt chất clofentezine được sử dụng để phòng trừ nhện đỏ hai chấm trong nhà kính trong khoảng 10 tháng Khả năng kháng clofentezine ở

Trang 25

dòng này cực kỳ cao (> 2.500 lần) và tạo ra khả năng kháng chéo ở mức cao đối với hoạt chất hexythiazox, đây là hoạt chất không liên quan về mặt hóa học với

clofentezine Sự kháng thuốc của clofentezine ở T urticae đã được phát hiện

trong các vườn cây ăn quả ở thung lũng Goulburn, Victoria vào năm 1988, việc

sử dụng thuốc hóa học có hoạt chất clofentezine hoàn toàn không hiệu quả Sự

kháng thuốc ở nhện đỏ hai chấm T urticae sau đó đã được phát hiện ở Adelaide

trong năm 1988 và vùng Bathurst Orange, NSW vào năm 1989 Kháng clofentezine và hexythiazox ở quần thể nhện đỏ hai chấm rất ổn định nên rất khó quản lý (Herron & cs., 1993)

Nghiên cứu của Wang & cs (2018) cho rằng biện pháp xử lý hóa học là biện pháp chính để phòng trừ nhện hai đốm trên dâu tây nhà kính, nó có hiệu quả nhanh chóng và có thể loại bỏ nhện hại dâu tây trên toàn bộ cây Việc sử dụng thiên địch như nhện bắt mồi để kiểm soát nhện hai đỏ hai chấm ở dâu tây trong nhà kính chỉ có hiệu quả nếu được áp dụng khi quần thể nhện đỏ hai chấm

ở mức trung bình, và hiệu quả tác động của chúng thường chậm hơn so với thuốc hóa học Tuy nhiên, cần có hơn 3 loại thuốc trừ nhện khác nhau dựa trên

cơ chế hoạt động khác nhau hoặc các sản phẩm thương mại khác nhau để duy trì hiệu quả của thuốc trừ nhện hóa học và tránh kháng thuốc, bởi dùng quá lâu một hoạt chất sẽ tạo ra khả năng kháng thuốc ở thể nhện

Ảnh hưởng của hoạt chất Spinetoram đối với trưởng thành cái T urticae

cho tôi thấy so với đối chứng, số lượng trứng đẻ trên mỗi cá thể cái đã tăng lên đáng kể sau khi cá cái trưởng thành được điều trị bằng Spinetoram Tuy nhiên,

tuổi thọ của trưởng thành cái đã giảm đáng kể sau khi công thức xử lý có nồng

độ là LC10 và LC20 của Spinetoram Sau xử lý tôi thấy tốc độ tăng nội tại (r), tốc

độ tăng hữu hạn (λ) và thuần tỷ lệ sinh sản (R0) tăng lên đáng kể trong khi thời gian thế hệ trung bình (T) giảm đáng kể ở các công thức LC10 và LC20 Khi

trứng của T urticae được tiếp xúc với LC10 và LC20 của Spinetoram, thời gian của giai đoạn trứng (đối trứng: 4,14, LC10: 3,96, LC20: 3.94), giai đoạn ấu trùng (đối chứng: 2.26, LC10:1.96, LC20: 1.99) và giai đoạn tiền sinh sản (Đối chứng:1.52, LC10: 0.91, LC20: 1.18) đã giảm đáng kể Thời gian protonymph đã

Trang 26

giảm đáng kể khi điều trị LC10 nhưng không giảm đáng kể bởi điều trị LC20 (đối chứng: 2.00, LC10: 1.87, LC20: 1.90) Thời gian deutonymph và tuổi thọ trưởng thành không khác nhau giữa các phương pháp điều trị Khả năng sinh sản của những con trưởng thành có nguồn gốc từ những quả trứng được xử lý đã tăng lên đáng kể ở công thức LC20 và thậm chí còn cao hơn nhờ công thức LC10 Về

các thông số tăng trưởng quần thể, xử lý trứng T urticae bằng LC10 và LC20 của Spinetoram làm tăng đáng kể tốc độ gia tăng nội tại (r), tốc độ tăng hữu hạn (λ)

và tỷ lệ sinh sản thuần (R0), và làm giảm đáng kể thời gian thế hệ trung bình (T) Tác dụng của nghiệm thức LC10 mạnh hơn so với nghiệm thức LC20 (Wang & cs., 2016)

