Trong bài báo tường thuật cuộc gặp của Bác với cán bộ, chiến sĩ Đạiđoàn quân Tiên phong đăng trên báo Nhân dân, nhà báo Thép Mới đã lần đầutiên trích lời của Người “Ngày xưa các vua hùng
Trang 1Bài dự thi “60 năm nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
Câu hỏi 1:
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói với cán bộ chiến sĩ một đơn vị quân đội
“Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhua giữ lấy nước”
Bác Hồ đã nói câu đó ở đâu, vào thời gian nào, với cán bộ, chiến sĩ đơn vị nào?
Thời kỳ Nhà nước Văn Lang (Hùng Vương) và Nhà nước Âu Lạc (An Dương Vương) thuộc giai đoạn nào trong lịch sử nước ta?
Trong bài báo tường thuật cuộc gặp của Bác với cán bộ, chiến sĩ Đạiđoàn quân Tiên phong đăng trên báo Nhân dân, nhà báo Thép Mới đã lần đầutiên trích lời của Người “Ngày xưa các vua hùng đã có công dựng nước, ngàynay Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”
Các kết quả nghiên cứu khảo cổ học, dân tộc học đã chứng minh từbuổi bình minh của xã hội loài người, trên lãnh thổ nước ta đã xuất hiệnnhững cư dân nguyên thuỷ
Sau hàng chục vạn năm gian khổ lao động và sáng tạo, từ những công
cụ thời đã cũ thô sưo tiến đến sự phát minh ra kỹ thuật luyện kim và nghềtrồng lúa nước, dùng cày có sức kéo là trâu, bò; đời sống vật chất và tinh thần
Trang 2của người nguyên thuỷ Việt Nam ngày càng được nâng cao, từng bước làmthay đổi bộ mặt xã hội, hình thành một lãnh thổ chung, một nền văn hoá, vănminh chung và một tổ chức chính trị, xã hội chung, đó là quốc gia và Nhànước Văn Lang - Âu Lạc.
Đây là thời kỳ mở đầu lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta
Câu hỏi 2:
Trong quá trình dựng nước và giữ nước, nhân dân ta đã nhiều lần đứng lên đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành chủ quyền, bảo vệ độc lập cho đất nước.
Hãy kể tên những cuộc khởi nghĩa và những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm tiêu biểu trong lịch sử từ cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (năm 40) đến Chiến thắng mùa Xuân năm Kỷ Dậu – 1789 (Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh).
Trả lời:
Trong quá trình dựng nước và giữ nước, nhân dân ta đã nhiều lần đứnglên đánh đuổi giặc ngoại xâm giành chủ quyền, bảo vệ độc lập cho đất nước.Dưới đây là một số cuộc khởi nghĩa và kháng chiến chống ngoại xâm tiêubiểu trong lịch sử, từ cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (năm 40) đến Chiếntháng mùa Xuân năm Kỷ Dậu – 1789 (Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh)
- Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm 40- 43)
Trưng trắc, Trưng Nhị là hai con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh,thuộc dòng dõi Hùng Vương Tháng 3 năm 40 sau Công nguyên, Trưng Trắccùng Trưng Nhị phát động khởi nghĩa ở cửa sông Hát trên sông Hồng, thuộchuyện Phúc Thọ, Hà Tây ngày nay Dưới sự lãnh đạo của hai Bà, nhiều cuộckhởi nghĩa địa phương được thống nhất thành một phong trào rộng lớn, từmiền xuôi đến miền núi, bao gồm người Việt và các dân tộc khác trong nước
