Mục đích nghiên cứu đề tài Mục đích tác giả khi nghiên cứu đề tài ―Những quy định pháp luật về phòng ngừa rủi ro trong hoạt động của công ty chứng khoán‖ là tìm hiểu những biện pháp cơ
Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, vấn đề phòng ngừa rủi ro trong hoạt động của các công ty chứng khoán (CTCK) tại Việt Nam đang thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau.
Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu có liên quan nhƣ:
- Lê Hoàng Nga (2012), ―Một số vấn đề về quản trị rủi ro trong các công ty chứng khoán ở Việt Nam‖, tạp chí ngân hàng, số 18, tr 37
- Trần Thị Xuân Anh (2014), ―An toàn tài chính của các công ty chứng khoán tại Việt Nam trong thời gian qua‖, tạp chí ngân hàng, số 6, tr35
1 Trần Quang Phú (2008), Thị trường chứng khoán Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, tr7
Trần Thị Xuân Anh (2014) trong luận án Tiến sĩ Tài chính ngân hàng tại Học viện Ngân Hàng đã nghiên cứu về việc tăng cường quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các công ty cổ phần chứng khoán ở Việt Nam.
Đề tài phòng ngừa rủi ro trong hoạt động của công ty chứng khoán (CTCK) còn mới mẻ, dẫn đến số lượng nghiên cứu hạn chế Các bài viết hiện tại chỉ đề cập đến một số vấn đề riêng lẻ mà chưa có tính hệ thống Phần lớn nghiên cứu tập trung vào các biện pháp kinh tế, trong khi các biện pháp pháp lý, mặc dù rất quan trọng, vẫn chưa được phân tích một cách sâu sắc và toàn diện.
Mục đích nghiên cứu đề tài
Mục đích của tác giả trong nghiên cứu về "Những quy định pháp luật về phòng ngừa rủi ro trong hoạt động của công ty chứng khoán" là phân tích các biện pháp phòng ngừa rủi ro từ cả góc độ kinh tế và pháp lý Tác giả làm rõ thực trạng pháp luật Việt Nam liên quan đến vấn đề này và so sánh với việc áp dụng thực tế tại các công ty chứng khoán trong thời gian qua Qua đó, tác giả chỉ ra những ưu điểm cũng như thiếu sót trong các quy định pháp luật, nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định về phòng ngừa rủi ro trong hoạt động của công ty chứng khoán và hệ thống pháp luật chứng khoán Việt Nam trong bối cảnh hội nhập.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tƣợng nghiên cứu đề tài
Trong khóa luận, tác giả nghiên cứu các quy định về phòng ngừa rủi ro trong pháp luật chứng khoán hiện hành và các văn bản pháp lý liên quan Đồng thời, tác giả cũng xem xét việc áp dụng các quy định này tại các công ty chứng khoán.
Phạm vi nghiên cứu đề tài
Tác giả phân tích các quy định liên quan đến phòng ngừa rủi ro trong hoạt động của công ty chứng khoán theo Luật chứng khoán và Luật Doanh nghiệp hiện hành, cùng với các nghị định, thông tư và quyết định điều chỉnh hoạt động này.
Tác giả nghiên cứu việc áp dụng các quy định pháp luật về phòng ngừa rủi ro tại các công ty chứng khoán (CTCK) trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay.
Phương pháp tiến hành nghiên cứu
Khóa luận áp dụng các phương pháp nghiên cứu lý luận, phân tích, so sánh và tổng hợp để đưa ra đánh giá tổng quan về khung pháp lý phòng ngừa rủi ro trong hoạt động của công ty chứng khoán và pháp luật chứng khoán Đồng thời, đề tài cũng đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý này.
3 vận dụng một số kết quả nghiên cứu của các công trình có liên quan để làm sâu sắc hơn các luận điểm trong đề tài.
Bố cục tổng quát của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, bảng chữ viết tắt, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm hai chương:
Chương 1: Lý luận chung về rủi ro và phòng ngừa rủi ro trong hoạt động của công ty chứng khoán
Chương 2: Thực trạng những quy định pháp luật về phòng ngừa rủi ro trong hoạt động của công ty chứng khoán và hướng hoàn thiện.
LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO VÀ PHÕNG NGỪA RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
Khái quát về hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán
1.1.1.1 Khái niệm hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán
Thị trường chứng khoán (TTCK) đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối cung và cầu vốn trong nền kinh tế Nguyên tắc trung gian yêu cầu các giao dịch trên TTCK phải được thực hiện qua các công ty chứng khoán (CTCK), do đó, tổ chức và hoạt động của CTCK cần được quản lý trong khuôn khổ pháp lý chặt chẽ Nhiều quốc gia phát triển có các đạo luật riêng để quy định về CTCK, như Mỹ, Nhật Bản và Thái Lan Tại Việt Nam, quy định về CTCK chủ yếu được thể hiện trong Luật Chứng khoán 2006 và Thông tư 210/2012/TT-BTC Kinh doanh, theo Luật Doanh nghiệp 2014, là quá trình thực hiện liên tục các công đoạn từ sản xuất đến tiêu thụ nhằm sinh lời CTCK không tham gia vào sản xuất hàng hóa thông thường mà hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận từ các dịch vụ liên quan đến chứng khoán Hoạt động kinh doanh chứng khoán được định nghĩa bao gồm môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư, lưu ký và quản lý quỹ đầu tư chứng khoán.
2 PGS TS Lê Hoàng Nga (2015), Thị trường chứng khoán, Nhà xuất bản Tài chính, tr 53
3 ThS Vũ Văn Cương (2006), ―Một số vấn đề pháp lý về công ty chứng khoán theo luật chứng khoán Việt Nam năm 2006‖, Tạp chí luật học, số 8, tr 10
Theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật chứng khoán 2006, sửa đổi, bổ sung 2010, chứng khoán được định nghĩa là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành.
