1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong vụ án hành chính

65 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong vụ án hành chính
Tác giả Lê Thị Thu Nga
Người hướng dẫn Ths. Đỗ Thành Trung
Trường học Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hành Chính
Thể loại Luận Văn Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Khái niệm, đặc điểm đương sự trong vụ án hành chính (9)
    • 1.1.1. Khái niệm đương sự trong vụ án hành chính (9)
    • 1.1.2. Đặc điểm của đương sự trong vụ án hành chính (11)
  • 1.2. Khái niệm, đặc điểm về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong vụ án hành chính (13)
    • 1.2.1. Khái niệm về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong vụ án hành chính (13)
    • 1.2.2. Đặc điểm về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong vụ án hành chính (16)
  • 1.3. Những quy định pháp luật tố tụng hành chính về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong vụ án hành chính (21)
    • 1.3.1. Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình (21)
    • 1.3.2. Quyền được biết, đọc, ghi chép, sao chụp và xem các tài liệu, chứng cứ do đương sự khác cung cấp hoặc do Tòa án thu thập (25)
    • 1.3.3. Quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ, quản lý chứng cứ (28)
    • 1.3.4. Quyền đề nghị Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ của vụ án mà tự mình không thể thực hiện được; đề nghị triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá tài sản, thẩm định giá tài sản (29)
  • 1.4. Ý nghĩa của việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc (34)
    • 1.4.1. Đối với đương sự trong vụ án hành chính (34)
    • 1.4.2. Đối với Tòa án (36)
    • 1.4.3. Đối với nhà nước (37)
  • 2.1. Thực trạng thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong vụ án hành chính (40)
    • 2.1.1. Thực trạng thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình (41)
    • 2.1.2. Thực trạng thực hiện quyền được biết, đọc, ghi chép, sao chụp và xem các tài liệu, chứng cứ do đương sự khác cung cấp hoặc do Tòa án thu thập (45)
    • 2.1.3. Thực trạng thực hiện quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ, quản lý chứng cứ cung cấp chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho Tòa án (46)
    • 2.1.4. Thực trạng thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc đề nghị Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ, triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá, thẩm định giá tài sản (48)
  • 2.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật, thúc đẩy thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong vụ án hành chính (50)
    • 2.2.1. Hoàn thiện quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc (50)
    • 2.2.2. Hoàn thiện quy định về quyền được biết, đọc, ghi chép, sao chụp và xem các tài liệu, chứng cứ do đương sự khác cung cấp hoặc do Tòa án thu thập (52)
    • 2.2.3. Hoàn thiện quy định về quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ, quản lý chứng cứ cung cấp chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho Tòa án (53)
    • 2.2.4. Hoàn thiện quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc đề nghị Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ, triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá, thẩm định giá tài sản (54)
    • 2.2.5. Một số giải pháp về mặt thực tiễn (56)
  • KẾT LUẬN (61)

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Khóa luận trên nền tảng phân tích cơ sở lý luận và pháp lý để làm rõ những vấn đề về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong tố

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH

-*** -

LÊ THỊ THU NGA MSSV: 1155020165

QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG VIỆC

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan luận văn tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sỹ Đỗ Thành Trung, giảng viên Khoa Luật hành chính, trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh Luận văn đảm bảo tính trung thực và tuân thủ quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!

Tác giả

Lê Thị Thu Nga

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

PHẦN MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG VIỆC CUNG CẤP CHỨNG CỨ, CHỨNG MINH

TRONG VỤ ÁN HÀNH CHÍNH 4

1.1.Khái niệm, đặc điểm đương sự trong vụ án hành chính 4

1.1.1 Khái niệm đương sự trong vụ án hành chính 4

1.1.2 Đặc điểm của đương sự trong vụ án hành chính 6

1.2.Khái niệm, đặc điểm về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong vụ án hành chính 9

1.2.1 Khái niệm về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong vụ án hành chính 9

1.2.2 Đặc điểm về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong vụ án hành chính 11

1.3 Những quy định pháp luật tố tụng hành chính về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong vụ án hành chính 17

1.3.1 Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình 17

1.3.2 Quyền được biết, đọc, ghi chép, sao chụp và xem các tài liệu, chứng cứ do đương sự khác cung cấp hoặc do Tòa án thu thập 20

1.3.3 Quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ, quản lý chứng cứ cung cấp chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho Tòa án 23

1.3.4 Quyền đề nghị Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ của vụ án mà tự mình không thể thực hiện được; đề nghị triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá tài sản, thẩm định giá tài sản 26

1.4 Ý nghĩa của việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong vụ án hành chính 31

1.4.1 Đối với đương sự trong vụ án hành chính 31

1.4.2 Đối với Tòa án 33

1.4.3 Đối với nhà nước 32

Trang 4

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN VỀ QUYỀN

VÀ NGHĨA VỤ CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG VIỆC CUNG CẤP CHỨNG CỨ, CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN HÀNH CHÍNH 35 2.1 Thực trạng thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong vụ án hành chính 35

2.1.1 Thực trạng thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình 38 2.1.2 Thực trạng thực hiện quyền được biết, đọc, ghi chép, sao chụp và xem các tài liệu, chứng cứ do đương sự khác cung cấp hoặc do Tòa án thu thập 40 2.1.3 Thực trạng thực hiện quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ, quản lý chứng cứ cung cấp chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho Tòa án 41 2.1.4 Thực trạng thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc đề nghị Tòa

án xác minh, thu thập chứng cứ, triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá, thẩm định giá tài sản 46

2.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật, thúc đẩy thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong vụ án hành chính 45

2.2.1 Hoàn thiện quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình 45 2.2.2 Hoàn thiện quy định về quyền được biết, đọc, ghi chép, sao chụp và xem các tài liệu, chứng cứ do đương sự khác cung cấp hoặc do Tòa án thu thập 47 2.2.3 Hoàn thiện quy định về quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ, quản lý chứng cứ cung cấp chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho Tòa án 51 2.2.4 Hoàn thiện quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc đề nghị Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ, triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá, thẩm định giá tài sản 49 2.2.5 Một số giải pháp về mặt thực tiễn 51

KẾT LUẬN 56

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Bộ Luật TTDS Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa

đổi, bổ sung năm 2011

Luật TTHC Luật Tố tụng hành chính năm 2010

Pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ án

hành chính

Pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996, sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2006

NQ 02/2011 Nghị quyết 02/2011 của Hội đồng thẩm

phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Luật Tố tụng hành chính năm

2010

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 21/5/1996 và có hiệu lực thi hành ngày 01/7/1996 là một

sự kiện quan trọng đánh dấu bước phát triển mới trong ngành luật tố tụng hành chính Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết các vụ án hành chính, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người Tuy nhiên, vì xuất phát điểm là một trong những văn bản nền tảng đầu tiên trong lĩnh vực tố tụng hành chính nên những quy định trong Pháp lệnh còn rất hạn hẹp, chưa bao quát cũng như không bắt kịp nhu cầu trong tình hình mới Do vậy, yêu cầu đặt ra là cần có một văn bản khác thay thế Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính này

Luật TTHC Việt Nam đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa 12 thông qua ngày 24/11/2010 và chính thức có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2011 Sau khoảng thời gian áp dụng cho đến nay, Luật TTHC đã góp phần đáng kể vào việc giải quyết các vụ án hành chính, tạo cơ sở pháp lý vững chắc nhằm nâng cao chất lượng bản án, quyết định của Tòa án Có thể khẳng định sự ra đời của Luật TTHC là mốc son lịch sử đánh dấu bước phát triển mới về tư duy pháp

lý cũng như kỹ thuật lập pháp của nước nhà, khẳng định vai trò, tầm quan trọng của

nó so với Pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính trước đó Thế nhưng, cũng không phải là một ngoại lệ của hầu hết các văn bản quy phạm pháp luật khác, bên cạnh những hiệu quả tích cực mang lại, vẫn còn không ít những thiếu sót, bất cập dẫn đến tình trạng chất lượng bản án không được đảm bảo, không thống nhất trong thực tiễn áp dụng pháp luật, thậm chí có một tỉ lệ đáng kể án bị hủy, sửa… Xét về phương diện chung, có nhiều lý do dẫn đến tình trạng trên nhưng nổi bật nhất có thể thấy đó là những hạn chế trong việc quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh Bởi lẽ, việc thực hiện quyền

và nghĩa vụ này là cơ sở then chốt, có ý nghĩa tiên quyết để giải quyết các vụ án hành chính nói chung, bản án, quyết định được tuyên là dựa trên những chứng cứ, chứng minh có cơ sở chứ không phải chỉ là hoạt động cảm tính của con người Nhưng thực tế hiện nay cho thấy, những quy định của pháp luật về quyền và nghĩa

vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh mà nền tảng được quy định tại chương VI Luật TTHC vẫn còn quá chung chung, chưa đầy đủ, chi tiết, dẫn đến việc áp dụng không đúng, không đầy đủ, không thống nhất hoặc thậm chí phải chờ văn bản hướng dẫn thi hành Đây thực sự là một bất cập lớn cần được giải quyết triệt để nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp các bên khi tham gia vào quan

hệ tố tụng, thực hiện đường lối, chính sách, chủ trương của Đảng, Nhà nước cũng như đề cao vai trò trung tâm của Tòa án trong việc giải quyết các vụ án hành chính Nhận thức được điều này, yêu cầu đặt ra là cần làm rõ những vấn đề lý luận có liên quan, đồng thời tiến hành hoạt động phân tích, làm sáng tỏ những quy định của pháp luật để từ đó đề xuất các giải pháp thích hợp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật và nâng cao chất lượng bản án, quyết định của Tòa án Đó cũng là lý do

tác giả chọn đề tài “Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong vụ án hành chính” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp

Trang 7

2 Tình hình nghiên cứu

Thực tiễn cho thấy đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu

nào về đề tài “Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong vụ án hành chính” Tuy nhiên, xuất phát từ lý do đây là một vấn

đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong hoạt động tố tụng hành chính, là cơ sở để giải quyết các vụ án hành chính nói chung, do vậy cũng đã có một số tác giả nghiên cứu ở những góc độ nhất định và là những công trình thật sự có giá trị khoa học như: luận văn thạc sỹ Luật học trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh năm

2012 với đề tài “Chứng cứ trong vụ án hành chính”, luận văn thạc sỹ Luật học trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh năm 2012 với đề tài “Chứng minh trong vụ án hành chính” của tác giả Phan Thanh Hà, luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh năm 2014 “Hoạt động chứng minh trong tố tụng hành chính” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hân,luận văn tốt

nghiệp cử nhân Luật trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh năm 2014

“Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng hành chính” của tác giả Đặng Xuân

Sơn… và một số công trình nghiên cứu khác có liên quan

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chỉ tiếp cận và phân tích một số khía cạnh nhất định liên quan đến quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong quá trình giải quyết vụ án hành chính chứ không đi sâu, nghiên cứu toàn diện, triệt để vấn đề này

Do đó, có thể khẳng định đây là một đề tài mới và là nguồn tư liệu quan trọng trong việc thực hiện, sửa đổi, bổ sung quy định có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh

3 Mục đích nghiên cứu

Khóa luận trên nền tảng phân tích cơ sở lý luận và pháp lý để làm rõ những vấn

đề về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong tố tụng hành chính, đồng thời đánh giá thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật và đề xuất hướng giải quyết góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật có liên quan, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của Tòa án trong xét

xử, tạo niềm tin con người vào hoạt động quản lý nhà nước

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Về đối tượng nghiên cứu, tác giả tập trung nghiên cứu những quy định pháp luật

về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong vụ án hành chính, trên cơ sở đó tìm ra những bất cập trong quy định của pháp luật và kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện

Về phạm vi nghiên cứu, tác giả tập trung nghiên cứu các quy định tại chương

VI, Điều 8, Điều 49 và một số điều luật khác có liên quan trong Luật TTHC Ngoài

ra, còn nghiên cứu dựa trên một số văn bản pháp luật có liên quan như NQ 02/2011, Hiến pháp, Bộ Luật TTDS, Bộ luật hình sự và các văn bản xử lý vi phạm hành chính… cũng như Báo cáo tổng kết công tác của TANDTC và thực tiễn các vụ án hành chính trong những năm gần đây

Trang 8

5 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được hình thành dựa trên cơ sở phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin

về nhà nước và pháp luật Đây là phương pháp có ý nghĩa tiên quyết, tạo tiền đề để tác giả nhận thức đúng đắn, toàn diện hơn về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh

Đồng thời, tác giả còn kết hợp sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể khác như: phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp… trong công trình nghiên cứu này Mỗi phương pháp được sử dụng đều đóng một vai trò nhất định trong việc làm sáng

tỏ những vấn đề cần nghiên cứu, từ đó, giúp tác giả đưa ra những nhận xét, đánh giá cũng như đề xuất phương án nhằm hoàn thiện những quy định của pháp luật có liên quan