Âu Lạc cũ Trong hàng ngũ tướng lĩnh của nghĩa quân có rất nhiều phụ nữ
Trang 3Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng giành được thắng lợi , nền độc lập dântộc được phục hồi, Trưng Trắc được suy tôn làm vua (Trưng Vương) đóng đô
ở Mê Linh, giữ được quyền tự chủ trong 3 năm
- Khởi nghĩa Bà Triệu năm ( năm 428)
Là đỉnh cao của phong trào chống xâm lược của nhân dân ta thế kỷ II,III Khởi nghĩa nổ ra trong lúc bọn đô hộ có lực lượng hùng mạnh đã củng cốđược ách thống trị trên đất nước ta và đang đẩy mạnh dã tâm đồng hoá dântộc ta
Bà Triệu tên là Triệu Thị Trinh, em ruột của Triệu Quốc Đạt, một thủlĩnh có thế lực ở Quân An, quận Cửu Chân (huyện Triệu Sơn- Thanh Hoá).Năm 19 tuổi, bà cùng anh tập hợp nghĩa sĩ lên đỉnh núi Nưa, mài gươm,luyện võ, phất cờ khởi nghĩa Nhân dân hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân đã nổidậy hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu, đánh thắng quân Ngô nhiềutrận Nhà Ngô lo sợ phải đưa thêm 8000 quân sang nước ta đàn áp phong tràokhởi nghĩa Bà Triệu Thị Trinh đã hy sinh trên núi Tùng (Phú Điền, Hậu Lộc,Thanh Hoá)
- Khởi nghĩa Lý Bí (năm 542)
Giữa thế kỷ VI, phong trào khởi nghĩa chống ngoại xâm của nhân dân
nổ ra khắp nơi, đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa của Lý Bí dẫn tới thành lập nướcVạn Xuân Lý Bí quê ở Long Hưng tỉnh Thái Bình Mùa Xuân năm 542 cuộckhởi nghĩa do Lý Bí lãnh đạo nổ ra và không đầy 3 tháng đã quét sạch bè lũ
đô hộ nhà Lương Mùa Xuân năm 544 Lý Bí tuyên bố thành lập nước, đặtquốc hiệu là Vạn Xuân Ông lên ngôi Hoàng đế, tự xưng là Nam đế (vua nướcNam) ít năm sau, cuộc kháng chiến bảo vệ chủ quyền đất nước của Lý Nam
Đế thất bại, ông bị bệnh mất tháng 4- 548
- Khởi nghĩa Triệu Quang Phục (548- 571).
Trang 4Triệu Quang Phục là con một tù trưởng, quê ở Hưng Yên hiện nay,được Lý Bí (Lý Nam Đế) trao quyền lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quânnhà Lương Ông lập căn cứ kháng chiến tại vùng Dạ Trạch, tổ chức đánh dukích, tiêu hao sinh lực địch Năm 550, nghĩa quân đã giết được tướng giặc làDương San, chiếm thành Long Biên.
Ngày 13/ 4/ 548, Triệu Quang Phục lên ngôi vua, xưng hiệu là TriệuViệt Vương
Năm 571, Triệu Quang Phục bị Lý Phật Tử phản bộ, thua chạy và tuầntiết ở cửa biển Đại Nha
- Khởi nghĩa Lý Tự Tiên và Đinh Kiến (687)
Lý Tự Tiên đã phát động một cuộc khởi nghĩa lớn vào năm 687 chốngách đo hộ của nhà Đường Lý Tự Tiên hy sinh, nhưng các cộng sự của ôngnhư Đinh Kiến, Tư Thân vẫn tiếp tục lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Nghĩa quânvây phủ thành Tống Bình (Hà Nội) Viện binh của nhà Đường đàn áp dã man,nghĩa quân tan vỡ
- Khởi nghĩa Mai Thúc Loan (722).