5 Khoản 19, Điều 6, Luật chứng khoán 2006, sửa đổi, bổ sung 2010
6 Khoản 22 Nghị Định 60/2015/NĐ- CP sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định 58/2012.
Hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán (CTCK) được định nghĩa theo Thông tư 210/2012 là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, thực hiện một hoặc nhiều nghiệp vụ như môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán và tư vấn đầu tư chứng khoán Khái niệm này nhấn mạnh rằng hoạt động kinh doanh của CTCK là việc thực hiện liên tục các nghiệp vụ nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận Tại Việt Nam, hoạt động kinh doanh của CTCK bao gồm nhiều nghiệp vụ khác nhau, trong khi một số quốc gia như Thái Lan và Indonesia quy định rõ các hành vi liên quan đến môi giới và quản lý quỹ đầu tư Luật chứng khoán Trung Quốc không đưa ra định nghĩa chính thức về hoạt động kinh doanh chứng khoán, mà chỉ quy định các nghiệp vụ mà CTCK được phép thực hiện, nhằm tránh xung đột lợi ích Ví dụ, theo Điều 130 Luật Chứng khoán Trung Quốc, công ty môi giới chứng khoán chỉ được phép thực hiện nghiệp vụ môi giới.
1.1.1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán
Mặc dù quy định về hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán (CTCK) khác nhau giữa các quốc gia, nhưng nhìn chung, hoạt động này có những đặc điểm chung Đối tượng kinh doanh chủ yếu là chứng khoán và các dịch vụ liên quan Chứng khoán được coi là hàng hóa đặc biệt với các tính chất như khả năng sinh lời, rủi ro và tính thanh khoản cao Khác với hàng hóa thông thường, chứng khoán là hàng hóa trừu tượng mà người mua và bán không thể kiểm tra trực tiếp, mà phải dựa vào thông tin liên quan Thị trường chứng khoán có khối lượng giao dịch lớn và danh mục đa dạng, với sự biến động liên tục và phương thức giao dịch đặc biệt thông qua khớp lệnh.
7 Khoản 1 Điều 2 Thông tƣ 210/2012/TT-BTC
Rủi ro trong kinh doanh chứng khoán là một chủ đề quan trọng mà các nhà đầu tư cần hiểu rõ Bài viết "Rủi ro trong kinh doanh chứng khoán – bài tập học kỳ luật chứng khóan" trên trang dhluathn.com cung cấp cái nhìn sâu sắc về các loại rủi ro mà nhà đầu tư có thể gặp phải Việc nhận diện và quản lý rủi ro là yếu tố quyết định thành công trong đầu tư chứng khoán Để tìm hiểu thêm, bạn có thể truy cập vào bài viết qua liên kết: [dhluathn.com](http://www.dhluathn.com/2014/06/rui-ro-trong-kinh-doanh-chung-khoan-bai.html).
9 Ths Vũ Văn Cương, tlđd (3), tr12
10 http://tailieu.vn/doc/ebook-phap-luat-ve-cong-ty-chung-khoan-o-viet-nam-pgs-ts-le-thi-thuy-thuy- chu-bien 1733152.html, truy cập ngày 1/6/2016
Chứng khoán là lĩnh vực kinh doanh mang lại lợi nhuận cao nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro Do đó, hoạt động của công ty chứng khoán (CTCK) rất đa dạng và phức tạp, khác biệt so với các loại hình kinh doanh thông thường.
Chủ thể kinh doanh chứng khoán, đặc biệt là công ty chứng khoán (CTCK), đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của thị trường chứng khoán (TTCK) CTCK là một trong những chủ thể chủ yếu và phổ biến nhất, góp phần vào sự sôi động của TTCK Trong lĩnh vực chứng khoán, CTCK phải tuân thủ các quy định pháp luật về hình thức tổ chức, chỉ được thành lập dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp Quy định này nhằm đảm bảo tính minh bạch và giảm thiểu rủi ro cho thị trường, với các yêu cầu khắt khe về tổ chức, báo cáo, công bố thông tin, nguyên tắc kế toán và quản trị điều hành.
Hoạt động kinh doanh chứng khoán tại Việt Nam là một lĩnh vực có điều kiện, nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên tham gia và đảm bảo sự an toàn, hiệu quả cho thị trường chứng khoán Các công ty chứng khoán (CTCK) phải đáp ứng các tiêu chí về vốn, cơ sở vật chất và nhân lực để hoạt động chuyên nghiệp Mức vốn yêu cầu phụ thuộc vào mức độ rủi ro của từng nghiệp vụ, với rủi ro cao đòi hỏi vốn lớn hơn Cụ thể, theo quy định pháp luật, vốn pháp định cho các nghiệp vụ của CTCK là 25 tỷ đồng cho môi giới chứng khoán.
Bảo lãnh phát hành chứng khoán là 165 tỷ đồng Việt Nam, trong khi đó, tư vấn đầu tư chứng khoán là 10 tỷ đồng Việt Nam Tổng số vốn đầu tư là 100 tỷ đồng Việt Nam.
11 Khớp lệnh định kỳ là phương thức khớp lệnh được thực hiện trên cơ sở so khớp các lệnh mua và bán tại một thời điểm nhất định
Khớp lệnh liên tục là phương thức giao dịch cho phép thực hiện các lệnh mua và bán ngay lập tức khi chúng được nhập vào hệ thống giao dịch.
Nhiều hoạt động kinh doanh chứng khoán yêu cầu mức vốn lớn, và quy định về mức vốn này khác nhau tùy thuộc vào sự phát triển của từng quốc gia Để thực hiện kinh doanh chứng khoán, điều kiện về nhân sự là rất quan trọng, yêu cầu người điều hành và nhân viên phải có lý lịch tốt, trình độ chuyên môn cao và tuân thủ đạo đức nghề nghiệp Ngoài ra, điều kiện về cơ sở vật chất cũng được pháp luật quy định nhằm đảm bảo các hoạt động của công ty chứng khoán diễn ra thuận tiện và an toàn, bao gồm yêu cầu về trụ sở và trang thiết bị phục vụ cho hoạt động kinh doanh.
Hoạt động kinh doanh chứng khoán tiềm ẩn nhiều rủi ro, do bản chất của chứng khoán vốn đã có tính rủi ro Các công ty chứng khoán (CTCK) không thể tránh khỏi việc đối mặt với những rủi ro này, ảnh hưởng không chỉ đến hoạt động của họ mà còn gây thiệt hại cho nhà đầu tư và có nguy cơ dẫn đến rủi ro hệ thống Để đảm bảo thị trường chứng khoán (TTCK) hoạt động hiệu quả và có thể kiểm soát được, các CTCK cần tuân thủ các quy định pháp luật nghiêm ngặt.
