Đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị (LLCT) cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý là một trong những khâu có ý nghĩa quyết định đối với việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ. Thực tiễn không ngừng biến đổi, lý luận cũng không ngừng được bổ sung, phát triển phù hợp với sự vận động phát triển của xã hội trong từng giai đoạn cách mạng, đòi hỏi đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý phải không ngừng học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ ngang tầm nhiệm vụ. Đào tạo cao cấp lý luận chính trị (CCLLCT) cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý là một trong nội dung quan trọng của đào tạo, bồi dưỡng LLCT, nhằm trang bị kiến thức lý luận chính trị, lãnh đạo quản lý, tư duy khoa học, tầm nhìn chiến lược góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ nhận thức, năng lực lãnh đạo, quản lý cho đội ngũ cán bộ.
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN KHẮC DỊU
CHÊT L¦îNG §µO T¹O CAO CÊP Lý LUËN CHÝNH TRÞ CHO C¸N Bé L·NH §¹O, QU¶N Lý TRONG GIAI §O¹N HIÖN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ
NƯỚC
Mã số: 62 31 02 03
2 PGS.TS NGUYỄN VĂN GIANG
HÀ NỘI - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Khắc Dịu
Trang 3vấn đề luận án sẽ tập trung nghiên cứu 21
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO CÁN BỘ LÃNH
2.1 Cán bộ lãnh đạo, quản lý và đào tạo cao cấp lý luận chính trị cho cán
2.2 Chất lượng đào tạo cao cấp lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản
lý - khái niệm, yếu tố quy định và tiêu chí đánh giá 43
Chương 3: CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
CHO CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ TRONG GIAI ĐOẠN
HIỆN NAY - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ NHỮNG
3.1 Thực trạng chất lượng đào tạo cao cấp lý luận chính trị cho cán bộ
lãnh đạo, quản lý trong giai đoạn hiện nay 623.2 Nguyên nhân của thực trạng và những vấn đề đặt ra 100
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
ĐÀO TẠO CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 1104.1 Dự báo tình hình tác động và quan điểm nâng cao chất lượng đào tạo
cao cấp lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý trong giai đoạn
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CCLLCT : Cao cấp lý luận chính trị
CCLLCT - HC : Cao cấp lý luận chính trị - hành chínhCNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa DHTC : Dạy học tích cực
LLCT : Lý luận chính trị
Nxb : Nhà xuất bản
TC : Tiêu chuẩn
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
TrangBảng 3.1: Mức độ ưu tiên đối với việc học lý luận chính trị 89Biểu đồ 3.1: Kết quả học tập tại Trung tâm Học viện 96Biểu đồ 3.2: Kết quả học tập tại Học viện Chính trị khu vực IV 97
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị (LLCT) cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo,quản lý là một trong những khâu có ý nghĩa quyết định đối với việc nâng cao chấtlượng đội ngũ cán bộ
Thực tiễn không ngừng biến đổi, lý luận cũng không ngừng được bổ sung,phát triển phù hợp với sự vận động phát triển của xã hội trong từng giai đoạn cáchmạng, đòi hỏi đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý phải không ngừng học tập, nghiêncứu để nâng cao trình độ ngang tầm nhiệm vụ Đào tạo cao cấp lý luận chính trị(CCLLCT) cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý là một trong nội dung quan trọngcủa đào tạo, bồi dưỡng LLCT, nhằm trang bị kiến thức lý luận chính trị, lãnh đạoquản lý, tư duy khoa học, tầm nhìn chiến lược góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị,trình độ nhận thức, năng lực lãnh đạo, quản lý cho đội ngũ cán bộ
Trong những năm qua, công tác đào tạo CCLLCT cho cán bộ lãnh đạo, quản
lý được các cấp uỷ đảng quan tâm và đạt nhiều kết quả quan trọng: hệ thống cơ sởđào tạo CCLLCT đã được củng cố và phát triển; quy mô đào tạo không ngừng mởrộng, bảo đảm thực hiện kế hoạch được giao, một số lượng lớn cán bộ lãnh đạo,quản lý đã được đào tạo CCLLCT; đổi mới chương trình, nội dung đào tạo, bồidưỡng; đội ngũ giảng viên tăng cả về số lượng và chất lượng; công tác quản lý đàotạo được chú trọng, điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật của các cơ sở đào tạo được cảithiện… Những kết quả của công tác đào tạo CCLLCT đã góp phần làm cho cán bộlãnh đạo, quản lý nhận thức đúng đắn về tình hình đất nước, nâng cao năng lực, tưduy công tác góp phần quan trọng vào công tác xây dựng đảng, chính quyền vàđoàn thể chính trị - xã hội, giữ vững ổn định chính trị và thực hiện nhiệm vụ pháttriển kinh tế - xã hội
Những thành tựu và kết quả nói trên là do có sự quan tâm, chăm lo của Đảng,Nhà nước; của các cấp uỷ đảng và tinh thần trách nhiệm của các cơ sở đào tạo, sựtận tuỵ của đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý đào tạo đã tích cực đổi mới trongchỉ đạo, tổ chức thực hiện đào tạo LLCT; sự ổn định về chính trị cùng với nhữngthành tựu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Trang 7Tuy nhiên, bên cạnh những chuyển biến tích cực, chất lượng công tác đàotạo CCLLCT trong thời gian qua còn hạn chế: nội dung, chương trình đào tạo chưađảm bảo yêu cầu nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn và rèn luyện tư tưởng chínhtrị, đạo đức, tác phong cho học viên; phương pháp giảng dạy chậm đổi mới, nặng vềtruyền đạt kiến thức, chưa phát huy được tính tích cực và sáng tạo của học viên;cách đánh giá kết quả học tập của học viên còn lúng túng, chưa phản ánh đúng thựcchất, quản lý đào tạo có mặt còn yếu kém, nhất là quản lý tự học của học viên; độingũ giảng viên, cán bộ quản lý đào tạo có mặt chưa tương xứng với yêu cầu củacông tác đào tạo LLCT.
Những hạn chế, yếu kém nói trên do nhiều yếu tố như: một số cấp ủy, cơquan đơn vị chưa nhận thức sâu sắc và toàn diện về công tác đào tạo LLCT, không
ít cán bộ, đảng viên xác định chưa đúng mục tiêu đào tạo CCLLCT là nâng caotrình độ LLCT để phục vụ công tác tốt hơn, mà coi mục tiêu đào tạo là có đủ bằngcấp, chứng chỉ để hoàn thiện tiêu chuẩn chức danh; việc cán bộ có xu hướng tậptrung vào học CCLLCT với hình thức đào tạo tại chức để hoàn thiện về tiêu chuẩnbằng cấp, tạo ra mất cân đối giữa yêu cầu học tại chức và tập trung; hệ thống vănbản chỉ đạo, hướng dẫn còn có bất cập, chưa đồng bộ; quy định về tiêu chuẩn trình
độ LLCT đối với các chức danh cán bộ còn có điểm chưa phù hợp, chậm đổi mớinên việc thực hiện phân cấp đào tạo LLCT theo đối tượng, tiêu chuẩn chức danhcòn có khó khăn, lúng túng; đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý đào tạo bất cập vềchất lượng, số lượng và cơ cấu, có một số hạn chế về chuyên môn nghiệp vụ, nănglực hoạt động thực tiễn; một bộ phận thiếu gương mẫu đã góp phần làm cho chấtlượng dạy và học chưa bảo đảm yêu cầu
Trước yêu cầu nhiệm vụ cách mạng thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước, quán triệt sâu sắc quan điểm về đổi mới căn bản, toàn diện giáodục và đào tạo được nêu tại Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của BanChấp hành Trung ương (khoá XI), Nghị quyết số 32-NQ/TW ngày 26 tháng 5 năm
2014 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồidưỡng LLCT cho cán bộ lãnh đạo, quản lý”, để bảo đảm góp phần thực hiện thắnglợi sự nghiệp đổi mới, việc nâng cao chất lượng công tác đào tạo CCLLCT cho cán
bộ lãnh đạo, quản lý là cần thiết, cấp bách
Trang 8Với tinh thần đó, việc nghiên cứu đề tài “Chất lượng đào tạo cao cấp lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong giai đoạn hiện nay” có
ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất cấp thiết
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về chất lượng đào tạo CCLLCTcho cán bộ lãnh đạo, quản lý thời gian qua; trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nângcao chất lượng đào tạo CCLLCT cho cán bộ lãnh đạo, quản lý trong giai đoạn hiệnnay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
- Làm rõ những vấn đề lý luận về chất lượng đào tạo CCLLCT cho cán bộlãnh đạo, quản lý
- Đánh giá đúng thực trạng chất lượng đào tạo CCLLCT cho cán bộ lãnh đạo, quản lý thời gian qua, xác định nguyên nhân và những vấn đề đặt ra từ thực trạngđó
- Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo CCLLCT cho cán bộlãnh đạo, quản lý trong giai đoạn hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là: Chất lượng đào tạo CCLLCT cho cán
bộ lãnh đạo, quản lý trong giai đoạn hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho cán bộ là vấn đề lớn, phạm vi rộng với nhiềuvấn đề liên quan Luận án này tập trung nghiên cứu về chất lượng đào tạo CCLLCTcho cán bộ lãnh đạo, quản lý trong giai đoạn hiện nay
Luận án khảo sát, nghiên cứu thực trạng chất lượng đào tạo CCLLCT chocán bộ lãnh đạo, quản lý của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh từ năm 2011đến nay và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo CCLLCT cho cán bộlãnh đạo, quản lý đến năm 2025
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận, thực tiễn
- Luận án được thực hiện trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đào tạo cán
Trang 9bộ lãnh đạo, quản lý Luận án có sự kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trìnhkhoa học đã công bố có liên quan đến đề tài.
- Luận án cũng được nghiên cứu dựa trên cơ sở thực tiễn đào tạo CCLLCTcho cán bộ lãnh đạo, quản lý của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Luận án
sử dụng hệ thống tài liệu, tư liệu, số liệu lưu trữ của các cơ quan, địa phương, đơn vịcũng như kết quả điều tra, khảo sát trong quá trình thâm nhập thực tế của tác giả
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp lôgíckết hợp phương pháp lịch sử, phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, tổng kết thựctiễn, điều tra xã hội học, thống kê, so sánh, phương pháp chuyên gia…
5 Những đóng góp mới về mặt khoa học
Một là, làm rõ quan niệm chất lượng đào tạo CCLLCT; xây dựng hệ thống
tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo CCLLCT cho cán bộ lãnh đạo, quản lý
Hai là, đề xuất một số giải pháp mới, mang tính đặc thù nâng cao chất lượng
đào tạo CCLLCT trong giai đoạn hiện nay:
- Tiếp tục nghiên cứu đổi mới chương trình, nội dung đào tạo cao cấp lý luậnchính trị theo hướng hiện đại, thiết thực, sát hợp với từng đối tượng, từng loại chứcdanh cán bộ
- Đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập theo hướng nghiên cứu, pháthuy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học, lấy người học làm trung tâm
- Đổi mới mạnh mẽ công tác quản lý đào tạo cao cấp lý luận chính trị, gắnhọc tập lý luận với việc rèn luyện tư tưởng chính trị, đạo đức, tác phong của ngườicán bộ lãnh đạo, quản lý
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu luận án góp phần làm rõ những vấn đề lý luận và thựctrạng công tác đào tạo CCLLCT cho cán bộ lãnh đạo, quản lý trong thời gian vừaqua
- Kết quả nghiên cứu của luận án là căn cứ cho việc đề xuất các giải pháp và
áp dụng trong thực tiễn nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạoCCLLCT, góp một phần phục vụ cho việc tham mưu đề xuất Bộ Chính trị ra Nghịquyết về “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho cán
Trang 10bộ lãnh đạo, quản lý” và các hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương về thực hiệnNghị quyết trên.
