Quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ .... Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng như mộ
Trang 2BÙI TRỌNG BẨY
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CHO NGƯỜI TIÊU DÙNG THEO
PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC Chuyên ngành Luật Kinh tế _ Mã số 60380107
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Trí Hùng
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2015
Trang 3- Luận văn Thạc sỹ: “Bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng theo pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi
- Mọi tham khảo, trích dẫn dùng trong luận văn là hoàn toàn trung thực và đã tuân thủ đúng, đầy đủ quy định hiện hành về trích dẫn tài liệu tham khảo
Tác giả
Bùi Trọng Bẩy
Trang 4NTD người tiêu dùng
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CHO NGƯỜI TIÊU DÙNG 6
1.1 Khái quát về bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng 6
1.1.1 Định nghĩa bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng 6
1.1.2 Đặc điểm bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng 8
1.2 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của tổ chức, cá nhân kinh doanh 12
1.2.1 Khái quát trách nhiệm bồi thường thiệt hại của tổ chức, cá nhân kinh doanh 13
1.2.2 Đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại của tổ chức, cá nhân kinh doanh
16
1.3 Cơ sở lý luận của quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng 20
1.3.1 Chính sách bảo vệ Người tiêu dùng của Đảng và Nhà nước 20
1.3.2 Những yếu tố đặc thù trong quan hệ tiêu dùng 22
1.4 Sự cần thiết của quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng 23
1.4.1 Cơ sở pháp lý để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý xã hội 23
1.4.2 Cơ sở pháp lý để người tiêu dùng tự bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp 24
1.4.3 Cơ sở pháp lý ràng buộc hoạt động kinh doanh của tổ chức, cá nhân với trách nhiệm xã hội 25
1.4.4 Cơ sở pháp lý để các tổ chức xã hội hoạt động và thực hiện chức năng bảo vệ người tiêu dùng 27
Trang 62.1 Thực trạng quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng
29
2.1.1 Quy định pháp luật về chủ thể yêu cầu bồi thường thiệt hại 29 2.1.2 Quy định pháp luật về căn cứ phát sinh quan hệ bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng 33 2.1.3 Quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ 43 2.1.4 Quy định pháp luật về miễn trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ 48 2.1.5 Quy định pháp luật về thủ tục thực hiện quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại của người tiêu dùng 50
2.2 Một số đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng 55
2.2.1 Định hướng hoàn thiện 55 2.2.2 Một số đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng 56
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 60 KẾT LUẬN 61
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Khi nền kinh tế Việt Nam chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hóa sang kinh tế thị trường, Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức rõ sự cần thiết phải bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng bằng pháp luật Cụ thể hóa chính sách này, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật có chứa những quy định nhằm bảo vệ người tiêu dùng như: Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa Đây chính
là hệ thống quy định pháp luật quan trọng được ban hành nhằm mục đích đem lại sự công bằng, bình đẳng, hài hòa lợi ích trong các giao dịch giữa người tiêu dùng với tổ chức, cá nhân kinh doanh; đồng thời công khai, minh bạch cơ chế giải quyết những vấn đề phát sinh từ quan hệ tiêu dùng
Thực tiễn đời sống xã hội đã và đang phát sinh rất nhiều vấn đề liên quan đến công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Vụ việc vi phạm quyền lợi người tiêu dùng
có xu hướng gia tăng cả về số lượng, quy mô và tính chất nghiêm trọng, gây ra những thiệt hại không hề nhỏ, không chỉ về tài sản mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe thậm chí
là tính mạng của người tiêu dùng nhưng người tiêu dùng không được bồi thường hoặc bồi thường không thỏa đáng Trong khi đó, do không xử lý triệt để và chế tài không đủ mạnh để răn đe, vì vậy, những tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng trước đó tiếp tục coi thường pháp luật, coi thường tính mạng, sức khỏe người tiêu dùng, gây bức xúc cho cộng đồng, xã hội Thực trạng này đặt ra một số vấn đề cần giải quyết, đó là việc cần phải nghiên cứu, đánh giá tổng quan nội dung quy định pháp luật về quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại và cơ chế pháp lý
để người tiêu dùng tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Những quy định pháp
lý không phù hợp hoặc chưa đầy đủ cần phải được sửa đổi, bổ sung, thay thế nhằm hướng tới mục đích cuối cùng là góp phần tạo ra cơ chế pháp lý bảo vệ người tiêu dùng hoàn chỉnh, công bằng, công khai, minh bạch và hiệu quả
Việc nghiên cứu, đánh giá tổng thể quy định pháp luật hiện hành về bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng, theo quan điểm của tác giả là nhiệm vụ cần thiết và cấp
Trang 8bách trong bối cảnh Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có hiệu lực đã lâu nhưng nhiều vấn đề phát sinh chưa được đề cập giải quyết hoặc quy định còn chung chung, chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể Thực tiễn pháp lý này có thể dẫn đến hệ quả là sự lúng túng của người tiêu dùng, của các cơ quan bảo vệ người tiêu dùng và cả cơ quan tài phán có thẩm quyền giải quyết tranh chấp vụ việc tiêu dùng trong việc thực hiện,
áp dụng quy định liên quan của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng vào những tình huống bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng trong thực tế
Xuất phát từ những lý do nêu trên mà tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng theo pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng” để làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong quá trình tìm kiếm tài liệu nghiên cứu làm cơ sở tham chiếu cho luận văn, tác giả nhận thấy có nhiều công trình nghiên cứu khoa học chuyên đề có liên quan đến vấn đề bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng như:
- Luận văn thạc sỹ luật học, luận án tiến sỹ luật học Trường Đại học Luật
Thành phố Hồ Chí Minh: “Hoàn thiện pháp luật về cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Thư; Luận văn thạc sỹ luật học Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh: “Pháp luật về bảo vệ quyền của người tiêu dùng – Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật” của tác giả Dương
Thúy Diễm Đây là những công trình nghiên cứu về tổng thể các cơ chế bảo vệ người tiêu dùng; tuy vậy, bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng được hiểu là một bộ phận cấu thành của cơ chế bảo vệ người tiêu dùng lại chưa được nghiên cứu chuyên sâu, có
hệ thống
- Luận văn thạc sỹ luật học Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh:
“Bảo vệ người tiêu dùng thông qua phương thức giải quyết tranh chấp tại tòa án” của
tác giả Nguyễn Thị Phương Châu Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có phân tích, so sánh và đánh giá các phương thức giải quyết tranh chấp của người tiêu dùng trong đó tập trung nghiên cứu về phương thức giải quyết tranh chấp tại Tòa án Tuy nhiên, luận văn không có nội dung đề cập đến những vấn đề quan trọng như chủ thể khởi kiện, chủ thể bị kiện, nghĩa vụ chứng minh…
Trang 9- Luận văn thạc sỹ luật học Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
“Trách nhiệm sản phẩm theo pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”của tác giả Trần Thị Thúy Nga; các bài viết: “Vấn đề trách nhiệm sản phẩm trong pháp luật Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn Cương, “Trách nhiệm sản phẩm và miễn trừ trách nhiệm sản phẩm” của tác giả Dương Anh Sơn Những công trình, bài viết này có giới
hạn phạm vi nghiên cứu là trách nhiệm sản phẩm, là một bộ phận cấu thành của bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng1
Vì những lý do nêu trên, việc nghiên cứu về “Bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng theo pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” vẫn mang tính thời sự,
là vấn đề có tính mới
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Là những quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng được quy định trong các văn bản pháp luật của Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng là một bộ phận cấu thành cơ chế bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng, được hiểu bao gồm những quy định pháp luật về: (i) Chủ thể của quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại; (ii) chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng; (iii) cơ sở phát sinh quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại của người tiêu dùng; (iv) thiết chế về bảo vệ người tiêu dùng2 và phương thức, trình tự, thủ tục liên quan đến việc tiếp nhận, giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại; (v) thiết chế hỗ trợ thực hiện quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại của người tiêu dùng3 Trong đó, những quy định pháp luật liên quan đến thiết chế về bảo vệ người
3
Hệ thống các tổ chức, hội bảo vệ người tiêu dùng ở các địa phương, thành lập và hoạt động theo quy chế của tổ chức xã hội, nghề nghiệp; có chức năng tư vấn, hỗ trợ, đại diện cho người tiêu dùng hoặc tự mình thực hiện quyền khiếu nại, khởi kiện để bảo vệ lợi ích công cộng.
