ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC ĐỖ THỊ ÁNH TUYẾT PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH THÔNG QUA SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PHẦN PHI KIM HÓA HỌC LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LUẬN VĂN THẠ[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HÓA HỌC
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu, đề tài: “Phát triển năng lực tự học của học
sinh thông qua sử dụng hệ thống bài tập phần phi kim hoá học lớp 10 Trung học phổ thông” đã được hoàn thành.
Tác giả xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất đến Ban Giám hiệu trường Đạihọc Giáo dục – ĐHQG Hà Nội, Khoa Sau đại học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi đểkhóa học được hoàn thành tốt đẹp
Cùng với các học viên lớp Cao học K9 Lý luận và phương pháp dạy học Bộmôn Hóa học, chân thành cảm ơn quý thầy cô giảng viên đã tận tình giảng dạy, mởrộng và làm sâu sắc kiến thức chuyên môn, đã chuyển những hiểu biết hiện đại củanhân loại về Giáo dục học Hóa học đến cho chúng tôi
Đặc biệt, tôi chân thành cảm ơn PGS.TS Phạm Văn Nhiêu, thầy đã khôngquản ngại thời gian và công sức, hướng dẫn tận tình và vạch ra những định hướngsáng suốt giúp tác giả hoàn thành luận văn
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô ở các trường THPT PhúXuyên B, THPT Phú Xuyên A cũng như quý thầy cô và bạn bè, đồng nghiệp củanhiều trường THPT trong và ngoài địa bàn TP Hà Nội đã có nhiều giúp đỡ trong quátrình thực nghiệm sư phạm đề tài
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, bạn bè thân thuộc đã luôn là chỗ dựa tinhthần vững chắc, giúp tác giả hoàn thành luận văn này
Trang 4SBT Phương trình hoá học Sách bài tập
SGK Sách giáo khoa
TCVN Tiêu chuẩn Việt NamTHCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thongTNKQ Trắc nghiệm khách quanTNSP Thực nghiệm sư phạmTNTL Trắc nghiệm tự luận
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC BẢNG, DANH MỤC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC TỰ HỌC VÀ BÀI TẬP HOÁ HỌC 5
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5
1.1.1 Quan điểm và tư tưởng về tự học trên thế giới 5
1.1.2 Quan điểm và tư tưởng về tự học trong lịch sử giáo dục Việt Nam 6
1.1.3 Quan điểm và tư tưởng về tự học đối với nhà hóa học 7
1.1.4 Một số luận văn thạc sĩ khoa học, tiến sĩ khoa học 7
1.2 Đổi mới phương pháp dạy học 8
1.2.1 Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học 8
1.2.2 Các xu hướng đổi mới phương pháp dạy học 9
1.3 Năng lực tự học 10
1.3.1 Khái niệm năng lực 10
1.3.3 Các hình thức của tự học 11
1.3.4 Chu trình tự học 12
1.3.5 Vai trò của tự học 15
1.4 Bài tập hóa học 16
1.4.1 Khái niệm bài tập hóa học 16
1.4.2 Tác dụng của bài tập hóa học 17
1.4.2.1 Ý nghĩa trí dục 17
1.4.2.2 Ý nghĩa phát triển 18
1.4.3 Phân loại bài tập hóa học 18
1.4.4 Hoạt động của học sinh trong quá trình tìm kiếm lời giải cho bài tập hóa học 19
1.4.4.1 Các giai đoạn của quá trình giải bài tập hóa học 19
1.4.4.2 Mối quan hệ giữa nắm vững kiến thức và giải bài tập hóa học[22] 20
1.4.5 Xu hướng phát triển của bài tập hóa học 21
1.5 Tình hình sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ học sinh tự học hiện nay ở trường Trung học Phổ thông 22
1.5.1 Mục đích điều tra 22
1.5.1.1 Đối với học sinh: 22
1.5.2 Đối tượng, phương pháp điều tra 22
Trang 61.5.3 Kết quả điều tra 23
Tiểu kết chương 1 25
CHƯƠNG 2: TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH PHẦN PHI KIM HÓA HỌC LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG… 26
2.1 Phân tích chương trình hóa học 10 Trung học phổ thông phần phi kim 26
2.1.1 Mục tiêu chương trình phần phi kim 26
2.1.2 Nội dung kiến thức và phân phối chương trình các bài phần phi kim Hoá học 10 (Sở Giáo dục và đào tạo Hà Nội) 27
2.2 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập 27
2.2.1 Đảm bảo tính khoa học 27
2.2.2 Đảm bảo tính logic 28
2.2.3 Đảm bảo tính đầy đủ, đa dạng 28
2.2.4 Đảm bảo tính hệ thống của các dạng bài tập 28
2.2.5 Đảm bảo tính vừa sức 28
2.2.6 Phù hợp với điều kiện thực tế 28
2.2.7 Tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh tự học 28
2.2.8 Đảm bảo tính mục tiêu, bám sát nội dung dạy học 29
2.2.9 Chú trọng kiến thức trọng tâm 29
2.2.10 Gây hứng thú cho người học 29
2.4 Tuyển chọn, xây dựng hệ thống bài tập phần phi kim hỗ trợ tự học cho học sinh lớp 10 31
2.4.1 Các dạng bài tập và hướng dẫn giải tổng quát phần phi kim 31
2.4.2 Các dạng bài tập và hướng dẫn giải cụ thể cho từng chương phần phi kim 39
2.4.2.1 Nhóm Halogen 39
2.5 Sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ học sinh tự học phần phi kim 62
2.5.1 Sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ học sinh tự học trên lớp 62
2.5.2 Hướng dẫn học sinh tự học và sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ học sinh tự học ở nhà 66
2.6 Thiết kế một số giáo án có sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ học sinh tự học 69
Tiểu kết chương 2 72
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 73
3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 73
3.1.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 73
3.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 73
3.3 Tiến trình thực nghiệm 74
Trang 73.3.1 Trao đổi với giáo viên về việc hướng dẫn học sinh sử dụng hệ thống bài tập và
phương pháp tiến hành thực nghiệm 74
3.3.2 Khảo sát kết quả thực nghiệm sư phạm về mặt định tính và định lượng 74
3.4 Phương pháp xử lý kết quả thực nghiệm 75
3.5 Kết quả thực nghiệm 76
3.5.1 Kết quả bài kiểm tra của học sinh 76
3.5.2.2 Nhận xét của học sinh về hệ thống bài tập 83
3.5.2.3 Thông qua kết quả bài kiểm tra 86
Tiểu kết chương 3 87
KẾT LUẬN CHUNG VÀ KHUYẾN NGHỊ 88
1 Kết luận chung 88
2 Một số đề xuất 88
3 Hướng phát triển của đề tài 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 94
Trang 8DANH MỤC BẢNG, DANH MỤC HÌNH
Bảng 3.1: Kết quả (tần số) các bài kiểm tra 76
Bảng 3.2: Bảng tổng hợp kết quả (tần số) các bài kiểm tra 77
Bảng 3.3: Bảng phân phối tần suất lũy tích qua các bài kiểm tra 77
Bảng 3.4: Phân loại kết quả học tập của HS qua các bài kiểm tra 79
Bảng 3.5: Giá trị các tham số đặc trưng của bài kiểm tra 80
Bảng 3.6 Nhận xét của giáo viên về HTBT 81
Bảng 3.7 Thống kê số lượng phiếu nhận xét của học sinh 83
Bảng 3.8 Nhận xét của học sinh về hệ thống bài tập 84
Hình 3.1: Đồ thị biểu diễn đường lũy tích bài kiểm tra số 1 78
Hình 3.2: Đồ thị biểu diễn đường lũy tích bài kiểm tra số 2 78
Hình 3.3: Đồ thị biểu diễn đường lũy tích bài kiểm tra số 3 79
Hình 3.4: Đồ thị phân loại kết quả học tập của HS (Bài KT số 1) 79
Hình 3.5: Đồ thị phân loại kết quả học tập của HS (Bài KT số 2) 80
Hình 3.6: Đồ thị phân loại kết quả học tập của HS (Bài KT số 3) 80
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa, cũng như trong sự nghiệp đổimới toàn diện của đất nước, đổi mới nền giáo dục là một trong những nhiệm vụ trọngtâm của sự phát triển Mục tiêu của giáo dục nhằm đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhântài và nâng cao dân trí Công cuộc đổi mới đòi hỏi nhà trường phải tạo ra những conngười tự chủ, năng động và sáng tạo đáp ứng nhu cầu của xã hội Báo cáo chính trị
đại hội Đảng IX đã khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những
động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, là điều kiện
để phát huy nguồn lực con người Yếu tố cơ bản để phát triển xã hội tăng trưởng kinh
tế nhanh và bền vững Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục, thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa” Mục đích cuối cùng là để từng cá
nhân, mỗi cá thể, mỗi công dân tự mình có ý thức tạo được một cuộc cách mạng họctập trong bản thân mỗi người
Đất nước ta đang trong thời kỳ hội nhập thế giới Trong sự nghiệp đổi mới nàythì đổi mới nền giáo dục vẫn là “quốc sách hàng đầu” Ngành giáo dục phải tạo ranhững con người lao động có trí thức, năng động và sáng tạo Theo mục 2 điều 5,
chương I của Luật giáo dục Việt Nam năm 2005 quy định “Phương pháp giáo dục
phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” Do vậy, cần thiết phải đổi mới nội dung chương trình và PPDH nhằm
nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước
Thế kỉ XXI với sự bùng nổ của khoa học và công nghệ, lượng kiến thức củanhân loại tăng lên nhanh chóng Việc tiếp thu kiến thức của HS nếu chỉ dựa vào cáctiết học trên lớp là chưa đủ Do vậy, phải dạy cho HS cách học để có thể giúp họ trởthành những người có khả năng tự học suốt đời
Nhà trường phải giúp cho từng HS thay đổi triệt để quan niệm và phương pháphọc tập phù hợp với yêu cầu của thời đại – thời đại mà mỗi người phải học tập suốtđời Để học tập không ngừng, học tập suốt đời, mỗi người phải biết cách tự học, biếtphát huy cao độ tiềm năng của bản thân Vì vậy, tự học là một vấn đề cốt lõi thuộcmục tiêu của giáo dục hiện đại.Hiện nay, nước ta đang tiến hành việc đổi mới giáodục trong đó đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát huy tính tích cựcnhận thức của HS và bồi dưỡng phương pháp học tập mà trọng tâm là tự học để họ tựhọc suốt đời Có thể nói, dạy học chủ yếu là dạy cách học, dạy cách tư duy, dạyphương pháp tự học
