Cùng với việc phát triển chăn nuôi lợn thịt, chăn nuôi lợn nái sinh sản cũng không ngừng tăng trưởng, đặc biệt nhiều trang trại đã nuôi hàng trăm lợn nái ngoại để sản xuất con giống, đây
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA CHĂN NUÔI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
“KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA ĐÀN LỢN NÁI
F1(LANDRACE x YORKSHIRE) PHỐI VỚI ĐỰC DUROC
NUÔI TẠI GIA TRẠI ANH NGUYỄN VĂN TỚI XÃ
LONG HƯNG – HUYỆN VĂN GIANG - TỈNH HƯNG YÊN”
HÀ NỘI – 2022
Formatted: Width: 21 cm, Height: 29.7 cm
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA CHĂN NUÔI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
“KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA ĐÀN LỢN NÁI F1(LANDRACE x YORKSHIRE) PHỐI VỚI ĐỰC DUROC NUÔI TẠI GIA ĐÌNH ANH NGUYỄN VĂN TỚI XÃ
LONG HƯNG – VĂN GIANG – HƯNG YÊN”
Người thực hiện : NGUYỄN ĐÌNH TUẤN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Các số liệu mà tôi thu thập trong quá trình thực tập là do tôi trực tiếp theo dõi, ghi chép và thu thập
Các số liệu thu thập là trung thực, khách quan và chưa được công bố ở bất
kỳ báo cáo nào trước đó
Các trích dẫn trong báo cáo là có nguồn gốc cụ thể rõ ràng, chính xác
Hà Nội, ngày 22 tháng 08 năm 2022
Sinh viên
Nguyễn Đình Tuấn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
PGS.TS Nguyễn Bá Mùi - Bộ môn sinh học - tập tính động vật - Khoa Chăn
nuôi đã hướng dẫn, tận tình giúp đỡ, chỉ bảo cho em nhiều ý kiến quý báu trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Em xin cảm ơn tới các thầy cô là cán bộ giảng dạy trong Khoa Chăn nuôi – Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã truyền đạt kiến thức và giúp đỡ em rất nhiều để em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Em cũng gửi tới toàn thể công nhân viên của trang trại gia đình anh Nguyễn Văn Tới – Long Hưng – Văn Giang – Hưng Yên và Công ty CP DNA Việt Nam lời cảm ơn chân thành đã hết lòng tạo mọi điều kiện giúp em hoàn thành đợt thực tập và hoàn thành tốt luận văn
Em xin trân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 22 tháng 08 năm 2022
Sinh viên
Nguyễn Đình Tuấn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii
Phần I MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN DỀ 1
1.2 MỤC DICH – YEU CẦU 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 LAI GIỐNG VA ƯU THẾ LAI 3
2.1.1 Lai giống 3
2.1.2 Ưu thế lai và các yếu tố ảnh hưởng tới ưu thế lai 3
2.2 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn 5
2.2.1 Sự thành thục về tính và thể vóc 6
2.2.2 Chu kỳ động dục 8
2.2.3 Sự điều hòa chu kỳ sinh dục 11
2.2.4 Sự thụ tinh 13
2.2.5 Sinh lý gia súc mang thai 14
2.2.6 Những biến đổi sinh lý chủ yếu của cơ thể mẹ khi có thai 15
2.2.7 Sinh lý quá trình đẻ 16
2.2.8 Một số chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái 17
2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản 20
2.3.1 Yếu tố di truyền 20
Trang 62.3.2 Yếu tố ngoại cảnh 21
2.3.2 Ảnh hưởng của khí hậu 25
2.3.3 Tuổi và khối lượng phối giống ban đầu 26
2.3.4 Lứa đẻ 26
2.3.5 Ảnh hưởng của kỹ thuật, phương pháp và phương thức phối giống 26
2.3.6 Ảnh hưởng của thời gian nuôi con và số con để nuôi 26
2.3.7 Ảnh hưởng của nuôi dưỡng chăm sóc 27
2.3.8 Yếu tố bệnh tật 27
2.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 27
2.4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 27
2.4.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 29
Phần IIIĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
3.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 31
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 31
3.1.2 Thời gian nghiên cứu 31
3.1.3 Địa điểm 31
3.2 Nội dung nghiên cứu 31
3.2.1 Tình hình chăn nuôi, chế độ nuôi dưỡng và vệ sinh phòng bệnh 31
3.2.2 Khả năng sinh sản của lợn nái ở mỗi lứa 31
3.2.3 Xác định tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa 32
3.2.4 Xác định một số dịch bệnh trên đàn lợn nái và lợn con theo mẹ 32
3.3 Phương pháp nghiên cứu 32
3.3.1 Thu thập số liệu 32
3.3.2 Phương pháp xử lý số liệu 33
Phần IVKẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34
4.1 Tình hình chăn nuôi của trại 34
4.1.1 Một số nét khái quát về trại chăn nuôi 34
4.1.2 Hoạt động chăn nuôi của trại 34
Trang 74.2 Năng suất sinh sản của đàn lợn nái 34
4.2.1 Đặc điểm sinh lý sinh dục của đàn lợn nái nuôi tại trang trại 34
4.3 Năng suất sinh sản của của đàn lợn nái F1 (L x Y) phối với đực Duroc nuôi tại trang trại 38
4.3.1 Năng suất sinh sản chung 38
4.3.2 Năng suất sinh sản của nái F1 (L x Y) phối với đực Duroc qua các lứa đẻ 43
4.4 Xác định tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa 46
4.5 Xác định một số dịch bệnh trên đàn lợn nái và lợn con theo mẹ 48
4.6 Tình hình chăn nuôi, chế độ nuôi dưỡng và vệ sinh phòng bệnh 49
4.6.1 Tình hình chăn nuôi 49
4.6.2 Quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng 49
4.6.3 Quy trình phòng bênh 56
Phần V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 59
5.1 Kết luận 59
5.1.1 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của nái lai F1 (L x Y) 59
5.1.2 Năng suất sinh sản qua các lứa đẻ của nái 59
5.1.3 Đối với các chỉ tiêu về tiêu tốn thưc ăn 60
5.2 Đề nghị 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
PHỤ LỤC 64
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Năng suất sinh sản của một số giống lợn nái (Schimidin, 1980) 21
Bảng 2.2 Hệ số di truyền của một số tính trạng sinh sản (Schmitten, 1988) 21
Bảng 2.3 Thức ăn dành cho lợn nái mang thai (Nguyễn Quế Côi, Nguyễn Thanh Sơn, 2006) 22
Bảng 2.4 Nhu cầu Protein cho lợn nái theo tiêu chí của CP Group 23
Bảng 2.5 Kết quả nghiên cứu trên lợn nái Yorkshire và Landrace (Schmidlin,1996) 30
Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn tại trại trong 3 năm (2019-2021) 34
Bảng 4.2 Một số đặc điểm sinh lý sinh dục của đàn lợn nái 35
Bảng 4.3 Năng suất sinh sản của lợn nái nái 38
Bảng 4.4 Năng suất sinh sản của nái F1 (LxY) phối đực Duroc qua các lứa đẻ 43
Bảng 4.5 Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa (kg) 47
Bảng 4.6 Thức ăn theo thể trạng lợn (đv: kg) 51
Bảng 4.7 Những biểu hiện của lợn nái trước khi đẻ 53
Bảng 4.8 Tỷ lệ pha thuốc sát trùng 56
Bảng 4.9 Lịch sử dụng vacxin trong trang trại 58
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Sự điều hòa của chu kỳ tính của yếu tố thần kinh và thể dịch 13
Trang 10DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Chữ viết tắt nghiwax tiếng Việt