Mai Thúc Loan quê ở Mai Phụ, miền ven biển Thạch Hà, Hà Tĩnh (cósách chép ở Thiên Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh sau theo mẹ đến sống ởNam Đàn, tỉnh Nghệ An) Năm 722 ông kêu gọi những người dân phu nổi dậychống lại ách thống trị của nhà Đường Nhân dân khắp các châu Hoan, ái(Diễn Thanh – Nghệ Tĩnh) tụ tập dưới cờ khởi nghĩa, buộc tên trùm đo hộiQuang Sở Khanh tháo chạy về nước Đất nước được giải phóng, Mai ThúcLoan xưng đế và đóng đô ở thành Vạn An Sử gọi ông là Mai Hắc Đế
- Khởi nghĩa Phùng Hưng (766- 791)
Phùng Hưng là hào trưởng đất Đường Lâm (xã Cao Lâm, Ba Vì, HàTây) đã phát động cuộc khởi nghĩa lớn chống chính quyền đô hộ triều nhàĐường Ba anh em Phùng Hưng, Phùng Hải, Phùng Dĩnh lãnh đạo nghĩa quân
Trang 5nổi dậy làm chủ Đường Lâm và đánh chiếm một vùng đất rộng lớn, xây dựngthành căn cứ đánh giặc Cuộc khởi nghĩa kéo dài 20 năm, có thời gian đãchiếm được thành Tống Bình (Hà Nội) ông được tôn là Bố Cái Đại Vương.
- Khởi nghĩa Khúc Thừa Dụ – Khúc Hạo ( 905 – 917).
Khúc Thừa Dụ là một hào trưởng quê ở Cúc Bồ, Ninh Thanh, HảiDương, lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa, chiếm thành Tống Bình (Hà Nội),đuổi giặc về nước, tự xưng là Tiết độ sứ, Nhà đường buộc phải công nhận ông
là người đứng đầu nước Việt
Năm 907, Khúc Thừa Dụ truyền ngôi cho con là Khúc Hạo, Nhà HậuLương cũng phải công nhận Khúc Hạo là An Nam đô hộ tiết độ sứ
Năm 917, Khúc Hạo truyền ngôi cho con là Khúc Thừa Mỹ, KhúcThừa Mỹ bị nhà Nam Hán đánh bại vào năm 923
- Khởi nghĩa Dương Đình Nghệ ( 931- 938).
Dương Đình Nghệ (có sách chép Dương Diên Nghệ) người ái Châu(Thanh Hoá), tướng của họ Khúc, khởi binh đánh duổi quan Nam Hán giảiphóng Thành Đại La, giành chính quyền tự chủ cho đất nước được 6 năm.Ông bị nội phân sát hại năm 938
- Cuộc kháng chiến của Ngô Quyền chống quân Nam Hán (938)
Ngô Quyền sinh năm 897 ở đất Đường Lâm, Ba Vì, Hà Tây, cùng quêvới Phùng Hưng, là Tuỷ tướng đồng thời là con rể của Dương Đình Nghệ.Khi Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn giết hại, ông dấy binh giết tên bánnước này và tổ chức kháng chiến chống đạo quân xâm lược Nam Hán doHoàng Thao chỉ huy
Tháng 11/ 938, Ngô Quyền bố trí trận địa cọc trên sông Bạch Đằng,giết Hoàng Thao, đánh tan quân xâm lược (sử gọi đây là chiến thắng BạchĐằng lần thứ nhất)
Trang 6Sau chiến thắng Bạch Đằng, Ngô Quyền xưng vua (Ngô Vương), đóng đô
ở Cổ Loa (Hà Nội) mở đầu giai đoạn tự chủ lâu dài của nước ta ông mất năm944
- Cuộc kháng chiến chống quân Tống của Lê Hoàn (981).
Sau khi dẹp loạn 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi vua, lấy hiệu làTiên Hoàng đế (Đinh Tiên Hoàng) đóng đô ở Hoa Lư, đặt tên nước là Đại CổViệt Năm 979, ông và con ông bị kẻ gian sát hại
Nhân cơ hội này, nhà Tống cho quân sang xâm lược nước ta Trước hoạngoại xâm, thập đạo tướng quân Lê Hoàn được trao ngôi vua, lấy hiệu là LêĐại Hành, sử gọi là Triều Tiền Lê Đầu năm 981 quân Tống theo hai đườngthuỷ, bộ tiến quân vào nước ta Lê Hoàn trực tiếp tổ chức và lãnh đạo cuộckháng chiến Cuộc kháng chiến đã giành được thắng lợi rực rỡ, đánh bại nguy
cơ xâm lược của nước ngoài, giữ vững nền độc lập của dân tộc
- Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống thời nhà Lý ( 1077).
Năm 1075 nhà Tống âm mưu khởi binh xâm lược nước ta một lần nữa.Với cương vị Phụ quốc Thái uý nắm tất cả binh quyền trong triều nhà Lý, LýThường Kiệt trực tiếp tổ chức, lãnh đạo cuộc kháng chiến Cuộc kháng chiếnkết thúc thắng lợi Độc lập chủ quyền và lãnh thổ của Tổ quốc được giữ vững.Trong khoảng 200 năm sau nhà Tống không dám mang quân xâm lược nước
ta Năm 1164 nhà Tống phải công nhận nước ta là một vương quốc độc lập
- Cuộc kháng chiến lần thứ nhất chống quân xâm lược Nguyên – Mông (năm 1257).
Vào thời Trần, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của các tướng lĩnh triềuTrần nổi bật là Trần Quốc Tuấn (Trần Hưng Đạo) tiến hành cuộc kháng chiếnlần thứ nhất chống đội quân xâm lược Nguyên – Mông Âm mưu xâm lượcĐại Việt của đế quốc Nguyên - Mông bị đánh bại, gọng kìm từ nước ta tiến
Trang 7công lên phía Nam Trung Quốc bị bẻ gãy Cuộc kháng chiến thắng lợi đã đểlại nhiều bài học quý giá về tổ chức, lãnh đạo kháng chiến.
- Cuộc kháng chiến lần thứ hai chống quân xâm lược Nguyên – Mông ( 1285)
Vua Trần Nhân Tông giao trọng trách tổ chức và lãnh đạo cuộc khángchiến cho Trần Quang Khải, Trần Quốc Tuấn Cuối tháng 1/ 1285 các mũitiến công của Nguyên – Mông vượt qua biên giới vào nước ta Tháng 5/ 1285cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn phân công Sau hai tháng chiến đấu quyếtliệt của quân và dân ta, cuối tháng 6/ 1285, khoảng nửa triệu quân xâm lược đã bịquét sạch Thắng lợi vang dội ở Hàm Tử, Chương Dương Tây kết đã được ghivào lịch sử như những chiến công chói lọi mãi mãi làm nức lòng nhân dân ta
- Cuộc kháng chiến lần thứ ba chống quân xâm lược Nguyên – Mông (1287).
Hai lần xâm lược Đại Việt đều bị đánh bại Hốt Tất Liệt bãi bỏ kếhoạch tấn công Nhật Bản, dồn lực lượng xâm lược nước ta Tháng 12/ 1287quân Nguyên – Mông từ ba hướng tiến vào nước ta Chiến thắng Vân Đồn doTrần Khánh Dư chỉ huy đã tiêu diệt toàn bộ đoàn thuyền tải lương của địch,làm thất bại ngay từ đầu âm mưu và kế hoạch xâm lược của chúng Cuộcphản công chiến lược và chiến thắng lịch sử Bạch Đằng đã đập tan cuộc xâmlược lần thứ ba của kẻ thù
Như vậy, trong vòng 30 năm (1258-1288) dân tộc ta đã ba lần đươngđầu và đánh thắng đạo quân xâm lược của đế quốc Nguyên – Mông khét tiếnghùng mạnh
- Cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược dưới triều Hồ 1407)
(1400-Nhà Minh đã lợi dụng sự suy yếu của Vương triều Trần tiến hành hoạtđộng do thám khiêu khích Ngày 19/11/ 1406 quân Minh vượt biên tiến vào
Trang 8nước ta Hồ Quý Ly tổ chức kháng chiến nhưng cuộc kháng chiến do nhà Hồlãnh đạo thất bại nhanh chóng (sau 6 tháng)
- Lê Lợi và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.
Năm 1416 tại núi rừng Lam Sơn (Thọ Xuân, Thanh Hoá) Lê Lợi cùng
18 người bạn chiến đấu làm lễ tuyên thệ nguyện một lòng sống chết vì sựnghiệp đuổi giặc cứu nước Lễ tuyên thệ đó đặt cơ sở đầu tiên cho cuộc khởinghĩa Lam Sơn
Ngày 7/2/ 1418 Lê Lợi và toàn thể nghĩa quân dựng cờ khởi nghĩa ởLam Sơn Lê Lợi tự xưng là Bình Định Vương truyền hịch đi khắp nơi kêuhỏi nhân dân nổi lên đuổi giặc cứu nước
Dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi và Nguyễn Trãi, nghĩa quân Lam Sơn tiếnvào giải phóng Nghệ An, xây dựng căn cứ địa, mở rộng khu vực giải phóng.Chỉ trong hơn một năm, nghĩa quân Lam Sơn đã liên tiếp giành được nhữngthắng lợi to lớn và phát triển vượt bậc về mọi mặt Khu vực giảiphóng được
mở rộng từ Thanh Hoá đến đèo Hải Vân Lực lượng của nghĩa quân hùngmạnh có hành vạn quân cả bộ binh, thuỷ binh, kỵ binh, tượng binh
Khởi nghĩa Lam Sơn đã phát triển thành cuộc chiến tranh giải phóngdân tộc, quy mô trên cả nước Chiến thắng Chi Lăng- Xương Giang tiêu diệthoàn toàn 10 vạn quân tiếp viện của nhà Minh, có ý nghĩa quyết định thắnglợi của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc sau 10 năm chiến đấu bền bỉ,ngoan cường
- Phong trào Tây Sơn và cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Xiên, chống quân xâm lược Mãn Thanh thắng lợi (1771- 1784).
Phong trào Tây Sơn do ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, NguyễnHuệ lãnh đạo Với chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút, quân dân ta dưới sựlãnh đạo tài tình của Nguyễn Huệ đập tan âm mưu can thiệp của phong kiếnXiêm Phong trào Tây Sơn giành thắng lợi ở các tỉnh phía Nam và sau đó phát
Trang 9triển ra Đảng ngoài diệt Trịnh thống nhất Tổ quốc Lờy cớ đáp ứng cầu việncủa Lê Chiêu Thống, quân Thanh kéo đại binh xâm lược nước ta.
Mùa Xuân Kỷ Dậu – 1789, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo tài tình củaQuang Trung đã vùng lên quét sạch 20 vạn quân xâm lược Mãn Thanh, giảiphóng Thăng Long, giải phóng Tổ quốc Đây là chiến công vĩ đại và hiểnhách vào bậc nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc
Câu hỏi 3:
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bản Tuyên ngôn độc lập khia sinh nước ViệtNam Dân chủ Cộng hoà ở đâu? Vào thời gian nào? ý nghĩa trọng đại của bảnTuyên ngôn độc lập?
Trả lời:
Sáng ngày 26/ 8/ 1945, tại ngôi nhà số 48 Hàng Ngang, Hà Nội, Chủtịch Hồ Chí Minh đã triệu tập và chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ươngĐảng Trong cuộc họp này, Người nhất trí với Thường vụ Trung ương Đảng
về những chủ trương đối nội và đối ngoại trong tình hình mới, về việc sớmcông bố danh sách thành viên chính phủ lâm thời Người đề nghị mở rộng hơnnữa thành phần chính phủ lâm thời, chuẩn bị Tuyên ngôn độc lập và tổ chứcmít tinh lớn ở Hà Nội để Chính phủ ra mắt nhân dân, cũng là ngày nước ViệtNam chính thức công bố quyền độc lập và thiết lập chính thể dân chủ cộnghoà
Ngày 30/ 8/ 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời một số đồng chí đến traođổi, góp ý kiến cho bản Tuyên ngôn độc lập do Người soạn thảo
Ngày 31/ 8/ 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh bổ sung một số điểm vào dựthảo Tuyên ngôn độc lập
Ngày 2/9/ 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lậptrong cuộc mít tinh trước hàng chục vạn đồng bào Thủ đô, tại vười hoa BaĐình khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
Trang 10Tuyên ngôn độc lập có ý nghĩa lịch sử trọng đại.
Tuyên ngôn độc lập đã khẳng định một chân lý lịch sử: “Tất cả các dântộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống,quyền sung sướng và quyền tự do”
- Tuyên ngôn độc lập là bản khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộnghoà, là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là bản “Thiên cổ hùngvăn” kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường, bất khuất của dân tộc ta, là bảnanh hùng ca mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam- kỷ nguyên độc lập
tự do và góp phần làm phong phú về quyền tự quyết của các dân tộc trên thếgiới – Quyền độc lập tự do
- Tuyên ngôn độc lập là văn bản pháp lý quan trọng đầu tiên khai sinh
ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, khẳng định quyền tự do, độc lập củanhân dân ta trước toàn thế giới
- Tuyên ngôn độc lập khẳng định ý chí và tinh thần dũng cảm, kiêncường, bất khuất của toàn thể dân tộc Việt Nam nhằm bảo vệ quyền độc lập,
tự do, dân chủ của mình Đó là ý chí “Không có gì quý hơn độc lập tự do”!
vì nhân dân”?
Trả lời:
Trang 11Từ năm 1945 đến nay, nước ta đã qua 11 khoá bầu cử Quốc hội.
1 Quốc hội khoá I
Ngày 6/1/ 1946, Tổng tuyển cử đầu tiên trong cả nước bầu ra Nghị việnnhân dân (Quốc hội khoá I)
Quốc hội khoá I đã ban hành Hiến pháp đầu tiên, “Hiến pháp nước ViệtNam Dân chủ Cộng hoà năm 1946, (thông qua Kỳ Đại hội thứ nhất ngày9/11/ 1946) và “Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà năm 1959”ngày 31/ 12/ 1959
2 Quốc hội khoá 2 (8/5/ 1960 – 26/4/ 1964)
3 Quốc hội khoá 3 (26/4/ 1964 – 11/4/ 1971)
4 Quốc hội khoá 4 (11/ 4/ 1971- 6/4/ 1975)
5 Quốc hội khoá 5 (6/4/ 1975 – 26/4/ 1976)
6 Quốc hội khoá 6 (25/4/ 1976 – 26/4/ 1981), Quyết định đổi tên nước
ta thành nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
7 Quốc hội khoá 7 (26/4/ 1981- 19/4/ 1987)
8 Quốc hội khoá 8 (19/4/ 1987- 19/4/ 1992), thông qua bản Hiến phápnước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 tại kỳ họp ngày 15/4/ 1992
9 Quốc hội khoá 9 (19/ 7/ 1992 – 20/7/ 1997)
10 Quốc hội khoá 10 (20/7/ 1997 – 19/5/ 2002), kỳ họp thứ 10 đãthông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
11 Quốc hội khoá 11 (19/5/ 2002 – tới nay)
Từ năm 1946 đến nay, nước ta có 4 bản Hiến pháp
Trang 12Nội dung các bản Hiến pháp đã khẳng định ngay từ đầu tính chất cơbản của Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân Điềunày đã được thể hiện cụ thể:
* Hiến pháp 1946: Về mặt chính thể đã khẳng định: “Nước Việt Nam làmột nước Dân chủ Cộng hoà Tất cả quyền bính trong cả nước là của toàn thểnhân dân”
Nghĩa vụ và quyền lợi công dân được ghi nhận rõ ràng: “Tất cả côngdân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện chính trị, kinh tế, vănhoá” (Điều 6) “Tất cả công dân đều bình đẳng trước pháp luật, đều đượctham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc…” (Điều 8) “Nam nữ bìnhquyền về mọi phương diện” (Điều 9) “Công dân Việt Nam có quyền: Tự dongôn luận: tự do xuất bản; tự do tổ chức và hội họp; tự do tín ngưỡng; tự do
cư trú, đi lại trong nước và ngoài nước” (Điều 10)
- Thực hiện chế độ bầu cử, phổ thông đầu phiếu tự do, trực tiếp và bỏphiếu kín (Điều 17 Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu mình đã bầu ra, cóquyền phủ quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia(Điều 21)
- Nghị viện nhân dân là do công dân Việt Nam bầu ra, là cơ sở cóquyền cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Nghị viện có quyềnlập hiến và lập pháp
* Hiến pháp 1959: Kế thừa những điều đã quy định ở Hiến pháp 1946
và xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ và tính chất của Nhà nước ta
- Điều 4, ghi: “Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam dân chủ cộng hoàđều thuộc về nhân dân Nhân dân sử dụng quyền của mình thông qua Quốchội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhan dân bầu ra và chịu trách nhiệmtrước nhân dân”
Trang 13Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các cơ quan Nhà nước đềuthực hành nguyên tắc tập trung dân chủ”.
- Điều 5, ghi: Đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp
có thể bị cử tri bãi miễn trước khi hết nhiệm kỳ nếu tỏ ra không xứng đángvới sự tín nhiệm của nhân dân”
- Điều 6, ghi: “Tất cả các cơ quan Nhà nước đều phải dựa vào nhân dân,liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhândân”
Tất cả các nhân viên cơ quan Nhà nước đều phải trung thành với chế độdân chủ nhân dân, tuân theo Hiến pháp và pháp luật gây thiệt hại cho Nhànước hay cho nhân dân
* Hiến pháp 1980: Đây là bản Hiến pháp thể chế hoá Nghị quyết Đạihội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam mang tên làHiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lời nói đầu bản Hiếnpháp này đã chỉ rõ: “Là luật cơ bản của Nhà nước, Hiến pháp này đã quy địnhchế độ chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội, quyền và nghĩa vụ của công dân, cơcấu tổ chức và nguyên tắc hoạt động của các cơ quan Nhà nước Nó thể hiệnmối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý trong
xã hội Việt Nam”
Thể chế và tổ chức bộ máy Nhà nước ở cấp Trung ương đã thể hiện tưtưởng làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa do Đại hội IV đề ra
- Điều 3, ghi: “ở nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, người làmchủ tập thể là nhân dân lao động bao gồm giai cấp công nhân, giai cấp nôngdân tập thể, tầng lớp tri thức xã hội chủ nghĩa và những người lao động khác
mà nòng cốt là Liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo”
Trang 14- Điều 4, ghi: “Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnhđạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội: là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cáchmạng Việt Nam”.
- Hiến pháp 1980 quy định Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất củanhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp,quyết định những chính sách cơ bản của Nhà nước về đối nội, đối ngoại, nhữngmục tiêu phát triển kinh tế, văn hoá, những nguyên tắc tổ chức và hoạt động chủyếu của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân
Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt độngcủa Nhà nước
Bản Hiến pháp này có quy định tổ chức Hội đồng Nhà nước và Hộiđồng Bộ trưởng, Chính phủ của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
* Hiến pháp 1992: Thể hiện đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản ViệtNam và thể hiện rõ tính chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa củadân, do dân và vì dân Cụ thể:
- Điều 2, ghi: “Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước củanhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc vềnhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân
Trang 15nhân trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng” Đáng chú ý là,Điều 21 đã quy định: “Kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân được chọn hìnhthức tổ chức sản xuất kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp không bị hạnchế về quy mô hoạt động trong những ngành nghề có lợi cho quốc tế dân sinh.Kinh tế gia đình được khuyến khích phát triển”.
Điều 23 quy định: “Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bịquốc hữu hoá” Trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh, lợi íchquốc gia, Nhà nước trưng mua, trưng dụng theo luật định
Các quyền tự do, dân chủ và nghĩa vụ công dân đã được xác định rõ vàđầy đủ hơn, thể hiện tính chất cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa của dân, do dân và vì dân trong Chương V
Tại kỳ họp thứ 10, khoá X, Bản Hiến pháp 1992 đã sửa đổi, bổ sungmột số điều
Điều 2 bản Hiến pháp 1992 được sửa đổi, bổ sung như sau: “Nhà nướccộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân…”
Câu hỏi 5:
Quốc kỳ và quốc ca của nước ta ra đời trong hoàn cảnh nào? Do ai sáng tác? ý nghĩa lịch sử của nó?
Trả lời:
1 Quốc kỳ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Quốc kỳ của nước ta nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng 5 cánh
Nhiều tài liệu, có trong danh mục sách tham khảo) khẳng định cờ đỏsao vàng (quốc kỳ hiện nay) xuất hiện lần đầu tiên trong Khởi nghĩa Nam kỳcuối năm 1940 Từ ngày 21 đến 27 tháng 7 năm 1940, Xứ uỷ Nam Kỳ ĐảngCộng sản Đông Dương (Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay) họp tại ấp Tân
Trang 16Thiện, xã Tân Hương, huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho nhận định tình hình
đã chín muồi cho việc đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền của quần chúngcách mạng và ra thông báo “Phải tập trung ráo riết chuẩn bị khởi nghĩa vũtrang để giành chính quyền” Hội nghị cũng cử đồngchí Phan Đăng Lưu raBắc báo cáo Trung ương và đề nghị phối hợp hành động
Để tiến tới khởi nghĩa, một vấn đề được đặt ra là cần có một lá cờ đểkhẳng định tổ chức, thống nhất hiệu lệnh chỉ huy và động viên quần chúng.Theo các tài liệu trên Ban lãnh đạo cuộc khởi nghĩa giao việc này cho đồngchí Nguyễn Hữu Tiến (tức Trương Xuân Chính, Giáo Hoài) sinh ngày 5/3/
1901, một chiến sĩ cách mạng kiên trung, quê tại tỉnh Hà Nam thực hiện Saunhiều lần phác thảo, đồng chí Nguyễn Hữu Tiến đã sáng tác mẫu cờ Tổ quốcnền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh Trong một ngôi nhà của khu vườnrậm rạp, gần bãi tha ma gọi là xóm chuồng ngựa
Ngày 23 tháng 11 năm 1940, Khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ Tập hợpdưới lá cờ đỏ sao vàng, nhân dân các tỉnh Nam Bộ đã vùng dậy đập tan chínhquyền của Pháp- Nhật và bọn tay sai ở nhiều nơi Tuy khí thế cách mạng củađảng viên và quần chúng rất cao nhưng do điều kiện chưa chín muồi, địchnắm được chủ trương của ta nên cuộc khởi nghĩa thất bại và bị dìm trong bểmáu Nhiều đồng chí lãnh đạo của Đảng và hàng nghìn quần chúng cáchmạng bị bắt, bị giết dã man Đồng chí Nguyễn Hữu Tiến bị bắt và đã anhdũng hy sinh trước họng súng quân thù ngày 28 tháng 8 năm 1941
Lá cờ đỏ sao vàng từ đấy đã xuất hiện nhiều lần trong các cuộc khởinghĩa, biểu tình của quần chúng Là cờ đã tung bay trên cả nước trong nhữngngày Tháng Tám 1945 lịch sử; trên quảng trường Ba Đình, Hà Nội ngày 2/9/
1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh một kỷnguyên mới cho đất nước ta
Trang 17Hình ảnh là cờ đỏ sao vàng, Quốc kỳ của nước ta cũng đã xuất hiệnnhiều lần trong thơ của Hồ Chí Minh Trong tập thơ “Nhật ký trong tù” viếtvào năm 1941, hình ảnh Quốc kỳ đã xuất hiện trong thơ của Người:
Không ngủ được
Một canh…hai canh…lại ba canh
Trằn trọc, băn khoăn giấc chẳng thành
Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt
Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh
(Nam Trân dịch)
Mừng Xuân 1942
Chúc đồng bào ta đoàn kết mau
Chúc Việt Minh ta càng tiến tới
Chúc toàn quốc ta trong năm nay
Cờ đỏ sao vàng bay phất phới
Ngày 5 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh ấn địnhQuốc kỳ Việt Nam là cờ đỏ sao vàng
Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà,ngày 2 tháng 3 năm 1946 đã biểu quyết nhất trí cờ đỏ sao vàng là Quốc kỳcủa nước ta