Trang 10Trong DHHH, việc nâng cao chất lượng dạy học và phát triển nhận thức, bồidưỡng năng lực tự học cho HS có thể bằng nhiều biện pháp và phương pháp khácnhau, trong đó giải bài tập được đánh giá là một PPDHcó hiệu quả, nhất là trongviệc rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức, đào sâu và mở rộng kiến thức một cáchsinh động, phong phú và đặc biệt kích thích HS hứng thú tự học BTHH còn được coi
là phương tiện cơ bản để dạy học và vận dụng kiến thức hoá học để giải quyết cácnhiệm vụ học tập, các vấn đề thực tiễn đời sống sản xuất có liên quan đến hoá học.Giải BTHH là lúc HS hoạt động tự lực để củng cố và trau dồi kiến thức hóahọc của mình BTHH cung cấp cho HS cả kiến thức, cả con đường để giành lấykiến thức, cả niềm vui của sự phát hiện ra kiến thức Do vậy, BTHH vừa là mụcđích, vừa là nội dung, lại vừa là phương pháp rèn luyện năng lực tự học hiệuquả cho HS, đồng thời là thước đo đánh giá sự nắm vững kiến thức và kĩ năngcủa HS
BTHH có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong DHHH Thông qua BTHH, tư duycủa HS được đặc biệt chú trọng tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang chủđộng, tích cực, sáng tạo, từ đó nâng cao chất lượng học tập của HS Khi bồi dưỡngnăng lực tự học cho HS ta không thể sử dụng những bài tập thông thường như khigiảng dạy trên lớp mà cần phải có HTBT chất lượng, phân cấp, đa dạng nhằm pháttriển tư duy Học không chỉ để biết mà học còn để sáng tạo, học lấy cách học, học đểtra cứu kiến thức của nhân loại và phát minh ra kiến thức mới
Lớp 10 là lớp đầu cấpTHPT là bước ngoặt khi chuyển từ THCS lên THPT vớilượng kiến thức nhiều, yêu cầu về nhiệm vụ học tập cao mà thời lượng trên lớp lạikhông đổi Nếu HS không tự học thêm ở nhà thì sẽ gặp nhiều khó khăn trong học tập.Môn Hóa học 10 cơ bản phần phi kim có nhiều mới lạ về kiến thức và đa dạng về bàitập hơn so với Hoá học THCS.Do đó, ngoài việc tiếp thu kiến thức trên lớp thì về nhà
HS phải tự vận dụng kiến thức để làm bài tập Thông qua đó, HS có thể hiểu rõ, sâuhơn về bài học
Để góp phần đổi mới phương pháp tự học cho HS, nhiệm vụ đặt ra cho GV làhết sức khó khăn Người GV phải có năng lực hướng dẫn HS tự học, biết thu thập và
xử lý thông tin để tự biến đổi mình Qua thực tế dạy học cho thấy trình độ tiếp cậnnhững kiến thức mới của HS còn hạn chế, khả năng tự học của HS chưa tốt, cách học
ở đa số HS còn thụ động và phụ thuộc vào bài dạy trên lớp của GV Đa số GV chưa
có phương pháp hợp lý, đi theo lối mòn của nền giáo dục cũ, chưa có đổi mới cơ bản
về phương pháp dạy học HTBT phục vụ cho việc tự học, tự mở rộng kiến thứccho HS tuy đa dạng nhưng chưa có hệ thống, chưa sát với nội dung chương trình
Xuất phát từ những nhu cầu và thực trạng trên chúng tôi chọn đề tài “Phát triển
năng lực tự học của học sinh thông qua sử dụng hệ thống bài tập phần phi kim hoá
Trang 11học lớp 10 Trung học phổ thông” Với mong muốn tạo ra HTBT giúp HS lớp 10
THPT tự học, tự rènluyện kĩ năng giải bài tập trắc nghiệm và tự luận, thông qua đógiúp HS đánh giá trình độ bản thân và phục vụ cho các kì thi Mặt khác, giúp GV bồidưỡng, rèn luyện tư duy hóa học và khả năng tự học cho HS ở trường THPT, đáp ứngmục tiêu giáo dục và đổi mới PPDH hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu
Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng HTBTNhóm Halogen, Oxi – Lưu huỳnh với
mục đích giúp cho HS có tài liệu để có thể tự học và tự đánh giá trình độ của mìnhđồng thời giúp GV có cơ sở hướng dẫn HS tự học để tiết kiệm thời gian trên lớp màvẫn khai thác được hết các khía cạnh lý thuyết và các dạng bài toán hoá học ở lớp 10.Ngoài ra, thực hiện đề tài này là cơ hội tốt giúp tác giả bồi dưỡng thêm kiếnthức để đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích cực và rèn luyện năng lực tựhọc cho HS
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
- Quá trình dạy học Hóa học ở trường THPT
3.2 Đối tượng nghiên cứu
- HTBT phần phi kim Hoá học 10 THPT phục vụ cho việc bồi dưỡng năng lực tựhọc của HS
4 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được HTBTNhóm Halogen, Oxi – Lưu huỳnh chất lượng tốt, phù
hợp với trình độ HS và được sử dụng linh hoạt, hợp lí thì GV sẽ thành công trongviệc bồi dưỡng năng lực tự học cho HS Qua đó sẽ hình thành thói quen tự học, làmviệc độc lập, chủ động tìm tòi lĩnh hội kiến thức của môn học
5 Nhiệm vụ của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về phương pháp tự học
- Đánh giá thực trạng việc hướng dẫn tự học cho HS trong quá trình DHHH ởmột số trường THPT hiện nay
- Nghiên cứu nội dung chương trình hoá học và tuyển chọn, xây dựng HTBT
haichươngNhóm Halogen, Oxi – Lưu huỳnh nhằm phát triển năng lực tự học cho HS.
- Đề xuất một số giải pháp sử dụng HTBT phát triển năng lực tự học cho HS
- Tiến hành TNSP để đánh giá hiệu quả và tính khả thi của HTBT đã đề xuất
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu để xây dựng phần cơ sở
lý luận của đề tài
Trang 126.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra thực trạng việc tự học và trình độ của HS lớp 10 trường THPT
- Tham khảo, sưu tầm và tuyển chọn bài tập trong SGK, sách tham khảo và đề kiểm tra, đề thi của HS lớp 10 Hoá học phần phi kim
- Thông qua TNSP đánh giá chất lượng HTBT biên soạn từ đó đưa ra HTBT chất lượng phù hợp để bồi dưỡng năng lưc tự học cho HS
6.3 Phương pháp thống kê toán học: Để xử lý kết quả TNSP.
7 Đóng góp của đề tài
- Tuyển chọn và xây dựng được HTBThai chươngNhóm Halogen, Oxi – Lưu huỳnh
lớp 10 hướng dẫn tự học phù hợp với quá trình nhận thức đa cấp độ của HS từ thấpđến cao
- Phương hướng sử dụng bài tập nhằm rèn luyện tư duy hóa học, phát triển năng lực
tự học cho HS
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực tự học và bài tập hoá học.Chương 2: Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập phát triển năng lực tự họccho học sinh phần phi kim Hoá học lớp 10 Trung học phổ thông
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 13NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC TỰ HỌC
VÀ BÀI TẬP HOÁ HỌC 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu[3], [7], [12], [18], [22], [26], [27], [28], [35], [38]
1.1.1 Quan điểm và tư tưởng về tự học trên thế giới
Vấn đề tự học đã được nghiên cứu từ rất sớm ở nhiều góc độ khác nhau tronglịch sử giáo dục trên thế giới Nó vẫn còn là vấn đề đáng quan tâm cho các nhà nghiêncứu giáo dục hiện tại và tương lai bởi vì tự học có vai trò rất quan trọng, quyết địnhmọi sự thành công trong học tập, là điều kiện đảm bảo cho hiệu quả, chất lượng củamọi quá trình giáo dục, đào tạo
John Dewey (1859 - 1952) phát biểu "HS là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọiphương tiện giáo dục" Một loạt các PPDH theo quan điểm, tư tưởng này đã được sửdụng: "Phương pháp tích cực", "Phương pháp hợp tác", "Phương pháp cá thể hoá"…Nói chung đây là các phương pháp mà người học không chỉ lĩnh hội kiến thức bằngnghe thầy giảng, học thuộc mà còn từ hoạt động tự học, tự tìm tòi lĩnh hội tri thức GV
là người trọng tài, đạo diễn thiết kế tổ chức giúp HS biết cách làm, cách học
T Makiguchi, nhà sư phạm nổi tiếng người Nhật Bản, trong những năm 30 củathế kỷ XX đã cho rằng "Mục đích của giáo dục là hướng dẫn quá trình học tập và đặttrách nhiệm học tập vào tay mỗi HS Giáo dục xét như là một quá trình hướng dẫn
HS tự học"
“Tự học như thế nào” của Rubakin, dịch giả là Nguyễn Đình Côi, xuất bản 1982
đã giúp bạn đọc biết tự học tập, nâng cao kiến thức toàn diện của mình
Gần đây, khá nhiều cuốn sách cũng đề cập đến vấn đề tự học
Cuốn “Phương pháp dạy và học hiệu quả” – Cark Rogers – một nhà giáo dục học,nhà tâm lý học người Mỹ do Cao Đình Quát dịch đã giải đáp cho HS câu hỏi học cái
gì và học như thế nào? Câu hỏi dạy cái gì và dạy như thế nào cũng được giải đáp
“Hiểu biết là sức mạnh của thành công” do Klas Mellander chủ biên, các tácgiả đã đề cập đến bí ẩn của việc học, trong đó nhấn mạnh vai trò của tự học, hướngdẫn 5 bước cần thực hiện để giúp chúng ta dễ dàng hơn trong quá trình học hỏi
Năm 2007, cuốn “Để luôn đạt điểm 10” của GordonW Green Jr do Trần VũThạch dịch đã được tái bản lần thứ 25 Với cuốn sách này, tác giả đã chỉ ra cách kếthợp phương pháp đọc một quyển sách, phương pháp làm bài kiểm tra, phương pháptrở thành sinh viên giỏi hơn với nhau thành một hệ thống để trở thành sinh viên đạttoàn điểm 10
Năm 2008, cuốn “Tôi tài giỏi, bạn cũng thế!” của Adam Khoo do Trần ĐăngKhoa và Uông Xuân Vy dịch đã được Nhà xuất bản Phụ nữ tái bản Với cuốn sáchnày, tác giả đã chứng tỏ được khả năng trí tuệ tiềm ẩn và sự thông minh sáng tạo của
Trang 14con người vượt xa hơn những gì chúng ta nghĩ và thường được nghe tới.