- Luận án có thể làm tài liệu để các tỉnh, thành ủy trong cả nước tham khảotrong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đảng và nghịquyết của cấp ủy ở từng địa phương về đào tạo CCLLCT cho đội ngũ cán bộ lănhđạo, quản lý; đồng thời có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu,giảng dạy và học tập môn Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước ở hệ thống Họcviện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và các trường chính trị của các tỉnh, thành phố
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nộidung luận án gồm 4 chương, 9 tiết
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Vai trò của công tác đào tạo cán bộ nói chung, đào tạo LLCT cho đội ngũcán bộ nói riêng đã được khẳng định ngay từ những ngày đầu thành lập Đảng ta.Trong thực tiễn, công tác này luôn được sự chỉ đạo của Đảng và được nhiều nhàkhoa học trong nước, ngoài nước quan tâm nghiên cứu Sau đây là những công trìnhnghiên cứu tiêu biểu trong thời gian gần đây:
1.1 NHỮNG NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
1.1.1 Đề tài khoa học
Do tầm quan trọng của công tác đào tạo LLCT đối với cán bộ lãnh đạo, quản
lý, những năm gần đây, nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu các vấn đề có liên quan:công tác cán bộ; công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT Trong các nghiên cứu đó, cónhiều đề tài cấp Nhà nước, cấp bộ Có thể điểm qua một số nghiên cứu quan trọngsau:
- “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” của Nguyễn Phú Trọng [111]
đã nghiên cứu công phu, có giá trị lớn cả về phương diện lý luận và và tổng kết thựctiễn về công tác cán bộ, đặc biệt là về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thời kỳđẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
- “Đổi mới nội dung, chương trình đào tạo giảng viên lý luận chính trị các trường đại học cao đẳng” của Tô Huy Rứa [92] đã đánh giá khái quát năng lực đào
tạo lý luận Mác - Lênin của một số trường Đại học tại Hà Nội, Học viện Chính trịquốc gia Hồ Chí Minh Đồng thời, tác giả cũng đề xuất một khung chương trìnhtổng thể để đào tạo giảng viên các môn lý luận Mác - Lênin
- “Đổi mới quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu khoa học Mác - Lênin - Kiến nghị và giải pháp” của Phạm Tất Dong
[41] đã làm rõ thực trạng đào tạo và giảng dạy của đội ngũ khoa học Mác - Lênin,đồng thời đề xuất những chế độ, chính sách để phát triển đội ngũ này Trong sốnhững giải pháp, đề xuất này, có những giả pháp không còn phù hợp với yêu cầumới, cần phải nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung phù hợp giai đoạn phát triển hiện nay
Trang 12- “Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị trong thời kỳ đổi mới” của Trần Xuân Sầm [94] đã tập trung nghiên cứu và
phân tích rõ vấn đề cơ cấu cán bộ, tiêu chuẩn cán bộ, mối quan hệ giữa cơ cấu vàtiêu chuẩn của cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp trong hệ thống chính trị trong thời
- “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về đánh giá, quy hoạch, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” của
Trần Đình Hoan [68] đã tập trung làm rõ những cơ sở khoa học, phân tích sâu sắctình hình thực tiễn, kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp cơ bản về đánh giá, quyhoạch, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; đồng thời, đánh giá, phân tích
về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác này trong sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước, góp phần làm sáng tỏ thêm các quan điểm của Đảng về luânchuyển cán bộ và kiến nghị các giải pháp để triển khai thực hiện tốt công tác điềuđộng, luân chuyển cán bộ ở các cấp, các ngành
- “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” của Vũ Văn Hiền [63] có phạm
vi nghiên cứu rộng, nội dung đề cập tới một số vấn đề và nhiệm vụ cấp bách đặt rađối với công tác cán bộ nói chung, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nói riêng củaĐảng trước yêu cầu của thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước
- “Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức đáp ứng đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân” của Bộ Nội vụ [28] đã phân tích
tính tất yếu khách quan của việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêucầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN); thực trạng đội ngũ
Trang 13và thể chế quản lý cán bộ, công chức cấp xã; phương hướng và giải pháp xây dựngđội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyềnXHCN ở nước ta.
- “Đổi mới phương pháp giảng dạy các môn khoa học Mác - Lênin ở Việt Nam- Những vấn đề chung” của Nguyễn Hữu Vui [122] đã đánh giá thực trạng sử
dụng phương pháp trong giảng dạy các môn khoa học Mác - Lênin hiện nay và đề ranhững giải pháp cơ bản để đổi mới phương pháp giảng dạy các môn khoa học này
- "Đổi mới phương thức đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” của Nguyễn Việt Chiến
[32] đã đánh giá thực trạng đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giảng dạy vànghiên cứu lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay và đề ra các giảipháp cơ bản để đổi mới phương thức đào tạo tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giảngdạy và nghiên cứu lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
- “Rà soát và đề xuất hướng sửa đổi, bổ sung một số nội dung giáo dục đạo đức công dân, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong nhà trường ở từng cấp học” của Ban Tuyên giáo Trung ương [10] là một công trình nghiên cứu
có mục tiêu tìm ra các giải pháp, nhằm nâng cao chất lượng dạy và học các mônLLCT, đạo đức công dân trong các bậc học khác nhau Theo nhóm tác giả, đội ngũgiảng viên Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học, cao đẳngnước ta hiện nay tuy tăng nhanh về số lượng, song vẫn chưa đáp ứng được nhu cầuđào tạo Tình trạng dạy vượt giờ, quá tải khiến một số đông đội ngũ không có thờigian đầu tư, hoàn thiện chuyên môn, ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng của độingũ
- "Đào tạo giảng viên các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện nay” của Hoàng
Đình Cúc [38] đã minh chứng luận điểm: chất lượng đào tạo giảng viên các mônLLCT quyết định chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy LLCT và do đó chi phối quátrình dạy - học các môn khoa học lý luận trong các trường đại học hiện nay
- Các đề tài: “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác giáo dục lý luận chính trị trong hệ thống các trường chính trị nước ta giai đoạn hiện nay” của Ngô Ngọc Thắng [98] và “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục vào giáo dục lý luận chính trị trong giai đoạn hiện nay” của Ngô Ngọc Thắng [99] đã khái quát các
Trang 14luận điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về công tác giáo dục LLCT, khảo sát thực trạngvận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục vào công tác giáo dục LLCT hiện nay.
Từ đó đưa ra giải pháp vận dụng tư tưởng về giáo dục LLCT vào giáo dục LLCThiện nay
- “Tình hình giảng dạy, học tập các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học, cao đẳng và chủ trương, giải pháp cho thời gian tới” của Ban Tuyên giáo Trung ương [9] đã nghiên cứu một cách tổng quát
về đội ngũ giảng dạy các môn khoa học này với tư cách là một trong những yếu
tố quan trọng, trực tiếp tác động đến chất lượng quá trình dạy và học Nhómnghiên cứu cho rằng, bên cạnh hàng loạt các ưu điểm về gia tăng học hàm, học
vị trong đội ngũ, thì hạn chế lớn nhất của số đông đội ngũ này là sức ỳ lớn, chậmđổi mới tư duy, ngại trau dồi kiến thức, ít chịu tìm tòi phương pháp giảng dạyphù hợp với những đối tượng khác nhau, chậm đổi mới phương pháp giảng dạy.Đặc biệt, tâm lý coi các môn học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là môn họcphụ, nhất là trong các trường kỹ thuật cũng là một trong những nguyên nhân cảntrở đổi mới phương pháp
- “Giáo dục lý luận chính trị cho sinh viên Việt Nam hiện nay” của Trần Thị
Anh Đào [53] đã làm rõ được những khái niệm LLCT, phân tích được vai trò củagiáo dục LLCT đối với sinh viên; tác giả đã đã nắm vững tâm sinh lý của sinh viên,kết hợp lý luận và thực tiễn khảo sát đưa ra phân tích có cơ sở, cần thiết và thuyếtphục; nhìn thẳng vào bức tranh thực tế: mặt tốt - xấu của sinh viên để có nhữngđánh giá và đưa ra những giải pháp, định hướng nâng cao giáo dục LLCT cho sinhviên đúng đắn và mang tính khả thi cao
- “Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý theo chức danh tại Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh” của Trần Minh Tuấn [115]
đã tập trung giải quyết các vấn đề: luận giải yêu cầu cấp thiết hiện nay về đào tạo,bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý theo chức danh; công tác đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ lãnh đạo, quản lý theo chức danh tại Học viện, theo đó, chương trình đào tạo, bồidưỡng phải phân định rõ các chương trình đào tạo và các chương trình bồi dưỡng;mỗi chương trình đào tạo, bồi dưỡng phải hướng tới một loại đối tượng xác định,phải hướng tới từng chức danh đào tạo nhất định
Trang 15Kết quả nghiên cứu của các đề tài đã nêu ở trên có giá trị tham khảo tốt đểluận án nghiên cứu và đề xuất giải pháp đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao chấtlượng công tác đào tạo CCLLTC phục vụ mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ lãnhđạo, quản lý trong giai đoạn hiện nay.
