LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp “Đánh giá ảnh hưởng của thành phần giá thể đến sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số
VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Vật liệu thí nghiệm
- Thành phần phối trộn giá thể: Phân hữu cơ vi sinh, xơ dừa, trấu hun, đất ruộng, đất tribat
- 21 giống mướp đắng được thu thập bởi TS Vũ Quỳnh Hoa tại khu vực đồng bằng Sông Hồng
- Thước đo, dụng cụ làm giàn, máy ảnh, cân điện tử, máy tính, …
- Một số vật liệu khác.
Địa điểm và thời gian tiến hành thí nghiệm
Thí nghiệm được thực hiện tại khu đồng ruộng và nhà màng của Bộ môn Rau Hoa Quả và Cảnh Quan, thuộc Khoa Nông Học, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam.
- Thời gian: từ tháng 01/2022 đến tháng 08/2022
Nội dung nghiên cứu
- Thí nghiệm 1: Đánh giá sự ảnh hưởng của giá thể trong giai đoạn cây con đến sự sinh trưởng và phát triển, năng suất của 21 mẫu giống mướp đắng
- Thí nghiệm 2: Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của mướp đắng giữa trồng trong nhà mái che và ngoài đồng ruộng.
Phương pháp nghiên cứu
Thí nghiệm 1 gồm có 4 công thức giá thể được trồng ở giai đoạn cây con trong nhà mái che và 1 công thức đối chứng được trồng ngoài ruộng
STT Công thức Tỉ lệ phối trộn
1 Phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh + đất ruộng 1:1
2 Phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh + trấu hun + đất ruộng 2:1:1
3 Phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh + xơ dừa + đất ruộng 2:1:1
4 Phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh + đất tribat 1:1
Thí nghiệm được bố trí tuần tự, không nhắc lại Luống trồng có chiều rộng 1,5m, chiều dài 23m, rãnh rộng 1m, luống cao 0,3 m trồng 2 hàng, cây cách cây 0,5m, hàng cách hàng 0,5m
MD16 (CT3) Dải bảo vệ
Thí nghiệm 2 bao gồm hai công thức và một công thức đối chứng Công thức đối chứng và công thức 1 được trồng ngoài đồng ruộng, trong khi công thức 2 được thực hiện trong nhà mái che Giống MTĐ được sử dụng để tiến hành thí nghiệm.
STT Công thức Tỉ lệ phối trộn
1 Phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh + xơ dừa + đất ruộng 2:1:1
2 Phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh + xơ dừa + đất ruộng 2:1:1
Thí nghiệm được bố trí tuần tự, không nhắc lại Luống trồng có chiều rộng 1,5m, chiều dài 5m, rãnh rộng 1m, luống cao 0,3 m trồng 2 hàng, cây cách cây 0,5m, hàng cách hàng 0,5m
Dải bảo vệ ĐC CT1
3.4.2 Phương pháp theo dõi và các chỉ tiêu đánh giá
3.4.2.1 Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây
- Thời gian từ lúc gieo hạt đến khi ra lá thật đầu tiên (Đơn vị tính: Ngày)
Thời gian từ khi trồng cho đến khi 50% số cây xuất hiện hoa đực và hoa cái được tính bằng số ngày.
- Thời gian từ lúc trồng đến khi ra quả đầu tiên Được tính từ khi trồng cho tới khi 50% số cây cho thu hoạch quả (Đơn vị tính: Ngày)
Thời gian từ khi trồng đến khi thu hoạch được xác định là khoảng thời gian cho đến khi 50% số cây cho sản lượng quả thu hoạch trong một ngày nhỏ hơn 1 ngày.
3.4.2.2 Đặc điểm phát triển thân lá
- Chiều dài thân qua các giai đoạn được đo từ gốc đến đỉnh sinh trưởng (Đơn vị tính: cm)
- Số nhánh cấp 1 trên thân chính được đếm từ khi xuất hiện nhánh cấp 1 đầu tiên (Đơn vị tính: nhánh)
- Số lá trên thân chính được đếm trên thân chính qua các giai đoạn sinh trưởng (Đơn vị tính: Lá)
Hình dạng lá được phân tích qua hai đặc điểm chính: đầu lá và kiểu xẻ thùy Đầu lá được chia thành hai nhóm là đầu lá tròn và đầu lá nhọn Trong khi đó, kiểu xẻ thùy được phân loại thành kiểu xẻ thùy sâu và kiểu xẻ thùy trung bình.
