Có thể khẳng định rằng hệ thống pháp luật hình sự đã có sự đóng góp to lớn trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, giáo dục pháp luật cho mọi người. Trong đó không thể nào không đề cập đến các biện pháp ngăn chặn được quy định bởi bộ luật hình sự. Bởi lẽ biện pháp này bảo đảm cho các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình trong các giai đoạn điều tra, truy tố, giải quyết vụ việc một cách nhanh chóng, kịp thời đối với các vụ án hình sự. Trong số các biện pháp ngăn chặn, có thể nói biện pháp tạm giam được coi là một biện pháp nghiêm khắc nhất. Vì nếu tạm giam sai có thể sẽ làm xâm phạm đến quyền tự do dân chủ, các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giam; nhưng ngược lại cũng không ít trường hợp nếu không áp dụng biện pháp này kịp thời thì người phạm tội vẫn ngang nhiên tự do ngoài vòng pháp luật, gây khó khăn cho việc điều tra, xử lý vụ án làm ảnh hưởng đến lợi ích của cộng đồng. Nhận thức được tầm quan trọng của của biện pháp ngăn chặn tạm giam về cả mặt lý luận cũng như thực tiễn trong giai đoạn hiện nay; em xin lựa chọn đề bài:“Phân tích, đánh giá quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về biện pháp ngăn chặn “tạm giam” và nêu quan điểm cá nhân về việc hoàn thiện quy định này”. Trong bài luận dưới đây, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô. Em xin chân thành cảm ơn. 2. NỘI DUNG 2.1. Vấn đề nghiên cứu Nguyên cứu một cách toàn diện và sâu sắc có hệ thống một số vấn đề lý luận về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trong giai đoạn tố tụng hình sự, tập trung phân tích thực trạng việc áp dụng biện pháp, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp tạm giam. Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn, đưa ra các thực trạng đang gặp phải trong quá trình thi hành luật, từ đó đưa ra một số giải pháp cụ thể:
Trang 1BÀI TIỂU LUẬN
MÔN: LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Trang 2MỤC LỤC
1 ĐẶT VẤN ĐỀ 3
2 NỘI DUNG 3
2.1 Vấn đề nghiên cứu 3
2.2 Phương pháp nghiên cứu 4
2.2.1 Phương pháp luận 4
2.2.2 Phương pháp luận 4
2.3 Kết quả 4
2.3.1 Những bất cập 4
2.3.1.1 Về việc xác định căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam 5
2.3.1.2 Quá hạn tạm giam 5
2.3.1.3 Lạm dụng biện pháp tạm giam .6
2.3.1.4 Quá tải trại tạm giam 7
2.3.1.5 Quyền con người, quyền công dân bị áp dụng biện pháp tạm giam 7 2.3.2 Giải pháp hoàn thiện 9
2.3.2.1 Hoàn thiện quy định về căn cứ tạm giam 9
2.3.2.2 Hoàn thiện về thời hạn tạm giam 10
2.3.2.3 Sửa đổi quy định thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp tạm giam 10
2.3.2.4 Cần rà soát phân loại cán bộ và chú trọng công tác bồi dưỡng, đào tạo 10
2.3.2.5 Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ việc tạm giam 11
2.4 Thảo luận 11
2.4.1 Khái quát chung về biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố tụng hình
Trang 32.4.1.1 Khái niệm và tính chất của biện pháp ngăn chặn tạm giam 112.4.1.2 Mục đích của biện pháp ngăn chặn tạm giam 122.4.2 Quy định của bộ luật tố tụng hình sự 2015 về biện pháp ngăn chặn tạm giam 13
2.4.3 Thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự việt năm 2015 202.4.4 Một số đề xuất hoàn thiện quy định về biện pháp tạm giam theo bộ luật