1.1.1.3 Nguyên tắc trong hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán
Hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán (CTCK) tác động đến nhiều bên liên quan và sự biến động của thị trường chứng khoán (TTCK) Vì lý do này, pháp luật các quốc gia đã quy định nghiêm ngặt về hoạt động của CTCK Tại Việt Nam, các nguyên tắc hoạt động của CTCK đã được luật hóa, bao gồm những nguyên tắc quan trọng.
CTCK cần thiết lập quy trình và nghiệp vụ kiểm soát nội bộ, cũng như quản trị rủi ro cho các hoạt động được cấp phép.
- CTCK phải ban hành các các quy tắc đạo đức hành nghề phù hợp với nghiệp vụ kinh doanh của công ty
Công ty chứng khoán cần phải tách biệt văn phòng làm việc, nhân sự, hệ thống dữ liệu và báo cáo giữa các bộ phận nghiệp vụ để ngăn chặn xung đột lợi ích giữa công ty và khách hàng, cũng như giữa các khách hàng với nhau Đồng thời, công ty chứng khoán phải thông báo cho khách hàng về những xung đột lợi ích có thể xảy ra giữa công ty, người hành nghề chứng khoán và khách hàng.
Khái quát về rủi ro trong hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán
1.2.1 Khái niệm rủi ro trong hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán
Thị trường chứng khoán (TTCK) mang đến nhiều cơ hội cho các công ty chứng khoán (CTCK) trong việc tìm kiếm lợi nhuận, nhưng cũng đi kèm với rủi ro Dù là nhà đầu tư chuyên nghiệp, CTCK không thể thoát khỏi quy luật của thị trường Hiểu rõ về rủi ro không chỉ giúp CTCK mà còn hỗ trợ các nhà làm luật tìm ra giải pháp giảm thiểu rủi ro trong hoạt động của CTCK Rủi ro là khái niệm phổ biến nhưng chưa có định nghĩa thống nhất, tùy thuộc vào lĩnh vực hoạt động Theo Hồ Diệu, rủi ro là tổn thất tài sản hoặc sụt giảm lợi nhuận thực tế so với dự kiến ISO Guide 73 định nghĩa rủi ro là hiệu ứng của sự không chắc chắn về mục tiêu, trong khi Frank Knight cho rằng rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường Quyết định 105/2013/QĐ-UBCK định nghĩa rủi ro là các sự kiện không chắc chắn có thể xảy ra trong hoạt động kinh doanh, ảnh hưởng đến mục tiêu của CTCK Khái niệm rủi ro của nhà làm luật rõ ràng và bao quát các đặc điểm cơ bản, và tác giả đồng tình với quan điểm này để làm cơ sở phân tích trong bài nghiên cứu.
Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán (CTCK) là những sự kiện không chắc chắn có thể xảy ra, với mỗi hoạt động kinh doanh mang theo những rủi ro riêng Các yếu tố bên trong và bên ngoài CTCK có thể tác động đến quá trình hoạt động, dẫn đến những tình huống và sự kiện phát sinh Một số sự kiện có thể được CTCK dự đoán và đo lường với độ tin cậy nhất định thông qua các phương pháp định tính và định lượng, trong khi những sự kiện khác lại không thể dự đoán hoặc đo lường do tính bất thường của chúng.
31 GS TS Đoàn Thị Hồng Vân (2009), ―Quản trị rủi ro & khủng hoảng‖, nhà xuất bản Lao động – Xã hội, tr 30.
32 ―A structured approach toEnterprise Risk Management (ERM) and the requirements of ISO 31000‖, tr
33 ―Rủi ro là gì‖, http://kqtkd.duytan.edu.vn/Home/ArticleDetail/vn/88/2408/rui-ro-la-gi, truy cập ngày 15/7/2016
Rủi ro có thể gây bất lợi cho việc thực hiện mục tiêu kinh doanh của công ty chứng khoán (CTCK), ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài chính và lợi nhuận thực tế so với kế hoạch Mặc dù CTCK có nhiều mục tiêu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, nhưng mục tiêu lợi nhuận vẫn là quan trọng nhất Khi rủi ro xảy ra, CTCK có thể mất một lượng vốn lớn mà không thu lại được lợi nhuận như mong đợi, đồng thời còn làm giảm uy tín và hình ảnh công ty, dẫn đến việc mất khách hàng hiện tại và tiềm năng Điều này có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tồn tại và phát triển của CTCK trên thị trường.
Rủi ro trong lĩnh vực chứng khoán có thể ảnh hưởng đến nhiều đối tượng, bắt đầu từ việc gây tổn thất cho chính công ty chứng khoán (CTCK) Tiếp theo, các nhà đầu tư, những người có mối quan hệ trực tiếp với CTCK qua việc sử dụng dịch vụ, cũng sẽ chịu ảnh hưởng Nếu rủi ro mang tính dây chuyền, thiệt hại sẽ lan rộng ra cả thị trường chứng khoán, thị trường tài chính và nền kinh tế nói chung, dẫn đến những hậu quả không thể tránh khỏi.
Rủi ro là một phần không thể tách rời trong hoạt động của các công ty chứng khoán (CTCK), tạo ra thách thức lớn cho sự phát triển của họ Tuy nhiên, từ góc độ tích cực, những rủi ro này thúc đẩy CTCK phải thay đổi và cơ cấu lại để phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của thị trường Điều này giúp họ duy trì vị thế cạnh tranh trong môi trường khốc liệt, đồng thời nâng cao sự chú trọng đến quản trị rủi ro (QTRR) và triển khai các biện pháp phòng ngừa hiệu quả nhằm cải thiện kết quả kinh doanh.
1.2.2 Phân loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán
Các nhà nghiên cứu tiếp cận rủi ro từ nhiều góc độ khác nhau tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu của họ Họ cũng phân loại rủi ro theo các tiêu chí nhất định, trong đó có một số cách phân loại phổ biến.
Rủi ro trong thị trường chứng khoán được chia thành hai loại chính: rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống Rủi ro hệ thống ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống thị trường chứng khoán và tất cả các chủ thể tham gia, trong khi rủi ro phi hệ thống chỉ tác động đến một hoặc một nhóm chủ thể cụ thể Tác giả Trần Thị Xuân Anh đã tổng hợp các yếu tố này thông qua việc khảo sát 77 công ty chứng khoán tại Việt Nam trong luận án của mình.