- Màu sắc lá phân chia thành 3 nhóm: Lá màu xanh nhạt, lá màu xanh, lá màu xanh đậm
- Chiều dài lá đo từ đầu đến mép phiến lá, chiều rộng đo ở vị trí rộng nhất của lá, đo bằng thước thẳng (Đơn vị: cm)
- Chỉ số diệp lục của lá được đo bằng máy đo SPAD
Thời gian ra hoa của hoa đực và hoa cái được xác định khi có 50% số cây trong các mẫu giống bắt đầu ra hoa, được tính bằng đơn vị ngày.
Số hoa cái trên cây được đếm định kỳ 7 ngày một lần, bắt đầu khi 50% số cây của các mẫu giống ra hoa cái, cho đến khi số cây ra hoa cái giảm xuống dưới 50% (Đơn vị tính: Hoa).
- Số quả trên cây là tổng số quả được hình thành trên cây sau quá trình thụ phấn của hoa cái (Đơn vị tính: Quả)
- Số quả thu hoạch trên cây là số quả đạt tiêu chuẩn thu hoạch Thời gian thu hoạch quả tùy theo số lượng quả (Đơn vị tính: Quả)
- Tỉ lệ đậu quả được tính dựa vào số quả và số hoa cái trên cây (Đơn vị tính: %)
3.4.2.4 Đánh giá chỉ tiêu hình thái quả
- Chiều dài quả được đo từ đầu quả tới đuôi quả, đo bằng thước đo chuyên dụng (Đơn vị tính: cm)
- Khối lượng quả: Được cân chuyên dụng, chia nhỏ đến 0.1 gram (Đơn vị tính: gram)
- Đường kính quả: Được đo bằng thước đo chuyên dụng, đo ở vị trí có bề ngang rộng nhất của quả (Đơn vị tính: cm)
- Độ cứng quả: Được đo bằng máy đo chuyên dụng
- Hình dạng quả (Trứng, hình thuôn, hình trụ)
- Độ dày thịt quả được đo bằng đo thước chuyên dụng, đo ở vị trí có độ dày lớn nhất (Đơn vị tính: cm)
Số quả trung bình trên cây là chỉ số thể hiện số lượng quả thu hoạch từ các cây được theo dõi, dựa trên từng mẫu giống và các công thức khác nhau, với đơn vị tính là quả trên mỗi cây.
Khối lượng trung bình của quả được tính bằng cách lấy tổng khối lượng quả thu hoạch chia cho số lượng quả thu hoạch trên mỗi cây, với đơn vị tính là Kg/quả.
- Năng suất cá thể được xác định bằng tích khối lượng trung bình quả và số quả trung bình trên cây (Đơn vị tính: kg/cây)
3.4.2.6 Sâu bệnh hại a Sâu hại
Sâu xanh (Hilecoverpa armigera) thường gây hại nghiêm trọng trong giai đoạn cây con, ăn lá và có thể làm cây trụi lá nếu không được phát hiện kịp thời Trong thời kỳ ra quả, chúng còn gặm bề mặt quả, làm giảm chất lượng và năng suất của cây trồng.
Mức độ nhiểm Sâu xanh bướm trắng
Mất trắng Giảm 70% năng suất
Ruồi đục quả (Zeugodacus caudatus) xuất hiện khi cây bắt đầu ra quả, chúng châm vào quả và đẻ trứng, gây hỏng quả và ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất cây trồng.
Phương pháp đánh giá tình hình sâu hại
Tỉ lệ quả bị đục (sâu xanh ăn) (%) = 𝑆ố 𝑞𝑢ả 𝑏ị đụ𝑐 (𝑆â𝑢 𝑥𝑎𝑛ℎ ă𝑛 𝑞𝑢ả)
Bệnh phấn trắng (Erysiphe sp.) thường xuất hiện từ giai đoạn cây con và chủ yếu gây hại trên lá Ban đầu, vết bệnh xuất hiện dưới dạng những đốm vàng, sau đó được bao phủ bởi lớp nấm trắng dày đặc Khi lá bị nhiễm bệnh, màu sắc của chúng sẽ thay đổi.