1.1.2 Quan điểm và tư tưởng về tự học trong lịch sử giáo dục Việt Nam
Ở nước ta, tự học đã có từ thời phong kiến Truyền thống tự học là một bộphận trong truyền thống hiếu học của nhân dân ta Chủ tịch Hồ Chí Minh – lãnhtụkiệt xuất của cách mạng Việt Nam – cả cuộc đời Người là tấm gương lớn về tự học.Người từng nói “còn sống thì còn học” và “về cách học phải lấy tự học làm cốt” Sau
đó, truyền thống tự học vẫn tiếp tục phát huy nhưng vẫn là khả năng tự học tự phát vìkhi đó chưa có chủ trương, chính sách chăm lo việc tự học, thầy giáo cũng không cótrách nhiệm khơi dậy và phát triển năng lực tự học của HS Nhưng thực tiễn chứngminh rằng khả năng tự học tiềm tàng là rất dồi dào và nội lực cố gắng tìm học, tự học
là nội lực quyết định đối với sự nghiệp giáo dục
Nghị quyết Trung ương 2 khóa III cũng nhấn mạnh: Từng bước áp dụng cácphương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện
và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho HS nhất là sinh viên đại học Phát triển mạnhphong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên, rộng khắp toàn dân, nhất là trong thanhniên
GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn là một tấm gương sáng về tự học ở nước ta
Từ một GV trung học (1947), chỉ bằng con đường tự học, tự nghiên cứu ông đã trởthành nhà toán học nổi tiếng Không chỉ nghiên cứu khoa học cơ bản, ông còn cónhiều công trình, bài viết về khoa học giáo dục, về vấn đề tự học Ông cho rằng
“học bao giờ cũng gắn liền với tự học, tự rèn luyện, coi trọng việc tự học, nêu caonhững tấm gương tự học thành tài”
Trong những năm gần đây cũng đã xuất hiện một số bài viết về tự học
Trần Anh Tuấn có bài viết: “Vấn đề tự học của học sinh từ góc độ đánh giáchất lượng kỹ năng nghề nghiệp” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục số 5 năm1996
PGS.TSKH Thái Duy Tuyên và Trần Thị Trúc có bài viết: “Tổ chức dạy họctrên lớp để giúp sinh viên tự học” đăng trên Tạp chí Giáo dục số 123 năm 2005
PGS.TS Đỗ Xuân Thảo và Lê Hải Yến có bài viết: “Đọc sách hiệu quả-Một
kỹ năng quan trọng để tự học thành công” đăng trên Tạp chí Giáo dục số 198 năm 2008
PGS.TS Nguyễn Văn Bản có bài viết: “Dạy phương pháp học cho học sinh”đăng trên Tạp chí Khoa học giáo dục số 50 năm 2009
Bên cạnh đó, một số cuốn sách về tự học cũng được xuất bản như :
“Biển học vô bờ” – GS.TSKH.Nguyễn Cảnh Toàn (chủ biên) và các tác giả
đã đưa ra những lời khuyên chung về phương pháp học tập một số môn ở trườngTHPT và giúp HS trả lời câu hỏi “Học như thế nào là tốt nhất ? ”
Cuốn “Học và dạy cách học” do GS TSKH Nguyễn Cảnh Toàn chủ biên,
Trang 15NXB ĐHSP, xuất bản năm 2002 là một trong những cuốn sách đầu tiên ở Việt Nam viết một cách có hệ thống về việc “học” và “dạy cách học”.
Sau đó, năm 2009, NXB tổng hợp Tp.HCM xuất bản cuốn “Tự học thế nào chotốt” đã rút ra những kinh nghiệm, những nguyên tắc, những quy luật giúp người họcthấy được các bước đi rõ ràng để tiến nhanh đến đích, biết cách giải quyết nhiều loạikhó khăn trong quá trình tự học Hai cuốn sách này đã thực sự là tài liệu bổ ích giúp choviệc đổi mới phương pháp dạy và học ở Việt Nam, đặc biệt là quá trình dạy tự học
Tuy vậy, các cuốn sách hầu như mới chỉ dừng lại ở phần lý thuyết chung nhấtcho mọi môn học mà chưa đi vào các biện pháp cụ thể đối với từng môn học
1.1.3 Quan điểm và tư tưởng về tự học đối với nhà hóa học
Hóa học là một môn học có những đặc trưng riêng nên đòi hỏi người học phải có
tư duy thích hợp, đó là năng lực quan sát, phân tích các hiện tượng tự nhiên, năng lựckhái quát, tổng hợp thành quy luật và phải có phong cách học tập độc lập sáng tạo
Theo GS.TS.Trịnh Văn Biều, học không chỉ là quá trình ghi nhận, thu thậpthông tin Học là hiểu, ghi nhớ, liên hệ và vận dụng Nhờ liên hệ và vận dụng HS sẽhiểu bài sâu sắc hơn, nhớ bài lâu hơn Trong thực tế một người có thể học theo nhiềukiểu khác nhau nhưng dưới hình thức nào thì tự học cũng là cốt lõi của quá trình học
Tự học đóng một vai trò quan trọng trong quá trình tiếp thu tri thức và hoàn thiệnnhân cách của con người
Để việc học đáp ứng 4 trụ cột mà Unessco đề ra: Học để học cách học, học đểlàm, học để sáng tạo và học để chung sống với người khác thì người học phải tuântheo công thức 4H: Học - Hỏi - Hiểu - Hành và học 6 mọi: Học mọi nơi, học mọi lúc,học mọi người, học trong mọi hoàn cảnh, học bằng mọi cách, học qua mọi nội dungtheo như tinh thần GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn đã nêu trong cuốn “học và dạy cáchhọc” “Sáu mọi” quan hệ chặt chẽ với nhau, cái này tận dụng cái kia và là tiền đề chocái kia Nói đến cái này thì trong đó lại thấp thoáng cái kia nên dễ có cảm tưởng
“trùng lặp” nhưng nếu chỉ bớt đi một cái thì lại thấy thiếu Mới nghe tưởng chừngnhư cách học “sáu mọi” rất căng thẳng, rất nhồi nhét Thực tế, nó rất nhẹ nhàng giốngnhư cách học trong câu: “đi một ngày đàng, học một sàng khôn” Người học chỉ cần
có ý thức “học” và phải kiên trì, bền bỉ Vì vậy, luyện dần cách học “sáu mọi” càngsớm càng tốt và dù muộn vẫn hơn không
1.1.4 Một số luận văn thạc sĩ khoa học, tiến sĩ khoa học
Đã có một số luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ khoa học, bước đầu nghiên cứu về
HTBT và vấn đề hỗ trợ HS tự học nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu về HTBT hỗtrợ HS tự học phần phi kim Hoá học 10
1 Trần Thị Thanh Hà (2009), Thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun
nhằm nâng cao năng lực tự học cho HSG hóa lớp 12, Luận văn thạc sĩ giáo dục
Trang 16Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – côngnghệ, sự phát triển năngđộng của các nền kinh tế, quá trình hội nhập và toàn cầu hóa đang làm cho việcrút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giữa các nước trở nên thực tiễn hơn
và nhanh chóng hơn Khoa học – côngnghệ trở thành động lực cơ bản của sự pháttriển kinh tế - xãhội Giáo dục là nền tảng của sự phát triển khoa học – côngnghệ,phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại và đóng vai trò chủyếu trong việc nâng cao ý thức dân tộc, tinh thần trách nhiệm và năng lực của cácthế hệ hiện nay và mai sau Đổi mới giáo dục đang diễn ra trên quy mô toàn
học,ĐHSP TP Hồ Chí Minh
2 Nguyễn Thị Tuyết Hoa (2010), Xây dựng website nhằm tăng cường năng lực tự học
cho HS giỏi hóa lớp 11, Luận văn thạc sĩ giáo dục học,ĐHSP TP Hồ Chí Minh.
3 Phạm Thùy Linh (2009), Thiết kế E-book hỗ trợ khả năng tự học của HS lớp 12
chương “Đại cương về kim loại” chương trình chuẩn, Luận văn thạc sĩ giáo dục
học,ĐHSP TP Hồ Chí Minh
4 Đỗ Văn Minh (2007), Xây dựng HTBT hoá học vô cơ nhằm rèn luyện tư duy trong
bồi dưỡng HS giỏi ở trường THPT,Luận văn thạc sĩ khoa học,ĐHSP Hà Nội.