34 ―Mục tiêu chiến lƣợc của doanh nghiệp‖, http://quantri.vn/dict/details/134-muc-tieu-chien-luoc-cua- doanh-nghiep, truy cập ngày 15/7/2016
35 ―Chứng khoán và rủi ro trong kinh doanh chứng khoán‖, https://luatduonggia.vn/chung-khoan-va-rui- ro-trong-kinh-doanh-chung-khoan, truy cập ngày 10/7/2016
Tiến sĩ ngân hàng ―Tăng cường quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các công ty cổ phần chứng khoán ở Việt Nam‖ 36
Dựa trên các rủi ro liên quan đến các nghiệp vụ kinh doanh, có thể phân loại thành các loại rủi ro như: rủi ro từ hoạt động tự doanh chứng khoán, rủi ro từ hoạt động môi giới chứng khoán, rủi ro từ hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán, rủi ro từ hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán và rủi ro từ các hoạt động khác.
Trong bài khóa luận này, tác giả nghiên cứu vấn đề phòng ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh của CTCK bằng cách phân loại rủi ro theo nguyên nhân Tác giả xác định các rủi ro thuộc nhóm nguyên nhân nào mà CTCK có khả năng phòng ngừa, từ đó xây dựng các biện pháp phòng ngừa phù hợp Rủi ro được phân loại thành hai nhóm cơ bản: rủi ro do nguyên nhân khách quan và rủi ro do nguyên nhân chủ quan.
Rủi ro trong nhóm 1 xảy ra do nguyên nhân khách quan, nằm ngoài tầm kiểm soát của công ty chứng khoán (CTCK) Những rủi ro này đến từ các yếu tố môi trường bên ngoài, bao gồm môi trường vĩ mô như kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, kỹ thuật và luật pháp, cũng như môi trường vi mô hay còn gọi là môi trường ngành, liên quan đến đối thủ cạnh tranh, khách hàng, sản phẩm thay thế và nhà cung ứng Tác giả phân loại nhóm nguyên nhân khách quan thành hai loại rủi ro chính: rủi ro thị trường và rủi ro thanh toán.
Rủi ro thị trường là yếu tố có thể làm thay đổi giá trị tài sản theo chiều hướng bất lợi, ảnh hưởng đến toàn bộ các chủ thể trong nền kinh tế, đặc biệt là các công ty chứng khoán (CTCK) hoạt động trên thị trường chứng khoán (TTCK) CTCK phải chấp nhận rủi ro này và tìm cách giảm thiểu tổn thất, vì nó tác động đến danh mục đầu tư tự doanh, chứng khoán của khách hàng và các khoản vay ký quỹ Rủi ro thị trường có thể xuất phát từ biến động quốc tế, như sự giảm giá dầu thô vào đầu năm 2016, hoặc từ tình hình kinh tế và chính trị trong nước, dẫn đến sự sụt giảm giá chứng khoán và ảnh hưởng đến hoạt động của CTCK.
36 Phụ Lục 01 ―Bảng tổng hợp các yếu tố rủi ro cơ bản đối với CTCK Việt Nam‖.
Biến động lãi suất ảnh hưởng lớn đến hoạt động của công ty chứng khoán (CTCK) Khi lãi suất tiền gửi ngân hàng tăng, nhà đầu tư có xu hướng rút tiền để chuyển sang kênh đầu tư ngân hàng Đồng thời, lãi suất cho vay tăng cũng tạo thêm gánh nặng cho CTCK trong việc thanh toán khoản vay ngân hàng cho khách hàng vay ký quỹ Ngoài ra, biến động tỷ giá có thể dẫn đến tổn thất trong các giao dịch ngoại tệ Môi trường kinh tế, chính trị và pháp lý cũng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của CTCK; nếu hệ thống pháp luật không đồng bộ và phù hợp với thực tiễn, CTCK sẽ gặp khó khăn trong hoạt động.
Rủi ro thanh toán xảy ra khi đối tác không thể thanh toán hoặc chuyển giao tài sản đúng hạn, đặc biệt trong hoạt động đầu tư trái phiếu và cho vay ký quỹ của công ty chứng khoán (CTCK) Trong cho vay ký quỹ, khi giá cổ phiếu giảm, giá trị tài sản bảo đảm cũng giảm, dẫn đến việc khách hàng không bổ sung tài sản theo yêu cầu, gây khó khăn cho CTCK trong việc thu hồi tiền cho vay Ngoài ra, rủi ro thanh toán cũng xuất hiện khi tổ chức phát hành trái phiếu gặp khó khăn về thanh khoản Nhóm rủi ro thứ hai bao gồm các rủi ro do nguyên nhân chủ quan, nằm trong tầm kiểm soát của CTCK, như rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động và rủi ro pháp lý.
Rủi ro thanh khoản là tình trạng khi công ty chứng khoán (CTCK) không thể thực hiện các nghĩa vụ tài chính đến hạn hoặc chuyển đổi các công cụ tài chính thành tiền mặt với giá trị hợp lý trong thời gian ngắn do thiếu hụt thanh khoản trên thị trường Rủi ro này chủ yếu xuất phát từ vấn đề tài chính của CTCK, dẫn đến việc không đảm bảo tỷ lệ an toàn trong hoạt động Khi CTCK không thể trả nợ đúng hạn hoặc không đáp ứng nhu cầu mua chứng khoán của nhà đầu tư sử dụng vốn vay ký quỹ, rủi ro này trở nên nghiêm trọng hơn Nguyên nhân chính của rủi ro thanh khoản thường là do thiếu hụt nguồn vốn hoặc sự không hợp lý trong cân đối kỳ hạn, và đây là một rủi ro đáng lo ngại có thể dẫn đến nguy cơ phá sản của CTCK.
Rủi ro hoạt động là rủi ro phát sinh từ lỗi kỹ thuật, hệ thống, quy trình nghiệp vụ, và lỗi con người trong quá trình tác nghiệp Ngoài ra, rủi ro này cũng có thể do thiếu vốn kinh doanh, chi phí phát sinh, lỗ từ hoạt động đầu tư, hoặc các nguyên nhân khách quan khác Rủi ro hoạt động không chỉ liên quan đến công ty chứng khoán (CTCK) mà còn đến nhân viên hành nghề của họ.