Bên cạnh các hoạt chất hóa học, hoạt chất triết xuất từ cây cũng được chú

ý Theo Kawka & Tomczyk (2002), Các chất chiết xuất từ lá xô thơm (common sage) tươi và khô đã được sử dụng để nghiên cứu khả năng áp dụng chúng để

kiểm soát nhện hại trên cây cảnh Các thử nghiệm được tiến hành trên lá H helix Người ta đã nghiên cứu tác động của chiết xuất lên khả năng sinh sản của

cá thể cái T urticae cũng như tuổi thọ của chúng Chỉ số ăn của nhện trên lá H helix được xử lý bằng chiết xuất cây xô thơm và tỷ lệ tử vong ở tất cả các giai đoạn đang phát triển được ghi chép và xử lý Sự khác biệt đáng kể đã được tìm thấy giữa khả năng sinh sản của những cá thể cái cái sống trên lá được xử lý bằng chất chiết xuất từ cây xô thơm và nước Cả hai chất chiết xuất từ lá tươi và

khô của S officinalis làm giảm khoảng 35-45% tổng số trứng của T urticae cái

Tuổi thọ của cá thể cái giảm khoảng 25% Hoạt động của những con cái ăn lá thường xuân bị ảnh hưởng mạnh bởi chất chiết xuất từ cây xô thơm Chỉ số ăn

của nhện đỏ hai chấm T urticae trên lá được xử lý trước bằng dịch chiết là

28-35% so với lá đối chứng (xử lý bằng nước) Tỷ lệ tử vong của các giai đoạn tiền

đẻ trứng của T urticae là cao nhất trên các lá trước đây được xử lý bằng dịch chiết từ lá S officinalis khô, tuy nhiên, trong trường hợp sử dụng trực tiếp dịch

chiết trên lá tươi thì hiệu quả hơn

Hơi tinh dầu từ Satureja hortensis L., Ocimum basilicum L và Thymus vulgaris L đã được thử nghiệm đánh giá độc tính của chúng đối với nhộng và

Trang 27

trưởng thành của Tetranychus urticae Koch (Acari: Tetranychidae) và trưởng thành của Bemisia tabaci Genn (Họ: Aleyrodidae) Lượng tinh dầu được cho

vào mỗi bình hút ẩm có dung tích 4 lít là 1,56, 3,125, 6,25 và 12,5, tương ứng với 0,39, 0,782, 1,563 và 3,125 l / l không khí Việc sử dụng tinh dầu của ba loài thực vật trên đã cho ra kết quả khả quan Theo kết quả của ANOVA, trong khi ảnh hưởng của liều lượng và thời gian tiếp xúc tương tác của tinh dầu thu được

từ O bacillicum trên T urticae có ý nghĩa ở P <0,05, các loại tinh dầu khác ảnh

hưởng của liều lượng và tương tác thời gian tiếp xúc rất có ý nghĩa ở P <0,01 Tương tự, ảnh hưởng của tương tác giữa liều lượng và thời gian tiếp xúc của

tinh dầu vulgaris trên B tabaci có ý nghĩa ở P <0,05, trong khi ảnh hưởng của

những cá thể khác là đáng kể ở mức độ tin cậy cao hơn, P <0,01 Tinh dầu của

S hortensis có tính độc nhất trong số ba cây được thử nghiệm Sự khác biệt này

rất có ý nghĩa ở P <0,01 trên cả hai loài B tabaci và T urticae Tinh dầu thu được từ S hortensis gây ra tỷ lệ tử vong cao nhất ở liều không khí 3,125 l / l và

ở 96 giờ tiếp xúc, so với các loại tinh dầu khác, các hoạt động và hiệu quả của

nó là có ý nghĩa ở P <Nói chung, tỷ lệ tử vong tăng lên khi liều lượng tinh dầu

và thời gian tiếp xúc tăng lên S hortensis có hiệu quả nhất so với hai loài còn

lại Có thể kết luận rằng tinh dầu từ ba loại cây này rất có tiềm năng kiểm soát

chống lại T urticae và B tabaci trong điều kiện nhà kính (Aslan & cs., 2004)

Sau nghiên cứu về tác động của 2 loại tinh dầu Artemisia annua and R officinalis cho ta những kết quả đáng quan tâm Kết quả thu được cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa trứng, ấu trùng, protonymph và

deutonymph các giai đoạn phát triển của nhện đỏ hai chấm T urticae được thử

nghiệm bằng hai loại tinh dầu so với đối chứng Ngược lại, phương pháp thí nghiệm bằng tinh dầu làm giảm tuổi thọ của trưởng thành đực và cái so với đối chứng một cách rõ rệt Ngoài ra, giai đoạn tiền sinh sản trưởng thành (APOP) và

tổng giai đoạn tiền sinh sản (TPOP) của nhện đỏ hai chấm T urticae đã giảm

đáng kể sau khi điều trị bằng tinh dầu so với đối chứng APOP tối thiểu (1,13 ±

0,05 ngày) và TPOP (10,7 ± 0,08 ngày) được ghi nhận trong thí nghiệm bằng R officinalis Cả A annua và R officinalis đều giảm đáng kể khả năng sinh sản