tố tụng hình sự năm 2015 22
3 KẾT LUẬN 25
Trang 41 ĐẶT VẤN ĐỀ
Có thể khẳng định rằng hệ thống pháp luật hình sự đã có sự đóng góp to lớntrong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, giáo dục pháp luật cho mọingười Trong đó không thể nào không đề cập đến các biện pháp ngăn chặn đượcquy định bởi bộ luật hình sự Bởi lẽ biện pháp này bảo đảm cho các cơ quan tiếnhành tố tụng thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình trong các giai đoạn điều tra, truy
tố, giải quyết vụ việc một cách nhanh chóng, kịp thời đối với các vụ án hình sự.Trong số các biện pháp ngăn chặn, có thể nói biện pháp tạm giam được coi là mộtbiện pháp nghiêm khắc nhất Vì nếu tạm giam sai có thể sẽ làm xâm phạm đếnquyền tự do dân chủ, các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giam; nhưngngược lại cũng không ít trường hợp nếu không áp dụng biện pháp này kịp thời thìngười phạm tội vẫn ngang nhiên tự do ngoài vòng pháp luật, gây khó khăn cho việcđiều tra, xử lý vụ án làm ảnh hưởng đến lợi ích của cộng đồng Nhận thức được tầmquan trọng của của biện pháp ngăn chặn tạm giam về cả mặt lý luận cũng như thực
tiễn trong giai đoạn hiện nay; em xin lựa chọn đề bài:“Phân tích, đánh giá quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về biện pháp ngăn chặn “tạm giam”
và nêu quan điểm cá nhân về việc hoàn thiện quy định này” Trong bài luận dưới
đây, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô Em xin chân thành cảm
ơn
2 NỘI DUNG 2.1 Vấn đề nghiên cứu
Nguyên cứu một cách toàn diện và sâu sắc có hệ thống một số vấn đề lý luận
về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trong giai đoạn tố tụng hình sự, tậptrung phân tích thực trạng việc áp dụng biện pháp, từ đó đề xuất một số giải phápnhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp tạm giam
Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn, đưa ra các thực trạng đang gặp phảitrong quá trình thi hành luật, từ đó đưa ra một số giải pháp cụ thể:
Trang 5Phân tích làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cùng các quy định pháp luật về ápdụng biện pháp tạm giam trong tố tụng hình sự;
Phân tích thực tiễn áp dụng biện pháp tạm giam thông qua việc đánh giánhững kết quả đã đạt được những tồn tại khó khăn và nguyên nhân;
Một số đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp tạmgiam trong tố tụng hình sự
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp luận
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác –Lênin về nhà nước và pháp luật, phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, và tưtưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về áp dụng xây dựng Nhànước và pháp luật, trong đó có vấn đề về áp dụng biện pháp tạm giam ; tiểu luậnnghiên cứu trên cơ sở lý luận của khoa học Luật hình sự; Luật tố tụng hình sự vàcác tài liệu tham khảo từ các công trình nghiên cứu của các tác giả khác
2.2.2 Phương pháp luận
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu: Phân tích, so sánh, tổng hợp và sốliệu thống kê, đối chiếu kết hợp giữa nghiên cứu lý luận và thực tiễn, để đưa ra cácđánh giá và đề xuất giải pháp