6 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài

Tác giả mong muốn đề tài sẽ góp phần làm sáng tỏ những quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong tố tụng hành chính Đồng thời, giúp người đọc có cái nhìn rõ nét, toàn diện hơn, từ đó áp dụng có hiệu quả những quy định của pháp luật vào cuộc sống

Ngoài ra, khóa luận cũng là tài liệu tham khảo quan trọng cho những ai quan tâm, đặc biệt là các bên đương sự khi tham gia tố tụng giải quyết vụ án hành chính cũng như cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng… Hy vọng đây còn là một nguồn kiến thức quan trọng làm cơ sở cho việc nghiên cứu khoa học ở những lĩnh vực có liên quan

7 Cơ cấu đề tài

Khi nghiên cứu quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, ngoài lời cam đoan, phần

mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính gồm có các chương sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong vụ án hành chính

Chương 2: Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện về quyền và nghĩa vụ của đương

sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong vụ án hành chính

Đây là hai nội dung chính làm sáng tỏ những khía cạnh cơ bản khi nghiên cứu

đề tài “Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong vụ án hành chính”

Trang 9

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA ĐƯƠNG

SỰ TRONG VIỆC CUNG CẤP CHỨNG CỨ, CHỨNG MINH TRONG VỤ

ÁN HÀNH CHÍNH 1.1 Khái niệm, đặc điểm đương sự trong vụ án hành chính

1.1.1 Khái niệm đương sự trong vụ án hành chính

Luật TTHC là văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao, điều chỉnh hầu hết các quan hệ trong đời sống xã hội Nó không chỉ kế thừa những quy định tiến bộ trong Pháp lệnh cũ mà còn học hỏi, sáng tạo ra những thiết chế mới phù hợp với thực tiễn cuộc sống Tuy nhiên, cũng cần thừa nhận rằng, Luật TTHC vẫn chưa thực sự hoàn thiện, cụ thể là chưa đưa ra được một khái niệm hoàn chỉnh nào về đương sự trong vụ án hành chính Đây thực sự là một thiếu sót cần được xem xét, bởi lẽ trọng tâm và mục đích của quá trình giải quyết vụ án hành chính là đương sự thông qua việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Do đó, để làm rõ khái niệm đương sự trong vụ án hành chính, tác giả cần tiếp cận từ nhiều nguồn khác nhau và trên cơ sở đó đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh hơn

Dưới góc độ ngôn ngữ học, theo Từ điển tiếng Việt, đương sự được hiểu là

“đối tượng trong một vụ việc nào đó được đưa ra giải quyết” 1 Đây là một khái niệm còn khá mơ hồ, mang tính chất định khung, chỉ nêu ra sự liên quan giữa chủ

thể là đương sự với vụ việc được giải quyết “Đối tượng” trong trường hợp này

được hiểu theo nghĩa như thế nào, là đối tượng trong pháp luật tố tụng hành chính, pháp luật tố tụng dân sự hay pháp luật tố tụng hình sự thì không được xác định rõ Cách giải thích này không mang giá trị pháp lý cao khi tiến hành hoạt động xác định

tư cách đương sự trong vụ án hành chính Còn theo Từ điển Luật học, đương sự

được hiểu là “chủ thể có quyền và nghĩa vụ được giải quyết trong một vụ việc khiếu nại hoặc một vụ án” 2 So với cách giải thích trong Từ điển tiếng Việt thì Từ điển Luật học đã làm rõ hơn bằng cách chỉ ra mối liên quan giữa quyền và nghĩa vụ của

họ với quá trình giải quyết vụ án Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng, cả hai khái niệm trên đều chỉ tiếp cận ở nghĩa thông thường, chưa nêu ra được bản chất của đương sự trong vụ án hành chính Chúng chỉ giải thích một cách khái quát nhất về đương sự nói chung, cả trong pháp luật tố tụng hành chính và pháp luật tố tụng dân

sự Do đó, về cơ bản, vẫn chưa đạt được mục tiêu mà pháp luật tố tụng hành chính hướng đến khi tìm hiểu về khái niệm đương sự trong vụ án hành chính

Xét dưới góc độ quan điểm các nhà nghiên cứu, Giáo trình Đại học Luật Hà

Nội nhận định rằng “đương sự trong vụ án hành chính được xác định là người khởi kiện, người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” 3 Còn theo quy định

tại Khoản 5 Điều 3 Luật TTHC, “đương sự bao gồm người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” Cả hai khái niệm được trích dẫn này đều

dựa vào phương pháp liệt kê để chỉ ra những chủ thể được xác định là đương sự

1 Hoàng Phê (chủ biên) (2006), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, tr 357

2 Viện Khoa học pháp lý (1999), Từ điển Luật học, NXB Từ điển Bách Khoa, Hà Nội, tr 165

3

Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật TTHC Việt Nam, NXB Công An Nhân dân, Hà Nội,

tr 161

Trang 10

trong vụ án hành chính mà không nêu ra được bản chất, nội hàm của đương sự Do

đó, nếu tiếp cận ở góc độ này, mặc dù người đọc có thể chỉ ra được thành phần của đương sự nhưng lại không xác định được bản chất của họ, gây khó khăn khi xác định tư cách đương sự Khi tham gia vào một quan hệ pháp luật tố tụng hành chính

cụ thể, vấn đề xác định tư cách đương sự không phải lúc nào cũng dễ dàng, đơn giản Có rất nhiều trường hợp vụ án hành chính tuy đã được đưa ra giải quyết nhưng vẫn bị hủy, sửa án do xác định sai tư cách đương sự Vì vậy, việc xác định tư cách đương sự dựa trên phương pháp này không mang tính khả thi cao

Ngoài ra, theo Giáo trình Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, đương sự là

“những người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình” 4 Cách nêu khái niệm này có phần tiến bộ hơn so với những quan điểm trên

vì đã phần nào thể hiện được bản chất của đương sự trong vụ án hành chính Tuy nhiên, khái niệm này cũng chưa thật sự hoàn thiện, chưa làm rõ mối liên hệ giữa đương sự trong vụ án hành chính với đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính Đồng thời, khái niệm này có thể gây nhầm lẫn với khái niệm đương sự trong pháp luật tố tụng dân sự Bởi vì, đương sự trong pháp luật tố tụng dân sự về cơ bản họ cũng là người tham gia tố tụng và việc tham gia đó cũng là để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chính họ Vì thế, để phân biệt khái niệm đương sự trong pháp luật tố tụng hành chính và pháp luật tố tụng dân sự cần nhấn mạnh điểm khác biệt đặc trưng nhất là đương sự trong vụ án hành chính có quyền và nghĩa vụ liên quan trực tiếp tới đối tượng khởi kiện Đây là đặc điểm mà chỉ đương sự trong pháp luật tố tụng hành chính mới có Nếu thể hiện nội dung này vào trong khái niệm thì sẽ làm

rõ hơn nội hàm của đương sự trong vụ án hành chính

Hơn nữa, “đương sự trong vụ án hành chính là những cá nhân, cơ quan và

tổ chức tham gia tố tụng trong vụ án hành chính để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chính mình, có quyền và nghĩa vụ liên quan trực tiếp với các khiếu kiện bị kiện” 5 Khái niệm này tuy đã thể hiện được bản chất và nội hàm của đương sự trong

vụ án hành chính nhưng việc sử dụng thuật ngữ vẫn còn chưa chuẩn xác “Khiếu kiện bị kiện” là một thuật ngữ mơ hồ, chưa rõ ràng, vì vậy vấn đề hiểu và sử dụng

không mang tính khoa học

Do đó, để hoàn chỉnh hơn khái niệm đương sự trong vụ án hành chính, tác

giả xin đưa ra các hiểu như sau: “đương sự trong vụ án hành chính là những cá nhân, cơ quan và tổ chức tham gia tố tụng trong vụ án hành chính để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chính mình, có quyền và nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến các đối tượng khởi kiện” Người khởi kiện tham gia vào vụ án hành chính thông qua

việc khởi kiện các đối tượng khởi kiện được ghi nhận trong Luật TTHC Thuật ngữ

“đối tượng khởi kiện” này cũng mang tính khoa học pháp lý và dễ hiểu, dễ sử dụng

hơn Nếu xem xét một cách khách quan, sau khi kết hợp các tiêu chí trên, nhận thấy đây thực sự là một khái niệm hoàn chỉnh hơn về đương sự trong vụ án hành chính,

4 Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình Luật TTHC Việt Nam, NXB Hồng Đức,

TP Hồ Chí Minh, tr 135

5 Đặng Xuân Sơn (2014), Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh,

Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong Tố tụng hành chính, tr 6

Trang 11

khắc phục được những hạn chế của các khái niệm trước đó Khái niệm đương sự ở đây đã lột tả được bản chất của nó trong vụ án hành chính và đặc biệt đã có sự phân biệt rõ ràng với khái niệm đương sự trong pháp luật tố tụng dân sự, giúp người đọc cái nhìn toàn diện về đương sự trong vụ án hành chính Do đó, thiết nghĩ đây là khái niệm cần được ghi nhận khi xác định tư cách đương sự trong vụ án hành chính Các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng hành chính sẽ chủ động hơn trong việc xác định vị trí, vai trò của mình, việc giải quyết vụ án hành chính cũng hiệu quả hơn, tránh những sai sót không mong muốn ảnh hưởng đến chất lượng bản

án, quyết định của Tòa án

1.1.2 Đặc điểm của đương sự trong vụ án hành chính

Cũng giống như những nhóm chủ thể khác, đương sự với tư cách là người tham gia tố tụng có những đặc điểm đặc trưng giúp phân biệt với các nhóm chủ thể khác trong pháp luật tố tụng hành chính và kể cả trong pháp luật tố tụng khác Do vậy, việc tìm hiểu những đặc điểm của đương sự trong vụ án hành chính có ý nghĩa

vô cùng quan trọng giúp nhận dạng được các chủ thể khi tham gia vào một quan hệ pháp luật tố tụng cụ thể

Thứ nhất, đương sự là những người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Dù là trong pháp luật tố tụng hành chính hay pháp luật tố tụng dân sự, đương

sự trước hết được thừa nhận là người tham gia tố tụng và việc tham gia tố tụng đó là

để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Đặc điểm này thể hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự Trong vụ án hành chính, đương sự tham gia quá trình tố tụng có quyền tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Quyền bảo vệ của đương sự được thừa nhận và bảo đảm thực hiện ở mọi giai đoạn tố tụng và Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện bảo đảm đương sự thực hiện quyền của mình Mặc dù có rất nhiều chủ thể tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hành chính nhưng nếu họ không phải là người tham gia tố tụng, hoặc là người tham gia tố tụng nhưng việc tham gia đó không nhằm mục đích bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của chính họ thì cũng không được thừa nhận là đương sự Có thể nói, đây cũng chính là điểm quan trọng phân biệt đương sự với những nhóm chủ thể khác và những người tham gia tố tụng khác như người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự, người đại diện của đương sự, người làm chứng, người phiên dịch…

Ngoài ra, nó còn được thể hiện qua việc giải quyết vụ án hành chính vì thực

tế vụ án hành chính chỉ phát sinh trên cơ sở khởi kiện và thụ lý của Tòa án nhằm giải quyết yêu cầu của người khởi kiện, bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thể, trọng tâm là đương sự trong vụ án đó Đương sự là nhóm chủ thể có lợi ích thiết thực nhất trong vụ án hành chính, hầu hết các quyết định, bản án của Tòa án đều có ảnh hưởng nhất định đến quyền lợi của họ Vì thế, khi tham gia vào một vụ án hành chính cụ thể, vấn đề bảo vệ lợi ích của họ luôn được nhấn mạnh Tòa án thực chất hoạt động trước tiên cũng là vì lợi ích của đương sự thông qua hoạt động đánh giá, phán xét dựa trên tài liệu, chứng cứ thu thập được

Trang 12

Thứ hai, đương sự trong vụ án hành chính là những người có quyền làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quá trình tố tụng hành chính

Tuy không phải là một đặc điểm khác biệt so với pháp luật tố tụng dân sự, nhưng cũng là một đặc điểm đặc trưng mà không có bất kì người tham gia tố tụng nào có được Lý do cơ bản nhất xuất phát từ địa vị pháp lý của đương sự, cụ thể vụ

án hành chính chỉ có thể phát sinh khi có đơn khởi kiện của người khởi kiện và được Tòa án thụ lý giải quyết Nếu không có hành vi tố tụng ban đầu của họ trong việc khởi kiện thì chắc chắn sẽ không xuất hiện những hoạt động tố tụng khác Chính vì vậy, pháp luật tố tụng hành chính trao cho đương sự quyền làm thay đổi quá trình tố tụng như quy định tại Điều 147 Luật TTHC về thay đổi địa vị tố tụng trong trường hợp người khởi kiện rút toàn bộ đơn khởi kiện và người có quyền và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vẫn giữ nguyên yêu cầu, yêu cầu tạm đình chỉ giải quyết vụ án… Hay thậm chí đương sự vẫn có quyền làm chấm dứt quá trình tố tụng tại điểm c và điểm d Khoản 1 Điều 120 Luật TTHC quy định người khởi kiện rút yêu cầu và được Tòa án chấp nhận, người bị kiện hủy bỏ đối tượng khởi kiện và người khởi kiện đồng ý rút đơn khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập rút yêu cầu độc lập đó thì vụ án hành chính bị đình chỉ… Đương sự

có thể làm phát sinh, thay đổi chấm dứt quá trình tố tụng trong những trường hợp pháp luật cho phép dựa trên ý chí chủ quan của mình