Trang 11và đang chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Từ bao đời nay, con lợn luôn giữ vị trí hàng đầu về tỷ trọng giá trị vật nuôi với chức năng vừa là nguồn cung cấp thực phẩm chủ yếu cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, và là nguồn cung cấp phân bón, tạo điều kiện cho ngành trồng trọt phát triển, chăn nuôi lợn đã góp phần quan trọng trong việc tăng thu nhập cải thiện và nâng cao đời sống của người nông dân
Trong những năm gần đây, để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ thịt lợn ở trong nước và xuất khẩu, xu thế chăn nuôi lợn ở quy mô công nghiệp ở nước ta ngày càng gia tăng và mang lại hiệu quả kinh tế cao, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào nên kinh tế thế giới khi các hiệp định TPP, AFTA,… có hiệu lực Cùng với việc phát triển chăn nuôi lợn thịt, chăn nuôi lợn nái sinh sản cũng không ngừng tăng trưởng, đặc biệt nhiều trang trại đã nuôi hàng trăm lợn nái ngoại để sản xuất con giống, đây thực sự là một cuộc cách mạng về giống lợn ở nước ta, góp phần quan trọng vào việc nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của chăn nuôi lợn trong những năm vừa qua
Chăn nuôi lợn ở nước ta đã có những tiến bộ nhất định nhưng so với tốc
độ phát triển chăn nuôi ở một số nước trong khu vực và thế giới thì ngành chăn nuôi lợn ở nước ta vẫn ở mức độ thấp, năng suất và chất lượng chưa cao bằng nước khác Tốc độ tăng trưởng của ngành trong thời gian qua luôn thuộc nhóm cao trong khu vực nông nghiệp, bình quân duy trì ở mức 5-6%/năm, góp phần
Trang 12giữ mức tăng trưởng chung cho ngành nông nghiệp, đáp ứng cơ bản nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng trong nước và bước đầu có xuất khẩu
Để phug hợp hơn với hội nhập, ngành chăn nuôi lợn không những được
mở rộng về quy mô sản xuất và chất lượng sản phẩm cũng không ngừng cải thiện Điều này là do đàn lợn hướng nạc ngoại nhập ngày càng phát triển đặc biệt là những giống có tỷ lệ nạc cao và năng suất sinh sản tốt như Duroc, Landrace, Yorkshire,… các giống này phục vụ cho việc nhân giống thuần chủng các giống ngoại đưa vào nước ta, lai kinh tế hơn lợn nội, hay cho lai với nhau để tạo con lai hai, ba máu, tạo đàn nái hạt nhân tốt phù hợp với điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ở nước ta đồng thời đáp ứng nhu cầu của người chăn nuôi( khả năng sinh sản cao, tỷ lệ nạc cao, tốc độ tăng trưởng nhanh,…) nâng cao chất lượng con giống thịt , trong đó lợn nái F1( Landrace x Yorkshire ) rất được chú trọng
Với mục đích nâng cao năng xuất sinh sản của đàn lợn nái đồng thời bổ sung vào các tài liệu nghiên cứu về lĩnh vực sinh sản của giống lợn hướng nạc chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài : Khả năng sinh sản đàn lợn nái F1( Landrace x Yorkshire ) tại trại anh Nguyễn Văn Tới xã Long Hưng – huyện Văn Giang – tỉnh Hưng Yên
- Theo dõi 30 con nái mỗi nái 6 lứa
- Theo dõi và thu thập đầy đủ và chính xác các số liệu
- Nắm được quy trình nuôi dưỡng chăm sóc và phòng bệnh cho đàn lợn tại trại(quy trình chăm sóc nái đẻ)
Trang 13Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 LAI GIỐNG VÀ ƯU THẾ LAI
2.1.1 Lai giống
Lai giống là cho giao phối giữa những động vật thuộc hai hay nhiều giống khác nhau Lai khác dòng là cho giao phối giữa những động vật thuộc các dòng khác nhau trong cùng một giống Mặc dù lai khác giống xa nhau về huyết thống hơn lai các dòng, song hiệu ứng di truyền của cả hai kiểu lai lại tương tự nhau (Nguyễn Hải Quân và cộng sự, 1995)
Lai giống làm cho tần số kiểu gen đồng hợp tử ở thế hệ sau giảm đi, còn tần số kiểu gen dị hợp tử ở thế hệ sau tăng lên
Lai giống là phương pháp chủ yếu nhằm khai thác biến đổi di truyền của quần thể gia súc Lai giống có những ưu việt vì con lai thường có ưu thế lai đối với một số tính trạng nhất định
2.1.2 Ưu thế lai và các yếu tố ảnh hưởng tới ưu thế lai
Ưu thế lai hoàn toàn ngược lại với suy thoái cận huyết và sự suy giảm sức sống do cận huyết được khắc phục trở lại khi lai giống
Mức độ ưu thế lai của một tính trạng được tính theo công thức
H (%) =
) ( 2 / 1
) ( 2 / 1 ) (
2 / 1
B A
B A BA
AB
+
+
− +
x 100
Trang 14Trong đó:
H(%): Ưu thế lai
AB: Gía trị kiểu hình của con lai bố A mẹ B
BA: Giá trị kiểu hình của con lai bố B mẹ A
A: Giá trị kiểu hình của giống (dòng) A
B: Gía trị kiểu hình của giống (dòng) B
Cơ sở của ưu thế lai chưa hoàn toàn rõ ràng song có một số giải thích về hiện tượng này
Thuyết tập trung các gen trội có lợi: Các nhân tố di truyền tác động có lợi lên sự sinh trưởng và sức sản xuất là trội không hoàn toàn, còn những nhân tố tác động bất lợi lên những tính trạng này là gen lặn Cho nên khi các cá thể lai với nhau, đời sau sẽ tập hợp được nhiều gen trội có lợi hơn dẫn đến ưu thế lai
Thuyết dị hợp và siêu trội: Người ta cho rằng các alen khác nhau của cùng một locut vốn sẵn có đối với cơ thể lai dị hợp là quan trọng đối với các quá trình tổng hợp hóa sinh khác nhau và tốt hơn so với các alen đồng hợp, đồng thời đảm bảo tính đa dạng cần thiết cho các chức năng sinh lý trong sự phát triển của cơ thể
+ Giả thiết siêu trội theo Shull (1914) là sự phát triển tiếp nối của thuyết
dị hợp Theo thuyết này, tương tác giữa các alen ở trạng thái dị hợp mạnh hơn với các alen ở trạng thái đồng hợp, kết quả là hiệu ứng ưu thế lai ở con lai lớn hơn tất cả các hiệu ứng của alen ở cả hai bố mẹ (Nguyễn Thiện và CS,2000)
- Tương tác gen: Cho rằng lai giống đã hình thành lên các tổ hợp gen mới trong đó có tác động tương hỗ giữa các alen không cùng locus là nguyên nhân tạo ra ưu thế lai
2.1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới ưu thế lai
- Tổ hợp lai: Ưu thế lai là đặc trưng cho mỗi tổ hợp lai, mức độ ưu thế lai đạt được có tính cách riêng biệt cho từng cặp lai cụ thể Ưu thế lai của mẹ có lợi cho đời con, ảnh hưởng tới số con trên ổ và tốc độ sinh trưởng của đàn con Ưu thế lai của bố thể hiện tính hăng của con đực, kết quả phối giống, tỷ lệ thụ thai
Trang 15Ưu thế lai cá thể ảnh hưởng tới sinh trưởng và sức sống của lợn con, đặc biệt ở giai đoạn sau cai sữa Khi lai hai giống, số lợn con cai sữa/ nái/ năm tăng 5 - 10%, khi lai ba giống hoặc lai trở ngược số lợn con cai sữa/ nái/ năm tăng tới 10
- 15%, số con cai sữa/ ổ nhiều hơn 1 – 1,5 con và khối lượng cai sữa/con tăng 1kg ở 28 ngày tuổi so với giống thuần (Colin, 1998)
Tính trạng
Ưu thế lai phụ thuộc vào tính trạng, có những tính trạng có khả năng di truyền cao nhưng cũng có những tính trạng có khả năng di truyền thấp Những tính trạng liên quan đến khả năng nuôi sống và khả năng sinh sản có ưu thế lai cao nhất Các tính trạng có hệ số di truyền thấp thường có ưu thế lai cao, vì vậy