Trang 10tiêu dùng và thiết chế hỗ trợ người tiêu dùng mang tính nguyên tắc, ổn định, chưa có tính mới, đã được nghiên cứu rất nhiều và chuyên sâu (như đã nhận định tại phân trên), do vậy tác giả không tiếp tục nghiên cứu những quy định pháp luật này mà chủ yếu tập trung nghiên cứu chuyên sâu những vấn đề thuộc về nội dung của quan hệ bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng được quy định trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và các văn bản hướng dẫn thi hành
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, tác giả đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin: Xem xét, đánh giá sự vật, hiện tượng xã hội trên cơ sở nhận thức khách quan, dẫn chứng khoa học Phương pháp này được sử dụng nhất quán và xuyên suốt bài luận văn
- Phương pháp phân tích, tổng hợp và suy luận được sử dụng chủ yếu tại
Chương 1 Những vấn đề chung về bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng Theo đó,
trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận riêng lẻ, tác giả xâu chuỗi những nội dung liên quan, suy luận và tạo ra một số nội dung lý luận mới nhằm làm rõ bản chất của vấn đề được chọn nghiên cứu là bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng
- Phương pháp phân tích luật, phương pháp so sánh và tổng hợp được tác giả sử
dụng tại Chương 2 Thực trạng quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng và đề xuất hoàn thiện pháp luật Phân tích, so sánh nội dung của quy định
pháp luật nhằm chỉ ra những điểm tích cực, điểm hạn chế (nếu có) từ đó đưa ra những
đề xuất hoàn thiện pháp luật
5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng quy định pháp luật giúp người nghiên cứu xâu chuỗi lại các vấn đề riêng lẻ và hình thành bức tranh tổng quan về bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng theo quy định của pháp luật hiện hành
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo cho người tiêu dùng, cơ quan, tổ chức có liên quan khi có phát sinh tình huống pháp lý
từ quan hệ tiêu dùng hoặc làm nguồn tham khảo cho việc hoàn thiện quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nói chung, quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng nói riêng
Trang 116 Kết cấu của đề tài
Chương 2 Thực trạng quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng và đề xuất hoàn thiện pháp luật
Nội dung của Chương 2 tập trung phân tích quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại, đối chiếu, so sánh với cơ sở lý luận tại Chương 1 và các quy định có liên quan trong các văn bản pháp luật khác; từ đó chỉ ra điểm tồn tại và đề xuất phương án khắc phục, hoàn thiện
Ngoài ra, luận văn còn có phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo
Trang 12CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CHO
NGƯỜI TIÊU DÙNG
1.1 Khái quát về bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng
1.1.1 Định nghĩa bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng
1.1.1.1 Khái niệm bồi thường thiệt hại
Bồi thường thiệt hại là một trong những chế định pháp lý xuất hiện sớm trong lịch sử pháp luật dân sự Trải qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, ở những quốc gia khác nhau thì chế định bồi thường thiệt hại được quy định khác nhau về chủ thể, điều kiện, định mức, hình thức và phương thức bồi thường Mặc dù có sự khác biệt về hình thức thể hiện song bản chất của bồi thường thiệt hại được hiểu là một loại quan hệ dân
sự phát sinh do lỗi cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, tổ chức trong xã hội nhằm khắc phục, khôi phục lại tình trạng ban đầu hoặc mang tính chất đền bù một cách tương đối những tổn thất đã phát sinh nhưng không thể khôi phục lại hiện trạng ban đầu
Để yêu cầu bồi thường thiệt hại thì người bị thiệt hại phải chứng minh được đầy
đủ bốn (04) yếu tố cấu thành sau đây:
Một là, có hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác
Quyền lợi ở đây không chỉ giới hạn là các quyền, lợi ích do các bên cam kết, thỏa thuận hợp pháp thông qua việc giao kết hợp đồng mà còn bao gồm các quyền được pháp luật quy định hoặc thừa nhận Pháp luật tôn trọng và bảo hộ sự tự do xác lập giao dịch nhưng với điều kiện sự tự do đó không được xâm phạm, ảnh hưởng đến lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khác trong xã hội Về nguyên tắc, mọi chủ thể trong xã hội có nghĩa vụ tôn trọng và không được làm tổn hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác Chủ thể nào có hành vi xâm phạm quyền, lợi ích của người khác, lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng thì sẽ bị
xử lý, bị áp dụng chế tài theo quy định của pháp luật và phải bồi thường thiệt hại nếu
có phát sinh thiệt hại trên thực tế
Hai là, có thiệt hại xảy ra trong thực tế Mục đích của bồi thường thiệt hại nhằm
đảm bảo rằng thiệt hại về vật chất sẽ được khắc phục, khôi phục lại như hiện trạng ban
Trang 13đầu; những mất mát, tổn thất về mặt tinh thần cũng sẽ được đền bù một cách tương xứng nhằm kịp thời động viên, chia sẻ với người bị thiệt hại Như vậy, không có thiệt hại thì không thể đặt ra vấn đề bồi thường thiệt hại
Ba là, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi xâm phạm quyền, lợi ích và thiệt hại
xảy ra Hành vi vi xâm phạm quyền, lợi ích là nguyên nhân chính, trực tiếp dẫn đến thiệt hại; thiệt hại xảy ra là hậu quả tất yếu của hành vi xâm phạm quyền, lợi ích mà không phải do bất kỳ nguyên nhân nào khác
Bốn là, lỗi của chủ thể thực hiện hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của
chủ thể khác Tùy thuộc vào loại quan hệ bồi thường thiệt hại mà yếu tố lỗi được xem
là yếu tố bắt buộc hay không
Đối với quan hệ bồi thường theo hợp đồng: Nội dung quyền, nghĩa vụ, các căn
cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường là do các bên trong quan hệ hợp đồng thỏa thuận xác lập Chính vì vậy, người bị thiệt hại có yêu cầu bồi thường thiệt hại phải chứng minh bên kia đã vi phạm những cam kết, điều khoản thỏa thuận trong hợp đồng và gây
ra thiệt hại cho mình Nghĩa vụ chứng minh không có lỗi thuộc về bên gây ra thiệt hại Tuy vậy, các bên có thể thoả thuận việc bồi thường thiệt hại phát sinh ngay cả khi không có lỗi
Đối với quan hệ bồi thường ngoài hợp đồng: Cơ sở xác lập nghĩa vụ, các căn cứ phát sinh trách nhiệm pháp lý không được các bên thỏa thuận trong hợp đồng (nếu có)
mà do pháp luật quy định Người bị thiệt hại được quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình phải bồi thường cho những thiệt hại đã phát sinh Lỗi là yêu cầu bắt buộc trong quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (trừ những trường hợp pháp luật quy định việc bồi thường khi không có lỗi) Nghĩa vụ chứng minh lỗi gây ra thiệt hại thuộc về bên có yêu cầu bồi thường thiệt hại
Như vậy, bồi thường thiệt hại là việc một bên chủ thể yêu cầu chủ thể có hành
vi vi phạm nghĩa vụ pháp lý (theo thỏa thuận hoặc quy định của pháp luật) và gây tổn hại (thiệt hại vật chất và/hoặc thiệt hại tinh thần) phải bồi thường cho những tổn thất
mà chủ thể đó phải gánh chịu
1.1.1.2 Khái niệm bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng
Khái niệm NTD trên thế giới được diễn giải, định nghĩa theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào quan điểm, truyền thống lập pháp, điều kiện kinh tế xã hội của
Trang 14quốc gia đó Trong pháp luật một số quốc gia như Liên minh Châu Âu, Canada, Nhật Bản, Trung Quốc thì NTD chỉ có thể là cá nhân nhưng một số quốc gia khác lại quy định NTD có thể bao gồm cả cá nhân và tổ chức như Ấn Độ, Malaysia, Thái Lan, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc)4 Quan niệm về NTD tuy có sự khác nhau trong luật pháp của mỗi nước trên thế giới, song quan điểm chung về NTD vẫn là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho các mục đích phi thương mại là tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức Mục đích của giao dịch chính là yếu tố để phân biệt NTD với chủ thể khác (khách hàng, thương nhân…) Vì thế, người mua hàng hoá, dịch vụ để bán lại hoặc để thực hiện các hoạt động thương mại khác sẽ không được coi là NTD
Từ khái niệm bồi thường thiệt hại, khái niệm NTD, có thể hiểu một cách khái quát về bồi thường thiệt hại cho NTD là việc người mua, người sử dụng hàng hoá, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đó phải bồi thường cho NTD về những thiệt hại do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ đã có hành vi xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của NTD và/hoặc hàng hoá, dịch vụ do họ sản xuất, cung ứng có khuyết tật và gây thiệt hại
1.1.2 Đặc điểm bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng
Bồi thường thiệt hại cho NTD trước hết là một loại quan hệ pháp luật dân sự nhưng có đặc thù, khác biệt nhất định Chính vì vậy, bồi thường thiệt hại cho NTD vừa
có những đặc điểm chung của quan hệ pháp luật dân sự và đồng thời có những điểm đặc trưng riêng:
- Thứ nhất, chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại trong quan hệ tiêu dùng
Như đã nêu, NTD được định nghĩa là người mua, người sử dụng hàng hóa,
dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh Do vậy, chủ thể chính trong quan hệ bồi thường thiệt hại cho NTD là NTD (bên có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại) và bên còn lại là tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (bên có trách nhiệm bồi thường thiệt hại)
4 Cục Quản lý cạnh tranh – Bộ Công thương, “Báo cáo nghiên cứu chuyên đề: So sánh luật bảo vệ người tiêu dùng một số nước trên thế giới – Bài học kinh nghiệm và đề xuất một số nội dung cơ quản quy định trong dự thảo luật bảo vệ người tiêu dùng của Việt Nam”, tr.14-23.
