Từ đó, cho thấy cần phải sửa đổi những quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm nói riêng.. Trong số đó c
Trang 1TRẦN TẤN QUỐC
NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA THẨM PHÁN TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2013
Trang 2TRẦN TẤN QUỐC
NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA THẨM PHÁN TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của bản thân dưới sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn Những thông tin, dữ liệu và tài liệu trình bày trong luận văn được trích dẫn rõ ràng, đầy đủ về nguồn gốc Những thông tin, tài liệu này được tác giả thu thập đảm bảo tính khách quan
và trung thực
Tp Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 5 năm 2013
Tác giả luận văn
Trần Tấn Quốc
Trang 47 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân PLTP&HTTAND
8 Quyết định đưa vụ án ra xét xử QĐĐVARXX
12 Viện kiểm sát nhân dân tối cao VKSNDTC
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích, đối tượng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu 4
4 Các phương pháp tiến hành nghiên cứu 4
5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài 5
6 Bố cục của luận văn 5
CHƯƠNG 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA THẨM PHÁN TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 6
1.1 Khái niệm chung về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong tố tụng hình sự 6
1.1.1 Khái niệm về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hình sự 6
1.1.2 Khái niệm về trách nhiệm của Thẩm phán trong tố tụng hình sự 10
1.2 Khái niệm chung về giai đoạn xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự 11
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm giai đoạn xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự 11
1.2.2 Mục đích, nhiệm vụ và vị trí, vai trò của giai đoạn xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự 14
1.3 Sơ lược nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 16
1.3.1 Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ năm 1945 đến trước năm 1960 16
1.3.2 Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ năm 1960 đến Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 20
1.4 Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở một số nước trên thế giới 22
Trang 61.4.1 Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 22 1.4.2 Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở Cộng Hòa Liên bang Đức 24 1.4.3 Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở Liên bang Nga 25
CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT THỰC ĐỊNH VỀ NHIỆM VỤ,
QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA THẨM PHÁN TRONG
GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN
ÁP DỤNG 28 2.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong quá trình chuẩn
bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng 28
2.1.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán khi nghiên cứu hồ sơ và
thực tiễn áp dụng 28 2.1.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán khi áp dụng, thay đổi hoặc
huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn và thực tiễn áp dụng 32 2.1.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán khi ra các quyết định và
thực tiễn áp dụng 33 2.1.4 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán về việc triệu tập những
người cần xét hỏi đến phiên toà 41
2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán tại phiên tòa hình sự sơ
thẩm và thực tiễn áp dụng 42
2.2.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong phần thủ tục bắt
đầu phiên toà 42 2.2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong phần thủ tục xét hỏi
tại phiên toà 45 2.2.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong phần tranh luận tại
phiên toà 52 2.2.4 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán khi nghị án, tuyên án và
Trang 72.3.2 Việc nhận đơn kháng cáo, thông báo kháng cáo, kháng nghị,
gửi hồ sơ đến Tòa án cấp phúc thẩm 59
2.4 Trách nhiệm thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng 60
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA THẨM PHÁN TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 63
3.1 Cải cách tư pháp và nhu cầu nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 63
3.1.1 Nhận thức chung về cải cách tư pháp 63
3.1.2 Nhu cầu nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 65
3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 68
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật 68
3.2.2 Các giải pháp khác 73
KẾT LUẬN 78
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ở nước ta, trong các cơ quan tư pháp chỉ có Tòa án mới có chức năng xét
xử, Tòa án xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật Việc xét xử của Tòa án nói chung được thực hiện theo chế độ hai cấp xét xử, đó là cấp xét xử sơ thẩm và cấp xét xử phúc thẩm Trong đó, xét xử sơ thẩm được xem là giai đoạn trung tâm của cả quá trình tố tụng, là giai đoạn thể hiện rõ nhất các nguyên tắc dân chủ, bình đẳng, độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự cũng vậy, nó thể hiện kết quả của toàn bộ hoạt động tố tụng điều tra, truy tố
và bào chữa
Tòa án thực hiện chức năng xét xử thông qua hoạt động của cán bộ Tòa
án và Hội thẩm nhân dân nhưng người có vai trò quan trọng nhất trong hoạt động xét xử đó là Thẩm phán Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định những nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong quá trình tố tụng cũng như trong giai đoạn xét xử sơ thẩm là tương đối đầy đủ Nhưng những quy định trong bộ luật này chưa thể hiện tính nhất quán khi quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán theo đúng chức năng xét xử vốn có mà Thẩm phán đại diện thực hiện, chưa thể hiện được hoạt động xét xử là trọng tâm, Toà án là trung tâm trong các cơ quan tư pháp
Chính vì lẽ đó, thực tiễn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trong thời gian qua cho thấy nhiều trường hợp Thẩm phán áp dụng pháp luật không thống nhất trong cùng một điều luật, tính độc lập khi xét xử của Thẩm phán không được đảm bảo khi nguồn chứng cứ sử dụng để xét xử thì hầu hết là từ hồ sơ
vụ án Hình thức phiên tòa tại phần xét hỏi nhìn vào cho thấy Thẩm phán ra sức buộc tội thay hay bảo vệ cáo trạng của Viện kiểm sát, tranh luận tại phiên tòa chỉ mang tính hình thức, khi sử dụng chứng cứ vẫn còn quan niệm trọng cung hơn trọng chứng … Từ những tồn tại hạn chế này, dẫn đến dư luận lâu nay cho rằng việc đưa ra phiên tòa để xét xử thường mang tính hình thức là phần nhiều còn thực chất bị cáo đã bị kết tội ngay từ giai đoạn điều tra vụ án Xuất phát từ chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng nền tư pháp vững mạnh, hiệu quả, phù hợp với xu thế phát triển chung của thời đại Trong Nghị quyết
Trang 9số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ chính trị đã xác định lấy Tòa án làm trung tâm trong các cơ quan tư pháp, lấy xét xử làm trọng tâm đã cho thấy có sự thay đổi mới về quan điểm, cải cách đồng bộ hệ thống pháp luật liên quan đến hoạt động tư pháp nói chung Từ đó, cho thấy cần phải sửa đổi những quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm nói riêng
Nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự, đề cao quyền con người trong bối cảnh cải cách tư pháp hiện nay Việc tiếp tục nghiên cứu những vấn đề lý luận, những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và thực tiễn thi hành Bộ luật tố tụng hình sự về nhiệm vụ, quyền hạn
và trách nhiệm của Thẩm phán là hết sức cần thiết
Tất cả những vấn đề trên đây là lý do mà tác giả chọn đề tài “Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự” làm luận văn tốt nghiệp cho mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến vấn đề nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán và giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đã có một số bài viết, công trình nghiên cứu, khóa luận tốt nghiệp có nội dung liên quan đến đề tài này Trong số đó có thể kể đến:
- Luận văn thạc sỹ: “Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự” (2001) của tác giả Đặng Văn Dùng; “Phiên tòa hình sự sơ thẩm trong điều kiện cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay” (2007) của tác giả Lê Thanh Phong; “Chức năng xét xử của Tòa án trong tố tụng hình sự Việt Nam” (2007) của tác giả Trần Thị Ánh; “Trả hồ sơ điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự” (2008) của tác giả Nguyễn Văn Mai; “Bản án hình sự sơ thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam” (2007) của tác giả Nguyễn Thị Hồng Tuyến; “Thẩm quyền xét xử sơ thẩm hình sự của Tòa án” (2007) của tác giả Nguyễn Văn Trí; “Quyền phán quyết của Hội đồng xét xử sơ thẩm và giới hạn xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam” (2008) của tác giả Lê Văn Tâm; “Hoàn thiện chế định thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam” (2008) của tác giả Nguyễn Thị Loan; “Hoàn thiện nguyên tắc Tòa án xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự Việt Nam” (2006) của tác giả Nguyễn Thị
Trang 10Thụy Vũ; “Nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự Việt Nam” (2004) của tác
giả Phan Thị Mỹ Hạnh… có những nội dung phân tích các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về xét xử sơ thẩm, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán cũng như các giải pháp để nâng cao hiệu quả trong giai đoạn này
- Luận văn cử nhân: “Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong pháp luật tố tụng hình sự” của tác giả Trần Thị Bích Ân; “Hoàn thiện chế định Thẩm phán trong pháp luật tố tụng hình sự” (2009) của tác giả Phạm Thị Hạnh; “Chế định Thẩm phán trong pháp luật tố tụng hình sự” (2010) của tác giả Nguyễn Thị Thanh Vân; “Địa vị pháp lý của Tòa án nhân dân trong tố tụng hình sự”
