Đặc biệt là thực tiễn thực hiện các nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong giai đoạn Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 được nhận diện
Trang 1LƯU ĐỨC QUANG
NGUYÊN TẮC HIẾN PHÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI,
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các dữ liệu được nêu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định hiện hành
Tác giả
Lưu Đức Quang
Trang 3Bảng 1: So sánh Hiến pháp một số quốc gia trên thế giới về các nguyên tắc Hiến
pháp về quyền con người, quyền công dân (trang 24)
Bảng 2: So sánh Hiến pháp Việt Nam năm 1946, 1959, 1980 và 1992 về các
nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân (trang 34)
Trang 4Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN – KINH NGHIỆM LẬP HIẾN QUỐC TẾ - LƯỢC SỬ LẬP HIẾN VIỆT NAM ĐỐI VỚI CÁC NGUYÊN TẮC HIẾN PHÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN 7
1.1 Cơ sở lý luận của nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân 7
1.1.1 Khái niệm nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân 7
1.1.2 Đặc điểm các nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân 8
1.1.3 Ý nghĩa các nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân 12
1.2 Kinh nghiệm lập hiến quốc tế đối với nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân 13
1.2.1 Kinh nghiệm lập hiến của một số quốc gia Đông Nam Á 13
1.2.2 Kinh nghiệm lập hiến của một số quốc gia khác 16
1.2.3 Nhận xét 22
1.3 Lược sử lập hiến Việt Nam đối với các nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân 24
1.3.1 Hiến pháp năm 1946 24
1.3.2 Hiến pháp năm 1959 26
1.3.3 Hiến pháp năm 1980 27
1.3.4 Hiến pháp năm 1992 29
1.3.5 Nhận xét 34
Kết luận Chương 1 35
CHƯƠNG 2: CÁC NGUYÊN TẮC VỀ QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN THEO HIẾN PHÁP NĂM 2013 VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ LIÊN QUAN 36
Trang 52.1.2 Trách nhiệm hiến định của Nhà nước đối với giá trị quyền con người,
quyền công dân 38
2.2 Nguyên tắc về tiêu chí giới hạn quyền con người, quyền công dân 41
2.2.1 Lý luận về việc giới hạn quyền con người, quyền công dân 41
2.2.2 Điều kiện hạn chế quyền con người, quyền công dân 42
2.2.3 Phân biệt giữa giới hạn quyền với hạn chế việc thực hiện quyền 43
2.3 Nguyên tắc thống nhất giữa quyền công dân với nghĩa vụ công dân 45
2.3.1 Bình đẳng - nền tảng của mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân 45
2.3.2 Tính tương thích giữa việc thực hiện quyền công dân với nghĩa vụ công dân 46
2.3.3 Mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân với lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác khi thực hiện quyền con người, quyền công dân 47
2.4 Nguyên tắc mọi người bình đẳng trước pháp luật 48
2.4.1 Bình đẳng trước pháp luật là quyền cơ bản hay nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người? 48
2.4.2 Lý luận về bình đẳng và bình đẳng trước pháp luật 50
2.4.3 Trách nhiệm hiến định của Nhà nước 51
2.5 Một số tình huống liên quan các nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân 52
2.5.1 Trách nhiệm luật hóa quyền cơ bản nhìn từ việc xây dựng Luật Biểu tình 52
2.5.2 Nguyên tắc về tiêu chí giới hạn quyền con người, quyền công dân nhìn từ việc xây dựng Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư năm 2014 57
2.5.3 Tổ chức thực hiện quyền cơ bản nhìn từ Nghị quyết của Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng 61
2.6 Một số kiến nghị liên quan 66
2.6.1 Kiến nghị về việc giải thích các nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân 66
2.6.2 Kiến nghị về việc thực hiện các nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân 68
2.6.3 Kiến nghị về việc thành lập cơ quan bảo vệ Hiến pháp chuyên trách 69
Trang 6KẾT LUẬN 75 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền, mối quan hệ giữa Nhà nước với cá nhân, công dân hay địa vị pháp lý của cá nhân, công dân luôn được xem là mối quan tâm hàng đầu Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng khẳng định đường lối
phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa của nước ta như sau: “Tiếp tục xây dựng và
hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc
về nhân dân; mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân; cán bộ, công chức phải hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân Nâng cao
ý thức về quyền và nghĩa vụ công dân, năng lực làm chủ, tham gia quản lý xã hội của nhân dân Quan tâm hơn nữa việc chăm lo hạnh phúc và sự phát triển tự do, toàn diện của con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, tôn trọng
và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam ký kết” Xét
dưới góc độ hệ thống, việc xác lập quy chế pháp lý của cá nhân phải dựa trên nhiều
cơ sở mà đặc biệt là các nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa
vụ cơ bản của công dân Điều này càng trở nên cấp thiết trong bối cảnh Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sau đây xin gọi tắt là Hiến pháp năm 2013) đã được Quốc hội khóa XIII thông qua vào ngày 28/11/2013 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2014 Liên quan đến các nguyên tắc hiến định này, chúng tôi nhận thấy một số vấn đề đáng chú ý sau đây:
Một là, về khoa học luật Hiến pháp: Nguyên tắc pháp luật nói chung, nguyên
tắc Hiến pháp nói riêng luôn là đối tượng nghiên cứu tiên quyết của mọi lĩnh vực khoa học pháp lý nói chung, khoa học luật Hiến pháp nói riêng Chế định quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là một chế định cốt lõi của luật Hiến pháp Chế định này cũng được đặt nền móng từ những nguyên tắc Hiến pháp
Hai là, về việc giảng dạy luật Hiến pháp: Nội dung của các tài liệu giảng
dạy, tham khảo về luật Hiến pháp của các cơ sở đạo tạo pháp luật ở Việt Nam hiện chưa thống nhất trong nhận thức về các nguyên tắc này
Ba là, về thực tiễn xây dựng và thực hiện pháp luật: Trong xã hội nói chung
và trên các diễn đàn pháp lý nói riêng, những tranh luận về việc thể chế hóa pháp
Trang 8luật và thực hiện Hiến pháp (đặc biệt là Hiến pháp năm 2013) liên quan đến quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đã và đang xuất hiện Những tranh luận này dù xuất phát từ góc độ nào cũng dựa trên nền tảng của việc nhận thức hết sức đa dạng về các nguyên tắc Hiến pháp
Bốn là, về thực tiễn nghiên cứu vấn đề: Chúng tôi chưa tìm thấy công trình
nghiên cứu chuyên biệt và toàn diện nào về các nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân với các phương diện: lý luận, kinh nghiệm lập hiến quốc tế, lược sử lập hiến Việt Nam, thực tiễn thể chế hóa các nguyên tắc thông qua phân tích tình huống; đặc biệt là liên quan đến nội dung hiến định và vấn đề triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013
Do vậy, việc Tác giả chọn đề tài “Nguyên tắc Hiến pháp về quyền con
người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” để thực hiện Luận văn Thạc sỹ
Luật học là việc làm có ý nghĩa khoa học xác đáng
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tác giả xin liệt kê một số công trình đã công bố có liên quan đề tài như sau:
Sách Bình luận khoa học Hiến pháp 1992 – Nxb Sự thật – 1992 của nhóm
tác giả Phùng Văn Tửu – Nguyễn Niên – Nguyễn Văn Thảo – Đoàn Trọng Truyến Các tác giả đưa ra những bình luận chung về chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp năm 1992
Sách chuyên khảo Quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp Việt
Nam – Nxb Khoa học xã hội – 2005 của PGS.TS Nguyễn Văn Động Tác giả đã
phân tích các nguyên tắc xác lập quyền hiến định của công dân theo Hiến pháp năm
1992
Bài viết Bàn về hình thức văn bản và thẩm quyền quy định về quyền và nghĩa
vụ của công dân – Tạp chí Khoa học Pháp lý - số 5/2007 của tác giả Vũ Văn
Nhiêm Bài viết này đặt vấn đề về sự cần thiết phải xác định thống nhất hình thức văn bản và thẩm quyền quy định về điạ vị của công dân nhằm thực hiện nguyên tắc
“Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định” theo điều 51
Hiến pháp năm 1992
Bài viết Một số định hướng và phương pháp ghi nhận quyền cơ bản của
công dân, quyền con người trong Hiến pháp sửa đổi trích trong sách Hiến pháp: những vấn đề lý luận và thực tiễn – Nxb Đại học quốc gia Hà Nội - 2011 của
PGS.TS Nguyễn Như Phát Tác giả đề xuất một số kiến giải lập hiến về việc ghi
Trang 9nhận quyền con người, quyền công dân nhằm tăng cường bảo đảm hiến định đối với các quyền cơ bản của cá nhân
Sách chuyên khảo Quy chế pháp lý của công dân Việt Nam - Nxb Chính trị
quốc gia – 2010 do PGS.TS Nguyễn Minh Đoan chủ biên Các tác giả đã phân tích khái niệm, đặc điểm và nội dung của các nguyên tắc trong quy chế pháp lý của công dân
Sách chuyên khảo Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam – Nxb Chính trị quốc gia – 2011 của GS.TS Trần
Ngọc Đường Tác giả trình bày toàn diện và phân tích sự phát triển của quyền con người, quyền công dân qua các bản Hiến pháp Việt Nam năm 1946, 1959, 1980 và
1992
Bài viết Các nguyên tắc của chế định quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ
bản của công dân trong Hiến pháp sửa đổi của PGS.TS Phạm Hữu
Nghị (http://vnclp.gov.vn/ct/cms/nghiencuuchuyende/Lists/nghiencuuphapluat/Vie
w_detail.aspx?ItemID=111 truy cập ngày 02/08/2012) Tác giả phân tích một cách
khái quát và đánh giá các nguyên tắc chung về quyền con người, quyền và nghĩa vụ
cơ bản của công dân được thể hiện trong Hiến pháp năm 1992 Đồng thời, tác giả đưa ra một số kiến nghị về việc thể hiện các nguyên tắc cơ bản của chế định quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp sửa đổi
Sách chuyên khảo Một số vấn đề cơ bản của Hiến pháp các nước trên thế
giới - Nxb Chính trị quốc gia – 2012 của Ban biên tập Dự thảo sửa đổi Hiến pháp
1992 Chương III – Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân do
TS Vũ Công Giao viết Nội dung chương này đề cập đến kinh nghiệm lập hiến quốc tế về nghĩa vụ bảo đảm quyền con người của Nhà nước; việc quy định giới hạn quyền và việc tạm đình chỉ thực hiện quyền; về hiệu lực áp dụng trực tiếp và những biện pháp khắc phục khi quyền bị vi phạm
Sách Chế định Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân ở một số nước trên
thế giới - Nxb Khoa học xã hội – 2012 của tác giả Vũ Kiều Oanh Tác giả đã phân
tích kinh nghiệm lập hiến quốc tế đối với các nguyên tắc Hiến pháp về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; đồng thời, có liên hệ với Hiến pháp năm 1992
Báo cáo Đề tài khoa học cấp Trường “Nguyên tắc quyền và nghĩa vụ của
công dân do Hiến pháp và luật quy định – Lý luận và thực tiễn” của nhóm tác giả
Lưu Đức Quang (chủ nhiệm), Nguyễn Mạnh Hùng, Nguyễn Thanh Minh - Trường
Đại học Luật Tp HCM - 2012 và bài viết Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến
Trang 10pháp và luật quy định – nhận diện từ lý luận và tình huống - Tạp chí Nghiên cứu lập
pháp - số 14 (246)/2013 của Tác giả Luận văn Hai công trình này nghiên cứu Hiến pháp năm 1992 và các văn bản pháp luật có liên quan đến việc thể chế hóa quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; giới thiệu kinh nghiệm quốc tế cũng như phân tích một số tình huống có liên quan đến việc hiện thực hóa nguyên tắc hiến định này trong đời sống
Bài viết Nguyên tắc về giới hạn quyền con người, quyền công dân trong Hiến
pháp năm 2013 trích trong sách Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 – Viện Chính sách công và Pháp luật thuộc Liên
hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam – NXB Lao động - Xã hội – 2014 của
TS Vũ Công Giao và ThS Lê Thị Thúy Hương Các tác giả đã phân tích nguyên tắc giới hạn quyền theo Luật nhân quyền quốc tế và Hiến pháp năm 2013; đồng thời nêu ra những gợi ý với việc bảo đảm thực thi nguyên tắc này
Bài viết Nguyên tắc cơ bản và công thức hiến định của mối quan hệ giữa
Nhà nước và cá nhân trong Hiến pháp năm 2013 - Tạp chí Nghiên cứu lập pháp -
số 05 (285)/2015 của GS.TS Hoàng Thị Kim Quế Tác giả phân tích ý nghĩa, nội dung và công thức hiến định của các nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo Hiến pháp năm 2013
Bài viết Hiến pháp hóa nguyên tắc giới hạn quyền con người: Cần nhưng
chưa đủ - Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - số 06 (286)/2015 của ThS Bùi Tiến Đạt