Trang 15NTD được coi là trung tâm của quan hệ tiêu dùng, là chủ thể mà quy định pháp luật về bảo vệ NTD hướng đến bảo vệ; NTD có thể là người mua, người sử dụng, có thể là tổ chức hoặc cá nhân Tuy nhiên, không phải mọi hành vi mua sắm, sử dụng hàng hóa, dịch vụ đều được coi là hành vi tiêu dùng và chủ thể thực hiện hành vi đó đều là NTD Để được coi là NTD thì phải xem xét trong bối cảnh, mối quan hệ nhất định Một người có thể là NTD trong mối quan hệ này nhưng lại không phải là NTD trong mối quan hệ khác Chính vì vậy, mặc dù quyền yêu cầu bồi thường được pháp luật ghi nhận cho NTD nhưng quyền này chỉ phát sinh trong những trường hợp cụ thể
Đó là khi NTD bị thiệt hại từ việc mua, sử dụng những hàng hóa, dịch vụ cụ thể của tổ chức, cá nhân kinh doanh cụ thể
Như vậy, đặc điểm chủ thể thực hiện quyền yêu cầu trong quan hệ bồi thường thiệt hại cho NTD có sự khác biệt so với các quan hệ bồi thường thiệt hại khác:
+ Bồi thường thiệt hại trong quan hệ dân sự thông thường: Bất kỳ chủ thể nào cũng có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, có thể là cả hai bên trong quan hệ hợp đồng hoặc bên thứ ba
+ Bồi thường thiệt hại theo Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa: Có thể là bất
kỳ chủ thể có hoạt động liên quan đến chất lượng sản phẩm, hàng hoá bao gồm NTD,
tổ chức, cá nhân kinh doanh, tổ chức đánh giá sự phù hợp, tổ chức nghề nghiệp, tổ chức bảo vệ quyền lợi NTD, cơ quan kiểm tra và cơ quan quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hoá…
- Thứ hai, cơ sở xác lập quan hệ bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng
Quyền được an toàn về sức khỏe, tính mạng, tài sản của NTD được pháp luật ghi nhận và bảo hộ Mọi chủ thể trong xã hội có trách nhiệm tôn trọng và không được xâm phạm quyền của NTD qua đó gây thiệt hại cho NTD Quyền của NTD và tương ứng với nó là trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không chỉ được xác lập trên cơ sở thoả thuận, giao kết hợp đồng mà còn được xác lập theo quy định của pháp luật Theo đó, hành vi sử dụng hàng hóa, dịch vụ chính là một trong những cơ sở làm phát sinh quyền và trách nhiệm giữa các bên, kể cả trong trường hợp NTD không có quan hệ hợp đồng với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
Trang 16Bồi thường thiệt hại cho NTD vừa có thể là bồi thường thiệt hại theo hợp đồng, nhưng cũng có thể là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Tuy vậy, xuất phát từ thực tiễn quan hệ tiêu dùng mà ở đó, NTD thường là bên yếu thế, bất bình đẳng, cân bằng trong giao kết hợp đồng Do đó, để loại trừ trường hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ dựa vào vị trí thống lĩnh, độc quyền thị trường, lợi dụng những yếu thế của NTD để xác lập những điều khoản có lợi cho tổ chức, cá nhân kinh doanh hoặc đưa ra những điều khoản tự cho phép mình có quyền hạn chế hoặc miễn trừ trách nhiệm đối với NTD; Nhà nước, thông qua công cụ pháp luật, can thiệp vào quan hệ này để lặp lại thế cân bằng, bảo vệ quyền lợi của NTD Sự can thiệp của Nhà nước được thể hiện thông qua việc quy định quyền cho NTD và quy định trách nhiệm tương ứng của tổ chức, cá nhân kinh doanh Khi thiệt hại phát sinh, NTD có quyền khởi kiện
tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đã gây ra thiệt hại cho NTD mà không phụ thuộc vào việc giữa NTD và tổ chức, cá nhân kinh doanh có tồn tại hợp đồng hay không, nội dung hợp đồng có quy định như thế nào Điều đó không có nghĩa, hợp đồng giữa NTD và tổ chức, cá nhân kinh doanh không có giá trị pháp ý Hợp đồng vẫn
có ý nghĩa quan trọng trong việc chứng minh sự tồn tại giao dịch giữa NTD và tổ chức, cá nhân kinh doanh, đặc biệt là trong tình huống không xác định được nhà sản xuất, nhà phân phối, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ Tuy nhiên, nội dung của hợp đồng, tức quyền và nghĩa vụ mà các bên đã thỏa thuận xác lập trước đó, nếu không phù hợp với quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD cũng sẽ không phát sinh hiệu lực pháp lý Quy định pháp luật về bảo vệ NTD vẫn là cơ sở có ý nghĩa quan trọng, mang tính quyết định, được áp dụng để giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại cho NTD Sự can thiệp của Nhà nước thông qua quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD nhằm tác động, điều chỉnh quan hệ tư giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh và NTD cũng chính là điểm đặc thù của quan hệ tiêu dùng
Như vậy, cơ sở xác lập quan hệ bồi thường thiệt hại cho NTD không đơn thuần dựa trên cơ sở là hợp đồng giữa NTD với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch
vụ mà còn được xác lập dựa trên cơ sở quy định của pháp luật bao gồm: (i) Tổ chức,
cá nhân có hành vi xâm phạm quyền, lợi ích của NTD; (ii) tổ chức, cá nhân vi phạm quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD, gây thiệt hại cho NTD và (iii) NTD sử dụng hàng hoá, dịch vụ và bị thiệt hại Trong khi đó, cơ sở xác lập quan hệ bồi thường
Trang 17thiệt hại của một số loại quan hệ tư có những điểm khác biệt so với quan hệ bồi thường thiệt hại cho NTD Ví dụ: Theo Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa thì quan
hệ bồi thường thiệt hại chỉ có thể được xác lập trên cơ sở quan hệ hợp đồng Chính vì vậy, chỉ có người mua hàng hóa mới có quyền khởi kiện tổ chức, cá nhân kinh doanh
để yêu cầu bồi thường thiệt hại
- Thứ ba, bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng được xem xét giải quyết theo
cơ chế pháp lý đặc thù
Quyền của NTD được tôn trọng, được bảo đảm thực hiện thông qua việc quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Đối ứng với quyền của NTD là “trách nhiệm” của tổ chức, cá nhân kinh doanh mà không phải là
“nghĩa vụ” Theo pháp luật dân sự, nghĩa vụ được định nghĩa “là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (bên có nghĩa vụ) phải thực hiện việc chuyển giao tài sản, quyền…thực hiện công việc khác hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc chủ thể khác (bên có quyền)”5 Bản thân nội hàm “nghĩa vụ” không bao gồm chế tài nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ những việc phải làm theo thỏa thuận, theo quy định của pháp luật Vì vậy, nếu một người cho rằng mình bị thiệt hại do bên kia không thực hiện đúng nghĩa vụ thì người
bị thiệt hại phải chứng minh đầy đủ các yếu tố: Hành vi vi phạm nghĩa vụ; thiệt hại; mối quan hệ nhân quả hành vi – thiệt hại; và lỗi của người gây thiệt hại Trong đó, lỗi
là yếu tố tâm lý bên trong của con người, là nhận thức, thái độ của con người đối với hành vi gây thiệt hại của chính họ Việc chứng minh yếu tố lỗi được đánh giá là khó khăn, phức tạp nhất, không chỉ với bên có yêu cầu bồi thường thiệt hại mà còn là khó khăn đối với cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp Trong quan hệ tiêu dùng, việc chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh càng là bài toán nan giải đối với NTD vì rất khó để tiếp cận thông tin thật về chất lượng hàng hóa, dịch vụ Sự hạn chế
về kiến thức chuyên ngành, khả năng tiếp cận những thông tin được coi như bí mật kinh doanh của tổ chức, cá nhân kinh doanh không cho phép NTD có thể tự mình thẩm định chất lượng nguyên liệu đầu vào, công thức sản xuất, pha chế sản phẩm, quy trình sản xuất, bảo quản sản phẩm, hàng hóa để có thể nhận biết, chứng minh những nguyên
5
Điều 280 BLDS năm 2005