(2000) của tác giả Thái Mỹ Nhung có những nội dung phân tích các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân Trong đó, có đề cập đến thẩm quyền của Thẩm phán, Tòa án trong tố tụng hình sự và các giải pháp để hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
- Các bài báo: “Một số vấn đề về quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán và yêu cầu hoàn thiện pháp luật” của Tiến sĩ Nguyễn Văn Hiện; “Văn hóa Thẩm phán và đạo đức Thẩm phán” của Tiến sĩ Phan Hữu Thư; “Các yêu tố cơ bản cấu thành tư cách của người Thẩm phán” của tác giả Lê Xuân Thân; “Thực trạng đội ngũ Thẩm phán nước ta Những nguyên nhân và bài học kinh nghiệm từ quá trình xây dựng” của tác giả Đỗ Gia Thư; “Đổi mới chế độ Thẩm phán, Hội thẩm Tòa án nhân dân trong tiến trình cải cách tư pháp” của Tiến sĩ Vũ Gia Lâm; “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử các vụ án hình sự hiện nay” của tác giả Hoàng Mạnh Hùng; “Hoàn thiện một
số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thủ tục phiên tòa sơ thẩm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” của Tiến sĩ Hoàng Thị Minh Sơn; “Về mô hình tố tụng hình sự của nhà nước pháp quyền dân chủ Liên bang Nga” của Giáo sư - Tiến sĩ khoa học Lê Văn Cảm; “Bàn về quyền tư pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hôi chủ nghĩa” của Giáo sư - Tiến sĩ khoa học Đào Trí Úc; “Đổi mới phiên tòa hình sự sơ thẩm nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” của Phó Giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Thái Phúc; “Việc lựa chọn mô hình tố tụng trong quá trình cải cách tư pháp ở Việt Nam” của Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Chí;
“Tìm hiểu mô hình tố tụng thẩm vấn và những kiến nghị hoàn thiện mô hình
tố tụng ở Việt Nam” của tác giả Lương Thị Mỹ Quỳnh; “Hoàn thiện thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở nước ta hiện
Trang 11nay” của tác giả Nguyễn Thị Thủy; “Hiệu quả xét xử và vấn đề phát hiện, thu thập, xử lý tài liệu, chứng cứ trong vụ án hình sự” của tác giả Hoàng Mạnh
Hùng… Các bài báo này ở mỗi cấp độ, góc độ nhất định đều có những nội dung liên quan đến quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về xét xử sơ thẩm, địa vị pháp lý của Thẩm phán và thực tiễn xét xử sơ thẩm trong giai đoạn này Tuy nhiên, trong các công trình luận án, luận văn và bài báo nêu trên chưa có một công trình luận án, luận văn hoặc bài báo nào nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ lý luận cũng như dưới góc độ thực tiễn về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán tại Tòa án cấp sơ thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trong bối cảnh cải cách tư pháp
3 Mục đích, đối tượng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu
Mục đích của luận văn là góp phần làm rõ những vấn đề lý luận và một phần thực tiễn về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự; đưa ra một số giải pháp có cơ sở lý luận và thực tiễn góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả xét xử sơ thẩm; góp phần cơ cấu khoa học hơn về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán, Tòa án trong hệ thống các chức danh tư pháp và bộ máy tư pháp Đối tượng nghiên cứu của đề tài: là các quy định của Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2003 về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Giới hạn phạm vi nghiên cứu: phạm vi nghiên cứu của Luận văn được giới hạn bởi các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự; đánh giá phần nào về thực tiễn xét xử sơ thẩm từ khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có hiệu lực cho đến nay
4 Các phương pháp tiến hành nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền, các phương pháp được sử dụng nghiên cứu trong luận văn bao gồm các phương pháp truyền thống; đó là các phương pháp: lịch sử, phân tích, tổng hợp, logic, so sánh
Trang 125 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Về ý nghĩa khoa học, luận văn đã góp phần làm sáng tỏ khái niệm giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, khái niệm nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong giai đoạn này
Về giá trị ứng dụng, những kết quả nghiên cứu và những giải pháp đưa ra trong luận văn góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo xu hướng thời đại trong tố tụng hình sự mà cụ thể là giai đoạn xét
xử sơ thẩm và đáp ứng tinh thần cải cách tư pháp
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Nhận thức chung về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Chương 2 Pháp luật thực định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng Chương 3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
và trách nhiệm của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Trang 13CHƯƠNG 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA THẨM PHÁN TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM
VỤ ÁN HÌNH SỰ 1.1 Khái niệm chung về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong tố tụng hình sự
1.1.1 Khái niệm về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng
hình sự
Từ điển Luật học định nghĩa: “Thẩm phán là người chuyên làm công tác xét xử các vụ án”1 Đây là cách hiểu chung và chưa thể hiện đầy đủ nhất những gì liên quan đến Thẩm phán Về mặt pháp lý thì tại Điều 1 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân (PLTP&HTTAND) năm 1993 quy
định: “Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc quyền của Toà án” Đến năm 2002,
Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành PLTP&HTTAND, thì quy định: “Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án”2 Như vậy, khái niệm về Thẩm phán theo PLTP&HTTAND năm 2002 có ngoại diên rộng hơn vì xét xử không phải là nhiệm vụ duy nhất của Thẩm phán mà Thẩm phán còn giải quyết những công việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án Điều này cho thấy hiểu về Thẩm phán là một quá trình nhận thức của xã hội và Nhà nước ta theo chiều hướng ngày càng đề cao vị trí, vai trò của người Thẩm phán
Tòa án thực hiện chức năng xét xử thông qua hoạt động của những con người cụ thể như Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký, cán bộ Tòa án nhưng người đóng vai trò chủ yếu và quyết định nhất khi thực hiện chức năng của Tòa án chính là Thẩm phán Thẩm phán là người được đào tạo chuyên nghiệp để thực hiện nhiệm
vụ xét xử, kết quả hoàn thành nhiệm vụ của Tòa án trước hết thuộc về nhiệm vụ Thẩm phán, vị trí của Thẩm phán gắn liền với vị trí Tòa án Toà án có vị trí trung
Trang 14tâm trong các cơ quan tư pháp3 nên Thẩm phán cần được nhìn nhận với vị trí quan trọng nhất trong các chức danh tư pháp
Thẩm phán là người trực tiếp thực hiện quyền hành xét xử nên có vai trò rất quan trọng trong hoạt động tố tụng, trong việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của Nhà nước, xã hội và công dân, đem lại công bằng cho xã hội, đảm bảo cho sự ổn định, phát triển và mang ý nghĩa xã hội to lớn Chính vì thế từ
xa xưa người ta đã tôn vinh nghề Thẩm phán như là biểu tượng của khát vọng về một nền công lý4
Hiện nay, có nhiều bài viết về người Thẩm phán như “Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự” của tác giả Đặng Văn Dùng; “Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong pháp luật tố tụng hình sự” của tác giả Trần Thị Bích Ân; hay “Chế định Thẩm phán trong pháp luật tố tụng hình sự” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Vân Những bài viết này đều
đưa ra khái niệm về địa vị pháp lý của Thẩm phán và cho rằng địa vị pháp lý của họ là bao gồm quyền và nghĩa vụ pháp lý của Thẩm phán Trong đó, quyền pháp lý của Thẩm phán là tổng thể quyền năng mà pháp luật tố tụng hình sự quy định cho Thẩm phán được làm, được hưởng khi tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng hình sự5 Đó là quyền đưa ra các quyết định khi nghiên cứu hồ sơ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử như quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung; quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án; quyết định đưa vụ
án ra xét xử (QĐĐVARXX); quyền tham gia xét xử các vụ án hình sự, … Còn nghĩa vụ pháp lý của Thẩm phán là tất cả những hoạt động mà pháp luật
tố tụng hình sự buộc phải thực hiện hoặc cấm không được thực hiện và Thẩm phán bắt buộc phải tuân theo6 Đó là nghĩa vụ từ chối tham gia xét xử; nghĩa
vụ chứng minh tội phạm, nghĩa vụ từ chối tham gia xét xử
Tuy nhiên, không giống như những người tham gia tố tụng, pháp luật tố tụng hình sự quy định cho những người này có những quyền và nghĩa vụ khi
họ tham gia tố tụng Đối với Thẩm phán, thì pháp luật tố tụng hình sự cũng
3 Xem thêm tiểu mục 1.2 mục 1 phần I Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị “Về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020”
4 Xem Nguyễn Thị Thanh Vân (2010), Chế định Thẩm phán trong pháp luật tố tụng hình sự, Khóa luận tốt
nghiệp cử nhân Luật, Thành phố Hồ Chí Minh, tr 1
5 Xem Nguyễn Thị Thanh Vân (2010), Chế định Thẩm phán trong pháp luật tố tụng hình sự, Khóa luận tốt
nghiệp cử nhân Luật, Thành phố Hồ Chí Minh, tr 23
6 Xem Trần Thị Bích Ân (2009), Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong pháp luật tố tụng hình sự, Khóa luận
tốt nghiệp cử nhân Luật, Thành phố Hồ Chí Minh, tr 22
Trang 15như PLTP&HTTAND năm 2002 không có quy định về quyền và nghĩa vụ của họ mà chỉ quy định nhiệm vụ, quyền hạn của họ khi tiến hành tố tụng7
Rõ ràng là khi Tòa án tiến hành các hoạt động xét xử, thì người Thẩm phán phải được giao những nhiệm vụ và quyền hạn nhất định để họ đại diện thực hiện các công việc của Tòa