1.1.2 Sách
Có nhiều công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến công tác đào tạoLLCT đã được xuất bản Có thể liệt kê một số nghiên cứu lớn sau:
- “Phát huy tính tích cực xã hội của đội ngũ cán bộ nước ta hiện nay” của
Nguyễn Văn Tài [96] đã vận dụng các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ta,đồng thời, kế thừa kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trước đó, đã làm rõ một
số vấn đề như: nội dung và những động lực cơ bản của quá trình tích cực hoá nhân
tố con người đối với đội ngũ cán bộ; vai trò của đội ngũ cán bộ; phân tích, đánh giánhững mặt làm được, ưu điểm, những yếu kém, khuyết điểm và nguyên nhân củanhững ưu điểm và hạn chế trong tích cực hoá nhân tố con người của đội ngũ cán bộnước ta hiện nay Đề xuất một số vấn đề và những giải pháp cơ bản nhằm phát huytính tích cực nhân tố con người của đội ngũ cán bộ trong tình hình hiện nay
- “Phát triển năng lực tư duy của người cán bộ lãnh đạo hiện nay” của Hồ
Bá Thâm [102] đã khẳng định, tư duy và trí tuệ con người, đặc biệt là ở người cán
bộ lãnh đạo có tác dụng lớn đến hoạt động của họ và thông qua đó ảnh hưởng đến
sự phát triển của xã hội Đó là một tiềm lực, nguồn lực to lớn của dân tộc trong pháttriển, nhất là đối với thời đại ngày nay Tác giả xem xét một cách hệ thống bản chất,nội dung của năng lực tư duy, phong cách tư duy, đồng thời kiến nghị một số giảipháp, định hướng phát triển năng lực tư duy của người cán bộ lãnh đạo trong đổimới tư duy, phát triển trí tuệ hiện nay
- “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên ở cơ
sở của trong giai đoạn hiện nay” của Vũ Ngọc Am [1] đã làm rõ mối quan hệ giữa
công tác giáo dục chính trị tư tưởng với việc nâng cao tính tự giác cách mạng chocán bộ, đảng viên và phân tích quá trình đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáodục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên nhằm chống lại âm mưu "diễn biến hoàbình" của các thế lực thù địch
Trang 16- “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dạy và học môn Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong trường đại học” của Nguyễn Duy Bắc [5] đã tập hợp
những bài viết của các nhà nghiên cứu lý luận chuyên sâu, tập trung phân tích chấtlượng dạy và học các môn LLCT Các nhà khoa học thống nhất cho rằng nội dung,chương trình, phương pháp giảng dạy các môn Mác - Lênin và chất lượng học tậpcác môn học này làm nên bức tranh tổng thể chất lượng đào tạo các môn LLCT chosinh viên nước ta hiện nay
- “Hồ Chí Minh với công tác giáo dục lý luận chính trị” của Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia [86] đã giới thiệu các bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chủnghĩa Mác - Lênin với con đường cách mạng Việt Nam, trong đó, Người nhấnmạnh đến nhiệm vụ xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đếnviệc rèn luyện phẩm chất đạo đức của người đảng viên Chủ tịch Hồ Chí Minh cũngxác định rõ nội dung và nhiệm vụ học tập LLCT; vấn đề để nâng cao chất lượng,hiệu quả công tác giáo dục LLCT cho cán bộ, đảng viên của Đảng
- “Phương pháp giảng dạy lý luận chính trị (Chương trình bồi dưỡng chuyên
đề dành cho giảng viên giảng dạy các chương trình lý luận chính trị tại Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện)” của Ngô Văn Thạo [101] đã khái quát chung khái
niệm LLCT và giáo dục LLCT; một số vấn đề tâm lý và giáo dục học trong giảngdạy học LLCT, phẩm chất nghề nghiệp, nghệ thuật diễn giảng, kiểm tra, đánh giátrong dạy học LLCT
- “Một số vấn đề về phương pháp giảng dạy lý luận chính trị” của Vũ Ngọc
Am [2] được coi như cẩm nang nghiệp vụ của những người làm công tác giáo dụcLLCT nói chung và những người trực tiếp làm công tác giảng dạy LLCT nói riêng.Nội dung chủ yếu của cuốn sách gồm có ba phần chính, đặc biệt, trong phần thứ hai(phần trọng tâm của cuốn sách này) có một nội dung rất mới, đó là đề cương một sốbài giảng khá chi tiết và hữu ích dành cho giảng viên tham khảo
- “Lý luận và phương pháp nghiên cứu, giáo dục lý luận chính trị” của Phạm
Huy Kỳ [78] đã trình bày một số vấn đề lý luận và phương pháp của công tácnghiên cứu, giáo dục LLCT và công tác nghiên cứu, biên soạn, giáo trình lịch sửđảng bộ địa phương Riêng phần lý luận và phương pháp giáo giáo dục LLCT, cuốnsách chủ yếu tập trung trình bày lý luận và phương pháp dạy học LLCT - nội dunghoạt động chủ yếu trong hệ thống giáo dục LLCT của Đảng ta hiện nay
Trang 17- “Công tác giáo dục lý luận chính trị cho sinh viên Việt Nam hiện nay” của
Trần Thị Anh Đào [54] đã làm rõ được một số vấn đề chung về công tác giáo dụcLLCT cho sinh viên Việt Nam Từ việc phân tích thực trạng công tác giáo dụcLLCT cho sinh viên Việt Nam hiện nay, tác giả đã đề xuất một số phương hướng cơbản và giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng công tác giáo dục LLCT cho sinhviên Việt Nam hiện nay, từ đó đã chỉ ra những giải pháp khả thi để góp phần hữuhiệu vào việc nâng cao chất lượng giáo dục LLCT cho sinh viên, nhằm đáp ứng nhucầu càng tốt hơn yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá
- “Đo lường và đánh giá hoạt động học tập trong nhà trường” của Lâm
Quang Thiệp [103] đã nêu bật được các khái niệm về đo lường và đánh giá tronggiáo dục, từ đó đưa ra các nội dung cơ bản về đo lường và đánh giá trong giáo dục ởmọi bậc học Đặc biệt, đã nêu ra các phương pháp đánh giá kết quả học tập, điềukiện, nội dung, xây dựng, thiết kế tiêu chí đánh giá kết quả của các phương pháp
Ngoài ra còn một số nghiên cứu cũng đề cập đến một số nội dung của luận
án về giáo dục, về giảng dạy, về giáo dục chính trị trị tư tưởng liên quan đến công
tác đào tạo LLCT, như: “Đổi mới quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị ở Việt Nam” của Lê Hữu Nghĩa và cộng
sự [85]; “Các lý thuyết tổ chức hiện đại và việc vận dụng vào công tác tổ chức xây dựng Đảng hiện nay” của Nguyễn Văn Giang, Phạm Tất Thắng [59]; “Một số ý kiến trao đổi về phương pháp giảng dạy các môn khoa học Mác - Lênin ở đại học và cao đẳng” của Lê Xuân Nam và cộng sự [84]; “Trí thức giáo dục đại học Việt Nam thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá” của Nguyễn Văn Sơn [95]; “Quán triệt vận dụng nghị quyết Đại hội IX, nâng cao chất lượng giảng dạy lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” của Vũ Hiền, Đinh Xuân Lý [62]; “Học tập phương pháp tuyên truyền, giáo dục tư tưởng chính trị của Hồ Chí Minh” của Nguyễn Hữu Đổng [58]; “Một số ý kiến trao đổi về phương pháp giảng dạy các môn khoa học Mác - Lênin ở các trường Đại học, Cao đẳng” của Trường đại học Kinh tế quốc dân - Ban Triết học [113]; “Góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và đổi mới nội dung, chương trình các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” của Lương Gia Ban [5]; “Phương pháp dạy - học, kiểm tra đánh giá các môn khoa học
Trang 18xã hội và nhân văn” của Phân viện Báo chí và Tuyên truyền [87]; “Hồ Chí Minh với Công tác tư tưởng” của Hồng Vinh, Đào Duy Quát [120]; “Dạy và học các môn tư tưởng Hồ Chí Minh theo phương pháp tích cực” của Nguyễn Đăng Quang [89];
“Công tác tư tưởng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” của Trần Thị Anh Đào [54]; “Công tác tư tưởng và vấn đề đào tạo cán bộ làm công tác
tư tưởng” của Trần Thị Anh Đào [56]; “Công tác tư tưởng lý luận trong thời kỳ đổi mới - Thực trạng và giải pháp” của Phạm Tất Thắng [100]; “Vấn đề đổi mới công tác giảng dạy và học tập lý luận chính trị hiện nay” của Học viện Chính trị - Hành
chính quốc gia Hồ Chí Minh [71]
- “Đổi mới giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp xã các tỉnh khu vực Nam Bộ” của Lê Hanh Thông [104] đã trình bày
khái quát các vấn đề lý luận về giáo dục LLCT, tiến hành khảo sát thực trạng giáodục LLCT cho cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp xã khu vực Nam Bộ, từ
đó đưa ra hệ thống các giải pháp thiết thực, cụ thể nhằm đổi mới, nâng cao chấtlượng công tác giáo dục LLCT cho cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp xãkhu vực Nam Bộ
- “Hiệu quả công tác giáo dục chính trị - tư tưởng trong học viên các học viện quân sự ở nước ta hiện nay” của Lương Ngọc Vĩnh [121] đã tập trung luận
giải, làm sáng rõ cấu trúc và bản chất của hiệu quả là sự tương quan giữa kết quảvới mục đích và nguồn lực; bổ sung, hoàn thiện hệ thống tiêu chí, phương pháp,hình thức đánh giá hiệu quả công tác giáo dục chính trị - tư tưởng trong học viên
Trang 19các Học viện Quân sự Trên cơ sở khảo sát thực trạng sự tương quan giữa kết quảvới mục đích và sử dụng nguồn lực công tác giáo dục chính trị - tư tưởng trong họcviên các Học viện Quân sự, khái quát được các mâu thuẫn cần giải quyết để nângcao hiệu quả công tác giáo dục chính trị - tư tưởng Tác giả đã đề xuất được 4 nhómgiải pháp dưới góc độ khoa học công tác tư tưởng theo hướng huy động tối đa tiềmnăng của các Học viện Quân sự một cách hợp lý, tiết kiệm để nâng cao hiệu quảcông tác giáo dục chính trị - tư tưởng.