Cây 24 chuyển từ màu xanh sang vàng, sau đó bị khô cháy và rụng lá Khi bệnh nặng, lớp phấn trắng lan ra cả thân, cành và hoa, khiến cây sinh trưởng kém và năng suất giảm Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện độ ẩm cao và ít ánh nắng.
Bệnh sương mai (Pseudoperonospora cubensis) chủ yếu ảnh hưởng đến lá cây, bắt đầu từ mặt dưới với lớp phấn màu trắng xám Trên mặt lá, các chấm nhỏ màu vàng xuất hiện và sau đó lan rộng, chuyển sang màu nâu dọc theo gân lá với vết bệnh có hình dạng góc cạnh Khi các vết bệnh lan rộng, lá cây sẽ vàng, dẫn đến sự sinh trưởng kém, giảm năng suất và chất lượng quả, thậm chí có thể gây chết cây Bệnh này phát triển mạnh trong điều kiện độ ẩm cao và mưa nhiều.
Thí nghiệm 1: Bắt đầu từ 05/03/2022 đến 25/06/2022
Thí nghiệm 2: Bắt đầu từ 27/05/2022 đến 5/8/2022
3.4.3.2 Làm đất Đất sau khi làm sạch cỏ được cày bừa kĩ bằng máy để tạo độ thông thoáng, tơi xốp Loại đất sử dụng là đất thịt nhẹ, mặt ruộng bằng phẳng, hệ thống tưới tiêu đảm bảo Đất đã xử lí được chuyển vào nhà lưới để làm nguyên vật liệu cho việc phối trộn giá thể Ngoài đồng ruộng, lên luống với kích thước chiều dài 23m, chiều rộng 1,5m; cao 0,3m; rãnh rộng 1m
Bón lót: 10 kg phân hữu cơ vi sinh + 3.7 kg NPK 13:13:13 trên một luống
Để bón phân hiệu quả, hãy rải đều phân bón trên mặt luống và trộn kỹ trong tầng đất 25 cm Sau khi trộn, cần san phẳng mặt luống Lưu ý rằng do đây là bón lót, nên lượng phân bón cần nhiều và phải trộn đều để tránh hiện tượng xót rễ, gây chết cây.
Bón lót: Sử dụng phân hữu cơ vi sinh với tỉ lệ 2:1 (đất: phân hữu cơ vi sinh)
- Cách bón: Thực hiện đào hố trồng, trộn đều phân vi sinh với đất của hố đã đào với tỉ lệ 2:1
Bón thúc: thực hiện 2 tuần/lần
- Ngoài đồng ruộng (công thức đối chứng và công thức 1): pha loãng 150g phân NPK 13:13:13 với 5l nước, tưới đều luống cây trồng
- Trong nhà mái che (công thức 2): pha loãng 100g phân NPK 13:13:13 với 5l nước, tưới bổ sung dinh dưỡng cho các bầu đất trong nhà mái che
Phương pháp thu thập và xử lí số liệu
Số liệu được thu thập qua phần mềm Google Sheet, sau đó được xử lí bằng phần mềm SPSS, IRRISTAT
THẢO LUẬN VÀ KẾT QUẢ
Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của các mẫu giống mướp đắng vụ xuân hè
4.1.1 Thời gian qua các gian đoạn sinh trưởng, phát triển của các mẫu giống mướp đắng trên các công thức khác nhau
Thời gian sinh trưởng và phát triển của cây mướp đắng bắt đầu từ khi hạt giống nảy mầm cho đến khi thu hoạch Thời gian thu hoạch kéo dài sẽ tăng khả năng năng suất Giai đoạn từ khi hạt giống nảy mầm đến khi xuất hiện nụ hoa đầu tiên là thời kỳ quan trọng, trong đó cây càng khỏe mạnh thì năng suất sau này càng được đảm bảo.