Trang 28

của nhện đỏ hai chấm T urticae so với đối chứng Trong khi đó, không có sự

khác biệt rõ ràng nào về thời gian phát dục của nhện giữa các công thức Tinh

dầu Artemisia annua và R officinalis đã làm giảm đáng kể R0 của nhện đỏ hai

chấm T urticae (tương ứng là 15,24±2,15 và 20,97±2,25) so với đối chứng (47,65± 3,47) Cả hai loại tinh dầu A annua và R officinalis làm giảm tỷ lệ gia tăng số lượng cá thể hữu hạn của nhện đỏ hai chấm T urticae (tương ứng

1,2178±0,012 và 1,2488±0,01 ngày-1), so với đối chứng một cách rõ ràng Ngoài ra, việc sử dụng tinh dầu ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản (F)

và thời gian tạo trung bình (T) Ảnh hưởng của hai loại tinh dầu đến tỷ lệ sống sót theo hai giai đoạn tuổi (sxj) của giai đoạn trưởng thành và trước khi trưởng thành được thể một cách hiện rõ ràng Thời gian đẻ trứng của cá thể cái giảm sau khi sử dụng tinh dầu Tuổi thọ của nhện cũng giảm 1 cách rệt Thời gian và

số lượng sinh sản đã giảm rõ ràng ở cá cái T urticae sau khi sử dụng hai loại

tinh dầu (Esmaeily & cs., 2017)

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

2.2.1 M ột số nghiện cứu về đặc điểm sinh học sinh thái nhện hại cây trồng

Theo Nguyễn Văn Đĩnh (2004) đã nghiên cứu và cho thấy rằng do cơ thể của nhện hại rất nhỏ, thường không thấy bằng mắt thường và vết gây hại của chúng nhỏ li ti nên thời kì gây hại ban đầu không phát hiện được Thời gian từ khi chúng xuất hiện tới khi cây xuất hiện triệu chứng điển hình chỉ mất khoảng 1–2 tuần Việc quần thể nhện gia tăng nhanh về số lượng gây nên hiện tượng cháy lá, chết điểm sinh trưởng thường hay xảy ra đối với những cây trồng mẫn cảm hoặc sử dụng quá nhiều phân đạm Dấu hiệu gây hại của nhện gây ra thường nhầm lẫn với các dấu hiệu phi sinh gây ra như nắng hạn làm cháy sém hoặc rám lá Theo lịch sử nghiên cứu, thuật ngữ “Acari” được dùng từ những năm 1650 Cho mãi tới những năm 1660 Ve bét vẫn được gọi là “chấy rận” hay côn trùng nhỏ Người đầu tiên đặt tên khoa học Acarus cho Ve bét vào năm

1735 là Linnacus Đối với cây trồng, nhện nhỏ hại cây trồng rất đa dạng, chúng

ta có thể kể tới nhện đỏ Tetranychus urticae, nhện trắng Polyphagotarsonemus latus , nhện xanh T tanajoa, nhện đỏ hại cam chanh, nhện đỏ hại táo, chúng

Trang 29

đã gây lên tổn thất vô cùng lớn đối với cây trồng ngoài đồng như làm rụng lá, phá hỏng quả, làm chết cây, truyền các bệnh nguy hiểm cho cây Không chỉ tấn công ngoài đồng ruộng, nhện nhỏ hại cây trồng còn tấn công trong kho bảo quản Chúng tấn công gây hại hạt cũng như các sản phẩm cất trữ khác kể cả những sản phẩm có nguồn gốc từ động vật Tuy nhiên có một nhóm nhện nhỏ lại

là kẻ thù tự nhiên quan trọng đối với nhện hại cây và có một nhóm khác lại là kẻ thù tự nhiên của côn trùng và nấm gây hại Chúng chủ yếu nằm trong họ nhện nhỏ bắt mồi Phytoseiidae và một số nhóm nhện bắt mồi khác Rất nhiều loài nhện nhỏ có tác dụng to lớn trong chu trình tuần hoàn vật chất, phân hủy các chất lân hữu cơ làm tăng độ phì nhiêu của đất

Theo Nguyễn Văn Đĩnh (2005) Nhện nhỏ hại cây trồng (phytophagous mites) là những động vật nhỏ thuộc bộ Ve bét (Acarina), lớp Nhện (Arachnida), ngành Chân đốt (Arthropoda), chúng ngày càng có ảnh hưởng tới năng suất cây trồng trên thế giớ Nhện nhỏ hại cây trồng chích hút trên cây gây năng suất và chất lượng nông sản đối với một số loại cây trồng như cam quít, đậu đỗ, khoai tây, lúa,