Tác giả phân tích nguyên tắc giới hạn quyền con người theo luật nhân quyền quốc
tế, kinh nghiệm từ một số quốc gia, đề xuất áp dụng phương pháp phân tích cân xứng nhằm bảo đảm tính hợp hiến trong việc giới hạn các quyền con người trong quá trình thực hiện Hiến pháp năm 2013
Bài viết Nhận diện các nguyên tắc về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ
bản của công dân trong Hiến pháp năm 2013 – Kỷ yếu Hội thảo Triển khai thi hành
chế định “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” trong Hiến
pháp năm 2013 – Khoa Luật hành chính, Trường Đại học Luật Tp HCM tổ chức – ngày 28/8/2015 của Tác giả Luận văn Bài viết phân tích và bình luận các nguyên tắc về quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân trong Hiến pháp năm 2013
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu khoa học pháp lý: Nhận diện chính xác và toàn diện dưới góc độ
lý luận và pháp lý các nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ
cơ bản của công dân
Trang 11Nghiên cứu ứng dụng: Tìm hiểu thực tiễn việc thể chế hóa pháp luật và thực
hiện các nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và đề xuất một số kiến nghị liên quan
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phạm vi nghiên cứu
Về mặt pháp lý, chúng tôi nghiên cứu Hiến pháp Việt Nam năm 1946, 1959,
1980, 1992, 2013 và các văn bản pháp luật khác có liên quan đến việc thể chế các nguyên tác hiến định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Đối với việc tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế, chúng tôi nghiên cứu Hiến pháp của quốc gia Đông Nam Á và một số quốc gia khác như Hoa Kỳ, Pháp, Nhật Bản, Đức, Liên bang Nga, Nam Phi, Ba Lan
Về mặt thực tiễn, chúng tôi chọn nghiên cứu một số tình huống pháp lý liên
quan đến việc thực hiện các nguyên tắc hiến định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân cũng như tổng hợp, phân tích và bình luận về tư liệu
từ thực tế cuộc sống xã hội Đặc biệt là thực tiễn thực hiện các nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong giai đoạn Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 (được nhận diện thông qua một số
tình huống điển hình); bao gồm: (1) Nguyên tắc công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo
đảm quyền con người, quyền công dân; (2) Nguyên tắc về tiêu chí giới hạn quyền con người, quyền công dân; (3) Nguyên tắc thống nhất giữa quyền công dân với nghĩa vụ công dân; (4) Nguyên tắc mọi người bình đẳng trước pháp luật
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: chủ nghĩa duy vật biện chứng
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp giải thích luật viết; phương pháp so sánh pháp luật (kinh nghiệm lập hiến quốc tế và Việt Nam, lược sử lập hiến Việt Nam); phương pháp phân tích tình huống pháp lý; phương pháp thống kê, đánh giá số liệu thực tế
5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Công trình này là chuyên khảo đầu tiên về các nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân ở cấp độ Luận văn Thạc
sỹ chuyên ngành Luật học Luận văn có giá trị tham khảo về luật Hiến pháp nói chung, chế định quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân nói riêng cũng như các chủ đề có liên quan như luật nhân quyền hay cơ chế bảo hiến dành cho các nhà nghiên cứu, sinh viên, học viên ngành luật ở các cơ sở đào tạo, bồi
Trang 12dưỡng về pháp luật Đồng thời, ở một mức độ nhất định, nó còn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu nội dung hiến định và triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 của các cán bộ, cơ quan nhà nước cũng như đối với các cá nhân, công dân
6 Bố cục luận văn
Luận văn Thạc sỹ “Nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân” bao gồm những nội dung cơ bản sau đây:
PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1 Cơ sở lý luận – Kinh nghiệm lập hiến quốc tế - Lược sử lập hiến Việt Nam đối với các nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
1.1 Cơ sở lý luận của nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ
cơ bản của công dân
1.2 Kinh nghiệm lập hiến quốc tế đối với nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
1.3 Lược sử lập hiến Việt Nam đối với nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
CHƯƠNG 2 Các nguyên tắc về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo Hiến pháp năm 2013 và một số kiến nghị liên quan
2.1 Nguyên tắc công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân
2.2 Nguyên tắc về tiêu chí giới hạn quyền con người, quyền công dân
2.3 Nguyên tắc thống nhất giữa quyền công dân với nghĩa vụ công dân
2.4 Nguyên tắc mọi người bình đẳng trước pháp luật
2.5 Một số tình huống liên quan các nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
2.6 Một số kiến nghị liên quan
KẾT LUẬN
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN – KINH NGHIỆM LẬP HIẾN QUỐC TẾ
- LƯỢC SỬ LẬP HIẾN VIỆT NAM ĐỐI VỚI CÁC NGUYÊN TẮC HIẾN PHÁP VỀ QUYỀN CON NGƯỜI,
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN
1.1 Cơ sở lý luận của nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
1.1.1 Khái niệm nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
Để làm rõ khái niệm nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, chúng ta cần làm rõ khái niệm nguyên tắc Thuật ngữ
“nguyên tắc” có nguồn gốc từ tiếng La tinh - “principium” có nghĩa là luận điểm
cơ bản, luận điểm gốc của học thuyết Theo Từ điển Tiếng Việt, nguyên tắc được
hiểu là “điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm”1
Theo Từ điển Thuật ngữ lý luận nhà nước và pháp luật, tác giả Thái Vĩnh
Thắng cho rằng: “Nguyên tắc pháp luật là những tư tưởng chỉ đạo, những định
hướng cơ bản trong việc xây dựng và thực hiện pháp luật Nguyên tắc pháp luật có thể chia thành nguyên tắc chung (nguyên tắc của toàn bộ hệ thống pháp luật), nguyên tắc của một nhóm các ngành luật và nguyên tắc của chế định pháp luật”2 Theo Từ điển Luật học, các tác giả phân chia nguyên tắc pháp luật thành hai loại: nguyên tắc chung mang tính chất chính trị - xã hội của pháp luật và nguyên tắc pháp
lí đặc thù “Nguyên tắc chung của pháp luật luôn phản ánh một cách trực tiếp chế
độ xã hội hiện hữu và được đặt ra nhằm xác định rõ những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo để giải đáp một vấn đề lớn là hệ thống pháp luật hiện hữu củng cố và bảo vệ chế độ nào Nguyên tắc pháp lí đặc thù thể hiện rõ bản chất và những đặc trưng của pháp luật nhằm giải đáp một vấn đề có tính đặc thù là hệ thống pháp luật sẽ củng cố và bảo vệ chế độ đó như thế nào”3 Như vậy, các nguyên tắc pháp luật có
Trang 14thể được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí; đồng thời, chúng được xem là nền tảng
và thể hiện bản chất của hệ thống pháp luật hoặc một bộ phận pháp luật nhất định
Với tính cách là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam,
luật Hiến pháp là một hệ thống bao gồm “các nguyên tắc, các chế định và các quy
phạm luật Hiến pháp”4 Với tính cách là đạo luật cơ bản của quốc gia, Hiến pháp có
một vị trí đặc biệt trong ngành luật chủ đạo này Hiến pháp quy định đối tượng điều chỉnh và phần lớn nguyên tắc của ngành luật này - chúng được định danh là các nguyên tắc Hiến pháp hay nguyên tắc hiến định Dựa trên các nguyên tắc này, luật Hiến pháp được xây dựng thành một hệ thống hoàn chỉnh; đồng thời, điều chỉnh hành vi cụ thể của các chủ thể khi tham gia quan hệ luật Hiến pháp Nhìn từ góc độ
hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, những nguyên tắc hiến định được xem là cơ
sở để xây dựng và hình thành các nguyên tắc pháp luật trong các văn bản quy phạm
nguyên tắc chung và nguyên tắc cụ thể Nguyên tắc chung đặt nền tảng cho toàn bộ ngành luật Hiến pháp Nguyên tắc cụ thể đặt nền tảng cho mỗi chế định của luật Hiến pháp; trong đó có chế định quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Những nguyên tắc này không xác định quyền và nghĩa vụ cụ thể cho chủ thể quan hệ luật Hiến pháp mà xác định những tư tưởng chính trị - pháp lý chủ đạo, làm cơ sở nền tảng cho việc xây dựng và thực hiện quy phạm luật Hiến pháp
Từ những dẫn giải trên, chúng ta có thể hiểu như sau: Nguyên tắc Hiến pháp
về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là những tư tưởng chính trị - pháp lý chủ đạo, đặt nền tảng cho việc xây dựng và thực hiện chế định quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và được quy định trong Hiến pháp
1.1.2 Đặc điểm các nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ
cơ bản của công dân
Việc xác định, phân tích các nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản công dân cũng như vận dụng chúng vào thực tiễn cuộc sống là khá khó khăn do tính chất trừu tượng, khái quát và đa chiều của chúng Chúng tôi tán thành quan điểm dung hòa giữa kỹ thuật lập hiến với nội dung hiến
Nguyễn Minh Đoan (chủ biên) (2006), Các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời kỳ đổi mới
và hội nhập quốc tế, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr 10
Trang 15định, sự tương thích giữa các điều khoản hiến định cũng như thực tiễn vận hành, tránh sự suy diễn võ đoán và khiên cưỡng trong quá trình phân tích các nguyên tắc này Theo người viết, nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ
cơ bản của công dân có một số đặc điểm sau đây:
Một là, về hình thức thể hiện: Các nguyên tắc này được quy định trong
Hiến pháp Đặc tính này phù hợp với tính chất “đạo luật về nhân quyền” của Hiến
pháp cũng như cấu trúc của chế định quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp Phân tích Chương II Hiến pháp năm 2013, chúng ta
có thể thấy cấu trúc như sau: Ba điều đầu tiên (14, 15, 16) quy định các nguyên tắc
về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Điều 17 xác định tư cách công dân Việt Nam và trách nhiệm bảo hộ công dân của Nhà nước Điều 18 ghi nhận vai trò của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và chính sách của Nhà nước đối với họ Các điều từ 19 đến 26 quy định các quyền cơ bản về dân sự Các điều từ 27 đến 30 quy định các quyền cơ bản về chính trị Điều 31 quy định các quyền cơ bản trong lĩnh vực tư pháp hình sự Các điều từ 32 đến 43 quy định các quyền cơ bản về kinh tế, văn hóa, xã hội Các điều từ 44 đến 47 quy định một số
Cấu trúc này cũng tương thích với cấu trúc của các bản Hiến pháp theo mô hình
tắc Hiến pháp dựa vào cách thức hiến định: (1) Nguyên tắc Hiến pháp phải được
được suy đoán qua việc tổng hợp, phân tích nhiều điều khoản trong mỗi Hiến pháp,
hiện theo một chuẩn mực chung thì quan điểm thứ nhất tỏ ra phù hợp và ngược lại Đối chiếu với lịch sử lập hiến Việt Nam (sẽ được Tác giả phân tích ở những phần
6
Xem thêm: Phạm Hữu Nghị, Những nội dung mới trong chương II Hiến pháp năm 2013 về quyền con
người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, trích trong sách Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp
(2014), Quyền con người trong Hiến pháp năm 2013 – Quan điểm mới, cách tiếp cận mới và các quy định
mới (Sách chuyên khảo), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 22-25
7
Xem chi tiết: Ban biên tập Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (2012), Một số vấn đề cơ bản của Hiến
pháp các nước trên thế giới (Sách chuyên khảo), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 103-104
8
Xem chi tiết: Trường Đại học Luật Hà Nội (2014), Tlđd, chú thích số 4, tr 255-260 và Phạm Hữu Nghị, Tlđd, chú thích số 6, tr 22
9
Xem chi tiết: Hoàng Thị Kim Quế (2015), “Nguyên tắc cơ bản và công thức hiến định của mối quan hệ giữa
Nhà nước và cá nhân trong Hiến pháp năm 2013”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 05 (285), tr 3-7
Trang 16sau), Hiến pháp năm 2013 tỏ ra phù hợp hơn cả với việc xác định các nguyên tắc này theo quan điểm thứ nhất
Hai là, về mặt nội dung: Các nguyên tắc này là những tư tưởng chính trị -
pháp lý, những quy định mang tính xuất phát điểm chi phối hành vi của Nhà nước