5 Trần Nhật Nam (2007), Xây dựng và lựa chọn HTBT hoá học về hợp chất hữu cơ
có nhóm chức lớp 11 THPT ban nâng cao nhằm phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của HS, Luận văn thạc sĩ khoa học, ĐHSP Hà Nội.
6 Nguyễn Thị Lan Phương (2014), Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trong
dạy học bài tập hoá học của “Chương 5 – Đại cương kim loại” chương trình hoá học 12 nâng cao, Luận văn thạc sĩ sư phạm Hoá học, ĐH Giáo dục – ĐHQGHN.
7 Cao Thị Thặng (1995), Hình thành kỹ năng giải BTHH ở trường phổ thông trung
học cơ sở, Luận án tiến sĩ, ĐHSP Hà Nội.
8 Lê Thị Kim Thoa (2009), Tuyển chọn và xây dựng HTBT hoá học gắn với thực
tiễn dùng trong DHHH ở trường THPT, Luận văn thạc sĩ khoa học,ĐHSP TP Hồ
Chí Minh
9 Tống Thanh Tùng (2009), Thiết kế E-book hóa học lớp 12 phần Crôm, sắt, đồng
nhằm hỗ trợ HS tự học, Luận văn thạc sĩ giáo dục học,ĐHSP TP Hồ Chí Minh.
10 Vũ Anh Tuấn (2003), Xây dựng HTBT hóa học nhằm rèn luyện tư duy trong việc
bồi dưỡng HS giỏi hóa học ở trường THPT, Luận án tiến sĩ, ĐHSP Hà Nội.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu sử dụng HTBT hóa học phần Hóa học lớp 10 ở cáctrường THPT nhằm hỗ trợ HS tự học vẫn chưa được quan tâm đúng mức Do đó, xây
dựng và sử dụng HTBT hỗ trợ việc tự học cho HS haichươngNhóm Halogen, Oxi –
Lưu Huỳnhhóa họclớp 10 là cần thiết.
1.2 Đổi mới phương pháp dạy học[4], [7], [11], [12], [13], [16], [17], [21], [30]
1.2.1 Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học
Trang 17những thay đổi sâu sắc trong giáo dục, từ quan niệm về chất lượng giáo dục, xây dựng nhân cách người học đến cách tổ chức quá trình và hệ thống giáo dục Nhà trường từ chỗ khép kín chuyển sang mở cửa rộng rãi, đối thoại với xã hội và gắn bó chặt chẽ với nghiên cứu khoa học – côngnghệ và ứng dụng.Nhà giáo thay vì chỉ truyền đạt tri thức, chuyển sang cung cấp cho người học phương pháp thu nhận thông tin một cách hệ thống, có tư duy phân tích và tổng hợp Đầu tư cho giáo dục từ chỗ được xem như là phúc lợi xã hội chuyển sang đầu tư cho phát triển.Trong giáo dục, quy trình đào tạo được xem như là một hệ thống bao gồm các yếu
Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 4 (khoá VII) đã xác định: “Phải khuyến
khích tự học, phải áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho
HS năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”
Định hướng này đã được pháp chế hoá trong Luật giáo dục điều 24.2: “Phương
pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của
HS; phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học;
rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại
niềm vui, hứng thú học tập cho HS” Nhưng cho đến nay sự đổi mới PPDH trong nhà
trường phổ thông theo định hướng này chưa được là bao, phổ biến vẫn là cách dạy
thông báo kiến thức sách vở và cách học thụ động.Vì vậy, đòi hỏi nhà trường phải
thay đổi nhiều nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học các môn học để có
những sản phẩm đào tạo với chất lượng ngày càng cao, cung cấp cho thị trường lao
động luôn biến đổi của xã hội phát triển
1.2.2 Các xu hướng đổi mới phương pháp dạy học
Một số xu hướng đổi mới PPDH trên thế giới và ở nước ta hiện nay:
1 Phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của người học Chuyển
trọng tâm hoạt động từ GV sang HS Chuyển lối học từ thông báo tái hiện sang sáng
tạo, tìm tòi, khám phá
2 Cá thể hóa việc dạy học
3 Sử dụng tối ưu các phương tiện dạy học đặc biệt là tin học và công nghệ thông
tin vào dạy học
4 Tăng cường khả năng vận dụng kiến thức vào đời sống Chuyển từ lối học
nặng về tiếp nhận kiến thức sang lối học coi trọng việc vận dụng kiến thức
5 Cải tiến việc kiểm tra - đánh giá kết quả dạy học
6 Phục vụ ngày càng tốt hơn hoạt động tự học và phương châm học suốt đời
tố: mục tiêu, chương trình đào tạo, nội dung, hình thức tổ chức dạy học, PPDH
khâu rất quan trọng bởi lẽ PPDH có hợp lý thì hiệu quả của việc dạy học mới
phương pháp có phù hợp thì mới có thể phát huy được khả năng tư duy, sáng tạo
người học Bởi vậy, việc đổi mới giáo dục trước hết là việc đổi mới
Trang 187 Gắn dạy học với nghiên cứu khoa học với mức độ ngày càng cao (theo sựphát triển của HS, theo cấp học, bậc học).
Trong 7 xu hướng đổi mới trên thì việc phát huy tính tích cực và khả năng tựhọc của HS đang là những xu hướng đổi mới quan trọng về PPDH hiện nay
1.3 Năng lực tự học [2], [3], [22], [26], [27], [28], [29], [35]
1.3.1 Khái niệm năng lực
Năng lực là tổ hợp các thuộc tính tâm lý độc đáo của cá nhân phù hợp vớinhững yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó nhanh chóngđạt kết quả
Một số nhà nghiên cứu nổi tiếng định nghĩa về tự học như sau:
- Tự học là khả năng tự lo cho việc học của chính mình (Henri Holec)
- Tự học là tình huống trong đó người học hoàn toàn chịu trách nhiệm về mọi quyết định liên quan đến việc học và thực hiện những quyết định đó (Leslie Dickinson)
- Tự học là sự nhận thức về quyền của người học trong hệ thống giáo dục (Phil Benson)
Theo GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụngcác năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp ) và có khi cả cơ bắp (khiphải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cảnhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có chí tiến thủ,không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ,biến khó khăn thành thuận lợi vv ) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó củanhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”
Từ quan điểm về tự học nêu trên, chúng tôi đi đến định nghĩa về tự học như
sau: Tự học là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh tri
thức ở một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục đích nhất định.
Tự học thể hiện bằng cách tự đọc tài liệu giáo khoa, sách báo các loại, ngheradio, truyền hình, nghe nói chuyện, báo cáo, tham quan bảo tàng, triển lãm, xemphim, kịch, giao tiếp với những người có học, với các chuyên gia và những ngườihoạt động thực tiễn trong các lĩnh vực khác nhau Người tự học phải biết cách lựachọn tài liệu, tìm ra những điểm chính, điểm quan trọng trong các tài liệu đã đọc, đãnghe, phải biết cách ghi chép những điều cần thiết, biết viết tóm tắt và làm đề
Trang 19cương, biết cách
Trang 20tra cứu từ điển và sách tham khảo, biết cách làm việc trong thư viện,… Đối với HS,
tự học còn thể hiện bằng cách tự làm các bài tập chuyên môn, các câu lạc bộ, cácnhóm thực nghiệm và các hoạt động ngoại khóa khác Tự học đòi hỏi phải có tínhđộc lập, tự chủ, tự giác và kiên trì cao
Các mặt biểu hiện của năng lực tự học ở HS nói chung gồm có:
- Năng lực nhận biết, tìm tòi, phát hiện vấn đề
- Năng lực giải quyết vấn đề
- Năng lực xác định những kết luận đúng (kiến thức, cách thức, con đường, giảipháp, biện pháp…) từ quá trình giải quyết vấn đề
- Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn (hoặc vào nhận thức kiến thức mới)
- Năng lực đánh giá và tự đánh giá
Như vậy năng lực tự học có thể được mô tả thông qua các điểm chính sau đây:Xác định nhiệm vụ học tập có tính đến kết quả học tập trước đây và định hướngphấn đấu tiếp; mục tiêu học được đặt ra chi tiết, cụ thể, đặc biệt tập trung nâng caohơn nữa những khía cạnh còn yếu kém
Đánh giá và điều chỉnh được kế hoạch học tập; và hình thành cách học tập riêngcủa bản thân; tìm được nguồn tài liệu phù hợp với các mục đích, nhiệm vụ học tậpkhác nhau; thành thạo sử dụng thư viện, chọn lọc các tài liệu và làm thư mục phù hợpvới từng chủ đề học tập của các bài tập khác nhau; ghi chép thông tin đọc được bằngcác hình thức phù hợp, thuận lợi cho việc ghi nhớ, sử dụng khi cần thiết, tự đặt đượcvấn đề học tập