2.3 Kết quả
2.3.1 Những bất cập.
Xét về tình hình tạm giam trên toàn quốc hiện nay, hầu hết các trường hợp
áp dụng biện pháp tạm giam đều đúng pháp luật Viện kiểm sát và các cán bộ cóliên quan quan tâm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ Hiện nay,việc áp dụng biện pháp tạm giữ đã có những bước tiến quan trọng trong việc bảo vệnền dân chủ pháp quyền và quyền lợi hợp pháp của công dân Tuy nhiên, bên cạnh
Trang 6những ưu điểm và kết quả đạt được, việc áp dụng tạm giam còn một số hạn chế, đólà:
2.3.1.1 Về việc xác định căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam
Theo điều tra, trong nhiều trường hợp, nơi giam giữ không được chỉ định.Trong quá trình điều tra vụ án, khi đề nghị VKS phê chuẩn quyết định tạm giam,hầu hết các văn bản đề nghị chỉ đưa ra những lý do chung chung như “để đảm bảocho việc điều tra, xử lý vụ án”, “xét thấy cần thiết phải tạm giam” bị cáo" , ngăncản bị cáo bỏ trốn”, “không cho bị cáo tiếp tục phạm tội” nhưng không nêu lý do cụthể, không loại trừ việc cơ quan điều tra sử dụng biện pháp tạm giữ như một biệnpháp nghiệp vụ để buộc bị cáo phải khai nhận, hoặc cơ quan điều tra ra lệnh tạmgiam, bắt không có lý do, trường hợp không được sự phê chuẩn của Viện kiểm sát Việc xác định căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam còn hạn chế, thiếu chặt chẽ Trênthực tế, vẫn có trường hợp các cơ quan tiến hành tố tụng tạm giam ở giai đoạn trướckhi khởi kiện dẫn đến việc tòa án phải miễn cưỡng tuyên trắng án hoặc áp dụnghình phạt không giam giữ, kể cả khi có cơ sở Một số bị cáo khác bị phạt tù có thờihạn tương đương với tạm giữ hình sự Trong một số trường hợp, cơ quan tiến hành
tố tụng còn coi biện pháp tạm giam là biện pháp nghiệp vụ điều tra, vi phạm quyền
tự do công dân
2.3.1.2 Quá hạn tạm giam
Tình hình tội phạm diễn biến phức tạp, số lượng ngày càng gia tăng nhưngcác cơ quan tố tụng luôn thiếu biên chế để đáp ứng nhu cầu công việc Ngoài ra,trước áp lực phải hoàn thành nhiệm vụ được giao và kết quả bệnh thành tích, , cán
bộ có xu hướng vi phạm pháp luật tố tụng hình sự về thời hạn tạm giam do tâm lýnóng vội Vi phạm pháp luật tố tụng về thời hạn tạm giam còn tương đối phổ biến ởcác cơ quan tố tụng
Thực tế đã chứng minh rằng vẫn có những trường hợp tạm giam quá hạn xảy
ra Trong một số tình huống, thời hạn tạm giam của bị can hoặc bị cáo đã phải đượckéo dài do việc cần phải xin ý kiến chỉ đạo từ các cơ quan tiến hành tố tụng ở các
Trang 7cấp Việc vượt quá giới hạn thời gian tạm giam đã gây trực tiếp ảnh hưởng đếnquyền và lợi ích của người bị tạm giam.
2.3.1.3 Lạm dụng biện pháp tạm giam
Nghiên cứu ngẫu nhiên qua 320 trường hợp áp dụng biện pháp tạm giamtrong tổng số 472 vụ án các loại tại tỉnh Lâm Đồng và thành phố Hồ Chí Minh,không thấy được trong hồ sơ vụ án có bất cứ giấy tờ và tài liệu nào chứng minh vềkhả năng bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội hoặc có thể cản trở việc điều tra của cơquan điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án của người bị áp dụng Có thể thấy cáclệnh tạm giam của cơ quan điều tra, quyết định phê chuẩn lệnh tạm giam của việnkiểm sát chỉ nêu một cách chung chung là căn cứ vào hành vi phạm tội, căn cứ vàocác điều luật của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và xét thấy cần thiết tạm giam làtạm giam1 Có nhiều trường hợp, đáng ra người bị áp dụng biện pháp tạm giam họđược tại ngoại để điều tra, truy tố, xét xử hoặc chờ thi hành án, nhưng các cơ quantiến hành tố tụng vẫn ra quyết định áp dụng biện pháp tạm giam đối với họ Trong