39 ―Báo cáo thường niên SSI 2015‖, tr 109
Tổng quan về phòng ngừa rủi ro và sự cần thiết của pháp luật về phòng ngừa rủi ro
ngừa rủi ro trong hoạt động của công ty chứng khoán
1.3.1 Tổng quan về phòng ngừa rủi ro trong hoạt động của công ty chứng khoán
1.3.1.1 Khái niệm phòng ngừa rủi ro trong hoạt động của công ty chứng khoán
CTCK cần chủ động phòng ngừa rủi ro thông qua quản trị rủi ro (QTRR), không thể chờ đợi rủi ro xảy ra QTRR là một phần thiết yếu trong quản trị công ty, giúp CTCK hoạt động hiệu quả trước những biến động của môi trường kinh doanh và thị trường chứng khoán Tuy nhiên, không phải công ty nào cũng nhận thức đúng về QTRR; một số công ty chỉ chú trọng lợi nhuận mà bỏ qua quản lý rủi ro, làm giảm chất lượng hoạt động chung Hiện tại, chưa có khái niệm thống nhất về QTRR, nhưng có thể hiểu QTRR là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học và hệ thống nhằm nhận diện, kiểm soát và giảm thiểu tổn thất Theo định nghĩa của COCO, QTRR doanh nghiệp là quá trình do Hội đồng quản trị và ban giám đốc thực hiện để xác định các sự kiện tiềm năng ảnh hưởng đến doanh nghiệp Trong CTCK, QTRR bao gồm nhận diện, đo lường, đánh giá và xử lý rủi ro nhằm đảm bảo hoạt động kinh doanh ổn định và phát triển Mục tiêu chính của QTRR trong CTCK là hạn chế tổn thất và phòng ngừa rủi ro, trong đó tác giả tập trung vào mục tiêu phòng ngừa rủi ro như một phần của QTRR.
Theo từ điển Tiếng Việt, phòng ngừa đƣợc hiểu là không cho điều bất lợi, tai hại xảy
43 GS TS Đoàn Thị Hồng Vân (2009), tlđd(31), tr 62.
44 ―Enterprise Risk Management — Integrated Framework‖ (2004), tr 2
45 PGS TS Lê Hoàng Nga (2012), ―Một số vấn đề về quản trị rủi ro trong các công ty chứng khoán ở Việt Nam‖, tạp chí ngân hàng, (18), tr 37
Theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9000:2007, hành động phòng ngừa nhằm loại bỏ nguyên nhân của sự không phù hợp tiềm tàng Trong lĩnh vực chứng khoán, phòng ngừa rủi ro được hiểu là quá trình nhận diện, phân loại, đo lường, đánh giá, báo cáo và đề ra biện pháp loại bỏ nguyên nhân dẫn đến rủi ro, nhằm hạn chế mức thấp nhất rủi ro xảy ra Hành động này tập trung vào việc giải quyết vấn đề từ gốc rễ, không chỉ khắc phục những tổn thất đã xảy ra Các yếu tố ảnh hưởng đến phòng ngừa rủi ro trong CTCK bao gồm quy mô tổ chức, tiềm lực tài chính, môi trường kinh doanh, và nhận thức của ban lãnh đạo cũng như nhân viên.
1.3.1.2 Nguyên tắc phòng ngừa rủi ro
Phòng ngừa rủi ro hiệu quả là yếu tố then chốt cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp Để xây dựng và triển khai hệ thống phòng ngừa rủi ro thành công, cần tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản.
- Phòng ngừa rủi ro phải tiến hành liên tục và có hệ thống, liên kết chặt chẽ, hiệu quả giữa các khâu, các cấp, phòng ban trong công ty
- Phòng ngừa rủi ro phải đƣợc thiết lập và vận hành phù hợp với điều kiện hoạt động kinh doanh của công ty
Phòng ngừa rủi ro cần có một cơ cấu tổ chức hoàn chỉnh và vận hành thống nhất, đồng thời quy trình phải xử lý ít nhất ba loại rủi ro quan trọng: rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động và rủi ro pháp lý.
Hệ thống phòng ngừa rủi ro cần có chiến lược rõ ràng và minh bạch, đồng thời phải được giám sát chặt chẽ bởi Ban kiểm soát, kiểm toán nội bộ (KTNB) và kiểm soát nội bộ (KSNB).
- Hệ thống phòng ngừa rủi ro đƣợc thực hiện một cách độc lập, khách quan, trung thực, thống nhất và phải đƣợc thể hiện bằng văn bản
Để đảm bảo tính hiệu quả trong quản lý rủi ro, cần tổ chức bộ phận tác nghiệp và bộ phận phòng ngừa rủi ro một cách tách biệt và độc lập Người phụ trách bộ phận tác nghiệp không được kiêm nhiệm vai trò lãnh đạo bộ phận phòng ngừa rủi ro và ngược lại.
- Tất cả tài liệu liên quan đến phòng ngừa cần được lưu giữ và cung cấp cho cơ quan quản lý khi có yêu cầu
1.3.1.3 Quy trình phòng ngừa rủi ro 47
Quy trình phòng ngừa rủi ro thường bao gồm các giai đoạn như sau:
46 ―Hành động phòng ngừa là gì?‖,http://www.vinacert.vn/hanh-dong-phong-ngua-la-gi_info.html, truy cập ngày 16/7/2016
47 GS TS Đoàn Thị Hồng Vân (2009), tlđd (30), tr 64
Giai đoạn 1 trong quản lý rủi ro là nhận dạng và phân loại rủi ro, đóng vai trò quan trọng trong việc xác định các rủi ro trong hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán (CTCK) Việc hiểu rõ các rủi ro mà CTCK có thể gặp phải giúp tìm ra biện pháp phòng ngừa hiệu quả Bộ phận phòng ngừa sẽ tích hợp với bộ phận hạn chế rủi ro để tiết kiệm thời gian và chi phí, đồng thời nghiên cứu và theo dõi môi trường kinh doanh Phân tích các yếu tố tác động đến doanh nghiệp có thể thực hiện bằng phương pháp định lượng hoặc định tính, bao gồm cả rủi ro hiện tại và dự báo rủi ro mới Sự phân tích này cần xem xét các yếu tố vĩ mô như mô hình PESTL và các yếu tố vi mô theo mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Michael Porter Qua đó, CTCK có thể nhận diện cơ hội và thách thức trong môi trường kinh doanh Nhiệm vụ của bộ phận phòng ngừa rủi ro còn bao gồm phân tích nội bộ doanh nghiệp thông qua chuỗi giá trị, nhằm xác định điểm mạnh và điểm yếu, từ đó lập hồ sơ rủi ro và phân loại chúng để có biện pháp xử lý phù hợp.