và các cá nhân trong hoạt động xây dựng và thực hiện chế định quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Chế định này có nội hàm hẹp hơn quy chế pháp lý của cá nhân Quy chế pháp lý của cá nhân bao gồm các yếu tố: quốc tịch; nguyên tắc của quy chế pháp lý; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của cá nhân; năng lực pháp luật và năng lực hành vi pháp luật của cá nhân; cơ chế đảm bảo cho các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của cá nhân10 Trong khi đó, chế định quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân bao gồm các yếu tố: các nguyên tắc Hiến pháp; nhóm quyền cơ bản về dân sự; nhóm quyền cơ bản về chính trị; nhóm quyền cơ bản về kinh tế, văn hóa, xã hội; nghĩa vụ cơ bản; cơ chế
tới các cơ quan nhà nước như sau: (1) Với tư cách là chủ thể tham gia thực hiện
quyền lập hiến, Quốc hội hiến định các quyền, nghĩa vụ cơ bản của cá nhân cũng như cơ chế đảm bảo cho các quyền, nghĩa vụ đó; (2) Với tư cách là chủ thể có quyền lập pháp, Quốc hội và các cơ quan nhà nước hữu quan quy định các quyền, nghĩa vụ của cá nhân cũng như cơ chế đảm bảo cho các quyền, nghĩa vụ của cá
có quyền hành pháp, Chính phủ và các cơ quan hành chính nhà nước có trách nhiệm
tổ chức thực hiện (đảm bảo hiện thực hóa) các quyền, nghĩa vụ của cá nhân thông qua hoạt động hoạch định và thực thi chính sách quốc gia về kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, thông tin, truyền thông, đối ngoại, quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội13; (4) Với tư cách là chủ
10
Xem thêm: Nguyễn Minh Đoan (chủ biên) (2010), Quy chế pháp lý của công dân Việt Nam (Sách chuyên
khảo), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 30-49 và Trường Đại học Luật Hà Nội (2014), Tlđd, chú thích số
Ví dụ: Quốc hội có thẩm quyền phê chuẩn, quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực của điều ước quốc tế
về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân (khoản 14 điều 70 Hiến pháp năm 2013)
13
Điều 21 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 xác định nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ trong bảo vệ
quyền và lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền con người, quyền công dân như sau: “1 Xây dựng và trình
Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước quyết định các biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền con người, quyền công dân 2 Quyết định những biện pháp cụ thể để bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền con người, quyền công dân 3 Tạo điều kiện cho công dân
sử dụng quyền và thực hiện nghĩa vụ theo quy định của Hiến pháp và pháp luật”
Trang 17thể có quyền tư pháp, Tòa án nhân dân có trách nhiệm bảo vệ quyền con người, quyền công dân; quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân bằng hoạt động xét
tới các cá nhân như sau: Các cá nhân khi hưởng quyền, gánh vác nghĩa vụ không
chỉ dựa vào nội dung các quyền, nghĩa vụ cụ thể mà còn cần thấm nhuần và vận dụng các nguyên tắc Hiến pháp để thể hiện một cách lành mạnh nhất tư cách pháp
lý của mình; chẳng hạn, việc hiểu rõ ý nghĩa của nguyên tắc về tiêu chí giới hạn quyền giúp mỗi cá nhân có ý thức cao hơn trong việc tôn trọng lợi ích cộng đồng đồng thời có thể đấu tranh hiệu quả đối với hành vi tùy tiện đặt ra những giới hạn quyền vi hiến hoặc trái luật của các cơ quan công quyền
Ba là, về mối quan hệ giữa các nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản công dân: Phân tích nội dung các nguyên tắc này, chúng
ta có thể phát hiện mối quan hệ hay tính thống nhất giữa chúng ở một số khía cạnh
Do vậy, trong quá trình xem xét hay áp dụng, chúng ta cần tránh việc tuyệt đối hóa một nguyên tắc nào đó Ví dụ: Quyền con người được hiểu là những quyền mà pháp luật cần phải thừa nhận đối với tất cả mọi người Hiến pháp tuyên bố nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người nghĩa là xác định những quyền tối thiểu mà các cá nhân phải có, những quyền mà Nhà nước không được xâm phạm cũng như trách nhiệm đảm bảo quyền từ phía Nhà nước Tuy nhiên, vì mỗi người luôn chung sống với người khác, không thể tách khỏi cộng đồng nên bên cạnh những quyền tuyệt đối trên, Hiến pháp phải đặt ra nguyên tắc giới hạn quyền, tạm đình chỉ việc thực hiện quyền theo hiến định và luật định Nguyên tắc tính thống nhất giữa quyền công dân với nghĩa vụ công dân đòi hỏi công dân bên cạnh việc hưởng quyền phải gánh vác nghĩa vụ cũng như thể hiện sự tôn trọng lợi ích người khác, lợi ích công cộng Cuối cùng, nguyên tắc mọi người bình đẳng trước pháp luật thể hiện ở sự công nhận giá trị ngang nhau của tất cả mọi người trong các lĩnh vực của đời sống
xã hội Bình đẳng phải được hiểu là bình đẳng cả về quyền lợi lẫn nghĩa vụ
14
Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định: “…2 Tòa án nhân danh nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật; xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình tố tụng; căn cứ vào kết quả tranh tụng ra bản
án, quyết định việc có tội hoặc không có tội, áp dụng hoặc không áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp, quyết định về quyền và nghĩa vụ về tài sản, quyền nhân thân… 5 Xử lý vi phạm hành chính; xem xét đề nghị của cơ quan quản lý nhà nước và quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính liên quan đến quyền con người, quyền cơ bản của công dân theo quy định của pháp luật…”
Trang 18Bốn là, về mối quan hệ giữa các nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản công dân với các nguyên tắc Hiến pháp khác:
Các nguyên tắc này với tư cách là nguyên tắc của một chế định của luật Hiến pháp
có thể đồng thời là nguyên tắc chung của luật Hiến pháp Ví dụ: nguyên tắc công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân vừa là nguyên
vừa là nguyên tắc của chế định quyền con người, quyền công dân được hiến định tại khoản 1 điều 14 Hiến pháp 201316 Bên cạnh việc hiến định các nguyên tắc này, chương về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản công dân còn hiến định nguyên tắc của ngành luật khác Ví dụ: nguyên tắc suy đoán vô tội tại khoản 1 điều
31 Hiến pháp 201317 là một nguyên tắc của luật tố tụng hình sự nước ta18
1.1.3 Ý nghĩa các nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
Về phương diện pháp lý, các nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân (quy phạm nguyên tắc) đặt nền tảng cho việc hình thành các quy phạm cụ thể khác của chế định quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân (quy phạm hành vi xác định quyền và nghĩa vụ cụ thể
góp phần tạo nên những bảo đảm chính trị - pháp lý cần thiết cho đối với giá trị
quyền con người, quyền công dân Hơn nữa, việc thực hiện pháp luật “không chỉ
liên quan đến các quy phạm pháp luật cụ thể hay các quyết định pháp luật cá biệt
mà còn liên quan đến thực hiện các nguyên tắc pháp luật, tinh thần pháp luật”20 Nền tảng mà chúng tạo ra không chỉ giúp cho hành xử của Nhà nước (thông qua việc thực thi quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp) lẫn cá nhân được thể hiện một
15
“Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm
quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.”
16
“Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự,
kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.”
17
“Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản
án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.”
18
Xem thêm: Nguyễn Thành Long (2011), Nguyên tắc suy đoán vô tội trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam
(Sách tham khảo), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 24
19
Viện Đại học Mở Hà Nội (2004), Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr 19
20
Hoàng Thị Kim Quế (2015), “Thực hiện pháp luật của cá nhân, công dân trong bối cảnh xây dựng Nhà
nước pháp quyền ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Luật học, số 2, tr 44-49
Trang 19cách lành mạnh mà còn thúc đẩy mạnh mẽ việc tạo dựng nền văn hóa nhân quyền trong một xã hội pháp quyền Jose Ayala Lasso – Cao ủy đầu tiên của Liên hợp
quốc về quyền con người cho rằng: “Trong nền văn hóa nhân quyền, các quyền con
người không chỉ được nhìn nhận như là công việc “của người nào khác” mà chính
là nghĩa vụ và trách nhiệm của tất cả mọi người”21
1.2 Kinh nghiệm lập hiến quốc tế đối với nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
1.2.1 Kinh nghiệm lập hiến của một số quốc gia Đông Nam Á22
Xét về mặt nội dung, hầu hết các bản Hiến pháp các quốc gia Đông Nam Á
ghi nhận nguyên tắc (đồng thời là quyền) bình đẳng trước pháp luật; “tuy nhiên, nội
hàm và mức độ thể hiện ở từng bản Hiến pháp không giống nhau” Về mặt chủ thể
quyền, Hiến pháp Indonesia, Malaysia23, Singapore và Philippines trao quyền cho
còn nhấn mạnh những ngoại lệ đối với việc các cá nhân bị phân biệt đối xử phải dựa trên căn cứ hiến định Hiến pháp Thái Lan, Lào25, Campuchia, Myanmar chỉ trao quyền cho công dân của mình Về mặt nội hàm, nếu các Hiến pháp chỉ ghi nhận nguyên tắc này một cách khái quát thì Hiến pháp Thái Lan quy định khá chi tiết tại điều 30 Theo đó, mọi người dân Thái đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ như nhau Hiến pháp nghiêm cấm phân biệt đối xử một cách không chính đáng đối với cá nhân dựa trên sự khác biệt về nguồn gốc, chủng tộc, ngôn ngữ, giới tính, tuổi tác, khuyết tật, điều kiện thể chất hay sức khoẻ, tình trạng hôn nhân, điều kiện kinh tế, xã hội, tín ngưỡng tôn giáo, giáo dục hay quan điểm chính trị Nhà nước có thể quyết định các biện pháp ưu tiên một đối tượng nào đó để xoá
bỏ các cản trở hoặc để thúc đẩy khả năng thực hiện quyền cơ bản của họ theo một cách thức giống với những người khác mà không bị coi là sự phân biệt đối xử không chính đáng
21
Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội (2009), Giáo trình Lý luận và pháp luật về Quyền con người, NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 24
22
Tham khảo: Tô Văn Hòa (2012), Nghiên cứu so sánh Hiến pháp các quốc gia ASEAN (Sách chuyên khảo),
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 144-148
23
Khoản 8 điều 1 quy định: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ như nhau”
24
Khoản 2 điều 12 quy định: “Trừ trường hợp Hiến pháp này có quy định rõ ràng, sẽ không có sự phân biệt
đối với công dân Singapore chỉ vì lý do tôn giáo, chủng tộc, nguồn gốc hoặc nơi sinh trong bất kỳ đạo luật nào, khi bổ nhiệm bất kỳ chức vụ nào, khi tuyển dụng làm việc trong cơ quan công quyền hoặc khi thực thi bất kỳ đạo luật nào liên quan đến việc thủ đắc, chiếm hữu hoặc định đoạt tài sản hay thành lập hoặc thực hiện bất kỳ việc kinh doanh, thương mại, nghề nghiệp, năng khiếu hay việc làm nào đó”
25
Điều 35 quy định: “Công dân Lào không phân biệt nam nữ, địa vị xã hội, trình độ văn hóa, tín ngưỡng và
dân tộc đều bình đẳng trước pháp luật”
Trang 20Nếu chỉ xét về mặt câu chữ, Hiến pháp Campuchia và Indonesia26 minh định nguyên tắc tôn trọng quyền con người Tuy nhiên, với việc hiến định hệ thống các quyền cơ bản trên các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, theo chúng tôi, nguyên tắc tôn trọng quyền con người vẫn hiện diện một cách thực chất trong Hiến pháp các nước Đông Nam Á (trừ Hiến pháp Brunei)
Đối với nguyên tắc giới hạn quyền, Hiến pháp Indonesia quy định chung tại
sống, không bị tra tấn, tự do về tư tưởng và nhận thức, tự do tôn giáo, không bị bắt làm nô lệ, được đối xử như một cá nhân trước pháp luật và quyền không bị truy tố trên cơ sở của luật có hiệu lực hồi tố (khoản 1 điều 28I) Hiến pháp Thái Lan vừa đặt ra nguyên tắc chung của việc hạn chế các quyền và tự do hiến định trong các
này đối với một số quyền cụ thể như quyền tự do hội họp trong hòa bình và phi vũ
tự do đưa tin và thể hiện quan điểm của nhà báo, Hiến pháp cũng nêu rõ là việc giới hạn chỉ mang tính hiến định mà không thuộc phạm vi luật định30 Hiến pháp
26
Điều 28I quy định: “…4 Bảo vệ, thúc đẩy, duy trì và thực hiện quyền con người là trách nhiệm của nhà
nước mà trước hết là của chính quyền 5 Duy trì và bảo vệ quyền con người phù hợp với những nguyên tắc của Nhà nước dân chủ và pháp quyền, thực hiện các quyền con người căn bản được đảm bảo, điều chỉnh và ghi nhận trong các đạo luật và các quy định khác”
27
“Khi thực hiện các quyền và tự do của mình, mỗi người đều có nghĩa vụ chấp nhận những hạn chế do luật
định với mục đích duy nhất là để đảm bảo việc công nhận và tôn trọng quyền và tự do của người khác và để đáp ứng những yêu cầu hợp lý của xã hội dân chủ trên cơ sở có tính đến giá trị đạo đức, tôn giáo, an ninh và trật tự công cộng.”