Bảng 4 1 Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của 21 mẫu giống mướp đắng trên các công thức giá thể trong vụ Xuân Hè 2022 (Thí nghiệm 1)
Từ khi gieo đến (ngày)
Từ khi nảy mầm đến (ngày)
Giống Công thức Nảy mầm
Cho hoa đực đầu tiên
Cho hoa cái đầu tiên
Thời gian cho thu hoạch
Tổng thời gian sinh trưởng
MD1 ĐC 6 26 34 Không ra quả 70
MD3 ĐC 8 25 35 Không ra quả 71
Cây giống mướp đắng 8 ngày sau gieo Cây mướp đắng trong nhà
Cây mướp đắng 35 ngày sau gieo Cây mướp đắng 50 ngày sau gieo
Hình 4 1 Các giai đoạn phát triển của mướp đắng (Thí nghiệm 1)
Trong thí nghiệm, không có sự chênh lệch giữa các giống trên các công thức giá thể khác nhau Hai giống MD1 và MD3 không ra quả và có thời gian sinh trưởng ngắn nhất, chỉ từ 70-71 ngày, trong khi các giống khác có thời gian sinh trưởng dài hơn.
Các giống cây này đều có thời gian sinh trưởng là 90 ngày Sau 32 ngày thu hoạch, các lá phía dưới bắt đầu chuyển sang màu vàng và rụng dần, đánh dấu sự kết thúc của quá trình sinh trưởng.
4.1.2 Đặc điểm hình thái và động thái tăng trưởng chiều cao của các mẫu giống mướp đắng
Bảng 4 2 Động thái tăng trưởng chiều cao của các mẫu giống mướp đắng trên các công thức giá thể (Thí nghiệm 1)
15 ngày sau gieo 22 ngày sau gieo 29 ngày sau gieo Công thức
Giống ĐC GT2 GT3 ĐC GT2 GT3 ĐC GT2 GT3
Bảng 4.2 Động thái tăng trưởng chiều cao của các mẫu giống mướp đắng trên các công thức giá thể (tiếp)
36 ngày sau gieo 43 ngày sau gieo
Giống ĐC GT2 GT3 ĐC GT2 GT3 LSD CV
Bảng 4.2 Động thái tăng trưởng chiều cao của các mẫu giống mướp đắng trên các công thức giá thể (tiếp)
15 ngày sau gieo 22 ngày sau gieo
Giống ĐC GT1 GT2 GT3 GT4 ĐC GT1 GT2 GT3 GT4
29 ngày sau gieo 36 ngày sau gieo
Giống ĐC GT1 GT2 GT3 GT4 ĐC GT1 GT2 GT3 GT4
Giống ĐC GT1 GT2 GT3 GT4 LSD CV
Dữ liệu được so sánh theo hàng, trong đó các giá trị có chữ cái giống nhau trong cùng một hàng cho thấy sự sai khác không có ý nghĩa Ngược lại, các chữ cái khác nhau trong cùng một hàng chỉ ra sự sai khác có ý nghĩa với độ tin cậy 95%.
Công thức giá thể cho cây trồng bao gồm các thành phần như sau: GT1 là sự kết hợp giữa đất ruộng và phân vi sinh; GT2 kết hợp đất ruộng, trấu hun và phân vi sinh; GT3 bao gồm đất ruộng, xơ dừa và phân vi sinh; và GT4 là đất Tribat kết hợp với phân vi sinh.
Mướp đắng, thuộc họ bầu bí, có thân bò và tua cuốn để leo giàn Chiều cao của thân mướp đắng là chỉ tiêu sinh trưởng quan trọng, thể hiện khả năng leo và bò của giống mướp đắng Yếu tố này rất cần thiết để tính toán chiều cao, chiều rộng và độ vững chắc khi thiết kế giàn trồng mướp đắng.
Chiều cao của các mẫu giống mướp đắng tăng lên theo từng tuần, cho thấy khả năng phát triển nhanh của loại cây này khi gặp điều kiện ngoại cảnh thuận lợi.