Giai đoạn 2 trong quy trình quản lý rủi ro là đo lường rủi ro, nơi các công ty chứng khoán (CTCK) xây dựng và áp dụng các biện pháp đo lường phù hợp nhằm phòng ngừa rủi ro CTCK có thể sử dụng cả phương pháp định tính và định lượng để thực hiện việc này Việc đo lường rủi ro thường dựa trên hai tiêu chí chính: mức độ nghiêm trọng và tần suất xuất hiện, từ đó giúp xếp hạng các rủi ro và chuẩn bị kế hoạch xử lý hiệu quả Kết quả đo lường rủi ro có thể được tổng hợp thành bảng đánh giá gồm 49 mục.
48 Chuỗi giá trị (value chain) là một chuỗi những hoạt động có liên quan của DN nhằm tạo và tăng giá trị cho khách hàng
Nhà QTRR cần chú ý đến bốn nhóm rủi ro: nhóm có mức độ nghiêm trọng cao và tần suất xuất hiện nhiều, nhóm có tần suất xuất hiện nhiều nhưng mức độ nghiêm trọng không cao, nhóm có mức độ nghiêm trọng cao nhưng tần suất xuất hiện không cao, và nhóm có tần suất xuất hiện thấp với mức độ không đáng nghiêm trọng Mặc dù các nhóm này có mức độ và tính chất khác nhau, nhà QTRR không nên chủ quan và bỏ qua những rủi ro thuộc nhóm có tác động thấp.
Giai đoạn 3: Theo dõi rủi ro là bước quan trọng sau khi đã nhận diện, phân loại và đo lường Công ty chứng khoán (CTCK) cần theo dõi chặt chẽ các rủi ro để phát hiện những thiếu sót trong quá trình đánh giá và nắm bắt xu thế vận động của chúng Việc theo dõi này phải được thực hiện cẩn thận và lưu lại để phục vụ cho việc xây dựng các biện pháp xử lý hiệu quả.
Giai đoạn 4: Báo cáo và xử lý rủi ro là bước quan trọng trong quản lý rủi ro Tất cả các thiếu sót phát hiện qua quá trình theo dõi phải được báo cáo Bộ phận phòng ngừa rủi ro sẽ tổng hợp thông tin từ các giai đoạn trước để đề ra quy trình xử lý Quy trình này bao gồm: xác định các biện pháp khả thi, đánh giá ưu nhược điểm của từng biện pháp, và xây dựng kế hoạch xử lý với trách nhiệm, tiến độ và nguồn lực cần thiết Mặc dù chi phí phòng ngừa rủi ro ban đầu có thể cao, nhưng đây là một khoản đầu tư lâu dài giúp hạn chế chi phí khắc phục tổn thất Cuối cùng, kế hoạch xử lý sẽ được thực hiện và nếu còn rủi ro chưa được tính đến, các thủ tục sẽ được lặp lại cho đến khi rủi ro đạt mức chấp nhận được.
Quy trình phòng ngừa rủi ro cần được cải thiện liên tục để theo kịp sự thay đổi trong quy mô và phương thức hoạt động của công ty chứng khoán (CTCK) Để hệ thống phòng ngừa rủi ro hoạt động hiệu quả, cần có sự phân cấp trách nhiệm rõ ràng giữa các bên liên quan, bao gồm Hội đồng Quản trị, Tổng giám đốc, và các bộ phận nghiệp vụ Tính độc lập và quy trình thực hiện phải được tuân thủ nghiêm túc; nếu CTCK chỉ thực hiện trên giấy tờ mà không có hành động thực tế, họ sẽ tự đẩy mình vào rủi ro trong tương lai Các CTCK cần cân nhắc giữa việc tự thiết kế hệ thống phòng ngừa rủi ro hoặc thuê tổ chức chuyên nghiệp bên ngoài, đồng thời thực hiện phân tích chi phí và lợi nhuận để đưa ra quyết định hợp lý.
22 trình lâu dài – chiến lƣợc của công ty mang tính chất dài hạn chứ không phải giải pháp tức thời
1.3.2 Sự cần thiết của pháp luật về phòng ngừa rủi ro trong hoạt động của công ty chứng khoán Để thực hiện quản lý kinh tế - xã hội, nhà nước có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau, trong đó công cụ pháp luật là hiệu quả nhất Bởi vì, những quy định pháp luật có tính quy phạm phổ biến sẽ có tính bắt buộc chung đối với các chủ thể mà nó hướng tới điều chỉnh Bên cạnh đó, pháp luật đảm bảo tính chặt chẽ, nội dung pháp luật đƣợc biểu hiện bằng ngôn ngữ rõ ràng chính xác trong những hình thức nhất định và pháp luật còn được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước Tùy mức độ áp dụng mà các chủ thể đƣợc khuyến khích hoặc cƣỡng chế nếu không thực hiện sẽ chịu các chế tài xử lý nghiêm khắc Trong hoạt động kinh doanh chứng khoán, các quan hệ xã hội mà pháp luật điều chỉnh mang tính chất kinh tế nên những quy định của pháp luật có thể thấy là sự luật hóa những nội dung này thành các biện pháp pháp lý để hỗ trợ, đồng hành cùng biện pháp kinh tế của CTCK trong việc phòng ngừa rủi ro Sự cần thiết của những quy định pháp luật về phòng ngừa rủi ro trong CTCK xuất phát từ những nguyên nhân sau đây:
Để thực hiện công tác phòng ngừa rủi ro trong công ty chứng khoán (CTCK), cần xem xét đối tượng được bảo vệ, không chỉ đảm bảo an toàn cho CTCK mà còn cho khách hàng, thị trường chứng khoán (TTCK) và nền kinh tế Việc đánh giá toàn diện công tác này là rất quan trọng để bảo vệ tất cả các bên liên quan.