28
Điều 29 quy định: “Sự hạn chế các quyền và tự do được công nhận bởi Hiến pháp không thể được áp đặt
đối với một cá nhân trừ khi nó được thực hiện bởi các điều khoản của đạo luật được ban hành riêng biệt và
để phục vụ mục đích được quy định bởi Hiến pháp này và chỉ được thực hiện trong phạm vi cần thiết và với điều kiện rằng sự hạn chế đó không được ảnh hưởng tới những nội dung cơ bản của quyền hay tự do đó Các đạo luật này phải được áp dụng chung và không được nhắm tới áp dụng cho bất cứ trường hợp hay cá nhân
cụ thể nào; với điều kiện là điều khoản của Hiến pháp cho phép việc ban hành đó phải được viện dẫn trong đạo luật Quy định trên cũng được áp dụng đối với văn bản dưới luật được ban hành theo các quy định trong luật”
29
Điều 63 quy định: “Sự hạn chế của quyền tự do này không được đặt ra trừ khi có đạo luật được ban hành
đặc biệt đối với trường hợp hội họp công cộng và đối với việc bảo đảm sự thuận lợi của công chúng trong việc sử dụng các địa điểm công cộng hay để duy trì trật tự công cộng trong thời gian đất nước đang trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp hoặc khi luật thời chiến được công bố”
30
Điều 46 quy định: “Những nhân viên chính thức hay người làm thuê của các tòa báo, đài phát thanh, đài
truyền hình tư nhân hoặc doanh nghiệp truyền thông đại chúng khác được hưởng các quyền tự do đưa tin và thể hiện quan điểm của họ theo những giới hạn hiến định mà không cần sự giao quyền của bất kỳ cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước hoặc chủ sở hữu các doanh nghiệp này miễn là điều đó không đi ngược lại đạo đức nghề nghiệp và họ có quyền thành lập các tổ chức bảo vệ quyền, tự do, sự công bằng và hình thành các thiết chế tự quản trong nội bộ cơ quan”
Trang 21Singapore xác định một số giới hạn luật định về quyền cơ bản31 và trách nhiệm của
Ngoài ra, Hiến pháp các nước còn đề cập một số nguyên tắc khác như: Nguyên tắc hiệu lực trực tiếp của Hiến pháp đối với việc thực thi các quyền và tự
do được thể hiện thông qua quyền khởi kiện của cá nhân trước Tòa án nhằm buộc Nhà nước tuân thủ các quyền cơ bản tại điều 28 Hiến pháp Thái Lan Nguyên tắc mỗi người đều có nghĩa vụ tôn trọng các quyền con người căn bản của những người khác tại khoản 1 điều 28J Hiến pháp Indonesia
Xét về kỹ thuật lập hiến, các bản Hiến pháp Thái Lan33, Indonesia, Singapore, Philippines đều có phần Điều khoản chuyển tiếp Đây có thể được xem
là một biện pháp (nguyên tắc) đảm bảo thực thi quyền con người, quyền công dân một khi có sự sửa đổi, bổ sung Hiến pháp Nó cũng góp phần thiết thực nhằm duy
trì hiệu lực tối cao của Hiến pháp trong thời kỳ quá độ: “cần phải có thời gian để
các quan hệ xã hội vận động theo các quy định mới” nên cần “quy định quá trình thích ứng với các quy định mới đó”34 Đối chiếu với việc Quốc hội Việt Nam
thường ban hành các Nghị quyết về việc thi hành Hiến pháp, phương án lập hiến này tỏ rõ sự ưu việt cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn và rất đáng để chúng ta học tập
31
Điều 9 - Quyền tự do cá nhân - khẳng định: “Không ai bị tước đoạt tính mạng hoặc sự tự do cá nhân trừ
trường hợp theo luật định”
32
Điều 14 - Tự do ngôn luận, hội họp và lập hội:
“1 Theo các khoản (2) và (3): (a) mỗi công dân Singapore có quyền tự do phát ngôn và thể hiện ý kiến; (b) tất cả công dân Singapore đều có quyền hội họp một cách hoà bình và không có vũ khí;(c) tất cả công dân Singapore đều có quyền thành lập các hội
2 Nghị viện có thể ban hành luật quy định: (a) những hạn chế đối với các quyền được qui định tại khoản (1) (a) khi thấy cần thiết hoặc để phù hợp với lợi ích an ninh của Singapore hoặc của bất kỳ phần nào trong đó, phù hợp với các mối quan hệ hữu nghị với các nước khác, trật tự công cộng hoặc đạo đức và những hạn chế
để bảo vệ các đặc quyền của Nghị viện hoặc để chống lại sự coi thường toà án, phỉ báng hay xúi giục bất kỳ hành vi phạm tội nào; (b) những hạn chế đối với quyền được qui định tại khoản (1) (b) khi thấy cần thiết hoặc để phù hợp với lợi ích an ninh của Singapore hoặc của bất kỳ phần nào trong đó hoặc trật tự công cộng; và (c) những hạn chế đối với quyền được quy định tại khoản (1) (c) khi thấy cần thiết hoặc để phù hợp với lợi ích an ninh của Singapore hoặc bất kỳ phần nào trong đó, trật tự công cộng hoặc đạo đức
(3) Những hạn chế về quyền lập hội đã được quy định tại khoản (1) (c) cũng có thể được các đạo luật liên quan đến lao động hay giáo dục quy định.”
33
Hiến pháp Thái Lan năm 2007 dành một điều trong phần cuối – “Các điều khoản chuyển tiếp” để xác định trách nhiệm của Chính phủ mới trong việc tham gia quá trình “luật hóa” các quyền và tự do hiến định Điều
303 quy định: “Trong vòng 1 năm kể từ ngày Chính phủ mới tuyên bố chính sách trước Quốc hội, Chính phủ
có trách nhiệm hoàn tất việc chuẩn bị hoặc sửa đổi các luật quy định chi tiết về vấn đề thúc đẩy và bảo vệ các quyền và tự do trong lĩnh vực thi hành công lý; quyền được bảo đảm phúc lợi và an toàn tại công sở; các quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí; các quyền và tự do trong giáo dục; các quyền được hưởng dịch vụ chăm sóc y tế và phúc lợi từ Nhà nước; các quyền liên quan đến thông tin, khiếu nại và luật về thông tin cá nhân; các quyền của cộng đồng, luật về thành lập tổ chức độc lập nhằm bảo vệ người tiêu dùng”
34
Tô Văn Hòa (2012), Tlđd, chú thích số 22, tr 398
Trang 221.2.2 Kinh nghiệm lập hiến của một số quốc gia khác35
1.2.2.1 Hợp chúng quốc Hoa Kỳ
Tuyên ngôn Nhân quyền (The Bill of Rights) chính là 10 Điều bổ sung (còn gọi là Tu chính án) đầu tiên của Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787 Theo đó, Hiến pháp không chỉ xác định cụ thể các quyền tự do cơ bản của mỗi người dân mà còn đặt ra các nguyên tắc pháp lý hết sức tiến bộ về việc bảo đảm đối với các quyền tự do
Tu chính án thứ chín bảo đảm rằng các quyền của người dân không bị giới hạn bởi tám tu chính án trước đó với vai trò liệt kê các quyền cơ bản bao gồm: quyền tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp và quyền kiến nghị chính quyền sửa chữa sai lầm; quyền mang vũ khí; quân đội không được đóng tại nhà dân khi không được phép của chủ sở hữu; không cho phép khám xét, bắt giữ
và tịch thu tài sản vô căn cứ; quyền không bị tước đoạt sinh mạng, tự do và tài sản
mà không thông qua thủ tục pháp lý thích hợp bao gồm việc bị kết án hai lần, việc
bị ép buộc làm chứng chống lại bản thân và việc chính phủ trưng dụng tài sản mà không bồi thường thích đáng; quyền được xét xử nhanh chóng, công khai đối với các vi phạm hình sự bởi một bồi thẩm đoàn công bằng; việc xét xử được thực hiện bởi bồi thẩm đoàn trong các vụ kiện dân sự có liên quan đến thông luật và việc cấm
áp dụng những khoản tiền bảo lãnh quá cao, hình phạt tàn bạo hoặc bất bình thường Điều này khẳng định giá trị của các quyền tự do hiến định rằng: việc liệt kê một số quyền trong Hiến pháp không có nghĩa là phủ nhận hay hạ thấp những quyền khác của con người
Tu chính án thứ mười xác định phạm vi quyền lực giữa các cấp chính quyền
và người dân rằng: những quyền lực mà Hiến pháp không trao cho chính quyền liên bang và không bị ngăn cấm đối với các bang thì thuộc về các bang cụ thể hoặc người dân
Tu chính án thứ mười bốn chỉ rõ trách nhiệm của chính quyền tiểu bang
trong việc bảo vệ quyền công dân rằng: không một bang nào được ban hành hoặc thực thi bất cứ đạo luật nào nhằm hạn chế quyền ưu tiên hoặc quyền bất khả xâm phạm của công dân Hoa Kỳ cũng như không một bang nào có thể tước đoạt tính mạng, tự do hay tài sản của một cá nhân mà không tuân theo thủ tục pháp lý thích