để cải tiến các tính trạng này, so với chọn lọc, lai giống là một biện pháp nhanh hơn, hiệu quả hơn
Một số tính trạng ở lợn có ưu thế lai khác nhau; số con đẻ ra/ổ có ưu thế lai cá thể là 2%, ưu thế lai của mẹ là 8%; số con cai sữa có ưu thế lai cá thể 9%,
ưu thế lai của mẹ là 11%; khối lượng cả ổ ở 21 ngày tuổi có ưu thế lai cá thể 12%; ưu thế lai của mẹ 18% (Richard, 2000)[73]
Sự khác biệt giữa bố và mẹ
Ưu thế lai phụ thuộc vào sự khác biệt giữa hai giống đem lai, hai giống càng khác biệt với nhau về di truyền bao nhiêu thì ưu thế lai thu được khi lai giữa chúng càng lớn bấy nhiêu Lasley (1974)[17] cho biết: nếu các giống hay các dòng đồng hợp
tử đối với một tính trạng nào đó thì mức dị hợp tử cao nhất ở F1, với sự phân li của các gen trong các thế hệ sau mức độ dị hợp tử sẽ giảm dần
Các giống càng xa nhau về điều kiện địa lý thì ưu thế lai càng cao Ưu thế lai của một tính trạng nhất định phụ thuộc đáng kể vào ngoại cảnh Có nhiều yếu
tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến gia súc, cũng như ảnh hưởng đến biểu hiện của ưu thế lai
2.2 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ, SINH DỤC CỦA LỢN
Đặc điểm sinh lý sinh dục đặc trưng riêng cho từng loài từng giống và có
Trang 16tính ổn định Đặc điểm này được duy trì và luôn được củng cố hoàn thiện qua các thế hệ thông qua chọn lọc, chịu sự chi phối của cả yếu tố ngoại cảnh và di truyền
2.2.1 Sự thành thục về tính và thể vóc
2.2.1.1 Sự thành thục về tính
Sự thành thục về tính là khi con vật có đầy đủ biểu hiện về động dục, nếu được phối giống sẽ thụ thai và đẻ con Tuy nhiên lần động dục này chỉ báo hiệu cho khả năng có thể sinh sản của lợn cái
Biểu hiện của lợn cái khi thành thục về tính :
+ Cơ thể đã phát triển đầy đủ, bộ máy sinh dục tương đối hoàn thiện, con cái xuất hiện chu kì động dục lần đầu, con đực sinh tinh Lúc này, tinh trùng trứng gặp nhau có khả năng thụ thai
+ Xuất hiện các đặc điểm sinh dục thứ cấp : bẹ vú phát triển và lộ rõ hai hàng vú, âm hộ to lên hồng hào
+ Xuất hiện các phản xạ sinh dục : lợn có biểu hiện nhảy cưỡi lên lưng nhau, con cái động dục, con đực có phản xạ giao phối
Ở lợn cái có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự thành thục về tính như : giống, chế độ dinh dưỡng, khí hậu, chuồng trại,…
+ Giống : Ở lợn lai tuổi động dục đầu tiên muộn hơn so với lợn nội thuần,
ở lợn nội thường từ 4 – 5 tháng tuổi (120 – 150 ngày), ở lợn ngoại(180 – 210 ngày) theo Võ Trọng Hốt và cs (2000) Thời điểm rụng trứng lần đầu tiên sảy ra vào lúc 3 – 4 tháng tuổi đối với các giống lợn thành thục sớm (lợn nội và một số giống lợn Trung Quốc) và 6 – 7 tháng tuổi đối với hầu hết các giống lơn phổ biến ở các nước phát triển (Rothschild và Bidanel, 1998) Kết quả nghiên cứu của Phùng Thị Vân và cs (1998) cho biết, lợn Landrace có tuổi thành thục về tính là 213,1 ngày, lợn Yorkshire là 219,4 ngày
+ Chế độ dinh dưỡng : có ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn cái Thường những lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổi thành
Trang 17thục về tính sớm hơn những lợn được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém Theo Gurger (1972) lợn cái được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng tốt sẽ thành thục ở độ tuổi trung bình 188,5 ngày (6 tháng tuổi) với khối lượng cơ thể là 80kg và nếu là hạn chế thức ăn thì thành thục về tính sẽ xuất hiện lúc 234,8 ngày tuổi (trên 7 tháng tuổi) với khối lượng cơ thể 48,4kg
Theo Nguyễn Tuấn Anh (1998) để duy trì năng suất sinh sản cao thì nhu cầu dinh dưỡng đối với cái hậu bị cần chú ý đến cách cho ăn hạn chế đến lúc phối giống (chu kỳ động dục thứ 2 hoặc thứ 3) là 2kg/con/ngày (khẩu phần 14% Protein) Điều chỉnh thức ăn để khối lượng đạt 120 – 140kg ở chu kỳ động dục thứ 3 và phối giống, trước khi phối giống 14 ngày phải tăng lượng thức ăn 1 – 1,5kg có bổ sung khoáng và vitamin giúp cho lợn nái ăn được nhiều, nhằm tăng
số trứng rụng Sau khi phối giống cần thay đổi chế độ ăn, chuyển chế độ ăn ở mức cao vào giai đoạn chửa đầu kỳ thì tỷ lệ chết phôi cao hạn chế số con đẻ ra trên ổ
Nước uống : nhu cầu nước uống đối với lợn nái chửa mỗi ngày cần 9 – 15 lít nước và thải 4 – 5 lít, nước nên cho uống tự do
+ Mùa vụ và thời gian chiếu sáng : Mùa vụ là một trong những yếu tố làm ảnh hưởng rõ rệt tới thành thục về sinh dục Theo Lê Xuân Cương (1986) ở mùa
hè, lợn cái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa đông Điều này có thể do mùa hè nhiệt độ nóng ảnh hưởng trực tiếp đến nhiệt độ chuồng nuôi, nhiệt độ mùa hè cao, độ dài ngày giảm làm ảnh hưởng đến mức tăng trọng, nhiệt độ quá thấp hoặc quá cao đều ảnh hưởng tới thành thục về tính của lợn Vì vậy cần phải
có biện pháp điều hòa thời gian chiếu sáng trong ngày thích hợp là 12 giờ bằng ánh sáng tự nhiên hay nhân tạo sẽ làm cho lợn cái động dục sớm hơm so với những con lợn có thời gian chiếu sáng thấp hơn trong ngày
+ Mật độ nuôi nhốt : Mật độ nuôi nhốt đông trên một diện tích trong suốt thời gian phát triển sẽ làm chậm tuổi động dục Nhưng cần tránh nuôi cái hậu bị tách biệt đàn trong thời kì phát triển Kết quả nghiên cứu cho thấy việc nuôi nhốt cái hậu bị riêng từng cá thể sẽ làm chậm lại thành thục tính dục so với lợn cái
Trang 18được nuôi nhốt theo nhóm
+ Ảnh hưởng của lợn đực : Lợn cái hậu bị thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc rất nhiều vào con đực với các yếu tố ảnh hưởng như : tuổi con đực, số lần tiếp xúc và thời gian tiếp xúc
Theo nghiên cứu của Hughes (1975), những lợn đực dưới 10 tháng tuổi không có tác dục trong việc kích thích phát triển động dục, bởi vì với những lợn đực còn non chưa tiết feromon, đây là thành phần cần thiết trong tuyến nước bọt của con đực (3 – α androsterol) được truyền trực tiếp cho con cái qua đường miệng Nhưng nếu chỉ có feromon mà không thấy có mặt của lợn đực thì tác dụng kích thích tương đối thấp
Theo Hughes và James (1996), lợn cái hậu bị đạt 90kg thể trọng trở lên ở
165 ngày tuổi cho tiếp xúc 2 lần/ngày với lợn đực, mỗi lần 15 – 20 phút thì tới 83% lợn cái động dục lần đầu
2.2.1.2 Sự thành thục về thể vóc
Khi đã thành thục về tính con vật vẫn tiếp tục sinh trưởng, phát triển để hoàn thiện về thể vóc Hoàn thiện về thể vóc là tuổi mà con vật đã có sự phát triển hoàn thiện về ngoại hình, xương đã được cốt hoá hoàn toàn, tầm vóc ổn định đây mới là thời điểm tốt nhất để con vật thực hiện các hoạt động sinh sản