Trang 18nhân mang yếu tố chủ quan trong việc làm phát sinh khuyết tật của hàng hoá Chính vì vậy, trong quan hệ bồi thường thiệt hại cho NTD thì lỗi không còn là yếu tố cấu thành bắt buộc NTD đã được giải phóng khỏi nghĩa vụ chứng minh lỗi gây ra thiệt hại của
tổ chức, cá nhân kinh doanh
Ngoài ra, đặc thù của phần lớn quan hệ tiêu dùng là có tính chất riêng lẻ, giá trị nhỏ nhưng quy mô của thị trường tiêu dùng rất rộng lớn, liên quan đến rất nhiều NTD, nếu giải quyết các tranh chấp phát sinh từ quan hệ tiêu dùng theo trình tự, thủ tục tố tụng chung, các vụ kiện riêng lẻ sẽ làm mất rất nhiều thời gian, chi phí, công sức của NTD, của cơ quan tố tụng; không khuyến khích NTD lên tiếng tố giác hành vi kinh doanh bất chính, cạnh tranh không lành mạnh trong nền kinh tế Chính vì vậy, pháp luật của nhiều nước trên thế giới có những quy định đặc thù theo hướng tạo điều kiện thuận lợi để NTD tự bảo vệ quyền lợi của họ một cách hiệu quả nhất như hình thức khởi kiện tập thể; giải quyết vụ việc theo trình tự đơn giản, rút gọn; NTD không phải nộp tạm ứng án phí khi thực hiện quyền khởi kiện…
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho NTD được mặc định cho tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ ngay cả trong trường hợp chủ thể này không có lỗi trong việc tạo ra khuyết tật, gây thiệt hại cho NTD Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh chỉ được loại trừ nếu chủ thể này chứng minh họ thoả mãn các điều kiện miễn trừ theo quy định pháp luật NTD có quyền lựa chọn bất kỳ chủ thể nào trong chuỗi sản xuất, cung ứng, kinh doanh, phân phối hàng hoá, dịch vụ để thực hiện việc khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại do việc sử dụng hàng hoá, dịch vụ gây ra
1.2 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của tổ chức, cá nhân kinh doanh
Nhà nước, thông qua công cụ pháp luật, bảo vệ quyền lợi của NTD bằng việc ghi nhận những quyền mà NTD được thụ hưởng Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở việc quy định quyền của NTD mà không có quy định pháp luật để xác định chủ thể có trách nhiệm tương ứng, không có cơ chế để NTD thực hiện quyền của mình thì quyền của NTD chỉ mang tính tuyên ngôn, không có giá trị thực tiễn Quyền của NTD chỉ được hiện thực hóa bằng những quy định ràng buộc trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ
Trang 191.2.1 Khái quát trách nhiệm bồi thường thiệt hại của tổ chức, cá nhân kinh doanh
Cơ sở lý luận, thực tiễn của quy định mang tính áp đặt trách nhiệm đối với nhà sản xuất hàng hóa, dịch vụ xuất phát từ quan điểm về sự công bằng, hợp lý: Nhà sản xuất tạo ra hàng hoá, dịch vụ biết và/hoặc buộc phải biết về chất lượng của hàng hoá, dịch vụ và phải chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà sản xuất gắn liền với hàng hoá, dịch vụ và phát sinh kể từ thời điểm hàng hoá, dịch vụ được đưa vào lưu thông trên thị trường Cùng với sự phát triển mạnh mẽ kinh tế thị trường, nội dung trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho NTD cũng
có nhiều thay đổi Sự tham gia của nhiều chủ thể trung gian, làm cầu nối giữa nhà sản xuất với NTD nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận đã mở rộng phạm vi chủ thể của quan hệ tiêu dùng nói chung, quan hệ bồi thường thiệt hại cho NTD nói riêng Những chủ thể trung gian này cũng phải chịu trách nhiệm đối với hàng hoá, dịch vụ như nhà sản xuất Chế định pháp lý này còn được biết đến với thuật ngữ “trách nhiệm sản phẩm” Trách nhiệm sản phẩm đòi hỏi tổ chức, cá nhân kinh doanh phải thực hiện nghĩa vụ cẩn trọng một cách đầy đủ, nghiêm túc trong quá trình sản xuất, kinh doanh hàng hóa vì lợi ích chính đáng của NTD Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ phải bồi thường thiệt hại cho NTD nếu có căn cứ xác định hàng hóa, dịch vụ được sản xuất, vận chuyển, bảo quản cẩu thả, không đảm bảo chất lượng, gây mất an toàn cho NTD Nghĩa vụ cẩn trọng thể hiện mức độ quan tâm của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với khả năng gây ra thiệt hại của sản phẩm nếu đưa vào lưu thông trên thị trường Tổ chức, cá nhân kinh doanh bị coi là là thiếu sự cẩn trọng cần thiết nếu biết hoặc buộc phải biết về khả năng gây ra thiệt hại của sản phẩm nhưng đã cố ý bỏ qua hoặc không thực hiện đầy đủ các giải pháp khắc phục, hạn chế thiệt hại
Nghĩa vụ cẩn trọng của tổ chức, cá nhân kinh doanh được xác định dựa trên cơ
sở suy đoán Tổ chức, cá nhân kinh doanh bị coi là thiếu sự cẩn trọng nếu tại cùng một thời điểm, hàng hoá, dịch vụ do họ sản xuất, kinh doanh phát sinh những yếu tố gây hại cho NTD mà những yếu tố này đã được nhận biết và khắc phục bởi nhà sản xuất, cung ứng hàng hóa tương tự trong điều kiện và hoàn cảnh tương tự Ngoài ra, nghĩa vụ cẩn trọng còn được đo lường bằng những quy định, tiêu chuẩn về chất lượng, vệ sinh,
an toàn thực phẩm, đo lường… do chính tổ chức, cá nhân kinh doanh tự đặt ra và/hoặc
do Nhà nước quy định và buộc tổ chức, cá nhân kinh doanh phải tuân thủ Theo đó, tổ
Trang 20chức, cá nhân kinh doanh bị suy đoán là vi phạm nghĩa vụ cẩn trọng nếu hàng hóa, dịch vụ mà họ cung ứng ra thị trường không đạt chuẩn chất lượng so với tiêu chuẩn
mà họ đã công bố, cam kết hoặc không đạt chuẩn chất lượng so với quy chuẩn kỹ thuật
do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành Vì vậy, về cơ bản, khi thực hiện việc khởi kiện để yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh bồi thường thiệt hại thì NTD bắt buộc phải chứng minh được: (i) Nghĩa vụ của người sản xuất và sự vi phạm nghĩa vụ đó; (ii) thiệt hại; (iii) mối liên hệ giữa vi phạm đó với thiệt hại
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của phong trào bảo vệ quyền lợi NTD, nội dung chế định trách nhiệm sản phẩm đã có nhiều thay đổi Hiện nay, chế định trách nhiệm sản phẩm được pháp luật nhiều nước thừa nhận bao gồm 3 bộ phận cấu thành:
- Chế định bảo hành sản phẩm;
- Chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng khi nhà sản xuất có lỗi;
- Chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ngay cả khi nhà sản xuất, phân phối không có lỗi.6
Đối với chế định bảo hành sản phẩm: Sau khi đã mua hàng hóa và sử dụng, NTD nhận thấy hàng hóa không đáp ứng được các tiêu chí về tính năng, chất lượng mà người bán đã quảng cáo, mô tả, cam kết với NTD thì NTD có thể yêu cầu người bán đổi, trả lại hàng hoặc yêu cầu sửa chữa và đòi bồi thường thiệt hại Tuy nhiên, để thực hiện được quyền khiếu nại, khởi kiện trong trường hợp này thì NTD phải chứng minh được có quan hệ hợp đồng và có thỏa thuận điều kiện về bảo hành sản phẩm với bên bị khiếu nại, bị khởi kiện
Khác với chế định bảo hành sản phẩm, chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng khi nhà sản xuất có lỗi không đòi hỏi tiêu chí tồn tại quan hệ hợp đồng giữa NTD với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Để yêu cầu bồi thường, NTD phải chứng minh cho được yếu tố tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đã vi phạm nghĩa vụ cẩn trọng trong khâu thiết kế sản phẩm, trong quá trình sản xuất, kiểm tra chất lượng sản phẩm, không ghi đầy đủ những lời cảnh báo cần thiết Sự cẩu thả trong khâu sản xuất, cung ứng đã làm cho hàng hóa, dịch vụ không đảm bảo an toàn khi đưa vào lưu thông và gây ra thiệt hại cho NTD khi sử dụng nó Như vậy, chế định
6
Nguyễn Văn Cương (2005), “Vấn đề trách nhiệm sản phẩm trong pháp luật Việt Nam”, Thông tin Khoa học Pháp lý, tr.46.