số đó, có nhiều trường hợp bị oan, sai
Có thể thấy việc lạm dụng biện pháp tạm giam trong giai đoạn tiền xét xử đãxâm hại nghiêm trọng đến một số quyền căn bản của con người và ảnh hưởng đếnlòng tin của nhân dân vào hoạt động tư pháp hình sự Ngoài ra, việc này còn gây tốnkém chi phí tố tụng và tài chính của Nhà nước khi phải xây dựng buồng giam và ápdụng các chế độ quản lý không cần thiết
2.3.1.4 Quá tải trại tạm giam
Đảm bảo diện tích tối thiểu cho mỗi người tạm giam trong các cơ sở tạm giữ,nhà tạm giam và trại giam trên toàn quốc là từ 2 mét vuông/người trở lên Tuynhiên, đã xảy ra tình trạng giam giữ quá số lượng tại một số cơ sở tạm giam, gây raviệc không đáp ứng được diện tích tối thiểu cho người tạm giam Cung cấp trangthiết bị sinh hoạt vẫn chưa đầy đủ và khẩu phần ăn không tuân thủ theo quy định
1 TS Trần Văn Độ - Phó Chánh án TANDTC, Chánh án Tòa án quân sự Trung ương “Thực trạng áp dụng biện pháp tạm giam hiện nay ở nước ta”
Trang 8của pháp luật, tuy nhiên, tình trạng này chỉ xảy ra đặc biệt ở một số cơ sở giam giữ.Mặc dù không phổ biến, nhưng nó vẫn gây ảnh hưởng đến quyền của người bị tạmgiam và làm giảm hiệu quả trong việc giáo dục và cải tạo phạm nhân.
2.3.1.5 Quyền con người, quyền công dân bị áp dụng biện pháp tạm giam
Hiện nay, việc tạm giữ và tạm giam người đã thu hút sự chú ý của nhiều cơquan, tổ chức xã hội và công chúng Hành vi bắt giữ người một cách tùy tiện, bắtoan người vô tội, và tạm giữ người mà không có lệnh đã tạo ra hậu quả nghiêmtrọng đối với quyền con người, quyền lợi hợp pháp của công dân Có những trườnghợp cơ quan cấp dưới thực hiện việc giữ người mà không báo cáo cơ quan có thẩmquyền và tiến hành xử lý tùy tiện, gây tổn hại nghiêm trọng đến quyền tự do vàquyền được bảo vệ về danh dự và nhân phẩm của cá nhân Tình trạng này cũng ảnhhưởng đến uy tín của Đảng và Nhà nước, cũng như các cơ quan thực hiện tố tụng
● Quyền bào chữa
Căn cứ Khoản 4 Ðiều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định: “4 Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật
sư hoặc người khác bào chữa.” Ðiều 16 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định:
“Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.
Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này.” Pháp
luật hiện hành quy định về quyền tự bào chữa hoặc sự hỗ trợ từ người khác để bàochữa, tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng quyền này chưa được đảm bảo một cách đầy
đủ Đối với những người bị tạm giam, việc nhờ người khác bào chữa vẫn đối mặtvới những rào cản và khó khăn Quyền tiếp xúc của người bào chữa với bị can hoặc
bị cáo trong trại tạm giam phụ thuộc vào sự chấp thuận từ phía điều tra viên Thậmchí trong trường hợp buộc phải có người bào chữa theo quy định pháp luật, nhữngquy định này chỉ có tính hình thức và phụ thuộc vào ý chí chủ quan của điều traviên, cũng như các mối quan hệ bên ngoài giữa luật sư và cơ quan tiến hành tố tụng
Trang 9Việc cấp giấy chứng nhận cho người bào chữa vẫn gây khó khăn cho luật sư ở một
số địa phương, chưa đáp ứng đầy đủ các quy định của pháp luật
● Quyền đòi bồi thường thiệt hại
Đối với việc đòi bồi thường thiệt hại của những người bị tạm giam oan saitrong quá trình tố tụng hình sự, vẫn có nhiều trường hợp thời gian tạm giam vượtquá thời hạn tù mà Tòa án đã tuyên Điều này cho thấy sự vi phạm, tuy nhiên, vấn