1.1.4 Hội thảo và bài báo
Có nhiều Hội thảo khoa học và các bài viết trên các báo, tạp chí liên quan tớinội dung của luận án
- “Đổi mới giảng dạy, học tập môn Triết học Mác - Lênin trong các trường đại học toàn quốc” của Bộ Giáo dục và Đào tạo [24]; “Cơ sở lý luận và thực tiễn của chương trình quốc gia về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị” của Ban Tổ chức Trung ương [8]; “Nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập các môn lý luận chính trị trong các trường đại học, cao đẳng” của Bộ Giáo
dục và Đào tạo - Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh [27]
- Các bài báo trên các tạp chí khoa học có thể kể đến nghiên cứu của các tác
giả: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về lý luận và học tập lý luận” của Lương Gia Ban [6];
“Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị” của Lê Bình [13]; “Đổi mới toàn diện, nâng cao chất lượng hiệu quả công tác giáo dục lý luận chính trị trong tình hình mới” của của Đào Duy Quát [90]; “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào đổi mới phương pháp giảng dạy Lý luận chính trị tại học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh” của Vũ Thị Hoa [65]; “Phương pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ về lý luận chính trị theo quan điểm của Hồ Chí Minh” của Mạch Quang Thắng [97]; “Vài nét về thực trạng và giải pháp tiếp tục tiếp tục đổi mới công tác nghiên cứu lý luận chính trị” của Nguyễn Tiến Hoàng [69]; “Để thực hiện tốt chương trình đổi mới giáo dục lý luận Mác - Lênin ở trường Đại học và cao đẳng” của Nguyễn Công Hưng [75]; “Đổi mới Phương pháp giảng dạy ở Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh” của Nguyễn Thành Khải [77]; “Hiệu quả
và tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác giáo dục lý luận chính trị” của Vũ Ngọc Am [3]; “Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý”
Trang 20của Nguyễn Tuấn Khanh [76]; “Bồi dưỡng dự nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cao” của Nguyễn Khắc Dịu [40]; “Bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho bí thư, phó bí thư cấp ủy cấp huyện” của Nguyễn Minh Tuấ [114]…
Các công trình trên đã tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận về: Lý luận,
Lý luận chính trị, giáo dục LLCT nói chung và giáo dục LLCT cho cán bộ, đảngviên, nhân dân, thanh niên, sinh viên… nói riêng Một số công trình cũng tập trungnghiên cứu các khía cạnh khác nhau của giáo dục LLCT, thực trạng những vấn đềđặt ra và từ đó đã đưa ra các giải pháp nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dụcLLCT hiện nay có giá trị tham khảo tốt
1.2 NHỮNG NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI
1.2.1 Luận án tiến sĩ nước ngoài
- “Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý kinh tế của Đảng và Nhà nước Lào hiện nay” của Xinh Khăm Phôm Ma Xay [123] đã trình bày những
vấn đề cơ bản về cán bộ lãnh đạo quản lý kinh tế; chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ lãnh đạo; đưa ra những giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo, bồidưỡng cán bộ lãnh đạo quản lý kinh tế của Đảng và Nhà nước Lào hiện nay
- “Nâng cao trình độ lý luận cho cán bộ, đảng viên Đảng Nhân dân cách mạng Lào trong giai đoạn hiện nay” của Bu Phết Xu Ly Vông Xác [30] đã đưa ra
khái niệm về trình độ lý luận và nâng cao trình độ lý luận cho cán bộ, đảng viênĐảng Nhân dân cách mạng Lào; đánh giá thực trạng nâng cao trình độ lý luận, đềxuất giải pháp nâng cao trình độ lý luận cho cán bộ, đảng viên
Các đề tài, công trình nêu trên cũng đã nói đến, hoặc đề cập đến công tác cán
bộ, công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho cán bộ ở nhiều khía cạnh khác nhau; tuynhiên, chưa có đề tài, công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu về chất lượngđào tạo CCLLCT cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong giai đoạn hiện nay
1.2.2 Những kinh nghiệm về đào tạo công chức ở nước ngoài
Đào tạo công chức của nhiều nước thường được thực hiện trong một môitrường chính sách đào tạo, phát triển nguồn nhân lực quốc gia đồng bộ và hợp lýgắn kết đào tạo theo ngành với việc phát triển nghề nghiệp, đồng thời chú trọngcông tác đào tạo nhân sự cho chính quyền các cấp địa phương
Trang 21Hầu hết các nước đều có quy định mang tính bắt buộc công chức phải trảiqua các khoá đào tạo, bồi dưỡng trước khi nhận nhiệm vụ như là điều kiện để được
bổ nhiệm cũng như phải tham gia các khoá đào tạo lại khi đang làm việc nếu muốnđược thăng tiến vào các vị trí quản lý cao hơn
Nhìn chung các nước trên thế giới đều chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡngcán bộ quản lý và công chức, coi đây là nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa chiến lược
Ở nhiều nước quan niệm đây là công tác đào tạo công chức nhà nước thuộc hệ giáodục đặc biệt chứ không phải hệ thống giáo dục quốc dân nói chung
Ở Trung Quốc, theo Triệu Lý Văn [117], căn cứ nhu cầu phát triển kinh tế xã
hội và yêu cầu xây dựng năng lực cầm quyền của Đảng và cương vị công tác củacán bộ, Đảng Cộng sản Trung Quốc xây dựng kế hoạch đào tạo cán bộ, công chứchàng năm và dài hạn, lấy lý luận chính trị, chính sách pháp quy, kiến thức nghiệp
vụ, huấn luyện kỹ năng… làm nội dung cơ bản với nhiều phương thức khác nhau,kết hợp giữa tổ chức điều động đào tạo, chọ học tự chủ và tự học tại chức Nội dunghọc tập là “một trung tâm, bốn mặt”, trung tâm là việc Trung Quốc hoá chủ nghĩaMác (gồm lý luận Đặng Tiểu Bình, tư tưởng 3 đại diện và quan điểm phát triểnkhoa học), bốn mặt là: Nền tảng lý luận, nhãn quan thế giới, tư duy chiến lược và tudưỡng tính đảng Phương pháp giảng dạy chủ yếu tại các trường đảng là phươngpháp gắn lý luận với thực tế, coi đây là phương pháp cơ bản; trong quá trình học tậpthì dạy và học bổ trợ nhau, học và học bổ trợ nhau nhằm huy động tính tích cực của
cả người học lẫn người dạy với phương châm “hai chính, một tăng cường”, tức tựhọc là chính, đọc nguyên tác là chính, tăng cường thảo luận Các trường đảng TrungQuốc hiện nay đang chú ý cải cách và sáng tạo phương pháp giảng dạy, thúc đẩyphương pháp dạy kiểu nghiên cứu và học kiếu nghiên cứu tuỳ thuộc vào nội dunggiảng dạy và đặc điểm của học viên
Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc là cơ quan chủ quảncông tác đào tạo cán bộ, chịu trách nhiệm xây dựng quy hoạch và chỉ đạo thốngnhất công tác đào tạo cán bộ, thiết lập cơ chế đào tạo cán bộ công chức cho từngcấp, từng ngành Cán bộ viên chức nhà nước do Học viện hành chính đào tạo, mỗingành lại có trường riêng để đào tạo cán bộ, công chức cho ngành mình Việc đàotạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý cao cấp do Trường Đảng Trung ương đảmnhiệm
Trang 22Thời gian đào tạo ở Trường Đảng và Trường Hành chính cao nhất là mộtnăm, nếu ngắn thì 3 hoặc 4 tháng Tất cả cán bộ, công chức trước khi bổ nhiệm đềuphải qua một khoá bồi dưỡng ít nhất 3 tháng tại các học viện theo hướng dẫn củaBan Tổ chức Trung ương.
Đảng, Chính phủ có kế hoạch thường xuyên và gửi cán bộ lãnh đạo, quản lý
đi nước ngoài học tập chủ yếu là hình thức ngắn hạn Chỉ cán bộ, công chức chuyênmôn kỹ thật mới gửi đi học nước ngoài dài hạn Kinh phí có loại do Nhà nước đàithọ, có loại do cá nhân tự bỏ tiền để đi học
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức rất linh hoạt: thiếu gì bồidưỡng nấy Bồi dưỡng cả tư cách nhậm chức cho cán bộ công chức Không bồidưỡng đủ thì không đề bạt Đặc biệt, trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, côngchức rất chú trọng năng lực thực hành của cán bộ trong thực tiễn Coi trọng việc rènluyện trong thực tiễn là một trong 3 yếu tố chủ yếu tạo nên phẩm chất cán bộ côngchức Ba tố chất đó là: trình độ LLCT, năng lực hoạt động thực tiễn, đức tính tựtrọng, tự lập, tự nghiêm (tự nghiêm túc yêu cầu, quản lý và giám sát công việc).Trong tình hình mới, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức đặt ra yêu cầumới: phải hướng nội dung, phương thức, quy trình đào tạo, bồi dưỡng vào việc hìnhthành các tố chất cao cho cán bộ, công chức
Nhiều địa phương ở Trung Quốc đã thực hiện đào tạo, bồi dưỡng cán bộtheo cả 2 hướng: đưa đi đào tạo ở trường Đảng và đưa xuống cơ sở Ví dụ: để đề bạtgiám đốc sở, người đó phải xuống cơ sở làm 2 năm, vào học ở trưởng Đảng, trườnghành chính ít nhất 3 tháng trở lên
Theo các nghiên cứu về công chức của một số nước của Nguyễn Danh Châu
và Lê Minh Thông [31; 107], nhiều quốc gia đã xây dựng quy trình đào tạo cán bộquản lý và công chức của mình theo một công nghệ đào tạo chặt chẽ, khoa học Cácquy trình này là một quá trình gắn liền với những khoá học bắt buộc với sự phâncông công việc hợp lý, diễn ra trong suốt quá trình làm việc của công chức Sau đây
là công tác đào tạo đội ngũ công chức ở một số nước phát triển và trong khu vực
Ở Nhật Bản, quá trình làm việc và học tập của công chức thường xuyên đi
liền với nhau, việc đào tạo diễn ra hàng năm và trên thực tế là diễn ra liên tục trongsuốt thời gian làm việc của công chức Đào tạo một viên chức nhà nước ở mỗi cấp
Trang 23đều có quy trình rất chặt chẽ và cụ thể Viện Nhân sự Nhật Bản mỗi năm chọn từ
5-6 vạn sinh viên năm thứ tư để lấy 1000 người đào tạo quan chức nhà nước của các
bộ, ngành Sau 1-3 năm thực tập, gửi đi đào tạo ở nước ngoài 2-3 năm, làm trưởngnhóm công tác 2 năm, làm giám đốc trách nhiệm độc lập 1 năm, làm phó phòng 10năm ở 5 nơi khác nhau, làm phó ty hoặc tuỳ viên sứ quán ở nước ngoài 3-4 năm,làm trưởng phòng 6 năm di chuyển nhiều lần, làm trưởng ty, làm phó vụ trưởng, vụtrưởng, thứ trưởng Như vậy, để được bổ nhiệm chức trưởng phòng, công chức cầnlàm việc cật lực và có thành tích xuất sắc trong 10 năm, để lên chức phó ty cần 20năm, trưởng ty cần 25-30 năm, thứ trưởng trên 30 năm Thời gian là một vấn đề,nhưng quan trọng hơn là quá trình làm việc, người công chức phải có thành tíchxuất sắc Nhật Bản đã xây dựng được một phương thức tuyển chọn và quy trình đàotạo, không chỉ qua các lớp học nâng cao kiến thức, trình độ mà là một quá trình rènluyện kinh qua công việc thực tế, với một trình tự chặt chẽ và khoa học
Ở Pháp, công tác đào tạo công chức hiện nay có sự thay đổi về mục tiêu và
nội dung, nhằm trang bị cho công chức những kiến thức và kỹ năng để thích ứngvới sự biến động của xã hội và nền hành chính diễn ra hàng ngày Chính phủ Phápcoi trọng việc xây dựng đội ngũ công chức chuyên nghiệp, có trình độ chuyên môncao, có khả năng thích ứng với những thay đổi và phát triển nghề nghiệp Công tácđào tạo cán bộ quản lý và công chức được coi là cốt lõi là trọng tâm của công cuộchiện đại hoá nền công vụ, tập trung vào 2 yếu tố cơ bản là phát huy cao độ tínhchuyên nghiệp và phát triển khả năng chịu trách nhiệm cao hơn của cán bộ quản lý
và công chức trong hệ thống công vụ hiện đại Trường Hành chính quốc gia Pháp là
cơ sở đào tạo hành chính không chỉ cho cán bộ quản lý và công chức nước Pháp màcòn nổi tiếng trên thế giới bởi những thành tựu nghiên cứu khoa học hành chính vàđào tạo cập nhật phát triển những kỹ năng hành chính
Ở Phi-lip-pin, Uỷ ban công vụ là cơ quan giúp Chính phủ quản lý phát triển
nguồn nhân lực, có vai trò quan trọng trong việc đào tạo, phát triển đội ngũ cán bộquản lý và công chức nhà nước Uỷ ban công vụ có chương trình quản lý nhân sựthích hợp và phối hợp với các cơ quan của Chính phủ đưa ra các loại hình đào tạonhằm tăng cường nhận thức, nâng cao năng lực nghề nghiệp cho cán bộ quản lý vàcông chức, bao gồm nhiều loại công trình: đào tạo tiền công vụ, định hướng chuyên
Trang 24môn kỹ thuật, phát triển năng lực lãnh đạo Từ nhiều năm nay, Uỷ ban công vụ đãthiết lập chương trình học bổng quốc gia, cho phép mọi cơ quan của Chính phủ lậpdanh sách lựa chọn người và những nhu cầu ưu tiên cho đào tạo phát triển nguồnnhân lực, đồng thời đưa ra chính sách yêu cầu tất cả những người được bổ nhiệmvào cấp vụ trở lên đều phải có bằng trên đại học.