Trang 21bồi thường này buộc NTD phải chứng minh được sự cẩu thả (lỗi) của nhà sản xuất trong việc tạo ra khuyết tật của hàng hóa, dịch vụ
Nghĩa vụ chứng minh lỗi là nghĩa vụ rất khó thực hiện nhất và trong nhiều trường hợp là bất khả thi như đã nêu ở trên Pháp luật nhiều nước quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho NTD ngay cả khi tổ chức, cá nhân kinh doanh không
có lỗi trong việc tạo ra khuyết tật của hàng hóa, dịch vụ Chế định trách nhiệm này còn được gọi là trách nghiệm nghiêm ngặt, phát sinh trên cơ sở hàng hóa, dịch vụ có khuyết tật và gây thiệt hại cho NTD mà không đòi hỏi NTD phải chứng minh sự tồn tại quan hệ hợp đồng trước đó với tổ chức, cá nhân kinh doanh cũng như không phải chứng minh sự tồn tại của yếu tố lỗi gây ra thiệt hại của tổ chức, cá nhân kinh doanh
Tại Việt Nam, khi nền kinh tế chuyển đổi từ mô hình kinh tế kế hoạch hoá sang nền kinh tế thị trường thì vấn đề nhà sản xuất phải chịu trách nhiệm trước NTD về chất lượng sản phẩm, hàng hóa chính thức được ghi nhận trong văn bản pháp luật BLDS năm 1995 có quy định “cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác sản xuất, phân phối do không bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, các hàng hoá khác mà gây thiệt hại cho người tiêu dùng, thì phải bồi thường”.7
Quy định này tiếp tục được BLDS năm 2005 kế thừa và phát triển theo hướng “cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác sản xuất, phân phối không bảo đảm chất lượng hàng hoá mà gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì phải bồi thường”.8
Có thể thấy rằng, việc pháp luật Việt Nam quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại như trên đồng nghĩa với quan điểm pháp luật đã bước đầu thừa nhận chế định trách nhiệm sản phẩm trong các giao dịch dân sự mua bán, sử dụng hàng hóa Đảm bảo hàng hóa đạt chuẩn chất lượng, an toàn cho NTD không chỉ đơn thuần là trách nhiệm của nhà sản xuất mà nó còn là trách nhiệm của các chủ thể kinh doanh trực tiếp cung ứng hàng hóa đến NTD như các nhà phân phối, đại lý, cửa hàng Những chủ thể này phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho NTD nếu có cơ sở cho rằng thiệt hại mà NTD phải gánh chịu là do lỗi của họ trong việc tạo ra sản phẩm không đạt chuẩn chất lượng, mất an toàn cho NTD Đây chính là xuất phát điểm quan trọng để Luật BVQLNTD kế thừa và phát triển sau này
Trang 22Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho NTD là một hình thức của trách nhiệm dân sự, là chế tài bất lợi mà tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ phải gánh chịu do có hành vi vi phạm những quy định mà pháp luật cấm thực hiện, qua đó gây thiệt hại cho NTD Ngoài ra, trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho NTD của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ còn được xác lập gắn liền với hàng hoá, dịch vụ mà họ là người sản xuất, đưa vào lưu thông trên thị trường Theo đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho NTD sẽ phát sinh nếu hàng hoá, dịch vụ có khuyết tật
và gây ra thiệt hại cho NTD kể cả trong trường hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh không
có lỗi trong việc làm phát sinh khuyết tật
1.2.2 Đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại của tổ chức, cá nhân kinh doanh
- Thứ nhất, chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng
Trong giao dịch dân sự, nguyên tắc thiện chí, trung thực của các bên chủ thể tham gia luôn được pháp luật dân sự đề cao Nguyên tắc này được đặt ra nhằm đảm bảo một giao dịch công bằng, đem lại lợi ích hài hòa cho các bên tham gia Quan hệ tiêu dùng cũng không ngoại lệ Người bán mong muốn bán được hàng hoá với giá cao, chi phí thấp nhất trong khi đó, người mua luôn mong muốn sở hữu hàng hoá đó với giá
cả hợp lý nhất Lợi ích của tổ chức, cá nhân kinh doanh và lợi ích của NTD luôn có sự xung đột nhưng là mâu thuẫn biện chứng Nếu lợi ích, sự hài lòng của NTD được coi trọng, là mục tiêu hướng đến của hoạt động sản xuất, kinh doanh thì chắc chắn lợi ích của tổ chức, cá nhân kinh doanh đạt được tối ưu nhất, phát triển kinh doanh vững chắc, lâu dài Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh gắn liền với hàng hóa, dịch vụ
và hành vi tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ của NTD mà không phụ thuộc vào việc có hay không thỏa thuận trước (hợp đồng) với NTD cụ thể Khi hàng hóa, dịch vụ có khuyết tật và gây thiệt hại cho NTD thì trách nhiệm trước hết thuộc về nhà sản xuất Nhà sản xuất được hiểu theo hướng mở rộng, có thể là người sản xuất ra một sản phẩm hoàn chỉnh, hoặc thành phần, bộ phận cấu thành sản phẩm; người nhận mình là nhà sản xuất bằng cách gắn tên, nhãn hiệu của mình lên sản phẩm; nhập khẩu sản phẩm vào nước mình để bán cho người khác; người đã cung cấp sản phẩm khi mà sản phẩm ấy không xác định được ai là người sản xuất.9
9
Nguyễn Văn Cương (2005), tlđd 6 , tr.52
Trang 23Trong kinh tế thị trường, trước yêu cầu tập trung nguồn lực phát triển để tăng cường năng lực cạnh tranh, đòi hỏi sự chuyên môn hóa trong từng khâu từ sản xuất, lưu thông đến phân phối hàng hóa thì quan hệ tiêu dùng truyền thống đã thay đổi Thực tế quan hệ tiêu dùng hiện nay cho thấy NTD thường không thiết lập giao dịch mua bán trực tiếp với nhà sản xuất (thông qua hợp đồng).10
Hệ thống phân phối, nhập khẩu chính là kênh đưa hàng hoá từ nhà sản xuất đến với NTD Sự thay đổi quan hệ tiêu dùng truyền thống đã mở rộng phạm vi chủ thể tham gia vào quan hệ tiêu dùng,
mở rộng phạm vi chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho NTD khi hàng hoá, dịch vụ có khuyết tật và vì thế quyền lợi NTD sẽ được đảm bảo toàn vẹn, thực thi hiệu quả hơn với nhiều phương án khiếu nại, khởi kiện để lựa chọn
- Thứ hai, thời điểm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng
Trong quan hệ tiêu dùng, việc xác định thời điểm lưu thông, thời điểm phát sinh khuyết tật của hàng hóa, dịch vụ có ý nghĩa rất quan trọng đối với tất cả các chủ thể tham gia vào chuỗi sản xuất, cung ứng kinh doanh hàng hoá, dịch vụ và đối với NTD Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh gắn liền với từng hàng hóa, dịch vụ cụ thể đã hoặc đang được đưa vào lưu thông trên thị trường Thời điểm lưu thông của hàng hóa được tính từ thời điểm nhà sản xuất tự nguyện từ bỏ quyền chiếm hữu của mình đối với hàng hóa.11 Nếu hàng hoá được đưa vào lưu thông trái với ý muốn chủ quan của nhà sản xuất: Sản phẩm đang trong thời gian thử nghiệm, chưa được công bố công khai mà bị trộm cắp, thất lạc, bị nhái, bị làm giả… thì sản phẩm của nhà sản xuất
đó được coi là chưa được đưa vào lưu thông, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của NTD với nhà sản xuất có sản phẩm bị làm nhái, làm giả Thời điểm lưu thông của hàng hoá, dịch vụ chính là thời điểm làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà sản xuất nếu hàng hoá, dịch vụ có khuyết tật và gây thiệt hại cho NTD Ngoài
ra, thời điểm lưu thông của hàng hoá còn được Liên minh Châu Âu dùng làm cơ sở
Trang 24tính thời hiệu khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại cho NTD12 Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp hàng hoá, dịch vụ có phát sinh khuyết tật đều làm phát sinh trách nhiệm bồi thường của nhà sản xuất nếu họ chứng minh được rằng khuyết tật không tồn tại vào thời điểm hàng hoá, dịch vụ được chuyển giao cho phân phối, nhà nhập khẩu, nhà bán lẻ, nhà tiếp thị sản phẩm Thời điểm phát sinh khuyết tật trong trường hợp này là cơ sở dùng để chứng minh một trong những chủ thể của chuỗi sản xuất, kinh doanh sẽ không phải chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại phát sinh từ hàng hoá, dịch vụ có khuyết tật Mặc dù vậy, việc chứng minh thời điểm phát sinh khuyết tật chỉ mang ý nghĩa miễn trừ trách nhiệm bồi thường trong “nội bộ” những chủ thể trực tiếp tham gia chuỗi sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có khuyết tật
- Thứ ba, yếu tố lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh
Đối với quan hệ bồi thường thiệt hại cho NTD thì yếu tố lỗi được tiếp cận theo phương pháp khác biệt so với quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thông thường Lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh được biểu hiện thông qua hành vi và sản phẩm hàng hoá, dịch vụ Yếu tố lỗi được tiếp cận theo phương thức suy đoán Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá dịch vụ được coi là có lỗi và phải bồi thường thiệt hại cho NTD nếu có hành vi vi phạm quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD và/hoặc hàng hoá có khuyết tật, gây thiệt hại Để được miễn trừ trách nhiệm bồi thường, tổ chức, cá nhân kinh doanh phải chứng minh được hành vi và/hoặc hàng hoá, dịch vụ gây thiệt hại cho NTD thoả mãn điều kiện để được loại trừ trách nhiệm theo quy định của pháp luật
Với chuỗi quan hệ sản xuất – tiêu dùng như hiện nay, nếu áp dụng pháp luật dân sự để xác định chủ thể phải chịu trách nhiệm cuối cùng đối với những thiệt hại của NTD có thể sẽ dẫn đến tình trạng phải giải quyết nhiều vụ việc liên quan để xác định người có lỗi gây ra thiệt hại, gây phiền hà, tốn kém cho các bên liên quan Chính vì vậy, khi phát sinh thiệt hại từ việc sử dụng hàng hoá, dịch vụ, NTD có thể yêu cầu bất
kỳ chủ thể nào trong chuỗi cung ứng hàng hoá, dịch vụ đó phải thực hiện việc bồi
12
Theo Chỉ thị 85/374/EEC của Châu Âu thì trừ trường hợp có lỗi, trách nhiệm của nhà sản xuất chỉ chấm dứt sau 10 năm kể từ ngày đưa sản phẩm vào lưu thông gây thiệt hại; Thời hiệu yêu cầu bồi thường thiệt hại của NTD là 03 năm kể từ ngày NTD biết hoặc đáng lẽ phải biết về khuyết tật của sản phẩm, thiệt hại do việc sử dụng sản phẩm.
