NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Vật liệu nghiên cứu
Nấm ký sinh côn trùng Paecilomyces được phân lập từ mẫu thu thập tại tỉnh Tiền Giang Để thực hiện nghiên cứu, cần sử dụng các dụng cụ và thiết bị như đĩa petri, pipet, đầu côn, que cấy, đèn cồn, bật lửa, ống đong, ống Eppendorf, bình tam giác, máy đo pH, máy khuấy từ, máy vortex, tủ nuôi, tủ lạnh, nồi hấp khử trùng, kính hiển vi, box cấy, tủ sấy, cân điện tử, bút viết và số ghi chép Hóa chất cũng là một phần quan trọng trong quá trình nghiên cứu này.
Các hóa chất có nguồn gốc từ Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản.
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Từ tháng 03 năm 2021 đến tháng 09 năm 2021 b) Địa điểm nghiên cứu
Bộ môn Công nghệ vi sinh - Viện Di truyền Nông nghiệp.
Nội dung nghiên cứu
N ộ i dung 1 Phân lập, định danh nấm Paecilomyces trên các mẫu thu thập tại tỉnh Tiền Giang
N ộ i dung 2 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến sinh trưởng, phát triển của mẫu nấm Paecilomyces
N ộ i dung 3 Đánh giá một số hoạt tính sinh học của mẫu nấm Paecilomyces đã tuyển chọn
N ộ i dung 4 Đánh giá hiệu lực phòng trừ ruồi đục trái Bactrocera sp của mẫu nấm Paecilomyces đã tuyển chọn.
Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phân lập, định danh nấm Paecilomyces trên các mẫu thu thập
3.4.1.1 Phương pháp phân lập nấm Paecilomyces
Nấm được phân lập theo phương pháp của Chase (1986) và Lê Tấn Hưng cùng cộng sự (2010) Đối với mẫu vật có lớp bào tử bên ngoài, sử dụng que cấy để lấy lớp bào tử nấm ký sinh trên côn trùng Còn với các mẫu vật không có bào tử bên ngoài, cần cắt nhỏ bằng dao và đặt vào đĩa nuôi cấy.
Phân lập trên môi trường WA đã được đổ từ trước 2 ngày sao cho bề mặt
Môi trường khô ráo tạo điều kiện cho bào tử và sợi nấm bám vào bề mặt và nảy mầm, với kết quả kiểm tra sau 2 ngày Để thuần hóa mẫu nấm, cần cấy truyền bào tử hoặc đỉnh sinh trưởng của sợi nấm lên môi trường PDA Toàn bộ quá trình phân lập phải được thực hiện trong điều kiện vô trùng và cách ly trong buồng cấy.
Sau khi khuẩn lạc hình thành, tiến hành cấy chuyển sang đĩa thạch PDA mới và cấy chuyển vào 20 ống thạch nghiêng cho các thí nghiệm tiếp theo, trong khi 10 ống còn lại được bảo quản để lưu trữ.
3.4.1.2 Định danh mẫu nấm Paecilomyces dựa vào đặc điểm hình thái
Thu thập mẫu côn trùng nhiễm nấm ký sinh và nuôi cấy nấm trên môi trường PDA Phương pháp nuôi cấy đơn bào tử được sử dụng để tạo dòng thuần cho nấm.
Paecilomyces trên môi trường PDA Định danh nấm theo Barnett and Barry
Nấm Paecilomyces được tách dòng thuần và nuôi cấy trên môi trường PDA trong đĩa petri đường kính 9 cm ở nhiệt độ 27 ± 2ºC với chu kỳ sáng tối 12 giờ Khoanh sợi nấm từ rìa mép của tản nấm 3 ngày tuổi được đặt úp ngược vào giữa đĩa petri, đảm bảo sợi nấm tiếp xúc trực tiếp với môi trường nuôi cấy Mỗi mẫu phân lập được lặp lại 5 lần trong thí nghiệm.