Đặc trưng này cũng tạo nên thế chủ động giúp đương sự thể hiện mong muốn, nguyện vọng trong suốt quá trình giải quyết vụ án mà không bị ràng buộc bởi một số quy định cứng nhắc của pháp luật Tuy nhiên, pháp luật trao cho đương sự quyền đồng thời cũng giới hạn phạm vi quyền mà đương sự được thực hiện Điều

đó thể hiện sự cân bằng giữa quyền lợi cá nhân và lợi ích chung mà pháp luật hướng đến Việc thực hiện quyền của chủ thể này không được ảnh hưởng đến lợi ích chính đáng của chủ thể khác đã được công nhận và thụ hưởng Sự khéo léo trong quy định pháp luật cũng phần nào thể hiện được vai trò nhà nước và pháp luật trong hoạt động quản lý xã hội

Thứ ba, đương sự trong vụ án hành chính là những người có quyền và nghĩa

vụ liên quan đến các đối tượng khởi kiện

Pháp luật tố tụng hành chính có một đặc trưng quan trọng có thể phân biệt với pháp luật tố tụng khác là đối tượng khởi kiện quy định tại Điều 28 Luật TTHC, bao gồm: quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri và quyết định kỷ luật buộc thôi việc Trong bất kì một vụ án hành chính nào, đối tượng khởi kiện cũng phải thỏa mãn nội dung này Do đó, đương sự trong vụ án hành chính luôn là những người có quyền và nghĩa vụ liên quan tới các đối tượng khởi kiện đó, còn mức độ liên quan phụ thuộc vào địa vị pháp lý của họ khi tham gia quá trình tố tụng Chẳng hạn như khi đương sự là người khởi kiện thì họ là người chịu tác động trực tiếp bởi đối tượng khởi kiện, vì cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình không được đáp ứng nên họ đi khởi kiện để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp này Nếu đương sự là người bị kiện thì ngược lại, họ chính là người đã ban hành ra quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện, vì là chủ thể ban hành nên khi các chủ thể khác cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp không được đảm bảo họ tiến hành khởi

Trang 13

kiện các chủ thể này Cũng cần lưu ý rằng, người bị kiện trong trường hợp này được xác định là chức danh, chức vụ trong cơ quan nhà nước hoặc cơ quan nhà nước đã ban hành ra quyết định hành chính, hành vi hành chính đó chứ không phải kiện người giữ chức danh, chức vụ đó Và cuối cùng, trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, nếu việc giải quyết có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của chủ thể khác thì chủ thể đó tự mình, hoặc đương sự đề nghị và được Tòa án chấp nhận hoặc được Tòa án đưa vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Vì thế, nếu đã được xác định là đương sự trong vụ án hành chính thì dù ít hay nhiều họ đều có liên quan nhất định đến đối tượng khởi kiện

1.2 Khái niệm, đặc điểm về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong vụ án hành chính

1.2.1 Khái niệm về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ,

chứng minh trong vụ án hành chính

Cho đến thời điểm hiện tại, pháp luật tố tụng hành chính cũng như các công trình nghiên cứu có liên quan vẫn chưa đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh nào về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong

vụ án hành chính Vì vậy, để làm rõ vấn đề này đòi hỏi sự phân tích, đánh giá từ nhiều nguồn khác nhau, dựa trên các khái niệm có liên quan như: quyền và nghĩa vụ của đương sự trong vụ án hành chính; chứng cứ, chứng minh trong vụ án hành chính Trên cơ sở các khái niệm đã được phân tích, tác giả có thể xây dựng nên một khái niệm hoàn thiện hơn về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong vụ án hành chính

Trước tiên, về khái niệm quyền và nghĩa vụ của đương sự trong vụ án hành chính

Hiện nay pháp luật vẫn chưa có quy định cụ thể, hầu hết các công trình nghiên cứu chỉ liệt kê những quyền và nghĩa vụ cơ bản của đương sự

Một là, theo Từ điển tiếng Việt, quyền “là điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi” 6 Còn theo Từ điển Luật học

“quyền là khái niệm khoa học pháp lý dùng để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, được hạn chế” 7

Cả hai cách giải thích đều đưa ra khái niệm về quyền theo nghĩa chung nhất và khẳng định được bản chất của quyền đó là điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận hoặc cho phép chủ thể được hưởng, được làm, được đòi hỏi Tuy nhiên, Từ điển Luật học có một ưu điểm hơn ở chỗ đưa ra thêm cơ chế bảo vệ quyền là không ai được ngăn cản, hạn chế Đây là tiêu chí quan trọng thể hiện nguyên tắc nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, pháp luật là công cụ thượng tôn thể hiện quyền lực nhà nước Những gì pháp luật đã cho phép được làm, được hưởng thì không ai được hạn chế Tuy nhiên, khi công dân có quyền thì cũng phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định theo tinh thần nguyên tắc quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân

Trang 14

Hai là, theo Từ điển tiếng Việt, nghĩa vụ là “việc mà đạo đức bắt buộc phải làm đối với xã hội, đối với người khác” 8 Hay dưới góc độ khoa học pháp lý, nghĩa

vụ được hiểu là “việc phải làm theo bổn phận của mình” 9 Ngoài ra, theo nhà ngôn ngữ học Nguyễn Lân nghĩa vụ là “việc phải làm theo bổn phận của mình hoặc theo

sự phân công” 10 Cả ba khái niệm có ưu điểm ở chỗ đưa ra cách giải thích vô cùng ngắn gọn, dễ hiểu về nghĩa vụ Thế nhưng, chúng lại chưa làm rõ hết bản chất của nghĩa vụ Từ những cách giải thích đã nêu, chúng ta có thể hiểu nghĩa vụ là việc phải làm theo trách nhiệm, bổn phận mà pháp luật hay đạo đức bắt buộc Dù chủ thể muốn thực hiện hay không, nhưng khi xác định là nghĩa vụ thì họ phải tuân theo, phải thực hiện, nếu không sẽ phải gánh chịu hậu quả bất lợi, sự trừng phạt bởi đạo đức xã hội hay quy định pháp luật

Ba là, xét ở góc độ quan hệ pháp luật tố tụng hành chính, quyền và nghĩa vụ

của đương sự là do Luật TTHC quy định công nhận cho đương sự được phép thực

hiện hoặc bắt buộc thực hiện trên cơ sở sự bảo đảm của pháp luật, tức là “quyền và nghĩa vụ của đương sự trong vụ án hành chính là những quy định cho phép đương

sự được hưởng, được thực hiện và bắt buộc phải thực hiện khi tham gia vào quan

hệ pháp luật tố tụng hành chính” 11 Dựa trên khái niệm này, chúng ta có thể hiểu rõ bản chất quyền và nghĩa vụ của đương sự trong vụ án hành chính nói chung, tránh

sự nhầm lẫn khi xác định các quyền và nghĩa vụ trên thực tế Vì trong xã hội hiện nay, mặc dù chế định về quyền và nghĩa vụ hoàn toàn trái ngược nhau, nhưng vẫn

có trường hợp xác định sai dẫn đến những hậu quả khó lường, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi chính đáng của con người Khi xác định quyền hay nghĩa vụ, cần căn cứ vào quy định pháp luật hiện hành, sự giải thích có cơ sở được thừa nhận, vào từng tình huống cụ thể chứ không phải là ý chí chủ quan của cá nhân

Tiếp theo đó, về chứng cứ, chứng minh trong vụ án hành chính

Đương sự yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án phải cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Không có chứng cứ để chứng minh thì khó có căn cứ để kết luận về các tình tiết, sự kiện và quan điểm của đương

sự, Tòa án không đủ cơ sở để giải quyết vụ án Chứng cứ, chứng minh luôn là vấn

đề trọng tâm mà Tòa án và các chủ thể ra sức tìm kiếm Bất kì một vụ án nào được đưa ra giải quyết đều phải dựa trên những lý lẽ, dẫn chứng có căn cứ chứ không phải là quan điểm, ý kiến không có cơ sở Pháp luật bảo vệ lẽ phải, bảo vệ quyền lợi con người cũng phải dựa trên chứng cứ, hoạt động chứng minh của họ

Một là, chứng cứ được ví như “chiếc chìa khóa” tháo gỡ vướng mắc, làm

sáng tỏ vụ án, là cơ sở trong việc đưa ra phán quyết của Tòa án Nếu trong quá trình thu thập chứng cứ có sai sót sẽ dẫn đến hậu quả nhất định, không chỉ ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án hành chính mà còn tác động tiêu cực đến quyền và lợi ích

8 Hoàng Phê (chủ biên)(2006), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr.679

9 Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, NXB Tư pháp – NXB Từ điển Bách Khoa, Hà Nội, tr

560

10 Nguyễn Lân (2000), Từ điển từ và ngữ Việt Nam, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh,

tr.1258

11

Đặng Xuân Sơn (2014), Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh,

Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong Tố tụng hành chính, tr 9

Trang 15

hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức được pháp luật thừa nhận và bảo vệ Do đó, hiện nay các nhà nghiên cứu đã cố gắng đưa ra rất nhiều định nghĩa về chứng cứ

Nhìn từ góc độ ngôn ngữ học, theo Đại từ điển tiếng Việt, “chứng cứ là cái được dẫn ra để làm cơ sở để xác định, chứng minh điều gì đó là có thật” 12 Chứng cứ trong trường hợp này tương đối rộng, hầu như mọi sự vật, hiện tượng đều có thể được xác định là chứng cứ chỉ cần được dẫn ra làm cơ sở để xác định, chứng minh điều gì đó là có thật Nhìn từ góc độ pháp luật thực định, Pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính chưa đưa ra một khái niệm nào về chứng cứ trong vụ án hành chính, vì thế vấn đề xác định chứng cứ gặp nhiều khó khăn và hiệu quả giải quyết vụ án hành chính không cao Theo Từ điển Luật học, chỉ đưa ra khái niệm chứng cứ trong vụ án hình sự mà không giải thích khái niệm chứng cứ trong pháp luật tố tụng hành chính Nhận thức được điều đó, Luật TTHC hiện hành đã có bước

tiến vượt bậc trong việc đưa ra khái niệm về chứng cứ, theo đó “chứng cứ trong vụ

án hành chính là những gì có thật được đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do luật này quy định mà Tòa án dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hành chính” 13 Như vậy, một sự vật, hiện tượng được xác định là chứng cứ phải thỏa mãn các điều kiện theo nội dung được quy định trên Cụ thể là đảm bảo các điều kiện về tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp

Hai là, bàn về chứng minh, có thể hiểu đó là một hoạt động của con người

mà theo Từ điển tiếng Việt thì chứng minh là “làm cho thấy rõ là có thật, là đúng bằng sự việc hoặc bằng lý lẽ hoặc dùng suy luận logic vạch rõ một điều gì đó là đúng” 14 Với cách giải thích này, chứng minh là việc sử dụng lý lẽ, tư duy logic để làm rõ vấn đề nào đó hoặc khẳng định tính đúng đắn của nó Tương tự, theo Đại từ

điển tiếng Việt chứng minh được hiểu là “làm cho thấy rõ là có thật, là đúng bằng

lý lẽ, cứ liệu” 15 Chứng minh được sử dụng trong hầu hết các ngành khoa học, là cơ

sở để đưa ra những kết luận, đánh giá về tính đúng đắn, xác thực của vấn đề Hoạt động chứng minh giúp các chủ thể áp dụng tốt pháp luật, bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình Mục đích cuối cùng là thể hiện rõ bản chất của sự vật, hiện tượng, vấn đề Chứng minh giúp con người đưa ra chân lý đúng đắn, khách quan, tạo niềm tin, cơ sở để giải quyết tốt vấn đề

Trong pháp luật tố tụng hành chính, chứng minh là hoạt động với mục đích

sử dụng chứng cứ để xác định rõ vấn đề, tình tiết, sự kiện, có hay không có vi phạm pháp luật, đúng hay sai… Hoạt động này diễn ra theo một trình tự, thủ tục nhất định thông qua việc cung cấp, kiểm tra, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ Về

cơ bản, hoạt động chứng minh trong pháp luật tố tụng hành chính tuân theo những nội dung như trong pháp luật tố tụng dân sự, pháp luật tố tụng hình sự bao gồm việc cung cấp, thu thập, kiểm tra, nghiên cứu, phân tích và đánh giá chứng cứ Các quy

12

Nguyễn Như Ý, Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin, 1999, tr.415

13 Điều 74, Luật tố tụng hành chính năm 2010

14 Hoàng Phê (chủ biên) (1988), Từ điển tiếng Việt, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 212

15

Nguyễn Như Ý (chủ biên)(2010), Đại từ điển tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia, TP Hồ Chí Minh, tr