Tự nhận ra và điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân trong quá trìnhhọc tập; suy ngẫm cách học của mình, đúc kết kinh nghiệm để có thể chia sẻ, vậndụng vào các tình huống khác; trên cơ sở các thông tin phản hồi biết vạch kế hoạchđiều chỉnh cách học để nâng cao chất lượng học tập
Các thao tác hình thành năng lực tự học
1.3.3 Các hình thức của tự học
Tự học có 3 hình thức:
Trang 21- Tự học không có hướng dẫn: Người học tự tìm lấy tài liệu để đọc, hiểu, vận
dụng các kiến thức trong đó.Qua việc hiểu mà tự rút ra kinh nghiệm về tư duy, tự phêbình về tính cách (như thiếu kiên trì, thiếu tư tưởng tiến công, dễ thỏa mãn, ) Đó là
tự học ở mức cao
- Tự học có hướng dẫn: Có GV ở xa hướng dẫn người học bằng tài liệu hoặc
bằng các phương tiện thông tin khác.Hướng dẫn tự học chủ yếu là hướng dẫn tư duytrong việc chiếm lĩnh kiến thức, hướng dẫn tự phê bình về tính cách trong quá trìnhchiếm lĩnh kiến thức
- Tự học có hướng dẫn trực tiếp: Có tài liệu và giáp mặt với GV một số tiết
trong ngày, trong tuần, được thầy hướng dẫn giảng giải sau đó về nhà tự học
Khách quan mà xét thì thuận lợi đối với người học tăng dần lên từ cách 1 đếncách 3 Nhưng sự vật rất biện chứng, khó khăn và thuận lợi có thể chuyển hóa lẫnnhau Theo cách 1 thì người học gặp rất nhiều khó khăn, nhiều khi gặp chỗ khônghiểu không biết hỏi ai, phải lúng túng loay hoay mất nhiều thì giờ Nhưng những lúngtúng, những loay hoay đó thật đáng quý xét về phương diện chúng đòi hỏi người họcphải phát huy nội lực cao và do đó nội lực phát triển mạnh Cách thứ 3 có nhiều thuậnlợi nhất nhưng thuận lợi đó có thể biến thành khó khăn nếu thầy không cảnh giác vớiviệc làm thay trò (những việc mà trò tự làm được) và trò không cảnh giác với việc ỷlại vào thầy (gặp khó khăn 1 chút là hỏi thầy ngay)
Hoạt động tự học của HS có nhiều khâu, nhiều bước, được tiến hành thông quacác hoạt động học tập của chính bản thân họ Đây là quá trình tự giác, tích cực, tự lựcchiếm lĩnh tri thức khoa học bằng hành động của chính mình hướng tới những mụcđích nhất định Vì vậy, quá trình tổ chức dạy học phải làm cho hoạt động học của HSchuyển từ trạng thái bị động sang chủ động HS biết tự sắp xếp, bố trí các công việc
sẽ tiến hành trong thời gian tự học, biết huy động các điều kiện, phương tiện cần thiết
để hoàn thành từng công việc, biết tự kiểm tra, tự đánh giá kết quả hoạt động tự họccủa chính mình
Như vậy, khái niệm tự học ở đây được hiểu là hoạt động tự lực của HS để chiếmlĩnh tri thức khoa học đã được qui định thành kiến thức học tập trong chương trình vàSGK với sự hướng dẫn trực tiếp hoặc gián tiếp của GV thông qua các phương tiện họctập như tài liệu tự học có hướng dẫn, tài liệu tra cứu, giáo án điện tử, HS không dùngSGK phổ thông mà sử dụng tài liệu viết riêng cho họ tự học Tài liệu tự học có hướngdẫn cung cấp cho HS nội dung kiến thức và phương pháp học nội dung kiến thức đó
1.3.4 Chu trình tự học
Theo Nguyễn Kỳ “Chu trình học là chu trình chủ thể tìm hiểu, xử lý, giải quyết
vấn đề hay vật cản của một tình huống học với sự hợp tác của tác nhân và sự hỗ trợ
của môi trường sư phạm” Cũng theo tác giả, chu trình học diễn biến theo ba thời: Tự
Trang 22nghiên cứu (I), Tự thể hiện, hợp tác với bạn và thầy (II), Tự kiểm tra, tự điều chỉnh (III).
Hình 1.1 Chu trình học ba thời
Thời (I): Tự nghiên cứu
Trước một tình huống học, chủ thể bắt đầu thấy có nhu cầu hay hứng thú tìm
hiểu, nhận biết vấn đề của tình huống học: Đây là vấn đề gì? Có ý nghĩa ra sao? Có thể giải quyết theo hướng nào? Từ chỗ nhận biết vấn đề, chủ thể tiến hành thu nhận
thông tin có liên quan đến vấn đề đó, xử lý thông tin, xây dựng các giải pháp, thử
nghiệm giải pháp, kết quả, đưa ra kết luận và giải quyết vấn đề Chủ thể ghi lại kết quả “tự nghiên cứu” của thời (I) thành sản phẩm học cá nhân ban đầu.
Tất nhiên sản phẩm đó có thể mang tính chủ quan, phiến diện, thiếu khoahọc Bằng con đường nào để làm cho sản phẩm ban đầu trở thành khách quan,khoa học thật sự? Đó là con đường người học tự thể hiện mình để hợp tác với cácbạn và thầy trong cộng đồng lớp học Tự thể hiện, hợp tác với bạn, đó là thời (II)của chu trình học
Thời (II) : Tự thể hiện, hợp tác với bạn và thầy
Qua thời (I), chủ thể đã tự thể hiện mình bằng cách tự đặt mình vào tình huống,bằng sắm vai, bằng văn bản của sản phẩm học ban đầu Giờ đây, cần tiếp tục tự thể
hiện để hợp tác với các bạn và thầy bằng cách tự trình bày và bảo vệ sản phẩm học của mình, hỏi bạn và thầy về những gì đã tự hỏi mà không tự trả lời được, tỏ rõ thái độ của mình trước chủ kiến của bạn; tham gia tranh luận Tranh luận có trọng tài, có kết luận
của thầy Tranh luận và kết luận của thầy sẽ cho phép chủ thể bổ sung sản phẩm banđầu của mình thành một sản phẩm khách quan hơn, có tính hợp tác, xã hội, nhất làthông qua việc “tự kiểm tra, tự điều chỉnh” ở thời (III) dưới đây
Thời (III): Tự kiểm tra, tự điều chỉnh
Thảo luận ở cộng đồng lớp và kết luận của thầy đã cung cấp thông tin phản hồi
về sản phẩm học ban đầu của chủ thể, lấy đó làm cơ sở cho người học so sánh, đối
chiếu, tự kiểm tra lại sản phẩm học, tự đánh giá, tự phê bình và cuối cùng tổng hợp, chốt lại vấn đề rồi tự sửa sai, điều chỉnh, hoàn chỉnh thành sản phẩm khoa học, và tự
Trang 23rút kinh nghiệm về cách học, cách tư duy, cách giải quyết vấn đề của mình, sẵn sàng
bước vào một tình huống học mới
Chu trình học ba thời “Tự nghiên cứu – Tự thể hiện, hợp tác với bạn và thầy –
Tự kiểm tra, tự điều chỉnh” – thực chất cũng chính là con đường “Nhận biết, pháthiện vấn đề, định hướng giải quyết và giải quyết vấn đề” của việc nghiên cứu khoahọc – con đường xoắn ơristic kiểu học trò ở tầm vóc và trình độ của người học, dẫndắt người học đến tri thức khoa học, đến chân lý mới (chỉ mới đối với người học) và
chỉ có thể diễn ra dưới sự hướng dẫn của thầy.
Ngay từ thời (I), thầy đã hướng dẫn người học cách tự nghiên cứu như giới
thiệu vấn đề (ý nghĩa, mục tiêu, định hướng), hướng dẫn cách thu nhận, xử lý thôngtin, cách giải quyết vấn đề và tạo điều kiện thuận lợi cần thiết để trò có thể tự nghiêncứu, tự tìm ra kiến thức
Ở thời (II), thầy là người tổ chức cách học hợp tác hai chiều đối thoại trò – trò, trò
– thầy, như giúp đỡ cá nhân trình bày, bảo vệ sản phẩm học, tổ chức thảo luận ở cộng
đồng lớp học, lái cuộc tranh luận theo đúng mục tiêu Cuối cùng thầy là người trọng tài
kết luận về những gì người học đã tự tìm ra và tranh luận thành tri thức khoa học
Ở thời (III), thầy là người cố vấn cho trò tự kiểm tra, tự điều chỉnh như cung
cấp thông tin liên hệ ngược về sản phẩm học (kết luận, đánh giá, cho điểm,…), giúp
đỡ trò tự đánh giá, tự sửa sai, tự rút kinh nghiệm về cách học
Chu trình học ba thời không có nghĩa tuyệt đối là có “ba bước”, “ba giai đoạn”,
có ranh giới rạch ròi, máy móc, tách rời nhau, mà có thể đan xen, hoà nhập lẫn nhau
và có thể biến động theo hoàn cảnh người học Ngay trong lúc đang tham gia thảoluận (thời II), chủ thể có thể động não, suy nghĩ (tự nghiên cứu – thời I), hoặc tự kiểmtra, tự phê bình về sản phẩm học của mình (thời III) Thời chỉ có nghĩa là vào lúc đó,nổi bật lên vai trò của cá nhân người học, của lớp hay của thầy Thời nào cũng có vaitrò và hoạt động của trò và thầy, song ở thời (I), nổi lên vai trò lao động cá nhân (học
cá nhân) của người học với kết quả là sản phẩm học ban đầu Thời (II) là vai trò củalao động hợp tác (học hợp tác) với thầy và bạn ở lớp học, tạo ra sản phẩm học mangtính hợp tác – xã hội Ở thời (III), nổi lên vai trò lao động cá nhân (học cá nhân) ởtrình độ cao hơn thời I: tự kiểm tra, tự phê bình, tự sửa sai, tự điều chỉnh, rút kinhnghiệm,…
Điều cốt yếu là cả ba thời đều diễn ra trên cái nền chung là hành động học, tự
học, tự nghiên cứu, tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo của chủ thể, dưới sự hướng dẫn hợp lý của nhà giáo.