Chỉ tiêu theo dõi bao gồm đặc điểm tản nấm như cách mọc của sợi nấm, màu sắc và sự phân bố của tản nấm, cùng với hình thành các vòng sinh bào tử, được quan sát bằng mắt thường và ghi nhận sau 9 ngày nuôi cấy Ngoài ra, cần chú ý đến đặc điểm cơ quan sinh bào tử và hình dạng bào tử từ mẫu nấm đã cấy.
Paecilomyces phân lập được theo phương pháp nuôi cấy trên lame có cải tiến
Nhận diện và mô tả đặc điểm cấu trúc của cơ quan sinh bào tử, hình dạng bào tử, cùng với cành bào đài của các loại nấm này dưới kính hiển vi quang học.
Kích thước bào tử: thực hiện theo phương pháp của Reza et al (2006)
Các mẫu phân lập được nuôi cấy trên lame với lớp môi trường PDA (3mL/lame) ở nhiệt độ phòng trong 10 ngày Sử dụng kính hiển vi quang học với độ phóng đại 1000 lần, số bào tử trung bình của mỗi mẫu phân lập được ghi nhận là 400 Đường kính trung bình của các bào tử được tính toán dựa trên số đo của hai đường chéo vuông góc của bào tử.
3.4.2 Phương pháp đánh giá ảnh hưởng của một số yếu tố đến sinh trưởng, phát triển của mẫu nấm Paecilomyces đã tuyển chọn
3.4.2.1 Phương pháp đánh giá ảnh hưởng của môi trường nuôi cấy
Dựa trên kết quả phân lập và đánh giá hoạt tính sinh học, cùng với việc định danh mẫu nấm qua các đặc điểm hình thái, chúng tôi đã tiến hành tuyển chọn mẫu nấm.
Paecilomyces TG.VK-04 được sử dụng trong các thí nghiệm tiếp theo.Thí nghiệm đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của nấm Paecilomyces
TG.VK-04 trên các môi trường nuôi cấy khác nhau, các công thức (CT) thí nghiệm gồm:
Mỗi công thức nhắc lại 3 lần, 3 đĩa petri/lần nhắc lại
Chỉ tiêu theo dõi đường kính trung bình của tản nấm (mm) được thực hiện hai ngày một lần Để đánh giá sự phát triển của tản nấm, cần tính trung bình đường kính trên hai trục của tản nấm theo công thức: d.
Trong đó: d1 và d2 là độ dài hai đường chéo phần tản nấm
Thời gian theo dõi: sau 3, 5, 7, 9 ngày nuôi cấy
3.4.2.2 Phương pháp đánh giá ảnh hưởng của pH
Thí nghiệm đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của nấm
Paecilomyces TG.VK-04 được nuôi cấy trên môi trường PDA ở các ngưỡng pH khác nhau, các công thức thí nghiệm gồm:
Mỗi công thức nhắc lại 3 lần, 3 đĩa petri/lần nhắc lại
* Chỉ tiêu theo dõi: Kích thước đường kính tản nấm (mm)
3.4.2.3 Phương pháp đánh giá khả năng chịu muối NaCl
Thí nghiệm đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của nấm
Paecilomyces TG.VK-04 tuyển chọn trên môi trường PDA có bổ sung muối
NaCl, các công thức thí nghiệm gồm:
- CT1: Môi trường PDA bổ sung muối NaCl 1%
- CT2: Môi trường PDA bổ sung muối NaCl 3%
- CT3: Môi trường PDA bổ sung muối NaCl 5%