Nhện hại cây trồng ngày càng được các nhà nghiên cứu quan tâm bởi khả năng gây hại của chúng Các loại ve bét (nhện đỏ hai chấm, nhện đỏ son ) là dịch hại chính của hơn 180 loại cây trồng khác nhau bao gồm các loại cây lương thực như lúa, ngô, sắn; cây công nghiệp như bông vải, mía, đậu tương, lạc, cà phê, ca cao, cao su, chè; cây rau như cà chua, dưa leo, bầu, bí; đậu đỗ, các loại cây ăn quả như cây có múi (cam, quýt, bưởi), nhãn, vải, xoài, mãng cầu, sầu riêng, táo, ổi, nho, mận, dâu tây, dưa hấu; các cây hoa kiểng như hoa hồng, hoa huệ, phong lan, mai vàng, đồng tiền… Các nghiên cứu về phòng trừ sinh học đối với các loài bét nhỏ này hiện nay tập trung vào nhóm bét bắt mồi họ Phytoseiidae bởi khả năng kiềm hãm quần thể con mồi ở mật độ thấp (Nguyễn Thị Phương Thảo & Nguyễn Thị Hồng Vân, 2013)

Quá trình phát triển của nhện, chúng trải qua các pha: trứng nhện, nhện non các tuổi, trưởng thành Nhện hại cây bằng cách dung kìm chích vào mô cây, tiết nước bọt vào đó và nhờ sức căng bề mặt dịch cây trào ra bề mặt vết chích,

Trang 30

nhện thực hiện quá trình bơm hút dịch cây phía sau kìm hút (Nguyễn Văn Đĩnh, 2002) Nhện hại cây trồng có khả năng thích nghi cao với môi trường, chúng có sức sinh sản và sức tăng quần thể nhanh và mạng, chỉ sau 5-7 ngày tăng gấp đôi

số lượng Thành phần nhện rất đa dạng, phân bố ở khắp mọi nơi trên thế giới, chúng tồn tại trên nhiều cây kí chủ Trong nhóm nhện có rất nhiều loài có ích nhưng bên cạnh đó cũng có không ít loài gây hại Các công trình về nhện hại đã

và đang đưa ra cho chúng ra các kiến thức và thông tin hữu ích, để đề ra được các biện pháp phòng chống hiệu quả

Nhóm nhện hại cây trồng (phytophagous mites) bao gồm trên 10 họ và tập trung chủ trong 4 họ Họ chăng tơ thật (Tetranychidae) Họ nhện chăng tơ giả (Tenuipalpidace), Họ nhện u sần (Eriophydae) và họ nhện trắng Tarsonemidae Các nhà nghiên cứu nông nghiệp quan tâm đến nhóm nhện hại từ những năm 1950-1960 bởi vì chúng chuyển từ nhóm sinh vật hại thứ yếu sang chủ yếu (Nguyễn Văn Đĩnh, 1994)

Có 6 loại nhện nhỏ hại cây bông vụ đông xuân tại Nam Trung bộ Trong

đó có loài Tetranychus urticae gây hại bông phổ biến nhất Trong phòng thí nghiệm (26,78-28,95⁰C:69,90-72,38%) loài T urticae sống trên giống bông

VN15 có vòng đời 10,7-11,15 ngày Nhện trưởng thành sống 12,72-18,75 ngày,

đẻ 35,13-56,13 quả trứng, tỷ lệ trứng nở 80,94-93,83% nhệ cái chiếm 91,77% số cá thể Tỷ lệ tăng tự nhiên, hệ số nhận nuôi một thế hệ và giới hạn tăng tự nhiên của loài tưng ứng với: 0,251-0,259; 28,91-44,20; 13,37-16,67; 1,285-1,309 Nhện tập chung ở các lá bông bánh tẻ, nhện đỏ hai chấm T urticae sống trên cây bông được bón nhiều phân đạm có tỷ lệ gia tăng tự nhiên cao hơn khi chúng được bón ít phân, ghi nhận 55 loài ký chủ và 6 loài thiên địch của

90,72-nhện đỏ 2 chấm trong đó thiên địch quan trong nhất là N.longisnosus Trong

phòng thí nghiêm (27,54-29.06⁰C:70,34-70,42%) nuôi loài N.longisnosus bằng nhện đỏ 2 chấm có thời gian vòng đời trung bình 5,42-6,77, một nhện ăn được 315-441 quả trứng hoặc 106-107 nhện đỏ tuổi 3 đẫy sức Sau khi thiếu thức ăn

nhưng có đủ nước, nhện N.longisnosus có thể sống được 4,26-4,41 ngày, khi

thiếu nước sống được 1,71-1,87 ngày (Mai Văn Hào, 2010)