Theo Từ điển Tiếng Việt thì nhiệm vụ được định nghĩa như “là công việc phải làm vì một mục đích và trong một thời gian nhất định”8; quyền hạn “là phạm vi, mức độ quyền của cá nhân hoặc tổ chức nào đó”9 Cả hai cách giải thích khái niệm này đều chưa thể hiện rõ nghĩa cho chính thuật ngữ mà nó giảng nghĩa Hiểu như vậy thì nhiệm vụ, quyền hạn tựu chung có nghĩa là công việc phải làm trong một giai đoạn và được trao quyền ở một mức độ nào đó Khi liên kết giữa các khái niệm này, thì ta thấy rằng nhiệm vụ của Thẩm phán trong tố tụng hình sự được hiểu cơ bản là những công việc mà Thẩm phán làm vì mục đích phục vụ Nhà nước, nhân dân trong một thời gian Thời gian này là thời gian mà Thẩm phán được bổ nhiệm và được phân công làm những công việc nhất định Trong trường hợp này, đó là những công việc được giao trong lĩnh vực tố tụng hình sự và khi đó nhất thiết Thẩm phán cũng phải được giao các quyền nhất định để nhằm thực hiện công việc được giao Quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hình sự được hiểu là phạm vi, mức
độ Thẩm phán được làm, được chi phối các đối tượng có liên quan khi thực hiện những công việc được giao trong tố tố tụng hình sự Đây là mối tương quan giữa nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm phán, khi thực hiện nhiệm vụ thì
có các quyền hạn, khi thực hiện các quyền hạn của Thẩm phán thì phải đảm bảo những mục đích mà nhiệm vụ đề ra Tính xuyên suốt không tách rời của nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hình sự thể hiện rõ qua Điều 39 BLTTHS (Bộ luật tố tụng hình sự) năm 2003
Rõ ràng, nhìn vào cách đánh giá của nhà làm luật thì ta thấy không có
ranh giới phân định rạch ròi giữa nhiệm vụ và quyền hạn Pháp luật tố tụng hình sự không có những quy định cụ thể đâu là nhiệm vụ, đâu là quyền hạn
mà quy định nhiệm vụ, quyền hạn gắn liền nhau Bởi trong rất nhiều trường hợp không thể phân biệt rạch ròi đâu là quyền và nhiệm vụ của Thẩm phán vì
7 Điều 39 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
8 Viện Ngôn ngữ học (2010), Từ điển Tiếng Việt phổ thông, NXB Phương Đông, Hà Nội, tr 655
9 Viện Ngôn ngữ học (2010), Từ điển Tiếng Việt phổ thông, NXB Phương Đông, Hà Nội, tr 743
Trang 16khi thực hiện nhiệm vụ cũng là thực thi quyền hành và ngược lại Chẳng hạn Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ; giải quyết các khiếu nại … và tiến hành những việc khác cần thiết cho việc
mở phiên tòa nhưng việc nghiên cứu hồ sơ không chỉ là nhiệm vụ mà cũng là quyền của Thẩm phán chủ toạ phiên tòa (khoản 1 Điều 176 BLTTHS năm 2003) Cụ thể hơn tại khoản 2 Điều 176 BLTTHS năm 2003 quy định:
“Trong thời hạn ba mươi ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, …Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa phải ra một trong những quyết định sau đây:
và được bồi dưỡng nghiệp vụ công tác xét xử (Điều 9 PLTP&HTTAND năm 2002)
Bên cạnh đó, Thẩm phán không được làm những việc mà pháp luật quy định cán bộ, công chức không được làm Không được tư vấn cho bị can, bị cáo, đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác làm cho việc giải quyết vụ án hoặc những việc khác không đúng quy định của pháp luật Không được can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết vụ án hoặc lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người có trách nhiệm giải quyết vụ án Nếu không vì nhiệm vụ được giao hoặc không được sự đồng ý của người có thẩm quyền, Thẩm phán không được đem hồ sơ vụ án hoặc tài liệu trong hồ sơ vụ án ra khỏi cơ quan Không được tiếp bị can, bị cáo, đương sự hoặc người tham gia
tố tụng khác trong vụ án mà mình có thẩm quyền giải quyết ngoài nơi quy định (Điều 15 PLTP&HTTAND năm 2002) Đồng thời phải từ chối tham gia
Trang 17xét xử trong các trường hợp do pháp luật tố tụng quy định (Điều 16 PLTP&HTTAND năm 2002)
Ngoài ra, khi thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của mình, Thẩm phán có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các
tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác, tổ chức kinh tế, đơn
vị vũ trang nhân dân và công dân Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình thì các cơ quan, tổ chức và công dân có trách nhiệm tạo điều kiện để Thẩm phán làm nhiệm vụ hay nghiêm cấm mọi hành vi cản trở Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ (khoản 2 Điều 10 PLTP&HTTAND năm 2002)
Từ những phân tích trên, ta rút ra khái niệm về nhiệm vụ, quyền hạn của
Thẩm phán trong tố tụng hình sự đó là: Những công việc Thẩm phán được giao phải đảm bảo hoàn thành bằng những quyền năng trong khuôn khổ pháp luật tố tụng hình sự để giải quyết vụ án hình sự
1.1.2 Khái niệm về trách nhiệm của Thẩm phán trong tố tụng hình sự
Nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm phán luôn đồng hành với trách nhiệm, đảm bảo cho những nhiệm vụ và quyền hạn được Thẩm phán thực thi một cách đúng đắn Trước hết, ta cần tìm hiểu khái niệm trách nhiệm, được hiểu như sau: “Trách nhiệm là phần công việc được giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt phải gánh chịu hậu quả hoặc sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, đảm bảo đúng đắn, nếu sai trái thì phải gánh chịu hậu quả”10
Trách nhiệm của Thẩm phán được quy định rõ trong các văn bản pháp luật Điều 14 PLTP&HTTAND năm 2002 quy định Thẩm phán có trách nhiệm học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ Toà
án, phải tôn trọng nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân (Điều 10 PLTP&HTTAND năm 2002; Điều 32 BLTTHS năm 2003) Phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình; nếu
có hành vi vi phạm pháp luật thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử
lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật (Điều 6 PLTP&HTTAND năm 2002; Điều 12 BLTTHS năm 2003) Phải giữ
bí mật nhà nước, bí mật công tác theo quy định của pháp luật (Điều 7 PLTP&HTTAND năm 2002), luôn gương mẫu trong việc chấp hành Hiến
10Viện Ngôn ngữ học (1992), Từ điển Tiếng Việt, NXB Trung Tâm, Hà Nội, tr 1001
Trang 18pháp, pháp luật, có cuộc sống lành mạnh và tôn trọng các quy tắc sinh hoạt công cộng; tham gia tuyên truyền, phổ biến pháp luật (Điều 13 PLTP&HTTAND năm 2002)
Trách nhiệm của Thẩm phán còn được hiểu là trách nhiệm kỷ luật của cán bộ công chức Thẩm phán phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi khi không hoàn thành nhiệm vụ được giao hoặc áp dụng sai pháp luật dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong xét xử, ảnh hưởng đến uy tín của Nhà nước, của ngành, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích chính đáng của Nhà nước, của tổ chức và công dân
Để xác định rõ trách nhiệm của Thẩm phán, khoản 4 Điều 39 BLTTHS
năm 2003 quy định: “Thẩm phán phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi và quyết định của mình”
Thật ra, giữa nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán có mối tương quan nhất định và liên kết với nhau thành một chỉnh thể thống nhất, không tách rời nhau Việc đặt ra trách nhiệm của Thẩm phán có ý nghĩa làm cho thẩm phán thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn của mình hơn Mặt khác, khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình thì Thẩm phán phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước Đảng, Nhà nước, Nhân dân Cụ thể nhất, chẳng hạn Thẩm phán trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình mà gây thiệt hại, thì Toà án nơi Thẩm phán đó thực hiện nhiệm vụ xét xử phải có trách nhiệm bồi thường và Thẩm phán đã gây thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho Toà án theo quy định của pháp luật
Như vậy, trách nhiệm Thẩm phán trong tố tụng hình sự được hiểu là:
Thẩm phán phải thực hiện đúng đắn những công việc được giao trong tố tụng hình sự và nếu thực hiện sai trái thì phải gánh chịu hậu quả trước pháp luật.
1.2 Khái niệm chung về giai đoạn xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm giai đoạn xét xử sơ thẩm trong tố tụng
hình sự
Pháp luật tố tụng hình sự quy định về cách thức thực hiện hành vi, về nhiệm
vụ, quyền hạn, quyền và nghĩa vụ cũng như trách nhiệm của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ tố tụng hình sự để giải quyết vụ án hình sự và những vấn đề khác liên quan Tố tụng hình sự là quá trình, trình tự, khoảng thời gian trong đó các chủ thể tham gia thực hiện những hành vi về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật để thực hiện nhiệm vụ chung là giải quyết vụ án hình sự Có quan
Trang 19điểm hiểu là “các khâu, các phần việc khác nhau của quá trình tố tụng Tùy vào tính chất, nhiệm vụ của mỗi loại hoạt động tố tụng, quá trình tố tụng có thể được chia thành nhiều giai đoạn khác nhau”11
Giai đoạn tố tụng hình sự cũng có khi được hiểu là “những bước nối tiếp nhau trong trình tự tố tụng có nhiệm vụ riêng mang tính đặc thù về phạm vi chủ thể, hành vi tố tụng và các văn bản tố tụng”12 Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam không định nghĩa, cũng không quy định về giai đoạn tố tụng nhưng
từ những quy định của pháp luật thì quá trình tố tụng có thể được chia thành các giai đoạn như: giai đoạn khởi tố vụ án, điều tra và truy tố; giai đoạn xét
xử sơ thẩm; giai đoạn xét xử phúc thẩm (nếu có kháng cáo, kháng nghị) và giai đoạn thi hành bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật Với từng giai đoạn mỗi chủ thể tham gia có những hoạt động, nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau như giai đoạn khởi tố vụ án, điều tra và truy tố thì có các hoạt động, nhiệm vụ, quyền hạn như khởi tố vụ án, khởi tố bị can, thu giữ vật chứng, phê chuẩn, lấy lời khai, khám xét, kiểm sát điều tra; giai đoạn xét xử