Mỗi công thức nhắc lại 3 lần, 3 đĩa petri/lần nhắc lại
* Chỉ tiêu theo dõi: Kích thước đường kính tản nấm (mm)
3.4.2.4 Phương pháp đánh giá ảnh hưởng của nguồn cacbon
Thí nghiệm đánh giá khả năng đồng hóa nguồn cacbon của mẫu nấm
Paecilomyces TG.VK-04 trên môi trường PDA có bổ sung đồng thời các nguồn cacbon khác nhau với nồng độ 20g/l Các công thức thí nghiệm:
Mỗi công thức nhắc lại 3 lần, 3 đĩa petri/lần nhắc lại
* Chỉ tiêu theo dõi: Kích thước đường kính tản nấm (mm)
3.4.2.5 Phương pháp đánh giá ảnh hưởng của nguồn nitơ
Thí nghiệm đánh giá khả năng đồng hóa nguồn nitơ của mẫu nấm
Paecilomyces TG.VK-04 trên môi trường PDA có bổ sung các nguồn nitơ khác nhau với nồng độ 20g/l Các công thức thí nghiệm:
Mỗi công thức nhắc lại 3 lần, 3 đĩa petri/lần nhắc lại
* Chỉ tiêu theo dõi: Kích thước đường kính tản nấm (mm)
3.4.3 Phương pháp đánh giá hoạt tính sinh học của nấm Paecilomyces đã tuyển chọn
3.4.3.1 Phương pháp đánh giá hoạt tính phân giải protein Đánh giá hoạt tính phân giải protein theo tài liệu mô tả của Bai et al
Mẫu nấm ký sinh côn trùng Paecilomyces TG.VK-04 được nuôi cấy trong môi trường PDB với tốc độ lắc 150 vòng/phút và nhiệt độ 30ºC trong máy lắc ổn nhiệt Orbital Sau 5 ngày nuôi cấy, dịch nuôi được ly tâm ở 10.000 vòng/phút, 4ºC trong 10 phút Dịch ly tâm sau đó được đưa vào lỗ đục (d = 6,0 mm) trên đĩa thạch PGA với cơ chất gelatine 0,05% và ủ qua đêm ở 30ºC Thuốc nhuộm sử dụng là amido black 0,1%.
Sau khi nuôi cấy, lấy ra và cho vào đĩa petri 5 ml thuốc nhuộm amido black 0,1% Dàn đều thuốc nhuộm lên bề mặt đĩa thạch và để trong 15 phút, sau đó gạn bỏ hết thuốc nhuộm Lugol.
Thí nghiệm sử dụng 1 mẫu thử và được thực hiện 3 lần lặp lại
- Nếu nấm có hoạt tính phân giải protein sẽ tạo thành một vòng trong suốt quanh khuẩn lạc,
- Vòng không có hoạt tính phân giải protein sẽ có màu xanh với thuốc thử
Hoạt tính phân giải protein được xác định qua hệ số phân giải (k) được tính theo công thức: k = D – d
- D: đường kính vòng phân giải (mm)
- d: đường kính lỗ đục (6,0 mm)
- Điểm 1: D - d < 1,5 cm: Hoạt tính enzym yếu
- Điểm 2: D - d ≥ 1,5 -2,0 cm: Hoạt tính enzym trung bình
- Điểm 3: D - d > 2,0 cm: Hoạt tính enzym mạnh
3.4.3.2 Phương pháp đánh giá hoạt tính phân giải cellulose Đánh giá hoạt tính phân giải cellulose theo tài liệu mô tả của Bai et al
Mẫu nấm ký sinh côn trùng Paecilomyces TG.VK-04 được nuôi cấy trong môi trường PDB với tốc độ lắc 150 vòng/phút và nhiệt độ 30ºC trong máy lắc ổn nhiệt Orbital Sau 5 ngày nuôi cấy, dịch nuôi được ly tâm ở 10.000 vòng/phút tại 4ºC trong 10 phút Dịch sau ly tâm được đưa vào lỗ đục (d = 6,0 mm) trên đĩa thạch CMCA có chứa 1% CMC ở nhiệt độ 30ºC.