Ở Thái Lan, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý và công chức nhà
nước do Uỷ ban công vụ đảm nhận, Uỷ ban này có trách nhiệm thực hiện cácchương trình đào tạo phát triển năng lực cán bộ quản lý và công chức theo LuậtCông vụ năm 1992 Luật Công vụ xác định rõ khi khi một công chức được sắp xếp,
bổ nhiệm sẽ phải trải quan một quá trình đào tạo nhất định để nâng cao kiến thức,
kỹ năng, thái độ nghề nghiệp và giá trị đạo đức nghề nghiệp Cơ quan nhân sựTrung ương phải tổ chức chức một cách hệ thống, thường xuyên các chương trìnhđào tạo và phát triển cho công chức ngay từ lúc mới được tuyển dụng, đề bạt thuyênchuyển ở mỗi cấp bậc công chức có những chương trình đào tạo riêng phù hợp vớichức nghiệp và phạm vi quản lý, không có loại chương trình dùng chung cho tất cảcác cấp Các chương trình đều có những nội dung cụ thể riêng biệt và thiết thực chomỗi cấp, ví dụ, chương trình bồi dưỡng cho cao cấp gồm: phân tích giao tiếp với tổchức, giao lưu thông tin và tư vấn, xây dựng đồng bộ, đào tạo tầm nhìn đối với cuộcsống Để thực hiện tốt chức năng đào tạo, Uỷ ban công vụ thành lập nhóm chuyêngia chuyên trách về công tác đào tạo và phát triển, thành lập tiểu ban huấn luyện-đào tạo và hình thành hệ thống các cơ sở đào tạo như: học viện công vụ, các trườngcao đẳng công vụ để thực hiện và thúc đẩy các chương trình đào tạo và phát triểnđội ngũ cán bộ quản lý và công chức
Ở Sing-ga-po, công tác bồi dưỡng đối với cán bộ, công chức được tiến hành
hằng năm theo nhiều chương trình khác nhau Thông thường nhất, thời gian bồidưỡng tối thiểu bắt buộc là 100 giờ trong một năm đối với mỗi công chức, trong đó60% nội dung bồi dưỡng về chuyên môn, 40% nội dung bồi dưỡng liên quan đếnphát triển Chương trình bồi dưỡng được xây dựng cho những nhóm cán bộ, côngchức khác nhau theo tư duy: công chức biết việc, thích ứng với công việc, đạt hiệuquả cao trong công việc và làm được những công việc liên quan khi cần thiết nhằmđáp ứng sự biến đổi phát triển của xã hội Sing-ga-po, đó chính là những vấn đề rấthay trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức ở Sing-ga-po
Trang 25Quy trình đào tạo gồm: 1) Đào tạo ban đầu: Bước này được thực hiện vàotháng đầu đầu tiên khi người công chức mới vào cơ quan để hoà nhập vào tập thể,làm đúng quy định, quy chế vận hành của cơ quan; 2) Đào tạo cơ bản: trang bịnhững kiến thức, kỹ năng cần thiết tối thiểu để làm việc Bước này thực hiện vàonăm đầu tiên khi viên chức mới vào cơ quan và 3) Đào tạo nâng cao (2-3 năm saukhi vào cơ quan làm việc): giúp viên chức làm việc có chất lượng cao Ngoài ra còn
có các hình thức đào tạo mở rộng: cung cấp các kiến thức, kỹ năng làm việc ở mức
độ cao hơn (được thực hiện từ năm thứ 4 đến năn thứ 6 của viên chức) và đào tạocấp nhật kiến thức để công chức có thể làm việc với chất lượng cao và có thể làmcác công việc khác liên quan
Từ nghiên cứu kinh nghiệm các nước, có thể rút ra: Việc đào tạo công chứcliên quan tới nhiều bộ, ngành, do đó, hầu hết các nước đều giao việc xây dựng vàgiám sát chính sách đào tạo cho một bộ ở cấp trung ương phụ trách, hoặc giao chomột uỷ ban dịch vụ công phụ trách việc làm để cơ quan này có thể gắn kết quả đàotạo với việc thăng tiến và đề bạt sau này
Đối với các nước theo hình thức quản lý đào tạo tập trung, cơ quan quản lýđào tạo cấp trung ương dựa trên cơ sở đánh giá nhu cầu đào tạo của Chính phủ nóichung và của từng bộ, ngành cũng như khả năng của các cơ sở đào tạo để lập kếhoạch đào tạo dài hạn và hàng năm cho Chính phủ Kế hoạch đó phải bao gồm: ướctính chi phí, nguồn tài chính, đảm bảo xác định các nhà cung ứng đào tạo ở cả khuvực nhà nước và tư nhân, liên hệ với các cơ quan bộ, ngành hữu quan, thiết kế thờigian và chương trình đào tạo
Đối với các nước theo hình thức quản lý đào tạo phi tập trung, cơ quan quản
lý đào tạo trung ương chỉ chịu trách nhiệm đề ra các mục tiêu, chính sách đào tạotổng thể, còn việc quản lý hoạt động đào tạo, kể cả quản lý các chính sách ngànhđược giao cho các bộ, ngành, cơ quan hữu quan Việc phân quyền này thường điliền với việc thành lập các cơ quan điều hành và trao quyền cho giám đốc điều hànhquản lý nhân sự
Tuy nhiên, ngay cả ở mô hình này, cơ quan quản lý nhân sự trung ươngngoài trách nhiệm hoạch định chính sách và lập kế hoạch cấp quốc gia, còn phảithực hiện một số chức năng như đào tạo công chức lãnh đạo cao cấp và các cán bộ
Trang 26ưu tú nói chung; hoặc như ở một số nước cơ quan này còn phải bảo đảm sự gắn kếtgiữa đào tạo với cải cách hành chính và các chính sách quản lý nhân sự (như đánhgiá kết quả thực hiện công việc và mức độ phát triển nghề nghiệp) Chính phủ phải
đề cao và tăng cường việc giám sát và kiểm soát nhằm bảo đảm việc thực hiện đúngcác mục tiêu đào tạo đã đề ra, tối ưu hoá các nỗ lực và chi phí đào tạo, hạn chế tìnhtrạng đào tạo trùng lặp, lãng phí tiền của và thời gian
Hiện nay, nhiều nước đã lựa chọn và áp dụng hình thức quản lý đào tạo hỗnhợp Theo đó, cơ quan quản lý đào tạo cấp trung ương được cấp các khoản tiền đểđào tạo các công chức cấp cao Đồng thời cơ quan này cũng chịu trách nhiệm cấpkinh phí đào tạo cho các bộ, ngành, trên cơ sở kế hoạch đào tạo của bản thân cácđơn vị này và huy động sự ủng hộ của các cơ sở đào tạo nhà nước cũng như huyđộng hỗ trợ kỹ thuật từ các nhà tài trợ Theo hình thức quản lý này, các bộ, ngành
có thể linh hoạt và có quyền tự quyết định việc sử dụng các quỹ đào tạo phù hợp với
kế hoạch đã đệ trình và cũng có thể tự tổ chức các khoá đào tạo chuyên biệt
Tóm lại, với tình hình kinh tế phát triển theo chiều hướng tri thức hoá, toàncầu hoá hiện nay, sự nghiệp giáo dục đào tạo nói chung và công tác đào tạo, bồidưỡng cán bộ quản lý và công chức nói riêng ngày càng được các quốc gia cũngnhư các tổ chức quốc tế chú trọng đầu tư, phát triển Việc đổi mới nội dung, phươngthức đào tạo đòi hỏi nhanh chóng, quyết liệt hơn nhằm theo sát với sự phát triểnkinh tế - xã hội của mỗi quốc gia
1.3 KHÁI QUÁT KẾT QUẢ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN SẼ TẬP TRUNG NGHIÊN CỨU
1.3.1 Khái quát kết quả các công trình nghiên cứu có liên quan
Các công trình nghiên cứu có liên quan đến luận án được nêu ra ở trênnghiên cứu nhiều khía cạnh khác nhau của công tác cán bộ nói chung và công tácđào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng, đặc biệt đến vấn đề nâng caochất lượng đào tạo CCLLCT trong giai đoạn hiện nay Những kết quả nghiên cứu
đó có ý nghĩa quan trọng đối với việc giải quyết những nhiệm vụ trọng tâm của luận
án Có thể rút ra một số nội dung cơ bản sau:
Một là, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý là một trong
những khâu có ý nghĩa quyết định trong chiến lược cán bộ trong nâng cao chất
Trang 27lượng đội ngũ cán bộ Thực tiễn không ngừng biến đổi, đòi hỏi nội dung đào tạo,bồi dưỡng cũng không ngừng được bổ sung, phát triển phù hợp với sự vận độngphát triển của xã hội trong từng giai đoạn cách mạng, đòi hỏi đội ngũ cán bộ lãnhđạo, quản lý phải không ngừng học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ ngang tầmnhiệm vụ Do vậy, hơn lúc nào hết, chúng ta ngày càng nhận thức đầy đủ hơn về ýnghĩa và tầm quan trọng của công tác cán bộ nói chung và việc đào tạo, bồi dưỡngcho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng.
Hai là, đào tạo CCLLCT cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý là một trong
nội dung quan trọng của đào tạo, bồi dưỡng LLCT, nhằm trang bị kiến thức, trình
độ LLCT, tư duy khoa học, góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị, để cán bộ lãnh độ,quản lý công tác tốt hơn; việc đào tạo CCLLCT cho đội ngũ cán bộ lãnh độ, quản
lý Đào tạo, bồi dưỡng lý luận về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làmột nhiệm vụ rất quan trọng được Đảng - với tư cách là đảng cầm quyền giao choHọc viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cùng các học viện trực thuộc và hệ thốngcác trường đảng của các tỉnh, thành phố
Ba là, trong những năm qua, công tác đào tạo CCLLCT cho cán bộ lãnh độ,
quản lý được các cấp uỷ đảng quan tâm và đạt nhiều kết quả quan trọng: Hệ thống
cơ sở đào tạo đã được củng cố và phát triển; quy mô đào tạo không ngừng mở rộng,bảo đảm thực hiện kế hoạch được giao, đã đào tạo được một số lượng lớn cán bộlãnh đạo, quản lý đào tạo CCLLCT; có nhiều cố gắng đổi mới chương trình, nộidung đào tạo, bồi dưỡng; đội ngũ giảng viên tăng về số lượng, được đào tạo cơ bản;công tác quản lý đào tạo được chú trọng, điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật của các
cơ sở đào tạo được cải thiện… Những kết quả của công tác đào tạo CCLLCT đãgóp phần làm cho cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức đúng đắn về tình hình đấtnước, nâng cao năng lực, tư duy công tác góp phần quan trọng vào công tác xâydựng đảng, chính quyền và đoàn thể chính trị - xã hội, giữ vững ổn định chính trị vàthực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội
Bốn là, từ kinh nghiệm của một số nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và
công chức có thể rút ra một số vấn đề cần tham khảo nhằm góp phần nâng cao chấtlượng đào tạo bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam, đó là:
- Xác định rõ vị trí, tầm quan trọng có ý nghĩa của công tác đào tạo, bồidưỡng cán bộ trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhằm nâng
Trang 28cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, chính quyền trong việc lãnh đạo,chỉ đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.