đáng (“due process of law”) hoặc phủ nhận quyền của các cá nhân được bảo vệ
35
Tham khảo: Lưu Đức Quang (chủ nhiệm) – Nguyễn Mạnh Hùng – Nguyễn Thanh Minh (2012), Báo cáo
Đề tài khoa học cấp Trường “Nguyên tắc quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định –
Lý luận và thực tiễn”, Trường Đại học Luật Tp HCM, mục 1.2
Trang 23bình đẳng trước pháp luật Trách nhiệm của nhà nước là ghi nhận kịp thời và đầy đủ
về mặt pháp lý cũng như không thể tùy tiện cắt xén quyền tự nhiên36
Đồng thời, Hiến pháp cũng đặt ra hạn chế đối với quyền lập pháp của Quốc
hội trong việc quy định quyền công dân Ví dụ:“Quốc hội sẽ không ban hành một
đạo luật nào nhằm thiết lập tôn giáo hoặc ngăn cấm tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, báo chí và quyền của dân chúng được hội họp và kiến nghị Chính phủ sửa chữa những điều gây bất bình” (Tu chính án thứ nhất)
1.2.2.2 Cộng hòa Pháp
Khác với nhiều Hiến pháp trên thế giới, Hiến pháp năm 1958 không có phần riêng về địa vị hiến định của con người và công dân mà nội dung này chỉ được quy định tại Lời nói đầu, trong đó, viện dẫn Tuyên ngôn về quyền con người, quyền công dân năm 1789 và Lời nói đầu Hiến pháp năm 194637 và một vài điều khoản riêng lẻ như: nguyên tắc công dân bình đẳng trước pháp luật không phụ thuộc vào hoàn cảnh xuất thân, chủng tộc hay tôn giáo (điều 2); chủ quyền nhân dân và quyền bầu cử (điều 3); tính đa nguyên của các đảng chính trị và sự tôn trọng các nguyên tắc dân chủ (điều 4); thẩm quyền của Nghị viện ban hành các đạo luật về quyền và
tự do của công dân (điều 34); quyền tự quyết của các dân tộc (điều 53); tính độc lập của cơ quan tư pháp (điều 64); vai trò của cơ quan tư pháp trong việc bảo vệ tự do
cá nhân (điều 66)…
Tuyên ngôn về quyền con người, quyền công dân năm 1789 đã xác lập những nguyên tắc mang tính phổ quát về quyền con người như nguyên tắc bình
đẳng: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự
do và bình đẳng về quyền lợi” (điều 1); nguyên tắc tự do: “Tự do là có thể làm bất
cứ điều gì không gây hại cho người khác, vì vậy việc thực hiện các quyền tự nhiên của mỗi người là không giới hạn, trừ trường hợp phải đảm bảo cho các thành viên khác của xã hội được hưởng các quyền đó” (điều 4); nguyên tắc thực thi pháp luật:
“Bất cứ hành vi nào không bị pháp luật cấm thì cũng không được phép ngăn cản và không ai bị bắt buộc phải làm điều mà pháp luật không yêu cầu” (điều 5) Lời nói
36
Tu chính án thứ 15 - Quyền bỏ phiếu của người Mỹ gốc Phi - quy định: “1 Quyền bầu cử của các công
dân Hoa Kỳ sẽ không bị phủ nhận hoặc hạn chế, dựa vào lý do chủng tộc, màu da hay tình trạng nô lệ trước đây 2 Quốc hội sẽ có quyền triển khai điều khoản này bằng luật lệ thích hợp”
37
Trong một số phán quyết của mình, Hội đồng Hiến pháp Pháp đã xác định hai văn kiện này cũng như các nguyên tắc cơ bản khác được các đạo luật của Nhà nước thừa nhận là những bộ phận của Hiến pháp
Trang 24đầu Hiến pháp năm 1946 quy định các quyền công dân về kinh tế, xã hội và văn hóa38
1.2.2.3 Nhật Bản
Hiến pháp Nhật Bản năm 1946 ghi nhận một số nguyên tắc sau đây:
Tôn trọng quyền cơ bản: Hiến pháp khẳng định quyền cơ bản là vĩnh viễn,
bất khả xâm phạm dành cho công dân Nhật Bản không chỉ ở thế hệ này mà còn ở các thế hệ tương lai (điều 11)
Việc thực hiện quyền cá nhân phải phù hợp với sự thịnh vượng chung của đất nước, không được lạm dụng vì mục đích riêng (điều 12)
Bình đẳng trước pháp luật: Hiến pháp chống lại sự phân biệt đối xử về
chủng tộc, tín ngưỡng, giới tính, tình trạng xã hội hay lý lịch cá nhân trong tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội Đặc biệt, Nhà nước không công nhận giải thưởng nào có giá trị quá cuộc đời của mỗi cá nhân (điều 14)
1.2.2.4 Cộng hòa Liên bang Đức
tắc sau đây:
Tôn trọng phẩm giá con người: Điều 79 khoản 3 Luật cơ bản đã chỉ rõ các
giá trị nhân phẩm, quyền cơ bản (điều 1) và các nguyên tắc nhà nước cộng hòa dân chủ pháp quyền liên bang (điều 20) là không thể thay đổi Đây chính là nền tảng về
dân chủ, pháp quyền của nhà nước Đức Khoản 1 điều 1 khẳng định: “Phẩm giá
của con người là bất khả xâm phạm Tôn trọng và bảo vệ nó là nhiệm vụ của tất cả các cơ quan nhà nước”
Hiệu lực trực tiếp của các quyền cơ bản: Khoản 3 điều 1 nêu rõ: “Các quyền hạn cơ bản dưới đây ràng buộc các nhánh quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp với tính chất là quyền có hiệu lực trực tiếp” Điều 19 khoản 4 quy định: “Nếu bất
cứ ai bị các cơ quan công quyền xâm hại các quyền cơ bản đã được nêu trong Luật
cơ bản, đều có quyền khởi kiện trực tiếp” Theo TS Nguyễn Minh Tuấn: “Sức mạnh thi hành của Luật cơ bản chỉ thực sự đi vào cuộc sống sau khi Luật tòa án Hiến pháp năm 1951 và quy định bổ sung chế định khiếu kiện Hiến pháp của công dân tại Điều 93 khoản 1 số 4a Luật cơ bản năm 1969 có hiệu lực Từ đó đến nay,
38
Xem thêm: Nguyễn Mạnh Hùng – Lưu Đức Quang – Nguyễn Văn Trí (2014), Xây dựng và bảo vệ Hiến
pháp – Kinh nghiệm thế giới và Việt Nam (Sách chuyên khảo) (tái bản, chỉnh lý, có bổ sung), NXB Hồng
Đức, Hà Nội, tr 118
39
Người Đức gọi Hiến pháp là Luật cơ bản
Trang 25từng quyền cơ bản của công dân được bảo vệ, được giải thích và làm sáng tỏ trong các phán quyết có hiệu lực pháp luật của Tòa án Hiến pháp liên bang”40
Một số quyền cơ bản là tuyệt đối mà không thể bị hạn chế bởi các văn bản
pháp luật khác; ví dụ: điều 8 – Quyền tự do biểu tình – quy định: “(1) Mọi công dân
Đức đều có quyền biểu tình một cách hoà bình và không sử dụng vũ khí mà không phụ thuộc vào việc cấp phép của nhà nước (2) Trong trường hợp biểu tình ngoài trời thì quyền này có thể bị giới hạn bởi đạo luật cụ thể hoặc trên căn cứ của một đạo luật”
Những giới hạn (nếu có) về quyền hiến định phải do luật đặt ra (có thể dựa
vào một đạo luật riêng hoặc trên cơ sở một đạo luật) nhưng đều phải dựa vào các nguyên tắc hiến định áp dụng đối với từng quyền đó Thậm chí, Hiến pháp Đức còn nhấn mạnh đến yêu cầu về tính hợp hiến của các đạo luật này trong khuôn khổ của
hạn này42 hoặc nguyên tắc áp dụng các đạo luật đó43
Bình đẳng trước pháp luật: Luật cơ bản đề cao bình đẳng nam nữ và chống
kỳ thị về giới tính, huyết thống, chủng tộc, dân tộc, ngôn ngữ, nguồn gốc, đức tin hoặc quan điểm tôn giáo, chính trị, tình trạng khuyết tật (điều 3)
1.2.2.5 Liên bang Nga44
Chương 2 - “Các quyền và tự do của con người và công dân” trong Hiến pháp năm 1993 ghi nhận một số nguyên tắc sau đây:
40
Nguyễn Minh Tuấn (2012), “Lịch sử lập hiến ở Đức”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 1, tr 60-63
41
Khoản 2 điều 16 - Cấm tước quyền có quốc tịch; việc dẫn độ - quy định: “Không một công dân Đức nào bị
dẫn độ ra nước ngoài Ngoại lệ dẫn độ sang nước thành viên trong Cộng đồng châu Âu hay đến một Tòa án quốc tế có thể được thực hiện theo một đạo luật cụ thể, nếu như đạo luật đó phù hợp với các nguyên tắc nhà nước pháp quyền”
42
Điều 17a - Giới hạn về các quyền cơ bản cụ thể trong lĩnh vực an ninh:
“(1) Các đạo luật về nghĩa vụ quân sự và lao động công ích có thể quy định các giới hạn cụ thể quyền cơ bản của những người tham gia lực lượng vũ trang và lao động công ích trong thời gian phục vụ, như quyền được tự do ngôn luận thể hiện bằng lời nói, chữ viết và hình ảnh (Điều 5 khoản 1 câu 1), quyền biểu tình (Điều 8), và quyền kiến nghị (Điều 17) trong phạm vi mà quyền này cho phép có thể đệ trình các kiến nghị tập thể
(2) Các đạo luật, mà phục vụ lợi ích quốc phòng nhằm mục đích bảo vệ nhân dân, có thể quy định giới hạn các quyền cơ bản như quyền tự do đi lại (Điều 11) và bất khả xâm phạm nơi ở (Điều 13).”