316

Trang 16

định về chứng minh được xây dựng theo nguyên tắc bình đẳng, tạo điều kiện thuận lợi cho các bên chủ động hơn trong quá trình giải quyết vụ án Thế nhưng, Luật TTHC hiện tại vẫn chưa đưa ra khái niệm cụ thể về chứng minh mà theo quy định

tại Điều 8 nhấn mạnh “đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa

án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp” Theo đó, việc

cung cấp chứng cứ, chứng minh vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của đương sự Dựa

trên những cách hiểu đó, chúng ta có thể nhận định rằng “chứng minh trong vụ án hành chính được hiểu là toàn bộ hoạt động của Tòa án và các chủ thể tham gia tố tụng hành chính trong việc cung cấp, thu thập, nghiên cứu, phân tích, đánh giá chứng cứ để sử dụng chúng với mục đích xác định một cách đúng đắn, khách quan bản chất, nội dung, các tình tiết, sự kiện của vụ án hành chính, đúng như chúng đã phát sinh và tồn tại trên thực tế, tạo cơ sở cho việc áp dụng pháp luật để giải quyết chính xác, có chất lượng và hiệu quả vụ án hành chính” 16 Với quy định này đã lột

tả được nội dung, các vấn đề cần thực hiện trong hoạt động chứng minh, sự tham gia, vai trò của từng chủ thể cũng như mục tiêu giải quyết vụ án chính xác, có chất lượng và hiệu quả

Qua việc tìm hiểu các khái niệm về quyền và nghĩa vụ của đương sự, chứng

cứ, chứng minh trong vụ án hành chính, chúng ta đã có thể hiểu rõ hơn khái niệm về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh Tựu trung lại, dựa trên những khái niệm đã phân tích, làm rõ, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng

minh như sau: “quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong vụ án hành chính là những quy định pháp luật cho phép đương

sự được hưởng, được thực hiện và bắt buộc phải thực hiện khi tham gia vào việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong vụ án hành chính” Dựa trên khái niệm này,

có thể xác định được bản chất của quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong vụ án hành chính Đó là những quy định của pháp luật tố tụng hành chính cho phép đương sự được thực hiện hoặc bắt buộc phải thực hiện khi tham gia vào quan hệ này trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh Căn

cứ vào quy định pháp luật, các chủ thể sẽ biết được những gì được thực hiện, được làm và những gì pháp luật bắt buộc phải tuân theo

1.2.2 Đặc điểm về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong vụ án hành chính

Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong vụ án hành chính có những đặc điểm đặc trưng giúp phân biệt với pháp luật tố tụng khác, tạo điều kiện cho hoạt động tố tụng hành chính diễn ra thông suốt, đúng trình tự, thủ tục Trên cơ sở khái niệm đã làm rõ, có thể nhận thấy quyền và nghĩa

vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong vụ án hành chính

Trang 17

Thứ nhất, quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh là những điều mà đương sự được thực hiện và bắt buộc thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính

Trong pháp luật tố tụng hành chính hay pháp luật tố tụng dân sự, đương sự khi tham gia vào vụ án đều có các quyền và nghĩa vụ nhất định trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh Đó là những điều pháp luật cho phép đương sự được làm, được thực hiện hoặc bắt buộc phải thực hiện Đặc điểm này xuất phát từ nguyên tắc nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và pháp luật là công cụ hữu hiệu trong việc điều chỉnh quan hệ xã hội Trong khuôn khổ pháp luật, các chủ thể được tự do lựa chọn quyền và có nghĩa vụ chấp hành quy định đã được thừa nhận Pháp luật là công cụ hữu hiệu để quản lý xã hội, mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, hoặc phải chịu hậu quả bất lợi nếu đi ngược với những chuẩn mực đã được đặt ra Trong quan hệ pháp luật tố tụng hành chính cũng vậy, các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh đã được ghi nhận, liệt kê cụ thể, chi tiết và đương sự thực hiện trong phạm vi, giới hạn đó Bất kì một chủ thể nào cố ý vượt quá giới hạn quyền và nghĩa vụ cho phép hoặc tự tạo ra những quy định mới đều có thể nhận những chế tài của pháp luật Chỉ có cơ quan nhà nước có thẩm quyền dựa trên ý chí nhân dân mới có quyền tạo ra những quy định và bắt buộc các chủ thể phải tuân thủ Đây cũng là đặc điểm thể hiện nguyên tắc đã được thừa nhận trong Hiến Pháp năm 2013 Không ai chỉ có quyền mà không phải thực hiện nghĩa vụ và ngược lại, không ai chỉ phải thực hiện nghĩa vụ mà không có quyền Các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh tạo ra sự linh hoạt, uyển chuyển giúp đương sự bảo vệ tốt nhất quyền lợi của mình

Thứ hai, quyền và nghĩa vụ này phát sinh khi tham gia vào quan hệ pháp luật

tố tụng hành chính

Với một nền pháp luật thành văn như Việt Nam, hầu hết các quy định của pháp luật được thể hiện dưới dạng văn bản pháp luật, là khuôn mẫu chung để các chủ thể nghiêm chỉnh chấp hành và thực hiện Các quyền và nghĩa vụ của đương sự được thừa nhận tương đối ổn định, lâu dài và phát sinh khi điều chỉnh một quan hệ

xã hội nhất định Trong bất kì một văn bản quy phạm pháp luật nào cũng vậy, chúng đều hướng tới một nhóm chủ thể nhất định mà pháp luật định ra dựa trên sự vận động của xã hội Căn cứ vào đó, pháp luật trao cho họ các quyền và nghĩa vụ Thế nhưng, các quyền và nghĩa vụ này có phát sinh trên thực tế hay không còn phù thuộc vào quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh Do đó, những quy định của pháp luật, trong đó có quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong vụ án hành chính chỉ phát sinh khi đương sự tham gia vào một quan hệ pháp luật tố tụng hành chính cụ thể Khi đó, đương sự sẽ chịu sự điều chỉnh trực tiếp của pháp luật trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trong suốt quá trình giải quyết vụ án Trên cơ sở quy định pháp luật, đương sự biết được các quyền và nghĩa vụ, giúp quá trình giải quyết vụ án diễn ra đúng trình tự, thủ tục, đảm bảo quyền lợi đương sự

Thứ ba, quyền cung cấp chứng cứ, chứng minh tồn tại song song với nghĩa

vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh của đương sự trong vụ án hành chính

Trang 18

Như đã phân tích ở trên, mặc dù quyền và nghĩa vụ là hai chế định hoàn toàn trái ngược nhau, nhưng chúng tồn tại song song nhau trong hầu hết các quan hệ pháp luật Bởi lẽ, con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, nếu đứng ở góc độ này họ có thể có các quyền, nhưng ở góc độ khác họ phải thực hiện các nghĩa vụ nhất định Đó là nguyên tắc không chỉ Việt Nam mà pháp luật hầu hết các nước trên thế giới đều đã thừa nhận từ lâu đời Do đó, khi pháp luật trao cho họ các quyền thì cũng bắt họ phải có nghĩa vụ Trong quan hệ pháp luật tố tụng hành chính cũng không phải là một ngoại lệ, khi pháp luật trao cho đương sự các quyền thì cũng bắt

họ phải tuân thủ các nghĩa vụ trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh Điều này tạo lợi thế, cơ hội giúp việc thu thập chứng cứ, chứng minh toàn diện hơn nhằm làm cho quá trình giải quyết vụ án nhanh chóng, khách quan, hiệu quả Đồng thời, đây cũng là một đặc điểm quan trọng giúp phân biệt với quan hệ pháp luật tố tụng hình

sự, bởi lẽ ở đó trách nhiệm chứng minh chỉ thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng nhằm xác định sự thật vụ án, chứng minh người phạm tội Nguyên nhân tạo ra sự khác biệt này xuất phát từ tính chất, mức độ tác động của hành vi đến đời sống xã hội Tùy thuộc vào bản chất của ngành luật mà nó điều chỉnh sẽ có những quy định phù hợp nhằm thực thi tốt nhất quyền con người trong xã hội

Thứ tư, quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh của đương sự trong vụ án hành chính được đặt trong mối quan hệ với các cơ quan, người tiến hành tố tụng trong quá trình tố tụng

Nếu như trong các quan hệ dân sự, kinh tế, lao động… việc thực hiện nghĩa

vụ của chủ thể này được xem là quyền của chủ thể khác, thì ngược lại, trong quan

hệ pháp luật tố tụng hành chính, đương sự có các quyền và nghĩa vụ tương đối giống nhau Việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự này phần lớn không dựa vào việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự khác Chẳng hạn như trong hoạt động thu thập chứng cứ, đương sự căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ để yêu cầu họ giao nộp mà không phải căn cứ vào việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự khác Đồng thời, việc thực hiện quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh của đương sự dựa trên trách nhiệm của cơ quan, người tiến hành tố tụng Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng căn cứ vào nhiệm vụ, quyền hạn của mình cho phép, bắt buộc đương

sự phải thực hiện những công việc nhất định Trong một số trường hợp, khi đương

sự có yêu cầu, cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là Tòa án có trách nhiệm giúp đỡ

để đương sự hoàn thành công việc của mình Ví dụ như trong trường hợp cần thiết, đương sự có yêu cầu thì Tòa án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ, trưng cầu giám định, triệu tập người làm chứng, định giá, thẩm định giá tài sản Đây là những quy định vừa thể hiện sự hỗ trợ, giúp đỡ vừa thể trách nhiệm của Tòa án góp phần làm sáng tỏ vụ án

Thứ năm, phạm vi quyền, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh của các bên đương sự phần lớn phụ thuộc vào phạm vi yêu cầu hoặc phạm vi ý kiến phản đối của họ

Đặc điểm này xuất phát từ quy định “đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp” Tùy thuộc vào yêu cầu hay ý kiến phản đối của đương sự mà cơ quan tiến

Trang 19

hành tố tụng xác định phạm vi quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh của họ Quy định này giúp cho việc xác định chứng cứ, chứng minh giới hạn ở một phạm vi nhất định và chứng cứ được cung cấp để chứng minh là thật sự cần thiết đảm bảo hoạt động giải quyết vụ án đạt hiệu quả Chứng cứ được xác định phải liên quan đến vụ án được giải quyết dựa trên yêu cầu khởi kiện ban đầu mà không phải

là sự tùy tiện trong việc thu thập chứng cứ và chứng minh

Thứ sáu, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh thuộc về bên đương sự nào muốn viện dẫn những sự kiện, tình tiết làm cơ sở cho những yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu; người khởi kiện phải có nghĩa vụ chứng minh yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp

Đây là đặc điểm đặc trưng xuất phát từ nguyên tắc đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Tòa án chỉ tiến hành xác minh trong những trường hợp cần thiết Pháp luật giao cho đương sự nghĩa vụ này xuất phát từ việc cho rằng lợi ích của họ không được đảm bảo bởi các quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước, người

có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước Trên cơ sở cho rằng quyền lợi bị xâm phạm, họ có trách nhiệm đưa ra những cơ sở, lý lẽ chứng minh cho nhận định của mình Pháp luật trao cho họ quyền thì cũng bắt buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ để đảm bảo quyền đó Đặc điểm này cũng đã được thừa nhận trong pháp luật tố tụng dân sự Cơ chế thực thi quyền và đảm bảo tuân thủ nghĩa vụ tạo ra sự chủ động trong việc thu thập, tìm kiếm chứng cứ để chứng minh và nâng cao ý thức trách nhiệm của đương sự khi tiến hành khởi kiện vụ án hành chính cụ thể

Đối với người khởi kiện, khi tiến hành khởi kiện, để đảm bảo cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ, hợp pháp thì họ cũng phải kèm theo đơn khởi kiện các tài liệu, chứng cứ có liên quan để chứng minh cho yêu cầu đó Người khởi kiện

có vai trò trung tâm, chủ đạo trong việc giao nộp chứng cứ cho Tòa án Ngay từ giai đoạn khởi kiện, họ đã phải kèm theo đơn khởi kiện một số tài liệu, chứng cứ nhất định nhằm bảo vệ quan điểm khởi kiện của mình Tòa án căn cứ vào đó sẽ xác định chấp nhận hoặc từ chối đơn khởi kiện Quy định này đã phần nào hạn chế những trường hợp người khởi kiện vì thiếu hiểu biết, tư duy chủ quan, ý thức trách nhiệm kém mà tiến hành khởi kiện một cách vô tội vạ ảnh hưởng đến hoạt động của Tòa

án

Thứ bảy, trong quá trình diễn ra hoạt động cung cấp chứng cứ, chứng minh, trong những điều kiện nhất định nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh có thể di chuyển từ một bên đương sự này sang một bên đương sự khác và ngược lại