Đối với công ty chứng khoán (CTCK), việc phòng ngừa rủi ro là rất quan trọng để đảm bảo an toàn trong hoạt động Thực hiện công tác này giúp CTCK chủ động điều chỉnh hoạt động, bảo vệ công ty khỏi thiệt hại về tài chính, nhân sự và hình ảnh Sau một thời gian hoạt động, nhiều CTCK đã bộc lộ yếu kém, đặc biệt về mặt tài chính Để phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án tái cấu trúc, trong đó tái cấu trúc tổ chức kinh doanh chứng khoán là một trong bốn trụ cột chính nhằm nâng cao năng lực tài chính, quản trị công ty và quản trị rủi ro theo tiêu chuẩn quốc tế Quá trình này đã giúp thanh lọc những CTCK yếu kém, nâng cao năng lực tài chính và chất lượng hoạt động Để tiếp tục phát triển ổn định và lành mạnh, các quy định pháp luật về phòng ngừa rủi ro cho CTCK là điều không thể thiếu.
Những nội dung pháp luật điều chỉnh về phòng ngừa rủi ro trong hoạt động kinh
Các quy định pháp luật về phòng ngừa rủi ro trong hoạt động của công ty chứng khoán (CTCK) được Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến việc phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh của CTCK Nội dung pháp luật tập trung vào việc loại bỏ nguyên nhân rủi ro từ phía CTCK và người hành nghề chứng khoán, đồng thời quy định trách nhiệm thanh tra, giám sát của cơ quan quản lý Việc trình bày các yêu cầu cơ bản trong các biện pháp pháp lý này là cơ sở để đối chiếu với thực trạng quy định pháp luật hiện hành, được trình bày cụ thể trong chương 2.
Những quy định pháp luật loại bỏ nguyên nhân từ phía CTCK:
Hệ thống phòng ngừa rủi ro trong công ty chứng khoán (CTCK) đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và giảm thiểu rủi ro Việc thiết lập và vận hành hệ thống quản trị rủi ro (QTRR) không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn đảm bảo sự ổn định và bền vững cho hoạt động của CTCK.
Công ty chứng khoán (CTCK) cần xây dựng hệ thống phòng ngừa rủi ro để tồn tại trong môi trường cạnh tranh khốc liệt của thị trường Với vai trò quan trọng của CTCK trên thị trường chứng khoán (TTCK), cơ quan quản lý đã ban hành quy định khung mà CTCK phải tuân thủ, đồng thời cho phép CTCK sáng tạo trong khuôn khổ pháp luật để phù hợp với tình hình cụ thể Việc thiết lập hệ thống phòng ngừa rủi ro là nghĩa vụ bắt buộc của CTCK nhằm tránh tình trạng mất cân đối trong hoạt động Pháp luật cũng cần có hướng dẫn vĩ mô để không can thiệp quá sâu vào hoạt động kinh doanh của các chủ thể Để đảm bảo tính thống nhất trong việc phòng ngừa rủi ro, pháp luật quy định các nguyên tắc và phân định trách nhiệm rõ ràng cho ban lãnh đạo, các bộ phận và nhân viên Hệ thống phòng ngừa rủi ro cần được đánh giá qua các tiêu chí như tính độc lập, khả năng phòng ngừa rủi ro và văn hóa phòng ngừa Cơ quan kiểm tra, giám sát sẽ thực hiện kiểm tra định kỳ và bất thường, đồng thời áp dụng biện pháp chế tài nếu CTCK không tuân thủ quy định.
Các quy định về tỷ lệ an toàn tài chính là rất quan trọng để quản lý rủi ro cho các công ty chứng khoán (CTCK) trên toàn cầu Để đảm bảo an toàn tài chính, các CTCK phải tuân thủ quy định về mức vốn pháp định, điều này là điều kiện tiên quyết để hoạt động trên thị trường chứng khoán Vốn ban đầu không chỉ giúp công ty khởi động kinh doanh mà còn tích hợp các khoản dự phòng cho khủng hoảng và các quỹ khác Mức vốn này giúp CTCK chuẩn bị cho các tình huống khó khăn, tránh bị lúng túng trong việc nâng cao tài chính So với các CTCK trên thế giới, mức vốn kinh doanh tại Việt Nam còn thấp Do đó, việc tuân thủ quy định về quản lý tài chính và tỷ lệ an toàn tài chính là rất cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của CTCK.
Các công ty chứng khoán (CTCK) phải duy trì tỷ lệ vốn khả dụng không thấp hơn 180% để tránh bị cảnh báo Nếu tỷ lệ vốn dao động từ 120% đến 150% trong 3 tháng liên tiếp, CTCK sẽ rơi vào tình trạng kiểm soát, và nếu giảm xuống dưới 120%, sẽ bị đưa vào kiểm soát đặc biệt Tỷ lệ an toàn được tính toán dựa trên tổng vốn khả dụng và tổng giá trị rủi ro, và mỗi thị trường chứng khoán có quy định khác nhau Ví dụ, tại Mỹ, tổng khoản nợ không được vượt quá 15 lần vốn chủ sở hữu Ngoài ra, còn có các quy định về hạn chế cho vay, đầu tư và vay nợ, như tại Hàn Quốc, CTCK không được sử dụng quá 60% giá trị tài sản ròng để mua cổ phiếu niêm yết và không được mua quá 6% giá trị tài sản ròng của một công ty niêm yết Những yêu cầu này được điều chỉnh theo từng giai đoạn phát triển kinh tế.
Kiểm toán nội bộ (KTNB) là hoạt động đánh giá và tư vấn độc lập nhằm cải tiến và tăng giá trị cho tổ chức, giúp đạt được mục tiêu thông qua việc đánh giá và cải tiến hệ thống quản trị, kiểm soát và quản lý rủi ro Nội dung kiểm toán bao gồm kiểm toán báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động Mặc dù KTNB đóng vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa rủi ro và cải thiện hệ thống quản lý, Việt Nam hiện chưa có luật quy định riêng về hoạt động này, dẫn đến việc thiếu hướng dẫn cụ thể cho các công ty chứng khoán Kiểm soát nội bộ (KSNB) là công cụ thiết yếu trong quản trị rủi ro, nhưng vẫn chưa được xây dựng đầy đủ và quy định chặt chẽ, tạo ra kẽ hở cho lạm dụng chức năng nhiệm vụ trong công ty.