43
Điều 19 - Giới hạn các quyền cơ bản:
“(1) Nếu một quyền cơ bản nào trong Luật cơ bản này bị giới hạn bởi một đạo luật hoặc trên cơ sở một đạo luật nào cụ thể, thì đạo luật đó phải được áp dụng chung và không là ngoại lệ dành riêng cho một trường hợp cá biệt nào Ngoài ra, đạo luật đó phải trích dẫn rõ quyền cơ bản với đầy đủ thông tin về điều khoản của Luật cơ bản này
(2) Trong mọi trường hợp một quyền cơ bản không được tự mâu thuẫn với chính nội dung bản chất của quyền đó ”
44
Tham khảo: Nguyễn Mạnh Hùng – Lưu Đức Quang – Nguyễn Văn Trí (2014), Tlđd, chú thích số 37, tr 144-146
Trang 26Các quyền, tự do và nghĩa vụ của cá nhân và công dân được thực thi trên cơ
sở bình đẳng: Điều 19 Hiến pháp nêu rõ ba khía cạnh cơ bản của nguyên tắc này
gồm bình đẳng trước pháp luật và toà án; bình đẳng về quyền, tự do của cá nhân và công dân; bình đẳng nam nữ
Các quyền, tự do và nghĩa vụ của cá nhân và công dân được bảo đảm: Hiến
pháp ấn định trách nhiệm của nhà nước trong việc thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ các quyền và tự do của cá nhân và công dân Các quyền và tự do của cá nhân và công dân có hiệu lực trực tiếp; được đảm bảo bằng hoạt động của các cơ quan quyền lực lập pháp, hành pháp, tư pháp cũng như của chính quyền tự quản địa phương và được thực thi công bằng
Giá trị của các quyền và tự do: Khoản 1 điều 55 khẳng định việc liệt kê các
quyền và tự do cơ bản không phủ định hoặc hạ thấp giá trị của các quyền và tự do
khác vốn đã được xã hội thừa nhận Nhà nước thừa nhận con người, các quyền và tự
do của con người như các giá trị tối cao vốn không thể chuyển nhượng, thay đổi và thuộc về con người ngay từ khi được sinh ra
Những hạn chế hiến định về các quyền và tự do cá nhân và công dân: Các
chủ thể phải sử dụng các quyền và tự do trong phạm vi của những giới hạn hiến định Chỉ có các đạo luật liên bang mới quy định những hạn chế này nhằm mục đích bảo vệ những nguyên tắc cơ bản của chế độ Hiến pháp, đạo đức, nhân phẩm, sức khỏe, quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân khác, đảm bảo phòng thủ đất nước
và an ninh quốc gia (khoản 3 điều 55) Nhà nước không được tùy tiện ban hành các đạo luật hủy bỏ hoặc hạn chế các quyền và tự do của cá nhân Xét về mặt thời gian,
có hai loại hạn chế sau đây:
Hạn chế cố định: có hiệu lực mọi lúc và được quy định rõ trong Hiến pháp
năm 1993; ví dụ: không cho phép tiến hành các hoạt động kinh tế có khuynh hướng độc quyền hoặc cạnh tranh không lành mạnh (khoản 2 điều 34)
Hạn chế tạm thời: có hiệu lực trong một thời điểm nhất định và được quy
định trong các đạo luật Hiến pháp Liên bang; ví dụ: đạo luật Hiến pháp về tình trạng đặc biệt hoặc những hạn chế liên quan đến việc cấm hội họp, diễu hành, biểu tình, những nghĩa vụ kèm theo trong lĩnh vực in ấn và hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng khác, việc đình chỉ hoạt động của các đảng chính trị, việc ban hành lệnh giới nghiêm và những hạn chế khác…
1.2.2.6 Cộng hòa Nam Phi
Trang 27Hiến pháp Cộng hòa Nam Phi năm 1996 dành chương II để quy định Bộ luật
về quyền với một số nguyên tắc sau đây:
Nhà nước tôn trọng, bảo vệ, thúc đẩy và thực hiện các quyền cơ bản (khoản
2 điều 7) Mọi người có quyền được tôn trọng và bảo vệ phẩm giá vốn có của mình (điều 10)
Hiệu lực trực tiếp của quyền cơ bản: được thể hiện qua trách nhiệm ràng
buộc đối với các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp Thậm chí, Tòa án có quyền đưa ra những quy tắc thông luật nhằm đảm bảo hiệu lực của bất cứ quyền cơ bản nào (khoản 3 điều 8)
Giới hạn quyền cơ bản: Điều 36 Hiến pháp nêu rõ các quyền trong Bộ luật
về quyền chỉ có thể bị giới hạn trong chừng mực hợp lý và công bằng trong một xã hội dân sự và cởi mở dự trên nhân phẩm, sự bình đẳng và tự do, có tính đến tất cả các yếu tố sau đây: a Bản chất của quyền; b Tầm quan trọng của việc giới hạn; c Bản chất và mức độ của sự giới hạn; d Mối quan hệ giữa giới hạn và mục đích của nó; e Các biện pháp ít hạn chế hơn nhưng cùng đạt được mục tiêu đó Ngoài Hiến pháp, không một đạo luật nào có thể giới hạn bất kỳ quyền nào được ghi nhận trong
Bộ luật về quyền
Tạm đình chỉ việc thực hiện quyền: Theo điều 37, việc tạm đình chỉ thực hiện
quyền con người chỉ có thể xảy ra trong những tình trạng khẩn cấp, việc tạm đình chỉ này được thực hiện nếu: Việc tạm đình chỉ phải là yêu cầu thực sự xuất phát từ tình trạng khẩn cấp và đạo luật ban bố tình trạng khẩn cấp phải phù hợp với nghĩa
vụ của Nam Phi theo Luật quốc tế áp dụng trong trường hợp khẩn cấp, được đăng trên Công báo ngay khi được thông qua Hiến pháp cũng quy định rõ, ngay trong bối cảnh tình trạng khẩn cấp các quyền không thể bị tạm đình chỉ gồm: quyền bình đẳng; quyền về nhân phẩm; quyền bảo vệ tính mạng; quyền tự do và an ninh cá nhân; quyền không bị bắt làm nô lệ, nô dịch và lao động cưỡng bức; quyền của trẻ em; quyền của người bị bắt, giam giữ và buộc tội
Bình đẳng trước pháp luật: Nhà nước tuyên bố thực thi các biện pháp để bảo
vệ hoặc hỗ trợ các cá nhân và các nhóm yếu thế trong xã hội Không có bất kỳ chủ thể nào có hành vi phân biệt đối xử bất công một cách trực tiếp hoặc gián tiếp chống lại bất kỳ cá nhân nào, trừ khi sự phân biệt đối xử đó được thừa nhận là hợp lý
1.2.2.7 Cộng hòa Ba Lan
Hiến pháp Cộng hòa Ba Lan năm 1997 ghi nhận một số nguyên tắc sau đây:
Trang 28Tôn trọng phẩm giá của con người: Hiến pháp khẳng định phẩm giá là giá trị
tự nhiên, không thể tách rời của con người; đồng thời, là nguồn gốc của tự do và các quyền cá nhân Điều này bất khả xâm phạm và Nhà nước có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ (điều 30)
Hiệu lực trực tiếp của Hiến pháp:“Các quy định của Hiến pháp sẽ được áp dụng một cách trực tiếp, trừ trường hợp Hiến pháp có quy định khác” (khoản 2
điều 8)
Nguyên tắc giới hạn quyền được quy định chung tại khoản 3 điều 3145 và Hiến pháp khẳng sự hạn chế (nếu có) đối với từng quyền cụ thể như quyền bất khả
đối với chính các đạo luật về quyền và tự do48
Bình đẳng trước pháp luật: Hiến pháp đặt ra trách nhiệm của cơ quan nhà
nước trong việc đối xử công bằng với mọi người
1.2.3 Nhận xét
Các bản Hiến pháp thuộc mẫu nghiên cứu của Luận văn có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí Xét về mặt địa lý, có thể phân chia thành Hiến pháp các nước Đông Nam Á và các nước khác ở châu Á, Âu, Mỹ, Phi Xét về thời điểm ban hành, nếu Hiến pháp Hoa Kỳ ra đời từ thế kỷ XVIII thuộc kiểu Hiến pháp cổ điển, thì các Hiến pháp còn lại đều được ban hành sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, trừ Hiến pháp Philippines năm 1987, thuộc kiểu Hiến pháp hiện đại Xét về cách thức hiến định quyền con người, quyền công dân, có thể phân chia thành ba loại: chế định này được thể hiện trong những điều bổ sung (Hoa Kỳ); chế định này tuy được ghi nhận trong những văn bản khác với bản văn chính của Hiến pháp nhưng vẫn được xem là một phần cấu thành Hiến pháp (Pháp); chế định này được ghi nhận trong một chương, phần của bản văn Hiến pháp (các nước khác) Xét về thể chế
45
“Bất kỳ sự hạn chế nào đối với việc thực hiện tự do và các quyền hiến định chỉ có thể được quy định trong
luật, và chỉ trong trường hợp cần thiết ở một nhà nước dân chủ vì mục đích bảo vệ an ninh hoặc trật tự công cộng, hoặc để bảo vệ môi trường tự nhiên, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc tự do và các quyền của những người khác Những hạn chế này không được vi phạm bản chất của tự do và các quyền.”
46
Khoản 1 điều 41 quy định: “Quyền bất khả xâm phạm và an toàn về riêng tư được bảo đảm đối với tất cả
mọi người Việc tước đoạt hoặc hạn chế tự do chỉ có thể được áp đặt theo những nguyên tắc và thủ tục do luật định”
47
Điều 81 quy định: “Các quyền quy định tại các khoản 4 và 5 Điều 65, Điều 66, Điều 69, Điều 71 và các
điều từ Điều 74 đến Điều 76, có thể bị hạn chế bởi quy định của luật”
48
Điều 43 quy định: “Không có luật nào quy định những hạn chế liên quan đến tội phạm chiến tranh và tội
phạm chống lại loài người”
Trang 29chính trị, chỉ có Hiến pháp Lào thuộc loại Hiến pháp xã hội chủ nghĩa, các bản Hiến pháp còn lại thuộc loại Hiến pháp tư sản Đặc biệt, Tác giả chọn nghiên cứu Hiến pháp một số quốc gia trong thời kỳ chuyển đổi thể chế gồm Ba Lan, Liên bang Nga
và Nam Phi Các tiêu chí lựa chọn mẫu nghiên cứu được chúng tôi cân nhắc về điểm tương đồng cũng như khác biệt với Việt Nam về trình độ phát triển, thế chế chính trị, hệ thống pháp luật và được đặt trong thời đại toàn cầu hóa Do vậy, những kinh nghiệm lập hiến này hoàn toàn có khả năng trở thành bài học đáng giá cho chúng ta nếu được tiếp cận với một tinh thần cầu thị cao độ và suy nghĩ thấu đáo về tương lai của một Nhà nước pháp quyền, một nền văn hóa nhân quyền
Về kỹ thuật lập hiến, phần lớn các bản Hiến pháp mà chúng tôi khảo sát không xác định rõ đâu là nguyên tắc, đâu là quyền cơ bản Hiến pháp Ba Lan và Thái Lan tuy không đặt tên hay tiêu đề cho các điều khoản song có chia thành các phần trong chương về quyền con người, quyền công dân, cụ thể như sau: Chương II (Tự do, quyền và nghĩa vụ của con người và công dân) Hiến pháp Ba Lan được chia thành các phần không đánh số thứ tự gồm: những nguyên tắc chung; tự do và các quyền; các biện pháp bảo đảm tự do và các quyền Chương III (Các quyền và tự do của người Thái) Hiến pháp Thái Lan được chia thành các phần có đánh số thứ tự gồm: Phần 1 – Những quy định chung; Phần 2 – Quyền bình đẳng; Phần 3 – Các quyền và tự do cá nhân Hiến pháp Đức, Singapore, Nam Phi thì đặt tên cho các điều khoản nên việc nhận diện các nguyên tắc là tương đối thuận lợi Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy chương về quyền con người, quyền công dân có cấu trúc chung như sau: (1) Các điều khoản về nguyên tắc; (2) Các điều khoản về quyền, nghĩa vụ cụ thể
Nhìn chung, tuy cách thức hiến định khác nhau song về mặt nội dung, các bản Hiến pháp tiến bộ trên thế giới cũng như Hiến pháp các quốc gia Đông Nam Á đều ghi nhận các nguyên tắc chung về quyền con người, quyền công dân Thay cho lời kết ở phần này, chúng tôi xin minh họa bằng bảng so sánh nội dung của 12 bản Hiến pháp (Hoa Kỳ, Đức, Ba Lan, Liên bang Nga, Pháp, Nam Phi, Nhật Bản, Malaysia, Singapore, Indonesia, Philippines và Thái Lan) về năm nguyên tắc của chế định này gồm: tôn trọng quyền con người (nhân phẩm), bình đẳng trước pháp
Trang 30luật, giới hạn quyền và tạm đình chỉ việc thực hiện quyền, bình đẳng giữa các quyền, hiệu lực trực tiếp của quyền cơ bản với trình độ cao về kỹ thuật lập hiến49
Bảng 1: So sánh Hiến pháp một số quốc gia trên thế giới về các nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền công dân
Bình đẳng trước pháp luật
Giới hạn quyền, tạm đình chỉ quyền
Bình đẳng giữa các quyền
Hiệu lực trực tiếp của quyền
* Việc xác định nguyên tắc theo tiêu chí hình thức tức là căn cứ vào điều khoản hiến định trực tiếp
1.3 Lược sử lập hiến Việt Nam đối với các nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
Xem thêm: Vũ Kiều Oanh (2012), Chế định Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân ở một số nước trên
thế giới, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 30-33 và Ban biên tập Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992
(2012), Tlđd, chú thích số 7, tr 103-111
Trang 31Nam Á Lời nói đầu của Hiến pháp 1946 xác định nhiệm vụ của dân tộc ta trong
giai đoạn này là: “bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia
trên nền tảng dân chủ” Lời nói đầu cũng xác định ba nguyên tắc cơ bản xây dựng
Hiến pháp: đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo; đảm bảo các quyền tự do dân chủ và thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân Toàn bộ 7 chương của Hiến pháp 1946 đều được xây dựng trên ba nguyên tắc cơ bản nói trên
Nguyên tắc đảm bảo quyền tự do dân chủ được thể hiện ở Chương II -
“Nghĩa vụ và quyền lợi của công dân” với 18 điều; trong đó, 16 điều lần đầu tiên
quy định các nghĩa vụ cũng như quyền cơ bản về dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa
và xã hội cho công dân nước ta (nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, tôn trọng Hiến pháp, tuân theo pháp luật, đi lính; quyền bầu cử, ứng cử; quyền tư hữu về tài sản; các quyền tự
do cá nhân; quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia…) Các quyền tự do, dân chủ của công dân được Hiến pháp năm 1946 quy
định mang tính tiến bộ, tính nhân văn sâu sắc “Có thể khẳng định chắc chắn rằng
quyền con người đã được quy định như một nguyên tắc quan trọng của Hiến pháp 1946”50 Bên cạnh đó, nguyên tắc bình đẳng cũng được thể hiện ở 5 trong số 11 điều quy định về quyền lợi như sau: bình đẳng chung về mọi phương diện (điều thứ 6)51; bình đẳng trước pháp luật và về mặt chính trị (điều thứ 7)52; bình đẳng dân tộc (điều thứ 8)53; bình đẳng nam nữ (điều thứ 9)54; bình đẳng giai cấp (điều thứ 13)55 Với việc hiến định bốn nghĩa vụ công dân như trên, PGS.TS Nguyễn Văn Động còn cho rằng: Hiến pháp năm 1946 đã quán triệt và vận dụng nguyên tắc quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân56 Theo chúng tôi, quan điểm này có phần khiên cưỡng nếu đối chiếu với lý luận và thực tiễn lập hiến hiện đại Ngày
“Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc
kiến quốc tuỳ theo tài năng và đức hạnh của mình.”