Đặc điểm này là sự thừa nhận của pháp luật về việc thay đổi phạm vi yêu cầu ban đầu, trong trường hợp yêu cầu cung cấp chứng cứ, chứng minh Tùy trường hợp

cụ thể, người khởi kiện có thể rút đơn yêu cầu khởi kiện, người bị kiện giữ nguyên yêu cầu độc lập của họ và được Tòa án chấp nhận thì trong trường hợp này người bị kiện trở thành người khởi kiện và ngược lại người khởi kiện trở thành người bị kiện; hoặc trong trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện, người bị kiện rút yêu cầu của họ nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập của họ thì trong trường hợp này người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu

Trang 20

cầu độc lập đó trở thành người khởi kiện… Khi đó, nghĩa vụ chứng minh sẽ chuyển

từ bên đương sự này sang bên đương sự khác dựa trên yêu cầu của họ Hoặc trong trường hợp đương sự giới hạn lại phạm vi yêu cầu ban đầu của họ, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu mà Tòa án xác định nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh của họ Đương sự này hủy bỏ yêu cầu, nhưng đương sự khác lại bổ sung yêu cầu đó thì nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh có thể di chuyển từ bên đương sự này sang bên khác

Đương sự với mục tiêu cuối cùng là bảo đảm quyền lợi của mình có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ chứng minh phù hợp với địa vị tố tụng hoặc theo yêu cầu Tòa án Quy định này cũng thừa nhận sự biến đổi linh hoạt trong hoạt động tố tụng nhằm thu thập đầy đủ chứng cứ cần thiết góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan

vụ án Đương sự tuy không có khả năng tiếp nhận đồng thời nhiều địa vị tố tụng khác nhau nhưng họ hoàn toàn có thể bảo vệ quyền lợi tốt nhất thông qua quy định

về quyền và nghĩa vụ trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh

Cuối cùng, đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ, hợp pháp, Tòa án chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ khi cần thiết

Quyền và nghĩa vụ là hai chế định trái ngược nhau nhưng luôn tồn tại song song nhau tạo thành một chỉnh thế thống nhất Đương sự khi đưa ra yêu cầu của

mình thì phải có cơ sở, lý lẽ để chứng minh cho yêu cầu đó Đặc điểm “đối tụng”

này là yếu tố nhằm bảo vệ quyền lợi cho đương sự, góp phần làm sáng tỏ vụ án Đặc biệt, nâng cao tinh thần trách nhiệm của đương sự trong hoạt động thu thập

chứng cứ, hạn chế tâm lý “ỷ lại” vào cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố

tụng Cụ thể, đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì phải đưa ra chứng cứ để chứng minh; đương sự phản đối yêu cầu đó thì cũng phải đưa ra chứng cứ để chứng minh, nếu không đưa ra được thì phải chịu hậu quả bất lợi Tòa án chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp cần thiết hoặc theo yêu cầu của đương sự

Đặc điểm này còn mang một ý nghĩa quan trọng đẩy nhanh quá trình giải quyết vụ án, đảm bảo tính khách quan, minh bạch, đúng trình tự, thủ tục Việc xác minh, thu thập chứng cứ, chứng minh không chỉ là quyền và nghĩa vụ của đương sự

mà còn là trách nhiệm của Tòa án Các chủ thể phối hợp nhịp nhàng với nhau giúp cho việc thu thập chứng cứ để chứng minh đầy đủ, toàn diện hơn, làm cho quá trình giải quyết vụ án có căn cứ, hợp pháp, nâng cao chất lượng bản án, quyết định của Tòa án Tòa án không phải chỉ thực hiện hoạt động phán xét mà còn có trách nhiệm

hỗ trợ, tạo điều kiện cho đương sự trong hoạt động thu thập chứng cứ, chứng minh Đối với những trường hợp đương sự đã thực hiện các biện pháp cần thiết những vẫn không thu thập được chứng cứ và yêu cầu Tòa án thu thập hoặc khi Tòa án xét thấy cần thiết thì Tòa án sẽ tiến hành hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ Từ đó, hoạt động thu thập chứng cứ để chứng minh đạt chất lượng cao hơn khi có sự tham gia của cơ quan mang quyền lực nhà nước

Trang 21

1.3 Những quy định pháp luật tố tụng hành chính về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong vụ án hành chính

1.3.1 Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ để

chứng minh và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Hoạt động cung cấp chứng cứ, chứng minh đóng vai trò nền tảng trong quá trình giải quyết vụ án hành chính Quy định của Luật TTHC về hoạt động này thể hiện được mục tiêu chung trong công cuộc hoàn thiện hệ thống tư pháp, đảm bảo nguyên tắc bình đẳng và cơ hội trong việc thu thập chứng cứ, xác định sự thật vụ

án So với Pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, phạm vi điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh trong Luật TTHC đã được quy định khá đầy đủ, toàn diện và phù hợp với điều kiện hiện tại, phản ánh tính đặc thù của tranh chấp hành chính

Thứ nhất, quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình đã chính thức được thừa nhận ngay từ những nguyên tắc chung nhất cho đến các quy định cụ thể trong Luật TTHC, là một trong những quyền và nghĩa vụ cơ bản nhất của công dân

Về nguyên tắc chung, theo quy định tại Điều 8 Luật TTHC “đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp” Đây là nội dung thể hiện nguyên tắc mới “nguyên tắc về cung cấp chứng cứ, chứng minh trong tố tụng hành chính” được chính thức

thừa nhận vào trong Luật TTHC, mang tính định hướng, xác định vai trò của đương

sự trong hoạt động cung cấp chứng cứ, chứng minh Nội dung nguyên tắc thể hiện, khi đương sự yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp, đương sự phản đối yêu cầu của người khác thì cũng phải đưa ra chứng cứ, chứng minh Và đương nhiên, nếu đương sự không đưa ra được chứng cứ, hoặc việc đưa ra chứng cứ không đầy đủ thì phải chịu hậu quả bất lợi Nguyên tắc này cũng thừa nhận rằng, cung cấp chứng cứ, chứng minh không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ của đương

sự Đây cũng là cơ sở để quy định chế tài trong trường hợp đương sự không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình

Cụ thể hóa nguyên tắc này, tại Khoản 1 Điều 49 và Khoản 18 Điều 49 Luật TTHC về quyền và nghĩa vụ của đương sự có quy định như sau:

Một là, theo quy định tại Khoản 1 Điều 49 Luật TTHC đương sự có quyền

“cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình” Đây được đánh giá là một trong các quyền cơ bản nhất của công dân

Bởi lẽ, khi tham gia vào vụ án hành chính cụ thể, công dân có quyền đưa ra những

lý lẽ, dẫn chứng có cơ sở để bảo vệ tốt nhất quyền lợi của mình Không bất kì ai có quyền tước bỏ hoặc ngăn cản Quy định này đã được ghi nhận cả trong pháp luật tố tụng hành chính, pháp luật tố tụng dân sự và pháp luật tố tụng hình sự Thừa nhận là quyền của đương sự sẽ đảm bảo cho đương sự chủ động hơn trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền lợi của mình Trong trường hợp đương sự

có khả năng cung cấp nhiều chứng cứ có liên quan thì việc bảo vệ quyền lợi sẽ đảm

Trang 22

bảo hơn, hoạt động tố tụng tiến hành thuận lợi, chất lượng bản án được nâng cao Các đương sự khi tham gia vào vụ án đều có quyền đưa ra lập luận, chứng cứ và được Tòa án xem xét, đánh giá, thúc đẩy tiến trình giải quyết vụ án hành chính

Hai là, theo quy định tại Khoản 18 Điều 49 Luật TTHC đương sự cũng có nghĩa vụ “cung cấp đầy đủ, kịp thời các tài liệu, chứng cứ có liên quan theo yêu cầu của Tòa án” Quy định này xác định rõ trách nhiệm của đương sự, tránh tình trạng cố tình không cung cấp hoặc tâm lý “ỷ lại” vào Tòa án, đảm bảo tính minh

bạch trong hoạt động chứng minh của các chủ thể tố tụng Ngoài ra, quy định này còn thể hiện sự bình đẳng giữa các đương sự với nhau Bất kì đương sự nào khi tham gia tố tụng đều được hưởng các quyền và phải thực hiện nghĩa vụ phù hợp với

tư cách tố tụng đó Tòa án không có quyền tước bỏ quyền hoặc buộc họ phải thực hiện thêm nghĩa vụ vì lý do kinh tế, địa vị xã hội hay bất kì một lý do nào khác trái với quy định pháp luật

Thứ hai, về phạm vi và thời hạn đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Xét về phạm vi, Luật TTHC còn quy định cả một điều luật riêng về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh của đương sự trong vụ án hành chính Cụ thể, theo quy định tại Điều 72 Luật TTHC, đối với từng nhóm đương sự khác nhau thì có nghĩa vụ khác nhau trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh Nếu chủ thể là

người khởi kiện thì họ có nghĩa vụ cung cấp bản sao quyết định hành chính hoặc quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý

vụ việc cạnh tranh, bản sao quyết định giải quyết khiếu nại (nếu có), cung cấp các chứng cứ khác để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Đối với người bị kiện

có nghĩa vụ cung cấp cho Tòa án hồ sơ giải quyết khiếu nại (nếu có) và bản sao các văn bản, tài liệu mà căn cứ vào đó để ra quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc canh tranh hoặc có hành vi hành chính Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Tùy

từng loại chủ thể khác nhau sẽ có phạm vi và loại chứng cứ cung cấp khác nhau Điều này phản ánh tính đặc thù trong quan hệ pháp luật tố tụng hành chính Người

bị kiện là chủ thể mang quyền lực nhà nước, khả năng tiếp cận và nắm giữ tài liệu, chứng cứ của họ khá cao Trong khi đó, người khởi kiện, tuy là chủ thể trực tiếp tiến hành hoạt động khởi kiện nhưng khả năng nắm giữ, thu thập tài liệu, chứng cứ của họ hạn chế hơn Chủ yếu là các loại tài liệu, chứng cứ liên quan trực tiếp đến quyền lợi của họ như bản sao quyết định hành chính hoặc quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại Đặc biệt, đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, pháp luật không ấn định cụ thể loại tài liệu họ có nghĩa vụ phải cung cấp Bởi lẽ, tùy vào từng quan hệ pháp luật tố tụng hành chính nhất định Tòa

án mới có thể căn cứ vào đó mà yêu cầu họ xuất trình các tài liệu, chứng cứ cần thiết phục vụ quá trình giải quyết vụ án

Ngoài ra, quy định này cũng góp phần tránh sự tùy tiện khi áp dụng pháp luật

và giảm áp lực cho Tòa án trong việc tìm kiếm, thu thập chứng cứ, chứng minh Về loại chứng cứ mà đương sự được phép giao nộp, theo Điều 72 Luật TTHC cũng đã liệt kê một số tài liệu, chứng cứ mà đương sự phải cung cấp cho Tòa án Các tài

Trang 23

liệu, chứng cứ này tồn tại trong nhiều nguồn khác nhau như các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, vật chứng, cung cấp lời khai và các nguồn khác mà pháp luật

có quy định Có thể thấy phạm vi chứng cứ mà đương sự cung cấp ngày càng được

mở rộng và đa dạng Đặc biệt, khi so sánh với Pháp lệnh về thủ tục giải quyết các

vụ án hành chính cho thấy Luật TTHC đã có sự tiến bộ vượt bậc ở chỗ bỏ đi quy định bắt buộc trong mọi trường hợp người khởi kiện có nghĩa vụ phải giao nộp bản sao các quyết định hành chính bị khởi kiện Bởi lẽ, không phải lúc nào người khởi kiện cũng có các bản sao đó như trường hợp không có tên trong quyết định hành chính hay vì lí do khác mà không thể có được quyết định hành chính đó Vì vậy, việc quy định bắt buộc phải có bản sao trong trường hợp này là cứng nhắc, đánh mất quyền được bảo vệ của người khởi kiện

Xét về thời hạn, Luật TTHC cũng không giới hạn thời điểm và giai đoạn đương sự được giao nộp chứng cứ cho Tòa án, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho Tòa án trong bất cứ giai đoạn tố tụng nào Đây là quy định góp phần đảm bảo tính linh hoạt, sự bình đẳng giữa các đương sự, tạo điều kiện cho Tòa

án thu thập chứng cứ đầy đủ hơn Ở giai đoạn xét xử sơ thẩm, đương sự có quyền cung cấp chứng cứ cho Tòa án và trong trường hợp cần thiết Tòa án yêu cầu đương

sự giao nộp chứng cứ Hoặc theo quy định tại Điều 189 Luật TTHC, ở giai đoạn xét

xử phúc thẩm, đương sự cũng có quyền yêu cầu bổ sung chứng cứ mới cho Tòa án Tòa án có thể hoãn phiên tòa xét xử phúc thẩm để xác minh, thu thập chứng cứ mới

bổ sung Quy định này đồng thời tạo ra sự khác biệt giữa pháp luật tố tụng hành

chính và pháp luật tố tụng dân sự Theo quy định Bộ luật TTDS, “trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, tài liệu bổ sung chỉ được xuất trình tại thời điểm nộp kèm theo đơn kháng cáo” Đây là cơ hội để đương sự xuất trình chứng cứ mà mình có, bảo