Tuổi thành thục về thể vóc bao giờ cũng muộn hơn tuổi thành thục về tính Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục đầu tiên Lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn còn tiếp tục, trong giai đoạn lợn thành thục về tính mà ta cho giao phối ngay sẽ không tốt Vì lợn mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể mẹ chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt, nên chất lượng đời con kém Đồng thời cơ quan sinh dục, đặc biệt là xương chậu vẫn còn hẹp nên dễ gây hiện tượng khó đẻ Điều này ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này
2.2.2 Chu kỳ động dục
Chu kỳ động dục đươc bắt đầu từ khi lợn cái thành thục về tính, nó tiếp
Trang 19tục xuất hiện và chấm dứt hoàn toàn khi cơ thể già yếu Khi cơ thể thành thục về tính thì xuất hiện hiện tượng động dục, hiện tượng này được lặp đi lặp lại sau một thời gian nhất định gọi là chu kỳ động dục Một thời kỳ động dục thường kéo dài 20 – 22 ngày, nhưng có thể xê dịch trong phạm vi 18 – 25 ngày, trung bình là 21 ngày Theo Diehl và cs (1998), chu kỳ động dục là một quá trình sinh
lý phức tạp sau khi toàn bộ cơ thể đã phát triển hoàn hảo, không có thai và cơ thể không bị bệnh lý, thì cứ sau một khoảng thời gian nhất định tính từ ngày đầu tiên của lần động dục trước đến lần động dục sau có những biểu hiện:
Cơ thể nhất là cơ quan sinh dục của con cái có biến đổi như âm hộ, âm đạo, tử cung xung huyết, các tuyến sinh dục tăng cường hoạt động niêm dịch đường sinh dục được phân tiết con cái có phản xạ tính dục
Chu kì động dục của lợn cái được điều khiển bởi thần kinh và hormone của vùng dưới đồi tuyến yên Bên trong buồng trứng có quá trình noãn bào thành thục, chin và rụng Có thể nói, chu kì động dục chính là khoảng thời gian giữa hai kỳ rụng trứng lien tiếp Mỗi lần xuất hiện trứng rụng thì toàn bộ cơ thể nói chung và đặc biệt cơ quan sinh dục phát sinh hàng loạt các biến đổi hình thái, cấu tạo và chức năng sinh lý Những biến đổi đó lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ nên gọi là chu kỳ tính Một chu kỳ tính thường trải qua 4 giai đoạn:
- Giai đoạn trước động dục: Kéo dài 2 – 3 ngày là khoảng thời gian từ khi thể vàng của chu kỳ trước tiêu biến đến khi gia súc bắt đầu xuất hiện động dục ở chu kỳ tiếp theo Dưới tác dụng kích thích của FSH thì tế bào trứng phát triển và phân chia, sinh trưởng Khi các tế bào trứng sinh trưởng nó tiết oestrogen kích thích cơ quan sinh dục cái phát triển, vách ống dẫn trứng, nhung mao, màng nhày tử cung, âm đạo tăng sinh và tăng cung cấp máu, chuổn bị sẵn sang đón hợp tử Tử cung, âm đạo, âm hộ bắt đầu xung huyết Dưới tác dụng của FSH làm trứng sinh trưởng chín, nổi cộm lên bề mặt buồng trứng Biểu hiện bên ngoài: âm môn hơi bóng mọng, bỏ ăn, hay kêu rống, đái dắt, cổ tử cung hé mở nhưng chưa chịu đực
Trang 20- Giai đoạn động dục: kéo dài 2 – 3 ngày, gồm 3 thời kỳ liên tiếp: hưng phấn, chịu đực và hết chịu đực Dưới tác dụng của LH, tế bào trứng chín rụng, tiết ostrogen làm thần kinh con vật hưng phấn cao độ Lúc này lượng Ostrogen tiết ra đạt mức cao nhất là 120mg% trong khi mức bình thường là 64mg% Các biến đổi của cơ quan sinh dục rõ rệt nhất, con vật hưng phấn: đứng nằm không yên, phá chuồng, ăn uống giảm, kêu rít, đứng trong trạng thái ngẩn ngơ, thích gần đực, khi gần đực đứng ở tư thế sẵn sàng chịu đực: đuôi cong lệch sang một bên, hai chân sau dạng ra hơi khụy xuống Phối ở giai đoạn này sẽ cho tỷ lệ thụ thai cao
Sau khi động dục 24 – 30h thì trứng rụng, thời gian rụng trứng kéo dài 10 – 15h, vì vậy nên phối hai lần để tăng tỷ lệ thụ thai
Tùy theo giống lợn mà thời gian rụng trứng dài hay ngắn, trung bình 6 – 8h, ở lợn cái hậu bị thì có thể 10h Ở lợn trưởng thành số trứng rụng trong một chu kỳ động dục là 15 – 25 trứng, còn ở lợn hậu bị là 8 – 14 trứng Tuy nhiên trứng rụng nhiều hay ít còn phụ thuộc vào giống, tuổi, nồng độ GnRH (thích hợp LH/FSH là 3/1) có trong máu và chế độ dinh dưỡng
- Giai đoạn sau động dục: kéo dài 3 – 4 ngày Sau khi trứng rụng trên buồng trứng hình thành xoang máu, LH kích thích tế bào hạt chứa sắc tố vàng, thể vàng dần được hình thành Khi hình thành thể vàng tiết Progesterone ức chế GnRH làm trứng không sinh trưởng, chín và rụng Progesterone ức chế thần kinh con vật từ trạng thái hưng phấn sang ức chế, trầm tĩnh Lúc này toàn bộ cơ thể nói chung và cơ quan sinh dục nói riêng dần trở lại trạng thái sinh lý bình thường
- Giai đoạn yên tĩnh: chiếm phần lớn thời gian kéo dài 12 – 14 ngày Các biểu hiện về tính của gia súc yên tĩnh hoàn toàn Trong buồng trứng sau khi trứng rụng 14 ngày, tử cung tiết gây co mạch nuôi thể vàng và sẽ tiêu hủy trong 24h, lượng progesterone giảm dần không ức chế tiết FSH và LH Sự phát dục của noãn bào bắt đầu nhưng chưa nổi rõ lên bề mặt buồng trứng
Trang 21Trong suốt quá trình động dục nếu trứng rụng thì thể vàng tồn tại suốt 2/3 thời gian gia súc mang thai và tiết ra hormone progesterone có tác dụng an thai,
ức chế quá trình rụng trứng Ở thời gian nuôi con dưới tác dụng của prolactin, oxytocin, progesterone làm cho quá trình rụng trứng bị trì trệ cho nên hiện tượng động dục không xảy ra, thường thì sau khi cai sữa thì chu kỳ tính dần được hồi phục và xuất hiện trở lại sau khi cai sữa 5 - 8 ngày Nếu sau khi rụng trứng mà không thụ tinh được thì thể vàng tồn tại từ 3 - 5 ngày sau đó teo đi ngưng tiết progesterone sau đó trứng tiếp tục phát triển chín và rụng theo chu kỳ
Trong chăn nuôi, chúng ta cần quan tâm đến chu kỳ động dục mà từ đó phát hiện chính xác thời điểm phối giống thích hợp Trong suốt quá trình trứng chín và rụng kéo dài từ 10 - 15 giờ, trứng có thời gian sống và kết hợp với tinh trùng để hình thành hợp tử trước 6 - 8 giờ sau khi trứng rụng ở 1/3 đầu phía trên của ống dẫn trứng Vì thế, nếu phối giống sớm thì tinh trùng sẽ yếu khi gặp trứng cho tỷ lệ thụ thai không cao và ngược lại Hiện nay người chăn nuôi thường áp dụng phương pháp phối nhiều lần, nhất là trong thụ tinh nhân tạo, lần trước cách lần sau khoảng 12 giờ và có thể phối tới 3 lần cho một lợn nái khi động dục nhất, là đối với lợn ngoại Bằng cách này không chỉ làm tăng tỷ lệ thụ thai từ 5 – 8% mà có thể tăng được khoảng 0,4 con/lứa (ITP, 2000)
2.2.3 Sự điều hòa chu kỳ sinh dục
Hoạt động của chu kỳ này phụ thuộc vào sự điều tiết của các hormone quan trọng nhất là FSH (Follicle Stimulating Hormone) và LH (Luteinizing Hormone) FSH kích thích sự phát triển của buồng trứng còn LH kích thích quá trình rụng trứng Hai hormone này phải có tỷ lệ nhất định mới có thể đảmbảo được cho quá trình chin và rụng trứng diễn ra tốt nhất Trong quá trình bao noãn phát dục và thành thục, tế bào hạt thượng bì bao noãn tiết ra oestrogen chứa đầy trong xoang bao noãn Hàm lượng này trong máu tăng từ 64 – 112 mg% nó kích thích con vật gây hiện tượng động dục Đồng thời dưới tác động của hormone,