sơ thẩm thì có các hoạt động, nhiệm vụ, quyền hạn như ra QĐĐVARXX, quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án, mở phiên tòa sơ thẩm, v.v và các giai đoạn được hình thành từ sự nối kết và độc lập tương đối, giai đoạn sau căn cứ trên kết quả hoạt động của giai đoạn trước
Theo Từ điển Luật học thì “Xét xử là hoạt động xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức độ pháp
lý của vụ việc, từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết tương ứng với bản chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc”13 Như vậy xét xử sự việc gì đó là xem xét, đánh giá tất cả những chứng cứ, tình tiết có liên quan và kết luận sự việc đó, sau đó phán quyết về cách giải quyết sự việc
đó Từ những quy định trong BLTTHS năm 2003 chúng ta dễ dàng xác định xét xử gồm giai đoạn xét xử sơ thẩm và giai đoạn xét xử phúc thẩm nhưng không phải tất cả các vụ án đều trải qua hai giai đoạn xét xử nhưng những quy
11 Bộ Tư pháp - Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, NXB Từ Điển Bách Khoa; NXB Tư Pháp,
Hà Nội, tr 286
12 Võ Thị Kim Oanh (2011), “Chuyên đề Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự”, Tập Bài giảng dùng cho
học viên cao học Luật, tr 1
13 Bộ Tư pháp - Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, NXB Từ Điển Bách Khoa; NXB Tư Pháp,
Hà Nội, tr 869
Trang 20định này là cần thiết để đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không
bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội
Xét xử sơ thẩm là việc xét xử lần thứ nhất còn được gọi là cấp thứ nhất
do Tòa án có thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật Theo quy
định tại khoản 1 Điều 11 Luật tổ chức Toà án nhân dân (LTCTAND) năm
2002 thì Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm ở Việt Nam là Tòa án nhân dân (TAND) cấp huyện, TAND cấp tỉnh, Tòa án quân sự (TAQS) khu vực và TAQS cấp quân khu Theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam thì xét xử sơ thẩm được xác định như là một giai đoạn kết thúc của quá trình giải quyết một
vụ án hình sự Mọi tài liệu chứng cứ của vụ án do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập trong quá trình điều tra, truy tố đều được xem xét một cách công khai tại phiên tòa Những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng được nghe trực tiếp lời khai của nhau, được tranh luận chất vấn những điều mà tại Cơ quan điều tra họ không có điều kiện thực hiện
Xét xử sơ thẩm được coi như là đỉnh cao của quyền tư pháp, tại phiên tòa quyền và nghĩa vụ của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng được thực hiện một cách công khai, đầy đủ nhất; những lo âu của bị cáo, người bị hại và của những người tham gia tố tụng khác được giải tỏa tại phiên tòa Tâm lý nói chung đối với những người tham gia tố tụng là mong muốn vụ
án nhanh chóng được đưa ra xét xử để họ biết được Tòa án sẽ phán quyết như thế nào
Như vậy, giai đoạn xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự là việc xét xử lần thứ nhất còn được gọi là cấp thứ nhất do Tòa án có thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự sau khi hoàn tất việc điều tra, truy tố và chuyển hồ sơ cho Tòa án
Đặc điểm của giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự:
- Theo Hiến pháp năm 1992 thì trong Bộ máy Nhà nước chủ thể duy nhất có thẩm quyền xét xử là Toà án nên cơ quan tiến hành tố tụng trong giai đoạn này đóng vai trò chủ đạo là Tòa án Trong khi Viện kiểm sát giữ vai trò chủ đạo ở giai đoạn khởi tố và truy tố
- Hành vi tố tụng đặc trưng ở giai đoạn này là các hoạt động tố tụng tại phiên toà như kiểm tra căn cước của những người tham gia tố tụng; xét hỏi; tranh luận và đối đáp; nghị án và tuyên án
Trang 21- Văn bản tố tụng đặc trưng và chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền ban hành
là bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật ngay Ngoài ra, giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự không chỉ đặc thù bởi trình tự, thủ tục, bởi chủ thể tiến hành tố tụng như có sự tham gia của Hội thẩm mà còn bởi sự đa dạng về thành phần của những người tham gia tố tụng cùng thời điểm Đó là bị can, bị cáo, người bị hại, người làm chứng, … tham gia cùng lúc tại phiên toà
1.2.2 Mục đích, nhiệm vụ và vị trí, vai trò của giai đoạn xét xử sơ thẩm
trong tố tụng hình sự
Mục đích của giai đoạn xét xử sơ thẩm là phải đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Nhiệm vụ của giai đoạn xét xử sơ thẩm là Toà án xem xét và giải quyết toàn diện vụ án theo quy định của pháp luật nhằm xác định hành vi phạm tội, người thực hiện tội phạm và những tình tiết có liên quan đến vụ án Trên cơ
sở đó đưa ra bản án, quyết định phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án Xét xử sơ thẩm là giai đoạn tập trung cao nhất các quyền tư pháp nhằm khẳng định bị cáo có tội hay không có tội, nếu có tội thì Toà án phải xác định đó là tội gì, theo quy định tại Điều nào, khoản nào của Bộ luật hình sự (BLHS) Trên cơ sở đó Toà án áp dụng hình phạt đối với bị cáo hay không, nếu có thì
đó là hình phạt như thế nào
Đồng thời, Toà án xác định các biện pháp tư pháp đối với bị cáo cũng như trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra Ngoài ra, ở giai đoạn này Toà án còn có nhiệm vụ kiến nghị các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội sửa chữa những thiếu sót trong việc quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế Nếu có căn cứ, Toà án còn có trách nhiệm khởi tố đối với hành vi phạm tội mới mà Toà án phát hiện
Vị trí, vai trò của xét xử sơ thẩm trong quá trình giải quyết vụ án hình sự: Quá trình giải quyết vụ án hình sự được bắt đầu là từ khi khởi tố vụ án cho đến khi thi hành xong bản án của Toà án Trong toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự thì giai đoạn xét xử sơ thẩm là giai đoạn trung tâm, quan trọng nhất,
có tính quyết định vì ở đó thể hiện toàn bộ kết quả hoạt động của các giai đoạn trước đúng hay sai, thể hiện rỏ nét nhất các nguyên tắc dân chủ, nguyên tắc công khai,… Toà án phải kiểm tra lại tất cả tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra, truy tố đã thu thập được xem có hợp pháp hay không, có đầy đủ
Trang 22không, có căn cứ để kết tội bị cáo không, … Kết luận điều tra và cáo trạng đều không có tính bắt buộc Toà án phải tuân theo Hiến pháp năm 1992 quy định Toà án là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
là cơ quan có thẩm quyền nhân danh Nhà nước để xác định một người có hay không có tội, tội gì, hình phạt, bồi thường và các vấn đề liên quan
Xét xử sơ thẩm còn có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa tội phạm Đặc biệt là phiên tòa xét xử lưu động có đông đảo tầng lớp nhân dân tham gia là hình thức giáo dục có tác dụng mạnh mẽ nhất đến tư tưởng, tình cảm của nhân dân, làm sáng tỏ những nguyên nhân, điều kiện và động cơ phạm tội từ
đó giáo dục bị cáo và những người khác ý thức tuân thủ pháp luật Toà án còn
có vai trò kiến nghị các cơ quan tổ chức áp dụng các biện pháp cần thiết để khắc phục nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm
Mỗi giai đoạn đều có sự độc lập tương đối và mang tính đặc thù riêng vốn có Xét xử sơ thẩm là một giai đoạn mà ở đó đòi hỏi những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng phải tập trung trí tuệ, xử lý các tình huống một cách mau lẹ, các lý lẽ đưa ra không chỉ đòi hỏi sự chính xác mà phải có sức thuyết phục nhưng đồng thời lại phải tuân theo những quy định của pháp luật Thông qua phiên tòa có thể đánh giá được trình độ nghiệp vụ của Thẩm phán, của Hội thẩm, của Kiểm sát viên, của Luật sư và của những người tham gia tố tụng khác Cũng thông qua phiên tòa mà Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên và Luật sư nâng cao trình độ nghiệp vụ, năng lực công tác và kỹ năng nghề nghiệp; thông qua phiên tòa những người dự phiên tòa hiểu biết thêm về pháp luật, cũng cố thêm lòng tin vào Tòa án Vì vậy, việc tổ chức phiên tòa sơ thẩm tốt có tác dụng to lớn không chỉ đối với một vụ án cụ thể mà còn có tác dụng đối với việc nâng cao ý thức pháp luật cho mọi công dân
Từ những phân tích trên, khái niệm về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm
của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đó là: Những công việc Thẩm phán được giao phải đảm bảo hoàn thành bằng những quyền năng thông qua Tòa án có thẩm quyền trong khuôn khổ pháp luật tố tụng hình sự nhằm để giải quyết vụ án hình sự ở cấp thứ nhất sau khi vụ án hoàn tất việc điều tra, truy tố và chuyển hồ sơ cho Tòa án Nếu Thẩm phán có hành vi sai trái trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình thì phải gánh chịu hậu quả trước pháp luật
Trang 231.3 Sơ lược nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
1.3.1 Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ năm 1945 đến trước năm 1960
Chế định Thẩm phán ở nước ta gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của TAND trong từng giai đoạn lịch sử
Trong năm 1945, “Tòa án nhân dân chỉ được tổ chức một cấp, những quyết định của Tòa án được thi hành ngay sau khi tuyên án, không có quyền chống án, trừ người bị kết án tử hình thì có quyền làm đơn lên Chủ tịch Chính phủ xin ân giảm”14 thể hiện Điều 3 Sắc lệnh số 33/C ngày 13/9/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu lực của Bộ máy Nhà nước nói chung
và TAND nói riêng, ngày 24/01/1946 Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra Sắc lệnh số 13 về tổ chức các Tòa án và các ngạch Thẩm phán Đây là Sắc lệnh đầu tiên quy định một cách đầy đủ tổ chức các Tòa án và quy định tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn của các ngạch Thẩm phán Theo quy định thì ở mỗi quận (phủ, huyện, châu) có một Tòa án sơ cấp Tòa án sơ cấp gồm có: một Thẩm phán, một Lục sự và một hay nhiều Thư ký giúp việc Mỗi tuần lễ, ít ra phải có hai phiên tòa công khai, trong đó một phiên hình Tại phiên tòa, Thẩm phán xét xử một mình, Lục sự giữ bút ký, lập biên bản, án từ