Trong giai đoạn 15 ngày sau khi gieo, không có sự khác biệt rõ rệt giữa các mẫu giống trên các giá thể khác nhau Các mẫu giống trên công thức đối chứng được đưa ra ngoài sau 10 ngày gieo hạt, trong khi các mẫu giống trên các công thức giá thể 1, 2, 3, 4 được chuyển vào bầu và trồng trong nhà mái che sau khi giá thể được phối trộn theo tỉ lệ đã định.
Trong giai đoạn 22 ngày, sau khi các mẫu giống được trồng trực tiếp trên đất ruộng, rễ cây bắt đầu ổn định và phát triển Sự khác biệt về chiều cao của cây mướp đắng đã xuất hiện giữa các công thức giá thể Cụ thể, chiều cao cây trong công thức đối chứng dao động từ 15,9 cm (MD6) đến 42,7 cm (MD8) Ở công thức giá thể 2, chiều cao nằm trong khoảng từ 16,2 cm (MD5) đến 45,4 cm (MD18) Đối với công thức giá thể 3, chiều cao phân bố từ 25 cm (MD5) đến 56,9 cm (MD18) Mẫu giống MTĐ trồng trên cả 5 công thức cho thấy chiều cao lớn nhất là 32,3 cm trên công thức giá thể 3 và thấp nhất là 15,4 cm trên công thức giá thể 4.
Giai đoạn 29 ngày, công thức đối chứng có chiều cao từ 29,4 cm (MD3) – 75,7 cm (MD8) Công thức giá thể 2 có chiều cao từ 36,6 cm (MD5) - 84,3 cm
Công thức giá thể 3 cho cây mướp đắng có chiều cao dao động từ 53,9 cm đến 112,2 cm Đặc biệt, giống MTĐ ở giai đoạn này đạt chiều cao lớn nhất là 73,4 cm với công thức giá thể 3, trong khi công thức 4 cho chiều cao thấp nhất là 36,1 cm.
Trong giai đoạn 36 ngày, tất cả các mẫu giống được trồng trong nhà có mái che và sau 30 ngày được đưa ra ngoài ruộng để tăng khả năng đậu quả nhờ vào côn trùng và gió Các công thức đều phát triển trong cùng một môi trường với điều kiện ngoại cảnh giống nhau Chiều cao cây ở công thức đối chứng dao động từ 48,7 cm (MD3) đến 120,1 cm (MD7) Công thức giá thể 2 có chiều cao từ 60,8 cm (MD5) đến 122 cm (MD19), trong khi công thức giá thể 3 cho cây mướp đắng chiều cao từ 82,2 cm (MD1) đến 150,2 cm (MD17) Đối với mẫu giống MTĐ, công thức giá thể 3 đạt chiều cao lớn nhất 106,4 cm, trong khi công thức giá thể 1 có chiều cao thấp nhất 63,3 cm.
Tại giai đoạn 43 ngày, với độ tin cậy 95%, các giống MD1, MD5, MD9, MD15, MD16, MD18, MD19 không có sự khác biệt có ý nghĩa Trong khi đó, giống MD7 cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa, với công thức đối chứng có chiều cao lớn nhất 157,2 cm và công thức giá thể 2 có chiều cao nhỏ nhất 124,8 cm Giống MD8 cũng có sự khác biệt có ý nghĩa, với công thức đối chứng cao nhất 160 cm và công thức giá thể 2 thấp nhất 97,7 cm Giống MD10 cho thấy công thức đối chứng cao nhất 166,7 cm và công thức giá thể 3 thấp nhất 115 cm Giống MD11 có công thức đối chứng cao nhất 176,7 cm và công thức giá thể 2 thấp nhất 115,2 cm Giống MD12 có công thức đối chứng và công thức 1 cao nhất lần lượt là 182,3 cm và 175 cm, trong khi công thức 2 thấp hơn 95,3 cm Cuối cùng, giống MD13 có công thức đối chứng và công thức 1 cao nhất lần lượt là 179 cm và 162,3 cm, còn công thức 2 thấp hơn 83,7 cm.