cơ quan sinh dục dần biến đổi, tử cung, âm đạo hé mở, sừng tử cung, ống dẫn
Trang 22trứng tăng sinh tạo điều kiện cho sự làm tổ của hợp tử sau này Cuối chu kỳ động dục, oestrogen lại kích thích tuyến yên tiết LH, giảm FSH Khi LH được tiết ra nó kích thích trứng chín và rụng Tại vị trí rụng trứng, mạch quản và tế bào sắc tố vàng phát triển tạo thể vàng Thể vàng tiết progesterone giúp quá trình tiếp nhận hợp tử ở sừng tử cung, đồng thời ức chế tiết FSH và LH của tuyến yên cho trứng không phát triển được
Thời gian mỗi lần rụng trứng thong thường kéo dài 4 – 6 giờ, ở lợn hậu bị kéo dài tới 10 giờ Trứng rụng không được thụ tinh đến ngày thứ 15 thì thể vàng
bị tiêu biến chuyển sang thể bạch, lúc này không tiết progesterone nữa và một chu kỳ mới bắt đầu
Trang 23Sự thụ tinh là sự đồng hóa giữa trứng và tinh trùng tạo thành hợp tử (2n)
có khả năng gián phân liên tiếp tạo thành phôi Kết quả là sự tổ hợp gen từ 2 nguồn khác
Sự thụ tinh gồm 3 giai đoạn : phá màng phóng xạ, phá màng trong suốt, phá màng noãn hoàng và đồng hóa nhân trứng và tinh
Sừng tử cung Tuyến sữa
Prostaglandin
Trang 242.2.5 Sinh lý gia súc mang thai
Thời gian mang thai của lợn nái từ 113 – 116, trung bình 114 ngày Thời gian này có thể chia làm ba giai đoạn như sau:
Thời kỳ phôi thai (1 – 22 ngày): đây là thời kỳ phát dục mạnh của bào thai Tinh trùng sau khi gặp trứng lần lượt tiết men hyaluronilaza, zolalizin, muraminindaza để phá vỡ màng phóng xạ, màng trong suốt và màng noãn hoàn của tế bào trứng Có rất nhiều tinh trùng tiếp cận được với trứng nhưng chỉ có duy nhất một tinh trùng chui vào bên trong, kết hợp với nhân tế bào trứng hình thành hợp tử Sau khi thụ tinh 1 – 3 ngày hợp tử sẽ chuyển dần vào 2 bên sừng
tử cung và làm tổ ở đó Mầm thai được hình thành sau 3 – 4 ngày, lúc đầu mầm thai lấy chất dinh dưỡng từ noãn hoàn và tinh trùng sau đó mầm thai lấy chất dinh dưỡng qua màng bằng phương pháp thẩm thấu, túi phôi được hình thành sau 5 – 6 ngày
Màng ối được hình thành sau khi thụ tinh 6 – 7 ngày, nó chứa một dịch lỏng lớn giúp bào thai nằm thoải mái, đệm đỡ cho bào thai không bị va chạm với
cơ quan xung quanh, giúp cho quá trình sinh đẻ dễ dàng và là nguồn dinh dưỡng cho phôi vì trong dịch chứa: Protein, đường, mỡ, các muối…
Màng đệm hình thành sau khoảng 10 ngày, màng đệm có nhiều lông nhung để lấy chất dinh dưỡng từ mẹ sang cho phôi Cuối thời kỳ này trong lượng của phôi đạt 1 – 2g, thời kỳ này dễ bị tiêu thai do nhiều nguyên nhân: thức
ăn ôi mốc, ngộ độc hóa chất, khí hậu thời tiết… Mặt khác sự kết hợp giữa mẹ và con chưa chắc chắn nên rất dễ bị xảy thai
Thời kỳ này chủ yếu là hình thành các nang, ở cuối kỳ hình dáng đầu được hình thành, tim, gan cũng được hình thành
Thời kỳ tiền thai (bắt đầu từ ngày 23 – 39): nhau thai được hình thành ở thời
kỳ này Sự kết hợp giữa cơ thể mẹ và cơ thể con chặt chẽ, khăng khít hơn Hình thành và bắt đầu hoàn thiện các cơ quan bộ phận trong cơ thể (hệ thần kinh, cơ quan sinh dục, sụn, cơ ) Đến cuối thời kỳ này đã tương đối phát dục xong trọng lượng
Trang 25tăng nhanh Đến ngày 30 trọng lượng đạt 3gam, ngày 39 đạt tới 6 gam, chất dinh dưỡng chủ yếu lấy từ mẹ
Thời kỳ bào thai (từ ngày 40 – 114): thời kỳ này sự trao đổi chất diễn ra mãnh liệt, hình thành đầy đủ các cơ quan bộ phận như lông, dạ dày, ruột,
Các đặc điểm của giống được hình thành đầy đủ, nhất là 30 ngày trước khi sinh Đến cuối thời kỳ này trọng lượng bào thai tăng gấp 600 – 1300 lần, lợn ngoại đạt 1300g – 1400g/thai, lợn nội đạt 500g – 600g/thai
2.2.6 Những biến đổi sinh lý chủ yếu của cơ thể mẹ khi có thai
2.2.6.1 Những thay đổi của cơ thể mẹ
Khi gia súc có thai, kích tố của thể vàng và nhau thai làm thay đổi cơ năng hoạt động một số tuyến nội tiết khác Thời kỳ đầu có thai lợn ăn uống tốt, quá trình trao đổi chất tăng nên lợn thường béo và mượt lông hơn khi chưa có thai Khi có thai thời kỳ cuối, thai phát triển mạnh, nhu cầu cung cấp dinh dưỡng cao, do đó nếu chăm sóc kém, khẩu phần ăn của lợn không đảm bảo đầy đủ đạm, khoáng và các nguyên tố vi lượng, vitamin thì không những bào thai phát triển không bình thường mà sức khoẻ của lợn giảm sút Đặc biệt nếu thiếu Ca và
P nghiêm trọng thì con mẹ bị bại liệt trước khi đẻ, bào thai phát triển mạnh tạo
áp lực xoang chậu,
Tử cung phát triển, niêm mạc tăng sinh dầy lên tuần hoàn máu tăng cường lượng máu đến tử cung nhiều, niêm mạc tử cung hình thành nhau mẹ (Theo Trần Tiến Dũng, 2002) Nhau thai được hình thành giúp trao đổi chất giữa lợn mẹ và thai, tiết hormone Tim đập nhanh, tần số mạch tăng, hô hấp thể ngực tần số tăng đặc biệt thời kỳ chửa cuối do thai to chèn ép cơ hoành Cơ năng tiêu hóa tiết niệu cũng bị ảnh hưởng: táo bón, đái dắt Trong máu hàm lượng Ca, P giảm, số lượng bạch cầu thực bào, kháng thể tự nhiên tăng
2.2.6.2 Sự điều tiết thần kinh thể dịch khi chửa
- Thần kinh: sau khi thụ thai vỏ não hình thành vùng hưng phấn trội tiếp nhận các biến đổi hóa và cơ học từ các thụ quan của tử cung để đảm bảo cung
Trang 26cấp máu, niêm mạc tử cung tăng sinh, tăng tiết dịch Hưng phấn mạnh nhất vào tháng thứ 2 nên lúc này rất dễ xảy thai
- Thể dịch: Progesteron là hormone do thể vàng và nhau thai tiết ra ở lợn Progesteron có tác dụng súc tiến việc làm tổ của hợp tử, kích thích tế bào biểu
mô màng nhày tử cung tiết ra nhiều Glycogen và chất dinh dưỡng cho trứng được thụ tinh dễ cố định và phát triển, giảm co bóp tử cung, thúc đẩy tuyến vú phát triển, ức chế tuyến yên tiết FSH và LH do đó ức chế noãn bao phát triển con vật có chửa sẽ không động dục và thải trứng
Prostaglandin do nhau thai tiết ra ở kỳ chửa cuối có tác dụng phá thể vàng Oestrogen thời kỳ chửa cuối nhau thai tiết ra nhiều Oestrogen có tác dụng tăng sự mẫn cảm của cơ trơn tử cung với Oxytocin Relaxin cũng do nhau thai tiết ra ở kỳ chửa cuối có tác dụng làm giãn dây chằng xương chậu mở cổ tử cung gây đẻ, kết thúc thời kỳ chửa
2.2.7 Sinh lý quá trình đẻ
Đẻ là một quá trình sinh lý phức tạp, khi lợn mẹ kết thúc thời gian mang thai thì cổ tử cung mở kết hợp với sự co bóp của cơ tử cung, cơ thành bụng cùng với sự rặn toàn thân của cơ thể mẹ làm cho thai, màng thai và dịch thai được tống ra ngoài Quá trình sinh đẻ được chia làm 3 thời kỳ:
2.2.7.1 Thời kỳ mở cổ tử cung