Trang 25thường thiệt hại Tổ chức, cá nhân kinh doanh bị khiếu nại, bị khởi kiện không thể viện dẫn lý do họ không có lỗi gây ra thiệt hại để từ chối yêu cầu bồi thường thiệt hại cho NTD Việc chứng minh lỗi chỉ có ý nghĩa trong việc xác định nghĩa vụ bồi hoàn trong chuỗi quan hệ trước đó giữa nhà sản xuất với nhà phân phối, nhà nhập khẩu, giữa nhà nhập khẩu, nhà phân phối với người bán lẻ và chỉ thực hiện sau khi đã bồi thường thiệt hại cho NTD Nói cách khác, việc chứng minh lỗi của bị đơn không được coi là căn cứ giải phóng trách nhiệm (miễn trừ trách nhiệm) trước yêu cầu bồi thường thiệt hại của NTD
- Thứ tư, trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được miễn trừ, miễn giảm theo quy định của pháp luật
Nhà sản xuất phải là chủ thể chịu trách nhiệm trước hết đối với hàng hoá, dịch
vụ mà họ sản xuất, cung ứng ra thị trường Tuy nhiên khi thiết kế giải pháp này vẫn cần tính đến quyền lợi chính đáng, hài hòa của nhà sản xuất Không thể bảo vệ NTD
mà dẫn đến triệt tiêu hay hạn chế kinh doanh trên phạm vi xã hội Chính vì vậy, pháp luật nhiều quốc gia trên thế giới cũng quy định nhà sản xuất được miễn trừ trách nhiệm trong một số trường hợp nhất định Điển hình nhất phải kể đến Chỉ thị năm
1985 của Cộng đồng các quốc gia Châu Âu về trách nhiệm sản phẩm (được gọi tắt là Chỉ thị số 85/374/EEC ngày 25/7/1985) Tinh thần và những nội dung cơ bản của Chỉ thị này được các quốc gia thành viên thuộc EU nội luật hóa và cũng trở thành hình mẫu cho việc xây dựng Luật về trách nhiệm sản phẩm của nhiều quốc gia trên thế giới như Úc, Nhật Bản, Philippines, Indonesia, Malaysia Chỉ thị này nghiêm cấm hành
vi đưa vào hợp đồng những điều khoản nhằm giới hạn, miễn giảm trách nhiệm của nhà sản xuất đối với sản phẩm có khuyết tật Chỉ có một số trường hợp pháp luật quy định quyền miễn trừ cho nhà sản xuất đối với sản phẩm có khuyết tật:
+ Tổ chức, cá nhân kinh doanh đã không đưa sản phẩm vào lưu thông;
+ Khuyết tật gây ra thiệt hại không tồn tại vào thời điểm đưa sản phẩm vào lưu thông hoặc khuyết tật phát sinh sau đó;
+ Sản phẩm không dùng để bán hoặc để phân phối dưới các hình thức khác; + Trình độ khoa học kỹ thuật tại thời điểm đưa sản phẩm vào lưu thông không cho phép phát hiện ra khuyết tật sản phẩm;
Trang 26+ Khuyết tật là do phải tuân thủ các quy định bắt buộc của pháp luật.13
Có thể nhận thấy nhà sản xuất chỉ được xem xét hưởng quyền miễn trừ nghĩa
vụ bồi thường trong các trường hợp là nhà sản xuất chứng minh được khuyết tật phát sinh và gây ra thiệt hại cho NTD là ngoài tầm kiểm soát của họ và trước đó đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cẩn trọng cần thiết để dự báo, phát hiện và khắc phục những rủi
ro tiềm ẩn của hàng hoá, dịch vụ trong quá trình khai thác, sử dụng Bên cạnh đó chỉ thị cũng quy định trường hợp nhà sản xuất được xem xét giảm trách nhiệm nếu thiệt hại xảy ra do khuyết tật của hàng hóa đồng thời do lỗi của người bị thiệt hại
1.3 Cơ sở lý luận của quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng
1.3.1 Chính sách bảo vệ người tiêu dùng của Đảng và Nhà nước
Kinh tế thị trường đã và đang mang lại những thành tựu phát triển to lớn cho nền kinh tế, văn hoá xã hội Việt Nam Tuy nhiên, song hành với nó là những mặt trái, tiêu cực trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Qua việc tổng kết tình hình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước trong thời gian qua, Đảng ta đã nhận thức rất rõ những mặt trái của kinh tế thị trường đã, đang và sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế, xã hội Việt Nam Những bài học kinh nghiệm lớn đã được đúc kết trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân Những bài học
đó là: Phát triển nhanh nhưng phải bên vững; Phát triển kinh tế thị trường đồng thời với chăm lo ngày càng tốt hơn phúc lợi xã hội Càng đi vào kinh tế thị trường, càng phải chăm lo tốt hơn phúc lợi xã hội, giải quyết việc làm, xoá đói, giảm nghèo, phát triển giáo dục, văn hoá, chăm sóc sức khoẻ nhân dân Phát triển thị trường hàng hoá, dịch vụ theo hướng đẩy mạnh tự do hoá thương mại và đầu tư phù hợp với các cam kết song phương, đa phương của nước ta và theo thông lệ quốc tế; tạo bước phát triển mới, nhanh và toàn diện thị trường dịch vụ; thúc đẩy cạnh tranh, kiểm soát độc quyền, bảo
vệ lợi ích người tiêu dùng.14
Chính sách bảo vệ NTD đã được ghi nhận trong văn kiện Đại hội của Đảng và được Nhà nước thể chế hóa thành quy phạm pháp luật về bảo vệ NTD Hiến pháp năm
Trang 271992 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đạo luật cơ bản, có giá trị pháp
lý cao nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam quy định: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm”15 và “Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự”16 Đây là những quyền
cơ bản của công dân, được tổ chức triển khai, cụ thể hóa thành các quy định về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trên tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội
Ngoài ra, vấn đề bảo vệ quyền lợi của NTD được điều chỉnh bởi nhiều văn bản như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa; Luật Đo lường, Pháp lệnh Quảng cáo…Đặc biệt là sự ra đời của Pháp lệnh BVQLNTD năm
1999 Đây là văn bản pháp lý đầu tiên, trực tiếp điều chỉnh công tác bảo vệ NTD của Việt Nam Pháp lệnh ghi nhận quyền và nghĩa vụ của NTD, trách nhiệm của tổ chức,
cá nhân kinh doanh, trách nhiệm của tổ chức xã hội trong việc tham gia bảo vệ quyền lợi NTD; giải quyết tranh chấp giữa NTD và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ; trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng để NTD tự bảo vệ mình khi quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm
Sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với vấn đề bảo vệ NTD thể hiện bản chất của Nhà nước từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ; đồng thời thể hiện tính nhân văn, bảo vệ người yếu thế trong mối quan hệ dân sự không thật sự bình đẳng Mức độ phát triển và văn minh của một quốc gia không chỉ được đánh giá bằng tốc độ tăng trưởng của GDP, của thu nhập bình quân đầu người mà còn phụ thuộc vào giá trị công bằng và khả năng thực thi của pháp luật Một nền pháp chế văn minh phải ưu tiên bảo vệ kẻ yếu17 Đó là sự lý do cho thấy sự cần thiết phải có hệ thống pháp lý hoàn chỉnh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NTD một cách hiệu quả nhất
Nguyễn Như Phát (2003), “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật hợp đồng ở Việt Nam
hiện nay”, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr.10
Trang 281.3.2 Những yếu tố đặc thù trong quan hệ tiêu dùng
Về bản chất, quan hệ tiêu dùng là mang bản chất tư, các bên trong quan hệ có
sự độc lập về tổ chức và tài sản Vì vậy, xét về mặt lý luận, có thể sử dụng các quy định của BLDS, Luật TM để điều chỉnh quan hệ tiêu dùng Tuy nhiên, xét theo nhiều khía cạnh khác nhau, trong quan hệ tiêu dùng, NTD thường là bên yếu thế hơn so với
tổ chức, cá nhân kinh doanh Sự yếu thế của NTD được lý giải là do sự bất cân xứng
về am hiểu chuyên môn, tính chuyên nghiệp và khả năng gánh chịu rủi ro…
Trước hết, dưới góc độ tiếp cận thông tin Sự yếu thế của NTD được thể hiện trong khả năng tiếp cận thông tin thật về hàng hóa, dịch vụ trước khi quyết định thiết lập giao dịch, bao gồm thông tin thật về chất lượng, chức năng, giá cả, những rủi ro trong quá trình sử dụng hàng hóa, dịch vụ… Bởi lẽ vì mục tiêu lợi nhuận, mục tiêu cạnh tranh, tổ chức, cá nhân kinh doanh có xu hướng bỏ qua những yêu cầu về an toàn nhằm tránh chi phí cao hoặc bỏ qua những cảnh báo về sự nguy hại tiềm tàng của việc
sử dụng hàng hóa nhằm tránh việc giảm mức tiêu thụ chúng; song song đó, tổ chức, cá nhân kinh doanh thường chỉ giới thiệu những ưu điểm của hàng hóa, dịch vụ, thậm chí đưa ra thông tin quảng cáo sai lệch nhằm thuyết phục NTD lựa chọn mua, sử dụng sản phẩm của họ Về phía NTD, không phải ai cũng am hiểu chuyên môn về hàng hóa, dịch vụ mà họ lựa chọn để mua và sử dụng, không thể nhận biết những thông tin thật - giả, những khuyết tật, hạn chế của hàng hóa mà tổ chức, cá nhân kinh doanh đang cố ý che dấu, chính vì vậy trong nhiều trường hợp NTD đã đưa ra quyết định mua sắm, chọn lựa hàng hóa, dịch vụ không phù hợp với lợi ích của họ