Điều thứ 13 quy định: “Quyền lợi các giới cần lao trí thức và chân tay được bảo đảm” Tuy nhiên, một số
học giả không cho rằng điều này thế hiện một khía cạnh của nguyên tắc bình đẳng (Xem: Nguyễn Minh Đoan
(chủ biên) (2010), Tlđd, chú thích số 10, tr 81-82 và Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội (2011), Hiến
pháp: những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr 652)
56
Nguyễn Văn Động (2005), Quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp Việt Nam (Sách chuyên
khảo), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 68
Trang 32nay, tuy nhiều bản Hiến pháp đồng thời ghi nhận quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân nhưng các nhà Hiến pháp học chủ yếu đánh giá hiện tượng này từ góc độ cấu trúc của chế định quyền con người, quyền công dân chứ không xem nó là một nguyên tắc nếu không được chính bản văn Hiến pháp minh định57 Như vậy, tôn
trọng quyền con người và bình đẳng trước pháp luật là hai nguyên tắc về quyền con
người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân mà Hiến pháp năm 1946 đã đặt ra
1.3.2 Hiến pháp năm 1959
Hiến pháp năm 1959 là Hiến pháp xã hội chủ nghĩa đầu tiên của nước ta, đặt cơ sở pháp lý nền tảng cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và
là cương lĩnh đấu tranh thống nhất đất nước Lời nói đầu của Hiến pháp 1959 khẳng
định việc quy định quyền lợi và nghĩa vụ của công dân “nhằm phát huy sức sáng
tạo to lớn của nhân dân ta trong công cuộc xây dựng nước nhà, thống nhất và bảo
vệ Tổ quốc” Chương III - “Quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công dân” (gồm 21
điều) kế thừa quy định của Hiến pháp 1946 về các quyền và nghĩa vụ của công dân; đồng thời quy định những quyền và nghĩa vụ mới như: quyền được bảo hộ của bà
mẹ, trẻ em (điều 24); quyền biểu tình (điều 25); quyền khiếu nại, tố cáo (điều 29); quyền làm việc (điều 30); quyền nghỉ ngơi của người lao động (điều 31); quyền được giúp đỡ về vật chất khi già yếu, bệnh tật hoặc mất sức lao động (điều 32); quyền tự do nghiên cứu khoa học, sáng tác văn học nghệ thuật và tiến hành các hoạt động văn hóa khác (điều 34); quyền được giáo dục của thanh niên (điều 35)… và
Việc mở rộng các quyền cơ bản của công dân cũng như tăng cường trách
nhiệm đảm bảo của Nhà nước đã thể hiện nguyên tắc tôn trọng quyền con người Bên cạnh đó, Hiến pháp tiếp tục ghi nhận nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật
(điều 22); đồng thời, thể hiện nguyên tắc này ở các khía cạnh khác nhau như sau:
57
Xem chi tiết: Ban biên tập Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (2012), Tlđd, chú thích số 7, tr 103-104
58
Điều 25 quy định: “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội
họp, lập hội và biểu tình Nhà nước bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để công dân được hưởng các quyền đó”
59
“Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, không phân biệt dân tộc, nòi giống, nam nữ, thành phần xã
hội, tôn giáo, tín ngưỡng, tình trạng tài sản, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, từ mưới tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử, từ hai mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử, trừ những người mất trí và những người bị Toà án hoặc pháp luật tước quyền bầu cử và ứng cử Công dân đang ở trong quân đội có quyền bầu
cử và ứng cử.”
60
“Phụ nữ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị,
kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình Cùng việc làm như nhau, phụ nữ được hưởng lương ngang với nam giới
Trang 33đẳng dân tộc (điều 3)61 Lần đầu tiên, Hiến pháp tuyên bố nguyên tắc lợi ích cá
nhân nhất trí với lợi ích xã hội tại điều 38 như sau: “Không ai được lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước và của nhân dân”
Đây có thể xem là hệ quả của lý luận lập hiến xã hội chủ nghĩa
Nhà luật học Vũ Bội Tấn đã phân tích bản chất các quyền công dân trong chế độ xã hội chủ nghĩa như sau: Bản chất xã hội chủ nghĩa của
các quyền và tự do dân chủ của công dân là ở chỗ các quyền và tự do dân chủ ấy phải nhằm đảm bảo lợi ích của người lao động, nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản Không ai có thể sử dụng các quyền và tự do dân chủ ấy trái với lợi ích của nhân dân, trái với việc xây dựng chủ nghĩa xã hội… Cũng vì lý do trên, Hiến pháp các nước xã hội chủ nghĩa thường ngăn cấm và trừng trị việc lợi dụng các quyền tự do dân chủ để làm hại xã hội, chống lại chế độ xã hội chủ nghĩa, đều cấm việc tuyên truyền chiến tranh, kích động gây thù hằn dân tộc, chủng tộc… Như Hiến pháp Cuba năm 1976 đã quy định
trong điều 61: “Tất cả những quyền tự do đã được công nhận đối với
những công dân đều không được thực hiện nhằm chống lại những điều quy định trong Hiến pháp và pháp luật, chống lại sự tồn tại và những mục tiêu của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, chống lại việc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã được nhân dân Cuba quyết định Việc xâm phạm nguyên tắc này sẽ bị trừng trị”62
1.3.3 Hiến pháp năm 1980
Hiến pháp năm 1980 là Hiến pháp của nước Việt Nam thống nhất, Hiến
pháp của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên cả nước Chương V – “Quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân” (gồm 32 điều) kế thừa các quy định của Hiến pháp
năm 1946, Hiến pháp năm 1959 và quy định mới một số quyền, nghĩa vụ công dân như: quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và của xã hội (điều 56), quyền
có việc làm (điều 58), quyền học tập không phải trả tiền (điều 60), quyền khám chữa bệnh và chữa bệnh không phải trả tiền (điều 61), quyền có nhà ở (điều 62),
nghĩa vụ tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân (điều 77), nghĩa vụ tuân theo kỷ
Viện Luật học - Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (1977), Hiến pháp xã hội chủ nghĩa (Một số vấn đề lý
luận cơ bản), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 69-70
Trang 34luật lao động, bảo vệ an ninh chính trị, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã
hội (điều 78), nghĩa vụ lao động công ích (điều 80)… Đồng thời, Hiến pháp tiếp tục
tăng cường trách nhiệm đảm bảo của Nhà nước đối với các quyền cơ bản, thể hiện ở
nhiều chương khác như Chương II – “Chế độ kinh tế”, Chương III – “Văn hóa,
giáo dục, khoa học, kỹ thuật” Tuy nhiên, các nhà lập hiến với quan niệm giản đơn
về chủ nghĩa xã hội, bệnh giáo điều, chủ quan, duy ý chí đã đề cao quá mức một số quyền công dân, không phù hợp với điều kiện và trình độ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và vì thế các quyền này không mang tính khả thi, không có điều kiện vật chất để đảm bảo thực hiện
Việc mở rộng các quyền cơ bản của công dân cũng như tăng cường trách
nhiệm đảm bảo của Nhà nước đã thể hiện nguyên tắc tôn trọng quyền con người Hiến pháp tiếp tục ghi nhận khái quát nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật (điều
55) và cụ thể hóa bằng điều 63 về bình đẳng nam nữ, điều 5 về bình đẳng dân tộc
Đồng thời, các nhà lập hiến khẳng định nguyên tắc lợi ích cá nhân nhất trí với lợi
ích xã hội dựa trên cơ sở của chế độ làm chủ tập thể của nhân dân lao động (điều
tách rời nghĩa vụ công dân64
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Mạnh Hùng phân tích cơ sở lý luận của nguyên tắc này như sau: Sự nhất trí giữa quyền lợi riêng của cá nhân
và lợi ích chung của xã hội dẫn đến sự nhất trí giữa quyền và nghĩa vụ của công dân Quyền và nghĩa vụ là hai mặt của quyền làm chủ tập thể của nhân dân Công dân có quyền làm chủ thì phải gánh vác nghĩa
vụ làm chủ Việc thực hiện các nghĩa vụ của công dân đối với Nhà nước và xã hội chính là tạo điều kiện để hưởng quyền được đầy đủ Ngược lại, được hưởng đầy đủ các quyền do Hiến pháp quy định, công dân sẽ hăng hái, phấn khởi làm tròn các nghĩa vụ của mình Xã hội ta không chia thành hai loại người đối lập nhau như trong các xã hội do giai cấp bóc lột thống trị: một loại người chỉ hưởng quyền mà hầu như không làm nghĩa vụ và loại người phải gánh vác đủ mọi thứ nghĩa vụ mà hầu như không được hưởng quyền gì Dưới chế độ ta, trái
63
“Quyền và nghĩa vụ của công dân thể hiện chế độ làm chủ tập thể của nhân dân lao động, kết hợp hài hoà
những yêu cầu của cuộc sống xã hội với tự do chân chính của cá nhân, bảo đảm sự nhất trí về lợi ích giữa Nhà nước, tập thể và cá nhân theo nguyên tắc mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người…”
64
Trần Ngọc Đường (2011), Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam (Sách chuyên khảo), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 71
Trang 35lại, mọi người đều có quyền như nhau và có nghĩa vụ như nhau, không có nhóm người nào chỉ hưởng quyền mà không phải làm nghĩa
vụ, cũng không có nhóm người nào chỉ phải làm nghĩa vụ mà không được hưởng quyền Đây là vấn đề thuộc về bản chất của chế độ, nó nói lên sự khác nhau hoàn toàn giữa chế độ xã hội chủ nghĩa với các chế độ khác65
Về mặt lý luận, việc Hiến pháp tuyên bố “Nhà nước bảo đảm các quyền của
công dân; công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội”
cũng tại điều 54 là sự đồng bộ hóa với nguyên tắc nêu trên và tạo thành nguyên tắc
đảm bảo tính hiện thực của quyền và nghĩa vụ công dân Trong bối cảnh đất nước
dưới chế độ bao cấp, những đảm bảo này liên quan đến nhiều mặt như chính trị (tinh thần cách mạng tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội), pháp lý (trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, cơ chế đảm bảo thực hiện các quyền tự do dân chủ) và vật chất (sự thiết lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa)66 Bình tâm nhìn lại, chúng ta có thể đồng cảm với thế hệ đi trước nhưng cũng không quên rút ra những bài học đáng giá cho sự phát triển của chế định quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân cũng như sự hưng vong của dân tộc hôm nay và mai sau
1.3.4 Hiến pháp năm 199267
Hiến pháp 1992 thể chế hóa đường lối đổi mới toàn diện do Đại hội Đảng lần thứ VI đề ra Kế thừa và phát triển các quy định của các Hiến pháp trước đó, Hiến pháp năm 1992 từng bước tiệm cận với những thành tựu lập hiến thế giới về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
Các nhà khoa học pháp lý Việt Nam đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau khi bàn về các nguyên tắc của chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong
Hiến pháp năm 1992 PGS.TS Bùi Xuân Đức cho rằng có bốn nguyên tắc sau đây:
(1) Quyền công dân thống nhất với quyền con người; (2) Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân; (3) Quyền và nghĩa vụ công dân do Hiến pháp và luật
65
Nguyễn Mạnh Hùng, Những nguyên tắc, tính chất xã hội chủ nghĩa của quyền và nghĩa vụ cơ bản của
công dân Việt Nam, trích trong sách Viện Luật học - Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (1985), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Bình luận) (Tập 1), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 204