Giống MD17 cho thấy công thức đối chứng có chiều cao lớn nhất là 177 cm, trong khi công thức giá thể 2 có chiều cao thấp nhất là 130,2 cm Đối với giống 939, công thức đối chứng đạt chiều cao 140 cm, còn công thức giá thể 2 chỉ đạt 115 cm Cuối cùng, giống MTĐ cho thấy công thức giá thể 3 có chiều cao lớn nhất là 170 cm, trong khi công thức giá thể 1 có chiều cao thấp nhất là 100 cm.
Các giống mướp đắng cho thấy sự tăng trưởng chiều cao vượt trội sau 22 ngày, nhờ vào điều kiện thời tiết thuận lợi hơn Trước giai đoạn này, thời tiết không thuận lợi với mưa nhiều và không khí lạnh, trong khi cây mướp đắng cần ánh sáng mạnh và nhiệt độ từ 25 - 30ºC Công thức đối chứng và công thức giá thể 3 phần đã cho chiều cao cây lớn nhất, góp phần vào sự sinh trưởng mạnh mẽ của cây.
Bảng 4 3 Động thái tăng trưởng nhánh cấp 1 của các mẫu giống mướp đắng trên các công thức giá thể (Thí nghiệm 1)
36 ngày sau gieo 43 ngày sau gieo
Giống ĐC GT2 GT3 ĐC GT2 GT3
MD7 4,3±1,5 1,3±0,6 2,7±1,1 12,7±3,2 2,3±0,6 4,3±1,2 MD8 6,3±1,2 1,3±0,6 2,7±0,6 9,3±4 2,7±1,2 5,3±0,6 MD9 3±1 1,3±0,6 3,3±1,2 6,7±2,5 2,7±1,2 4,7±1,2 MD10 5,3±0,6 2,7±0,6 3,3±0,6 9,7±1,2 3,7±0,6 4±1 MD11 4 1,7±1,2 2,7±0,6 10,7±0,6 2,7±0,6 4±1 MD12 7±1 1,3±0,6 4,3±0,6 11,3±3,5 2,3±0,6 5,3±0,6 MD13 4,7±0,6 2 3,3±1,5 7,3±3,2 2,7±1,2 5±1
Bảng 4.3 Động thái tăng trưởng nhánh cấp 1 của các mẫu giống mướp đắng trên các công thức giá thể (tiếp)
Giống ĐC GT1 GT2 GT3 GT4
Giống ĐC GT1 GT2 GT3 GT4
Công thức giá thể bao gồm các thành phần như sau: GT1 là sự kết hợp giữa đất ruộng và phân vi sinh; GT2 kết hợp đất ruộng, trấu hun và phân vi sinh; GT3 bao gồm đất ruộng, xơ dừa và phân vi sinh; GT4 chỉ sử dụng đất ruộng.
Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của mướp đắng vụ xuân hè muộn 2022 (Thí nghiệm 2)
4.2.1 Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của mướp đắng trên các công thức khác nhau
Bảng 4 12 Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của mướp đắng trên các công thức khác nhau (Thí nghiệm 2)
Từ khi gieo đến (ngày)
Từ khi nảy mầm đến (ngày)
Cho hoa đực đầu tiên
Cho hoa cái đầu tiên
Thời gian cho thu hoạch
Tổng thời gian sinh trưởng
MTĐ ĐC 6 28 38 Không cho thu hoạch
CT1 6 28 38 Không cho thu hoạch
Trong thí nghiệm, giống MTĐ thể hiện sự khác biệt rõ rệt trên các công thức khác nhau Đặc biệt, công thức 2 được thực hiện trong nhà mái che cho thấy thời gian sinh trưởng dài hơn.
(70 ngày) trong khi đó 2 công thức được thực hiện ngoài ruộng chỉ có 60 ngày
Công thức 2 cho ra hoa sớm hơn so với 2 công thức khác trong điều kiện đồng ruộng Thêm vào đó, thời tiết khắc nghiệt liên tục xảy ra cũng ảnh hưởng đến thời gian ra hoa của hoa đực và hoa cái.