Trang 31

2.2.2 M ột số nghiện cứu về đặc điểm sinh học sinh thái nhện đỏ hai chấm

Tetranychus urticae

Theo Viện khoa học kĩ thuật Miền Nam (2021), đây là loài nhện đa thực

có thể gặp trên nhiều loại cây trồng khác nhau Nhện đỏ phát triển khác nhau giữa các loài nhưng vòng đời đặc trưng như sau Trứng được đẻ dính vào sợi tơ mạng nhện và nở ra sau khoảng 3 ngày Vòng đời là kết hợp của trứng, sâu non

và 2 giai đoạn ấu trùng (protonymph và deutonymph) và trưởng thành Thời gian từ trứng đến trưởng thành thay đổi phụ thuộc lớn vào nhiệt độ Trong điều kiện phòng thí nghiệm (t=25-28⁰C, 70% RH): trứng 3-4 ngày, sâu non 2-5 ngày, tiền ấu trùng 1-2 ngày và ấu trùng 1-3 ngày Thời gian từ trứng- trưởng thành từ 7-14 ngày và thời gan sống của trưởng thành kéo dài đến 22 ngày Có nhiều thế

hệ trùng lặp trong năm Nhện đỏ có miệng chích hút như mũi kim Nhện đỏ đâm miệng vào thân cây, đầu tiên ở mặt dưới lá Hầu hết các loài nhện đều tạo màng

tơ trên cây ký chủ Chúng làm giảm 90% hoạt động quang tổng hợp của cây, 78% tuổi thọ lá và 65% kích thước lá, là những phần quan trọng trong đời sống của cây sắn Vì vậy, năng suất củ sẽ giảm 20-87%, phụ thuộc vào giống, tuổi cây và thời gian bị hại Mặt khác, số lượng và chất lượng của thân cây để làm giống cũng bị ảnh hưởng Năng suất củ giảm trung bình 73% và khối lượng cây giống giảm 67% khi sắn bị nhện tấn công suốt thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng

Khi gặp điều kiện bất thuận như nhiệt độ giảm, nguồn thức ăn khan hiếm, những cá thể nhện cái sẽ bắt đầu trạng thái “diapause”, chúng sẽ ngừng kiếm ăn

và đẻ trứng, đồng thời các các thể nhện cái rời khỏi các cây kí chủ và chuyển sang chú ngụ ở các khe kẽ nhỏ như ở trên tường hay trên mặt đất, Chúng hoạt động trở lại vào mùa xuân khi chúng đẻ trứng trên lá Nhện đỏ hai chấm có khả

năng tạo ra tơ trên bề mặt lá T urticae phát triển rất nhanh, đặc biết là ở điều

kiện nhiệt độ cao Nhiệt độ thích hợp nhất cho chúng là 30-32 độ C, trứng nở sau 3-5 ngày, ấu trùng phát triển 4-5 ngày, giai đoạn tiền đẻ trứng là 1-2 ngày, tổng vòng đời là 8-12 ngày Số lượng trứng khoảng 90 đến 110 trứng, số lượng nhện tăng rất nhanh vào mùa hè hoặc điều kiện trong nhà kính, nhà lưới (Nguyễn Văn Đĩnh, 2003)

Trang 32

Theo Trần Ngọc Cảm & Nguyễn Đức Tùng (2019), nghiên cứu về đặc điểm thức ăn tới đặc điểm sinh học của nhện đỏ 2 chấm cho thấy nhện ưa thích thức ăn là cây rau họ đậu, đặc biệt là đậu cove Thời gian phát dục của nhện non

bị ảnh hưởng rõ rệt bởi nguồn thức ăn Nhện non tuổi 1 và tuổi 3 khi trích hút lá đậu cove có thời gian phát dục ngắn hơn rõ rệt khi trích hút trên lá dưa chuột, tuy nhiên ở nhện non tuổi 2 thì ngược lại chúng phát triển nhanh hơn khi sống trên lá dưa chuột so với trên lá đậu cove Tổng thời gian phát dục trước trưởng thành của nhện đỏ hai chấm trên cả hai loại thức ăn là không khác biệt rõ rệt vớilá đậu cove là 11,94 ngày và lá dưa chuột là 11,97 Tuy nhiên, do thời gian tiền đẻ trứng của nhện trưởng thành cái khi nuôi trên lá đậu cove (1,74 ngày) ngắn hơn rõ rệt so với khi nuôi trên lá dưa chuột (3,68 ngày) làm cho vòng đời của nhện đỏ hai chấm khi nuôi trên lá đậu cove (13,69 ngày) ngắn hơn hẳn so với khi nuôi bằng lá dưa chuột (15,65 ngày) Số lượng trứng đẻ hàng ngày và tổng số trứng đẻ của nhện cái nuôi trên đậu cove (lần lượt là 6,00 quả/nhện cái/ngày và 62,69 quả/nhện cái) cao hơn rõ rệt so với khi nuôi trên dưa chuột với giá trị lần lượt là 3,13 quả/nhện cái/ngày và 29,35 quả/nhện cái

