1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị nguyên vật liệu tại công ty cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển nông thôn 658

77 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Hoàn Thiện Công Tác Quản Trị Nguyên Vật Liệu Tại Công Ty Cổ Phần Đầu Tư Xây Dựng Và Phát Triển Nông Thôn 658
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Lạng Sơn
Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 123,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có được những ưu thế trên, ngoài yếu tố khoa học kĩ thuật, công nghệ và trình độ quản lý kinh doanh thì điều kiện tối cần thiết để doanh nghiệp đứngvững và có uy tín trên thị trường c

Trang 1

Lời nói đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, việc cạnh tranh giữa các doanhnghiệp với nhau nhằm tạo thế đứng cho doanh nghiệp mình đang ngày càng trởnên gay gắt, khốc liệt Để có thể đứng vững trong môi trường đó, doanh nghiệpcần phải tạo ra được những ưu thế riêng có của mình như: chất lượng sản phẩm,giá cả, mẫu mã, tính hiện đại tiện dụng

Để có được những ưu thế trên, ngoài yếu tố khoa học kĩ thuật, công nghệ

và trình độ quản lý kinh doanh thì điều kiện tối cần thiết để doanh nghiệp đứngvững và có uy tín trên thị trường chính là việc quản trị nguyên vật liệu hiệu quả.Đảm bảo quản trị nguyên vật liệu cho sản xuất là một yêu cầu khách quan,thường xuyên của mọi đơn vị sản xuất và nó có tác động rất lớn tới kết quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việc sử dụng hợp lý và tiết kiệmnguyên vật liệu ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trongdoanh nghiệp Nguyên vật liệu được đảm bảo đầy đủ, đồng bộ, đúng chất lượng

là điều kiện quyết định khả năng tái sản xuất mở rộng và góp phần đảm bảo tiến

độ sản xuất trong doanh nghiệp Trong quá trình sản xuất, nguyên vật liệu là bộphận trực tiếp tạo nên sản phẩm, nó chiếm 60-70% trong cơ cấu giá thành sảnphẩm Do đó, quản trị nguyên vật liệu có vai trò quan trọng trong việc giảm chiphí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm

Xuất phát từ vai trò và tầm quan trọng của nguyên vật liệu cũng như thựctrạng công tác quản trị nguyên vật liệu tại công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng và

phát triển nông thôn 658, tôi chọn đề tài: “Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị nguyên vật liệu tại công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng và phát triển nông thôn 658”.

2 Mục tiêu nghiên cứu:

Mục tiêu của việc nghiên cứu đề tài này là nhằm đạt được sự hiểu biết vềcông tác quản trị nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp sản xuất nói chung và

Trang 2

nắm được thực tế thực hiện công tác quản trị nguyên vật liệu tại công ty CPĐTXD&PTNT 658 nói riêng Từ đó đưa ra một số giải pháp và kiến nghị gópphần hoàn thiện công tác quản trị nguyên vật liệu cho công ty.

3 Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi nghiên cứu của đề tài: dùng số liệu của gói thầu số 4 “ Nhà giảngđường trung cấp nghề cơ điện và kỹ thuật nông lâm Đông Bắc” thuộc dự án “Đầu tư xây dựng trường trung cấp nghề cơ điện và kỹ thuật nông lâm Đông Bắc-Lạng Sơn ” để phân tích và làm minh chứng cho thực trạng công tác quản trịnguyên vật liệu của công ty

4 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phỏng vấn, quan sát, đọc tài liệu Từthống kê, mô tả và phân tích, làm rõ thực trạng đưa ra được một số giải pháp vàkiến nghị và sử dụng số liệu tổng hợp của phòng Kế hoạch - Kỹ thuật - Dự thầu,phòng Tài chính kế toán

5 Kết cấu bài khóa luận:

Ngoài danh mục các từ viết tắt, danh mục sơ đồ bảng biểu và các tài liệutham khảo, bài khóa luận được chia thành 3 chương:

Chương I: Quản trị nguyên vật liệu – Những vấn đề lý luận cơ bản

Chương II: Thực trạng công tác quản trị nguyên vật liệu tại công ty Cổphần đầu tư xây dựng và phát triển nông thôn 658

Chương III: Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị nguyên vật liệutại công ty Cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển nông thôn 658

Trang 3

Chương i quản trị nguyên vật liệu – những vấn đề lý luận cơ bản

1.1 Khái niệm và đặc điểm của nguyên vật liệu:

a Khái niệm

Nguyên vật liệu là những đối tượng lao động doanh nghiệp mua ngoàihoặc tự sản xuất ra dùng cho mục đích sản xuất ra sản phẩm của doanh nghiệp.Nguyên vật liệu có thể hiểu là bao gồm “ nguyên liệu” và “ vật liệu” Trong đó,nguyên liệu là thuật ngữ để chỉ đối tượng lao động chưa qua chế biến côngnghiệp, còn vật liệu dùng để chỉ những nguyên liệu đã qua sơ chế

b Đặc điểm

Nguyên vật liệu là một trong ba yếu tố cơ bản nhất của quá trình sản xuất.Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì NVL sẽ bị thayđổi hình dạng và chuyển dịch giá trị một lần vào chi phí sản xuất kinh doanhtrong kỳ

Chi phí các loại NVL thường chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ chi phí sảnxuất và giá thành của sản phẩm Do đó, việc quản lý chặt chẽ NVL ngay từ khâuthu mua cho đến khâu sử dụng sẽ có ý nghĩa và hiệu quả rất lớn trong việc tiếtkiệm chi phí và tiết kiệm vốn

Mặt khác, NVL là những tài sản lưu động thuộc nhóm hàng tồn kho,chúng rất đa dạng và phong phú về chủng loại NVL cũng tồn tại dưới nhiềudạng khác nhau, phức tạp vì đời sống lý hóa nên dễ bị tác động bởi điều kiệnthời tiết, khí hậu và môi trường xung quanh

Từ những đặc điểm trên cho thấy NVL có vai trò rất quan trọng đối vớihoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp

Trang 4

1.2 Các cách phân loại nguyên vật liệu:

Nguyên vật liệu là yếu tố đầu vào quyết định rất lớn đến hiệu quả của quátrình sản xuất kinh doanh Hơn nữa, do đặc điểm là rất phong phú, đa dạng vềchủng loại và chất lượng, cho nên để phục vụ cho công tác quản lý NVL mộtcách hiệu quả nhất thì yêu cầu đặt ra là phải tiến hành phân loại NVL Phân loạiNVL là quá trình sắp xếp NVL theo từng loại, từng nhóm trên một căn cứ nhấtđịnh, tùy thuộc vào từng loại hình cụ thể của từng doanh nghiệp

Có thể sử dụng nhiều tiêu thức khác nhau để tiến hành phân loại NVL.Tùy theo yêu cầu quản lý NVL mà mỗi doanh nghiệp có thể áp dụng các cáchphân loại sau:

a Phân loại theo công dụng của NVL

Theo cách phân loại này, NVL bao gồm:

-Nguyên vật liệu chính: là đối tượng lao động chủ yếu, cấu thành nên thực

thể của sản phẩm và quyết đinh chất lượng của sản phẩm

-Nguyên vật liệu phụ: là những vật liệu có tác dụng phục vụ trong quá

trình sản xuất, được sử dụng kết hợp với nguyên vật liệu chính làm tăng chấtlượng, mẫu mã của sản phẩm hoặc được sử dụng để đảm bảo cho công cụ laođộng hoạt động bình thường hoặc dùng để phục vụ cho nhu cầu kỹ thuật, nhucầu quản lý

-Nhiên liệu: là những thứ được tiêu dùng cho sản xuất năng lượng như

than, dầu mỏ, hơi đốt… Nhiên liệu thực chất là vật liệu phụ được tách thành mộtnhóm riêng do vai trò quan trọng của nó và nhằm mục đích quản lý và hạch toánthuận tiện hơn

-Phụ tùng thay thế: gồm các loại phụ tùng, chi tiết được sử dụng để thay

thế, sửa chữa máy móc, thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải

Trang 5

-Thiết bị xây dựng cơ bản: bao gồm các loại thiết bị cần lắp, không cần

lắp, các vật kết cấu dùng cho công tác xây dựng cơ bản, trong công nghiệp

-Vật liệu khác: là các loại vật liệu không được xếp vào các loại kể trên.

Chủ yếu là các loại phế liệu thu hồi từ quá trình sản xuất, hoặc từ việc thanh lýTSCĐ

b Phân loại theo nguồn hình thành NVL

Theo cách phân loại này, NVL bao gồm:

-Vật liệu tự chế: là vật liệu doanh nghiệp tự tạo ra để phục vụ cho nhu cầu

sản xuất

-Vật liệu mua ngoài: là loại vật liệu doanh nghiệp không tự sản xuất mà do

mua ngoài từ thị trường trong nước và nhập khẩu

-Vật liệu khác: là loại vật liệu hình thành do được cấp phát, biếu tặng, góp

vốn liên doanh

c Phân loại theo mục đích sử dụng của NVL

Theo cách phân loại này, NVL bao gồm:

-Vật liệu dùng trực tiếp cho sản xuất sản phẩm.