Sắc lệnh còn quy định ở mỗi tỉnh và ở các thành phố Hà Nội, Hải Phòng
và Sài Gòn – Chợ Lớn có một Tòa án đệ nhị cấp Tòa án này gồm có một Chánh án, một Biện lý, một Dự thẩm, một Chánh lục sự và những Thư ký giúp việc Tùy nơi nhiều việc hay ít việc, có thể tăng thêm số Thẩm phán và Lục sự, hay để một Thẩm phán kiêm nhiều chức vụ Về xét xử thì mỗi tuần lễ,
ít ra cũng phải có hai phiên tòa công khai, trong đó một phiên tòa hình
Khi xét xử các việc tiểu hình, phải có thêm hai viên Phụ thẩm nhân dân góp ý kiến (Điều 17 Sắc lệnh số 13) Theo quy định tại Điều 20 Sắc lệnh số
13 thì không thể cùng làm Phụ thẩm trong một Tòa án “Các người thân thuộc hay thích thuộc với các Thẩm phán hoặc với các người đương sự cho đến bậc
14 Đặng Quang Phương (1995), “Vài nét về quá trình hình thành và phát triển của Tòa án”, Tạp chí tòa án
nhân dân (14), tr 21
Trang 24thứ ba” và “không ai có thể làm Phụ thẩm trong một việc mà mình là người đương sự hoặc đã điều tra, hoặc đã làm chứng hay làm giám định” (Điều 21
Sắc lệnh số 13) Sắc lệnh quy định tại phiên tòa Chánh án (Chủ tọa phiên tòa) hỏi thêm các bị cáo và cho biết các tài liệu có trong hồ sơ khi có yêu cầu của Phụ thẩm nhân dân Ông Chánh án phải hỏi ý kiến các Phụ thẩm về tội trạng của các bị cáo và về hình phạt rồi tự mình quyết định Tuy nhiên, về các vấn
đề thủ tục, tạm tha ông Chánh án không phải hỏi ý kiến của các Phụ thẩm nhân dân
Đối với việc đại hình khi xét xử sơ thẩm Tòa án đệ nhị cấp gồm có năm người cùng ngồi xử và điều có quyền quyết nghị, đó là Chánh án Tòa án đệ nhị cấp ngồi ghế Chánh án (Chủ tọa phiên tòa); hai Thẩm phán làm Phụ thẩm chuyên môn được chọn trong các Thẩm phán của Tòa án đệ nhị cấp hay của Tòa án sơ cấp trong quản hạt, do ông Chánh nhất Tòa thượng thẩm chỉ định mỗi năm một lần Tuy nhiên, trong năm ông Chánh nhất có thể quyết định việc thay đổi hai vị Phụ thẩm chuyên môn (Thẩm phán) Điều 32 Sắc lệnh số
13 quy định: “Những vấn đề bàn trong phòng nghị xử giải quyết theo đa số Một người không biểu quyết sẽ coi như là có ý kiến lợi cho bị can” Quy định này đặt cơ sở hình thành nên nguyên tắc: “Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số” trong luật tố tụng hình sự hiện nay Thẩm phán phải có trách nhiệm tham gia xét xử và có thể bị “cáo tị” hoặc phải “hồi tị” Theo Điều 80 Sắc lệnh này: “Các Thẩm phán không thể lấy cớ gì ngoài trường hợp hồi tị và cáo tị mà từ chối không xét xử một việc nào”
Về tổ chức ngạch Thẩm phán gồm có hai ngạch Thẩm phán: ngạch sơ cấp và ngạch đệ nhị cấp Thẩm phán sơ cấp làm việc ở Tòa sơ cấp, Thẩm phán đệ nhị cấp làm việc ở Tòa đệ nhị cấp và Tòa thượng thẩm Các Thẩm phán đệ nhị cấp chia ra làm hai chức vị: các Thẩm phán xử án do ông Chánh nhất Tòa thượng thẩm đứng đầu và các Thẩm phán của Công tố viện (Thẩm phán buộc tội) do ông Chưởng lý đứng đầu Khi xét xử, Thẩm phán quyết định theo pháp luật và lương tâm của mình, không quyền lực nào được can thiệp trực tiếp hay gián tiếp vào công việc xử án Trong Sắc lệnh này cũng quy định một cách rất cụ thể về tiêu chuẩn của Thẩm phán, cách tuyển chọn
và đối tượng được tuyển chọn (bao gồm các quan lại cũ đã từng làm Thẩm phán, các Lục sự Tòa nam án đệ nhị cấp cũ), quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán, kỷ luật đối với Thẩm phán và y phục của Thẩm phán
Trang 25Với tầm quan trọng của mình, chế định Thẩm phán được quy định trong các Sắc lệnh ban hành trong năm đầu của chính quyền nhân dân đã được ghi nhận vào trong bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta (ngày 09/11/1946)
Điều 64 Hiến pháp năm 1946 quy định: “Các nhân viên Thẩm phán đều do Chính phủ bổ nhiệm” Thẩm phán có toàn quyền quyết định khi xét xử các
việc tiểu hình hoặc quyết định cùng với Hội thẩm nếu là việc đại hình Trong
khi xét xử, “các nhân viên Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp” (Điều 65, 69 Hiến pháp năm 1946), đây chính là
nguyên tắc cơ bản nhất cho hoạt động Tòa án và Thẩm phán
Sắc lệnh số 21/SL ngày 14/02/1946 về tổ chức các Tòa án quân sự trên
cơ sở là để bổ khuyết các Sắc lệnh ngày 13/9/1945, ngày 26/9/1945, ngày 29/9/1945, ngày 28/12/1945, ngày 15/01/1946 Tại Điều 5 Sắc lệnh số 21 quy
định: “Tòa án quân sự lập thành như sau: ngồi xử có Chánh án và hai Hội thẩm Ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ sau khi thỏa hiệp với Bộ trưởng Bộ Tư pháp chỉ định một ủy viên quân sự giữ chức Chánh án và một ủy viên chính trị ngồi ghế Hội thẩm Ông Bộ trưởng Bộ Tư pháp sau khi thỏa hiệp với Bộ trưởng Bộ Nội vụ chỉ định một Thẩm phán chuyên môn ngồi ghế Hội thẩm thứ nhì…”
Các Thẩm phán của Tòa án quân sự xét xử theo pháp luật và lương tâm của mình
Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 quy định thẩm quyền của Tòa án,
quyền và nghĩa vụ của các nhân viên Tòa án Theo đó: “Ông Chánh án chủ tọa phiên tòa công khai, có nhiệm vụ điều khiển cuộc thẩm vấn và bảo vệ trật
tự phiên tòa…” (Điều 17 Sắc lệnh số 51) hoặc: “Mỗi khi tuyên án tử hình, Chánh án bắt buộc phải báo cho tội nhân biết rằng hắn có quyền xin ân giảm
và hỏi hắn có muốn đệ đơn xin không” (Điều 12 Sắc lệnh số 51)
Để đảm bảo cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, Chính phủ chủ trương xây dựng lực lượng vũ trang tập trung, ngày 23/8/1946 Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 163 quy định tổ chức Toà án binh lâm thời để xét
xử các quân nhân và những người khác phạm tội gây thiệt hại cho quân đội Tuy nhiên, Toà án binh lâm thời không đáp ứng được yêu cầu của cách mạng nên Bộ Quốc phòng – Bội Nội vụ - Bộ Tư pháp đã ra các Thông lệnh liên bộ
số 11 ngày 06/12/1946; số 31 ngày 16/02/1947 và số 60 ngày 28/5/1947 quy định tổ chức và thẩm quyền của Tòa án binh tại mặt trận Thành phần Tòa án
binh tại mặt trận gồm có: “Chánh án, hai Hội thẩm, một nhân viên giữ bút
Trang 26lục, tất cả đều là quân nhân Bản án của Tòa án binh tại mặt trận sau khi tuyên được đem thi hành ngay, kể cả án tử hình”
Tháng 12 năm 1946, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùn nổ trên toàn quốc, để công tác phòng chống tội phạm đạt hiệu quả cao hơn, Chính phủ đã ban hành một loạt các văn bản thành lập thêm các Toà án binh Sắc lệnh số 19 ngày 16/02/1947 thành lập Toà án binh, Sắc lệnh số 45 ngày 25/4/1947 thành lập Toà án binh tối cao, Sắc lệnh số 59 ngày 05/7/1947 thành lập Toà án binh khu trung ương Thành phần Toà án binh khu, Toà án binh tối
cao gồm: “Chánh án, hai Hội thẩm, một ủy viên chính phủ và một lục sự”
Trừ Hội thẩm chuyên môn do ngành tư pháp cử ra còn tất cả các nhân viên khác đều là quân nhân do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng bổ nhiệm, riêng Toà án binh khu trung ương tất cả đều là quân nhân Bản án của Tòa án binh có hiệu lực thi hành ngay, trừ hình phạt tử hình Các Toà án binh chưa phải là một tổ chức hoạt động chuyên trách mà chỉ khi có vụ án mới lập ra hội đồng để tổ chức xét xử
Ngoài công tác xét xử, cán bộ các Toà án binh còn làm công tác điều tra, công tố, thi hành án, tuyên truyền giáo dục pháp luật Cán bộ làm công tác xét
xử trừ một Hội thẩm chuyên môn còn lại đều là cán bộ chỉ huy các đơn vị kiêm nhiệm nên ít có điều kiện nghiên cứu, học tập để nắm vững pháp luật, đúc rút kinh nghiệm xét xử Chế độ Thẩm phán kiêm nhiệm này đến năm
1970 mới được chấm dứt
Bằng Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950, nền tư pháp nước ta đã thực hiện cuộc cải cách lần thứ nhất sửa đổi cơ bản Sắc lệnh số 13/SL Tiếp theo sau là các Sắc lệnh số 151 ngày 17/11/1950 đặt thể lệ chỉ định các Hội thẩm nhân dân (HTND) và định thành phần TAND liên khu trong trường hợp đặt biệt, Sắc lệnh số 156 ngày 22/11/1950 về tổ chức Toà án liên khu quy định xử
án, TAND huyện và TAND tỉnh gồm một Thẩm phán và hai HTND, TAND phúc thẩm khu hoặc thành phố gồm hai Thẩm phán và ba HTND HTND có quyền xem hồ sơ và biểu quyết, được hưởng đặt quyền tài phán như đối với Thẩm phán Trong các vụ án hình sự, Thẩm phán và HTND ngang quyền nhau khi xét xử cả việc tiểu hình lẫn đại hình
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, đất nước ta bước vào giai đoạn mới, miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh chống Mỹ Tình hình mới đó là cơ sở cho sự ra đời của bản Hiến pháp
Trang 27năm 1959 Hiến pháp quy định chế độ bầu Thẩm phán thay chế độ bổ nhiệm, quy định nhiệm kỳ của Chánh án TAND tối cao Nguyên tắc độc lập xét xử hoàn thiện
hơn: “Khi xét xử, Tòa án nhân dân có quyền độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”
(Điều 100), đồng thời bổ sung một số nguyên tắc khác như xét xử có HTND tham gia và ngang quyền với Thẩm phán Các nguyên tắc này đã được Hiến pháp năm
1980 và Hiến pháp năm 1992 kế thừa và vẫn còn nguyên giá trị
1.3.2 Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ năm 1960 đến Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988
Ngày 14/7/1960, lần đầu tiên nước ta ban hành LTCTAND hoàn thiện thêm một bước về quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán Theo đó, ngoài TAND tối cao, TAND cấp tỉnh, TAND cấp huyện, các TAQS còn có TAND khu tự trị Việt Bắc và Tây Bắc Khi xét xử sơ thẩm về hình sự, TAND tối cao gồm
có một Thẩm phán và hai HTND; trường hợp xử những vụ án nhỏ, giản đơn
và không quan trọng thì TAND có thể xử chỉ cần một Thẩm phán, mà không cần HTND Thông tư số 107/TC ngày 07/9/1965 của TAND tối cao hướng dẫn thêm là những việc hình sự nhỏ không phải mở phiên tòa và do một Thẩm phán xét xử Đối với các TAND khu tự trị Việt Bắc và Tây Bắc nếu xét xử các vụ án mà bị cáo thuộc nhiều thành phần dân tộc khác nhau thì HĐXX gồm có một Thẩm phán và bốn HTND