Trang 36quy định; (4) Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật68 PGS.TS Nguyễn Đăng
Dung cho rằng có bốn nguyên tắc sau đây: (1) Quyền công dân xuất phát từ quyền
con người trong các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội (hay còn gọi
là nguyên tắc tôn trọng các quyền con người); (2) Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân; (3) Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật; (4) Tính hiện
nguyên tắc sau đây: (1) Tôn trọng các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế,
văn hóa và xã hội; (2) Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân; (3) Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật; (4) Nhân đạo xã hội chủ nghĩa; (5) Tính hiện thực của quyền và nghĩa vụ công dân70
Theo Tác giả, chế định này được quy định dựa trên năm nguyên tắc sau đây:
Thứ nhất, nguyên tắc tôn trọng quyền con người: Điều 50 Hiến pháp quy
định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính
trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật” Đây là điều mới của Hiến pháp
năm 1992 mà các Hiến pháp trước đây chưa thể hiện, mặc dù trong mọi thời kỳ, Nhà nước ta đều coi tôn trọng quyền con người là nguyên tắc quan trọng trong tổ chức và hoạt động của mình Sự biểu hiện chính thức rõ ràng và long trọng nội dung này trong một điều khoản riêng của Hiến pháp mang ý nghĩa chính trị - pháp lý sâu sắc trong việc bác bỏ luận điệu xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền
Đó là sự phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, thể hiện sự tôn trọng các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết và phần nào thể hiện cách nhìn mới của chúng ta đối với các vấn đề quốc tế, phù hợp xu thế xóa bỏ đặc tính khép kín của pháp luật trong nước
Thứ hai, nguyên tắc quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân:
Điều 51 Hiến pháp quy định: “Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của
công dân Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân; công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội…” Trong mối quan hệ giữa nhà
nước với công dân, quyền của công dân là nghĩa vụ của nhà nước, nghĩa vụ của
68
Xem chi tiết: Viện Đại học Mở Hà Nội (2004), Tlđd, chú thích số 19, tr 184-186
69
Xem chi tiết: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2006), Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, NXB
Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr 258-263
70
Xem chi tiết: Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, NXB Công an
nhân dân, Hà Nội, tr 255-261
Trang 37công dân là quyền của nhà nước Trong xã hội dân chủ, không thể có quyền công dân tách rời nghĩa vụ công dân và ngược lại, công dân không thể chỉ có nghĩa vụ mà không được hưởng quyền Việc bảo đảm quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân là hướng tới một xã hội, trong đó lợi ích của mỗi cá nhân đặt hài hòa trong lợi ích của các cá nhân khác, của tập thể và cộng đồng xã hội
Thứ ba, nguyên tắc quyền và nghĩa vụ công dân do Hiến pháp và luật quy định: Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, Hiến pháp năm 1992 xác định
nguyên tắc này tại điều 51 Về nguyên tắc, pháp luật của nhà nước pháp quyền phải
đủ khách quan, chính đáng để một mặt bảo đảm lợi ích của công dân, một mặt duy trì bình thường việc thực hiện các chức năng của nhà nước Ở nước ta, trong số các
cơ quan nhà nước có quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh quan
hệ nhà nước - công dân, Quốc hội chính là cơ quan dân cử tiêu biểu nhất Do vậy, Quốc hội được xem là cơ quan có khả năng nhất trong việc thể chế hóa ý nguyện của nhân dân một cách trung thực nhất, toàn diện nhất; đặc biệt trong việc xây dựng mối quan hệ cơ bản giữa Nhà nước với công dân Nguyên tắc này thể hiện thái độ trân trọng rất đáng ghi nhận của Nhà nước ta đối với việc thể chế hóa địa vị pháp lý của công dân, nhằm hạn chế tối đa sự tùy tiện từ phía công quyền
Phó Chủ tịch Quốc hội khóa VIII71 Phùng Văn Tửu đã bình luận:
Ở đây nói luật chứ không phải pháp luật Như vậy là sau khi có Hiến pháp mới thì chỉ có luật do Quốc hội thông qua mới quy định về quyền và nghĩa vụ công dân Còn các văn bản dưới luật chỉ là hướng dẫn cụ thể việc thực hiện Đó cũng là một trong nhiều thí dụ khác chứng tỏ quyết tâm của Nhà nước ta xây dựng Nhà nước pháp quyền, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa72.
* Về mặt hình thức:
Một là, quyền và nghĩa vụ của công dân có thể được chia thành hai loại gồm
quyền và nghĩa vụ cơ bản (được quy định mang tính khởi đầu trong Hiến pháp) và quyền, nghĩa vụ khác hay quyền, nghĩa vụ không cơ bản (được quy định mang tính khởi đầu trong các luật, bộ luật) Phân tích sâu hơn, chúng ta nhận thấy Hiến pháp chỉ quy định những quyền và nghĩa vụ công dân hoặc có tính quan trọng đặc biệt,
Trang 38hoặc vừa có tính quan trọng đặc biệt vừa có tính khái quát (chung) so với quyền và nghĩa vụ luật định Ví dụ: nghĩa vụ nộp thuế là nghĩa vụ chung nên được hiến định; còn nghĩa vụ nộp một loại thuế cụ thể như thuế thu nhập cá nhân, thuế xuất nhập khẩu… thuộc loại nghĩa vụ cụ thể nên sẽ do một đạo luật quy định
Hai là, Quốc hội cũng không được ban hành các loại văn bản khác mà nội
dung có liên quan đến việc quy định mang tính khởi đầu đối với quyền và nghĩa vụ công dân
Ba là, Quốc hội cũng không thể ủy quyền cho bất kỳ cơ quan nào khác việc
quy định quyền và nghĩa vụ công dân Dưới góc độ này, thật khó mà bào chữa cho hiện tượng Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, thậm chí là Nghị định
“không đầu” của Chính phủ quy định về quyền và nghĩa vụ công dân theo hướng
xác lập hay khởi đầu
ở tỉnh B, công dân đăng ký mã số thuế, kê khai thuế qua Internet và nộp thuế qua ngân hàng) hoặc cơ quan thuế có quyền ấn định mức thuế suất riêng cho từng đối tượng nộp thuế nhưng không được nằm ngoài khung thuế suất luật định (chẳng hạn từ 5 đến 10%)
Ba là, Các cơ quan nhà nước khác không được đặt ra quyền, nghĩa vụ
mới so với quyền, nghĩa vụ hiến định và luật định hoặc xóa bỏ quyền, nghĩa
vụ hiến định và luật định73
73
Xem chi tiết: Lưu Đức Quang (2013), “Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định –
nhận diện từ lý luận và tình huống”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 14(246), tr 16-24
Trang 39Thứ tư, nguyên tắc mọi công dân bình đẳng trước pháp luật (điều 52):
Bình đẳng giữa các công dân trong xã hội là bảo đảm cho mọi công dân trong những hoàn cảnh, điều kiện như nhau phải được đối xử ngang bằng nhau về quyền
và nghĩa vụ không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo, địa vị xã hội, tình trạng tài sản hay các quan hệ cá nhân khác Một số biểu hiện của nguyên tắc này là điều 54
tôn giáo76, điều 5 về bình đẳng dân tộc77
Thứ năm, nguyên tắc đảm bảo tính hiện thực của quyền và nghĩa vụ công dân: Tuy không được tuyên bố trong bất kì điều khoản hiến định nào song đối chiếu
với Hiến pháp năm 1980 cũng với thực tiễn đời sống, Hiến pháp năm 1992 đã “thể
hiện tính hiện thực sâu sắc”78 Pháp luật nói chung, Hiến pháp nói riêng chỉ có thể được tôn trọng và thực hiện một cách có hiệu quả nếu như những quy định của nó phù hợp với điều kiện thực tế của trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp phải là những quyền và nghĩa vụ mang tính khả thi, có cơ sở, điều kiện thực hiện trong thực tế Khắc phục những hạn chế của Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 bảo đảm tính hiện thực của quyền và nghĩa vụ bằng cách đưa ra những quy định phù hợp hơn và loại bỏ những quy định không mang tính khả thi Cụ thể như sau: (1) Quyền có việc làm (điều 58 Hiến pháp 1980) được thay thế bằng quy định:
“Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động.” (điều 55 Hiến pháp 1992); (2) Quyền học không phải trả tiền (điều 60 Hiến
pháp 1980) được thay thế bằng quy định: “Học tập là quyền và nghĩa vụ của công
74
“Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật.”
75
“Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình
Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ Lao động nữ và nam việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau Lao động nữ có quyền hưởng chế độ thai sản Phụ nữ là viên chức nhà nước và người làm công ăn lương có quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ cấp theo quy định của pháp luật Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội; chăm lo phát triển các nhà hộ sinh, khoa nhi, nhà trẻ
và các cơ sở phúc lợi xã hội khác để giảm nhẹ gánh nặng gia đình, tạo điều kiện cho phụ nữ sản xuất, công tác, học tập, chữa bệnh, nghỉ ngơi và làm tròn bổn phận của người mẹ.”
76
“Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Các tôn giáo đều
bình đẳng trước pháp luật.”
77
“…Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành
vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số.”
78
Nguyễn Minh Đoan (chủ biên) (2010), Tlđd, chú thích số 10, tr 101
Trang 40dân Bậc tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí… Nhà nước có chính sách học phí, học bổng.” (điều 59 Hiến pháp 1992); (3) Quyền khám bệnh và chữa bệnh
không phải trả tiền (điều 61 Hiến pháp 1980) được thay thế bằng quy định: “Nhà
nước quy định chế độ viện phí, chế độ miễn, giảm viện phí.” (điều 61 Hiến pháp
1992); (4) Quyền có nhà ở (điều 62 Hiến pháp 1980) được thay thế bằng quyền xây
dựng nhà ở theo quy hoạch và pháp luật (điều 62 Hiến pháp 1992)
1.3.5 Nhận xét
Chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân qua bốn bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 và 1992 đều được xây dựng trên nền tảng hai nguyên tắc tôn trọng quyền con người và mọi công dân bình đẳng trước pháp luật Cùng với việc học tập nền lập hiến xã hội chủ nghĩa, từ giai đoạn Hiến pháp năm 1959 đến Hiến pháp năm 1992, các nhà lập hiến đã phát triển thêm các nguyên tắc mới bao gồm: quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân, tính hiện thực về quyền và nghĩa
vụ công dân, quyền và nghĩa vụ công dân do Hiến pháp và luật quy định Về kỹ thuật lập hiến, các nguyên tắc này ngày càng được thể hiện một cách rõ ràng và chặt chẽ hơn Sau đây, Tác giả lập bảng thống kê về các nguyên tắc về quyền và nghĩa
vụ cơ bản của công dân qua bốn bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 và 1992 như
sau:
Bảng 2: So sánh Hiến pháp Việt Nam năm 1946, 1959, 1980 và 1992 về các nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
Bình đẳng trước pháp luật
Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân
Tính hiện thực về quyền và nghĩa vụ công dân
Quyền, nghĩa
vụ công dân
do Hiến pháp
và luật quy định
* Tuy Hiến pháp năm 1959 chưa khẳng định nguyên tắc quyền công dân không tách
rời nghĩa vụ công dân nhưng việc hiến định nguyên tắc lợi ích cá nhân nhất trí với lợi ích xã hội đã tạo tiền đề cho Hiến pháp năm 1980 lần đầu tiên tuyên bố về
nguyên tắc này