Sau 5 ngày nuôi cấy, lấy ra và cho vào đĩa petri 5 ml thuốc nhuộm Lugol 1%, dàn đều lên bề mặt đĩa thạch, để trong thời gian 15 phút rồi gạn bỏ hết thuốc nhuộm Lugol
Thí nghiệm sử dụng 1 mẫu thử và được thực hiện 3 lần lặp lại
- Nấm có hoạt tính phân giải cellulose sẽ tạo thành một vòng trong suốt quanh khuẩn lạc
- Vòng không có hoạt tính phân giải cellulose sẽ có màu tím hồng với thuốc thử
Hoạt tính phân giải cellulose được xác định qua hệ số phân giải (k) được tính theo công thức: k = D – d
- D: đường kính vòng phân giải (mm)
- d: đường kính lỗ đục (6,0 mm)
- Điểm 1: D - d < 1,5 cm: Hoạt tính enzym yếu
- Điểm 2: D - d ≥ 1,5 -2,0 cm: Hoạt tính enzym trung bình
- Điểm 3: D - d > 2,0 cm: Hoạt tính enzym mạnh
3.4.4 Phương pháp đánh giá hiệu lực phòng trừ ruồi đục trái Bactrocera sp của mẫu nấm Paecilomyces đã tuyển chọn
Thí nghiệm được tiến hành trong các hộp nhựa tròn kích thước miệng 17,5 x cao 10,0 x đáy 12,5 (cm) ở điều kiện phòng thí nghiệm nhiệt độ 27 ± 2°C
Sử dụng 3 đĩa nấm Paecilomyces TG.VK-04, cho vào mỗi đĩa 20 ml nước cất vô trùng để gạt lấy bề mặt môi trường chứa bào tử và sợi nấm Sau đó, dùng giấy Whatman để lọc qua bình tam giác thu dịch chiết và bổ sung 0,1% Tween 80 vào bình Chuẩn bị hộp nhựa có giấy ẩm ở đáy, đặt 10 cá thể ruồi đục trái ở các pha sâu non, nhộng, trưởng thành vào mỗi hộp nhựa, và đặt một miếng táo ở giữa làm nguồn thức ăn.
Liều lượng sử dụng: dùng bình phun tay loại 0,5 lít, phun với liều lượng 5 ml/hộp thí nghiệm/pha phát dục của ruồi đục trái
Thí nghiệm đánh giá hiệu lực phòng trừ với các công thức:
- CT1: Pha sâu non có xử lý với nấm Paecilomyces TG.VK-04
- CT2: Pha nhộng có xử lý với nấm Paecilomyces TG.VK-04
- CT3: Pha trưởng thành có xử lý với nấm Paecilomyces TG.VK-04
- CT4: Đối chứng các pha phát dục không xử lý với nấm
Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu thí nghiệm được thu thập và xử lý bằng Microsoft Office Excel và IRRISTAT 5.0.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Phân lập và định danh nấm Paecilomyces
Các mẫu nấm ký sinh côn trùng được thu thập tại tỉnh Tiền Giang đã được đặt vào các lọ khử trùng, giữ trong điều kiện khô để tránh nhiễm chéo với các loại nấm khác Mỗi mẫu đều được ghi nhãn rõ ràng về địa điểm và thời gian thu thập trước khi đưa về phòng thí nghiệm để tiến hành phân lập, làm thuần và định danh Kết quả phân lập được trình bày chi tiết trong bảng 4.1.
Bảng 4.1 Kết quả phân lập nấm Paecilomyces
STT Ký hiệu mẫu thu thập Địa điểm thu thập
Số lượng mẫu thu thập
Số mẫu phân lập được nấm
1 TG.VK-04 Tỉnh Tiền Giang 1 1
2 TG.VK-05 Tỉnh Tiền Giang 1 0
3 TG.VK-06 Tỉnh Tiền Giang 1 0
Kỹ thuật cấy trực tiếp trên môi trường PDA có bổ sung kháng sinh đã giúp phân lập thành công mẫu nấm Paecilomyces spp từ 3 mẫu côn trùng thu thập tại tỉnh Tiền Giang.
4.1.2 Định danh nấm Paecilomyces đã tuyển chọn dựa vào mô tả hình thái
Việc xác định tên loài của mẫu nấm TG.VK-04 được thực hiện thông qua phương pháp phân loại dựa trên quan sát đặc điểm hình thái của mẫu nấm ký sinh côn trùng nuôi cấy trên môi trường PDA Kết quả theo dõi được trình bày trong bảng 4.2.
Bảng 4.2 So sánh các đặc điểm hình thái nấm TG.VK-04 trên môi trường
PDA Đặc điểm hình thái mẫu nấm TG.VK-
04 Đặc điểm phân loại nấm thuộc chi
Trên môi trường PDA, tản nấm phát triển theo hình tròn đồng tâm, tạo thành nhiều sợi nấm khí sinh có dạng bông xốp Ban đầu, màu sắc của tản nấm là trắng, sau đó chuyển dần sang màu kem và cuối cùng là màu tím.