- Chú trọng thiết kế, xây dựng các chương trình đào tạo, bồi dưỡng phù hợpvới từng đối tượng Kết hợp đào tạo ở trường lớp với đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyệnnăng lực thực hành của cán bộ trong thực tiễn
- Xây dựng và hoàn thiện các quy trình đào tạo, bồi dưỡng, gắn đào tạo vớiquy hoạch, bố trí, sử dụng, thực hiện đào tạo, bồi dưỡng trước khi đề bạt, bổ nhiệmcán bộ
- Xây dựng, bổ sung hoàn thiện các quy chế, quy định về chế độ học tập củacán bộ hàng năm, nhằm đưa công tác này trở thành nề nếp, thường xuyên
- Xây dựng và thực hiện tốt thể chế quản lý thống nhất công tác đào tạo, bồidưỡng cán bộ
1.3.2 Những vấn đề luận án sẽ tập trung nghiên cứu
Mặc dầu đã có nhiều công trình nghiên cứu đã đi sâu, phân tích và làm rõ vaitrò của đào tạo LLCT, trong đó có CCLLCT, nhưng vấn đề đang đặt ra là làm thếnào để công tác này đạt hiệu quả cao hơn, thiết thực hơn để nâng cao chất lượng đàotạo CCLLCT đáp ứng đòi hỏi của tình hình mới Đây chính là những vấn đề màluận án cần phải làm rõ Luận án sẽ tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:
Một là, nghiên cứu những vấn đề lý luận về chất lượng đào tạo CCLLCT, từ
đó khái quát lại những tiêu chí để đánh giá chất lượng của đào tạo CCLLCT cho độingũ cán bộ lãnh đạo, quản lý hiện nay
Hai là, khảo sát, đánh giá thực trạng chất lượng đào tạo CCLLCT cho đội
ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý thời gian qua, xác định nguyên nhân và những vấn đềđặt ra từ thực trạng đó
Ba là, đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
CCLLCT cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý hiện nay ở nước ta
Trang 29Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CAO CẤP LÝ
LUẬN CHÍNH TRỊ CHO CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ
2.1 CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ VÀ ĐÀO TẠO CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ
2.1.1 Khái niệm cán bộ lãnh đạo, quản lý; cán bộ lãnh đạo quản lý diện đào tạo cao cấp lý luận chính trị
2.1.1.1 Khái niệm cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta
* Lãnh đạo, quản lý
Theo Từ điển Tiếng Việt, lãnh đạo là “đề ra chủ trương, đường lối và tổ chứcthực hiện” [88, tr.838], còn quản lý là “tổ chức và điều khiển các hoạt động theoyêu cầu nhất định” [88, tr.1242] Như vậy, lãnh đạo và quản lý là hai hoạt độngkhác nhau nhưng cũng có những nội dung giống nhau Do đó, cán bộ lãnh đạo vàcán bộ quản lý với tư cách là chủ thể của hoạt động lãnh đạo và quản lý hai kháiniệm có những điểm tương đồng nhưng cũng có những điểm khác biệt
Về nội dung công việc, lãnh đạo và quản lý khác nhau khá xa Hoạt độnglãnh đạo thường được hiểu là: xác định phương hướng, mục tiêu lâu dài (cả trunghạn và dài hạn), lựa chọn chủ trương chiến lược, điều hoà phối hợp các mối quan hệ
và động viên, thuyết phục con người, trong khi hoạt động quản lý bao gồm các việc:xây dựng kế hoạch (bao gồm cả xác định mục tiêu cụ thể, quy định tiêu chuẩn đánhgiá và thể chế hoá), sắp xếp tổ chức (phân bổ nhân lực, vật lực, thời gian ), chỉ đạo,điều hành (hướng dẫn, động viên ), kiểm soát (mục tiêu, sửa chữa sai sót nếu có)
Như vậy, có thể nói hoạt động lãnh đạo giống như một nghệ thuật, cho nên,người lãnh đạo chắc chắn cần có tài năng; còn hoạt động quản lý thiên về mặt kỹthuật, đòi hỏi người quản lý phải có kỹ năng, có thể thông qua học tập mà trở thànhthành thạo Trong những tình huống có nhiều biến động, thường cần có lãnh đạo để
xử lý và ứng phó với những rủi ro có tính chiến lược Còn trong những thời kỳ ổnđịnh, biến động ít hoặc nhỏ, các quy luật hoạt động vẫn giữ bình thường thì lại cầnnhững nhà quản lý để tạo ra những năng suất và hiệu quả cần thiết Khi công việcphức tạp, đụng chạm đến nhiều người tham gia, mục đích không thật rõ ràng, nhiệm
Trang 30vụ khó khăn, nhân tố ảnh hưởng nhiều thì cần làm rõ mục tiêu, điều tiết các mốiquan hệ, động viên thuyết phục nên phải có bàn tay lãnh đạo Còn với công việctương đối đơn giản thường ít người tham gia, mục tiêu rõ ràng, khó khăn ít, chỉ cần
có kế hoạch chu đáo, tổ chức chặt chẽ, nắm tình hình chắc là là có thể quản lý thànhcông được Lãnh đạo quan tâm đến hiệu quả toàn cục, còn quản lý thường chú ý đếnhiệu suất của mỗi công việc được giao
Có thể hiểu: Lãnh đạo là chỉ đường, vạch lối, nhìn xa trông rộng, hướng tớimục tiêu cuối cùng, còn quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo các yêucầu đó Lãnh đạo quan tâm đến những vấn đề chiến lược, những mục tiêu lâu dài,còn quản lý chú trọng những yêu cầu có tính chiến thuật, mục tiêu cụ thể và thường
là ngắn hạn Lãnh đạo có thể gắn với các khía cạnh trừu tượng của cuộc sống, cònquản lý thường phải xử lý những vấn đề rất thực tế Lãnh đạo thuộc lĩnh vực chínhtrị, người lãnh đạo là nhà chính trị, còn quản lý thuộc lĩnh vực hành chính, ngườilàm quản lý là những “nhà hành chính”
Về phương thức hoạt động thì lãnh đạo dùng biện pháp động viên, thuyếtphục, gây ảnh hưởng dựa vào đạo lý là chính, trái lại quản lý phải sử dụng các biệnpháp tổ chức chặt chẽ, dựa vào ràng buộc của pháp chế, thể chế Lãnh đạo tác độngđến ý thức của con người, còn quản lý sử dụng con người như một nguồn lực,nguồn nhân lực bên cạnh nguồn tài lực và vật lực Lãnh đạo thuộc về phạm trù tưtưởng, lý luận và đạo đức, không có tính cưỡng chế, còn quản lý lại thuộc phạm trùluật pháp, pháp qui, có ý nghĩa cưỡng chế rõ rệt
Về phạm vi và mức độ tác động, lãnh đạo liên quan đến mục tiêu dài hạn,đến những nhiệm vụ, chủ trương chiến lược, đến việc động viên, thuyết phục conngười, còn quản lý thường gắn với kế hoạch cụ thể, tổ chức cụ thể, chỉ đạo cụ thể,nắm chặt tình huống cụ thể
Tuy nhiên, lãnh đạo và quản lý cũng hoàn toàn không phải là hai khái niệmđối lập, trái lại, giữa lãnh đạo và quản lý lại có nhiều chỗ tương đồng, gần như bổsung cho nhau, công việc quan trọng quốc gia hay chỉ của một doanh nghiệp cũngcần cả lãnh đạo và quản lý
Lãnh đạo và quản lý đều phục vụ chung một mục đích cuối cùng, dù là củamột tổ chức kinh tế, văn hoá hay một địa hạt lãnh thổ, một quốc gia, mục tiêu dài
Trang 31hạn hay ngắn hạn cũng đều là để đạt được mục đích cuối cùng mà thôi Các nhiệm
vụ kế hoạch cụ thể có đạt thì các chủ trương chiến lược mới có cơ thực hiện, sự chỉđạo thường xuyên có chặt chẽ, đúng quy phạm pháp luật, thì sự nghiệp mới hoànthành, có hiệu suất công việc thì cuối cùng mới có hiệu quả, Như vậy, lãnh đạo vàquản lý là hai góc độ của một công việc, một công vụ Đương nhiên, lãnh đạo phải
đi trước một bước, biết nhìn xa trông rộng, vạch đường chỉ lối, phải biết theo dõitiến trình quản lý bằng con mắt chiến lược và cuối cùng đánh giá kết quả chung,không chỉ của quá trình quản lý
Trong tiến trình thực hiện một đường lối hay một chủ trương quan trọng, haiquá trình lãnh đạo và quản lý thường bổ sung cho nhau, đan xen nhau mà không cảntrở nhau Tuy phải đợi kiểm tra hoàn thành mục tiêu cuối cùng thì hai quá trình mớigần như cùng kết thúc, song quá trình lãnh đạo phải đi trước một bước và chiếmnhiều thời gian hơn về giai đoạn đầu, còn quá trình quản lý chiếm nhiều thời gianhơn ở giai đoạn sau Nếu ta coi đơn giản tiến trình tiến hành một công việc lớn nhỏ
là bao gồm 3 khâu: ra quyết định, tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá kết quả thìkhâu ra quyết định chủ yếu thuộc thẩm quyền của người lãnh đạo, khâu thực hiệnthuộc trách nhiệm của người quản lý, còn khâu kiểm tra đánh giá thì thuộc cả haichức năng, mỗi chức năng thực hiện theo các tiêu chí riêng Nếu đặt vấn đề đơngiản hơn nữa, chỉ có hai khâu quyết sách và thực thi thì ranh giới giữa lãnh đạo vàquản lý đã quá rõ ràng
Tuy nhiên, trong thực tế sự phân biệt giữa lãnh đạo và quản lý không phảilúc nào cũng rành rọt như vậy Về lý thuyết, người ta phân biệt lãnh đạo và quản lýtheo nghĩa hẹp và nghĩa rộng, lãnh đạo theo nghĩa rộng bao gồm cả quản lý (nghĩahẹp), và trong khái niệm quản lý theo nghĩa rộng lại bao gồm cả lãnh đạo (nghĩahẹp) Đối với một quá trình dài thì lãnh đạo đi trước để ra quyết định, quản lý đi sauthực hiện, song nếu tách quá trình quản lý thành nhiều công việc cụ thể thì trongtừng việc, người quản lý vẫn phải lựa chọn và ra một số quyết định cụ thể để cấpquản lý dưới thực hiện Như vậy, dù có những sự khác biệt giữa người quản lý vàngười lãnh đạo, nhưng cả hai có cấu trúc trùng lắp nhau: khi nhà quản lý dấn thângây tác động đến một nhóm để đạt được mục tiêu đề ra, họ đang làm nhiệm vụ củalãnh đạo; khi nhà lãnh đạo dấn thân vào việc lập kế hoạch, hoặc định đội ngũ cán
Trang 32bộ, và kiểm soát thì họ đang làm công việc quản lý Cả hai đều gắng tác động đếnmột nhóm các cá nhân nhằm hướng tới đạt được mục tiêu đã xác định.