đề bồi thường chưa được đề cập đến Hơn nữa, quy định của Khoản 3 Điều 18 Luật
trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước năm 2017: “3 Người bị tạm giam
mà có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm;” có thể thấy quy định trên đang gây khó khăn cho những
người bị áp dụng biện pháp tạm giam sai khi yêu cầu bồi thường thiệt hại Trongtrường hợp bị can có quyết định đình chỉ vụ án, họ không thể nhận được bản án và
do đó không thể yêu cầu bồi thường thiệt hại do tạm giam quá hạn Pháp luật quyđịnh về việc bồi thường thiệt hại cho các trường hợp oan đã rõ ràng Tuy nhiên, đốivới các trường hợp sai lầm do lỗi của cơ quan tiến hành tố tụng như 'tạm giam quáhạn', chưa có cơ chế cho người bị áp dụng biện pháp tạm giam 'sai' để yêu cầu bồithường
2.3.2 Giải pháp hoàn thiện
2.3.2.1 Hoàn thiện quy định về căn cứ tạm giam
Dựa trên nghiên cứu thực trạng các quy định và thực tiễn thực hiện căn cứ ápdụng biện pháp tạm giam, cũng như việc gặp phải những khó khăn và vướng mắctrong thời gian qua và tham khảo pháp luật tố tụng hình sự của một số nước, tôi chorằng cần thiết phải sửa đổi và bổ sung một số vấn đề về căn cứ áp dụng biện pháptạm giam trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 như sau:
Trang 10Thứ nhất: Cần thiết phải quy định cụ thể và chặt chẽ căn cứ áp dụng biện
pháp ngăn chặn nói chung và biện pháp tạm giam nói riêng Đồng thời, cần phânbiệt một cách rõ ràng giữa mục đích cùng căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn, đểlàm cơ sở cho việc áp dụng biện pháp tạm giam
Thứ hai: Khuyến cáo không sử dụng kết quả phân loại tội phạm như một cơ
sở độc lập để thiết lập căn cứ cho việc áp dụng biện pháp tạm giam Thay vào đó,cần xem xét khả năng bị can, bị cáo có thể cản trở, gây khó khăn cho việc điều tra,truy tố, xét xử và thi hành án hoặc có thể tiếp tục phạm tội là căn cứ chủ yếu để xemxét và quyết định áp dụng biện pháp tạm giam Trường hợp cần thiết, có thể căn cứvào chế tài của quy phạm pháp luật hình sự để áp dụng
Thứ ba: cần có quy định rõ ràng hơn về việc xem xét hồ sơ, tài liệu là chứng
cứ chứng minh về căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam
Thứ tư: cần đưa ra quy định rõ ràng hơn về việc xem xét hồ sơ và tài liệu là
chứng cứ chứng minh căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam
2.3.2.2 Hoàn thiện về thời hạn tạm giam
Cần nghiên cứu sửa đổi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 để đảm bảo sựđồng bộ và thống nhất giữa thời hạn tạm giam để điều tra và thời hạn điều tra Đồngthời, cần rút ngắn thời hạn điều tra, truy tố, xét xử và thời hạn tạm giam đối vớingười chưa thành niên
2.3.2.3 Sửa đổi quy định thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp tạm giam
Cần sửa đổi quy định về thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp tạmgiam theo hướng tăng cường thẩm quyền cho cá nhân người tiến hành tố tụng nhưKiểm sát viên, Thẩm phán, Hội đồng xét xử Các cơ quan điều tra và điều tra viênchỉ đề nghị áp dụng biện pháp tạm giam, không có thẩm quyền quyết định tạmgiam Đồng thời, cần loại bỏ các quy định trung gian không cần thiết và chỉ mangtính hình thức, ví dụ như quy định về cơ quan điều tra đề nghị và Viện kiểm sát phê
Trang 11chuẩn, hoặc quy định về Kiểm sát viên và Thẩm phán nghiên cứu hồ sơ sau đó đềnghị Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Chánh án, Phó Chánh án ra quyết định