Được tính từ khi tử cung có cơn co bóp đầu tiên đến khi cổ tử cung mở
hoàn toàn kéo dài khoảng 2 - 12 giờ
2.2.7.2 Thời kỳ đẻ
Tính từ khi cổ tử cung mở hoàn toàn đến khi thai cuối cùng được đẩy ra ngoài, giai đoạn này kéo dài 1 - 4 giờ Nếu dài quá 6 giờ là hiện tượng không bình thường gây nguy hiểm cho con mẹ và con con nên ta phải kiểm tra can thiệp kịp thời
2.2.7.3 Thời kỳ sổ nhau
Giai đoạn này kéo dài 1 - 4 giờ, nếu dài quá gây hiện tượng sót nhau dẫn đến viêm tử cung
Trang 27Thai phát triển thành thục có khối lượng nhất định một mặt sẽ kích thích
cơ giới và áp lực lên tử cung truyền hưng phấn về vỏ não rồi theo xung động thần kinh truyền tới trung khu sinh dục ở tuỷ sống vùng chậu gây phản xạ đẻ Mặt khác, khi thai thành thục thì quan hệ sinh lý giữa mẹ và thai không còn cần thiết, mối quan hệ này chấm dứt, khi đó thai trở thành một vật lạ trong tử cung
và tất nhiên được đưa ra ngoài bằng động tác đẻ
2.2.8 Một số chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái
Để đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái có thể dùng nhiều chỉ tiêu sinh sản khác nhau Hiện nay có hai nhóm chỉ tiêu chính thường được sử dụng là nhóm chỉ tiêu về đặc điểm sinh lý sinh dục và chỉ tiêu về năng suất sinh sản
2.2.8.1 Nhóm chỉ tiêu về sinh lý sinh dục của lợn nái
*Tuổi động dục lần đầu
Là thời gian từ khi sơ sinh đến khi lợn nái hậu bị động dục lần đầu tiên, tuỳ theo từng giống mà tuổi động dục khác nhau như Yorkshire nhập vào Việt Nam có tuổi động dục lần đầu là 203 - 208 ngày, Landrace có tuổi động dục lần đầu là 208 - 209 ngày
*Tuổi phối giống lần đầu
Thông thường ở lần động dục đầu tiên người ta bỏ qua không phối giống
vì thời điểm này thể vóc phát triển chưa hoàn chỉnh và số lượng trứng rụng lần đầu ít, do đó nên phối giống vào lần động dục thứ 2 hoặc thứ 3 trở đi
*Tuổi đẻ lứa đầu
Thời gian từ khi lợn được sinh ra cho đến khi lợn đẻ lứa đầu Đối với lợn ngoại tuổi đẻ lứa đầu thường muộn hơn lợn nội do tuổi thành thục về tính cũng muộn hơn
*Thời gian mang thai
Thời gian mang thai của lợn là một chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn Thời gian này dao động từ 110 – 117 ngày, trung bình 114 ngày Thời gian mang thai không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như tuổi lợn nái, mùa vụ hoặc giống
Trang 28*Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ
Đây là khoảng thời gian tính từ ngày đẻ lứa trước đến ngày đẻ lứa sau do
đó được tính bằng tổng: thời gian mang thai+ thời gian nuôi con+ thời gian chờ phối đến lúc có chửa
Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ ngắn sẽ làm tăng số lứa đẻ/nái/năm
*Thời gian động dục sau cai sữa
Đây là khoảng thời gian tính từ khi cai sữa đến khi phối giống có chửa, số ngày phối giống có chửa sau khi cai sữa bình thường là 5 - 7 ngày Chỉ tiêu này phụ thuộc vào tỷ lệ hao hụt của lợn nái, trình độ kỹ thuật, chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái nuôi con và lợn nái chờ phối
2.2.8.2 Nhóm chỉ tiêu về năng suất sinh sản của lợn nái
* Số con đẻ ra/ổ
Là tổng số con đẻ ra trên một lứa gồm cả số thai gỗ và số thai chết sau khi
đẻ Chỉ tiêu này đánh giá khả năng mang thai, mức độ sai con của giống
*Số con sơ sinh sống/ổ
Là số con sơ sinh sống đến 24 giờ kể từ khi lợn mẹ đẻ xong con cuối cùng, không tính những con có khối lượng dưới 0,2 kg đối với lợn nội 0,5 kg đối với lợn ngoại
Chỉ tiêu này đánh giá khả năng đẻ nhiều hay ít của lợn nái, kĩ thuật chăm sóc lợn nái chửa, kĩ thuật thụ tinh, chất lượng tinh của đực giống
* Tỷ lệ sơ sinh sống đến 24h sau khi đẻ
Tỷ lệ sơ sinh sống đến 24h sau đẻ được tính như sau
Số con sơ sinh sống đến 24 giờ
Số con đẻ ra
Tỉ lệ này không đảm bảo được 100% do nhiều nguyên nhân như lợn con chết khi đẻ ra, thai gỗ, thai non…
Trang 29*Khối lượng sơ sinh/ổ
Là khối lượng toàn ổ cân được sau khi lợn con sinh ra được lau khô, cắt rốn và chưa bú sữa đầu Chỉ tiêu này cho chúng ta biết được đặc điểm về giống
và khả năng nuôi thai của lợn mẹ
*Khối lượng sơ sinh/con
Là khối lượng từng con sau khi lợn con sinh ra được lau khô, cắt rốn và chưa bú sữa đầu Chỉ tiêu này cho ta biết được khả năng nuôi thai cũng như mức
độ đồng đều của lợn sơ sinh
*Số con cai sữa/ổ
Là số con được nuôi sống cho đến khi cai sữa mẹ Thời gian cai sữa dài hay ngắn tuỳ thuộc vào điều kiện của từng cơ sở và thể trạng lợn mẹ Trong thực
tế người ta thường cai sữa khi lợn con được 21 ngày, hoặc 28 ngày tuổi nhưng cũng có thể là ngắn hơn, nhiều nơi cai sữa ở 14 ngày tuổi
Đây là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan trọng phụ thuộc vào khả năng tiết sữa của lợn mẹ, kỹ thuật chăn nuôi lợn con theo mẹ cũng như khả năng hạn chế các yếu tố bệnh tật cho lợn con
Số con sống đến cai sữa
Tỷ lệ nuôi sống (%) = x 100
Số con để lại nuôi
* Khối lượng cai sữa/ổ
Khối lượng của toàn ổ cân lúc cai sữa, chỉ tiêu này đánh giá khả năng nuôi con của lợn mẹ, kỹ thuật chăm sóc lợn nái và lợn con theo mẹ của người chăn nuôi
Trang 30*Khối lượng cai sữa/con
Khối lượng của từng con lúc cai sữa, chỉ tiêu này đánh giá khả năng sinh trưởng của từng con và khả năng nuôi con của lợn mẹ
2.3 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG SUẤT SINH SẢN
Năng suất sinh sản của lợn nái có mối quan hệ chặt chẽ đến hai yếu tố đó
là di truyền và ngoại cảnh Yếu tố di truyền phụ thuộc vào đặc tính của con giống, mỗi giống khác nhau thì tuổi thành thục về tính và sức sản xuất cũng khác nhau Yếu tố về ngoại cảnh bao gồm: thức ăn, thú y, chuồng trại, quy trình chăm sóc,
- Các giống đa dụng như Y, L và một số dòng nguyên chủng được xếp vào loại có khả năng sản xuất thịt và sinh sản khá
- Các giống chuyên dụng "dòng bố" như P, L của Bỉ, Hampshire, Poland China có khả năng sinh sản trung bình nhưng khả năng sản xuất thịt cao
- Các giống chuyên dụng "dòng mẹ", đặc biệt một số giống chuyên sản của Trung Quốc như Taihu (điển hình là Meishan) có khả năng sinh sản đặc biệt cao nhưng khả năng cho thịt kém
- Các giống địa phương có đặc tính chung là khả năng sinh sản và sức sản xuất thịt kém, song có khả năng thích nghi tốt với môi trường
- Các giống "dòng bố" thường có khả năng sinh sản thấp hơn so với các giống đa dụng, ngoài ra chúng có chiều hướng hơi kém về khả năng nuôi con, tỷ
lệ lợn con chết trước khi cai sữa của các giống này cao hơn so với L và Large white (Blasco và cộng sự,1995)
Trang 31Khi nghiên cứu sự ảnh hưởng của giống đến năng suất sinh sản của lợn nái, Schmidlin (1980) đã đưa ra kết quả sau:
Bảng 2.1 Năng suất sinh sản của một số giống lợn nái (Schimidin, 1980)
Chỉ tiêu Số con cai sữa/ổ Số lợn con cai