-Vật liệu dùng cho các nhu cầu khác: phục vụ cho sản xuất chung, cho

nhu cầu bán hàng, cho quản lý doanh nghiệp

1.3 Tầm quan trọng của công tác quản trị nguyên vật liệu:

Như trên đã nói, NVL là một trong ba yếu tố cơ bản nhất của quá trình sảnxuất trong hầu hết các doanh nghiệp Hơn nữa chi phí NVL lại chiếm tỷ trọnglớn trong tổng chi phí sản xuất, vì vậy mà nó ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận vàvốn của doanh nghiệp Mặt khác, một doanh nghiệp thường sản xuất kinh doanhrất nhiều loại sản phẩm khác nhau và có xu thế ngày càng đa dạng hóa những sảnphẩm của mình Để sản xuất mỗi loại sản phẩm lại đòi hỏi phải có một số lượng

Trang 6

một chi tiết, bộ phận và NVL rất đa dạng, nhiều chủng loại Hơn nữa, lượngNVL cần sử dụng vào những việc khác nhau và thường xuyên thay đổi Vì vậy,tổng số danh mục các loại vật tư, nguyên liệu và chi tiết bộ phận mà doanhnghiệp phải quản lý rất nhiều và phức tạp, đòi hỏi phải cập nhật thường xuyên.Bởi vậy, công tác quản tr? NVL là điều kiện không thể thiếu được trong toàn bộcông tác quản tr? quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm cungcấp kịp thời, đầy đủ và đồng bộ những vật liệu cần thiết cho sản xuất, đồng thờikiểm tra được các định mức dự trữ, tiết kiệm vật liệu trong sản xuất, ngăn ngừa

và hạn chế mất mát hư hỏng, lãng phí trong tất cả các khâu của quá trình sảnxuất

Tổ chức tốt công tác quản tr?, nhiệm vụ và kế hoạch cung ứng NVL làcông việc không thể thiếu và là cơ sở để sử dụng và dự trữ NVL hợp lý Trongquá trình kinh doanh chiến lược NVL thì việc tồn tại NVL dự trữ là những bướcđệm cần thiết đảm bảo cho quá trình hoạt động liên tục của doanh nghiệp, cácdoanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường rất khó áp dụng tiến hành sản xuấtkinh doanh đến đâu thì mua NVL đến đó mà cần phải có NVL dự trữ NVL dựtrữ không trực tiếp tạo ra lợi nhuận nhưng lại có vai trò rất lớn để cho quá trìnhsản xuất kinh doanh tiến hành liên tục Do vậy nếu doanh nghiệp dự trữ quá lớn

sẽ tốn kém chi phí, ứ đọng vốn Nếu dự trữ quá ít sẽ có thể làm cho quá trình sảnxuất kinh doanh bị gián đoạn, gây ra hàng loạt các hậu quả tiếp theo

Nguyên vật liệu là một trong những tài sản lưu động của doanh nghiệp,thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh Quản trị và sử dụng hợp

lý chúng có ảnh hưởng rất quan trọng đến việc hoàn thành nhiệm vụ chung củadoanh nghiệp Do đó, bất kì một doanh nghiệp cũng cần đánh giá đúng vai tròcủa công tác quản trị NVL và kiểm soát chặt chẽ tình hình sử dụng NVL trongdoanh nghiệp mình

1.4 Nội dung công tác quản trị nguyên vật liệu:

Việc quản trị nguyên vật liệu là cần thiết khách quan của mọi nền sản xuất

xã hội Tuy nhiên, do trình độ sản xuất khác nhau nên phạm vi, mức độ và

Trang 7

phương pháp quản trị nguyên vật liệu cũng khác nhau Làm thế nào để cùng mộtkhối lượng nguyên vật liệu có thể sản xuất ra nhiều sản phẩm nhất thoả mãn nhucầu ngày càng cao của khách hàng Việc quản trị nguyên vật liệu có hiệu quả haykhông phụ thuộc rất nhiều vào khả năng, trách nhiệm của cán bộ quản lý Việcquản trị nguyên vật liệu bao gồm các nội dung sau:

1.4.1 Xây dựng định mức tiêu dùng nguyên vật liệu:

Định mức tiêu dùng NVL là lượng NVL tiêu dùng lớn nhất cho phép đểsản xuất một đơn vị sản phẩm hoặc để hoàn thiện một công việc nào đó trongđiều kiện tổ chức và điều kiện kỹ thuật nhất định

Việc xây dựng định mức tiêu dùng vật liệu chính xác và đưa mức đó vào

áp dụng trong sản xuất là biện pháp quan trong nhất để thực hiện tiết kiệm vậtliệu có cơ sở quản lý chặt chẽ việc sử dụng NVL Mức tiêu dùng NVL còn là căn

cứ để tiến hành kế hoạch hoá cung ứng và sử dụng vật liệu, tạo điều kiện chohạch toán kinh tế và thúc đẩy phong trào thi đua và thực hành tiết kiệm trong cácdoanh nghiệp

Phương pháp xây dựng định mức tiêu dùng NVL có ý nghĩa quyết địnhđến chất lượng cách mức đã được xác định Tuỳ theo từng đặc điểm kinh tế kỹthuật và điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp mà lựa chọn phương pháp xâydựng ở mức thích hợp Trong thực tế có các phương pháp xây dựng định mứctiêu dùng vật liệu sau đây

a Phương pháp định mức theo thống kê kinh nghiệm

Là phương pháp dựa vào 2 căn cứ: các số liệu thống kê về mức tiêu dùngnguyên vật liệu của kỳ báo cáo những kinh nghiệm của những công nhân tiêntiến rồi dùng phương pháp bình quân gia quyền để xác định định mức

Ưu điểm: đơn giản, dễ vận dụng, có thể tiến hành nhanh chóng, phục vụkịp thời cho sản xuất

Nhược điểm: ít tính khoa học và tính chính xác

Trang 8

b Phương pháp thực nghiệm

Là phương pháp dựa trên kết quả của phòng thí nghiệm kết hợp vớinhững điều kiện sản xuất nhất định để kiểm tra, sửa đổi và kết quả đã tính toán

để tiến hành sản xuất thử nhằm xác định định mức cho kế hoạch

Ưu điểm: có tính chính xác và khoa học hơn phương pháp thống kê

Nhược điểm: Chưa phân tích toàn bộ các yếu tố ảnh hưởng đến định mức

và còn phu thuộc vào phòng thí nghiệm, có thể không phù hợp với điều kiện sảnxuất

c Phương pháp phân tích

Là phương pháp kết hợp việc tính toán về kinh tế kĩ thuật với việc phântích các nhân tố ảnh hưởng tới việc tiêu hao nguyên vật liệu, chính vì thế nóđược tiến hành theo hai bước

Bước 1: Thu thập và nghiên cứu các tài liệu đến mức đặc biệt là về thiết

kế sản phẩm, đặc tính của nguyên vật liệu, chất lượng máy móc thiết bị, trình độtay nghề công nhân

Bước 2: Phân tích từng thành phần trong cơ cấu định mức, tính hệ số sửdụng và đề ra biện pháp phấn đấu giảm mức trong kì kế hoạch

Ưu điểm: Có tính khoa học và tính chính xác cao, đưa ra một mức tiêudùng hợp lý nhất Hơn nữa khi sử dụng phương pháp này định mức tiêu dùngluôn nằm trong trạng thái được cải tiến

Nhược điểm: Nó đòi hỏi một lượng thông tin tương đối lớn toàn diệnvàchính xác, điều này có nghĩa là công tác thông tin trong doanh nghiệp phải tổchức tốt Một điều dễ thấy khác đó là một lượng thông tin như vậy đòi hỏi phải

có đội ngũ xử lý thông tin có trình độ và năng lực cao, nhưng dù thế nào đi nữathì đây cũng là phương pháp tiên tiến nhất

1.4.2 Hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu:

Trang 9

Trong toàn bộ công tác quản lý nguyên vật liệu thì khâu hoạch định nhucầu NVL là khâu đầu tiên và được đánh giá là khâu quan trọng nhất Mộtphương pháp thường hay được sử dụng khi tiến hành xác định nhu cầu NVL làphương pháp MRP

a Khái niệm MRP ( Material Requirements Planning)

MRP là hệ thống hoạch định và xây dựng lịch trình về những nhu cầuNVL, linh kiện cần thiết trong từng giai đoạn, dựa trên việc phân chia nhu cầuNVL thành nhu cầu độc lập và nhu cầu phụ thuộc Nó được thiết kế nhằm trả lờicác câu hỏi:

- Doanh nghiệp cần những loại nguyên liệu, chi tiết, bộ phận gì?

- Cần bao nhiêu?

- Khi nào cần và trong khoảng thời gian nào?

- Khi nào cần phát đơn hàng bổ sung hoặc lệnh sản xuất?

- Khi nào nhận được hàng?