Ngoài các nguyên tắc quy định trong Hiếp pháp năm 1959, LTCTAND
năm 1960 còn quy định thêm nguyên tắc: “Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số”, quy định người từ 23 tuổi trở lên có thể được bầu làm Thẩm phán
(Điều 25 LTCTAND năm 1960), quy định về Thẩm phán dự khuyết TAND tối cao (Điều 26 LTCTAND năm 1960), nhiệm kỳ của Thẩm phán Toà án các cấp
Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, Hội đồng Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ra Sắc lệnh số 01/SL/76 ngày 15/3/1976 quy định tổ chức TAND quy định khi xét xử sơ thẩm hoặc sơ thẩm đồng thời chung thẩm, HĐXX gồm có một Thẩm phán và hai HTND Riêng đối với Toà án đặc biệt xét xử tội phạm đặc biệt nghiêm trọng về trật tự
xã hội thì HĐXX gồm Chánh án, một Thẩm phán và một HTND
Trước yêu cầu nâng cao hiệu lực của quản lý Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong hoàn cảnh đất nước thống nhất, Quốc hội khóa 6
Trang 28kỳ họp thứ 7 ngày 18/12/1980 đã thông qua Hiến pháp năm 1980, sau đó là LTCTAND năm 1981, địa vị pháp lý của Thẩm phán tiếp tục được ghi nhận
và cũng cố Nguyên tắc độc lập xét xử của Thẩm phán và HTND thể hiện rõ
hơn Nếu trong Hiến pháp năm 1959 quy định: “Tòa án độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” thì trong Hiến pháp năm 1980 quy định: “Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” tức là xác định trực tiếp người xét
xử độc lập và chịu trách nhiệm về phán quyết của mình và Hiến pháp này vẫn tiếp tục duy trì chế định bầu Thẩm phán có từ Hiến pháp năm 1959
Trên cơ sở Hiến pháp năm 1980, LTCTAND năm 1981, lần đầu tiên các văn bản tố tụng hình sự được pháp điển hóa thành BLTTHS năm 1988 cơ bản hoàn thiện địa vị pháp lý của Thẩm phán
Sự hình thành và phát triển chế định Thẩm phán gắn liền với sự phát triển của cách mạng nước ta Thời kỳ đầu Thẩm phán là những người không chuyên trách, chỉ thực hiện nhiệm vụ khi có yêu cầu, không được đào tạo cơ bản, Thẩm phán buộc tội và Thẩm phán xét xử cùng trong cơ quan Toà án Thẩm phán xét xử một mình mà không có HTND tham gia, thậm chí khi thiếu Thẩm phán thì Hội thẩm có thể thay thế, dần dần được hoàn thiện với những quyền và nghĩa vụ ngày càng cụ thể rõ ràng Đến nay đội ngũ Thẩm phán đã trưởng thành về mọi mặt là hạt nhân của công tác xét xử góp phần to lớn vào
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước
Ngày 28/6/1988 lần đầu tiên trong lịch sử Việt nam, BLTTHS được Quốc hội thông qua (có hiệu lực thi hành ngày 01/01/1988) Sự ra đời của BLTTHS năm 1988 là bước ngoặc to lớn trong hoạt động tư pháp Từ đây vị trí, vai trò của các cơ quan tư pháp dần được khẳng định và giữ vai trò trọng yếu trong Bộ máy Nhà nước Theo BLTTHS năm 1988 đã phân chia quá trình xét xử vụ án thành hai giai đoạn: giai đoạn xét xử sơ thẩm và giai đoạn xét xử phúc thẩm nhưng chưa có điều luật quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán mà những nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người Thẩm phán được thể hiện qua từng công việc, nhiệm vụ cụ thể trong quá trình xét xử nói chung và giai đoạn xét xử sơ thẩm nói riêng mà hầu hết những quy định này
đã được kế thừa trong BLTTHS hiện hành năm 2003
Trang 291.4 Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở một số nước trên thế giới
1.4.1 Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Các giai đoạn trong tố tụng hình sự của Trung Quốc là sự nối kết, giai đoạn sau căn cứ trên kết quả hoạt động của giai đoạn trước Căn cứ vào BLTTHS của Trung Quốc có thể chia các giai đoạn như: giai đoạn khởi tố vụ
án, điều tra và truy tố; giai đoạn xét xử sơ thẩm; giai đoạn xét xử phúc thẩm (nếu có kháng cáo, kháng nghị) và giai đoạn thi hành bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
Ở giai đoạn xét xử sơ thẩm, nhiệm vụ quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán được thể hiện như sau15:
Sau khi nhận được hồ sơ vụ án cùng bản cáo trạng do Viện kiểm sát chuyển đến, Chánh án chỉ định cho một Thẩm phán thẩm tra các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Căn cứ vào kết quả thẩm tra, Thẩm phán có quyền ra một trong các quyết định: quyết định thụ lý vụ án; quyết định không thụ lý vụ án; quyết định trả lại vụ án cho Viện kiểm sát; yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu
Để đảm bảo sự tập trung của Thẩm phán vào giai đoạn xét xử và để hạn chế hiện tượng “quyết định trước, xét xử sau” BLTTHS của Trung Quốc năm
1997 không quy định thủ tục tố tụng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và không cho phép Kiểm sát viên chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cùng các chứng cứ đến phiên tòa trước khi xét xử mà Kiểm sát viên phải nộp danh sách chứng cứ, danh sách các nhân chứng và bản sao hoặc ảnh của các chứng cứ quan trọng đến Tòa án16
Sau khi thẩm tra chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nếu thấy cáo trạng đã nêu đầy đủ các tình tiết, chứng cứ phạm tội thì Thẩm phán phải
mở phiên xét xử Mười ngày trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán chuyển bản cáo trạng của Viện kiểm sát cho đương sự; thông báo cho bị cáo quyền
có Luật sư bào chữa hoặc chỉ định Luật sư bào chữa cho họ trong những trường hợp pháp luật quy định Năm ngày trước khi mở phiên tòa, Thẩm
15 Nguyễn Minh Đức (2011), “Mô hình tố tụng hình sự Trung Quốc”, Thông tin khoa học kiểm sát (số 1+ 2),
tr 180, 193 - 196
16 Điều 150 Luật tố tụng hình sự Trung Quốc
Trang 30phán phải thông báo cho bị cáo và luật sư của họ các thông tin về người làm chứng và chứng cứ được xem xét tại phiên tòa Ba ngày trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán phải thông báo cho Viện kiểm sát về thời gian, địa điểm mở phiên tòa; gửi giấy triệu tập và thông báo về nội dung vụ án, thời gian, địa điểm mở phiên tòa cho bị cáo, Luật sư bào chữa, bị hại và những người tham gia tố tụng khác
Sau khi có quyết định mở phiên tòa, HĐXX sẽ được thành lập, số lượng thành viên Hội đồng được chỉ định tùy theo cấp Tòa án xét xử và trình tự xét xử Hầu hết các vụ án hình sự được xét xử bởi HĐXX gồm có
ba người mà thường có hai Thẩm phán chuyên nghiệp và một HTND
Khi thẩm tra các tài liệu, chứng cứ được công bố, nếu phát hiện có sự mâu thuẫn quan trọng về nội dung vụ án đã được nhận định khi điều tra, xét
xử tại phiên tòa, có thể ảnh hưởng đến việc ra phán quyết đúng đắn thì HĐXX quyết định phục hồi điều tra tại phiên tòa Trong quá trình điều tra tại phiên tòa, nếu thấy nghi ngờ về chứng cứ, HĐXX có quyền tuyên bố ngừng phiên tòa để kiểm tra tính xác thực của chứng cứ bằng các biện pháp khám nghiệm, kiểm tra, thu giữ, xét hỏi và phong tỏa
Khi HĐXX thấy rằng việc điều tra tại phiên tòa đã rõ ràng thì Thẩm phán chủ tọa tuyên bố kết thúc việc điều tra chuyển sang phần tranh luận Khi tranh luận, nếu có tình tiết mới phát sinh và thấy rằng cần phải điều tra thì Chủ tọa phiên tòa có thể tuyên bố tạm dừng việc tranh luận để khôi phục việc điều tra tại phiên tòa cho đến khi điều tra làm rõ sự thật thì mới tiếp tục việc tranh luận17 Sau khi kết thúc việc tranh luận, HĐXX nghị án trong thời gian ngắn, rồi quay trở lại phiên tòa để tuyên án HĐXX có quyền tuyên thẳng là
bị cáo có tội hoặc vô tội nếu xét thấy chứng cứ không đầy đủ và việc truy tố không có cơ sở18
Theo quy định tại Điều 5 Bộ luật tố tụng hình sự của Trung Quốc thì TAND thực hiện chức năng xét xử độc lập theo luật và không bị can thiệp bởi bất kỳ cơ quan hành chính, tổ chức hoặc cá nhân nào Tuy nhiên, trên thực tế Tòa án không được hoàn toàn độc lập Thẩm phán cũng không thể đưa ra quyết định độc lập, quyết định của Thẩm phán được xem xét kỹ
17 Điều 152, Điều 153, Điều 154, Điều 160, Điều 166 Giải thích số 23 ngày 08/9/1998 của Toà án nhân dân tối cao về áp dụng pháp luật tố tụng hình sự
18 Điều 162 Bộ luật tố tụng hình sự Trung Quốc
Trang 31lưỡng, bị giám sát, bị chỉ đạo và bị hủy bỏ bởi Ủy ban Thẩm phán và Chánh án của mỗi Tòa án mà không ai trong số những người này tham gia xét xử trực tiếp vụ án
1.4.2 Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở Cộng Hòa Liên bang Đức
Pháp luật của Cộng hòa Liên bang Đức thuộc truyền thống pháp luật Châu Âu lục địa nhưng có kết hợp một số đặc điểm tranh tụng và được mô tả
như là một hệ thống hỗn hợp hay “lai ghép” Quá trình tố tụng của Cộng hòa
Liêng bang Đức được chia làm ba giai đoạn: giai đoạn tiền xét xử (giai đoạn điều tra và truy tố); giai đoạn Tòa án tiến hành tố tụng (giai đoạn trung gian
và xét xử tại phiên tòa); giai đoạn thi hành án Nhiệm vụ quyền hạn của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm tại phiên tòa được biết đến như sau:
Giai đoạn xét xử chính thức bắt đầu bằng quyết định đưa vụ án ra xét xử
và Thẩm phán là người được giao nhiệm vụ và quyền hạn này Tại phiên tòa chủ toạ phải hỏi bị cáo có thực hiện quyền giữ im lặng hay không Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyết định trình tự đưa ra chứng cứ, chịu trách nhiệm về tính đầy đủ của chứng cứ, thẩm vấn bị cáo, người làm chứng và người giám định Thẩm phán chủ tọa phiên tòa cho phép các Thẩm phán khác thẩm vấn bị cáo, người làm chứng và người giám định Các Thẩm phán khác có quyền đưa
ra các câu hỏi bổ sung đối với nhân chứng và người giám định