Ba thời cũng có thể xem như là ba cách học tổng quát: cách tự nghiên cứu, cáchhọc hợp tác, cách tự kiểm tra, tự điều chỉnh
Chu trình học ba thời bắt đầu từ “Tự nghiên cứu” dưới sự hướng dẫn của thầy,
Trang 24qua các thời “Tự thể hiện, hợp tác với bạn và thầy” và “Tự kiểm tra, tự điều chỉnh”
Trang 25rồi trở lại “Tự nghiên cứu” ở một tình huống học mới, ở trình độ cao hơn trình độ banđầu “một ít”, theo con đường xoắn ốc nhiều tầng từ tự học đến học hợp tác rồi trở lại
tự học để dần dần kiến tạo cho bản thân chủ thể trình độ và năng lực tự học, tự nghiêncứu, năng lực tư duy, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề
Tổng thể các chu trình học là “cuộc hành trình nội tại” phát triển bền vững ởmỗi người học năng lực tự học và thói quen tự học suốt đời “để hiểu”, “để làm”, “đểhợp tác cùng chung sống” và “để làm người” lao động tự chủ, năng động và sáng tạocủa thế kỷ XXI
1.3.5 Vai trò của tự học.
TheoGS.TS Trịnh Văn Biều, tự học có các vai trò sau :
- Tự học có ý nghĩa quyết định quan trọng đối với sự thành đạt của mỗi người
“Mỗi người đều nhận được hai thứ giáo dục : một thứ do người khác truyền cho, một thứ, quan trọng hơn nhiều, do mình tự tìm lấy’- Gibbon
Chính vì vậy ông thầy hay nhất là ông thầy không lo nhồi nhét kiến thức mà lotruyền dạy phương pháp tự học cho HS
- Tự học là con đường tự khẳng định của mỗi người
- Tự học là con đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người
- Tự học khắc phục nghịch lí : học vấn thì vô hạn mà tuổi học đường thì giới hạn
- Tự học góp phần dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục một cách hiệu quả nhằm phát huy, tận dụng tiềm năng to lớn của mỗi thành viên trong cộng đồng
Theo GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn:
- Cốt lõi của việc học cũng chính là tự học Như vậy tự học chính là con đườngquan trọng nhất giúp người học chiếm lĩnh được tri thức, thành đạt trong học vấn
- “Tự học không có nghĩa là hạ thấp vai trò của người thầy : “Không thầy đốmày làm nên” Nhưng “mày” chỉ làm nên nếu “thầy” biết cách giúp “mày” phát triểnkhả năng tự học Tự học không chỉ là vấn đề trí dục mà còn là vấn đề đức dục và thểdục Chỉ có tự học thì mới học được suốt đời, học một cách chủ động, giảm đến mứcthấp nhất giá thành đào tạo
PGS.TS Hoàng Anh, PGS.TS Nguyễn Thị Châu đã nêu vai trò của tự học thànhmấy điểm như sau:
- Tự học là phương thức tạo ra chất lượng thực sự lâu bền, là điều kiện quyếtđịnh trực tiếp đến chất lượng học tập của người học
- Chỉ có tự học mới giúp người học thông hiểu, bổ sung, hoàn thiện vào vốn trithức và vốn kinh nghiệm của mình, giúp họ vững vàng hơn trong học tập và công tácsau này
Trang 26- Tự học còn là cơ sở cho tính tích cực nhận thức của người học Tự học sẽ rènluyện cho người học đức kiên trì, lòng dũng cảm vượt khó, tính tự lực, chủ độngtrong công việc.
- Tự học còn giúp người học khắc phực được những nét tính cách không phùhợp, giúp họ tiến hành được hoạt động học tập ở mức độ khó khăn cao hơn
Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là hạ thấp vai trò của GV và tập thể HStrong nhà trường Các lực lượng này có tác dụng lớn trong việc động viên khuyếnkhích hướng dẫn HS tự học một cách đúng hướng và hiệu quả
Trong xã hội phát triển vai trò của giáo dục ngày càng quan trọng, là động lựcthúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội Giáo dục phải đào tạo được thế hệ trẻ năngđộng, sáng tạo, có đủ tri thức, năng lực và có khả năng thích ứng với đời sống xã hội,làm phát triển xã hội Muốn vậy thế hệ trẻ phải có năng lực đặc biệt đó là khả năng tựhọc, tự nâng cao, tự hoàn thiện và những khả năng này phải được hình thành từ cấptiểu học Có như vậy mới rèn luyện cho họ được kỹ năng tự học, tự nghiên cứu,không ngừng nâng cao vốn hiểu biết về văn hoá, khoa học kỹ thuật và hiện đại hoávốn tri thức của mình để trở thành người công dân, người lao động với đầy đủ hànhtrang bước vào cuộc sống
Tóm lại tự học chính là con đường để mỗi chúng ta tự khẳng định khả năngcủa mình Nó có ý nghĩa quyết định quan trọng đối với sự thành đạt của mỗi người.Tuy tự học có một vai trò hết sức quan trọng nhưng tự học của HS cũng không thểđạt được kết quả cao nhất nếu không có sự hướng dẫn, chỉ dạy của người thầy.Chính vì vậy, “trong nhà trường điều chủ yếu không phải là nhồi nhét cho học tròmột mớ kiến thức hỗn độn,… mà là giáo dục cho học trò PP nghiên cứu, PP suynghĩ, PP học tập, PP giải quyết vấn đề” (cố thủ tướng Phạm Văn Đồng – 1969) GVcần giúp cho HS tìm ra phương pháp tự học thích hợp và cung cấp cho HS nhữngphương tiện, tài liệu tự học có hiệu quả chính là một trong những cách giúp HS tìm
ra chìa khoá vàng để mở kho tàng kiến thức vô tận của nhân loại
1.4 Bài tập hóa học [9], [10], [16], [17], [24], [25], [30], [31], [32], [33], [37], [39]
1.4.1 Khái niệm bài tập hóa học
Thực tiễn ở trường phổ thông, bài tập giữ vai trò rất quan trọng trong việc thựchiện mục tiêu đào tạo Bài tập vừa là mục đích, vừa là nội dung, vừa là PPDH hiệuquả Bài tập cung cấp cho HS cả kiến thức, con đường giành lấy kiến thức và cả niềmvui của sự phát hiện –tìmra đáp số - mộttrạng thái hưng phấn - hứngthú nhận thức -một yếu tố tâm lý góp phần rất quan trọng trong việc nâng cao tính hiệu quả của hoạtđộng thực tiễn của con người, điều này đặc biệt được chú ý trong nhà trường của cácnước phát triển
Vậy BTHH là gì? Nên hiểu khái niệm này như thế nào cho trọn vẹn, đặc biệt là
Trang 27GV nên sử dụng BTHH nhƣ thế nào để đạt hiệu quả trí -đứcdục cao nhất?
Trang 28Theo Từ điển tiếng Việt, bài tập là yêu cầu của chương trình cho HS làm đểvận dụng những điều đã học và cần giải quyết vấn đề bằng phương pháp khoa học Một
số tài liệu lý luận dạy học “thường dùng bài toán hoá học” để chỉ những bài tập địnhlượng – đólà những bài tập có tính toán – khiHS cần thực hiện những phép tính nhấtđịnh
Theo các nhà lý luận dạy học Liên Xô (cũ), bài tập bao gồm cả câu hỏi và bàitoán, mà trong khi hoàn thành chúng, HS vừa nắm được, vừa hoàn thiện một tri thứchay một kỹ năng nào đó, bằng cách trả lời miệng, trả lời viết hoặc kèm theo thựcnghiệm Ở nước ta, SGK hoặc sách tham khảo, thuật ngữ “bài tập” được dùng theoquan điểm này
Về mặt lý luận dạy học, để phát huy tối đa tác dụng của BTHH trong quá trìnhdạy học người GV phải sử dụng và hiểu nó theo quan điểm hệ thống và lý thuyết hoạtđộng Một HS lớp 1 không thể xem bài tập lớp 10 là một “bài tập” và ngược lại, đốivới HS lớp 10, bài toán lớp 1 không còn là “bài tập” nữa! Bài tập chỉ có thể là “bàitập” khi nó trở thành đối tượng hoạt động của chủ thể, khi có một người nào đó cónhu cầu chọn nó làm đối tượng, mong muốn giải nó, tức là khi có một “người giải”
Vì vậy, bài tập và người học có mối quan hệ mật thiết tạo thành một hệ thống toànvẹn, thống nhất, và liên hệ chặt chẽ với nhau
1.4.2 Tác dụng của bài tập hóa học
Việc dạy học không thể thiếu bài tập, sử dụng bài tập là một biện pháp hết sứcquan trọng để nâng cao chất lượng dạy học BTHH có ý nghĩa, tác dụng to lớn về nhiềumặt
1.4.2.1 Ý nghĩa trí dục
BTHH là một trong những phương tiện hiệu nghiệm cơ bản nhất để dạy họcsinh vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, sản xuất và tập nghiên cứukhoa học, biến những kiến thức đã thu được qua bài giảng thành kiến thức của chínhmình Kiến thức nhớ lâu khi được vận dụng thường xuyên như M.A Đanilôp nhậnđịnh: “Kiến thức sẽ được nắm vững thực sự, nếu học sinh có thể vận dụng thành thạochúng vào việc hoàn thành những bài tập lý thuyết và thực hành”
BTHH làm chính xác hóa các khái niệm hóa học, củng cố, đào sâu và mở rộngkiến thức một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn Chỉ khi vận dụng được kiến thứcvào việc giải bài tập HS mới nắm được kiến thức một cách sâu sắc, ôn tập, hệ thốnghóa kiến thức một cách tích cực nhất Khi ôn tập, HS sẽ không tập trung nếu chỉ yêu cầu
HS nhắc lại kiến thức cũ Điều đó cho thấy HS chỉ có hứng thú vào môn học khi đượcgiải bài tập và mở rộng kiến thức liên quan đến thực tế đời sống và sản xuất trong giờ
ôn tập
BTHH rèn luyện các kỹ năng hóa học như cân bằng PTHH, tính toán theo
Trang 29CTHHvà PTHH Nếu là bài tập thực nghiệm (TN) sẽ rèn các kỹ năng thực hành gópphần vào việc giáo dục kỹ thuật tổng hợp cho HS.