75 hiện tượng ngập úng dẫn đến 2 công thức thực hiện ngoài đồng ruộng sinh trưởng và phát triển kém, không cho quả thu hoạch
4.2.2 Đặc điểm hình thái và động thái tăng trưởng chiều cao của mướp đắng trên các công thức khác nhau
Bảng 4 13 Động thái tăng trưởng chiều cao cây mướp đắng trên các công thức khác nhau (Thí nghiệm 2)
Sau 10 ngày Sau 17 ngày Sau 27 ngày
Giống ĐC CT1 CT2 ĐC CT1 CT2 ĐC CT1 CT2
Giống ĐC CT1 CT2 ĐC CT1 CT2 LSD CV
Dữ liệu được so sánh theo hàng, trong đó các giá trị có chữ cái giống nhau trong cùng một hàng cho thấy sự khác biệt không có ý nghĩa Ngược lại, các chữ cái khác nhau trong cùng một hàng chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa với độ tin cậy 95%.
(2) Công thức giá thể: CT1: Đất ruộng + Xơ dừa + Phân vi sinh (ngoài đồng ruộng); CT2: Đất ruộng + Trấu hun + Phân vi sinh (trong nhà mái che)
Chiều cao của mướp đắng tăng lên theo từng tuần trong cả ba công thức Vụ xuân hè muộn với cường độ ánh sáng cao và nhiệt độ thích hợp tạo điều kiện cho cây sinh trưởng nhanh Ở giai đoạn 10 ngày, khi cây giống vừa được trồng, không có sự chênh lệch chiều cao giữa các công thức, với chiều cao trung bình đạt 12-12,9 cm.
Trong giai đoạn 17 ngày, sau 7 ngày sinh trưởng trên các công thức giá thể khác nhau, chiều cao cây đã có sự chênh lệch rõ rệt Hai công thức thí nghiệm ngoài đồng ruộng cho chiều cao lớn hơn so với công thức thực hiện trong nhà mái che Cụ thể, công thức đối chứng đạt chiều cao 28,3 cm, trong khi công thức 1 đạt 32,6 cm Ngược lại, các cây sinh trưởng trong môi trường nhà mái che chỉ đạt 22,6 cm.
Trong giai đoạn 27 ngày, cây mướp đắng theo công thức 2 đã phát triển vượt bậc với chiều cao đạt 89,4 cm, trong khi công thức đối chứng chỉ đạt 45,1 cm.
1 có chiều cao trung bình 57,1cm
Trong giai đoạn 37 ngày, chiều cao mướp đắng ở công thức 2 đạt mức cao nhất là 195,5 cm Hai công thức thực nghiệm ngoài ruộng không có sự chênh lệch đáng kể, với công thức đối chứng đạt 123,7 cm và công thức 1 đạt 126,9 cm.
Trong giai đoạn 47 ngày, với độ tin cậy 95%, các công thức trên cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa về chiều cao Cụ thể, công thức 2 được trồng trong nhà mái che đạt chiều cao lớn nhất là 325,5 cm, trong khi đó, hai công thức ngoài ruộng là công thức đối chứng và công thức 1 có chiều cao lần lượt là 152,9 cm và 156,5 cm.
Công thức 2 là công thức xác định chiều cao cây lớn nhất, đóng vai trò quan trọng trong việc giúp cây sinh trưởng và phát triển mạnh mẽ.
Bảng 4 14 Động thái tăng trưởng số nhánh của mướp đắng trên các công thức khác nhau (Thí nghiệm 2)
Giống ĐC CT1 CT2 ĐC CT1 CT2
Ghi chú: Công thức giá thể: CT1: Đất ruộng + Xơ dừa + Phân vi sinh (ngoài đồng ruộng); CT2: Đất ruộng + Trấu hun + Phân vi sinh (trong nhà mái che)
Kết quả thí nghiệm cho thấy công thức 2 thực hiện trong nhà mái che đạt số nhánh cao nhất là 7,5 nhánh ở giai đoạn 47 ngày, trong khi công thức đối chứng chỉ đạt 2,9 nhánh và công thức 1 đạt 2,7 nhánh Sự chênh lệch này là do công thức 2 được sinh trưởng trong môi trường thuận lợi với cường độ ánh sáng đủ vào vụ xuân hè muộn, tránh tình trạng ngập úng khi mưa lớn như ở công thức đối chứng và công thức 1 Sự phát triển mạnh về khả năng phân nhánh cấp 1 của công thức 2 dẫn đến hình thành nhiều hoa cái, từ đó đạt năng suất quả cao.