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa cho phép các bên tiến hành thủ tục thẩm tra chéo nhân chứng, Thẩm phán chủ tọa hỏi người làm chứng và người giám định về các vấn đề mà Thẩm phán cho rằng cần phải xác định rõ ràng hơn trong vụ án19 Khi các thủ tục tại phiên tòa thực hiện xong, Thẩm phán và Hội thẩm vào phòng nghị án Việc xét xử kết thúc bằng việc ra bản án Đối với các quyết định liên quan đến việc định có tội hay vô tội và hậu quả pháp lý của tội phạm thì cần phải được sự nhất trí của 2/3 (hai phần ba) tổng số các thành viên trong HĐXX bao gồm Thẩm phán chủ toạ phiên tòa, các Thẩm phán trợ lý và các Hội thẩm
19 Điều 239 Bộ luật tố tụng hình sự Cộng hòa liên bang Đức
Trang 321.4.3 Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở Liên bang Nga
Ở giai đoạn chuẩn bị xét xử và xét xử sơ bộ, khi vụ án được chuyển sang Tòa án thì trước hết, Thẩm phán phải xác định vụ án có thuộc thẩm quyền của mình hay không, nếu không thuộc thẩm quyền thì Thẩm phán chuyển vụ án
đó cho Tòa án có thẩm quyền Sau đó, Thẩm phán phải xác nhận cáo trạng hoặc bản luận tội là phù hợp, quyết định có huỷ bỏ, thay đổi các biện pháp cưỡng chế tiền xét xử hay không và có cho phép đưa ra kiến nghị hoặc khiếu nại không; xác định xem có căn cứ để tổ chức xét xử sơ bộ không Thẩm phán cũng có thể cho phép việc kiểm tra thêm hồ sơ vụ án Cuối cùng, Thẩm phán
ấn định ngày xét xử sơ bộ hoặc ghi vào sổ thụ lý ngày đưa vụ án ra xét xử chính thức và phải thông báo quyết định này cho bị can, người tham gia tố tụng khác và Kiểm sát viên
Giai đoạn này, Thẩm phán có quyền trả lại hồ sơ cho Viện kiểm sát trong thời hạn 5 ngày nếu có những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong giai đoạn tiền xét xử mà không thể khắc phục được tại phiên tòa
Ở giai đoạn xét xử, Thẩm phán phải ra QĐĐVARXX và ra lệnh triệu tập Luật tố tụng cũng trao quyền cho Thẩm phán có thể xem xét áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp cưỡng chế đã được thực hiện trong giai đoạn tiền xét xử
Xét xử không có Bồi thẩm đoàn:
BLTTHS năm 2001 của Liên bang Nga quy định sau khi Thẩm phán chủ toạ khai mạc phiên tòa thì Thẩm phán chủ tọa công bố và giải thích cho các bên về quyền cầu thay đổi HĐXX hoặc Thẩm phán Tiếp đó, Thẩm phán xem xét các kiến nghị từ các bên liên quan đến vấn đề nhân chứng mới, các chuyên gia pháp y và nhà chuyên môn cũng như các vật chứng và tài liệu Những kiến nghị, yêu cầu loại trừ chứng cứ cũng được xem xét, kể cả khi những yêu cầu đó bị từ chối trước khi xét xử Tất cả các kiến nghị phải được Thẩm phán xem xét và chấp nhận hoặc từ chối ngay lập tức Sau cùng, Thẩm phán chủ tọa phải quyết định liệu có hoãn phiên tòa hay không khi có sự vắng mặt của một bên, Thẩm phán có thể ban hành lệnh kèm theo giấy triệu tập hoặc lệnh bắt đối với từng người vắng mặt
Sau khi các bên đã đệ trình chứng cứ, Thẩm phán sẽ mời các bên đưa ra tuyên bố cuối cùng, sau đó HĐXX vào phòng nghị án và quyết định dựa trên
Trang 33kết quả biểu quyết theo đa số và phải tha bổng bị cáo nếu không chứng minh được tội phạm
Xét xử có Bồi thẩm đoàn:
Trước tiên, Thẩm phán phải ra lệnh đưa vụ án ra xét xử bằng thủ tục Bồi thẩm đoàn Tại phiên tòa, khi các Bồi thẩm viên đệ trình thông qua Thẩm phán chủ tọa bản các câu hỏi về những lời khai làm chứng trước Tòa20 thì Thẩm phán có quyền trình bày lại hoặc loại bỏ các câu hỏi của Bồi thẩm viên nếu những câu hỏi đó không liên quan gì đến lời buộc tội Khi có yêu cầu của Bồi thẩm đoàn, Thẩm phán có nhiệm vụ giải thích thêm cho Bồi thẩm đoàn về việc áp dụng pháp luật, những vấn đề có liên quan cũng như về các khái niệm còn chưa rõ ràng Thẩm phán chủ tọa cũng có quyền loại bỏ chứng cứ theo kiến nghị của một bên hoặc theo quyền tự quyết của mình
Thẩm phán chủ tọa có trách nhiệm hướng dẫn cho các Bồi thẩm viên trước khi gửi bản câu hỏi cho họ để bàn thảo, giải thích các nguyên tắc về đánh giá chứng cứ và nhắc nhở các Bồi thẩm viên về lời tuyên thệ của họ Trước khi nghị án, khi các Bồi thẩm yêu cầu Thẩm phán làm rõ bất kỳ vấn
đề gì liên quan đến bản câu hỏi mà đối với họ còn chưa rõ ràng, Thẩm phán phải tránh những câu trả lời đụng chạm đến những vấn đề cơ bản đối với các câu hỏi
Khi Bồi thẩm đoàn có được phán quyết, Thẩm phán xem xét bản câu hỏi trước khi thông báo phán quyết và nếu phán quyết không có mâu thuẫn hoặc thiếu rõ ràng thì Thẩm phán sẽ chuyển lại cho Chủ tịch Đoàn bồi thẩm để thông báo phán quyết trước Tòa án Nếu Bồi thẩm đoàn tuyên bố bị cáo vô tội, Thẩm phán phải tuyên bố bị cáo được tha bổng và ra lệnh phóng thích bị cáo ngay tại phiên tòa Nếu Bồi thẩm đoàn quyết định rằng đáng được khoan dung, thì Thẩm phán phải giảm thời hạn phạt tù đến mức không quá 2/3 mức cao nhất của khung hình phạt theo quy định của BLHS nhưng nếu giảm hơn mức này lại tuỳ thuộc vào quyền tự quyết của Thẩm phán Nếu Bồi thẩm đoàn phán quyết bị cáo có tội thì Thẩm phán chủ tọa phải xác định mức độ trách nhiệm hình sự phù hợp với tính chất, mức độ của tội phạm (cố ý, vô ý ), mức
án và giải pháp giải quyết việc kiện dân sự
20 Nguyễn Đức Mai (2006), “Thủ tục xét xử vụ án hình sự tại Tòa Bồi thẩm ở Liên bang Nga”, Tạp chí tòa
án nhân dân (22), tr 36
Trang 34Thẩm phán có quyền đảo ngược phán quyết có tội của Bồi thẩm đoàn trong một số tình huống nhất định Thẩm phán có thể phán quyết tha bổng nếu thấy rằng hành vi mà bị cáo bị kết tội không cấu thành tội phạm Thẩm phán cũng có thể yêu cầu trả lại vụ án để xét xử lại nếu thấy rằng sự kiện phạm tội chưa được xác định hoặc chưa chứng minh được sự liên quan của
bị cáo đến tội phạm
Kết thúc phiên xét xử, Thẩm phán chủ tọa ban hành một trong các phán quyết sau đây: phán quyết tha bổng, phán quyết kết tội hoặc ban hành lệnh đình chỉ vụ án hay giải tán Bồi thẩm đoàn và trả lại vụ án để xét xử lại
Ngoài ra, khi bị cáo đặt điều kiện đối với những lời buộc tội chống lại mình thì Thẩm phán có quyền và nhiệm vụ phải áp dụng thủ tục đặc biệt để đưa ra một phán quyết nhưng mức án mà Thẩm phán áp dụng không vượt quá 2/3 mức hình phạt tối đa quy định trong BLHS
Vị trí, vai trò của Thẩm phán ở giai đoạn xét xử sơ thẩm là rất quan trọng Bởi lẽ, toàn bộ kết quả của giai đoạn điều tra chỉ có tính chất sơ bộ,
không có tính bắt buộc đối với Tòa án
Qua nghiên cứu nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán ở nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa liên bang Đức, Cộng hòa liên bang Nga, thấy rằng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, tựu chung lại, thì vai trò của Tòa án và Thẩm phán rất được đề cao Trong giai đoạn này, Tòa án hay Thẩm phán thực hiện chức năng, nhiệm vụ xét xử của mình và không chịu sự giám sát, kiểm sát trực tiếp của bất kỳ cơ quan nào
Trang 35CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT THỰC ĐỊNH VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA THẨM PHÁN TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM
VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 2.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong khâu chuẩn bị xét xử
và Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BQP-BCA ngày 18 tháng 4 năm 2005 của TANDTC, Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC), Bộ Quốc phòng và Bộ Công an hướng dẫn về thẩm quyền xét
xử của TAQS để xác định thẩm quyền của TAND hay TAQS Sau đó, Thẩm phán căn cứ vào Điều 171, 172 BLTTHS năm 2003 để xác định thẩm quyền theo lãnh thổ, tức xem vụ án có thuộc thẩm quyền giải quyết Toà án mình hay không
Nếu vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án mình thì tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung, nếu không thuộc thẩm quyền thì căn cứ vào Điều 174 BLTTHS năm 2003 thì báo Chánh án làm thủ tục chuyển vụ án cho Toà án có thẩm quyền xét xử
Theo quy định thì TAND cấp tỉnh và TAQS cấp quân khu (gọi chung là Tòa án cấp tỉnh) xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm
Trang 36không thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền của TAND cấp dưới mà mình lấy lên để giải quyết Tuy nhiên, BLTTHS năm 2003 không có quy định trường hợp nào không thuộc thẩm quyền mà lấy lên để xét xử dẫn đến tình trạng tùy tiện, có vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện nhưng ngay từ khi khởi tố vụ án đã do Cơ quan điều tra cấp tỉnh thực hiện nên đến khi kết thúc điều tra, lập cáo trạng đều do cấp tỉnh thực hiện và mặc nhiên Tòa án cấp tỉnh thụ lý xét xử sơ thẩm
Về thẩm quyền của TAND và TAQS thường xảy ra tranh chấp trong trường hợp dân thường phạm tội mà hành vi của họ có liên quan đến bí mật quân sự đã có quy định, nhưng gây thiệt hại cho quân đội bao gồm những thiệt hại nào thì chưa có quy định21 Đây là những điểm chưa có quy định hoặc quy định chưa rõ ràng về thẩm quyền dẫn đến lúng túng cho Thẩm phán khi xác định thẩm quyền xét xử
b) Xác định thời hạn chuẩn bị xét xử
Để xác định thời hạn chuẩn bị xét xử, khi nghiên cứu hồ sơ Thẩm phán phải căn cứ vào Điều 176 BLTTHS năm 2003; tiểu mục 1.2 mục 1 phần I Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 11 năm 2004 của HĐTPTANDTC để xác định thời điểm kết thúc thời hạn chuẩn bị xét xử vụ
án cụ thể đó để bảo đảm việc xét xử vụ án trong thời hạn luật định, đặc biệt là trường hợp Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà cần lưu ý thời hạn này để ra QĐĐVARXX đúng thời hạn
Theo quy định đối với vụ án được trả lại để điều tra bổ sung thì trong thời hạn 15 ngày sau khi nhận lại hồ sơ, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa phải ra QĐĐVARXX Tuy nhiên, thực tiễn xét xử lại không phải bao giờ cũng xảy ra như vậy mà không ít trường hợp vụ án được trả lại để điều tra bổ sung, sau khi Tòa án nhận lại hồ sơ vẫn có thể ra một trong những quyết định như:
- Tiếp tục trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong trường hợp Cơ quan điều tra chưa đáp ứng được những yêu cầu mà Tòa án đề ra để điều tra bổ sung, thậm chí không đáp ứng được phần nào