- Phương pháp nhân giống: Phương pháp nhân giống cũng ảnh hưởng rất
rõ rệt đến năng suất sinh sản của lợn nái Nhân giống gồm có nhân giống thuần chủng và lai giống
- Hệ số di truyền cũng là yếu tố ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của lợn
nái Schmitten (1988) đưa ra hệ số di truyền với các tính trạng sau:
Bảng 2.2 Hệ số di truyền của một số tính trạng sinh sản
Thời gian phối giống lại sau cai sữa 0,20
2.3.2 Yếu tố ngoại cảnh
2.3.2.1 Chế độ dinh dưỡng
Yếu tố quan trọng đối với lợn nái mang thai là phải cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cần thiết cho bào thai và cơ thể mẹ cũng như đảm bảo hiệu quả kinh tế
Trang 32Để đảm bảo khả năng sinh sản của lợn nái thì một trong những yếu tố quan trọng đó là dinh dưỡng Lợn nái và lợn cái hậu bị có chửa cần được cung cấp đủ
về số và chất lượng các chất dinh dưỡng để có kết quả sinh sản tốt
Các mức ăn khác nhau trong giai đoạn từ cai sữa đến phối giống có ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ thai Nuôi dưỡng hạn chế lợn cái trong giai đoạn hậu bị sẽ làm tăng tuổi động dục lần đầu, tăng tỷ lệ loại thải so với nuôi dưỡng đầy đủ Nuôi dưỡng tốt lợn nái trước khi động dục có thể làm tăng số lượng trứng rụng, tăng số phôi sống
Theo Nguyễn Quế Côi, Nguyễn Thanh Sơn (2006), thức ăn dành cho lợn nái mang thai như sau:
Bảng 2.3 Thức ăn dành cho lợn nái mang thai (Nguyễn Quế Côi, Nguyễn
- Nhu cầu Protein
Protein là một trong những chất đóng vai trò quan trọng trong việc tham
ra cấu tạo cơ thể Vì vậy mà lượng protein cung cấp cho lợn nái ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản của nó Nếu thiếu protein lợn nái sẽ chậm động dục, giảm số con/nái/năm, giảm khối lượng sơ sinh, giảm khả năng tiết sữa của lợn
mẹ Ngược lại nếu cung cấp thừa protein trong giai đoạn mang thai sẽ gây lãng phí protein, tăng tỷ lệ chết thai, ô nhiễm môi trường
Trang 33Các phần tử protein được cấu tạo từ nhiều loại axitamin Khi xây dựng khẩu phần ăn cho lợn ta cần phải quan tâm đến sự cân bằng các axit amin không thay thế: Lysine, Threonine, Methionine, Phenyalanine, Histidine, Tryptophane, Leucine, Isoleucine, Valine và Arginine
Bảng 2.4 Nhu cầu Protein cho lợn nái theo tiêu chí của CP Group
Nái Khối lượng lợn (kg) Protein thô (%)
Nhu cầu năng lượng
Năng lượng là yếu tố không thể thiếu trong mọi hoạt động sống của cơ thể
và được cung cấp dưới hai dạng: gluxit chiếm 70 - 80%, lipit chiếm khoảng 13% tổng số năng lượng cung cấp (Vũ Đình Tôn, 2009)
10-Việc cung cấp năng lượng cần cân bằng và phù hợp với nhu cầu từng giai đoạn của lợn nái Nếu nguồn năng lượng cung cấp có sự thiếu hụt thì sẽ ảnh hưởng đến cơ thể con vật Đối với lợn sinh sản sẽ dẫn tới con sinh ra còi cọc, suy dinh dưỡng, sức đề kháng kém, tiêu thai hoặc chết thai Còn nếu năng lượng được cung cấp quá thừa trong thời gian có chửa thì dẫn đến hiện tượng chết phôi, đẻ khó, lợn mẹ sau khi đẻ kém ăn, tỷ lệ hao hụt tăng Đối với lợn đẻ lứa đầu nếu thiếu năng lượng sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển thể vóc sau này, với lợn nái nuôi con thiếu sẽ ảnh hưởng tới lợn con, lợn con còi cọc chậm lớn, lợn
mẹ sau cai sữa chậm động dục trở lại, tỷ lệ thụ thai kém, khoảng cách hai lứa đẻ dài Năng lượng thừa sẽ được dự trữ dưới dạng mỡ làm cho sữa mẹ có hàm lượng mỡ cao dẫn tới lợn con dễ mắc bệnh đường ruột
Nhu cầu khoáng chất
Trong cơ thể lợn khoáng chất chiếm 3% trong đó có tới 75% là canxi và photpho, xấp xỉ 25% là natri và kali, cũng có một lượng nhỏ magie, sắt, kẽm, đồng, các nguyên tố khác tồn tại ở dạng dấu vết
Trang 34Canxi - Photpho: Canxi và Photpho có vai trò quan trọng trong việc phát
triển bộ xương, thực hiện những chức năng sinh lý khác nhau của cơ thể Nếu thiếu Canxi và Photpho làm cho khung xương phát triển không bình thường, xương có thể dạn nứt dễ gẫy Nái mang thai nhu cầu cao hơn nái hậu bị nó tỷ lệ với nhu cầu phát triển bào thai
Nếu trong khẩu phần thiếu Ca, P thì bào thai phát triển kém, con đẻ ra bị còi xương, chậm lớn, lợn mẹ bị bại liệt, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất sinh sản Theo Vũ Huy Giảng và cs (1999) thiếu Ca, P lợn gầy còm, sưng khớp, sưng xương mặt, xương biến dạng cong, bại liệt chân sau Tỷ lệ Ca/P bằng 2/1
là phù hợp
Nhu cầu về khoáng vi lượng trong khẩu phần ăn rất nhỏ, song cũng rất cần thiết Các chất khoáng vi lượng chủ yếu hình thành nên các men, các chất xúc tác cho quá trình tổng hợp các chất trong cơ thể Nếu cung cấp thiếu sẽ dẫn đến một số men trong cơ thể bị thiếu hoặc không hoạt động được gây ảnh hưởng tới sự phát triển của cơ thể như thiếu Fe, Cu…gây thiếu máu Nếu cung cấp thừa
sẽ gây ngộ độc cho cơ thể và ảnh hưởng tới phẩm chất thịt
Kali , Natri , Clorua: Nó là các catiron và anion, ngoài tế bào trong cơ thể
Na, K ,Cl là các ion chính ảnh hưởng đến sự cân bằng chất điện giải và trạng thái axit - bazơ Nếu thiếu Na, Cl, K giảm tốc độ sinh trưởng của lợn, giảm tính ngon miệng, giảm lượng sữa.Nếu nặng cơ thể gây tử vong nhưng nếu thừa gây ngộ độc, rối loạn trao đổi nước và chất điện giải
Sắt: Trong cơ thể sắt cùng với đồng và axit folic, Vitamin B12 tổng hợp nên Hemoglobin Ngoài ra, sắt còn có trong hệ thống enzim tham gia vào quá trình photphorin oxy hoá, truyền điện tử và hoạt hoá men Peroxydaza Nếu thiếu sắt triệu trứng điển hình là thiếu máu, bệnh này sảy ra ở lợn con theo mẹ, thiếu sắt lợn ít bú, kém hoạt động, dễ mắc bệnh lợn con phân trắng làm cho lợn con xù lông, còi cọc, chậm lớn, có thể dẫn đến chết Thiếu Mn ảnh hưởng tới xương làm xương kém phát triển
Trang 35Mỗi nguyên tố khoáng đều chiếm một tỷ lệ nhất định trong cơ thể Không tùy tiện bổ sung các nguyên tố khoáng quá mức sẽ gây trở ngại cho việc hấp thu các chất dinh dưỡng khác Ví dụ: Canxi làm ngăn trở việc hấp thu kẽm gây nên hiện tượng rối loạn da, bệnh paraketosis
Nhu cầu vitamin
Vitamin là những yếu tố rất quan trọng không thể thiếu trong quá trình trao đổi chất của cơ thể Nhu cầu vitamin là khác nhau đối với các loại lợn khác nhau Nhìn chung các loại vitamin cần thiết được bổ sung trong khẩu phần là vitamin A, D, E Nếu thiếu một trong các loại vitamin trên đều gây ra những ảnh hưởng không tốt với quá trình phát triển của cơ thể gia súc, làm giảm năng suất, hiệu quả chăn nuôi
Thiếu vitamin A: lợn con chậm lớn lợn nái mang thai dễ xảy thai, đẻ non…
Thiếu vitamin D: thai kém phát triển, dễ bị liệt chân
Thiếu vitamin E: có hiện tượng chết thai, lợn không động dục hoặc động dục chậm
Thiếu vitamin PP: lợn còi cọc, ỉa chảy