Khuẩn lạc nấm có hình dạng bông xốp với nhiều sợi khí sinh, bắt đầu với màu trắng và dần chuyển sang các màu vàng, vàng xanh, vàng nâu, và cuối cùng là hồng hoặc tím, tùy thuộc vào từng loài.
Sợi nấm dạng mảnh, phân nhánh và có vách ngăn ngang, màu trong suốt
Sợi nấm có hình dạng mảnh, phân nhánh và có vách ngăn ngang, với màu sắc trong suốt Cành bào tử phân sinh (conidiophores) có cấu trúc phình ở gốc và hẹp ở đỉnh.
Cành bào tử phân sinh có cấu trúc phình ở gốc và hẹp dần ở đỉnh, tạo thành ống dài Bào tử (conidia) trong suốt, không màu, có hình cầu méo hoặc hình elip, thường xếp thành chuỗi.
Bào tử được sắp xếp trong chuỗi, không phân nhánh, không màu hoặc sáng màu
Hình thành nhiều bào tử vách dầy
(chlamydospores), hình cầu méo, màu trong suốt
Hình thành bào tử vách dầy, hình cầu méo
Hình 4.1 Đặc điểm hình thái mẫu nấm TG.VK-04
Chú thích a, b: tản nấm trên môi trường PDA; c: sợi nấm; d: bào tử vách dầy (soi dưới kính hiển vi quang học độ phóng đại 100X)
Dựa vào tài liệu định danh nấm của Samson (1974) và Samson et al (2009), mẫu nấm TG.VK-04 được xác định là loài nấm ký sinh côn trùng thuộc chi Paecilomyces Để xác định chính xác tên loài, cần thực hiện kỹ thuật PCR và giải trình tự vùng liên gen Kết hợp với các đặc điểm hình thái và kết quả nghiên cứu trước đó, mẫu nấm được xác định là Paecilomyces spp., tạm thời đặt tên là Paecilomyces sp TG-VK04.
Ảnh hưởng của một số yếu tố đến sự sinh trưởng, phát triển của nấm
4.2.1 Ảnh hưởng của môi trường nuôi cấy đến sinh trưởng, phát triển của nấm Paecilomyces TG.VK-04
Nghiên cứu nuôi cấy nấm Paecilomyces TG.VK-04 trên ba môi trường khác nhau: CMA, PDA và CZA Kết quả đánh giá ảnh hưởng của các môi trường này đến sự sinh trưởng và phát triển của nấm Paecilomyces TG.VK-04 được thể hiện trong bảng 4.3.
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của môi trường nuôi cấy đến sinh trưởng, phát triển của nấm Paecilomyces TG.VK-04
Kích thước tản nấm (mm) sau nuôi cấy
Ghi chú: Giá trị trung bình trong cùng một cột mang chữ cái khác nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê ở mức = 0,05 và xác suất p < 0,05
Kết quả thí nghiệm cho thấy nấm Paecilomyces TG.VK-04 phát triển tốt trên các môi trường nuôi cấy khác nhau, với môi trường PDA và CZA cho sự phát triển nhanh hơn so với CMA Cụ thể, sau 7 ngày nuôi cấy, sợi nấm trên môi trường PDA có màu tím và phủ kín đĩa, trong khi trên môi trường CZA, sợi nấm có màu hơi vàng và tiết sắc tố vàng nhạt Đối với môi trường CMA, sợi nấm phát triển chậm hơn, chỉ phủ kín đĩa sau 9 ngày Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Boucias và Pendland (1998), cho thấy chi nấm Paecilomyces có khả năng nhân nuôi hiệu quả trên môi trường PDA.
Môi trường CZA và PDA đều phù hợp cho sự phát triển của nấm Paecilomyces TG.VK-04, tuy nhiên, môi trường PDA sẽ được sử dụng cho các thí nghiệm tiếp theo.
Hình 4.2 cho thấy ảnh hưởng của môi trường nuôi cấy đến sự sinh trưởng và phát triển của nấm Paecilomyces TG.VK-04 Đặc biệt, pH của môi trường nuôi cấy có tác động quan trọng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của nấm.