KTNB, KSNB là hai tuyến phòng thủ đầu tiên cho CTCK nên đòi hỏi pháp luật có
52 Theo khoản 6 Điều 2 Thông tƣ 226/2010, Tổng lƣợng vốn khả dụng = (Vốn khả dụng/Tổng giá trị rủi ro).
54 Điểm a Khoản 1 Điều 14 Thông tƣ 226/2010.
55 PGS TS Lê Hoàng Nga (2015), tlđd (2), tr 237
56 PGS TS Lê Hoàng Nga (2015), tlđd (2), tr 238.
Việc cải cách và nâng cao chất lượng kiểm toán nội bộ sẽ giúp tăng cường tính minh bạch và hiệu quả trong quản lý tài chính.** **Đồng thời, điều này cũng góp phần vào việc xây dựng niềm tin của công chúng đối với các tổ chức và doanh nghiệp.** **Sự thay đổi này không chỉ đáp ứng yêu cầu của thị trường mà còn phù hợp với xu hướng toàn cầu trong lĩnh vực kiểm toán.** **Do đó, việc thực hiện các biện pháp cải cách là rất quan trọng để phát triển bền vững trong tương lai.
58 Nguyễn Thị Hồng Lam, Nguyễn Thu Hoài (2015), ―Hoàn thiện hệ thống pháp lý về kiểm toán nội bộ‖, Kinh tế dự báo, số 24, tr 12
Để đảm bảo hiệu quả hoạt động của hai bộ phận kiểm toán nội bộ (KTNB) và kiểm soát nội bộ (KSNB), cần tuân thủ 28 quy định chặt chẽ Hai mô hình tổ chức cho KTNB và KSNB là thuộc Hội đồng quản trị và thuộc Ban Giám đốc, mỗi mô hình có ưu và nhược điểm riêng Mô hình thuộc Hội đồng quản trị tăng tính độc lập nhưng khó khăn trong phối hợp, trong khi mô hình thuộc Ban Giám đốc dễ dàng phối hợp hơn nhưng tính độc lập không cao Pháp luật yêu cầu đảm bảo tính khách quan và trung thực trong thực hiện KTNB, KSNB, nhằm phục vụ lợi ích chung của công ty mà không bị ảnh hưởng bởi định kiến Để thực hiện các nguyên tắc này, nhân sự thực hiện hai hoạt động này cần có chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp phù hợp.
Các quy định về hạn chế xung đột lợi ích trong hoạt động của công ty chứng khoán (CTCK) nhằm ngăn chặn những xung đột giữa CTCK và khách hàng Để thực hiện điều này, cần có sự tách bạch giữa các chức năng và cơ cấu tổ chức của các hoạt động kinh doanh Có ba mức độ hạn chế: tách biệt giữa các phòng ban, tách biệt các bộ phận thành chi nhánh độc lập và ngăn cấm kết hợp trong cùng một tổ chức Đặc biệt, trong một thị trường chứng khoán chuyên nghiệp, CTCK cần tách bạch hoạt động tự doanh với các hoạt động khác thông qua "Bức tường Trung Hoa" để ngăn chặn sự lan truyền thông tin kín Bức tường này được xây dựng bằng các biện pháp quản lý và quy chế mạnh mẽ nhằm bảo vệ thông tin nhạy cảm Cơ quan quản lý sẽ lựa chọn các biện pháp hạn chế xung đột phù hợp với tình hình phát triển của thị trường Theo pháp luật chứng khoán Việt Nam, các quy định này bao gồm nguyên tắc hoạt động và nghĩa vụ của CTCK và nhân viên, chủ yếu tập trung vào việc tách biệt cơ sở vật chất và bố trí nhân viên hành nghề.
59 Trần Ngọc Hiếu (2014), Giải quyết xung đột lợi ích trong CTCK, Khóa luận tốt nghiệp, Trường đại học Luật TP.Hồ Chí Minh, tr 24
I don't know!
Để đảm bảo 29 quy định được thực hiện nghiêm túc, cần thiết phải có cơ chế giám sát và xử lý mạnh mẽ đối với các công ty chứng khoán (CTCK) khi không tuân thủ các quy định pháp luật liên quan.
Quy định pháp luật loại bỏ nguyên nhân từ phía người hành nghề chứng khoán nhằm tăng cường độ tin cậy trong hoạt động kinh doanh Đạo đức nghề nghiệp trong lĩnh vực chứng khoán được hiểu là tập hợp các chuẩn mực hành vi mà những người thực hiện nghiệp vụ phải tuân theo Mặc dù số lượng nhân viên hành nghề chứng khoán gia tăng, chất lượng nguồn nhân lực vẫn chưa được đảm bảo Các quy tắc đạo đức đóng vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn cách ứng xử của những người làm việc trong lĩnh vực này Pháp luật yêu cầu các công ty chứng khoán phải ban hành quy tắc đạo đức nghề nghiệp cho các nghiệp vụ kinh doanh của mình.
Cơ quan quản lý có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ và giám sát hoạt động của các công ty chứng khoán (CTCK) nhằm ngăn ngừa rủi ro Ở Việt Nam, Ủy ban chứng khoán nhà nước (UBCKNN) thực hiện thanh tra và giám sát để đánh giá tình hình tài chính và công tác phòng ngừa rủi ro của CTCK Qua hoạt động này, UBCKNN có thể đưa ra cảnh báo sớm và khuyến nghị các biện pháp cải thiện hiệu quả hoạt động Thanh tra có thể được thực hiện định kỳ hoặc đột xuất, và cần có quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan Đồng thời, cần quy định trách nhiệm của cơ quan thanh tra để đảm bảo tính chính xác trong kết luận và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể khác trong nền kinh tế.
Rủi ro trong hoạt động của công ty chứng khoán (CTCK) là điều không thể tránh khỏi Chương 1 kết hợp lý thuyết quản trị kinh doanh và kiến thức pháp luật để trình bày tổng quan về các hoạt động kinh doanh của CTCK, các rủi ro mà họ phải đối mặt, quy trình phòng ngừa rủi ro, và sự cần thiết điều chỉnh bằng pháp luật Từ những phân tích này, Chương 2 sẽ so sánh với thực trạng quy định pháp luật hiện hành và đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý về phòng ngừa rủi ro trong hoạt động của CTCK.