2.2.3 M ột số nghiên cứu về hiệu lực và ảnh hưởng của một số hoạt chất thu ốc bảo vệ thực vật

Theo Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (2019) nhện đỏ hại

trên cây có múi Panonychus citri đang là mối đe dọa rất lớn Bên cạnh đó, chúng cũng có khả năng kháng một số hoạt chất khá mạnh Đánh giá thực trạng

sử dụng thuốc bảo vệ thực vật phòng trừ dịch hại trên cây ăn quả có múi tại một

số huyện thuộc các tỉnh Phú Thọ, Hòa Bình, Nghệ An, Hậu Giang cho thấy: số lần phun thuốc bảo vệ thực vật phòng trừ dịch hại trung bình từ 12 đến 17 lần/năm (trừ sâu 3-5 lần, trừ bệnh 5-6 lần, trừ nhện 3-4 lần, trừ cỏ 1-3 lần) Các hoạt chất thuốc được sử dụng nhiều để phòng trừ nhện đỏ là: Fenpyroximate (10,19-17,33%), Abamectin (8,96-31,47%), Propargite (4,26-23,80%), Emamectin benzoate (5,24-24,79%), Pyridaben (5,19-15,12%) tỷ lệ là khác

nhau ở từng địa phương Phân tích mức độ kháng thuốc của nhện đỏ P citri năm

2014 - 2016 cho thấy quần thể nhện đỏ cam chanh tại các tỉnh Phú Thọ, Hòa

Trang 33

Bình, Nghệ An, Hậu Giang đã kháng với các thuốc: Silsau 10WP, Reasgant 1.8EC, Abatimec 3.6EC, Catex 3.6EC (Abamectin); Bini-58 40EC, Vidithoat 40EC (Dimethoate); Tasieu 1.9EC, Eagle 5EC (Emamectin benzoate); Ortus 5SC (Fenpyroximate); Danitol 10EC (Fenpropathrin); Alfamite 15EC, Koben 15EC (Pyridaben); Comite 73EC (Propargite) với chỉ số kháng biến động từ 11,5- 19,6 Khi đánh giá khả năng kháng chéo của nhện đỏ cam chanh với các loại thuốc cùng nhóm và khác nhóm cho thấy chúng mới biểu hiện kháng với chính nhóm đó, chưa biểu hiện kháng với các thuốc khác nhóm Nòi nhện đỏ kháng Abamectin biểu hiện tính kháng mạnh nhất đối với chính Abamectin (Ri

= 38,23) và thuốc Emamectin benzoate (Ri = 29,16) Nòi nhện đỏ kháng pyridaben biểu hiện tính kháng mạnh nhất với chính pyridaben (Ri = 19,5)

Trang 34

PH ẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

- Đối tượng: Nhện đỏ hai chấm hại cây rau

- Vật mồi: cây rau vùng đồng bằng sông Hồng

- Vật liệu nghiên cứu:

+ Kéo, bút, túi díp, lam kính, lamen, panh, dung dịch lam

+ Kính lúp cầm tay, kính hiển vi soi nổi

+ Hộp nhựa, khay nhựa, hộp petri, bông thấm nước, giấy hút ẩm, bút lông, khay, bình xịt, …

+ Thuốc bảo vệ thực vật: thuốc hoá học trừ nhện đỏ

Hình 3.1: Một số dụng cụ và thuốc BVTV nghiên cứu

Trang 35

B ảng 3.1 Tên thuốc và hoạt chất thuốc sử dụng trong thí nghiệm

STT Tên thuốc Tên hoạt chất Nồng độ (%)

5 Nilmite 550 SC Fenbutatin oxide 0.04

12 Taron 50EC Chlorpyrifos Methyl 0.15

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Thời gian: Từ tháng 1 năm 2022 đến tháng 9 năm 2022