2.3.2.4 Cần rà soát phân loại cán bộ và chú trọng công tác bồi dưỡng, đào tạo.
Trước hết, cần thực hiện việc đánh giá và phân loại kiểm sát viên trên toàn
quốc Chất lượng và hiệu quả công tác của kiểm sát viên có tác động trực tiếp đếnhiệu quả áp dụng biện pháp tạm giam Việc đánh giá và phân loại chính xác sẽ tạo
cơ sở để sắp xếp cán bộ và kiểm sát viên phù hợp, đồng thời là nền tảng để xác địnhviệc bồi dưỡng và nâng cao trình độ cho đội ngũ này
Thứ hai, cần tập trung vào việc bồi dưỡng và đào tạo cho điều tra viên và cán
bộ tham gia công tác điều tra Đối với việc bồi dưỡng điều tra viên, cần lựa chọnnhững người phù hợp Mỗi khóa đào tạo và chương trình tập huấn đều có mục tiêu,yêu cầu và đối tượng riêng Do đó, khi chọn người tham gia đào tạo, cần lựa chọnmột cách cẩn thận
Thứ ba, cần đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp giảng dạy.Ngoài các tiêu chí về phẩm chất và sức khỏe, người được chọn để bồi dưỡng cầnđược trang bị kiến thức pháp luật và kiến thức về công tác điều tra Đặc biệt,chương trình đào tạo phải liên quan đến mục tiêu và cần có một quá trình tổng kếtthực tế, khoa học và chỉ ra các hạn chế cụ thể
2.3.2.5 Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ việc tạm giam
Đầu tư vào các cơ sở tạm giữ là cấp thiết và cần thiết để bảo vệ quyền củanhững người bị tạm giữ và quản lý hiệu quả những người bị tạm giữ trong quá trìnhđiều tra Điều cấp thiết đối với cả chính quyền trung ương và địa phương là cungcấp hỗ trợ tài chính cho việc phát triển các cơ sở giam giữ Điều này không chỉ đápứng các yêu cầu về thủ tục tố tụng hình sự mà còn giải quyết các vấn đề quan trọng
về chính trị xã hội và nhân quyền
Trang 122.4 Thảo luận
2.4.1 Khái quát chung về biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố tụng hình
sự
2.4.1.1 Khái niệm và tính chất của biện pháp ngăn chặn tạm giam
Trên cơ sở lý luận cũng như thực tiễn cho thấy có rất nhiều cách hiểu về tạmgiam Có một cách hiểu rằng tạm giam được coi là biện pháp ngăn chặn nghiêmkhắc nhất trong Bộ luật tố tụng hình sự Biện pháp này được áp dụng bởi cơ quanđiều tra, viện kiểm sát hoặc tòa án đối với bị can, bị cáo nhằm ngăn chặn tội phạmhoặc trong trường hợp có căn cứ chứng tỏ rằng bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn choquá trình điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục phạm tội, cũng như đảm bảo việc thihành án.2 Một quan điểm khác cho rằng tạm giam là biện pháp cách ly bị can, bị cáokhỏi xã hội trong một khoảng thời gian nhất định nhằm ngăn chặn hành vi trốntránh pháp luật và cản trở quá trình điều tra, xét xử hoặc nguy cơ tiếp tục phạm tộicủa bị can, bị cáo Điều này đảm bảo rằng việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành
án được tiến hành một cách thuận lợi.3
Biện pháp tạm giữ là một phương thức áp dụng trong quá trình xử lý tố tụnghình sự đối với cá nhân bị cáo buộc phạm tội nghiêm trọng Cơ quan điều tra, việnkiểm sát và tòa án có thể áp dụng biện pháp này để ngăn chặn và kiểm soát hoạtđộng của bị cáo trong quá trình điều tra và truy tố
Mục đích chính của biện pháp tạm giữ là đảm bảo an ninh và công lý trongquá trình xử lý tội phạm nghiêm trọng Khi một cá nhân bị cáo buộc phạm tộinghiêm trọng, biện pháp tạm giữ được xem như một biện pháp ngăn chặn nghiêmtrọng, bởi nó giúp cách ly bị cáo khỏi xã hội và hạn chế một số quyền của bị cáo
Thông qua việc tạm giữ bị cáo, cơ quan điều tra, viện kiểm sát và tòa án cóthể đảm bảo rằng bị cáo không tiếp tục tiếp cận và gây hại cho những người khác
2 Nguyễn Mai Bộ (2004), “Biện pháp ngăn chặn khám xét và kê biên tài sản trong Bộ luật tố tụng hình sự” Nxb Tư pháp, Hà Nội, trang 108.