Chế độ chính trị ở Việt Nam hiện nay vận hành theo cơ chế “Đảng lãnh đạo,Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” Trong cơ chế này, chủ thể lãnh đạo và quản
lý có thể hiểu là: Ban Chấp hành Trung ương là lãnh đạo, Chính phủ quản lý (ởTrung ương); cấp uỷ các cấp lãnh đạo, chính quyền quản lý (ở địa phương) và ngaytrong một đơn vị nhỏ cũng có vai trò của chi bộ và chính quyền Nói một cách giảnđơn, có thể coi cán bộ Đảng là cán bộ lãnh đạo, cán bộ chính quyền là cán bộ quản
lý Nhưng thực tế không đơn giản như vậy Ở cơ sở, một bí thư đảng uỷ xã khôngchỉ là người lãnh đạo (trong việc đề xuất chủ trương, chính sách) mà còn làm nhữngviệc cụ thể trong tổ chức thực hiện; một chủ tịch xã là người thực hiện nghị quyếtcủa đảng bộ xã nhưng đồng thời cũng là thành viên trong Ban Chấp hành đảng bộ.Lên các cấp cao hơn, việc phân biệt lãnh đạo và quản lý có rõ hơn nhưng cũngkhông hoàn toàn khác biệt Ngay trong công việc quản lý quốc gia, Chính phủ vẫnphải luôn luôn ra những quyết định, hoặc là để xử lý một số vấn đề cụ thể, hoặc là
để ban hành một số quy định có tính thể chế lâu dài, nghĩa là thực hiện một sốnhiệm vụ lãnh đạo; về phía Đảng lãnh đạo cũng vậy, có những công việc hiện naychưa cải tiến được, tổ chức lãnh đạo vẫn phải kiêm quản lý như công tác khoa học
xã hội Rõ ràng là rất khó tách bạch giữa lãnh đạo và quản lý, hình thức lãnh đạotrực tiếp, toàn diện và tuyệt đối cũng là một cách hoà lẫn lãnh đạo và quản lý
* Cán bộ lãnh đạo, quản lý
Những năm trước đây, những người làm việc trong các cơ quan của hệ thốngchính trị được gọi chung là cán bộ Sau khi có Luật cán bộ, công chức, Luật viênchức thì các khái niệm liên quan đến người lao động trong hệ thống chính trị từngbước được hình thành
Theo Điều 4, Luật Cán bộ, công chức: cán bộ là người được bầu cử, phêchuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của ĐảngCộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội; công chức là người đượctuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộngsản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấphuyện, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [91]
Trang 33Cán bộ lãnh đạo, quản lý là cán bộ, công chức làm nhiệm vụ lãnh đạo, quản
lý Họ có điểm phân biệt khác nhau, nhưng có một điểm chung nhất đều là ngườiđược bầu cử hoặc bổ nhiệm giữ một chức vụ nhất định trong một tổ chức hoặc một
cơ quan lãnh đạo hoặc quản lý đề tổ chức thực hiện các nhiệm vụ khác nhau trongđời sống kinh tế - xã hội ở các cấp, các ngành theo Hiến pháp, pháp luật của Nhànước hoặc theo điều lệ của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
Như vậy, cán bộ lãnh đạo, quản lý là những người giữ chức vụ nhất định,làm việc trong hệ thống tổ chức của hệ thống chính trị và thực hiện chức năng lãnhđạo, quản lý theo quy định Trong thực tế ở nước ta, sự phân biệt cán bộ lãnh đạo vàcán bộ quản lý chưa tường minh, càng xuống cấp thấp thì điều này thể hiện càng rõ,nhất là ở cấp cơ sở, đặc biệt trong điều kiện cán bộ luân chuyển thường xuyên nhưhiện nay Với phần đông cán bộ đứng đầu cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị,trong mối quan hệ với cấp trên thì là cán bộ quản lý, còn trong quan hệ với cấp dướilại là cán bộ lãnh đạo Cho nên, khái niệm cán bộ lãnh đạo, quản lý là khái niệmdùng chung để chỉ những người có chức vụ, có quyền hạn, đảm nhiệm những trọngtrách của Đảng, Nhà nước và đoàn thể nhân dân từ Trung ương đến địa phương trêncác lĩnh vực của đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, khoa học- kỹthuật…
Từ khái niệm chung về cán bộ lãnh đạo, quản lý có thể phân loại cán bộlãnh đạo, quản lý theo nhiều cách, chẳng hạn:
- Phân loại theo cấp bậc, chức vụ, tức là căn cứ vào vị trí, vai trò của cán bộlãnh đạo, quản lý Theo cách phân loại này, ta có các loại cán bộ lãnh đạo, quản lýnhư: cán bộ cao cấp, cán bộ trung cấp, cán bộ sơ cấp…
- Phân loại theo hình thức tổ chức trong hệ thống chính trị Theo cách phânloại này có thể có các loại cán bộ như: cán bộ lãnh đạo, quản lý trong các cơ quanđảng; cán bộ lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan chính quyền nhà nước; cán bộlãnh đạo, quản lý trong các tổ chức đoàn thể xã hội
- Phân loại theo lĩnh vực hoạt động thì có các loại cán bộ hoạt động chính trị,hoạt động nghiên cứu khoa học, hoạt động sản xuất, kinh doanh…
2.1.1.2 Khái niệm cán bộ lãnh đạo, quản lý diện đào tạo cao cấp lý luận chính trị
Theo Quy định số 54-QĐ/TW ngày 12/5/1999 của Bộ Chính trị về “Chế độhọc tập lý luận chính trị trong Đảng” [16], các đối tượng được đào tạo CCLLCT
Trang 34gồm: đảng viên là cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh, thành, cán bộ lãnh đạo chủchốt các ban, ngành Trung ương, uỷ viên thường vụ các đoàn thể Trung ương, bangiám đốc các tổng công ty, các doanh nghiệp lớn của nhà nước (có quy địnhriêng); đảng viên là cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp huyện, quận và cán bộ lãnh đạomột số ban, ngành cấp tỉnh, một số doanh nghiệp (có quy định riêng).
Cụ thể hoá Quy định này phù hợp với yêu cầu giai đoạn mới, Ban Tổ chứcTrung ương đã ban hành quy định về đối tượng đào tạo CCLLCT, cụ thể cán bộlãnh đạo, quản lý được cử đi đào tạo CCLLCT gồm hai nhóm cán bộ:
Nhóm cán bộ thứ nhất là các vụ trưởng, phó vụ trưởng và tương đương trở
lên của các bộ, ban, ngành, đoàn thể, đảng uỷ trực thuộc Trung ương; tỉnh uỷ viên,thành uỷ viên, trưởng, phó các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh, thành phố trở lên; cán
bộ chủ chốt cấp huyện (Bí thư, Phó Bí thư, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân) và tương đương; cán bộ được quy hoạch vào các chức danh này
Nhóm cán bộ thứ hai là các trưởng, phó phòng và tương đương của các bộ,
ban, ngành, đoàn thể, đảng uỷ trực thuộc Trung ương; trưởng phòng và tươngđương của các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh, thành phố; cấp uỷ viên cấp huyện, PhóChủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện và tươngđương; trưởng phòng, ban, ngành, đoàn thể cấp huyện và tương đương; cán bộ đượcquy hoạch vào các chức danh nêu trên
Tiêu chuẩn cán bộ cử đi học cao cấp lý luận chính trị
Cán bộ thuộc diện đào tạo CCLLCT phải là Đảng viên Đảng cộng sản ViệtNam; có bằng tốt nghiệp đại học trở lên trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Namhoặc ở nước ngoài
Về độ tuổi: đối với hệ tại chức, cán bộ có tuổi đời từ 40 trở lên đối với nam,
35 trở lên đối với nữ đang giữ chức danh theo quy định; đối với hệ tập trung, cán bộ
có tuổi đời dưới 40 đối với nam, dưới 35 đối với nữ đang giữ chức danh theo quy
Có một số quy định riêng đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý hiện đang công tác
từ 3 năm trở lên ở huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, cáchuyện biên giới, hải đảo, đơn vị và vị trí công tác đặc thù, nếu chưa có bằng tốtnghiệp đại học thì phải có bằng tốt nghiệp trung cấp hoặc cao đẳng về chuyên môn
và bằng tốt nghiệp trung cấp lý luận chính trị - hành chính
Trang 35Những trường hợp được xem xét, vận dụng về độ tuổi tham gia đào tạoCCLLCT hệ không tập trung ít hơn 5 tuổi so với quy định gồm: cán bộ lãnh đạo,quản lý đang công tác 3 năm trở lên ở huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đặcbiệt khó khăn, huyện biên giới, hải đảo; cán bộ lãnh đạo, quản lý là cán bộ ĐoànThanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (Theo Quyết định số 289-QĐ/TW, ngày 08tháng 02 năm 2010 của Ban Bí thư về ban hành “Quy chế cán bộ Đoàn Thanh niênCộng sản Hồ Chí Minh”); cán bộ, phóng viên, biên tập viên các cơ quan báo chí(Theo Chỉ thị số 25- CT/TW, ngày 31-7-2008 của Ban Bí thư “Về tăng cường côngtác xây dựng Đảng trong các cơ quan báo chí”); cán bộ lãnh đạo, quản lý là cấptrưởng ở cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp (thuộc đối tượng đi học) khi đi học không cóngười thay thế; cán bộ đang công tác giảng dạy, nghiên cứu ở các học viện; việnnghiên cứu; trường đại học; trường chính trị, trung tâm bồi dưỡng chính trị (baogồm: cán bộ cấp vụ, khoa, phòng, giảng viên chính trở lên); cán bộ đang công táctrong lực lượng vũ trang có quân hàm từ trung tá trở lên; cán bộ, công chức có thờigian giữ ngạch chuyên viên chính (và tương đương) từ 4 năm trở lên và có trong kếhoạch được dự thi nâng ngạch chuyên viên cao cấp (và tương đương); cán bộ là thư
ký các đồng chí Uỷ viên Trung ương Đảng, bộ trưởng, bí thư tỉnh uỷ, thành uỷ trựcthuộc Trung ương và tương đương trở lên
Cán bộ lãnh đạo, quản lý hoặc trong quy hoạch thuộc đối tượng được đi học,nếu chưa phải là đảng viên thì phải là đoàn viên ưu tú, có triển vọng kết nạp Đảngcộng sản Việt Nam, được xét cử đi đào tạo CCLLCT hệ tập trung
Các chức sắc tôn giáo có yêu cầu đào tạo CCLLCT thì được học tại các Họcviện Chính trị khu vực, do cấp uỷ trực thuộc Trung ương đề nghị và có ý kiến đồng
ý bằng văn bản của Ban Tổ chức Trung ương
Như vậy, cán bộ lãnh đạo, quản lý diện đào tạo cao cấp lý luận chính trị, lànhững cán bộ trung, cao cấp đang giữ các chức vụ nhất định trong hệ thống chínhtrị, được cấp có thẩm quyền xét, cử đi đào tạo theo đúng đối tượng, tiêu chuẩn doTrung ương quy định
2.1.2 Đào tạo cao cấp lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý khái niệm, vai trò, nội dung, phương thức và đặc điểm
-2.1.2.1 Khái niệm đào tạo cao cấp lý luận chính trị
Lý luận là một phạm trù khoa học phản ánh hiện thực khách quan, tồn tại vàphát triển cùng với sự phát triển của trí tuệ loài người trên mọi lĩnh vực tự nhiên và
Trang 36xã hội Lý luận xuất phát từ thực tiễn và có vai trò định hướng, soi đường cho hoạtđộng thực tiễn có hiệu quả hơn Theo Từ điển tiếng Việt: “Lý luận là hệ thốngnhững tư tưởng được khái quát hoá từ kinh nghiệm thực tiễn, có tác dụng chỉ đạothực tiễn”; “là kiến thức được khái quát hoá và hệ thống hoá trong một lĩnh vực nàođó” [88, tr.872].