- Địa điểm: Bộ môn Côn trùng, khoa Nông Học, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra các loại thuốc trừ nhện đỏ trên rau đang được bà con nông dân

sử dụng tại Gia Lâm, Hà Nội

- Điều tra thành phần, diễn biến mật độ nhện đỏ trên rau tại Gia Lâm, Hà Nội

- Đánh giá hiệu lực của các loại thuốc trừ nhện đang được sử dụng ngoài

sản xuất đối với một số quần thể nhện đỏ hai chấm thu được trên rau tại Gia

Lâm và Đông Anh, Hà Nội

Trang 36

- Xác định mức độ kháng thuốc của một số quần thể nhện đỏ hai chấm đối với một số hoạt chất thuốc trừ nhện hiện đang được sử dụng rộng rãi ngoài sản xuất

- Đánh giá ảnh hưởng của thuốc trừ sâu nhện đến đặc điểm sinh học của

nhện đỏ hai chấm

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Điều tra mức độ sử dụng thuốc BVTV trừ nhện đỏ

Lập phiếu điều tra với các chỉ tiêu:

- Loại thuốc BVTV dùng để phòng trừ nhện đỏ

- Liều lượng của các loại thuốc đã được sử dụng

- Mức độ hỗn hợp của các loại thuốc mà nông dân đã dùng

- Số lần phun thuốc trên vụ và khoảng cách thời gian giữa các lần phun

- Những căn cứ để nông dân lựa chọn thuốc BVTV khi sử dụng

- Kỹ thuật pha thuốc, dụng cụ phun thuốc

Tại mỗi điểm điều tra quan sát kỹ hai mặt lá của cây trồng, thu từng nhóm dịch hại riêng biệt để tiện cho việc xử lí mẫu

• Mức độ phổ biến được xác định dựa trên công thức:

Mức độ phổ biến (%) = Tổng số lá điều tra Số lá có nhện hại x100

>75% : rất phổ biến (++++) 50-75% : phổ biến (+++) 25-50% : it phổ biến (++)

Trang 37

<25% : rất ít (+)

- Dựa vào việc điều tra thành phần nhện đỏ hai chấm thu được Tiến hành điều tra diễn biến mật độ 7 ngày/ lần Điều tra trên 10 điểm theo đường chéo, mỗi điểm lấy ngẫu nhiên 10 lá trên 5 cây liên tiếp khi cây còn non Khi cây đã lớn mỗi điểm thu 10 lá (theo 3 tầng gồm lá non, lá bánh tẻ và là già) về phòng đếm toàn bộ số nhện di động dưới kính hiển vi soi nổi, trường hợp mật độ nhện quá cao, đếm ¼ lá rồi nhân 4

• Mật độ nhện được xác định dựa trên công thức:

Mật độ (con/lá) = Tổng số nhện thu được Tổng số lá điều tra

3.4.3 Phương pháp trồng cây đậu cove

- Làm đất: Làm nhỏ đất, cho đất vào bầu nilon được đặt trong chậu

- Gieo hạt: Tiến hành gieo hạt đậu cove 3-4 hạt vào bầu, phủ lên mặt một lớp đất mịn, sau 14-15 ngày cây đậu có khoảng 2 lá thật để tiến hành thí nghiệm Nguồn nhện đỏ sẽ được nuôi trực tiếp trên cây đậu sạch, đặt trên khay nước và trong lồng lưới để cách ly với dịch hại và thiên địch bên ngoài

- Phải có đủ lượng cây ký chủ cần thiết trong quá trình nuôi Trong lồng cách ly, cây đậu được trồng trong bầu, toàn bộ các khay đủ nước, đảm bảo độ

ẩm cho đất vì tưới nước có thể ảnh hưởng đến quần thể nhện đỏ

3.4.4 Phương pháp nuôi nhện đỏ hai chấm

Nhện đỏ Tetranychus urticae Koch được nuôi quần thể trên cây đậu cove Khi cây được 2 lá thật (sau gieo hạt khoảng 14 ngày), tiến hành lây nguồn nhện hai chấm thu trên cây rau ngoài đồng ruộng lên cây, đến khi cây sắp chết tiến hành cho cây mới sạch để duy trì nguồn nhện đỏ Cách ly cây đã lây nhiễm trong lồng cách ly để tạo môi trường không lẫn các loài khác nhất là nhện bắt mồi

Trang 38

Hình 3.2 Cây đậu cove nhân nguồn nhện đỏ hai chấm trong phòng thí

nghiệm 3.4.5 Phương pháp xác định hiệu lực thuốc và tính kháng thuốc BVTV đối

v ới nhện đỏ hai chấm

Thí nghiệm thử độc tính của thuốc BVTV trên nhện cái trưởng thành được thực hiện theo phương pháp của Khajehali & cs (2011) 20 nhện cái trưởng thành được chuyển lên mặt trên của đĩa lá đậu cove hình vuông đặt trên bông ướt, sau đó đĩa lá được phun trong tháp phun thuốc BVTV Potter (Burckard Manufacturing, Rickmansworth, Vương quốc Anh) với lượng nước thuốc 2 mL/ đĩa lá ở áp suất 1 Bar Sau khi phun, các đĩa đã xử lý được chuyển vào tủ định