3 Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), “Từ điển giải thích thuật ngữ luật học Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự” Nxb CAND, Hà Nội, trang 224
Trang 13hoặc ngăn chặn bị cáo phá hủy hoặc thay đổi bằng chứng Điều này đặc biệt quantrọng đối với các vụ án nghiêm trọng, trong đó tội phạm có thể gây nguy hiểm đếntính mạng, tài sản hoặc sự tự do của người khác.
Tuy nhiên, quyền tạm giữ của cơ quan điều tra, viện kiểm sát và tòa ánkhông được vô hạn Thời gian tạm giữ phải tuân thủ các quy định pháp luật vànguyên tắc công bằng, và người bị cáo có quyền được bảo vệ và có cơ hội chứngminh vô tội Trong quá trình tạm giữ, bị cáo cũng có thể yêu cầu được tham giaphiên xét xử để bào chữa cho mình
Có thể thấy rằng tính chất của biện pháp tạm giam là biện pháp nghiêm khắcnhất, nhưng không phải là hình phạt tù Điều này bởi mục đích của biện pháp này làngăn chặn tội phạm và các hành vi trốn tránh pháp luật của người phạm tội, đồngthời bảo đảm việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án được tiến hành đúngđắn Trong khi đó, hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc được Nhà nước
áp dụng, thông qua Tòa án, nhằm trừng phạt người phạm tội và cải tạo họ trở thànhngười có ích cho cộng đồng, xã hội
2.4.1.2 Mục đích của biện pháp ngăn chặn tạm giam
Tạm giam là một biện pháp được áp dụng đối với bị can và bị cáo trong cácgiai đoạn khác nhau của tố tụng hình sự Ngoài mục đích chung là ngăn chặn bị can
và bị cáo tiếp tục phạm tội hoặc gây cản trở cho quá trình giải quyết vụ án, việc ápdụng biện pháp tạm giam còn có mục đích riêng để đảm bảo sự tiến hành tố tụngmột cách hiệu quả của cơ quan áp dụng
Trong giai đoạn điều tra, việc tạm giam tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quanđiều tra thu thập chứng cứ từ lời khai của bị can mà không cần mất thời gian triệutập bị can nhiều lần Đồng thời, biện pháp này cũng giúp quản lý và giám sát bị canmột cách nghiêm ngặt
Ngoài ra, việc tạm giam bị cáo sau khi tuyên án nhằm đảm bảo việc thi hành
án được tiến hành một cách thuận lợi khi bản án đã có hiệu lực pháp luật Điều này
Trang 14giúp đảm bảo rằng quá trình thi hành án diễn ra một cách trơn tru và không gặp trởngại.
Tóm lại, tạm giam là một biện pháp quan trọng trong tố tụng hình sự để đảmbảo quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án diễn ra một cách hiệu quả vàcông bằng
2.4.2 Quy định của bộ luật tố tụng hình sự 2015 về biện pháp ngăn chặn tạm
giam
Qua thực tiễn áp dụng các quy định trước đó, đã có những hạn chế nhấtđịnh, do đó cần sửa đổi và bổ sung một cách hợp lý hơn Biện pháp ngăn chặntạm giam được quy định tại Điều 119 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,bao gồm các nội dung cụ thể sau đây:
cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp:
a) Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm;
b) Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can; c) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn;
d) Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội;
đ) Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của
vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.