đảm nguồn chứng cứ được chính xác, góp phần làm sáng tỏ các tình tiết vụ án và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của họ Ngoài ra, quy định mở rộng thời gian cung cấp, giao nộp chứng cứ này cũng đảm bảo cho các bên có quyền đưa ra lập luận của mình tại phiên xét xử Mỗi vụ án hành chính có thể sẽ có mức độ phức tạp khác nhau về xuất trình tài liệu, chứng cứ Do đó, việc mở rộng thời gian xuất trình chứng cứ tạo cơ hội tối đa cho đương sự để bảo vệ quyền lợi của mình, bảo đảm tính chính xác của nguồn chứng cứ

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 105 Luật TTHC, khi nộp đơn khởi kiện, đương sự phải nộp kèm theo đơn khởi kiện là các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Đây là quy định mang tính chất kế thừa quy định của Pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính Tài liệu phải xuất trình bắt buộc trong trường hợp này là các quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại (nếu có) và các tài liệu khác có liên quan Luật TTHC còn ấn định rõ thời gian cụ thể đối với việc xuất trình tài liệu, chứng cứ lần đầu và đưa ra chế tài cụ thể nếu không xuất trình hoặc xuất trình không đầy đủ Quy định này đặt ra yêu cầu đối với đương sự phải thật sự quan tâm, cân nhắc đến các chứng cứ cũng như chứng minh cho yêu cầu của mình trong vụ

án

Trang 24

Thứ ba, về thủ tục thực hiện quyền và nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho Tòa

án

Thủ tục thực hiện quyền và nghĩa vụ giao nộp chứng cứ được quy định tại

Điều 77 Luật TTHC, “trong quá trình Toà án giải quyết vụ án hành chính, đương

sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho Toà án; nếu đương sự không nộp hoặc nộp không đầy đủ thì phải chịu hậu quả của việc không nộp hoặc nộp không đầy đủ đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Việc đương sự giao nộp chứng cứ cho Toà án phải được lập biên bản về việc giao nhận chứng cứ Trong biên bản phải ghi rõ tên gọi, hình thức, nội dung, đặc điểm của chứng cứ; số bản,

số trang của chứng cứ và thời gian nhận; chữ ký hoặc điểm chỉ của người giao nộp, chữ ký của người nhận và dấu của Toà án Biên bản phải lập thành hai bản, một bản lưu vào hồ sơ vụ án hành chính và một bản giao cho đương sự nộp chứng cứ giữ Đương sự giao nộp cho Toà án chứng cứ bằng tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài phải kèm theo bản dịch sang tiếng Việt được công chứng, chứng thực hợp pháp” Theo đó, việc giao nộp chứng cứ phải được Tòa án lập thành văn bản,

trong đó có những nội dung mang đặc điểm nhận dạng chứng cứ như tên gọi, hình thức, nội dung và đặc điểm… Với cách quy định này góp phần giúp việc quản lý hồ

sơ vụ án được hiệu quả hơn, tránh thất thoát chứng cứ, và đặc biệt hạn chế sự lạm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc làm sai lệch hồ sơ vụ án, hủy hoại chứng cứ… Tuy nhiên, Điều 88 Luật TTHC cũng ghi nhận trường hợp ngoại lệ, cho phép đương sự hoặc người thứ ba bảo quản chứng cứ và chịu trách nhiệm về chứng

cứ trong trường hợp chứng cứ không thể giao nộp được Đây là một quy định tiến

bộ, đảm bảo cho hoạt động cung cấp chứng cứ thật sự hiệu quả, linh hoạt không mang tính rập khuôn, cứng nhắc

Thứ tư, sự khác biệt trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh của người đại diện theo ủy quyền, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự so với đương sự trong vụ án hành chính

Đối với người đại diện theo ủy quyền, theo quy định tại Khoản 5 Điều 54

Luật TTHC “người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng hành chính thực hiện toàn

bộ các quyền, nghĩa vụ tố tụng hành chính của người ủy quyền” Với các quy định

này, pháp luật cho phép trong những trường hợp nhất định, người đại diện theo ủy quyền có quyền thay mặt đương sự cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho Tòa án trong phạm vi ủy quyền của mình Đương sự không phải chỉ đơn thuần là chủ thể có quyền và nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ một cách trực tiếp mà còn

có thể thông qua chủ thể khác để thực hiện công việc này Đây thực sự là một quy định tiến bộ, đảm bảo cho hoạt động thu thập chứng cứ trở nên toàn diện, triệt để, hạn chế sự cứng nhắc khi thi hành pháp luật trên thực tế Tùy vào từng vụ án hành chính, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể mà đương sự có thể tự mình hoặc ủy quyền cho chủ thể khác thực hiện công việc này

Đối với chủ thể là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, phạm vi quyền này đã có sự mở rộng hơn Cụ thể, theo quy định tại Điểm b Khoản

4 Điều 55 Luật TTHC “xác minh, thu thập chứng cứ và cung cấp chứng cứ cho Tòa án” Như vậy, khi tham gia vào vụ án hành chính, người bảo vệ quyền và lợi ích

hợp pháp của đương sự luôn được pháp luật trao cho quyền và nghĩa vụ cung cấp

Trang 25

chứng cứ Mục tiêu mà pháp luật hướng đến trong trường hợp này là nhằm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự, đồng thời thể hiện vai trò then chốt của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong công cuộc làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án Vì đối với mô hình tố tụng tranh tụng, vai trò của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự rất lớn, có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến kết quả tuyên án tại Tòa Hơn nữa, so với đương sự, khả năng am hiểu và thực thi pháp luật của chủ thể này khá cao, vì vậy cần mở rộng quyền năng của họ nhằm đảm bảo tính khách quan của vụ án

Cuối cùng, trách nhiệm pháp lý đối với đương sự và Tòa án trong trường hợp cản trở hoặc có hành vi vi phạm pháp luật khi cung cấp tài liệu, chứng cứ

Pháp luật trao cho đương sự và Tòa án các quyền và nghĩa vụ nhưng cũng đồng thời đặt ra các chế tài để đảm bảo cho việc tuân thủ và thực hiện Theo quy

định tại Điều 14 Luật TTHC “nghiêm cấm mọi hành vi can thiệp, cản trở Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân thực hiện nhiệm vụ” Tùy theo mức độ vi phạm của các

chủ thể, đặc biệt là đương sự trong vụ án đó mà có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự Đặc biệt, đối với cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, pháp luật dành ra cả một quy định riêng tại Điều 15 Luật TTHC về trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong trường hợp có hành vi vi phạm Các chế tài đặt ra cũng được đa dạng hóa, cả

về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp gây thiệt hại cho cá nhân, cơ quan, tổ chức lẫn vấn đề xử lý kỷ luật và truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật Với những chế tài này đã thật sự đảm bảo tính nghiêm minh, chặt chẽ của pháp luật, thể hiện tính trung thực, khách quan trong quá trình giải quyết vụ

án hành chính Đặc biệt, nâng cao ý thức trách nhiệm của Tòa án, hạn chế những tiêu cực không mong muốn

1.3.2 Quyền được biết, đọc, ghi chép, sao chụp và xem các tài liệu, chứng cứ do đương sự khác cung cấp hoặc do Tòa án thu thập

Đương sự trong vụ án hành chính bao gồm người khởi kiện, người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Mỗi chủ thể khi tham gia vào quá trình giải quyết vụ án có thể cung cấp các chứng cứ khác nhau và những chứng cứ đó ảnh hưởng nhất định trong việc đưa phán quyết của Tòa án Hơn nữa, chứng cứ còn có thể do Tòa án thu thập được Do đó, để đảm bảo sự đánh giá chứng cứ một cách trung thực, khách quan đòi hỏi cần có sự tham gia của các đương sự trong việc biết, đọc, ghi chép, sao chụp và xem các tài liệu, chứng cứ do đương sự khác cung cấp Trên cơ sở đó, đương sự sẽ xem xét, nghiên cứu và góp phần vào việc phân tích, đánh giá chứng cứ

Luật TTHC ghi nhận tại Khoản 2 Điều 49 đương sự có quyền “được biết, đọc, ghi chép, sao chụp và xem các tài liệu, chứng cứ do đương sự khác cung cấp hoặc do Tòa án thu thập” Với quy định này, phạm vi quyền của đương sự đã thực

sự được mở rộng, không chỉ giới hạn ở quyền được biết, đọc mà còn có thể ghi chép, sao chụp và xem các tài liệu, chứng cứ do đương sự khác cung cấp hoặc do Tòa án thu thập được

Trang 26

Trong đó, quyền được biết, đọc, ghi chép, sao chụp và xem các tài liệu, chứng cứ do đương sự khác cung cấp hoặc do Tòa án thu thập được hiểu là tập hợp các quyền năng mà theo đó trên cơ sở đề nghị của đương sự hoặc theo quy định

pháp luật, Tòa án tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền này “Được biết” trong

trường hợp này được hiểu là được Tòa án công khai các tài liệu, chứng cứ có trong

hồ sơ vụ án “Sao chụp” là được Tòa án tạo điều kiện để tự mình sao chụp tài liệu

có trong hồ sơ Tòa án không có trách nhiệm sao chụp tài liệu thay cho đương sự Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho đương sự trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tránh trường hợp đương sự bị động trước chứng cứ có liên quan Đương sự sẽ có cơ hội xem xét, đánh giá chứng cứ cũng như tìm ra bằng chứng nhằm phủ nhận, bác bỏ quan điểm đối phương

Thế nhưng, không phải bất kì loại tài liệu, chứng cứ nào đương sự cũng được ghi chép, sao chụp Việc ghi chép, sao chụp phải được thực hiện tại trụ sở Tòa án và tuân thủ quy định về bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh

và bí mật đời tư Cụ thể, theo quy định tại Khoản 3 Điều 15 Luật TTHC “cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải giữ bí mật nhà nước, bí mật công tác theo quy định của pháp luật; giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc; giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ” Như vậy, để thực hiện được quyền này, đương sự cần phải làm đơn

yêu cầu gửi đến Tòa án và Tòa án sẽ xem xét để chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu đó Theo quy định tại Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung”

của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2004 đã được sửa đổi, bổ sung như sau “đương sự phải có đơn yêu cầu khi thực hiện quyền này Đương sự có quyền được ghi chép, sao chụp bằng các thiết bị kỹ thuật mà họ có như điện thoại, máy ảnh… Tùy điều kiện, Tòa án cũng có thể thực hiện việc sao chép thay đương sự và đương sự phải trả phí Nhằm đảm bảo chế độ bảo quản hồ sơ vụ án, việc sao chép phải được thực hiện trong một thời gian hợp lý theo sự hướng dẫn, giám sát của cán bộ Tòa án và phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật nghề nghiệp và bí mật đời tư” 17 Pháp luật trao cho đương sự quyền, nhưng việc thực hiện cũng phải dựa trên quy chuẩn nhất định Có như vậy mới đảm bảo thực hiện tốt quyền của đương sự đồng thời tránh những sai sót trong hoạt động tố tụng như: tài liệu, chứng cứ bị mất, thất lạc, bị hủy hoại hoặc chỉnh sửa…

Về thời gian đương sự được quyền thực hiện hoạt động ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ, hiện nay pháp luật tố tụng hành chính chưa có quy định cụ thể Dựa trên quy định pháp luật tố tụng dân sự, tại Điều 17 Nghị quyết quyết 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2004 đã

được sửa đổi, bổ sung quy định như sau: “đương sự được yêu cầu thực hiện quyền được ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa” 18 Theo đó, trong giai đoạn xét xử sơ thẩm hoặc giai đoạn xét xử phúc thẩm,

17 Đặng Xuân Sơn (2014), Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh,

Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong Tố tụng hành chính, tr 17

18

Nghị quyết quyết 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất“Những quy định chung” của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2004 đã được sửa đổi, bổ sung

Trang 27

trước khi mở ra phiên tòa, đương sự đều có quyền đề nghị được thực hiện quyền ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Trong đó, đương sự cần nêu

rõ loại tài liệu, chứng cứ mà mình muốn ghi chép, sao chụp, Tòa án sẽ căn cứ vào

đó xem xét, đưa ra quyết định Như vậy, ghi nhận quyền này không chỉ đảm bảo tính khách quan, minh bạch mà còn nâng cao vai trò của đương sự trong việc làm sáng tỏ vụ án Vấn đề đánh giá, xác định chứng cứ không những là trách nhiệm của Tòa án mà còn dựa trên ý kiến, quan điểm trình bày của các đương sự Dĩ nhiên, chứng cứ được sử dụng nhằm phục vụ quá trình giải quyết vụ án cũng trở nên thuyết phục hơn

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 84 Luật TTHC, để bảo đảm các thuộc tính của chứng cứ như tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp, pháp luật cho phép đương sự được quyền trưng cầu chứng cứ bị tố cáo là giả mạo Khi đương sự tiến hành giao nộp chứng cứ cho Tòa án, họ cũng phải có một sự cân nhắc trước đó, bởi lẽ chứng cứ đó sẽ có thể chịu sự đánh giá bởi nhiều chủ thể khác nhau, trong đó

có đương sự khác Nếu một bên đương sự cố ý giả mạo chứng cứ thì bản thân họ sẽ

có thể phải gánh chịu những hậu quả bất lợi như: phải bồi thường thiệt hại nếu gây thiệt hại cho người khác, hoặc thậm chí phải chịu trách nhiệm hình sự… Quy định này nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, tôn trọng sự thật khách quan của vụ