Sự thay đổi pH môi trường ảnh hưởng đến khả năng thẩm thấu của tế bào vi sinh đối với các ion, làm thay đổi điện tích của thành tế bào và ảnh hưởng đến hoạt tính enzyme, dẫn đến giảm mật độ sinh bào tử Để khảo sát ảnh hưởng của pH đến sự sinh trưởng và phát triển của nấm TG.VK-04 Paecilomyces, nấm này được nuôi cấy trên môi trường PDA với các giá trị pH 4, pH 6 và pH 8 Kết quả thí nghiệm được trình bày trong bảng 4.4.
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của pH đến sinh trưởng, phát triển của nấm
Paecilomyces TG.VK-04 trên môi trường PDA
Kích thước tản nấm (mm) sau nuôi cấy
3 ngày 5 ngày 7 ngày pH 4 45,5 b 90,0 a 90,0 pH 6 48.3 a 90,0 a 90,0 pH 8
Ghi chú: Giá trị trung bình trong cùng một cột mang chữ cái khác nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê ở mức = 0,05 và xác suất p < 0,05
Kết quả thí nghiệm trong Bảng 4.4 cho thấy nấm Paecilomyces TG.VK-04 có khả năng sinh trưởng và phát triển ở nhiều ngưỡng pH khác nhau Mặc dù tốc độ phát triển của nấm ở các giá trị pH gần như tương đương, nhưng nấm Paecilomyces TG.VK-04 phát triển tốt nhất ở ngưỡng pH 6.
Nấm Paecilomyces phát triển chậm hơn ở pH 8 so với ngưỡng pH 6, và tản nấm mọc bám sâu vào bề mặt môi trường.
TG.VK-04 có khả năng sinh trưởng và phát triển trong môi trường có pH axit, trung tính đến hơi kiềm Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của các tác giả khác, như Shim et al (2003) cho rằng pH tối ưu cho sự phát triển của nấm ký sinh côn trùng P fumosoroseus là pH 6 Trong khi đó, Choi et al (1999) chỉ ra rằng sợi nấm P japonica phát triển tốt nhất ở pH 7 Bên cạnh đó, Shim et al (2003) cũng nhấn mạnh rằng P sinclairii phát triển tối ưu trong môi trường PDA với pH 8.
Kết luận: pH 6 thích hợp cho sự phát triển của nấm Paecilomyces
TG.VK-04 và ngưỡng pH này được chọn để sử dụng những thí nghiệm tiếp theo
Hình 4.3 cho thấy ảnh hưởng của pH đến sự sinh trưởng và phát triển của nấm Paecilomyces TG.VK-04 Ngoài ra, phần 4.2.3 sẽ trình bày về tác động của nồng độ muối NaCl đối với sự sinh trưởng và phát triển của nấm Paecilomyces TG.VK-04.
Thí nghiệm đánh giá khả năng chịu mặn muối NaCl của nấm
Paecilomyces TG.VK-04 được nuôi cấy trên môi trường PDA, pH 6 ở các nồng độ muối lần lượt là 1%, 3% và 5% Kết quả thí nghiệm được trình bày ở bảng 4.5
Bảng 4.5 Ảnh hưởng của nồng độ muối NaCl đến sinh trưởng, phát triển của nấm Paecilomyces TG.VK-04 trên môi trường PDA
Kích thước tản nấm (mm) sau nuôi cấy
Ghi chú: Giá trị trung bình trong cùng một cột mang chữ cái khác nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê ở mức = 0,05 và xác suất p < 0,05
Nấm Paecilomyces TG.VK-04 cho thấy khả năng chịu mặn ở các nồng độ muối khác nhau, với đường kính tản nấm đạt 90 mm sau 7 ngày nuôi ở nồng độ 1% Sợi nấm có màu tím phát triển trên bề mặt môi trường Ở nồng độ muối 3% và 5%, sợi nấm vẫn phát triển nhưng chậm hơn, với màu trắng gạo và hình dạng tròn đồng tâm Sự sinh trưởng của nấm giảm dần khi nồng độ muối tăng cao.