Đặc biệt lợn nái mang thai thiếu vitamin sẽ ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của lợn nái Do vậy trong khẩu phần ăn hàm lượng vitamin phải đầy đủ và hợp lý
2.3.2 Ảnh hưởng của khí hậu
Nhiệt độ thích hợp cho lợn nái là 18 – 21 0C, độ ẩm 70 – 75 % Nhiệt độ thích hợp cho lợn con sơ sinh là từ 31 - 350C Vì vậy cần duy trì nhiệt độ phù hợp cho cả lợn nái và lợn con Nếu lợn nái nuôi ở nhiệt độ trên 300C thì sẽ làm giảm tỷ lệ thụ thai, tỷ lệ chết phôi và chết thai sẽ cao, con đẻ ra khối lượng nhỏ
do lợn mẹ ăn ít, ngoài ra có thể làm lợn nái chết trước và sau khi đẻ Nhiệt độ chuồng nuôi quá cao làm cho lợn sát nhau, thời gian đẻ kéo dài Ở giai đoạn nuôi con tỷ lệ nuôi sống kém do lợn mẹ trở mình liên tục dẫn đến đè chết con
Trang 36Nhiệt độ cao kết hợp với ẩm độ cao sẽ làm cho lợn nái động dục chậm hoặc không động dục Nếu nhiệt độ thấp sẽ làm cho tỷ lệ nuôi sống kém vì lợn con dễ mắc các bệnh: viêm phổi, tiêu chảy
2.3.3 Tuổi và khối lượng phối giống ban đầu
Khi lợn thành thục về tính không nên phối giống ngay lần động dục đầu tiên Nếu phối giống ngay và có chửa thì sẽ phát triển kém, con đẻ ra nhỏ, tỷ lệ
đẻ khó cao do khung xương chậu con mẹ phát triển chưa hoàn chỉnh
2.3.4 Lứa đẻ
Khả năng sinh sản của lợn nái bị ảnh hưởng bởi các lứa đẻ khác nhau, ở lứa thứ nhất số lượng con/ổ thấp, từ lứa thứ hai trở đi số lượng con tăng đến lứa thứ tư, lứa 5 – 6 bắt đầu giảm dần Sự thay đổi này liên quan đến số lượng trứng rụng trong một chu kì Bằng kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng có thể kéo dài thành tích sinh sản từ lứa 6 – 10 sẽ có lợi hơn là thay thế lợn nái hậu bị
2.3.5 Ảnh hưởng của kỹ thuật, phương pháp và phương thức phối giống
Kỹ thuật phối giống là một trong những nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến số con sơ sinh/lứa Phối trực tiếp sẽ nâng cao tỷ lệ thụ thai và số con đẻ ra Thu tinh nhân tạo cho hiệu quả kinh tế cao, chất lượng đàn con được đảm bảo do ta có thể kiểm tra được chất lượng tinh dịch trước khi phối
Để tăng tỷ lệ thụ thai và số con sơ sinh/ổ nên chọn thời điểm phối giống thích hợp Nếu thời gian động dục kéo dài 48h thì thời điểm rụng trứng là 37 – 42h sau khi bắt đầu chịu đực và thời điểm phối giống thích hợp nhất từ 12 – 28h sau bắt đầu chịu đực Mặt khác muốn tăng số con sơ sinh/lứa nên sử dụng phương pháp phối lặp hoặc phối kép, không nên chỉ phối đơn Nếu phối lặp khoảng thời gian giữa hai lần phối là 12 – 14h
2.3.6 Ảnh hưởng của thời gian nuôi con và số con để nuôi
Thời gian nuôi con ngắn sẽ cho số lứa đẻ/nái/năm cao và nâng cao được
số con cai sữa/nái/năm Qua nghiên cứu thời gian nuôi con tốt nhất là 21 – 28 ngày, nếu thời gian nuôi con nhỏ hơn 21 ngày thì sẽ tăng lứa/nái/năm, nhưng không tăng được số con cai sữa/nái/năm
Trang 37Số con để nuôi tốt nhất bằng số vú, nếu số con ít quá sẽ không kinh tế và một số vú sẽ bị lép Số con nhiều sẽ ảnh hưởng đến khối lượng cai sữa và có thể làm tăng tỷ lệ hao hụt của lợn nái, thời gian động dục sau cai sữa sẽ dài hơn và
tỷ lệ thụ thai thấp
2.3.7 Ảnh hưởng của nuôi dưỡng chăm sóc
Nuôi dưỡng là một trong những nhân tố quyết định năng suất sinh sản của lợn nái Nếu dùng chuồng lồng nuôi lợn thì trong giai đoạn nuôi con sẽ nâng cao được tỷ lệ nuôi sống của đàn con do hạn chế được lợn mẹ đè lên lợn con Trong 3 tuần đầu có thai hay đánh đuổi lợn mẹ hoặc lợn bị trượt ngã thì dễ bị sảy thai và 3 tuần cuối dễ bị đẻ non Mùa hè thường xuyên tắm và làm mát chuồng sẽ giảm hiện tượng chết phôi, chết thai, sảy thai, lợn mẹ đè chết con Nếu lợn được vận động sẽ đẻ dễ hơn và ít bị táo bón
2.3.8 Yếu tố bệnh tật
Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản thì yếu tố bệnh tật không kém phần quan trọng làm ảnh hưởng đến khả năng sinh sản Đó là bệnh truyền nhiễm, nội khoa, sản khoa, ký sinh trùng Quan trọng hơn cả là chăn nuôi lợn nái sinh sản là bệnh sản khoa thường gặp “Hội chứng MMA viêm vú, viêm tử cung, mất sữa” Hội chứng này xuất hiện khá phổ biến ở khu chăn nuôi tập trung Trong đó chủ yếu
là viêm tử cung, bệnh gây thiệt hại đáng kể đối với lợn nái nuôi con thường kém
ăn, lượng sữa giảm, lợn con còi cọc dễ mắc bệnh ỉa chảy dẫn tới chết
2.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
2.4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Các giống lợn nhập vào nước ta dần thích nghi và cho năng suất cao, trong các giống lợn ngoại thì hai giống lợn Landrace và Yorkshire có khả năng thích nghi tốt nhất, đây là hai giống lợn hướng nạc, việc lai tạo hai giống lợn này
để tạo ra thế hệ lợn nái lai hai giống là một trong những hướng đi quan trọng để
mở rộng quy mô, chất lượng sản phẩm và thay đổi cơ cấu đàn lợn ở các tỉnh phía Bắc và trong nước
Trang 38Trong những năm qua có nhiều nghiên cứu về năng suất và chất lượng của một số giống lợn như:
Nguyễn Thiện và Cs (1995) cho biết số con sinh ra/ổ của lợn nái Ladrace
và Yorkshire là 9,57 và 8,40 con/lứa; khối lượng sơ sinh/ổ là 11,89 và 11,30kg; khối lượng 21 ngày tuổi là 31,3 và 33,67kg
Nghiên cứu của Đinh Văn Chỉnh và Cs (1999) cho biết năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire nuôi tại Trung tâm giống gia súc Hà Tây, khối lượng phối giống lần đầu của Landrace và Yorkshire là 99,3 -100,2kg; tuổi phối giống lần đầu là 254,1 ngày và 282 ngày; tuổi đẻ lứa đầu là 367 ngày và 396,3 ngày; số con đẻ ra còn sống là 8,2 và 8,3 con; khối lượng sơ sinh/ổ là 9,12
và 10,89 kg; khối lượng 21 ngày tuổi /ỏ là 40,7 và 42,1kg
Theo Phan Xuân Hảo (2006), năng suất sinh sản của nái lai (L×Y) qua các lứa đẻ từ lứa 1 đến lứa 6 có:
+ Số con sơ sinh sống/ổ tương ứng là: 9,52; 9,88; 10,70; 11,41; 10,94 và 9,83 con
+ Số con cai sữa/ổ tương ứng là: 8,45; 9,52; 9,48; 9,90; 9,46 và 8,90 con + Khối lượng cai sữa/ổ tương ứng là: 47,64; 55,15; 51,96; 54,27, 53,67 và 49,95 kg
+ Khối lượng cai sữa/ con tương ứng là: 5,71; 5,84; 5,53; 5,52; 5,76 và 5,72 kg Kết quả nghiên cứu của Phan Xuân Hảo (2006) về năng suất sinh sản của nái lai F1(L×Y) cho biết: Tổng số con sơ sinh sống/ổ là 10,97 con; số con sơ sinh sống/ổ là 10,41 con; số con đẻ nuôi/ổ là 9,88 con; khối lượng sơ sinh/ổ là 14,60 kg; khối lượng sơ sinh/con là,1,41 kg; số con 21 ngày/ổ 9,35 con; thời gian cai sữa là 23,05 ngày; số con cai sữa/ổ là 9,32 con; khối lượng cai sữa/ổ là 52,28 kg và khối lượng cai sữa/con là 5,67 kg
Theo Đặng Vũ Bình và Nguyễn Văn Thắng (2006) thì năng suất sinh sản của lợn nái F1(L×Y) khi phối với đực Pietrain và Duroc có số con đẻ ra/ổ tương ứng là 10,05 và 9,63 con; số con 21 ngày tuổi/ổ là 9,7 và 9,23 con; số con cai