21 Đinh Văn Quế (2011), “Phương hướng hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về xét xử sơ
thẩm các vụ án hình sự”, Tạp chí tòa án nhân dân (17), tr 7, 8
Trang 37- Quyết định tạm đình chỉ vụ án, nếu sau khi nhận lại hồ sơ bị cáo mới
bỏ trốn hoặc mới mắc bệnh hiểm nghèo có chứng nhận của Hội đồng giám định pháp y
- Quyết định đình chỉ vụ án, nếu sau khi nhận lại hồ sơ bị cáo mới chết Thực tiễn cho thấy có nhiều cách hiểu về ngày nhận hồ sơ vụ án và ngày thụ lý vụ án dẫn đến việc xác định thời hạn chuẩn bị xét xử không
thống nhất Theo khoản 2 Điều 176 BLTTHS năm 2003 quy định: “…, kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa phải
ra một trong những quyết định sau đây: ….” nhưng ngày nhận hồ sơ vụ án
là ngày Tòa án nhận hồ sơ do Viện kiểm sát chuyển qua hay ngày Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa nhận hồ sơ BLTTHS năm 2003 không quy định rõ việc này cũng như không quy định việc thụ lý hồ sơ vụ án của Tòa án
Theo Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP thì khi Viện kiểm sát chuyển
hồ sơ sang Tòa án, Tòa án nhận hồ sơ và vào sổ thụ lý ngay và ngày vào sổ thụ lý chính là ngày thụ lý Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp ngày Tòa
án nhận hồ sơ và ngày thụ lý là một
Ví dụ: trong vụ án có nhiều người tham gia, có người bị tạm giam có người tại ngoại Đối với người bị tạm giam, việc giao bản cáo trạng không phức tạp, nhưng đối với người tại ngoại, việc giao bản cáo trạng không phải bao giờ cũng thuận lợi Không ít trường hợp hồ sơ vụ án đã chuyển cho Tòa
án nhưng vẫn chưa giao bản cáo trạng cho bị can; nếu Viện kiểm sát chưa giao bản cáo trạng cho bị can thì Tòa án chưa thụ lý, có trường hợp hồ sơ Tòa án nhận được sau một tháng mà Viện kiểm sát vẫn chưa giao hết bản cáo trạng cho bị can22
Theo khoản 2 Điều 176 BLTTHS năm 2003 thì thời hạn chuẩn bị xét xử
là tính từ ngày nhận hồ sơ vụ án đến ngày ra các quyết định: đưa vụ án ra xét xử; trả hồ sơ để điều tra bổ sung; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án Nhưng khoảng thời gian từ ngày ra quyết định đến ngày mở phiên tòa thì không nói
rõ đây là thời gian thuộc giai đoạn nào, thuộc giai đoạn chuẩn bị xét xử hay giai đoạn xét xử nên ảnh hưởng không nhỏ đến việc xác định thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn hay thẩm quyền đình chỉ vụ án khi Viện kiểm
22 Đinh Văn Quế (2007), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự (Xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc
thẩm và tái thẩm), NXB Tổng Hợp, Thành phố Hồ Chí Minh, tr 131 – 135
Trang 38sát rút quyết định truy tố trước ngày mở phiên tòa, thuộc thẩm quyền của Thẩm phán hay của HĐXX
Để khắc phục điều này, Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP đã giải thích khoảng thời gian từ ngày ra QĐĐVARXX đến ngày mở phiên tòa vẫn là thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng để đảm bảo sự nhất quán đòi hỏi khi sửa đổi BLTTHS cần phải quy định vấn đề này nhằm xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán
c) Nghiên cứu về thủ tục tố tụng và nội dung sự việc
Khi nghiên cứu hồ sơ, ngoài việc xem xét về thẩm quyền xét xử và thời hạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán cần nghiên cứu hồ sơ vụ án cả về thủ tục tố tụng và nội dung sự việc Phải nghiên cứu đầy đủ các tình tiết về từng sự việc,
về từng tội của vụ án theo thứ tự hợp lý23
Về thủ tục tố tụng cần nghiên cứu xem xét việc tiến hành điều tra, truy tố
có tuân thủ các quy định của BLTTHS năm 2003 và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan hay chưa để có quyết định tương ứng
Về nội dung vụ án, cần nghiên cứu đầy đủ toàn diện các tài liệu có trong
hồ sơ vụ án về những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự quy định tại Điều 63 BLTTHS năm 2003 để ra một trong các quyết định quy định tại khoản 2 Điều 176 BLTTHS năm 2003
Ngoài ra Thẩm phán cũng cần có phương pháp và kỹ năng khi nghiên cứu Thực tiễn cho thấy, có nhiều trường hợp do nghiên cứu hồ sơ vụ án không
kỹ đã dẫn đến việc ra các quyết định không đúng với khoản 2 điều 176 BLTTHS năm 2003 như: Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra
bổ sung, nhưng vấn đề cần điều tra bổ sung đã được thu nhập và có trong hồ sơ
vụ án; có trường hợp do vụ án phải điều tra bổ sung nhiều lần nên trong hồ sơ
vụ án có nhiều bản cáo trạng khác nhau, nhưng do nghiên cứu không kỹ nên lẽ
ra phải xét xử theo bản cáo trạng A thì Tòa án lại xét xử theo bản cáo trạng B
Có không ít trường hợp Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đọc hồ sơ vụ án rất
kỹ nhưng lại không có khả năng phân tích, tổng hợp nên không nắm được các tình tiết của vụ án, dẫn đến ra bản án không đúng pháp luật Có trường hợp Thẩm phán chủ tọa phiên tòa khi nghiên cứu hồ sơ vụ án đã không thể hiện tính
23 Tòa án nhân dân tối cao (2009), Sổ tay Thẩm phán, NXB Lao Động, Hà Nội, tr 65
Trang 39khách quan mà chỉ chú tâm nghiên cứu các tài liệu là chứng cứ buộc tội mà bỏ qua các tài liệu là chứng cớ gở tội cho bị cáo hoặc ngược lại v.v…
Tóm lại, việc nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự để chuẩn bị xét xử sơ thẩm của Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa còn nhiều thiếu sót, nhiều vụ
án bị hủy, bị sửa chỉ vì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa nghiên cứu hồ sơ vụ án không kỹ.24
Ngoài ra, quy định tại khoản 1 Điều 176 BLTTHS năm 2003 chỉ đề cập đến việc nghiên cứu hồ sơ của Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa
mà không nói đến việc nghiên cứu hồ sơ của Thẩm phán tham gia xét xử Tuy nhiên, việc nghiên cứu hồ sơ là nhiệm vụ chung cho cả Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Thẩm phán tham gia xét xử quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTHS năm 2003 Vì vậy, theo ý kiến riêng cho rằng không nhất thiết phải quy định lại việc nghiên cứu hồ sơ của Thẩm phán chủ tọa, nếu quy định thì phải quy định tại khoản 1 Điều 176 BLTTHS năm 2003 về thời hạn chuẩn bị xét xử cho cả Thẩm phán chủ tọa và Thẩm phán tham gia xét xử
2.1.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán khi áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn và thực tiễn áp dụng
Việc xem xét để áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn là nhiệm vụ, quyền hạn cuả Thẩm phán chủ toạ phiên toà, Thẩm phán tham gia xét xử không có nhiệm vụ, quyền hạn này Nếu xét thấy cần áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn như cấm đi khỏi nơi cư trú; bảo lĩnh; đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm, thì căn cứ vào Điều 177 và các Điều
91, 92 và 93 của BLTTHS năm 2003 để ra quyết định
Nếu xét thấy cần áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn là tạm giam thì căn cứ vào Điều 177 và các điều tương ứng 80, 88 BLTTHS năm 2003; hướng dẫn tại mục 9 Phần I Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 02 tháng 10 năm 2004 của HĐTPTANDTC; hướng dẫn tại mục 2 Phần I Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP, Thẩm phán báo cáo Chánh án hoặc Phó Chánh án Toà án quyết định Trong trường hợp Thẩm phán được phân công làm chủ toạ phiên toà là Chánh án hoặc Phó Chánh án thì có quyền hạn này, nhưng khi ký Lệnh tạm giam hoặc Lệnh bắt tạm giam thì phải ghi chức danh Chánh án hoặc Phó Chánh án
24 Xem thêm Đinh Văn Quế (2008), “Một số vấn đề cần chú ý đối với Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà khi xét
xử vụ án hình sự”, Tạp chí tòa án nhân dân, (14), tr 21
Trang 40Thực tiễn xét xử cho thấy việc giao Chánh án hoặc Phó Chánh án áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn là tạm giam thì hiện tại không ảnh hưởng nhiều đến công tác xét xử Vì tố tụng hình sự của nước ta Tòa án thường không giải quyết những tình huống cấp bách, đòi hỏi phải quyết định ngay trước khi có ý kiến của lãnh đạo Tạm giam là biên pháp nghiêm khắc nhất quy định tại khoản 1 Điều 88 BLTTHS năm 2003, do cần phải cùng chung trách nhiệm nên bộ luật giao quyền này cho Chánh án hoặc Phó Chánh án Tuy nhiên, nếu xét về hậu quả không mong muốn thì biện pháp tạm giam không thể sánh bằng việc Thẩm phán đình chỉ vụ án, nhưng quyền đình chỉ này lại giao cho Thẩm phán quyết định
2.1.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán khi ra các quyết định và thực tiễn áp dụng
Việc ra các quyết định là nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán chủ toạ phiên toà, Thẩm phán tham gia xét xử không có nhiệm vụ, quyền hạn này
a) Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung
Theo quy định tại khoản 1 Điều 179 BLTTHS năm 2003, trong quá trình nghiên cứu hồ sơ, nếu thấy hồ sơ vụ án thiếu những chứng cứ quan trọng mà không thể bổ sung tại phiên tòa được hoặc có căn cứ để cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác hoặc phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng thì Thẩm phán căn cứ các Điều 39, 176 và 179 BLTTHS năm 2003; hướng dẫn tại mục 4 Phần I Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung Tòa án chỉ được trả hồ sơ điều tra bổ sung không quá hai lần
Thực tiễn xét xử cho thấy việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa Tòa án
mà trực tiếp là Thẩm phán với Viện kiểm sát có nhiều vấn đề vướng mắc, cụ thể như sau:
- Về việc thiếu chứng cứ quan trọng, trong chừng mực nhất định giữa Tòa án và Viện kiểm sát cũng đã thống nhất về chứng cứ quan trọng Đó là những chứng cứ mà thiếu nó thì không thể xác định được sự thật vụ án như: không thể xác định bị cáo có tội hay không có tội, nếu có tội thì là tội gì, theo điều khoản nào của BLHS; các tài liệu có liên quan mà thiếu nó không thể xử
lý được vật chứng, không thể áp dụng hình phạt bổ sung, áp dụng các biện pháp tư pháp cũng như quyết định việc bồi thường thiệt hại