Như vậy nấm Paecilomyces TG.VK-04 sinh trưởng, phát triển tốt nhất ở nồng độ muối 1%
Nồng độ muối NaCl có ảnh hưởng đáng kể đến sự sinh trưởng và phát triển của nấm Paecilomyces TG.VK-04 Bên cạnh đó, nguồn cacbon cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng và phát triển của nấm.
Nấm Paecilomyces TG.VK-04 được nuôi cấy trên môi trường PDA với các nguồn carbon bổ sung như glucose, saccharose và mật rỉ đường Kết quả thí nghiệm được trình bày trong bảng 4.6.
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của nguồn cacbon đến sự sinh trưởng, phát triển của nấm Paecilomyces TG.VK-04 trên môi trường PDA
Kích thước tản nấm (mm) sau nuôi cấy
Ghi chú: Giá trị trung bình trong cùng một cột mang chữ cái khác nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê ở mức = 0,05 và xác suất p < 0,05
Kết quả thí nghiệm cho thấy nấm Paecilomyces TG.VK-04 có khả năng sinh trưởng tốt trên môi trường PDA với các nguồn cacbon khác nhau Sự phát triển của nấm gần như đồng đều trên các nguồn cacbon, nhưng nấm phát triển nhanh hơn trên môi trường có bổ sung mật rỉ đường, trong khi với glucose và saccharose, tốc độ phát triển chậm hơn Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Bharati et al (2007), khẳng định khả năng sinh trưởng của nấm Paecilomyces TG.VK-04 trong môi trường có các nguồn cacbon như glucose, sucrose và mannose.
Như vậy nguồn cacbon là mật rỉ đường thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của nấm Paecilomyces TG.VK-04
Hình 4.5 cho thấy ảnh hưởng của nguồn cacbon đến sự sinh trưởng và phát triển của nấm Paecilomyces TG.VK-04 Ngoài ra, phần 4.2.5 sẽ đề cập đến ảnh hưởng của nguồn nitơ đối với sự sinh trưởng và phát triển của nấm.
Nấm Paecilomyces TG.VK-04 được nuôi cấy trên môi trường PDA với các nguồn nitơ bổ sung như KNO3, NH4NO3 và cao thịt bò Kết quả thí nghiệm được trình bày trong bảng 4.7.
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của nguồn nitơ đến sự sinh trưởng, phát triển của nấm Paecilomyces TG.VK-04 trên môi trường PDA
Kích thước tản nấm (mm) sau nuôi cấy
Ghi chú: Giá trị trung bình trong cùng một cột mang chữ cái khác nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê ở mức = 0,05 và xác suất p < 0,05
Đánh giá hoạt tính phân giải của nấm Paecilomyces đã tuyển chọn
4.3.1 Đánh giá hoạt tính phân giải protein Để đánh giá khả năng phân giải protein của nấm Paecilomyces TG.VK-
Tiến hành nuôi cấy nấm trong môi trường PDB và đánh giá hoạt tính phân giải protein trên môi trường PGA với cơ chất Gelatin 0,05% Sử dụng thuốc nhuộm amido black 0,1% để nhuộm mẫu đã nuôi ủ qua đêm, nhằm đánh giá hoạt tính phân giải Khả năng đánh giá được thực hiện thông qua sự tạo thành khuẩn lạc trên môi trường và kích thước vòng phân giải Kết quả thí nghiệm được trình bày trong bảng 4.8.
Bảng 4.8 Khả năng phân giải protein của nấm Paecilomyces TG.VK-04
Công thức thí nghiệm Đường kính lỗ đục d (mm) Đường kính vòng phân giải protein (D – d) mm
Kết quả thí nghiệm từ Bảng 4.8 cho thấy nấm Paecilomyces TG.VK-04, khi nuôi cấy trên môi trường PGA có bổ sung gelatin, tạo ra một vòng trong suốt quanh khuẩn lạc với kích thước 20,5 ± 2,0 mm Theo thang điểm đánh giá hệ số phân giải, D-d.