Sự yếu thế của NTD còn được thể hiện ở khía cạnh khả năng đàm phán thương lượng nội dung của hợp đồng (cụ thể là thỏa thuận xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên) Vị trí thống lĩnh, độc quyền của nhiều tổ chức kinh doanh đối với một số lĩnh vực hàng hóa, dịch vụ thiết yếu cho cuộc sống khiến NTD không có nhiều sự lựa chọn Chấp nhận sử dụng hàng hóa, dịch vụ đó cũng đồng nghĩa chấp nhận những điều khoản đã được soạn sẵn với những bất lợi luôn thuộc về phía NTD Sự yếu thế, bất bình đẳng giữa NTD và tổ chức, cá nhân kinh doanh còn được thể hiện trong giai đoạn
“hậu” giao dịch, đó là khả năng gánh chịu rủi ro khi xảy ra tổn thất, thiệt hại từ việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ;
Trang 29Sự yếu thế của NTD chính là cội nguồn tạo nên sự bất bình đẳng trong mối quan hệ với tổ chức, cá nhân kinh doanh Do nhấn mạnh tới sự bình đẳng, nguyên tắc
tự do hợp đồng của các chủ thể tham gia quan hệ, BLDS và Luật TM sẽ trở nên không phù hợp để điều chỉnh quan hệ giữa một bên là tổ chức, cá nhân kinh doanh có tính chuyên nghiệp với bên còn là NTD tham gia giao dịch chỉ nhằm mục đích đơn thuần là tiêu dùng, sinh hoạt
Thêm vào đó, các tranh chấp giữa NTD với tổ chức, cá nhân kinh doanh có đặc thù là những tranh chấp nhỏ, đơn giản và cần được giải quyết nhanh chóng, thuận tiện cho NTD Tuy nhiên, những tranh chấp này lại được hiểu là các tranh chấp dân sự thông thường nên được xử lý theo các quy định pháp luật tố tụng dân sự hiện hành Cơ chế giải quyết tranh chấp này hoàn toàn không phù hợp vì quá phức tạp và tốn kém Đây là lý do chính dẫn đến việc NTD nước ta thường e ngại, không muốn khiếu nại, khởi kiện ra toà khi bị vi phạm quyền lợi Lợi dụng điều này, nhiều tổ chức, cá nhân kinh doanh thường xem nhẹ, thiếu ý thức bảo vệ quyền lợi NTD dẫn đến thiệt hại quyền lợi NTD và lợi ích chung của xã hội18
1.4 Sự cần thiết của quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng
1.4.1 Cơ sở pháp lý để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý xã hội
Pháp luật trước hết là công cụ để Nhà nước điều hành, quản lý xã hội theo ý chí của mình; là cơ sở pháp lý để tổ chức, cá nhân trong xã hội thực hiện quyền và nghĩa
vụ của mình; đồng thời là cơ sở để giải quyết tranh chấp phát sinh trong xã hội Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, ngày càng có nhiều doanh nghiệp Việt Nam mở rộng thị trường, đầu tư ra nước ngoài; đồng thời kinh tế Việt Nam cũng đón nhận làn sóng đầu tư, kinh doanh mạnh mẽ trên rất nhiều lĩnh vực của các nhà đầu tư nước ngoài Năng lực tài chính, công nghệ kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, kinh nghiệm về quản trị điều hành của nhà đầu tư nước ngoài
đã và đang góp phần làm thay đổi mạnh mẽ nền kinh tế Việt Nam theo hướng tích cực NTD trong nước đã có thêm nhiều có hội để tiếp xúc, hưởng thụ một thị trường hàng hóa, dịch vụ phong phú đa dạng, chất lượng cao, giá cả phù hợp, đáp ứng đầy đủ nhu
18
Tờ trình số 45/TTr- CP ngày 04/5/2010 của Chính phủ về dự án Luật BVQLNTD
Trang 30cầu giải trí, tiêu dùng…bên cạnh đó, những yếu tố tiêu cực cũng xuất hiện đan xen Tính chất cạnh tranh khốc liệt để tồn tại trong nền kinh tế thị trường khắc nghiệt đã khiến không ít tổ chức, cá nhân kinh doanh sử dụng thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh, xâm phạm quyền lợi NTD nhằm tối ưu hóa lợi nhuận cho mình Thế và lực của NTD không cho phép NTD có thể tự bảo vệ mình trong quan hệ với tổ chức, cá nhân kinh doanh Những quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại cho NTD sẽ là cơ sở
để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của NTD một cách công bằng, công khai, minh bạch ngay khi có yêu cầu bồi thường thiệt hại của NTD Ghi nhận và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân còn là thể hiện tính nhân văn trong hoạt động quản lý xã hội của Nhà nước, thể hiện bản chất một Nhà nước pháp quyền, Nhà nước của dân, do dân và vì dân
1.4.2 Cơ sở pháp lý để người tiêu dùng tự bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp
Quan hệ tiêu dùng với bản chất là quan hệ tư nhưng lại mang trong nó những yếu tố bất bình đẳng, bất cân xứng cả về thế lẫn lực giữa các chủ thể Những tranh chấp của NTD thường có giá trị nhỏ, đơn giản và cần được giải quyết nhanh chóng, thuận tiện cho NTD Tuy vậy, tranh chấp giữa NTD và tổ chức, cá nhân kinh doanh được hiểu là các tranh chấp dân sự thông thường nên được xử lý theo các quy định hiện hành của pháp luật tố tụng dân sự Việc áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành để giải quyết các khiếu nại, tranh chấp của NTD là không phù hợp thực tiễn, phức tạp và tốn kém cho NTD Đây là lý do chính dẫn đến việc NTD nước ta thường không khiếu nại, khởi kiện ra toà khi bị vi phạm quyền lợi Các quy định về bảo vệ NTD còn mang tính tuyên ngôn, chưa có những cơ chế cụ thể, đơn giản, hiệu quả để NTD thực hiện các quyền của mình Chính vì vậy công tác bảo vệ quyền lợi NTD còn gặp nhiều khó khăn
Thực tiễn công tác bảo vệ quyền lợi NTD đã đặt ra những vấn đề mà Nhà nước phải giải quyết Sự can thiệp của Nhà nước vào quan hệ tiêu dùng (thông qua quy định pháp luật) không nhằm triệt tiêu động lực của hoạt động sản xuất, kinh doanh mà chỉ đơn thuần nhằm tạo ra sự cân bằng, bình đẳng về mặt pháp lý giữa các chủ thể trong quan hệ tiêu dùng Nhà nước tạo ra cơ sở, công cụ pháp lý để NTD tự bảo vệ quyền lợi của mình mà không phải đại diện, thay mặt NTD để yêu cầu hoặc khởi kiện tổ chức,
cá nhân kinh doanh phải bồi thường thiệt hại NTD Nhà nước ghi nhận các quyền của
Trang 31NTD trên cơ sở đảm bảo quyền công dân được Hiến pháp, pháp luật Việt Nam ghi nhận và phù hợp với pháp luật, thông lệ quốc tế về bảo vệ Những quy định về quyền
mà Nhà nước ghi nhận cho NTD là những giá trị lợi ích chính đáng mà NTD được hưởng và được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước
Đó là những quy định về cách thức, trình tự, thủ tục tiếp nhận, giải quyết yêu cầu của NTD; là những quy định về trách nhiệm, thẩm quyền của cơ quan quản lý Nhà nước
và cơ quan tài phán, cơ quan thi hành án và các thiết chế hỗ trợ khác trong việc tiếp nhận và giải quyết yêu cầu, tranh chấp của NTD
1.4.3 Cơ sở pháp lý ràng buộc hoạt động kinh doanh của tổ chức, cá nhân với trách nhiệm xã hội
Trong môi trường cạnh tranh để tồn tại và phát triển ngày càng khốc liệt, để tìm kiếm lợi nhuận và tối đa hóa lợi nhuận, một số tổ chức, cá nhân kinh doanh đã bất chấp thủ đoạn, xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NTD Trong bài viết của mình liên quan đến vấn đề bảo vệ NTD, TS.Nguyễn Như Phát đã từng có nhận định rằng “cứ có 300% lợi nhuận thì các nhà “tư bản” sẵn sàng treo cổ mình lên
và vì vậy, họ cũng sẵn sàng “khuyến mại” cho khách hàng và người tiêu dùng những cạm bẫy pháp lý và kỹ thuật và thậm chí còn cả những thứ độc hại”19
Quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD nói chung, về bồi thường thiệt hại cho NTD nói riêng đóng vai trò là bộ lọc, ngăn chặn hành vi xâm phạm quyền lợi NTD, buộc tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ phải có trách nhiệm đối với xã hội, cộng đồng NTD, lấy lợi ích, sự hài lòng của NTD làm tôn chỉ, mục đích của hoạt động sản xuất, kinh doanh; tự động nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa thay vì chỉ thực hiện thao tác tiêu cực là đưa các khoản mà họ phải bồi thường thiệt hại cho NTD vào giá thành hàng hóa Tổ chức, cá nhân kinh doanh phải chịu trách nhiệm về chất lượng, sự
an toàn của hàng hóa, dịch vụ mà họ đưa vào lưu thông trên thị trường; đồng thời phải