án từ phía đương sự và các chủ thể có liên quan Hạn chế tối đa những hành vi gian lận, tha hóa đạo đức mà đưa ra chứng cứ giả mạo với tham vọng cá nhân, mục đích

vụ lợi, gây ảnh hưởng đến uy tín, quyền lợi cá nhân, tổ chức khác Về phía Tòa án, hoạt động đánh giá tính xác thực của chứng cứ cũng dễ dàng hơn, đảm bảo hoạt động tố tụng diễn ra thông suốt, nhất quán

Hơn nữa, giữa các đương sự khác nhau thì việc ghi chép, sao chụp chứng cứ cũng khác nhau Tại Khoản 2 Điều 49 Luật TTHC quy định đương sự được quyền biết, đọc, ghi chép và sao chụp chứng cứ do đương sự khác cung cấp hoặc do Tòa

án thu thập Đối với người khởi kiện, họ có quyền ghi chép, sao chụp chứng cứ do người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cung cấp hoặc do Tòa án thu thập Ngược lại, đối với người bị kiện hay người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng thế, họ được quyền ghi chép, sao chụp các tài liệu, chứng cứ mà không phải

do mình cung cấp hoặc là chứng cứ do Tòa án thu thập được Quy định như trên là hoàn toàn phù hợp, bởi lẽ khi một bên đương sự cung cấp chứng cứ cho Tòa án thì bản thân họ đã biết về sự tồn tại của chứng cứ đó và sử dụng nó để phục vụ cho quá trình giải quyết vụ án Trong khi đó, các chủ thể khác, việc tiếp cận và sử dụng chứng cứ là gián tiếp, cần có sự hỗ trợ bởi Tòa án Đặc biệt, đối với loại tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập được cũng cần công khai rõ ràng, minh bạch cho đương sự biết để họ ghi chép, sao chụp lại làm cơ sở bảo vệ quyền lợi một cách tốt nhất Quan trọng hơn, quy định này cũng hạn chế tình trạng một bên chủ thể cố tình che giấu không cho chủ thế biết về sự tồn tại của tài liệu, chứng cứ với mục đích tư lợi cá nhân

Tuy nhiên, so với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, quyền ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng có sự khác biệt Đương sự được quyền biết, đọc, ghi chép và xem các tài liệu, chứng cứ do đương sự khác cung cấp hoặc do Tòa án thu thập để bảo vệ quyền lợi của chính

Trang 28

mình Trong khi đó, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cũng có quyền được ghi chép, sao chụp những tài liệu có trong hồ sơ vụ án mà không nhất thiết phải là tài liệu do đương sự khác cung cấp Đó có thể là tài liệu do chính đương sự mà họ bảo vệ cung cấp Bởi vì, vai trò, vị trí của chủ thể này có sự khác biệt đáng kể so với đương sự, việc tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hành chính là nhằm bảo vệ quyền lợi của đương sự Phạm vi tài liệu họ được quyền ghi chép, sao chụp trong một số trường hợp có thể mở rộng hơn nhằm phục vụ tốt nhất cho công việc của mình

Cuối cùng, khi pháp luật trao cho đương sự quyền thì đồng thời cũng đặt ra

cơ chế để bảo vệ quyền đó Nhằm hạn chế tối đa các trường hợp Tòa án từ chối quyền được biết, đọc, ghi chép, sao chụp và xem tài liệu, chứng cứ do đương sự khác cung cấp hoặc do Tòa án thu thập, pháp luật đã đưa ra những chế tài thiết thực Dẫn chứng quy định tại Điều 15 Luật TTHC, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có trách nhiệm tuân thủ nghiêm quy định pháp luật trong việc bảo vệ quyền này của đương sự, mọi hành vi vi phạm tùy theo mức độ mà gánh chịu chế tài tương ứng, bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật Ngoài ra, trong trường hợp gây thiệt hại cho đương sự khác thì còn có thể phải bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước Do vậy, khi Tòa án từ chối thực hiện, đương sự có quyền kiến nghị lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét xử lý theo đúng quy định

1.3.3 Quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ, quản lý chứng cứ cung cấp chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho Tòa án

Xuất phát từ đặc trưng về chứng cứ trong vụ án hành chính, không phải trong mọi trường hợp đương sự đều thu thập được chứng cứ mà có thể do cơ quan khác lưu giữ, bảo quản hay chứng cứ tồn tại trong nhiều nguồn khác nhau Do đó, pháp luật cho phép đương sự có quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ, quản lý chứng cứ cung cấp chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho Tòa án theo quy

định tại Khoản 3 Điều 49 Luật TTHC, “yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ, quản lý chứng cứ cung cấp chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho Tòa án”

Với việc thực hiện quyền này đã phần nào giúp đương sự xuất trình, giao nộp chứng

cứ đầy đủ hơn, tránh đi việc một chủ thể đang nắm giữ chứng cứ cố tình che giấu, không giao nộp Pháp luật trao cho đương sự quyền với mong muốn việc thu thập chứng cứ có hiệu quả và đầy đủ Đương sự là chủ thể có có quyền lợi thiết thực nhất, vì thế họ luôn chủ động tìm kiếm, thu thập các chứng cứ có liên quan để phục

vụ cho lợi ích của mình Do vậy, vấn đề luật hóa quyền này cũng đảm bảo mục tiêu chung trong công cuộc hoàn thiện hệ thống tư pháp nước ta

Đồng thời với việc ghi nhận quyền cho đương sự, pháp luật đặt ra trách nhiệm đối với các cá nhân, cơ quan, tổ chức đang nắm giữ tài liệu, chứng cứ có liên

quan đó Viện dẫn Điều 9 Luật TTHC quy định “Cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn cho đương sự, Toà án, Viện kiểm sát tài liệu, chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Toà án, Viện kiểm sát; trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự, Toà án, Viện kiểm sát biết và nêu rõ lý do của việc không cung cấp được tài liệu, chứng cứ” Bởi lẽ,

Trang 29

nếu chỉ dừng lại ở việc ghi nhận quyền yêu cầu cung cấp chứng cứ của đương sự thì việc thực thi trên thực tế chưa đạt hiệu quả Mà cụ thể hơn, khi một bên có quyền yêu cầu thì bên còn lại phải có nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho Tòa án Đây cũng là một nguyên tắc mới so với Pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính cũ, quy định bổ sung, ngoài đương sự, Tòa án, Viện Kiểm sát cũng là một chủ thể có quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ để đảm bảo cho quá trình giải quyết vụ án Với quy định như vậy, việc thực hiện quyền của đương sự sẽ được đảm bảo và đồng thời các chủ thể không thể chối từ mà phải nghiêm chỉnh chấp hành Nếu trong phạm vi quyền hạn của họ mà họ cố tình không cung cấp đầy

đủ, đúng hạn cho đương sự thì phải chịu hậu quả bất lợi của việc không cung cấp

đó Và ngược lại, trong tình huống họ không thể cung cấp được thì pháp luật có thể cho phép nếu họ xuất trình được lý do của việc không cung cấp đó Quy định này mang tính mở rộng, mặc dù về nguyên tắc nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự, nếu đương sự không chứng minh được thì phải chịu hậu quả bất lợi Nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc Tòa án và các cơ quan chức năng khác đứng ngoài cuộc trong quá trình chứng minh

Đương nhiên, không phải trường hợp nào đương sự có yêu cầu thì cá nhân,

cơ quan, tổ chức đó cũng phải giao nộp chứng cứ mà cần khẳng định đó là những chứng cứ có liên quan đến quá trình giải quyết vụ án và không thuộc những tài liệu không thể giao nộp như liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư mà pháp luật cho phép không phải giao nộp Đương sự phải xem xét, đánh giá trước khi yêu cầu nhằm đảm bảo tài liệu, chứng cứ đó là cần thiết, tránh sự tùy tiện, cẩu thả khi thực hiện quyền của mình Các chủ thể khác, khi nhận được yêu cầu sẽ có trách nhiệm chấp hành theo đúng quy định pháp luật, họ chỉ được phép từ chối trong những trường hợp pháp luật cho phép như đã nêu trên Khi có sự phối hợp giữa chủ thể yêu cầu và chủ thể thực hiện thì vấn đề thu thập, cung cấp tài liệu, chứng cứ sẽ trở nên thuận tiện, dễ dàng hơn

Ngoài ra, để đảm bảo công tác thực thi quyền lợi của đương sự trên thực tế, pháp luật cũng xây dựng cơ chế cụ thể, rõ ràng Đó là quyền đề nghị Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ của vụ án mà tự mình không thể thực hiện được Đây là quy định có cơ sở, bởi lẽ, khác với Tòa án, đương sự là một bên trong quan hệ pháp luật tố tụng hành chính, họ không mang quyền lực nhà nước Do vậy, cơ chế thực thi quyền lực không đạt hiệu quả cao, cần có sự hỗ trợ, giúp đỡ từ phía cơ quan quyền lực nhà nước Có như thế thì vấn đề thu thập tài liệu, chứng cứ mới thật sự trở nên thuận tiện, toàn diện và đầy đủ hơn

1.3.4 Quyền đề nghị Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ của vụ án mà tự mình không thể thực hiện được; đề nghị triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá tài sản, thẩm định giá tài sản

Đương sự tuy đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết vụ án hành chính nhưng xét về quyền hạn, vị trí thì họ vẫn không thể tự mình giải quyết mọi vấn đề

mà trong những trường hợp đặc biệt cũng cần có sự giúp đỡ của cơ quan tiến hành

tố tụng, trọng tâm là Tòa án Bởi vì, đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính chủ yếu là các quyết định hành chính, hành vi hành chính, đây là sản phẩm trong hoạt động quản lý nhà nước Khi tham gia vào vụ án hành chính, người bị kiện có lợi thế

Trang 30

hơn trong việc thu thập chứng cứ, tài liệu có liên quan để bảo vệ quyền lợi của mình trước Tòa án Trong khi đó, khả năng tiếp cận thông tin, nguồn tài liệu của người khởi kiện là rất hạn chế, đặc biệt là các nguồn không công khai, do phía người khởi kiện cung cấp, nắm giữ Do đó, để tạo ra vị thế cân bằng giữa các chủ thể, Luật TTHC đã có những quy định chặt chẽ hơn so với Pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính trước đây để đảm bảo đương sự thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ của mình Điển hình nhất là việc đề nghị Tòa án xác minh, thu thập chứng

cứ trong trường hợp cần thiết và yêu cầu triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá tài sản, thẩm định giá tài sản

Thứ nhất, quyền đề nghị Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ của vụ án mà đương sự không thể tự mình thực hiện được

Khi đương sự yêu cầu các chủ thể có nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ thì không phải trường hợp nào họ cũng thực hiện mà có những trường hợp không thể thực hiện được Chẳng hạn như vì lý do khách quan hoặc một số lý do khác như chủ thể cố tình không thực hiện, thực hiện không đúng yêu cầu… Từ đó, làm cho việc giải quyết vụ án bị trì hoãn vì thiếu chứng cứ, quá trình giải quyết vụ án không đảm bảo tính toàn diện và triệt để, ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự Chính vì thế,

pháp luật chính thức ghi nhận cho đương sự quyền “đề nghị Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ của vụ án mà tự mình không thể thực hiện được” theo quy định tại

Khoản 4 Điều 49 Luật TTHC Đây thực sự là một bước tiến vượt bậc của Luật TTHC, khắc phục những hạn chế khi thực thi quyền và nghĩa vụ của đương sự trên thực tế Với quy định này, hoạt động thu thập chứng cứ trở nên nhanh chóng, thuận tiện và dễ dàng hơn Bởi vì, Tòa án là cơ quan tiến hành tố tụng, mang quyền lực nhà nước và nhân danh nhà nước yêu cầu các chủ thể nghiêm chỉnh chấp hành Mọi hành vi chống đối, cố tình che giấu, không giao nộp đều có thể đang xâm phạm đến lợi ích nhà nước và phải gánh chịu chế tài bất lợi Vì thế, Tòa án luôn nắm giữ lợi thế trong việc thu thập chứng cứ hơn so với đương sự Trong trường hợp không thể thu thập được, đương sự có quyền yêu cầu Tòa án thu thập thay cho mình