Kết quả thu được là hệ thống kế hoạch chi tiết về các loại NVL, chi tiết,

bộ phận và thời gian biểu cụ thể nhằm cung ứng đúng thời điểm cần thiết Hệthống kế hoạch này thường xuyên được cập nhật những dữ liệu cần thiết chothích hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và sự biến độngcủa môi trường bên ngoài

Trang 10

Đầu vào Quá trình xử lý Đầu ra

Báo cáo nhu cầu NVL hàng ngày

Báo cáo về kế hoạch

Báo cáo đơn hàng thực hiện

Trang 11

- Số lượng sản phẩm trong đơn đặt hàng.

- Mức sản xuất và dự trữ

- Cấu trúc của sản phẩm

- Danh mục NVL, chi tiết, bộ phận

- Thời điểm sản xuất

- Thời hạn cung ứng hoặc thời gian thi công

- Bảng danh mục nguyên vật liệu

- Hồ sơ dự trữ nguyên vật liệu

Lịch trình sản xuất chỉ rõ nhu cầu sản phẩm cần sản xuất và thời gian phải

có Đây là những nhu cầu độc lập Số lượng cần thiết được lấy ra từ nhữngnguồn khác nhau Như đơn đặt hàng của khách, số liệu dự báo Thời gian thườnglấy là đơn vị tuần Hợp lý nhất là lấy lịch trình sản xuất bằng tổng thời gian đểsản xuất ra sảm phẩm cuối cùng Đó là tổng số thời gian cần thiết trong quátrình lắp ráp sản phẩm Vấn đề đặc biệt quan trọng trong MRP là sự ổn địnhtrong kế hoạch sản xuất ngắn hạn

Bảng danh mục vật tư linh kiện cung cấp thông tin về các loại chi tiết, linh

kiện và bộ phận hợp thành cần thiết để tạo ra một đơn vị sản phẩm cuối cùng Do

đó, mỗi loại đơn vị sản phẩm đều có hồ sơ danh mục NVL, chi tiết bộ phận riêngbiệt Bảng danh mục vật tư còn cho biết thông tin về mối liên hệ giữa các hạng

Trang 12

phân tích cấu trúc hình cây của sản phẩm, các dữ kiện về NVL, linh kiện đượcghi theo thứ tự bậc từ cao xuống thấp Mỗi đơn vị sản phẩm gồm những chi tiết

bộ phận ở những bậc khác nhau trong cấu trúc từ trên xuống

Hồ sơ dự trữ cho biết lượng dự trữ NVL, bộ phận hiện có Nó dùng để ghi

chép, báo cáo tình trạng của từng loại NVL, chi tiết bộ phận trong từng thời gian

cụ thể Hồ sơ dự trữ cho biết trong nhu cầu, đơn hàng sẽ tiếp nhận và nhữngthông tin chi tiết khác như người cung ứng, độ dài thời gian cung ứng và độ lớn

lô cung ứng Hồ sơ dự trự NVL, bộ phận cần phải chính xác, do đó đòi hỏi côngtác theo dõi, ghi chép thận trọng cụ thể chi tiết Những sai sót trong hồ sơ dự trữ

sẽ dẫn đến những sai sót lớn trong MRP

Những yếu tố đầu ra chính là kết quả của MRP cần trả lời được các vấn đề

cơ bản sau:

- Cần đặt ra hàng hoá sản xuất những loại linh kiện phụ tùng nào?

- Số lượng bao nhiêu?

- Thời gian khi nào?

Những thông tin này được thể hiện trong các văn bản, tài liệu như lệnhphát đơn đặt hàng kế hoạch, lệnh sản xuất nếu tự gia công, báo cáo về dự trữ Cónhiều loại tài liệu báo cáo hồ sơ NVL, chi tiết bộ phận dự trữ

c Trình tự hoạch định nhu cầu NVL

Xây dựng MRP bắt đầu đi từ lịch trình sản xuất sản phẩm cuối cùng, sau

đó chuyển đổi thành nhu cầu về các bộ phận chi tiết và nguyên liệu cần thiết,trong những giai đoạn khác nhau Từ sản phẩm cuối cùng xác định nhu cầu dựkiến về các chi tiết, bộ phận ở cấp thấp hơn tuỳ theo cấu trúc của sản phẩm.MRP tính số lượng chi tiết, bộ phận trong từng giai đoạn cho từng loại sản phẩm

dự trữ hiện có Và xác định chính xác thời điểm cần phát đơn hàng hoặc lệnh sảnxuất đối với từng loại chi tiết, bộ phận đó

Trang 13

MRP tìm cách xác định mối liên hệ giữa lịch trình sản xuất, đơn đặt hàng,lượng tiếp nhận và nhu cầu sản phẩm Mối quan hệ này được phân tích trongkhoảng thời gian từ khi một sản phẩm được đưa vào phân xưởng cho tới khi rờiphân xưởng đó để chuyển sang bộ phận khác Để xuất xưởng một sản phẩmtrong một vài ngày ấn định nào đó, cần phải sản xuất các chi tiết, bộ phận hoặcđặt mua NVL, linh kiện bên ngoài trước một thời hạn nhất định Quá trình xácđịnh MRP được tiến hành theo các bước sau:

Bước 1: Phân tích kết cấu sảm phẩm.

Như trên đã đề cập, phương pháp hoạch định nhu cầu NVL được tiến hànhdựa trên việc phân loại nhu cầu thành nhu cầu độc lập và nhu cầu phụ thuộc

Nhu cầu độc lập là nhu cầu sản phẩm cuối cùng và các chi tiết bộ phậnkhách hàng đặt hoặc dùng để thay thế Nhu cầu độc lập được xác định thông quacông tác dự báo hoặc đơn hàng Chất lượng của công tác dự báo kể cả dài hạn,trung hạn và ngắn hạn sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tính chính xác của MRP

Nhu cầu phụ thuộc là những nhu cầu thứ sinh, chúng là những bộ phận,chi tiết cấu thành nhu cầu độc lập Đó là những bộ phận, chi tiết, NVL dùngtrong quá trình sản xuất nhằm tạo ra sản phẩm cuối cùng Nhu cầu này được xácđịnh thông qua cấu trúc sản phẩm cuối cùng, nhu cầu dự báo đơn đặt hàng, kếhoạch dự trữ và lịch trình sản xuất

Để tính tổng nhu cầu phụ thuộc, cần tiến hành phân tích cấu trúc của sảmphẩm Cách phân tích dùng trong MRP là sử dụng kết cấu hình cây của sảmphẩm Mỗi hạng mục trong kết cấu hình cây tương ứng với từng chi tiết, bộ phậncấu thành sảm phẩm Chúng được biểu diễn dưới dạng cấp bậc từ trên xuốngdưới theo trình tự sản xuất và lắp ráp sảm phẩm Sử dụng kết cấu hình cây cónhững đặc điểm sau:

- Cấp trong sơ đồ kết cấu: Nguyên tắc chung cấp 0 là cấp ứng với sảmphẩm cuối cùng Cứ mỗi lần phân tích thành phần cấu tạo của bộ phận ta lạichuyển sang một cấp

Trang 14

- Mối liên hệ trong sơ đồ kết cấu: Đó là những đường liên hệ giữa 2 bộphận trong sơ đồ kết cấu hình cây Bộ phận trên gọi là bộ phận hợp thành và bộphận dưới là bộ phận thành phần Mối liên hệ có ghi kèm theo khoảng thời gian(chu kỳ sản xuất, mua sắm …) và hệ số nhân Số lượng các loại chi tiết và mốiliên hệ trong sơ đồ thể hiện tính phức tạp của cấu trúc sản phẩm Sản phẩm càngphức tạp thì sổ chi tiết, bộ phận càng nhiều và mối quan hệ giữa chúng càng lớn.

Để quản lý theo dõi và tính toán chính xác từng loại NVL, cần phải sử dụng máytính để hệ thống hoá, mã hoá chúng theo sơ đồ cấu trúc thiết kế sản phẩm

Kết quả của phân tích sơ đồ kết cấu sản phẩm cần phản ánh được số lượngcác chi tiết và thời gian thực hiện

Bước 2: Tính tổng nhu cầu

Tổng nhu cầu chính là tổng số lượng dự kiến đối với một loại chi tiết hoặcNVL trong từng giai đoạn mà không tính đến dự trữ hiện có hoặc lượng sẽ tiếpnhận được Tổng nhu cầu hạng mục cấp 0 lấy ở lịch trình sản xuất Đối với hạngmục cấp thấp hơn, tổng nhu cầu được tính trực tiếp số lượng phát đơn hàng củahạng mục cấp cao hơn ngay trước nó

Đó là nhu cầu phát sinh do nhu cầu thực tế về một bộ phận hợp thành nào

đó đòi hỏi tổng nhu cầu của các bộ phận, chi tiết bằng số lượng đặt hàng theo kếhoạch của các bộ phận trung gian trước nó nhân với hệ số nhân nếu có

Bước 3: Tính nhu cầu thực

Nhu cầu thực là tổng số lượng nguyên liệu, chi tiết cần thiết bổ sung trongtừng giai đoạn Đại lượng này được tính như sau:

Nhu cầu thực = Tổng nhu cầu - Dự trữ hiện có + Dự trữ an toàn

Trong trường hợp doanh nghiệp chấp nhận một tỷ lệ phế phẩm theo kếhoạch thì nhu cầu thực cần cộng thêm phần phế phẩm cho phép đó

Dự trữ sẵn có là tổng dự trữ đang có ở thời điểm bắt đầu của từng thời kỳ

Dự trữ sẵn có theo kế hoạch là số lượng dự trữ dự kiến có thể sử dụng để thoả

Trang 15

mãn nhu cầu của sản xuất Đó là tổng của dự trữ còn lại từ giai đoạn trước cộngvới số lượng sẽ tiếp nhận.

Lượng tiếp nhận là tổng số bộ phận, chi tiết đủ đưa vào sản xuất nhưngchưa hoàn thành hoặc là số lượng đặt hàng mong đợi sẽ nhận được tại điểm bắtđầu của mỗi giai đoạn

Đơn hàng phát ra theo kế hoạch là tổng khối lượng dự kiến kế hoạch đặthàng trong từng giai đoạn Lệnh đề nghị phản ánh số lượng cần cung cấp hay sảnxuất để thoả mãn nhu cầu thực Lệnh đề nghị có thể là đơn đặt hàng đối với cácchi tiết bộ phận ngoài và là lệnh sản xuất nếu chúng được sản xuất tại doanhnghiệp Khối lượng hàng hoá và thời gian của lệnh đề nghị được xác định trongđơn hàng kế hoạch Tuỳ theo chính sách đặt hàng có thể đặt theo lô hoặc theokích cỡ

Đặt hàng theo lô là số lượng hàng đặt bằng với nhu cầu thực Đặt hàngtheo kích cỡ là số lượng hàng đặt có thể vượt nhu cầu thực bằng cách nhân với 1lượng cụ thể hoặc bằng đúng lượng yêu cầu trong thời điểm đó Bất kỳ lượngvượt nào đều được bổ sung vào dự trữ hiện có của giai đoạn tiếp theo

Bước 4: Xác định thời gian phát đơn đặt hàng hoặc lệnh sản xuất.

Để cung cấp hoặc sản xuất NVL, chi tiết cần tốn thời gian cho chờ đợi,chuẩn bị, bốc dỡ, vận chuyển, sắp xếp hoặc sản xuất Đó là thời gian phân phốihay thời gian cung cấp, sản xuất của mỗi bộ phận

Do đó từ thời điểm cần có sản phẩm để đáp ứng nhu cầu khách hàng sẽphải tính ngược lại để xác định khoảng thời gian cần thiết cho từng chi tiết, bộphận Thời gian phải đặt hàng hoặc tự sản xuất được tính bằng cách lấy thờiđiểm cần có trừ đi khoảng thời gian cung ứng hoặc sản xuất cần thiết đủ để cungcấp đúng lượng hàng yêu cầu

Ví dụ: Sản phẩm hoàn chỉnh được ghi ở cấp 0 trên đỉnh cây Sau đó là

những bộ phận cần thiết để lắp ráp thành sản phẩm hoàn chỉnh ở cấp 1 Sau đó

Trang 16

X Cấp 0

Sơ đồ 1.2: Cấu trúc sảm phẩm theo thời gian:

Tuần 1 Tuần 2 Tuần 3 Tuần 4 Tuần 5 Tuần 6 Tuần 7 Tuần 8

Trang 17

Kết quả của quá trình hoạch định nhu cầu NVL, linh kiện được thể hiệntrong biểu kế hoạch có các nội dung như:

- Tổng nhu cầu

- Lượng tiếp nhận theo tiến độ

- Dự trữ có sẵn

- Nhu cầu thực

- Lượng tiếp nhận đơn đặt hàng theo kế hoạch

- Lượng đơn hành phát ra theo kế hoạch

1.4.3 Bảo đảm nguyên vật liệu cho sản xuất:

Như chúng ta đã biết NVL là một trong ba yếu tố cấu thành của quá trìnhsản xuất (sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động), nội dung cơ bảncủa đối tượng lao động là NVL Nếu xét về mặt vật chất thì NVL là yếu tố cấuthành nên thực thể của sản phẩm, chất lượng sản phẩm Chất lượng của NVL cóảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm Xét về mặt giá trị thì tỷ trọng cácyếu tố NVL chiếm phần lớn trong cơ cấu giá thành Còn xét về lĩnh vực vốn thìtiền bỏ ra mua NVL chiếm tỷ trọng lớn trong vốn lưu động của các doanhnghiệp Do đó, việc đảm bảo NVL trong sản xuất là yêu cầu cấp bách đặt ra đốivới mọi đơn vị sản xuất kinh doanh Để đảm bảo NVL trong sản xuất phải thựchiện tốt các yêu cầu sau:

Trang 18

- Đảm bảo cung cấp kịp thời NVL cho sản xuất Tính kịp thời là yêu cầu vềmặt lượng của sản xuất Phải luôn đảm bảo để không xảy ra tình trạngthiếu NVL làm cho sản xuất bị gián đoạn.

- Đảm bảo đủ số lượng, chất lượng, chủng loại và quy cách của NVL Tínhkịp thời phải gắn liền với đủ về số lượng và đúng về chất lượng Đây làmột yêu cầu của công tác phục vụ Nếu cung cấp kịp thời nhưng thừa về

số lượng và chất lượng không đảm bảo thì hiệu quả sản xuất sẽ không cao

Về mặt quy cách và chủng loại cũng là yếu tố quan trọng, nếu cung cấpkịp thời, đủ số lượng, đảm bảo chất lượng nhưng sai quy cách và chủngloại sẽ gây nhiều thiệt hại cho sản xuất, thậm chí sản xuất còn bị giánđoạn

- Đảm bảo cung cấp đồng bộ Tính đồng bộ trong cung cấp cũng có ý nghĩatương tự như tính cân đối trong sản xuất Tính đồng bộ hoàn toàn khôngphải là sự bằng nhau về số lượng mà đó chính là quan hệ tỷ lệ do địnhmức tiêu hao NVL cho một đơn vị sản phẩm quyết định Nếu cung cấpkhông đồng bộ (tức là không đảm bảo quan hệ tỷ lệ) thì sản xuất sẽ khôngmang lại hiệu quả cao Tính đồng bộ trong cung ứng được thể hiện qua nộidung của kế hoạch tiến độ mua sắm nguyên vật liệu

1.4.4 Tổ chức mua sắm, tiếp nhận nguyên vật liệu:

Mua sắm, tiếp nhận NVL là một khâu quan trọng và là khâu mở đầu củaviệc quản lý Nó là bước chuyển giao trách nhiệm trực tiếp bảo quản và đưa vậtliệu vào sản xuất giữa đơn vị cung ứng và đơn vị tiêu dùng Đồng thời nó là ranhgiới giữa bên bán và bên mua, là cơ sở hạch toán chính xác chi phí lưu thông vàgiá cả NVL của mỗi bên Việc thực hiện tốt khâu này sẽ tạo điều kiện cho ngườiquản lý nắm chắc số lượng, chất lượng và chủng loại, theo dõi kịp thời tình trạngcủa NVL trong kho từ đó làm giảm những thiệt hại đáng kể cho hỏng hóc, đổ vỡ,hoặc biến chất của nguyên vật liệu Do tính cấp thiết như vậy, trong công tácmua sắm NVL, doanh nghiệp phải tiến hành đánh giá và lựa chọn các nhà cung

Trang 19

ứng tốt nhất, cung cấp NVL có chất lương cao nhất mà vẫn đảm bảo chi phí hợp

lý Còn trong khâu tổ chức tiếp nhận NVL phải thực hiện tốt hai nhiệm vụ:

Một là, tiếp nhận một cách chính xác về chất lượng, số lượng, chủng loạiNVL theo đúng nội dung, điều khoản đã ký kết trong hợp đồng kinh tế, tronghoá đơn, phiếu giao hàng, phiếu vận chuyển

Hai là, phải vận chuyển một cách nhanh chóng nhất để đưa NVL từ địađiểm tiếp nhận vào kho của doanh nghiệp tránh hư hỏng, mất mát và đảm bảosẵn sàng cấp phát kịp thời cho sản xuất

Để thực hiện tốt hai nhiệm vụ này công tác tiếp nhận phải tuân thủ nhữngyêu cầu sau:

- Nguyên vật liệu khi tiếp nhận phải có đầy đủ giấy tờ hợp lệ tuỳ theo nguồntiếp nhận khác nhau trong ngành, ngoài ngành hay trong nội bộ doanhnghiệp

- Nguyên vật liệu khi nhập phải qua đủ thủ tục kiểm nhận và kiểm nghiệm.Phải xác định chính xác số lượng, chất lượng, chủng loại hoặc phải làm thủtục đánh giá, xác nhận nếu có hư hỏng mất mát

- Nguyên vật liệu sau khi tiếp nhận sẽ được thủ kho ghi số thực nhập và ngườigiao hàng cùng với thủ kho ký vào phiếu nhập kho Phiếu nhập kho sẽ đượcchuyển cho bộ phận kế toán ký nhận vào sổ giao nhận chứng từ

Bên doanh nghiệp và bên cung ứng phải thống nhất địa điểm tiếp nhận,cung ứng thẳng hay qua kho của doanh nghiệp

1.4.5 Tổ chức quản lý kho dự trữ:

Kho là nơi tập trung dự trữ NVL, nhiên liệu, thiết bị máy móc, dụng cụchuẩn bị cho quá trình sản xuất , đồng thời cũng là nơi dự trữ thành phẩm củadoanh nghiệp trước khi tiêu thụ Do tính chất đa dạng và phức tạp của NVL nên

hệ thống kho của doanh nghiệp phải có nhiều loại khác nhau phù hợp với nhiều

Trang 20

loại NVL Thiết bị kho là những phương tiện quan trọng để đảm bảo giữ gìn toànvẹn số lượng và chất lượng cho NVL.

Do vậy, tổ chức quản lý kho phải thực hiện những nhiệm vụ sau :

- Bảo quản toàn vẹn số lượng, chất lượng nguyên vật liệu, hạn chế ngăn ngừa

hư hỏng, mất mát đến mức tối thiểu

- Luôn nắm chắc tình hình nguyên vật liệu vào bất kỳ thời điểm nào nhằm đápứng một cách nhanh nhất cho sản xuất

- Bảo đảm thuận tiện cho việc xuất nhập, kiểm tra bất cứ lúc nào

- Bảo đảm hạ thấp chi phí bảo quản, sử dụng hợp lý và tiết kiệm diện tích kho

Để thực hiện những nhiệm vụ trên công tác quản lý kho bao gồm nhữngnội dung chủ yếu sau:

- Công tác sắp xếp nguyên vật liệu : dựa vào tính chất, đặc điểm NVL và tìnhhình cụ thể của hệ thống kho để sắp xếp NVL một cách hợp lý, khoa hoc,đảm bảo an toàn ngăn nắp, thuận tiện cho việc xuất nhập, kiểm kê Do đó,phải phân khu, phân loại kho, đánh số, ghi ký hiệu các vị trí NVL một cáchhợp lý

- Bảo quản nguyên vật liệu: Phải thưc hiện đúng theo quy trình, quy phạm nhànước ban hành để đảm bảo an toàn chất lượng NVL

- Xây dựng và thực hiện nội quy về chế độ trách nhiệm và chế độ kiểm tratrong việc bảo quản NVL

1.4.6 Tổ chức cấp phát nguyên vật liệu:

Cấp phát NVL là hình thức chuyển NVL từ kho xuống các bộ phận sảnxuất Việc cấp phát một cách nhanh chóng, kịp thời, chính xác và khoa học sẽtạo điều kiện thuận lợi cho việc tận dụng có hiệu quả cao năng suất lao động củacông nhân, máy móc thiết bị, làm cho sản xuất được tiến hành liên tục, từ đó làmtăng chất lượng sản phẩm đồng thời làm giảm giá thành sản phẩm

Trang 21

Việc cấp phát NVL có thể tiến hành theo các hình thức sau:

+ Cấp phát theo yêu cầu của các bộ phận sản xuất:

Căn cứ vào yêu cầu NVL của từng phân xưởng, từng bộ phận sản xuất đãbáo trước cho bộ phận cấp phát của kho trong thời gian nhất định để tiến hànhcấp phát Số lượng NVL được yêu cầu được tính toán dựa trên nhiệm vụ sản xuất

và hệ thống định mức tiêu dùng nguyên vật liệu mà doanh nghiệp đã tiêu dùng

- Ưu điểm: đáp ứng kịp thời tiến độ sản xuất đối với từng bộ phận của doanhnghiệp , tránh những lãng phí và hư hỏng không cần thiết

- Hạn chế : bộ phận cấp phát của kho chỉ biết được yêu cầu của bộ phận trongthời gian ngắn, việc cấp phát kiểm tra tình hình sử dụng gặp nhiều khó khăn,thiếu tính kế hoạch và chủ động cho bộ phận cấp phát

+ Cấp phát theo tiến độ kế hoạch (cấp phát theo hạn mức):

Đây là hình thức cấp phát quy định cả số lượng và thời gian nhằm tạo sựchủ động cho cả bộ phận sử dụng và bộ phận cấp phát Dựa vào khối lượng sảnxuất cũng như dựa vào định mức tiêu dùng NVL trong kỳ kế hoạch, kho cấpphát NVL cho các bộ phận sau từng kỳ sản xuất Doanh nghiệp thực hiện quyếttoán vật tư nội bộ nhằm so sánh số sản phẩm đã sản xuất ra với số lượng NVL

đã tiêu dùng Trường hợp thừa hay thiếu sẽ được giải quyết một cách hợp lý và

có thể căn cứ vào một số tác động khách quan khác Thực tế cho thấy hình thứccấp phát này đạt hiệu quả cao, giúp cho việc giám sát hạch toán tiêu dùng NVLchính xác, bộ phận cấp phát có thể chủ động triển khai việc chuẩn bị NVL mộtcách có kế hoạch, giảm bớt giấy tờ và đỡ thao tác tính toán Do vậy, hình thứccấp phát này đạt hiệu quả cao và được áp dụng rộng rãi ở các doanh nghiệp cómặt hàng sản xuất tương đối ổn định và có hệ thống định mức tiên tiến, có kếhoạch sản xuất

Trang 22

Ngoài hai hình thức cơ bản trên, trong thực tế còn có hình thức: “ Bánnguyên vật liệu mua thành phẩm ” Đây là bước phát triển cao của công tác quản

lý nguyên vật liệu nhằm phát huy đầy đủ quyền chủ động sáng tạo trong các bộphận sử dụng vật tư , hạch toán chính xác, giảm sự thất thoát đến mức tối thiểu

Với bất kỳ hình thức nào, muốn quản lý tốt NVL cần thực hiện tốt côngtác ghi chép ban đầu, hạch toán chính xác việc cấp phát NVL, thực hiện tốt cácquy định của nhà nước và của doanh nghiệp

1.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản trị nguyên vật liệu:

Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản trị nguyên vật liệu baogồm cả các yếu tố chủ quan và khách quan Việc xem xét các yếu tố này là rấtcần thiết để nhằm đánh giá đúng ảnh hưởng của từng nhân tố tới công tác quảntrị NVL

1.5.1 Đặc điểm sản phẩm:

Sản phẩm thường được cấu thành từ 3 yếu tố, trong đó có NVL, khôngnhững thế chi phí NVL còn chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong giá thành sảnphẩm Do đó để một sản phẩm hoàn chỉnh xong quy trình sản xuất, lưu kho vàchờ ngày lưu thông trên thị trường thì yếu tố quyết định là nguyên vật liệu.Ngược lại, loại sản phẩm, quy cách sản phẩm cũng tác động không nhỏ đến quycách nguyên vật liệu Có loại sản phẩm đòi hỏi nguyên vật liệu thô chưa qua chếbiến như những phân xưởng xẻ gỗ thì phải cần nguyên vật liệu là những cây gỗchưa hề qua một khâu chế biến nào Nhưng cũng có loại sản phẩm lại đòi hỏinguyên vật liệu là loại đã được chế biến gia công thành một dạng khác so vớihình thái ban đầu

Hơn nữa cũng một loại sản phẩm nhưng cũng có những loại nguyên vậtliệu khác nhau để sản xuất ra sản phẩm đó Vì vậy, để có được những sản phẩmđạt tiêu chuẩn thì ngay từ khâu lựa chọn nguyên vật liệu phải được chú trọng

Trang 23

Người làm công tác quản trị nguyên vật liệu còn phải dựa vào số lượngsản phẩm sản xuất theo kế hoạch để tính toán nhu cầu NVL sao cho phù hợp,giảm thiểu tối đa sự gián đoạn trong quá trình sản xuất do thiếu NVL, hoặc làlãng phí NVL do xác định nhu cầu lớn hơn mức cần thiết.

1.5.2 Thị trường:

Điểm đầu tiên và cũng là điểm kết thúc của quá trình sản xuất kinh doanhchính là thị trường Thị trường là nơi để thu mua nguyên vật liệu phục vụ quátrình sản xuất, cũng là nơi đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng- kết thúc mộtvòng quay của quá trình sản xuất Hơn nữa, các yếu tố cung cầu trên thị trường

có vai trò quyết định đến giá cả của nguyên vật liệu Khi cung lớn hơn cầu, giá

cả có xu hướng giảm và ngược lại Do đó, dựa trên thực tế và khả năng dự báo

sự biến động của thị trường nguyên vật liệu mà các doanh nghiệp có thể lựa chọnthời điểm thu mua NVL sao cho tiết kiệm chi phí một cách tối đa

1.5.3 Trình độ khoa học kỹ thuật:

Các thành tựu trong lĩnh vực khoa học công nghệ có tác dụng như lực đẩygiúp nâng cao chất lượng sản phẩm thông qua viêc tạo khả năng to lớn đưa chấtlượng sản phẩm không ngừng tăng lên Tiến bộ khoa học công nghệ đã tạo ra vàđưa vào sản xuất những công nghệ mới có các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật cao hơn,

ít tiêu hao nguyên vật liệu, góp phần tiết kiệm chi phí Đồng thời, khoa học kỹthuật cho phép chúng ta tạo ra và tìm ra những nguyên vật liệu mới, nguyên vậtliệu tốt hơn, rẻ hơn, nhờ có tiến bộ khoa học kỹ thuật mà con người có thể tạo racác phương pháp và phương tiện kỹ thuật quản lý tiên tiến góp phần nâng caochất lượng, và hạ giá thành sản phẩm

Mặt khác, khoa học kỹ thuật còn tạo ra các phần mềm tiên tiến, giúp chocông tác quản lý dự trữ, cấp phát, hạch toán nguyên vật liệu được tiến hành mộtcác nhanh chóng, chính xác và thuận tiện hơn

1.5.4 Trình độ lao động:

Trang 24

Trong thời đại công nghệ hiện đại như ngày nay, các loại máy móc thiết bịứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ đã có thể thay thế con người tronghầu hết các công việc Tuy nhiên không thể phủ nhận vai trò vô cùng quan trọngcủa con người là không thể thiếu được trong bất cứ hoạt động, lĩnh vực nào.Trong công tác quản trị nguyên vật liệu cũng vậy, con người là nhân tố trực tiếp

sử dụng các phương pháp khoa học để tính toán định mức tiêu hao nguyên vậtliệu, xác định nhu cầu nguyên vật liệu cần dùng trong kỳ kế hoạch, tham gia vàoviệc quản lý dự trữ, cấp phát và theo dõi việc sử dụng nguyên vật liệu Nếu cáccán bộ phụ trách vật tư không có trình độ chuyên môn cần thiết thì có thể dẫnđến nhiều sai sót trong quản trị nguyên vật liệu dùng cho sản xuất Từ đó, có thểlàm lãng phí nguồn vốn hoặc gây tình trạng chậm trễ trong sản xuất Mặt khác,nhờ có con người và thông qua các phương tiện sản xuất mà các yếu tố đầu vào

là nguyên vật liệu có thể kết hợp với nhau tạo nên thực thể sản phẩm Nói cáckhác, nhân tố con người hay trình độ lao động có ảnh hưởng rất lớn đến công tácquản trị nguyên vật liệu và qua đó là ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm củadoanh nghiệp

1.6 Kinh nghiệm quản trị nguyên vật liệu của công ty nước ngoài:

1.6.1 Kinh nghiệm quản trị nguyên vật liệu của TOYOTA:

Toyota là nhà tiên phong trong sản xuất ôtô ở Việt Nam Giống như tất cảcác chi nhánh của Toyota, Toyota Việt Nam đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượngcao nhất cho tất cả các sản phẩm do mình sản xuất và bán ra Với lịch sử trên 30năm, "Hệ thống Sản xuất Toyota " là một hệ thống quản lý rất hiệu quả doToyota tạo ra đã được nhiều công ty áp dụng ở các nước khác nhau trên toàn thếgiới nhằm tối ưu hóa năng suất và chất lượng

Gốc rễ làm nên sự lớn mạnh của Toyota hôm nay mà ngay các đối thủ của

nó cũng không hiểu đó chính là họ biết cách biến công việc thành một chuỗi cácthực nghiệm đan xen nhau

Trang 25

JUST IN TIME là phương pháp quản lý công đoạn sản xuất thực thi bằngcác bảng truyền đạt thông tin, các phiếu liên lạc giữa các công đoạn Trong dâychuyền sản xuất không có chi tiết thiếu hay thừa, toàn xưởng sản xuất không cósản phẩm tồn kho, cũng như không có nguyên vật liệu tồn kho Phương pháp nàytạo ra một quy trình sản xuất khép kín cao độ, nhanh, khoa học Các công ty vệtinh phải làm việc đúng với quy trình và giờ giấc mà hệ thống OA (officeautomation) của hãng mẹ điều khiển thông qua các phiếu đặt hàng có chỉ thị giờgiấc , số lượng chính xác Người mua chỉ cần mua đủ số hàng mình cần và ngườibán phải có đủ hàng ngay lúc đó thoả mãn nhu cầu của người mua "Người mua"

ở trong quản lý xí nghiệp chính là vị trí công đoạn trong dây chuyền sản xuất lắpráp và "người bán" chính là các hệ thống công ty vệ tinh sản xuất hàng trựcthuộc Toyota Rộng hơn trong toàn bộ quy trình quản lý từ sản xuất đến phânphối xe của Toyota là sẽ không có hiện tượng xe tồn kho, nguyên vật liệu tồnkho, xe sản xuất đúng và đủ với đơn đặt hàng, đúng chính xác giờ giấc giao hàngcho khách hàng

Ngoài ra, Toyota còn sử dụng “hệ thống kéo” để tránh việc sản xuất thừa:

Hệ thống kéo xoay quanh ý tưởng cung cấp thêm hàng hóa dựa trên nhu cầuhàng ngày của khách hàng hơn là cố định theo một lịch trình hoặc hệ thống Nóđược gọi là hệ thống linh hoạt theo nhu cầu của khách hàng

Bên cạnh đó, Toyota còn thực hiện tốt quá trình bổ sung vật tư cho sảnxuất Những bộ phận cần được phục hồi sẽ tự động lấp đầy vào quy trình sảnxuất một cách hiệu quả Một tấm thẻ gọi là “thẻ thông báo” hay “thẻ báo hiệusản xuất” sẽ được sử dụng như là một bảng chỉ dẫn sản xuất Và ngay lập tức cáclinh kiện sẽ được đưa vào quy trình sản xuất một cách nhanh chóng Các bộ phậnvật tư vừa bị lấy đi sẽ được lấp đầy và sản xuất dựa trên “thẻ báo hiệu sản xuất”

- Các bộ phận khác nhau mà đã được hoàn tất sẽ được lưu trữ vào cuối mỗiquy trình và một “thẻ báo hiệu” được đính kèm trong mỗi thùng chứa

- Khi người điều hành một khâu sản xuất hoàn tất thì các bộ phận đã bị lấy

đi sẽ được lấp đầy ngay và thẻ báo hiệu sẽ được chuyển đi

Trang 26

- Thẻ này sẽ được thu hồi và các thùng hàng rỗng được xe tải chở lại nhàcung cấp để lấy hàng Và các bộ phận sẽ được sản xuất theo những chỉ dẫnbên trong.

- Thẻ báo hiệu sản xuất được đính kèm với thùng chứa theo từng phân loại

bộ phận khác nhau cho đến cuối quy trình

Đồng thời, nhằm cung cấp đủ số lượng nguyên vật liệu cần thiết, Toyotacũng chú trọng trong việc quản trị các nhà cung ứng Toyota đã tạo ra một mạnglưới cung ứng tiên tiến mang lại cho nó những lợi thế trong chi phí sản xuất trênmỗi đơn vị sản phẩm so với các đối thủ, một nửa chi phí đó là có được từ việcgiảm chi phí nguyên vật liệu, nhân công, bảo hành

Để thực hiện mục tiêu này, Toyota đã tìm hiểu kĩ về chi phí của quá trìnhsản xuất và công nghệ của các nhà cung ứng cũng như hệ thống sản xuất linhđộng toàn cầu Toyota đã trải qua nhiều năm để đầu tư mở rộng mạng lưới nhàcung ứng và đối tác trên tinh thần thử thách và giúp đỡ để họ tự cải thiện

Toyota dựa vào những nhà cung ứng bên ngoài cho hầu hết các nguyênvật liệu và phụ tùng cho mỗi chiếc xe mà nó tạo ra Trong quá trình hình thànhsản phẩm, từ nghiên cứu đến sản xuất, Toyota luôn có sự hợp tác với các nhàcung ứng Những nhà cung ứng mà Toyota tìm kiếm là những công ty có ý chí

và khả năng để trở thành đối tác năng động

Toyota chủ trương tìm kiếm những nhà cung ứng có khả năng cạnh tranhtầm cỡ thế giới, dựa trên các tiêu chí về chất lượng, giá cả, phân phối và khảnăng công nghệ Toyota có 9 nhà cung ứng thân thiết

Giúp đỡ các nhà cung ứng cạnh tranh: Toyota cam kết giúp đỡ các nhàcung ứng tăng khả năng cạnh tranh trong thị trường xe hơi Sự cam kết này củng

cố chính sách của Toyota trong việc trau dồi một mối quan hệ vững chắc, lâudài Tạo lợi nhuận cho nhau dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau Quá trình đó diễn rathông qua hai chương trình:

Trang 27

Chính sách thu mua hàng năm: Toyota đánh giá cao mối quan hệ hợp tác

giữa hai bên và thể hiện những mong muốn của mình với các nhà cung ứng.Những mong muốn đó liên quan trực tiếp đến mục tiêu lâu dài của Toyota

Hệ thống cung ứng: đôi khi, những nhà cung ứng phải đối mặt với những

thách thức, khó khăn trong việc nỗ lực nhằm đáp ứng những mong đợi củađối tác Toyota gửi các chuyên gia đến hỗ trợ các nhà cung ứng trong việchoạch định và thực thi những cải tiến cần thiết

Tiêu chí của Toyota đối với các nhà cung ứng:

- Giữ mối quan hệ lâu dài và ổn định với một số nhà cung ứng

- Đàm phán trên cơ sở cam kết lâu dài về việc cải tiến chất lượng và năng suấtlao động

- Chú trọng đến khả năng cung ứng của các nhà cung cấp: khả năng cải tiếnliên tục, công nghệ quy trình sản phẩm, mô hình về khả năng cung ứng

- Chú trọng việc lựa chọn nhà cung ứng trên cơ sở mức độ trách nhiệm của

họ Ví dụ: Toyota mất khoảng từ 3-5 năm để đánh giá một nhà cung ứngmới trước khi kí kết hợp đồng với họ

- Toyota hiểu rõ cấu trúc chi phí của các nhà cung ứng nên nó chỉ chấp nhậnmức giá có liên quan đến chi phí cung ứng mà ở đó nhà cung ứng vẫn có lợinhuận

- Toyota luôn muốn có nhiều đối tác nên nó sẵn sàng hỗ trợ cho nhà cungứng nào đáp ứng được yêu cầu về chất lượng và phân phối

- Toyota cũng rất quan tâm đến việc giải quyết các vấn đề phát sinh với cácnhà cung ứng để đảm bảo không lặp lại sai lầm lần 2

Về vấn đề hàng tồn kho: sự thành công trong việc điều hành của Toyota lànhờ tập trung vào việc cắt giảm tồn kho Thuật ngữ mà Toyota sử dụng cho hệthống là “heijunka” Trong tiếng Nhật nó có nghĩa là làm cho trơn tru và bằng

Trang 28

phẳng Cụ thể là nó liên quan đến việc loại bỏ trong nhu cầu đồng thời tạo rahiệu quả trong việc điều hành cũng như giảm thiểu chi phí trong toàn bộ chuỗicung ứng Hoạt động tinh giản của Toyota là dựa trên ý tưởng “ buy one, sellone” Toyota có thể sản xuất xe đáp ứng đúng nhu cầu của khách hàng Sự thíchứng với nhu cầu của khách hàng đã mang đến cho Toyota lợi thế trong việc giữmức tồn kho tối thiểu trong lĩnh vực xe ô tô ở Nhật.

Việc quản trị hàng tồn kho của Toyota tận dụng triệt để công nghệ máytính Việc lưu kho được điều hành bằng một hệ thống máy tính tinh vi Một hệthống quản lý nhà kho hợp nhất giám sát toàn bộ quá trình giao nhận hàng và lưugiữ những dữ liệu được cập nhật về tồn kho, trong đó bao gồm: hệ thống máytính nối mạng, máy quét mã vạch, hệ thống thu thập dữ liệu bằng tần số vô tuyến

RF, những máy vi tính xách tay cùng với những thiết bị nhà kho truyền thốngnhư: máy nâng hàng, băng chuyền,…

1.6.2 Bài học cho các doanh nghiệp Việt Nam:

Một số bài học có thể rút ra từ thành công của Toyota:

Một là, sử dụng phương pháp JUST IN TIME trong sản xuất Nghiên cứuxây dựng và ứng dụng một quy trình sản xuất khép kín cao độ, nhanh và khoa học

Hai là, quá trình bổ sung vật tư nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả

Ba là, chọn lọc các nhà cung ứng, có các chính sách mang lại lợi ích cho

cả hai bên để khuyến khích và duy trì mối quan hệ ổn định và lâu dài

Bốn là, quản trị tồn kho một cách khoa học, tính toán chính xác lượng tồnkho tối thiểu và sử dụng triệt để công nghệ máy tính trong quản trị tồn kho

Chứng minh bằng sự thành công của mình, phương thức Toyota ngày nay

đã phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới Tuy nhiên, để áp dụng ở Việt Nam thì cầnxem xét kỹ lượng những điều kiện thuận lợi và khó khăn để từ đó đề ra kế hoạchhành động phù hợp cho từng doanh nghiệp, tránh việc áp dụng theo phong trào,không đem lại sự thay đổi thực sự

Trang 29

Một số khó khăn cơ bản như năng lực lãnh đạo có nhiều hạn chế, việckinh doanh chưa chú trọng đến kết quả dài hạn, còn mang tính cơ hội là chủ yếu.Đối với khâu sản xuất, do đã quen với việc sản xuất theo lô lớn và có sản lượng

dự phòng ở các khâu nên khi chuyển sang mô hình sản xuất vừa đủ sẽ gặp khókhăn ban đầu Việc đào tạo và huấn luyện thói quen phối hợp và tự giác pháthiện lỗi của công nhân cũng là một thách thức

Khó khăn nữa là tác phong làm việc chưa thật sự bình đẳng, thẳng thắn,công khai, cởi mở và sẵn sàng chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm cho nhân viên củacấp quản lý cũng làm giảm đi phần lớn hiệu quả của mô hình tổ chức và học tập

và phát triển theo cách của Toyota

Mặc dù vậy, với quy mô sản xuất hiện nay của các doanh nghiệp, với sựnhạy bén, khả năng tiếp thu cái mới, phát hiện vấn đề, cải tiến của người ViệtNam được nhiều lãnh đạo các công ty đa quốc gia đánh giá là khá tốt thì trongmột thời gian phù hợp hy vọng các doanh nghiệp của Việt Nam sẽ áp dụng thànhcông phương thức Toyota

Trên đây là một số lý luận chung, cơ bản về quản trị NVL trong doanhnghiệp Tuy nhiên trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, không phảidoanh nghiệp nào cũng áp dụng một chuẩn mực cho việc quản trị NVL theo lýthuyết, mà nó biến đổi linh hoạt tuỳ từng doanh nghiệp Dựa vào quy mô doanhnghiệp, số lượng sảm phẩm, mức độ sản xuất, khả năng cung ứng mà mỗi doanhnghiệp sẽ chọn lọc và áp dụng thực hiện những chiến lược quản trị phù hợp nhất,hiệu quả nhất và tạo tính đồng bộ nhất

Trang 30

Chương ii thực trạng công tác quản trị nguyên vật liệu tại công ty cổ phần đầu tư xây

dựng và phát triển nông thôn 658 2.1 Giới thiệu chung về công ty Cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển nông thôn 658:

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển:

-Tên công ty: Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển nông thôn 658

-Loại hình công ty: Theo thành phần kinh tế : Công ty cổ phần

Theo ngành nghề kinh tế : Xây dựng

Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển nông thôn 658 được thànhlập do cổ phần hóa Công ty xây dựng và phát triển nông thôn 8 theo quyết định

số 2758/QĐ/BNN-ĐMDN ngày 13/10/2005 của Bộ nông nghiệp và phát triểnnông thôn và chính thức hoạt động theo mô hình công ty cổ phần từ ngày12/07/2006 theo Giấy đăng ký kinh doanh số 0103013123 do Sở Kế hoạch vàđầu tư Hà Nội cấp ngày 12/07/2006 với tổng số vốn điều lệ là 8 tỷ đồng

Tiền thân của công ty CP ĐTXD&PTNT 658 là một xưởng sản xuất phụ

đã trải qua các giai đoạn phát triển:

- Năm 1983 là một xí nghiệp mộc thuộc Công ty khảo sát thiết kế Nôngnghiệp

- Năm 1986 tách riêng, hạch toán độc lập, tự chủ sản xuất kinh doanh

- Năm 1993, xí nghiệp mộc và công ty xuất nhập khẩu số 2 sát nhập thànhCông ty xây dựng và phát triển nông thôn số 8

- Từ năm 1993 đến 2005, Công ty xây dựng và phát triển nông thôn số 8hoạt động với tư cách DNNN thuộc Bộ Nông nghiệp và phát triển nôngthôn

Trang 31

- Từ năm 2006 cho đến nay, công ty tiến hành cổ phần hóa và hoạt độngnhư một công ty cổ phần với tên gọi như hiện nay.