có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho NTD khi hàng hóa, dịch vụ gây ra thiệt hại cho NTD trong quá trình sử dụng NTD được xác định là trung tâm, động lực của hoạt động sản xuất, kinh doanh Sự tín nhiệm của NTD chính là cơ sở đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển bền vững của tổ chức, cá nhân kinh doanh Ở tầm vĩ mô, hoạt động
19
Nguyễn Như Phát (2010), tlđd 10, tr.24
Trang 32tiêu dùng mạnh mẽ, sôi động của NTD sẽ đẩy nhanh quá trình lưu thông hàng hóa, dịch vụ trên thị trường, tạo động lực cho hoạt động tái sản xuất, qua đó góp phần làm tăng trưởng kinh tế quốc gia, các vấn đề văn hóa, xã hội cũng sẽ được cải thiện theo hướng văn minh, hiện đại, tốt đẹp hơn Mối quan hệ về lợi ích giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh với NTD là quan hệ mâu thuẫn biện chứng Chính sách tiêu dùng tốt, quan tâm lợi ích của NTD sẽ nhận được sự tin tưởng, ủng hộ của NTD; góp phần củng cố
và mở rộng thương hiệu; đảm bảo một nền tảng vững bền cho sự tồn vong, phát triển của tổ chức, cá nhân kinh doanh Ngược lại, với những tổ chức, cá nhân kinh doanh muốn tối đa hóa lợi nhuận, bất chấp thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh, vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của NTD sẽ sớm bị NTD tẩy chay Sức mạnh thị trường chính là vũ khí hiệu quả loại bỏ những tổ chức, cá nhân kinh doanh bất chính, coi thường quyền và lợi ích hợp pháp của NTD
Ngoài sức mạnh thị trường thì phải kể đến công cụ khác có chức năng bảo vệ NTD rất hiệu quả đó là pháp luật Pháp luật bảo vệ NTD được xem như một trong những rào cản kỹ thuật, chọn lọc những tổ chức, cá nhân kinh doanh chân chính, có trách nhiệm với xã hội, đảm bảo các quyền lợi ích chính đáng của NTD Pháp luật cũng đồng thời có những chế tài đặc thù, răn đe, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân kinh doanh Theo quy định hiện hành, các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ NTD có thể phải chịu chế tài dân sự (bồi thường thiệt hại), hành chính
và thậm chí là chế tài hình sự (nếu hành vi cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự) Chế tài của pháp luật là hậu quả pháp lý bất lợi đối với chủ thể có hành
vi vi phạm pháp luật về bảo vệ NTD, đồng thời còn mang ý nghĩa răn đe, giáo dục, ngăn ngừa hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của NTD đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm quyền lợi của NTD Tổ chức, cá nhân kinh doanh phải tự giác nhận thức trách nhiệm xã hội của mình trong hoạt động sản xuất kinh doanh Hiệu quả kinh doanh chỉ có thể đạt được bền vững, ổn định nếu tổ chức, cá nhân kinh doanh hài hòa được lợi nhuận của mình với lợi ích của NTD, hạn chế đến mức thấp nhất những tranh chấp liên quan đến chất lượng hàng hòa, chất lượng phục vụ khách hàng
Trang 331.4.4 Cơ sở pháp lý để các tổ chức xã hội hoạt động và thực hiện chức năng bảo vệ người tiêu dùng
Kinh nghiệm trong công tác bảo vệ NTD của nhiều nước trên thế giới cho thấy, vai trò của các tổ chức bảo vệ NTD là hết sức quan trọng, góp phần quyết định vào sự thành công của công tác này
Ở Việt Nam, các tổ chức bảo vệ NTD ra đời tương đối sớm và góp phần rất lớn vào hoạt động bảo vệ NTD Các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng được thành lập nhằm thực hiện vai trò thay mặt Nhà nước hỗ trợ, đồng hành tiếp sức cho người tiêu dùng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của họ một cách hiệu quả nhất Tuy nhiên, cho đến nay, các tổ chức bảo vệ NTD vẫn hoạt động chưa hiệu quả, mang nặng tính hình thức, do đó chưa thể đáp ứng được yêu cầu trong công tác bảo vệ NTD trong tình hình mới Nguyên nhân được nêu ra là thiếu kinh phí hoạt động do không thể yêu cầu hội viên (là tất cả NTD) đóng góp nhưng lại chưa có cơ chế hỗ trợ từ phía Nhà nước Sự bất cập của các quy định pháp luật hiện hành cũng là nguyên nhân làm giảm
sự hiệu quả hoạt động của các tổ chức bảo vệ NTD Do vậy, để hoạt động của các tổ chức bảo vệ NTD thực chất hơn, hiệu quả hơn cần có những quy định cho phép tổ chức bảo vệ NTD được thực hiện quyền đại diện cho NTD trong giải quyết tranh chấp liên quan đến yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại với tổ chức, cá nhân kinh doanh, đồng thời có cơ chế hỗ trợ kinh phí, tạo nguồn thu ổn định để các tổ chức này yên tâm hoạt động
Trang 34TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Cơ chế bảo vệ quyền lợi NTD được cấu thành bởi cơ chế bồi thường thiệt hại cho NTD, cơ chế hành chính và cơ chế hình sự Nếu như cơ chế hành chính, cơ chế hình sự thể hiện mối quan hệ một chiều quyền lực – phục tùng giữa Nhà nước với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi vi phạm pháp luật về tiêu dùng, các chế tài mang tính trừng phạt, răn đe, không đem lại giá trị lợi ích về mặt kinh tế cho NTD thì cơ chế
về bồi thường thiệt hại cho NTD lại rất thiết thực cho NTD vì mang tính chất bù đắp, khắc phục, khôi phục lại những giá trị lợi ích kinh tế mà NTD bị thiệt hại do hành vi vi
vi phạm của tổ chức, cá nhân kinh doanh
Quan hệ tiêu dùng vốn mang tính bất bình đẳng với sự yếu thế luôn thuộc về phía NTD và vì vậy quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD nói chung và quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại cho NTD nói riêng cần thiết phải được xây dựng dựa trên tính chất đặc thù của quan hệ tiêu dùng Mặc dù có rất nhiều văn bản pháp luật quy định về bảo vệ quyền lợi NTD, về bồi thường thiệt hại cho NTD, nhưng những quy định còn mang tính hình thức hơn là tính thực tiễn, các quy định hiện hành còn nhiều bất cập và việc áp dụng trên thực tế cũng không đúng quy định pháp luật đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp chính đáng của NTD Thực trạng về vấn đề này sẽ được tác giả đề cập, phân tích và đánh giá thông qua nội dung được trình bày ở Chương 2 của luận văn này
Trang 35CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CHO NGƯỜI TIÊU DÙNG VÀ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
2.1 Thực trạng quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng
2.1.1 Quy định pháp luật về chủ thể yêu cầu bồi thường thiệt hại
Như đã nêu tại Chương 1 thì NTD và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là chủ thể chính của quan hệ tiêu dùng, trong đó chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo cơ chế pháp lý đặc thù của Luật BVQLNTD chỉ có thể là NTD
Định nghĩa về NTD quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật BVQLNTD là sự kế thừa quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD trước đó20 NTD bao gồm người mua (người trực tiếp giao kết hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ với tổ chức, cá nhân kinh doanh), người sử dụng (bao gồm cả những người thụ hưởng hàng hóa, dịch vụ do được người khác chuyển giao quyền sử dụng) Người mua không luôn là người sử dụng duy nhất và cuối cùng, họ có thể chuyển giao quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu cho một chủ thể khác Tuy vậy, thuật ngữ “người mua”, “người sử dụng” dẫn tới nhiều cách hiểu khác nhau
Quan điểm thứ nhất cho rằng NTD chỉ bao gồm NTD cá nhân cần được bảo vệ Việc thu hẹp đối tượng bảo vệ của Luật BVQLNTD là cơ sở để Nhà nước có thêm điều kiện tập trung nguồn lực vốn không dồi dào của mình cho việc bảo vệ nhóm NTD yếu thế nhất và cần được bảo vệ nhất là NTD cá nhân Xét về nhiều mặt, tổ chức trước hết là một thể người, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có năng lực tài chính, có am hiểu về nhiều lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, có khả năng đàm phán, thương lượng Do vậy,
tổ chức không còn là bên yếu thế như những cá nhân riêng lẻ trong mối quan hệ với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa Đặt ra vấn đề bảo vệ chủ thể là các tổ chức trong quan hệ tiêu dùng là không cần thiết
Quan điểm thứ hai thì cho rằng, nếu xét ở phương diện tiêu dùng, chỉ hiểu NTD
là cá nhân là hoàn toàn bất hợp lý Trong bối cảnh kinh tế thị trường hiện nay, một tổ chức, cá nhân vẫn có thể tự mình tạo ra một sản phẩm hoàn chỉnh để tiêu dùng hoặc
20
Điều 1 Pháp lệnh BVQLNTD: “Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức”