HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM KHOA CÔNG NGHỆ SINH HỌC KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG ỨC CHẾ VI KHUẨN VÀ ĐÁNH GIÁ HÀM LƯỢNG POLYPHENOL, HOẠT TÍNH CHỐNG OXY HÓA C
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA CÔNG NGHỆ SINH HỌC
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG ỨC CHẾ VI KHUẨN
VÀ ĐÁNH GIÁ HÀM LƯỢNG POLYPHENOL, HOẠT TÍNH CHỐNG OXY HÓA CỦA DỊCH CHIẾT
TỪ DƯỢC LIỆU RAU MÁ, RAU SAM,
TRẦU KHÔNG, KHẾ
Người thực hiện : HOÀNG ĐỨC THỌ
Mã sinh viên : 620543
Người hướng dẫn : PGS.TS NGUYỄN THANH HẢI
TS NGUYỄN THỊ THANH HÀ
HÀ NỘI – 2021
Trang 2i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu, hình ảnh và kết quả trong báo cáo này là trung thực, khách quan và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình khoa học nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận tốt nghiệp đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn, tài liệu tham khảo đều được chỉ rõ nguồn gốc trong danh mục tài liệu tham khảo của khóa luận
Trang 3đi tới ngày bảo vệ hội đồng Trước tiên em chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Ban Chủ nhiệm khoa Công nghệ Sinh học, cùng toàn thể các Thầy, Cô bộ môn Công nghệ Sinh học Thực vật, bộ môn Nội – Chẩn – Dược – Độc chất đã giúp đỡ em trong quá trình thực hiện khóa luận
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy PGS.TS.Nguyễn Thanh Hải, cô TS.Nguyễn Thị Thanh Hà, các anh chị, bạn đồng nghiệp đã luôn theo sát tận tình hướng dẫn và chỉ dạy cho em trong suốt thời gian thực hiện đề tài này
Sau cùng, khóa luận khép lại cũng là kết thúc 4 năm học tập, rèn luyện tại học viện, con (em) xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới bố mẹ, gia đình, quý thầy cô, bạn bè đã luôn ở bên cạnh ủng hộ, động viên trong quá trình hoàn thiện bản thân dưới ngôi trường thân yêu này!
Tôi (em) xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Hoàng Đức Thọ
Trang 4iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH ẢNH vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ viii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT x
TÓM TẮT KHÓA LUẬN xi
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU 1
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 CƠ SỞ CỦA VIỆC DÙNG THUỐC THẢO DƯỢC 3
2.2 MỘT SỐ THÀNH TỰU TRONG NGHIÊN CỨU THUỐC THẢO DƯỢC 4
2.3 CÁC DƯỢC LIỆU SỬ DỤNG 6
2.3.1 Cây Trầu không 6
2.1.2 Cây Rau má 7
2.1 3 Cây Rau sam 8
2.1.4 Cây Khế 9
2.4 CƠ SỞ CỦA VIỆC SỬ DỤNG DUNG MÔI TRONG CHIẾT XUẤT DƯỢC LIỆU 10
2.5 TỔNG QUAN VỀ POLYPHENOL 11
2.6 HOẠT TÍNH CHỐNG OXY HÓA 12
PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
3.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 16
3.2 NGUYÊN LIỆU NGHIÊN CỨU 16
Trang 5iv
3.2.1 Dược liệu 16
3.2.2 Vi khuẩn 16
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
3.3.1 Phương pháp chiết xuất dược liệu 16
3.3.2 Phương pháp xác định hoạt tính kháng khuẩn của dịch chiết dược liệu trên vi khuẩn 18
3.3.3 Phương pháp xác định hàm lượng polyphenol của các dược liệu 20
3.3.4 Phương pháp xác định hoạt tính chống oxy hóa 21
3.3.5 Phương pháp xử lý số liệu 21
PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 22
4.1 KHẢ NĂNG KHÁNG KHUẨN CỦA CÁC DỊCH CHIẾT DƯỢC LIỆU 22
3.1.1 So sánh đường kính vòng vô khuẩn của các dịch chiết dược liệu tại những nồng độ khác nhau 22
3.1.2 So sánh tác dụng ức chế vi khuẩn của dịch chiết trầu không khi sử dụng những dung môi khác nhau 27
4.2 KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH HOẠT TÍNH CHỐNG OXY HÓA CỦA CÁC DỊCH CHIẾT DƯỢC LIỆU 28
4.2.1 Kết quả xác định khả năng chống oxy hóa của chất chuẩn VTME (Alpha tocopherol) 28
4.2.2 Kết quả xác định khả năng chống oxy hóa của dịch chiết rau má, rau sam, khế và trầu không 30
4.3 KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG POLYPHENOL CỦA CÁC DỊCH CHIẾT DƯỢC LIỆU 31
4.3.1 Kết quả xây dựng đồ thị chuẩn giữa hàm lượng chlorogenic acid và sự gia tăng giá trị mật độ quang đo được khi phản ứng với thuốc thử Folin-Ciocalteu 31
Trang 6v
4.3.2 Kết quả xác định hàm lượng polyphenol của dịch chiết rau má, khế,
rau sam, trầu không 33
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 35
1 KẾT LUẬN 35
2 KIẾN NGHỊ 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO 36
Trang 7vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1: Đường kính vòng vô khuẩn (mm) của các dịch chiết bằng nước
nóng từ dược liệu trầu không, rau má, rau sam, khế tại các nồng độ khác nhau 22 Bảng 4.2: Đường kính vòng vô khuẩn (mm) của các dịch chiết bằng ethanol
từ dược liệu trầu không, rau má, rau sam, khế tại các nồng độ khác nhau 23 Bảng 4.3: Đường kính vòng vô khuẩn (mm) của các dịch chiết bằng
methanol từ dược liệu trầu không, rau má, rau sam, khế tại các nồng
độ khác nhau 24 Bảng 4.4: Hoạt tính chống oxy hóa của chất chuẩn VTME (AA%) xác định
theo phương pháp sử dụng thuốc thử DPPH tại các nồng độ khác nhau 29 Bảng 4.5: Hoạt tính chống oxy hóa quy đổi theo VTME (mg) của 4 dược
liệu (hàm lượng mg/100 mg dược liệu) khi chiết xuất bằng các dung môi khác nhau 30 Bảng 4.6: Sự thay đổi của giá trị OD theo nồng độ chất chuẩn chlorogenic
acid (mg/ml) 32 Bảng 4.7: Hàm lượng polyphenol của dược liệu quy đổi theo chlorogenic
acid (mg/100 mg dược liệu) khi chiết xuất bằng các dung môi khác nhau 33
Trang 8vii
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 : Cây trầu không và lá dùng làm dược liệu 6
Hình 2.2: Cây rau má sử dụng làm dược liệu 7
Hình 2.3: Cây rau sam được sử dụng trong thí nghiệm 8
Hình 2.4: Lá khế sử dụng trong thí nghiệm 10
Hình 2.5: Cấu trúc của một số polyphenol cơ bản 12
Hình 2.6: Cơ chế trung hòa gốc tự do của các hoạt chất chống oxy hóa 13
Hình 2.7: Cấu trúc phân tử của DPPH (1,1-diphenyl-2-picrylhydrazyl) 14
Hình 3.1: Máy cô quay chân không RE-501 Rotary evaporator, công ty Zhengzhou Keda, Trung Quốc (ảnh chụp tại phòng thí nghiệm) 18
Hình 3.2: Thang chuẩn độ đục McFarland của dịch nuôi vi khuẩn 19
Hình 3.3: Sơ đồ mô tả phương pháp trộn vi khuẩn vào môi trường dinh dưỡng (ảnh chụp tại phòng thí nghiệm) 19
Hình 3.4: Ống khâu bằng đồng có đường kính 10 mm 20
Hình 3.5: Máy quang phổ so màu 722 Ultra Violet - Visibility Spectrum, công ty Jinghua, Trung Quốc (ảnh chụp tại phòng thí nghiệm) 20
Hình 4.1: Ảnh chụp được tạo ra bởi dịch chiết trầu không – methanol tác dụng trên vi khuẩn B subtilis ATCC 6633 ([A]: Quan sát trên nền đen chụp trên nền đen 25
Hình 4.2: Các dịch chiết dược liệu [A] rau má – ethanol; [B] rau sam – methanol và [C] khế - nước nóng không tạo ra vòng vô khuẩn trên vi khuẩn E coli ATCC 25922 (ảnh phải: chụp trên nền đen, ảnh trái: chụp trên đèn soi ngược) 26
Hình 4.3: Sự thay đổi màu sắc của dung dịch DPPH tạo ra bởi chất chuẩn VTME tại các nồng độ khác nhau (từ trái sang: cốc đối chứng, phản ứng của VTME nồng độ từ 0 mg/ml đến 0,45 mg/ml) 28
Trang 9viii
Hình 4.4: Tác dụng làm chuyển màu thuốc thử DPPH của trầu không so với
ống đối chứng (từ trái sang phải: cốc đối chứng, cốc dịch chiết của trầu không - nước nóng, ethanol, methanol) 31 Hình 4.5: Hoạt tính chống oxy hóa của các dịch chiết dược liệu quá thấp sẽ
không làm đổi màu được thuốc thử DPPH và máy không phát hiện được sự thay đổi màu so với ống đối chứng 31 Hình 4.6: Sự thay đổi màu sắc được tạo ra bởi hệ nồng độ chất chuẩn
chlorogenic acid khi tác dụng với thuốc thử Folin-Ciocalteu (từ trái sang: cốc đối chứng âm , chlorogenic acid các nồng độ từ 0,1 đến 0,1 mg/ml) 32 Hình 4.7: Polyphenol trong dịch chiết trầu không làm chuyển màu thuốc thử
Folin-Ciocalteu (từ trái sang: côc đối chứng, cốc dịch chiết trầu không - nước nóng, ethanol, methnol) 34
Trang 10ix
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ
Biểu đồ 4.1: Đường kính vòng vô khuẩn (mm) được tạo ra bởi dịch chiết trầu
không với các loại dung môi nước nóng, ethanol, methanol tại nồng độ 1000mg/ml 27
Đồ thị 4.2: Đồ thị biểu đạt mối tương quan giữa nồng độ chất chuẩn VTME và
khả năng loại bỏ gốc tự do khi phản ứng với thuốc thử DPPH 29
Đồ thị 4.4: Mối tương quan giữa hàm lượng chất chuẩn chlorogenic acid
( mg/100mg dược liệu) với mức độ gia tăng giá trị đo mật độ quang (OD value) 33
Trang 11x
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
B subtilis Bacillus subtilis
G.stearothermophilus Geobacilus stearothermophilus
E coli Escherichia coli
P aeruginosa Pseudomonas aeruginosa
S aureus Staphylococcus aureus
Trang 12Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng các dung môi ethanol, methanol và nước nóng để chiết xuất 3 loại dược liệu: rau má, khế, rau sam, trầu không Toàn bộ dung môi chiết xuất sau đó được loại bỏ ra khỏi cao khô dược liệu bằng phương pháp cô quay tại áp suất thấp Các cao này sẽ được hòa loãng với các nồng độ khác nhau trong dung môi DMSO (dimethyl sulfoxyde) để đánh giá hoạt tính kháng khuẩn, cũng như xác định hàm lượng polyphenol và khả năng chống oxy hóa
Sử dụng phương pháp khuyếch tán trên đĩa thạch để xác định khả năng ức
chế sự phát triển của dịch chiết các loại dược liệu trên vi khuẩn Escherichia coli ATCC 25922, Geobacilus stearothermophilus ATCC 7953, Staphylococcus aureus ATCC 25023, Bacillus subtilis ATCC 6633, Pseudomonas aeruginosa
1,1-Kết quả nghiên cứu
Các dược liệu sử dụng trong nghiên cứu đều tạo đường kính vòng vô khuẩn với vi khuẩn Trong đó trầu không với các dung môi ethanol, methanol và
Trang 13xii
nước nóng đều cho kết quả đường kính vòng vô khuẩn cao nhất trên tất cả các vi khuẩn được thử nghiệm Có sự chêch lệch trong kết quả tạo vòng vô khuẩn khi thử với các chiết suất dung môi khác nhau Điều này phần nào giải thích ứng dụng của các dược liệu này trong y học cổ truyền cho mục đích chữa nhiễm khuẩn
Dịch chiết các dược liệu đều có chứa thành phần polyphenol và hoạt tính chống oxy hóa, trong đó trầu không cho kết quả khảo sát tốt hơn hẳn so với các dược liệu còn lại, điều đó cho thấy phần nào có mối liên hệ giữa hàm lượng các hợp chất này với khả năng kháng khuẩn của các dược liệu Bên cạnh đó khi chiết suất với các dung môi khác nhau chúng tôi cũng nhận thấy có sự chênh lệch nhất định về hàm lượng polyphenol và hoạt chất chống oxy hóa trong dược liệu Với chăn nuôi thú y, đây là các thành phần được cho là có thể tạo ra khả năng kích thích tăng trưởng và tăng cường miễn dịch cho vật nuôi
Trang 141
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Sự xuất hiện của tình trạng kháng thuốc kháng sinh đã trở thành mối quan tâm toàn cầu, đặt ra nhu cầu cấp thiết phải phát hiện ra các hợp chất kháng khuẩn mới với cấu trúc hóa học đa dạng và cơ chế hoạt động mới để thay thế thuốc kháng sinh trong điều trị các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn, (Mahesh and Satish, 2008) thực vật là một nguồn phong phú các chất kháng khuẩn và nhiều chất trong số đó đã được tìm thấy có hiệu quả trong việc chữa các bệnh do vi khuẩn gây ra và còn rất nhiều hoạt chất thứ cấp mà tự nhiên ưu đãi cho chúng ta còn chưa được khám phá hết bằng chứng là một hệ thống y học cổ truyền đồ sộ qua hàng ngàn năm sử dụng chữa trị bệnh và trách nhiệm của chúng ta là tìm ra các cơ sở của khoa học hiện đại cho nguồn dược liệu quý báu này (Đỗ Tất Lợi, 2004) Ngoài ra, cây thuốc được cho là có ít tác dụng phụ hơn, ít chất tồn dư hơn, khả năng kháng chậm hơn và cũng có thể làm tăng tỷ lệ sống của vật chủ Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã khảo sát tác dụng kháng khuẩn của 4 loại cây thuốc
Cây trầu không, rau má, khế, rau sam được dân gian sử dụng để chữa rất nhiều bệnh và dịch chiết của chúng được cho là có khả năng diệt khuẩn tốt Ngoài ra, các nhà khoa học cũng ngày càng quan tâm về thành phần polyphenol
và các hoạt chất chống oxy hóa có nguồn gốc thực vật do chúng có nhiều tác dụng tích cực trên sức khỏe Do đó trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng khảo sát cả hàm lượng polyphenol và khả năng chống oxy hóa của các dịch chiết thu được của những dược liệu này
1.2 MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU
Chứng minh tác dụng ức chế vi khuẩn của các dịch chiết các dược liệu rau sam, khế, trầu không, rau má khi chiết suất với các dung môi nước nóng, ethanol, và methanol Tìm ra mối liên quan giữa dung môi chiết suất với khả năng tạo đường kính vòng vô khuẩn
Trang 152
Khảo sát hàm lượng polyphenol và hoạt tính chống oxy hóa của dịch chiết các cây: rau má, khế, rau sam, trầu không khi chiết với các dung môi nước nóng, ethanol và methanol
Chọn ra dược liệu phù hợp nhất cho việc nghiên cứu sản xuất dược phẩm thử nghiệm chữa các bệnh do vi khuẩn gây ra và bảo vệ sức khỏe vật nuôi
Trang 16nó Điều này đã gây ra rất nhiều khó khăn trong việc tiêu diệt nó lần nữa vì mỗi loại vi khuẩn sẽ có sự đáp ứng tương tự với mỗi loại kháng sinh khác nhau
Từ xa xưa con người đã biết cách sử dụng thực vật xung quanh ta để làm thuốc trong vấn đề điều trị bệnh, những cây thuốc ấy được truyền lại từ đời này sang đời khác dựa vào những kinh nghiệm thực tế trong dân gian, đúc kết thành các bài thuốc có giá trị y học rất lớn cho sự phát triển Y học hiện nay
Ở xã hội hiện đại, máy móc kỹ thuật ngày càng phát triển, cùng với các tiến bộ khoa học, con người đã biết chiết xuất ra các hoạt chất chính có trong thảo dược để nâng cao hiệu quả phòng và trị bệnh Dần dần, các nhà khoa học
đã chế tạo được nhiều dược chất nhân tạo với số lượng lớn Tuy nhiên vẫn khó
có thể thay thế được vị trí của dược liệu thực vật trong phòng và điều trị bệnh,
và thực tế tác dụng dược lý của cây thuốc cũng có một số khác với tác dụng của chế phẩm nguyên chất được tách ra từ cây thuốc ấy Thông thường cơ thể chịu đựng thuốc có nguồn gốc từ thực vật sống tốt hơn thuốc tổng hợp có dược lý mạnh (Viện Dược liệu, 2005)
Trong những năm gần đây, khi dược lý học phân tử phát triển, khoa học
đã chứng minh rằng: một hợp chất thiên nhiên tồn tại lâu trong tế bào sống của thực vật khi được phân lập và sử dụng để điều trị bệnh nghĩa là được chuyển lại vào tế bào sống khác, chất đó có khả năng dung nạp, thích nghi tốt và ít có tác dụng phụ hơn các chất tổng hợp hóa học, bên cạnh đó thuốc có nguồn gốc thảo mộc có giá thành rẻ, dễ sử dụng, ít độc hại, hạn chế tồn dự thuốc trong cơ thể,
Dược liệu là nguồn cung cấp nguyên liệu cho việc bán tổng hợp một số hóa dược Chỉ riêng nhu cầu để bán tổng hợp các thuốc steroid, hàng năm thế
Trang 174
giới cần khoảng 100.000 tấn củ mài có chứa diosgenin Nhiều hoạt chất quan trọng như quinin, morphin, ajmanin, vincaleucoblastin, emetin, strychnin… đều phải chiết ra từ dược liệu mà chưa có thể đi bằng con đường tổng hợp Dược liệu còn mở đường cho hóa dược phát triển Ví dụ ephedrin là hoạt chất có trong cây
ma hoàng, dược liệu này đã được sử dụng cách đây 4000 năm, y học hiện đại mới biết cách đây vài thế kỷ Bắt trước thiên nhiên, hóa dược đi bằng con đường tổng hợp bằng cách ngưng tụ L-1- phenl-1-acetyl carbinon với methylamin để
có ephedrin Dựa vào cấu trúc của quinin trong canh ki na người ta tổng hợp nhiều chất trị sốt rét khác Dựa vào artemisinin được phân lập từ cây thanh cao hoa vàng các dẫn xuất artesunat, arteether và artemether, được bán tổng hợp cũng để điều trị bệnh sốt rét (Phạm Văn Chinh, 2008)
2.2 MỘT SỐ THÀNH TỰU TRONG NGHIÊN CỨU THUỐC THẢO DƯỢC
Việc nghiên cứu tác dụng chữa bệnh của một số vị thuốc không đơn giản, vì trong một vị thuốc đôi khi chứa rất nhiều hoạt chất, những hoạt chất đó
có lúc phối hợp hiệp đồng với nhau làm tăng cường và kéo dài tác dụng, nhưng đôi khi giữa chúng lại đối kháng nhau Vì vậy, tác dụng của một dược liệu không quy hẳn về một thành phần chính Sự thay đổi liều lượng cũng có thể ảnh hưởng đến kết quả chữa bệnh Trong đông y thường sử dụng phối hợp nhiều vị thuốc, hoạt chất của các vị thuốc sẽ tác động với nhau làm cho việc nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị càng khó khăn
Nghiên cứu tác dụng dược lý của thuốc trên động vật thí nghiệm là một khâu hết sức quan trọng Khi kết quả tác dụng dược lý phù hợp với những kinh nghiệm của nhân dân, chúng ta có thể yên tâm sử dụng những loại thuốc đó Trong trường hợp nghiên cứu một vị thuốc nhưng không có kết quả, chưa nên kết luận vị thuốc ấy không có tác dụng điều trị vì phản ứng của các cơ thể sinh vật là khác nhau Chính vì thế, những kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm phải được xác định trên lâm sàng, mà những kinh nghiệm chữa bệnh của
Trang 185
ông cha đã có từ hàng ngàn năm trở về trước là những kết quả thực tiễn có giá trị Nhiệm vụ của chúng ta là tìm ra cơ sở khoa học hiện đại của những kinh nghiệm đó (Đỗ Tất Lợi, 2004) Đối với việc nghiên cứu và ứng dụng thảo dược
có hiệu quả tốt trong phòng trị bệnh cho con người đã được nghiên cứu từ lâu và hiện đang rất phát triển, đối với việc nghiên cứu cho ra các thuốc thảo dược phòng trị bệnh cho động vật hiện còn rất khiêm tốn, chưa được quá chú trọng, quan tâm Tuy vậy, trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng không phải là không có thành tựu về việc nghiên cứu thảo dược được áp dụng cho động vật
Ấn Độ đã tiến hành nghiên cứu trong quy mô phòng thí nghiệm với 3 loại thảo
mộc Ocimum sanctum, Withania somniera và Myristik fragrans có ảnh hưởng kháng lại loài vi khuẩn Vibrio harvey gây bệnh trên cá Song Epinephelus tauvina Thí nghiệm được tiến hành với cá Song có trọng lượng 30 ± 0,5g, 3 loại
thảo mộc nêu trên được tách chiết trộn vào thức ăn cho cá ăn với các nồng độ tăng dần(100, 200, 400 và 800 mg/kg thức ăn) Các lô thí nghiệm đối chứng cho thấy tỷ lệ cá chết lên đến 100%, các lô thí nghiệm cho ăn với nồng độ 100, 200
đã giảm tỷ lệ chết 5%
Ở Việt Nam, trong quá trình theo dõi tính kháng thuốc của vi khuẩn
Salmonella, Bùi Thị Tho và Nguyễn Thanh Hải (2013) cho biết các vi khuẩn
trên kháng lại các thuốc hóa dược: Streptomycin, neomycin, chloramphenicol, tetraxyclin, rất nhanh, đồng thời còn xảy ra hiện tượng kháng chéo Vậy nên
tác giả đã sử dụng Phytoncid của tỏi và hẹ để điều trị bệnh do vi khuẩn E coli
và salmonella do chưa thấy sự kháng phytoncid của 2 loại khuẩn này Trong
phòng thí nghiệm thời gian tạo được chủng kháng phytoncid của tỏi và hẹ phải lâu hơn từ 3-7 lần so với thuốc hóa dược trị liệu và sức kháng tối đa của chủng
vi khuẩn khi đã kháng thuốc hóa dược trị liệu cũng rất cao Khi tăng nồng độ thuốc lên 120 lần thậm chí là cao hơn nữa đến 1300 lần so với nồng độ tạo kháng, vi khuẩn vẫn sống Ngược lại, vi khuẩn kháng phytoncid chỉ tăng nồng
độ lên 5 lần so với nồng độ tạo kháng, vi khuẩn đã bị tiêu diệt
Trang 196
Hai tác giả Thanh Van Nguyen and Hai Thanh Nguyen (2019) đã chứng minh thành công các tác dụng ức chế vi khuẩn của một số dược liệu phổ biến trong dân gian lên 20 chủng vi khuẩn khác nhau trong đó có cả các chủng đã kháng thuốc kháng sinh từ trước và mối quan hệ rất chặt chẽ của tính kháng sinh với các hoạt chất thiên nhiên có trong dược liệu, đã dần làm sáng tỏ các tác dụng
cổ truyền của dược liệu Việt Nam
2.3 CÁC DƯỢC LIỆU SỬ DỤNG
2.3.1 Cây Trầu không
Tên khoa học : Piper betle
Họ: piperaceae
Giới: plantae
Hình 2.1 : Cây trầu không và lá dùng làm dược liệu Đặc điểm: Lá trầu không có vị cay nồng, mùi thơm hắc, tính ấm có công dụng sát khuẩn, tiêu viêm và sát trùng rất tốt Trong lá trầu không chứa tinh dầu
và chất tanin có công dụng diệt khuẩn cũng như ức chế ức chế các loại nấm, vi khuẩn phát triển Trầu không là một loại cây mọc leo thân nhẵn, lá mọc so le, cuống có bẹ dày 1,5 – 3,5 cm, phiến lá hình trái xoan dài 10 – 13 cm, rộng 4,5 –
9 cm, phía cuống hình tim, đầu lá nhọn, khi soi lên thấy nhiều điểm chứa tinh dầu rất nhỏ Trong lá trầu không có 0,8 – 1,8 % có khi đến 2,4 % tinh dầy tỷ
Trang 207
trọng 0,958 – 1,0057 thơm mùi củ đốt, vị nóng Trong tinh dầu người ta xác định có hai chất phenol và hợp chất phenolic khác Cây trầu không được trồng nhiều nơi ở nước ta và có thói quen trồng lấy lá để ăn trầu Nó còn được trồng nhiều ở các nước châu Á, vùng nhiệt đới như Malaixxian, Philipine Trầu không
có tác dụng kháng sinh rất mạnh đối với một số loại vi trùng như tụ cầu và vi khuẩn trực tràng (Đỗ Tất Lợi, 2004)
2.1.2 Cây Rau má
Tên gọi khác: Tích tuyết thảo, lôi công thảo hay liên tiền thảo
Tên khoa học: Centella asiatica (L.) Urban, Hydrocotyle asiatica L
Họ: Hoa tán (Apiaceae)
Hình 2.2: Cây rau má sử dụng làm dược liệu Đặc điểm: rau má là loại cây thân thảo, có nguồn gốc từ đất nước Úc, các đảo Thái Bình Dương, quần đảo New Guinea, Melanesia, Malesia và châu Á Loại rau này có hình dạng giống như những đồng tiền tròn, xếp nối nhau Do đó,
nó còn có tên gọi khác là liên tiền thảo Đây là cây thân nhỏ, mọc bò ở khắp nơi, nhất là chỗ ẩm mát Thân cây rất mảnh, lá mọc so le, thường tụ khoảng 2 – 5 lá
ở một mấu Hoa của cây có màu trắng trong khi quả lại có màu nâu đen Đây là một loại thảo dược thường được sử dụng trong y học cổ truyền Trung Quốc và Ayurvedic Các bộ phận trên mặt đất của cây được sử dụng làm thuốc để điều trị nhiễm trùng do vi khuẩn, virus hoặc ký sinh trùng như nhiễm trùng đường tiết
Trang 212.1 3 Cây Rau sam
Tên gọi khác: Mã xỉ hiện, mã xỉ thái, trường thọ thái, …
Tên khoa học: Portulaca oleracea L
Họ: Rau sam (Portulacaceae)
Hình 2.3: Cây rau sam được sử dụng trong thí nghiệm Rau sam là loài thực vật thân cỏ, mọc bò, thân mầm, trơn nhẵn và sống nhiều năm Thân cây có màu đỏ tía, chiều dài trung bình từ 10 – 30cm Lá của cây trơn bóng, có hình bầu dục dài, phía cuống nhọn và thường không có cuống
Lá rau sam rộng khoảng 8 – 14mm và dài khoảng 1.5 – 2cm Lá có xu hướng
Trang 229
mọc vòng và bao quanh các hoa Hoa thường mọc ở đầu ngọn, không có cuống, nhỏ và có màu vàng tươi Quả có hình cầu, bên trong chứa nhiều hạt màu đen bóng Rễ rau sam gồm có rễ cái và nhiều rễ con dạng sợi Loài thực vật này dễ phát triển và có thể sinh sống ở những vùng đất khô hạn, cứng và nghèo dinh dưỡng
Trong y học cổ truyền rau sam có tác dụng kích thích tiêu hóa, kháng khuẩn, tiêu thũng, giải độc, thanh nhiệt, mẩn ngứa ngoài da, viêm nhiễm đường tiết liệu, nhiễm giun sán, lỵ, đầy bụng Còn theo nghiên cứu hiện đại có tác dụng ngăn chặn sự phát triển của vi khuẩn thương hàn và trực khuẩn lỵ Hàm lượng axit béo Omega 3 trong rau sam có tác dụng tăng cường miễn dịch, bảo vệ mạch máu, giảm cholesterol và ngăn ngừa bệnh tim mạch Các nguyên tố vi lượng như kẽm, mangan, magie và đồng trong dược liệu có tác dụng chống khối u Thành phần hoạt hóa thần kinh DOPA, dopamine trong loại rau này có tác dụng tăng
cường trí nhớ và cải thiện mức độ tập trung (Zhou et al., 2015)
2.1.4 Cây Khế
Tên khoa học: Averrhoa carambola
Tên dược: Fructus Averrhoa carambola
Họ: Chua me đất (danh pháp khoa học: Oxalidaceae)
Khế là cây gỗ thường xanh, chiều cao trung bình từ 8 – 12m Lá hình kép lông chim, mỗi lá gồm khoảng 3 – 5 đôi lá chét, phiến lá chét hình trái xoan, mỏng, mép lá nguyên Hoa mọc thành chùm sim, cụm hoa ngắn, hình cầu, thường mọc ở nách lá Hoa có màu tím hoặc hồng xen lẫn trắng Quả có kích thước lớn, 5 cạnh, khi cắt ra có hình ngôi sao năm cánh Cây khế thường ra hoa vào tháng 4 – 8 và sai quả vào tháng 10 – 12
Trong Đông y quả khế có tác dụng lợi tiểu, tăng tiết nước bọt, tiêu viêm, long đờm, thanh nhiệt, giải uế, khử phong rễ tác dụng chỉ thống và trừ phong
Trang 23khuẩn thường gặp như E coli, Salmonella typhi, Microbial bacillus cereus, …
Lá khế có đặc tính sát trùng, kháng viêm (Huỳnh Anh Duy và Nguyễn Thị Tuyết Nhi, 2018) giảm dị ứng, có thể dùng để chữa ung nhọt, bệnh chàm, rôm sảy ở trẻ nhỏ Vitamin B9, B5 và vitamin A trong quả khế có tác dụng bảo vệ thành mạch, làm sạch mạch máu và ngăn ngừa các bệnh lý về tim
Hình 2.4: Lá khế sử dụng trong thí nghiệm
2.4 CƠ SỞ CỦA VIỆC SỬ DỤNG DUNG MÔI TRONG CHIẾT XUẤT DƯỢC LIỆU
Trong quá trình chiết xuất dược liệu thì việc sử dụng dung môi thích hợp
là yếu tố quyết định quan trọng tới chất lượng của dịch chiết xuất, nó đóng vai trò như một nhân tố giúp hòa tan các chất tan có trong dược liệu, chủ yếu là các hoạt chất có tác dụng điều trị, sau đó tách chúng ra khỏi phần không tan của dược liệu, phần dung môi đã hòa tan các chất tan được gọi là dịch chiết, phần không tan của dược liệu được gọi là dược liệu Các chất có tác dụng điều trị trong dược liệu (alcaloid, glycosid, vitamin, tinh dầu…) được gọi là hoạt chất,
Trang 24có độ nhớt thấp, sức căng bề mặt nhỏ), hòa tan chọn lọc (hòa tan nhiều hoạt chất, ít tạp chất), trơ về mặt hóa học (không làm biến đổi hoạt chất), không gây khó khăn trong quá trình bảo quản, không bị phân hủy bởi nhiệt độ cao, phải bay hơi được khi cần cô đặc dịch chiết, hạn chế làm ra thành phẩm có mùi, vị đặc biệt, đảm bảo ản toàn trong quá trình chiết suất, rẻ tiền, dễ kiếm Dựa trên các tiêu chí trên thì có rất nhiều loại dụng môi có sử dụng trong chiết xuất dược liệu, trong đó có một số dung môi phổ biến là: nước, glycein, methanol, ethanol, aceton, benzen, hexan, … tùy thuộc vào tính chất của loại dược liệu và quy trình chiết xuất sẽ chọn ra loại dung môi phù hợp nhất Trong khuôn khổ nghiên cứu này chúng tôi đã lựa chọn được ba loại là nước, ethanol và methanol làm dung môi chiết xuất dược liệu và tiến hành so sánh nhằm chọn ra loại tối ưu nhất qua kết quả tạo vòng vô khuẩn cũng như hàm lượng polyphenol và hoạt tính chống oxi hóa của dược liệu thí nghiệm