Lý luận được hiểu là hệ thống tri thức được khái quát từ thực tiễn kháchquan trong tự nhiên, xã hội và tư duy của con người, được biểu đạt dưới dạng cáckhái niệm, phạm trù, quy luật, tư tưởng, quan điểm, nhằm giúp con người chi phối
và cải tạo thực tiễn trên lĩnh vực nào đó
Chính trị là “những vấn đề về tổ chức và điều khiển bộ máy nhà nước, hoặcnhững hoạt động của một giai cấp, một chính đảng nhằm giành hoặc duy trì quyềnđiều khiển bộ máy nhà nước”; là “những hiểu biết hoặc những hoạt động để nângcao hiểu biết về mục đích, đường lối, nhiệm vụ đấu tranh của một giai cấp, mộtchính đảng nhằm giành hoặc duy trì quyền điều khiển bộ máy nhà nước” [88,tr.266]
Như vậy, lý luận chính trị được hiểu là hệ thống tri thức về những vấn đề về
tổ chức và điều khiển bộ máy nhà nước, hoặc những hoạt động của một giai cấp,một chính đảng nhằm giành hoặc duy trì quyền điều khiển bộ máy nhà nước”
Lý luận chính trị là bộ phận quan trọng trong kho tàng lý luận của nhân loạigiới hạn trong lĩnh vực chính trị, phản ánh mối quan hệ của các giai cấp trong việcgiành và giữ chính quyền Nói cách khác, lý luận chính trị là hệ thống tri thức vềlĩnh vực chính trị thể hiện thái độ và lợi ích giai cấp đối với quyền lực nhà nướctrong xã hội có giai cấp, là kết quả của hoạt động nghiên cứu khoa học và thực tiễnchính trị của nhiều người, qua nhiều thế hệ
Lý luận chính trị là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu về lý luận và thựctiễn chính trị của giai cấp trong việc đấu tranh giành, giữ và xây dựng chính quyềnnhà nước, phản ánh tính quy luật của các quan hệ kinh tế - chính trị - văn hoá - xãhội, thể hiện lợi ích và thái độ của giai cấp đối với quyền lực nhà nước nhằm trang
bị thế giới quan và thúc đẩy hành vi thực hiện mục tiêu, lý tưởng chính trị của giaicấp
Lý luận chính trị của giai cấp công nhân là sự khái quát tri thức nhân loại vàtổng kết kinh nghiệm của phong trào công nhân thế giới, làm công cụ đắc lực choviệc giành và giữ chính quyền của giai cấp công nhân ở mỗi quốc gia, dân tộc Theo
Trang 37Lênin, lý luận có vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp cách mạng: “Không có
lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng” và “chỉ đảng nàođược một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến
sĩ tiên phong” [118, tr.30-32] Hồ Chí Minh cũng cho rằng: “Đảng không có chủnghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam” [79, tr.268]
Lý luận chính trị ở Việt Nam hiện nay là hệ thống những nguyên lý của chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chínhsách, pháp luật của Nhà nước cùng những tinh hoa tư tưởng chính trị của dân tộc vànhân loại Nó phản ánh tính quy luật của các quan hệ kinh tế - chính trị - xã hội, thểhiện lợi ích và thái độ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đối với việc xâydựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, là công cụ quan trọng cho việc xâydựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Lý luận chính trị bao gồm những tri thức tổng hợp, liên ngành mang tínhđảng, tính giai cấp rõ rệt, đồng thời có tính khái quát hoá, trừu tượng hoá và tính dựbáo khoa học cao Điều này khẳng định vai trò và tầm quan trọng to lớn của nó đốivới nhận thức và hành động của từng cá nhân nói riêng và sự phát triển của toàn xãhội nói chung, đồng thời cho thấy sự khó khăn, phức tạp của quá trình sáng tạo,nhận thức và vận dụng lý luận chính trị
Quy định số 285-QĐ/TW, ngày 25/4/2015 của Bộ Chính trị xác định “Lýluận chính trị là hệ thống tri thức được rút ra từ tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoahọc và được khái quát hoá bằng phương pháp khoa học, làm cơ sở lý luận, khoa họccho các hoạt động của Đảng, Nhà nước” [23]
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời
là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trungthành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Đảnglấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, lý luậncủa mình Cơ sở lý luận của đường lối, chủ trương của Đảng được xây dựng trên nềntảng tư tưởng lý luận cách mạng và khoa học đó LLCT ở đây là LLCT của ĐảngCộng sản Việt Nam, là những kinh nghiệm được khái quát từ thực tiễn đấu tranhcách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, có tácđộng chỉ đạo sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của nhândân Việt Nam
Trang 38Cao cấp lý luận chính trị
Quy định số 54 của Bộ Chính trị về chế độ học tập lý luận chính trị trongĐảng đã thống nhất tên gọi các cấp chương trình lý luận chính trị được sử dụngtrong hệ thống đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên của Đảng là: sơ cấp lý luậnchính trị, trung cấp lý luận chính trị (hoặc trung học chính trị), cao cấp lý luận chínhtrị (hoặc cử nhân chính trị) [16]
Theo Quy định này, có 3 cấp trong học tập lý luận chính trị Các cấp học này
có mục tiêu chung cơ bản như nhau, đó là: Trang bị cho người học những kiến thức
cơ bản và cần thiết về lý luận chính trị - hành chính; củng cố, nâng cao bản lĩnhchính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ lãnh đạo, quản lý; kỹ năng tổ chức thực hiệnnhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó Sự khác nhau của mỗi cấpthể hiện trên các mục tiêu, yêu cầu cụ thể, đối tượng, thời gian và nhất là nội dungchương trình đào tạo của mỗi cấp học lý luận chính trị
Cao cấp lý luận chính trị là bậc cao nhất trong hệ thống chương trình lý luậnchính trị dành riêng cho các đảng viên là cán bộ trung, cao cấp đang giữ những chức
vụ lãnh đạo, quản lý nhất định trong hệ thống chính trị với mục tiêu trang bị chongười được đào tạo hệ thống tri thức của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh ở tầm khái quát nhất, đầy đủ nhất cùng với nhưng tri thức, kỹ năng lãnh đạo,quản lý nhằm phát triển tư duy, tầm nhìn chiến lược cũng như lề lối làm việc, tácphong công tác của người cán bộ lãnh đạo, quản lý, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) hiện nay
Đào tạo cao cấp lý luận chính trị
Đào tạo là quá trình truyền đạt một lượng kiến thức nhất định cho một đối
tượng học tập cụ thể nhằm đạt đến một mục tiêu xác định Quá trình truyền đạt nàyphải là một qui trình khép kín với những chuẩn mực và hệ phương pháp dạy và học
cụ thể với kết quả là sự thay đổi của người học về kiến thức, kỹ năng và thái độ đểđảm nhận và đáp ứng được yêu cầu của một chuyên ngành đã được học Khái niệmđào tạo có nghĩa hẹp hơn giáo dục Đào tạo đề cập đến một giai đoạn nhất định, khingười học đến một độ tuổi nhất định, có một trình độ nhất định Có nhiều dạng đàotạo: đào tạo cơ bản và đào tạo chuyên sâu; đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề, đàotạo lại, đào tạo từ xa, tự đào tạo…
Trang 39Đào tạo cao cấp lý luận chính trị là một bộ phận trong hệ thống đào tạo cán
bộ của Đảng, bao gồm tổng thể các hoạt động dạy và học nhằm trang bị cho ngườihọc kiến thức cao cấp lý luận chính trị, kỹ năng hoạt động chính trị, quản lý kinh tế
- xã hội; nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực cho cán bộ lãnh đạo, quản lý trung,cao cấp, đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ của Đảng
Chủ thể lãnh đạo của đào tạo cao cấp lý luận chính trị là Đảng Cộng sản ViệtNam, trực tiếp, thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư; các ban Thường vụ tỉnh,thành uỷ thành phố trực thuộc Trung ương; Chủ thể thực hiện là hệ thống Học việnChính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị Công an nhân dân cùng với lựclượng tham gia đào tạo là các tổ chức đảng trong hệ thống chính trị, các cơ sở đàotạo, nghiên cứu có liên quan; đối tượng tham gia đào tạo là cán bộ có chức vụ nhấtđịnh (đã nêu ở phần trên)
2.1.2.2 Vai trò của đào tạo cao cấp lý luận chính trị
Đào tạo lý luận chính trị nói chung, đào tạo cao cấp lý luận chính trị nóiriêng có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của Đảng Chủ tịch HồChí Minh đã khẳng định: "muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặckém "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc", nên "huấn luyện cán bộ là công việcgốc của Đảng" [80, tr.240, 269]
Từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quanđiểm của Đảng ta, cho thấy đào tạo cao cấp lý luận chính trị có những vai trò chủyếu sau:
Thứ nhất, đào tạo cao cấp lý luận chính trị nhằm trang bị cho cán bộ trung,
cao cấp thế giới quan và phương pháp luận cách mạng và khoa học, từ đó vận dụngvào thực tiễn công tác của mình
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trước hết phải bắt đầu
từ việc đào tạo, bồi dưỡng về LLCT Về vai trò định hướng của lý luận, Hồ ChíMinh chỉ rõ: “Cần phải dạy bảo lý luận cho cán bộ Chỉ thực hành mà không có lýluận cũng như có một mắt sáng, một mắt mù” [80, tr.513], thông qua học tập lý luậnchính trị, đối tượng được đào tạo, bồi dưỡng được định hướng rõ ràng và nhận thứcsâu sắc về con đường phát triển của cách mạng nói chung và thời kỳ quá độ lên Chủnghĩa xã hội ở nước ta Tầm quan trọng của việc đào tạo, bồi dưỡng về LLCT đã
Trang 40được Bác dẫn lời Lênin: “Không có lý luận cách mệnh, thì không có cách mệnh vậnđộng” [79, tr.259] Đi vào cụ thể, nói về vai trò của việc học tập lý luận, trong diễnvăn khai mạc khoá đầu tiên của trường Nguyễn Ái Quốc, Bác Hồ đã nói:
Đảng ta tổ chức trường học lý luận cho cán bộ là để nâng cao trình độ lýluận của Đảng ta, để giải quyết sự đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng vàtình hình thực tế của Đảng ta, để Đảng ta có thể làm tốt hơn công tác củamình, hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ cách mạng vĩ đại của mình [83,tr.294]
Định hướng đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý ởViệt Nam hiện nay, vì thế, phải bắt đầu từ việc đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng
về LLCT như Đảng ta đã khẳng định trong Dự thảo văn kiện của Ban Chấp hànhTrung ương khoá XI trình Đại hội toàn quốc lần thứ XII [52]
Thứ hai, đào tạo cao cấp lý luận chính trị giúp củng cố niềm tin và bản lĩnh
chính trị, ý thức giai cấp và tinh thần yêu nước; từ đó thúc đẩy cán bộ, đảng viên tựgiác, tự nguyện, hăng hái hành động, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng doĐảng đề ra
Đào tạo CCLLCT chính là trang bị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý những kiếnthức có hệ thống về những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng HồChí Minh và những quan điểm, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nướcnhất là quan điểm đổi mới được thể hiện trong các nghị quyết Đại hội đại biểu toànquốc của Đảng, từ đó nâng cao phẩm chất chính trị, vững vàng tư tưởng và chủđộng sáng tạo trong lãnh đạo quản lý, góp phần tích cực và có hiệu quả vào sựnghiệp đổi mới của cách mạng, nâng cao niềm tin vào sự nghiệp đổi mới dưới sựlãnh đạo của Đảng; kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh: đội ngũ cán bộ lãnh đạo,quản lý được đào tạo CCLLCT đã trưởng thành thực sự về nhận thức lý luận vàthực tiễn, có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành và vận dụng sáng tạo chủnghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu và lý tưởng độc lậpdân tộc và chủ nghĩa xã hội; gương mẫu về đạo đức, có trí tuệ và năng lực hoạtđộng thực tiễn, có tư duy đổi mới, sáng tạo, có kiến thức đáp ứng yêu cầu của thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thực hiện thắng lợi sự nghiệpcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủnghĩa trong tình hình