Tuy nhiên, pháp luật cho đương sự quyền nhưng cũng giới hạn phạm vi quyền của đương sự thông qua quy định tại Điều 87 Luật TTHC, chỉ trong trường hợp đương sự đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì mới có thể yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ Đề nghị phải được trình bày trong đơn yêu cầu và nêu rõ vấn đề cần chứng minh, chứng cứ cần thu thập, lý do không thể tự thu thập được… Quy định này là hoàn toàn có cơ sở, vì nếu chỉ đơn thuần trao cho đương sự quyền mà không có cơ chế để hạn chế quyền thì sẽ dẫn đến tình trạng lạm quyền Do đó, Luật TTHC không e ngại trong việc quy định quyền này cho đương sự, nhưng để thực hiện quyền này thì đương sự phải đáp ứng các điều kiện đã nêu Như thế mới có thể nâng cao được trách nhiệm của đương

sự, tránh sự “đùn đẩy” trách nhiệm hay “ỷ lại” vào Tòa án Ngoài ra, cũng chính

Tòa án là chủ thể có thẩm quyền xem xét để chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của đương sự Điều này mang lại lợi ích không chỉ cho các bên đương sự mà cả Tòa án trong việc dễ dàng phát hiện chứng cứ, bổ sung, bảo quản, đánh giá, sử dụng chứng cứ một cách hiệu quả và khoa học

Trang 31

Thế nhưng, khi đề nghị Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ của vụ án mà không thể tự mình thu thập được, đương sự cũng cần phải cân nhắc các loại tài liệu, chứng cứ được phép yêu cầu Tuy là chủ thể mang quyền lực nhà nước, đóng vai trò trung tâm trong quá trình giải quyết vụ án nhưng không đồng nghĩa với việc họ được phép thu thập tất cả các loại tài liệu, chứng cứ mà đó phải là tài liệu, chứng cứ

có liên quan đến quá trình giải quyết vụ án Tòa án không được phép sử dụng quyền lực của mình để thực hiện các hành vi xâm phạm lợi ích các chủ thể khác Vấn đề giới hạn tài liệu, chứng cứ có liên quan cũng là cơ chế nhằm đảm bảo tính nghiêm minh trong việc áp dụng pháp luật, bảo vệ tốt nhất quyền lợi cá nhân, cơ quan, tổ chức được yêu cầu

Đồng thời, vấn đề yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ thay phải trải qua một quy trình chặt chẽ, nghiêm túc nhằm đảm bảo pháp luật được áp dụng triệt để trên thực tế Cũng giống như đương sự, khi được Tòa án yêu cầu, các cá nhân cơ quan,

tổ chức có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn, nếu không cung cấp được phải nêu rõ lý do và trình bày bằng văn bản theo quy định tại Điều 9 Luật TTHC Thời hạn mà chủ thể có nghĩa vụ cung cấp là 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, nếu đã nhận được yêu cầu mà không cung cấp được trong thời hạn trên và không có lý do chính đáng thì có thể bị xử lý theo quy định pháp luật Thời hạn quy định cụ thể, rõ ràng nhằm mục đích giúp cho việc giải quyết vụ án diễn ra đúng thời hạn, tránh tình trạng chậm trễ, trì hoãn kéo dài Với việc quy định này, Khoản 2 Điều 87 Luật TTHC đã yêu cầu các chủ thể nghiêm chỉnh chấp hành hơn So với đương sự, vai trò của Tòa án trong việc yêu cầu cung cấp chứng cứ, chứng minh đã cao hơn rất nhiều Mặc dù khi đương sự yêu cầu mà chủ thể không thực hiện thì pháp luật không đặt ra chế tài, nhưng đối với chủ thể yêu cầu là Tòa án thì vấn đề chế tài luôn được đặt ra Đây cũng là cơ hội để đương sự thực hiện hết khả năng của mình trong việc chứng minh

Hơn nữa, quy định này cũng đảm bảo nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong việc yêu cầu cung cấp chứng cứ, chứng minh trong vụ án hành chính Tòa án có trách nhiệm chủ động quản lý hồ sơ và áp dụng biện pháp cần thiết khi thu thập chứng cứ, khắc phục sự bất bình đẳng giữa đương sự trong vụ án hành chính Vì đối tượng khởi kiện trong trường hợp này là các quyết định hành chính, hành vi hành chính Đây là sản phẩm từ hoạt động quản lý của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước Do đó, khi tham gia tranh tụng, người bị kiện luôn có cơ hội hơn trong việc bảo vệ quyền lợi của mình, họ có điều kiện để thu thập, xuất trình chứng cứ Trong khi đó, quyền tiếp cận thông tin, tài liệu của người khởi kiện lại rất hạn chế, chủ yếu là từ các nguồn thông tin công khai Như vậy, để tạo thế cân bằng giữa các bên, pháp luật cho phép đương sự có quyền yêu cầu Tòa án tiến hành hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ trong trường hợp cần thiết

Thế nhưng, khi đương sự có yêu cầu mà Tòa án không thực hiện và đương

sự cho rằng quyền lợi đó bị xâm phạm thì họ có thể khiếu nại để bảo vệ lợi ích của

mình Cụ thể, theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Luật TTHC, “cá nhân, cơ quan,

tổ chức có quyền khiếu nại quyết định, hành vi trong tố tụng hành chính của cơ quan, người tiến hành tố tụng hành chính khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành

Trang 32

vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình” Theo đó,

khi đương sự nhận thấy việc Tòa án không thực hiện yêu cầu là xâm phạm đến quyền lợi của họ hoặc cho rằng hành vi đó trái pháp luật thì có quyền khiếu nại việc không thực hiện đó Chủ thể nhận được khiếu nại có trách nhiệm xem xét, chấp nhận hoặc không chấp nhận khiếu nại đó để đưa ra hướng giải quyết phù hợp Nghiêm cấm mọi hành vi sử dụng quyền lực cá nhân, cơ quan, tổ chức mình mà gây ảnh hưởng đến lợi ích chính đáng của đương sự

Thứ hai, quyền đề nghị Tòa án lấy lời khai người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá tài sản, thẩm định giá tài sản

Nếu chỉ dừng lại ở những chứng cứ đã thu thập thì việc giải quyết vụ án vẫn chưa thực sự khách quan, hiệu quả Vì thế, trong những trường hợp nhất định, cần

có sự tham gia của người làm chứng hay tiến hành hoạt động trưng cầu giám định, định giá tài sản, thẩm định giá tài sản… và chủ thể có thẩm quyền thực hiện những hoạt động trên chính là Tòa án Khi đề nghị của đương sự được thực hiện thì kết quả sẽ thể hiện thông qua biên bản lấy lời khai, kết luận giám định, kết luận giám định bổ sung, giám định lại, kết quả định giá, thẩm định giá tài sản Đây cũng là nguồn chứng cứ quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án của Tòa án được ghi nhận tại Điều 75 Luật TTHC Dựa trên nguồn chứng cứ này, Tòa án sẽ xem xét, đánh giá để xác định những gì có thể được sử dụng làm chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án

Một là, về quyền yều cầu lấy lời khai của người làm chứng, theo quy định tại Khoản 1 Điều 80 Luật TTHC, “theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán tiến hành lấy lời khai của người làm chứng” Khi đương sự có

yêu cầu, Thẩm phán có thể xem xét tiến hành triệu tập người làm chứng và tiến hành lấy lời khai của họ Lời khai của người làm chứng trong trường hợp này cũng

là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng phục vụ quá trình giải quyết vụ án Người làm chứng ở đây là người biết các tình tiết có liên quan đến nội dung vụ án

Do đó, dựa trên lời khai của họ và đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ khác có liên quan, Tòa án sẽ xem xét, đánh giá về tính xác thực trong lời khai ấy

Nhưng không phải trường hợp nào đương sự yêu cầu thì Tòa án cũng có trách nhiệm thực hiện mà còn phụ thuộc vào sự cần thiết của lời khai để củng cố thêm chứng cứ cho việc giải quyết vụ án hoặc trong lời khai giữa các đương sự không có sự tương thích với nhau Thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai của người làm chứng khi người làm chứng chưa có bản khai hoặc bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng Có những trường hợp, dù đương sự đã đưa ra yêu cầu nhưng yêu cầu đó không được chấp nhận hoặc được chấp nhận nhưng lời khai đó không được sử dụng làm chứng cứ Tòa án có trách nhiệm nghiên cứu, đánh giá, phân tích lời khai và quyết định lời khai đó có được thừa nhận là chứng cứ hay không Thực tế hiện nay cho thấy, có rất nhiều trường hợp, người làm chứng vì lý do chủ quan nên đưa ra lời khai giả mạo, thiếu căn cứ gây cản trở cho hoạt động tố tụng của Tòa án Do vậy, Tòa án luôn phải cân nhắc, thân trọng đối với những trường hợp này đảm bảo tiêu chí lời khai người làm chứng đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của một chứng cứ

Ngày đăng: 11/07/2023, 11:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
24. Phan Thanh Hà (2012), Luận văn thạc sỹ Luật học trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Chứng minh trong vụ án hành chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn thạc sỹ Luật học
Tác giả: Phan Thanh Hà
Nhà XB: Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2012
25. Nguyễn Thị Thu Hân (2014), Luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Hoạt động chứng minh trong tố tụng hành chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động chứng minh trong tố tụng hành chính
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hân
Nhà XB: Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2014
26. Nguyễn Lân (2000), Từ điển từ và ngữ Việt Nam, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển từ và ngữ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Lân
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2000
27. Hoàng Phê (chủ biên) (2006), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2006
28. Nguyễn Sơn Lâm (2012), Luận văn thạc sỹ Luật học trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Chứng cứ trong vụ án hành chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chứng cứ trong vụ án hành chính
Tác giả: Nguyễn Sơn Lâm
Nhà XB: Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2012
29. Nguyễn Đức Mai (2013), Bình luận khoa học Luật Tố tụng hành chính, NXB chính trị quốc gia, Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Luật Tố tụng hành chính
Tác giả: Nguyễn Đức Mai
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
Năm: 2013
30. Đoàn Tấn Minh (2011), “Bình luận khoa học Luật Tố tụng hành chính và các văn bản áp dụng giải quyết các khiếu kiện tại Tòa”, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Luật Tố tụng hành chính và các văn bản áp dụng giải quyết các khiếu kiện tại Tòa
Tác giả: Đoàn Tấn Minh
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
Năm: 2011
31. Lê Thị Mơ (2014), Luận văn thạc sỹ Luật học trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Người khởi kiện trong vụ án hành chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người khởi kiện trong vụ án hành chính
Tác giả: Lê Thị Mơ
Nhà XB: Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2014
32. Huỳnh Thị Khánh Ly (2013), Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Thi hành án hành chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Huỳnh Thị Khánh Ly
Năm: 2013
33. Đặng Xuân Sơn (2014), Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong Tố tụng hành chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong Tố tụng hành chính
Tác giả: Đặng Xuân Sơn
Nhà XB: trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2014
34. Đậu Thị Tuyết (2011), Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Chứng cứ trong vụ án hành chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chứng cứ trong vụ án hành chính
Tác giả: Đậu Thị Tuyết
Nhà XB: Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2011
35. Lê Nguyễn Hồng Phúc (2011), Luận văn thạc sỹ Luật học trường Đại học Luật Hà Nội, Quyền khởi kiện với vấn đề xác định tư cách đương sự trong tố tụng dân sự Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn thạc sỹ Luật học trường Đại học Luật Hà Nội, Quyền khởi kiện với vấn đề xác định tư cách đương sự trong tố tụng dân sự
Tác giả: Lê Nguyễn Hồng Phúc
Nhà XB: Đại học Luật Hà Nội
Năm: 2011
36. Phạm Hồng Thái, Đinh Văn Mậu (1996), Tài phán hành chính ở Việt Nam, NXB Tp. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài phán hành chính ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Hồng Thái, Đinh Văn Mậu
Nhà XB: NXB Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 1996
37. Nguyễn Thị Thuận, Nguyễn Thị Hoài Thu, Nguyễn Thị Mộng Trâm (2014), Nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự trong vụ án hành chính, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự trong vụ án hành chính
Tác giả: Nguyễn Thị Thuận, Nguyễn Thị Hoài Thu, Nguyễn Thị Mộng Trâm
Nhà XB: Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2014
38. Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, NXB Tư pháp – NXB Từ điển Bách Khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Luật học
Tác giả: Viện Khoa học pháp lý
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2006
39. Đào Trí Úc (2002), Hệ thống tư pháp và cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống tư pháp và cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Đào Trí Úc
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2002
40. Nguyễn Như Ý (2005), Từ điển tiếng Việt thông dụng, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt thông dụng
Tác giả: Nguyễn Như Ý
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
41. Nguyễn Như Ý (1999), Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Như Ý
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 1999
42. Đinh Thị Ngọc Yến (2012), Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật trường Đại học Luật Hà Nội, Đương sự trong vụ án hành chính.III. Tạp chí, bài viết tham luận, báo cáo tổng kết Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật trường Đại học Luật Hà Nội, Đương sự trong vụ án hành chính
Tác giả: Đinh Thị Ngọc Yến
Nhà XB: Tạp chí, bài viết tham luận, báo cáo tổng kết
Năm: 2012
43. Đỗ Văn Chỉnh (2011), “Luật Tố tụng hành chính, những sửa đổi bổ sung”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Tố tụng hành chính, những sửa đổi bổ sung
Tác giả: Đỗ Văn Chỉnh
Nhà XB: Tạp chí Tòa án nhân dân
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w