4.2.3 Động thái tăng trưởng lá của mướp đắng trên các công thức khác nhau
Bảng 4 15 Động thái tăng trưởng số lá của mướp đắng trên các công thức khác nhau (Thí nghiệm 2)
Sau 10 ngày Sau 17 ngày Sau 27 ngày
Giống ĐC CT1 CT2 ĐC CT1 CT2 ĐC CT1 CT2
Giống ĐC CT1 CT2 ĐC CT1 CT2 LSD CV
Dữ liệu được so sánh theo hàng, trong đó các giá trị có chữ cái giống nhau trong cùng một hàng cho thấy sự khác biệt không có ý nghĩa Ngược lại, các chữ cái khác nhau trong cùng một hàng chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa với độ tin cậy 95%.
(2) Công thức giá thể: CT1: Đất ruộng + Xơ dừa + Phân vi sinh (ngoài đồng ruộng); CT2: Đất ruộng + Trấu hun + Phân vi sinh (trong nhà mái che)
Chỉ tiêu động thái tăng trưởng số lá trên thân chính có mối liên hệ chặt chẽ với chiều cao của thân chính Số lá của giống MTĐ tăng đều qua từng tuần sau mỗi lần đo trên cả 3 công thức.
Trong giai đoạn 10 ngày, mẫu giống MTĐ có số lá trung bình là 4 mà không có sự chênh lệch Đến giai đoạn 17 ngày, số lá bắt đầu có sự khác biệt giữa các công thức, với công thức đối chứng đạt 8,7 lá và công thức 1 đạt 8,5 lá, trong khi công thức 2 trồng trong bầu đất có số lá trung bình là 5,5 lá Ở giai đoạn 27 ngày, công thức 2 có số lá trung bình cao nhất đạt 15,6 lá, so với công thức đối chứng (11,9 lá) và công thức 1 (13,1 lá) Đến giai đoạn 37 ngày, công thức 2 vẫn dẫn đầu với 26,4 lá, trong khi công thức đối chứng đạt 20,2 lá và công thức 1 đạt 21,3 lá, không có sự chênh lệch giữa hai công thức này.
Trong giai đoạn 47 ngày, với độ tin cậy 95%, số lá giữa các công thức trên có sự khác biệt có ý nghĩa Cụ thể, công thức 2 sinh trưởng và phát triển trong nhà mái che đạt số lá cao nhất là 33,3 lá, trong khi đó, hai công thức ngoài ruộng, bao gồm công thức đối chứng và công thức 1, có số lá thấp hơn, lần lượt là 24,9 lá và 26,9 lá.
Chỉ tiêu động thái tăng trưởng số cho thấy rằng công thức 2 sinh trưởng và phát triển trong nhà mái che mang lại kết quả tốt nhất Trong khi đó, hai công thức thực hiện thí nghiệm ngoài ruộng không có sự chênh lệch đáng kể ở các lần đo.
4.2.4 Đặc điểm ra hoa, đậu quả của mướp đắng trên các công thức khác nhau
Bảng 4 16 Đặc điểm ra hoa, đậu quả, tỉ lệ đậu quả của mướp đắng trên các công thức khác nhau (Thí nghiệm 2)
Số hoa cái trung bình/cây
(hoa) Số quả trung bình/cây (quả) Công thức
Giống ĐC CT1 CT2 ĐC CT1 CT2
Tỉ lệ đậu quả (%) Công thức
Ghi chú: Công thức giá thể: CT1: Đất ruộng + Xơ dừa + Phân vi sinh (ngoài đồng ruộng); CT2: Đất ruộng + Trấu hun + Phân vi sinh (trong nhà mái che)
Từ bảng kết quả trên, khi thực hiện sản xuất trong nhà mái che (công thức
2) và ngoài đồng ruộng (công thức đối chứng, công thức 1) có sự chênh lệch rõ ràng