ôn và giữ ở 27 ± 0,5 ° C và 75% RH với chu kỳ quang L16: D8 Tỷ lệ tử vong được đánh giá sau 24 giờ đối với thử nghiệm sinh học trưởng thành Những cá thể không thể di chuyển khi chạm bằng bút lông mịn dưới kính hiển vi soi nổi được coi là đã chết Các đĩa đối chứng được phun nước lọc và tỷ lệ chết quan sát được luôn thấp hơn 10% Liều khuyến cáo (FD), ¼ FD, ½ FD, FD, 2xFD và 4xFD được sử dụng cho tất cả các loại thuốc BVTV như mô tả của Khajehali &

cs (2011) Mỗi nồng độ được lặp lại 4 lần Tỷ lệ tử vong được hiệu chỉnh bằng cách sử dụng công thức của Abbott Các nòi được phân loại là kháng thuốc nếu

Trang 39

tỷ lệ tử vong quan sát được thấp hơn 50% ở liều khuyến cáo; kháng vừa khi tỷ lệ

tử vong quan sát được thấp hơn 50% ở liều gấp 2 lần liều khuyến cáo (2FD) và kháng cao khi tỷ lệ tử vong quan sát được thấp hơn 50% ở liều gấp 4 lần liều

khuyến cáo (4FD)

Hoạt chất: Propargite, Pyridaben, Chlorfenapyr, Abamectin, Fenbutatin oxide, Bifenthrin, Spirodiclofen, Bifenazate, Cyflumetofen, Amitraz, Etoxazole, Chlorpyrifos Methyl

Lá thí nghiệm dùng lá đậu cove

Các bước thực hiện:

(1) Thu thập nhện trưởng thành từ đồng ruộng

(2) Lá đậu cove sách được lấy từ nguồn cây đậu sạch

(3) Chuẩn bị đĩa Petri có sẵn 1 tấm mút, tẩm nước vào tấm mút cho nồng

độ bão hoà nhưng không để hiện tượng đọng nước Đặt ngửa lá đậu cove hình vuông kích thước 4x4 cm lên tấm mút đã được làm ẩm Dùng các dải giấy ăn được tẩm ướt bọc xung quanh mép lá

Hình 3.3: Đĩa lá thí nghiệm thuốc trên nhện đỏ hai chấm T urticae

(4) Sử dụng kính hiển vi soi nổi và bút lông mềm để chuyển 20 cá thể nhện

cá trưởng thành lên trên mặt của đĩa lá đậu cove đã được xử lý Mỗi công thức được lặp lại 4 lần

(5) Chuẩn bị hoạt chất thử nghiệm Pha hoạt chất thử nghiệm theo tỷ lệ vào nước sạch trong bình hoặc lọ thủy tinh có dung tích khoảng 100 ml và lắc đều Sử dụng nước sạch trong công thức đối chứng

Trang 40

(6) Đĩa lá đã xử lý được phun trong tháp phun thuốc BVTV Potter (Burckard Manufacturing, Rickmansworth, Vương quốc Anh) với lượng nước thuốc 2 ml/ đĩa lá ở áp suất 1 Bar

Hình 3.4 : Tháp phun thuốc BVTV Potter (Burckard Manufacturing,

Rickmansworth, Vương quốc Anh)

(7) Các công thức được để trong tủ định ôn với nhiệt độ 27°C, đĩa Petri phải được để mở

(8) Sử dụng kính hiển soi nổi, đánh giá tỷ lệ tử vong sau 24h Sử dụng bút lông mềm tác động nhẹ lên nhện Nếu nhện không có khả năng di chuyển, cử động, ghi nhận chúng là đã chết

(9) Biểu thị kết quả dưới dạng tỷ lệ phần trăm tỷ lệ tử vong và hiệu chỉnh đối với tỷ lệ tử vong trong công thức đối chứng bằng công thức của Abbott Tỷ

lệ tử vong trong công thức đối trứng nên được ghi lại

• Hiệu lực thuốc được tính được tính toán theo công thức Abbott:

H (%) = Trong đó:

+ H (%) là hiệu lực của thuốc tính theo phần trăm;

+ Ca là số lượng cá thể côn trùng sống ở công thức đối chứng sau xử lý;

Ngày đăng: 11/07/2023, 14:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w