> 2,0 cm Như vậy, nấm Paecilomyces TG.VK-04 có hoạt tính sinh enzyme protease mạnh
Hình 4.7 Hoạt tính phân giải protein của nấm Paecilomyces
TG.VK-04 4.3.2 Đánh giá hoạt tính phân giải cellulose Để đánh giá khả năng phân giải cellulose của nấm Paecilomyces TG.VK-
Tiến hành nuôi cấy nấm trong môi trường PDB và đánh giá hoạt tính phân giải cellulose trên môi trường CMCA với 1% CMC Mẫu được nuôi cấy trong 5 ngày, sau đó nhuộm bằng dung dịch Lugon 1% để đánh giá hoạt tính phân giải Khả năng đánh giá phân giải được thực hiện thông qua sự tạo thành khuẩn lạc trên môi trường và kích thước vòng phân giải Kết quả thí nghiệm được trình bày trong bảng 4.9.
Bảng 4.9 Khả năng phân giải cellulose của nấm Paecilomyces TG.VK-04 sau 5 ngày nuôi cấy
Công thức thí nghiệm Đường kính lỗ đục d (mm) Đường kính vòng phân giải protein (D – d) mm
Kết quả thí nghiệm được trình bày ở Bảng 4.9 cho thấy sau 5 ngày nuôi cấy trên môi trường CMCA có bổ sung cơ chất CMC nấm Paecilomyces
Nấm Paecilomyces TG.VK-04 có khả năng phân giải cellulose mạnh mẽ, tạo ra một vòng trong suốt quanh khuẩn lạc với kích thước 23,6 ± 2,8 mm Theo thang điểm đánh giá hệ số phân giải, D-d đạt giá trị lớn hơn 2,0 cm.
Hình 4.8 Hoạt tính phân giải cellulose của nấm Paecilomyces
TG.VK-04 sau 5 ngày nuôi cấy
Đánh giá hiệu lực phòng trừ ruồi đục trái Bactrocera của nấm Paecilomyces đã tuyển chọn
Kết quả đánh giá hiệu lực phòng trừ của nấm Paecilomyces TG.VK-04 ở điều kiện phòng thí nghiệm, hiệu lực phòng trừ của nấm Paecilomyces TG.VK-
04 đối với các pha của ruồi đục trái Bactrocera sp ghi nhận được từ 1 - 5 ngày sau khi phun nấm Kết quả thí nghiệm được trình bày ở bảng 4.10
Bảng 4.10 Hiệu lực phòng trừ ruồi đục trái Bactrocera sp của nấm
Nồng độ sử dụng (CFU/ml)
Hiệu lực (%) phòng trừ của nấm
Paecilomyces TG.VK-04 sau các ngày xử lý
Pha sâu non 1x 10 9 20,7 a 37 a 76,0 a 85,7 a 100 a Pha nhộng 1x 10 9 3,3 c 13,9 c 22,2 c 43,6 c 85,7 b Pha trưởng thành 1x 10 9 16,7 b 25,0 b 52,2 b 76,1 b 100 a Đối chứng (không phun)
Ghi chú: Giá trị trung bình trong cùng một cột mang chữ cái khác nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê ở mức = 0,05 và xác suất p < 0,05
Kết quả thí nghiệm được trình bày ở Bảng 4.10 cho thấy hiệu lực phòng trừ ruồi đục trái Bactrocera của nấm Paecilomyces TG.VK-04 được ghi nhận từ
Một ngày sau khi phun, hiệu quả của nấm dao động từ 3,3% đến 20,7% Sau ba ngày, nấm cho thấy hiệu quả trên 50% đối với giai đoạn sâu non và trưởng thành, trong khi giai đoạn nhộng không có sự khác biệt đáng kể.
1 và 2 ngày Theo số liệu thực nghiệm cho thấy sau 5 ngày thì tỷ lệ chết ở các pha đạt 85,7% -100%
Như vậy, nấm Peacilomyces TG.VK-04 có hiệu quả cao trong việc phòng trừ ruồi đục trái Bactrocera sp ở các pha phát dục
Hình 4.9 Nấm Paecilomyces TG.VK-04 ký sinh trên côn trùng
Chú thích a: pha trưởng thành, b: pha nhộng