Trang 30BTHH phát triển năng lực nhận thức, rèn trí thông minh cho HS (HS cần phảihiểu sâu mới hiểu được trọn vẹn) Một số bài tập có tình huống đặc biệt, ngoài cáchgiải thông thường còn có cách giải độc đáo nếu HS có tầm nhìn sắc sảo Thôngthường nên yêu cầu HS giải bằng nhiều cách, có thể tìm cách giải ngắn nhất, hay nhất– đó là cách rèn luyện trí thông minh cho HS Khi giải bài toán bằng nhiều cách dướigóc độ khác nhau thì khả năng tư duy của HS tăng nên gấp nhiều lần so với một HSgiải nhiều bài toán bằng một cách và không phân tích đến nơi đến chốn.
BTHH còn được sử dụng như một phương tiện nghiên cứu tài liệu mới (hình thànhkhái niệm, định luật) khi trang bị kiến thức mới, giúp HS tích cực, tự lực, lĩnh hội kiếnthức một cách sâu sắc và bền vững Điều này thể hiện rõ khi HS làm bài tập thực nghiệmđịnh lượng
BTHH phát huy tính tích cực, tự lực của HS và hình thành phương pháp học tậphợp lý BTHH còn là phương tiện để kiểm tra kiến thức, kỹ năng của HS một cáchchính xác.Ngoài ra,BTHH còn rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễnđời sống, lao động sản xuất và bảo vệ môi trường, rèn luyện kỹ năng sử dụng ngônngữ hóa học và các thao tác tư duy
rõ khi giải bài tập TN
Bản thân một BTHH chưa có tác dụng gì cả: không phải một BTHH“hay” thì luôn có tác dụng tích cực! Vấn đề phụ thuộc chủ yếu vào “ người sử dụng nó” Làm thế nào phải biết trao đúng đối tượng, phải biết cách khai thác triệt để mọi khía cạnh của bài toán, để HS tự mình tìm ra cách giải, lúc đó BTHH thật sự có ý nghĩa.
1.4.3 Phân loại bài tập hóa học
Hiện nay có nhiều cách phân loại BTHH dựa trên cơ sở khác nhau:
- Dựa vào mức độ kiến thức:(cơ bản, nâng cao)
- Dựa vào tính chất bài tập:(định tính, định lượng)
- Dựa vào hình thái hoạt động của học sinh:(lý thuyết, thực nghiệm)
- Dựa vào mục đích dạy học:(ôn tập, luyện tập, kiểm tra)
- Dựa vào cách tiến hành trả lời:(trắc nghiệm khách quan, tự luận)
- Dựa vào kỹ năng, phương pháp giải bài tập:(lập công thức, hỗn hợp, tổng hợp chất,
Trang 31xác định cấu trúc ).
Trang 32- Dựa vào loại kiến thức trong chương trình:.(dung dịch, điện hoá, động học, nhiệt hoá học, phản ứng oxihoá - khử ).
- Dựa vào đặc điểmbài tập:
+ Bài tập định tính: (giải thích hiện tượng, nhận biết, điều chế, tách hỗn hợp )
+ Bài tập định lượng:(có lượng dư, giải bằng trị số trung bình, giải bằng đồ thị ).Giữa các cách phân loại không có ranh giới rõ rệt, người ta phân loại để nhằmphục vụ cho những mục đích nhất định
1.4.4 Hoạt động của học sinh trong quá trình tìm kiếm lời giải cho bài tập hóa học
1.4.4.1 Các giai đoạn của quá trình giải bài tập hóa học
Bao gồm 4 giai đoạn cơ bản như sau
a) Nghiên cứu đầu bài
+Đọc kỹ đầu bài.
+ Phân tích các điều kiện và yêu cầu của đề bài (nên tóm tắt dưới dạng sơ đồ cho dễ
sử dụng)
+ Chuyển các giả thiết đã cho về các giả thiết cơ bản
+ Viết các PTHH có thể xảy ra
b) Xây dựng tiến trình luận giải
Xây dựng tiến trình luận giải thực chất là đi tìm con đường đi từ cái cần tìm đếncái đã cho Bằng cách xét một vài các bài toán phụ liên quan Tính logic của bài toán
có chặt chẽ hay không là ở giai đoạn này Nếu GV biết rèn luyện cho HS tự xây dựngcho mình một tiến trình luận giải tốt, tức là GV đã dạy cho HS bằng bài tập Thôngqua đó HS không chỉ nắm vững kiến thức, biết cách giải mà còn có được một cáchthức suy luận, lập luận để giải bất kỳ một bài tập nào khác
c) Thực hiện tiến trình giải
Thực hiện tiến trình giải thực chất là trình bày lời giải một cách tường minh từgiả thiết đến cái cần tìm Với các bài tập định lượng, phần lớn là đặt ẩn số, dựa vàomối tương quan giữa các ẩn số để lập phương trình, giải phương trình hay hệphương trình và biện luận kết quả (nếu cần)
d) Đánh giá việc giải
Bằng cách khảo sát lời giải, kiểm tra lại toàn bộ quá trình giải Có thể đi đến kếtquả bằng cách khác không? Tối ưu hơn không? Tính đặc biệt của bài toán là gì? Trên thực tế, ngay cả với những HS giỏi, sau khi tìm ra cách giải và trình bày lậpluận của mình một cách sáng sủa, cũng không được xem như việc giải đã kết thúc.Như vậy, chúng ta đã bỏ mất một giai đoạn quan trọng và rất bổ ích cho việc học hỏi.Việc nhìn lại cách giải, khảo sát, phân tích kết quả và con đường đã đi, HS có thể củng
cố kiến thức và phát triển khả năng giải bài tập của mình Người GV phải hiểu vàlàm cho HS hiểu: không có một bài tập nào hoàn toàn kết thúc, bao giờ cũng còn lại
Trang 33một cái gì để suy nghĩ.
Trang 34Nếu có đầy đủ kiên nhẫn và chịu khó suy nghĩ thì có thể hoàn thiện cách giải và trongmọi trường hợp, bao giờ cũng hiểu được cách giải sâu sắc hơn.
1.4.4.2 Mối quan hệ giữa nắm vững kiến thức và giải bài tập hóa học[22]
- Kiến thức được hiểu là kết quả quá trình nhận thức bao gồm “một tập hợp
nhiều mặt về chất lượng và số lượng của các biểu tượng và khái niệm lĩnh hội được,giữ lại trong trí nhớ và được tái tạo lại khi có những đòi hỏi tương ứng”
- Những kiến thức được nắm một cách tự giác, sâu sắc do có tích luỹ thêm kỹnăng, kỹ xảo sẽ trở thành công cụ tư duy của HS
- Theo M.A Đanilôp: “Kỹ năng là khả năng của con người biết sử dụng có mục đích
và sáng tạo những kiến thức và kỹ xảo của mình trong quá trình hoạt động lý thuyết cũngnhư thực tiễn” Kỹ năng bao giờ cũng xuất phát từ kiến thức, dựa trên kiến thức Kỹnăng chính là kiến thức trong hành động Còn kỹ xảo là hành động mà những hợp thànhcủa nó do luyện tập mà trở thành tự động hoá Kỹ xảo là mức độ cao của sự nắm vững
kỹ năng Nếu như kỹ năng đòi hỏi ở mức độ nhiều, ít sự tự kiểm tra, sự tự giác, tỉ mỉ thì
kỹ xảo là hành động đã được tự động hoá, trong đó sự tự kiểm tra, tự giác xảy ra chớpnhoáng và các thao tác được thực hiện rất nhanh, như một tổng thể, dễ dàng và nhanhchóng
- Sự nắm vững kiến thức có thể được phân biệt ở 3 mức độ: Biết, hiểu và vận dụng được
+ Biết một kiến thức nào đó nghĩa là nhận ra nó, phân biệt nó với các kiến thứckhác, kể lại một nội hàm của nó một cách chính xác Đây là mức độ tối thiểu mà HScần đạt được trong giờ học tập
+ Hiểu một kiến thức là gắn kiến thức ấy vào một kiến thức đã biết đưa được nóvào trong hệ thống kinh nghiệm của bản thân Nói cách khác, hiểu một kiến thức lànêu đúng nội hàm và ngoại diên của nó, xác lập được những quan hệ giữa nó và hệthống kiến thức và vận dụng được trực tiếp kiến thức ấy vào những tình huống quenthuộc dẫn đến có khả năng vận dụng nó một cách linh hoạt và sáng tạo
+ Vận dụng kiến thức vào giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn, tức là phải tìmđược kiến thức thích hợp trong vốn kiến thức đã có để giải quyết một nhiệm vụ mới.Thông qua vận dụng kiến thức đã được nắm vững một cách thực sự, sâu sắc hơncàng làm cho quá trình nắm vững kiến thức một cách tự giác, sáng tạo, làm chomối quan hệ giữa lý thuyết và thực tiễn càng sâu sắc, gần gũi Mặt khác, trong khivận dụng kiến thức, các thao tác tư duy được trau dồi, một số kỹ năng, kỹ xảođược hình thành và củng cố, hứng thú học tập của HS được nâng cao
- Để đảm bảo cho HS nắm vững được kiến thức hoá học một cách chắc chắn cầnphải hình thành cho họ kỹ năng, kỹ xảo vận dụng kiến thức thông qua nhiều hình thứctập luyện khác nhau Trong đó, việc giải bài tập một cách có hệ thống từ dễ đến khó là
Trang 35một hình thức rèn luyện phổ biến đƣợc tiến hành nhiều nhất Theo nghĩa rộng, quátrình học tập là quá trình liên tiếp giải các bài tập Vì vậy, kiến thức sẽ đƣợc nắmvững hoàn
Trang 36toàn nếu như họ tự lực, tích cực vận dụng linh hoạt, dùng kiến thức ấy để giải quyếtcác bài toán khác nhau Ở đây, chúng ta thấy rõ quan hệ biện chứng giữa nắm vững vàvận dụng kiến thức trong quá trình nhận thức của HS:
1.4.5 Xu hướng phát triển của bài tập hóa học
BTHH là phương tiện có bản chất để HS vận dụng kiến thức vào việc giải quyếtcác nhiệm vụ học tập Nhờ sự vận dụng kiến thức để giải các bài tập mà kiến thức của
HS được củng cố, khắc sâu, chính xác hóa, mở rộng và nâng cao thêm Vì vậy BTHHvừa là nội dung, vừa là phương tiện dạy học có hiệu quả giúp GV truyền tải kiến thứcđến HS và ngược lại, HS cũng thu nhận kiến thức một cách chủ động, tích cực, sángtạo thông qua hoạt động giải bài tập
Thực tế hiện nay có rất nhiều BTHH còn quá nặng về cách giải, về thuật toántrong khi đó các kiến thức về hoá học thì ít và không gắn với thực tế Khi giải các bàitập này mất rất nhiều thời gian, trong khi đó kiến thức về hoá học lĩnh hội được từ bàitoán đó thì không được bao nhiêu, còn hạn chế khả năng vận dụng các kiến thức hoáhọc mà HS đã được học
Xu hướng phát triển của BTHH hiện nay:
Nội dung bài tập phải ngắn gọn, súc tích gắn với kiến thức hóa học, không quánặng về tính toán mà tập trung rèn luyện và phát triển năng lực nhận thức, tư duy cho
HS BTHH cần chú trọng rèn luyện thao tác, kỹ năng TN hóa học
BTHH cần chú trọng đến việc mở rộng kiến thức hóa học có liên quan đến thựctiễn và các ứng dụng của hóa học trong đời sống, để giúp HS thấy được kiến thức hóahọc mang tính thiết thực với cuộc sống con người Trong bài tập cần khai thác yếu tốảnh hưởng của hóa học đến môi trường, kinh tế xã hội, đời sống sản xuất và các hiệntượng tự nhiên để làm cho nội dung bài trở nên hấp dẫn, nâng cao hứng thú học tập của
bộ môn
Các BTHH định lượng được xây dựng không quá phức tạp về thuật toán và chútrọng đến hiện tượng, quá trình hóa học và các phép tính sử dụng các phương phápgiải BTHH cơ bản
Chuyển hóa một số dạng BTHH tự luận sang dạng TNKQ để rèn luyện khảnăng suy luận, tư duy tính toán nhanh cho HS Tuy nhiên, vẫn phải duy trì các BTHH
tự luận để kiểm tra khả năng tư duy và trình bày của HS, qua đó tìm ra HS giỏi, cókhả năng tư duy tốt qua việc tìm được những cách giải hay
Xây dựng thêm các BTHH về bảo vệ môi trường và đa dạng hoá bài tập như:Bài tập bằng hình vẽ, bài tập vẽ đồ thị, sơ đồ, lắp dụng cụ thí nghiệm
Xu hướng phát triển của BTHH hiện nay là tăng mức độ, khả năng hoạt động tư
Trang 37của HS ở các phương diện: lí thuyết, thực hành, và ứng dụng Những BTHH có tính chấthọc
Trang 38thuộc, tái hiện kiến thức trong các câu hỏi lí thuyết hoặc sử dụng những thuật toán phứctạp sẽ giảm dần vì nó sẽ làm mất đi nét đặc thù của bộ môn hóa học cùng khả năng tưduy sáng tạo, sự suy luận logic trên cơ sở lí thuyết và sự kiểm chứng bằng TN hóa học.Như vậy việc sử dụng BTHH trong DHHH sẽ được thực hiện:
Dùng bài tập hình thành khái niệm mới Xây dựng các dạng bài tập hình thành khái niệm (xây dựng trong phiếu học tập)
Dùng bài tập rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức: dùng bài tập giúp HS giải quyết vấn đề học tập, vấn đề thực tiễn
Dùng bài tập để phát triển tư duy sáng tạo: xây dựng các bài tập khó bồi dưỡng HS giỏi
1.5 Tình hình sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ học sinh tự học hiện nay ở
trường Trung học Phổ thông.
1.5.1 Mục đ ch điều tra
1.5.1.1 Đối với học sinh:
- Tìm hiểu thái độ, tình cảm, nhận thức của HS về BTHH
- Việc chuẩn bị cho tiết bài tập và giải bài tập của HS
- Tìm hiểu những khó khăn mà các em gặp phải khi giải bài tập và các yếu tố giúp HS giải thành thạo một dạng bài tập
- Tìm hiểu nhận thức của HS về tự học và vai trò của tự học
- Tìm hiểu về vấn đề sử dụng thời gian và cách thức tự học
- Tìm hiểu những khó khăn mà các em gặp phải khi tự học và các yếu tố tácđộng đến hiệu quả của việc tự học
1.5.1.1 Đối với giáo viên:
- Tìm hiểu về tình hình xây dựng HTBT của GV
- Tìm hiểu cách nhìn nhận và suy nghĩ của GV về vai trò của BTHH trong dạyhọc hóa học
- Tìm hiểu tình hình dạy BTHH ở trường THPT: mức độ thành công, những khó khăn gặp phải khi dạy BTHH
- Tìm hiểu về biện pháp xây dựng và sử dụng hệ thống BTHH hỗ trợ HS tự học, tự làm bài tập
1.5.2 Đối tượng, phương pháp điều tra
1.5.2.1 Đối tượng điều tra: Việc dạy và học các tiết có sử dụng bài tập ở các trường
THPT khác nhau ở huyện Phú Xuyên – TP Hà Nội:THPT Phú Xuyên B và THPT Phú Xuyên A
1.5.2.2 Phương pháp điều tra:
- Phát phiếu điều tra cho 18 GV dạy môn Hóa học ở các trường nói trên
+ Những ý kiến của GV về việc sử dụng HTBT ở trường THPT nhằm hỗ trợ HS tự học
Trang 39+ Các PPDH được GV sử dụng khi dạy các tiết có sử dụng bài tập.
- Chúng tôi cũng đã gửi phiếu điều tra đến 360 HS (8 lớp) ở các trường THPT :
Trang 40THPT Phú Xuyên B và THPT Phú Xuyên A Số phiếu thu hồi được là 356 phiếu.
1.5.3 Kết quả điều tra
Qua phân tích kết quả khảo sát ban đầu (phiếu khảo sát được trình bày ở phụlục 1 của luận văn) về việc sử dụng HTBT hỗ trợ HS tự học, chúng tôi nhận thấy:
Đa số GV đều cho rằng việc sử dụng HTBT là rất quan trọng trong việc dạy vàhọc hóa học Tuy nhiên, BTHH trong SGK và SBT vẫn chưa đầy đủ các dạng và baoquát kiến thức của chương trình, vì vậy việc xây dựng HTBT hóa học cho HS nóichung và HTBT hóa học hỗ trợ HS tự học nói riêng là hết sức cần thiết
Khó khăn lớn nhất của GV khi dạy BTHH là không đủ thời gian Do đó, số bàitập mà GV phải dạy trong một tiết học khá nhiều kéo theo thời gian dành cho HS tựhọc rất ít Một khó khăn không nhỏ là không có HTBT chất lượng hỗ trợ HS tự học
GV cho rằng việc xây dựng HTBT hỗ trợ HS tự học là rất cần thiết Theo cácthầy cô, HTBT hỗ trợ tốt cho HS tự học là HTBT có phân dạng, xếp từ dễ đến khó, cóbài giải mẫu cho từng dạng, có bài tập tổng hợp để HS hệ thống và củng cố kiến thức,được soạn chi tiết theo từng bài học và có đáp số cho các bài tập tương tự
Có 67% GV không tự biên soạn HTBT mà chủ yếu sử dụng các bài tập trongSGK, SBT hoặc từ internet (không biên soạn lại) 33% GV tự biên soạn HTBT thì số
GV sắp xếp các bài tập theo từng nội dung kiến thức của chương hoặc phân dạng bàitập là khá ít đặc biệt bài tập sau mỗi bài học để hỗ trợ HS tự học ở nhà và làm rõ líthuyết là hầu như không được chú ý biên soạn cho phù hợp với đối tượng HS
Về mục đích của việc sử dụng bài tập thì có 73% GV sử dụng với mục đíchđảm bảo kiến thức cơ bản cho HS, 12% GV sử dụng với mục đích bảo đảm việc điểm
số trong kiểm tra cho HS.Việc sử dụng bài tập để hướng dẫn HS tự rút ra quy luậtgiải toán, khuyến khích HS nhìn nhận một vấn đề dưới nhiều khía cạnh khác nhauhoặc giúp HS vượt qua chướng ngại nhận thức thông qua việc phát hiện và giảiquyết vấn đề vẫn chưa được quan tâm đúng mức
Về việc hướng dẫn HS giải bài tập tại lớp thì có 58% GV áp dụng phương pháptruyền thống là GV hướng dẫn bài tập mẫu, sau đó yêu cầu HS làm bài tương tự trênbảng hoặc gọi HS lên bảng giải bài tập và thừa nhận bài giải của HS.Số GV cho HSthảo luận theo nhóm rồi yêu cầu thành viên trong nhóm thuyết trình là 27% Việc GVgợi ý để HS tự xây dựng tiến trình luận giải cho từng dạng bài tập cụ thể hoặc GV để
HS tự độc lập suy nghĩ cách giải bài tập là khá ít.Bên cạnh đó, GV thường dạy tiếtluyện tập, ôn tập, tự chọn giống như một tiết chữa bài tập.Thông thường, GV cho HSchữa hết các bài tập trong SGK và làm thêm một vài bài tập nâng cao trong SBT hoặcchỉ hệ thống hóa kiến thức đã học ở những bài trước theo kiểu kiểm tra bài cũ
Qua số liệu trên, cũng như qua trò chuyện với một số HS, số liệu thống kê quacác phiếu điều tra chúng tôi nhận thấy, HS chưa được hướng dẫn các phương pháp