Theo giấy đăng ký kinh doanh, công ty được kinh doanh các ngành nghề nhưsau:

+ Xây dựng công trình công nghiệp và dân dụng, các công trình kỹ thuật hạtầng, khu dân cư đô thị, khu công nghiệp chế xuất, khu công nghệ cao, nhận thầucác công trình nước ngoài

+ Xây dựng công trình giao thông và thủy lợi, kênh mương, đê đập, hồ chứanước

+ Xây dựng các khu văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí, du lịch, khách sạn,công sở, trường học, bệnh viện

+ Khai thác nước ngầm, xây dựng nhà máy nước sạch, xử lý nước, lắp đặtnước sạch nông thôn, nước sạch sinh hoạt, cấp nước, thoát nước, bưu điện

+ Xây dựng đường dây và trạm biến áp từ 35kV trở xuống

+ Tư vấn đầu tư, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, thiết kế quy hoạch,khảo sát địa chất thủy văn Tư vấn và thiết kế, tư vấn đấu thầu và quản lý dự án,

tư vấn giám sát công trình, thẩm tra các dự án đầu tư và thiết kế xây dựng do cácđơn vị khác lập

+ Xuất nhập khẩu vật tư, máy móc thiết bị, phụ tùng, tư liệu sản xuất, kinhdoanh vật liệu xây dựng

+ Khai thác, sản xuất, chế biến kinh doanh các loại cấu kiện và vật liệu trongxây dựng và trang trí nội ngoại thất

+ Chống mối và sinh vật hại cho các công trình dân dụng, công nghiệp vànông nghiệp

+ Cung cấp, lắp đặt, sửa chữa, bảo hành điều hòa không khí, điện sinh hoạt,công nghiệp điện lạnh, thiết bị phòng cháy nổ, vật liệu xây dựng

Trang 32

+ Tư vấn đầu tư phát triển kinh tế trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, lâmnghiệp từ sản xuất đến tiêu dùng Chuyển giao công nghệ chế biến nông, lâm,hải sản công nghiệp nông thôn Đầu tư, quản lý và phát triển các dự án bảo vệmôi trường, bảo vệ đa dạng sinh thái phát triển nông thôn.

-Tập trung về quản lý: Công ty CPĐTXD & PTNT 658 là một đơn vị hạch

toán kinh doanh độc lập, tự chủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm về kinh doanh

lỗ, lãi nên việc quản lý các mặt hoạt động của toàn Công ty phải được tập trungtại Công ty với trách nhiệm của ban giám đốc điều hành, nhất là trách nhiệm củaGiám đốc Công ty

-Phân cấp về điều hành: Việc điều hành các hoạt động kinh doanh của

Công ty CPĐTXD & PTNT 658 được chia thành 2 cấp:

+ Cấp 1: Toàn Công ty do Giám đốc phụ trách, thông qua việc phậncông cho Phó giám đốc – Giám đốc chi nhánh và uỷ quyền cho cácTrưởng phòng nghiệp vụ Công ty

+ Cấp 2: Do các Ban chỉ huy đội và các đơn vị trực thuộc khác phụtrách điều hành theo sự phân công , giao trách nhiệm, uỷ quyền của Giámđốc Công ty

b Cơ chế quản trị, điều hành và kiểm soát Công ty

-Quản trị theo cơ chế tập thể: HĐQT hoạt động theo cơ chế “Tập thể lãnh

đạo, cá nhân phụ trách” bàn và quyết định mọi vấn đề thông qua các phiên họp.Các thành viên HĐQT chịu trách nhiệm theo dõi, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát mọihoạt động của Công ty theo sự phân công của HĐQT

Trang 33

-Điều hành theo chế độ một người phụ trỏch: Giỏm đốc điều hành và quản

lý mọi hoạt động của Cụng ty theo chế độ thủ trưởng phõn cụng và uỷ quyền choPhú giỏm đốc, Giỏm đốc chi nhỏnh, Trưởng phũng nghiệp vụ Cụng ty và cỏc độitrưởng cỏc đơn vị trực thuộc theo chế độ một người phụ trỏch và quản lý một sốmặt hoạt động trong phạm vi giới hạn nhất định theo chế độ được uỷ quyền

-Kiểm soỏt với tớnh cỏch độc lập: Cỏc kiểm soỏt viờn, theo sự phõn cụng

của Trưởng ban kiểm soỏt thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soỏt cỏc hoạt độngkinh doanh, quản trị, điều hành Cụng ty Với tớnh cỏch hoàn toàn độc lập đối với

cơ quan quản trị, điều hành và giữa cỏc kiểm soỏt viờn với nhau

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chu´c bộ mỏy của cụng ty

Đội sản xuất Các chi nhánh Các đơn vị trực thuộc

Trang 34

c Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban

- Phòng Tài chính kế toán: có nhiệm vụ hạch toán hiệu quả sản xuất kinh

doanh trong kế toán thống kê, lưu trữ cung cấp các số liệu thông tin chính xáckịp thời, đầy đủ về tình hình sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp tại mọi thờiđiểm cho Giám đốc và các bộ phận có liên quan

- Phòng Kế hoạch kỹ thuật - dự thầu: Phòng có nhiệm vụ lập hồ sơ đấu

thầu các công trình, lập kế hoạch thi công các công trình, tham mưu cho giámđốc lập kế hoạch thi công theo quí hoặc năm cho toàn công ty, đề xuất các biệnpháp thi công có lợi cho công ty và giám sát quá trình thi công

- Phòng Quản lý chất lượng: có nhiệm vụ quản lý kỹ thuật, chất lượng

công trình và các sản phẩm bao gồm ban điều hành chất lượng Công ty và Banđiều hành chất lượng các đơn vị trực thuộc Công ty

2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh trong những năm gần đây:

Công ty chính thức hoạt động theo mô hình cổ phần từ năm 2006, trải qua

4 năm chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước, doanh thu và lợi nhuận của Công

ty luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao:

Bảng 2.1: Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty trong 3 năm 2007-2009

Đơn vị tính: đồng

ST

1 Doanh thu thuần 33.540.874.21

1 99.997.407621 131.502.867.628

Trang 35

2 Tổng lợi nhuận 333.568.626 1.082.542.382 1.557.325.261

(Nguồn: Báo cáo tài chính Công ty)

Ta thấy lợi nhuận năm trước luôn cao hơn năm sau Lợi nhuận năm 2009tăng 43,85% so với năm 2008 Điều này chứng tỏ, công ty kinh doanh có hiệuquả và khả năng tăng trưởng luôn ở mức ổn định

2.2 Thực trạng công tác quản trị nguyên vật liệu của công ty

2.2.1 Đặc điểm và cách phân loại nguyên vật liệu của công ty:

a Đặc điểm sản phẩm ngành xây dựng

Mục đích của hoạt động xây dựng là tạo ra các sản phẩm dựng theo yêucầu của các chủ đầu tư Đó có thể là các công trình, hạng mục công trình hoặcvật kiến trúc với hình dáng, kích thước, công năng sử dụng khác nhau Hoạtđộng xây dựng vì vậy mang đặc điểm của một hoạt động sản xuất liên ngành,phức tạp với sự tham gia của nhiều chủ thể Sản phẩm xây dựng có những đặcthù riêng so với các sản phẩm công nghiệp khác ở chỗ: đây là sản phẩm đơnchiếc, là kết quả của một quá trình lao động, sản xuất công nghiệp trong một thờigian dài, được định vị với đất, phụ thuộc vào vị trí xây dựng, các điều kiện đấtđai, thiên nhiên cũng như không sản xuất đồng loạt được Sản phẩm xây dựng làsản phẩm gắn liền với sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước Các quá trìnhsản xuất xây dựng huy động một lực lượng lớn lao động, sử dụng nhiều loại máymóc thiết bị, vật tư vật liệu, thu hút nhiều chủ thể tham gia như chủ đầu tư, cácdoanh nghiệp tư vấn xây dựng, các doanh nghiệp xây lắp, doanh nghiệp sản xuất,cung ứng vật tư thiết bị và các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan… Đây làkết quả tổng hợp của nhiều hoạt động sản xuất của xã hội, đòi hỏi yêu cầu về tínhkhoa học, nghệ thuật, thẩm mỹ và tính kỹ thuật cao Với các đặc thù đó, sản phẩmxây dựng có tuổi thọ lâu dài và góp phần quan trọng tạo nên cơ sở vật chất, tinhthần của xã hội Trong phạm trù kinh tế, sản phẩm xây dựng bao giờ cũng đòi hỏinhững nguồn vốn lớn nhất và là khoản chi tiêu nhiều nhất của con người trong mọithời đại

Trang 36

b Đặc điểm và cách phân loại nguyên vật liệu của công ty

Hoạt động chủ yếu của Công ty CP đầu tư xây dựng và phát triển nôngthôn 658 là trong lĩnh vực xây dựng, vì vậy sản phẩm của công ty cũng mangđầy đủ các đặc điểm kể trên Đối với mỗi công trình xây dựng nói chung và cáccông trình của công ty nói riêng, lượng nguyên vật liệu cần dùng là rất lớn, cồngkềnh, khối lượng lớn và bao gồm nhiều loại khác nhau như : gạch, cát, sỏi, ximăng, sắt, thép… Các loại nguyên vật liệu này lại đòi hỏi phải được cung cấpmột cách đồng bộ, hàng loạt, lớn, bởi lẽ sản phẩm xây dựng làm ra được kết cấubằng tổng hợp các loại nguyên vật liệu này Hơn nữa, nơi tiến hành xây dựngcông trình và nơi cung cấp nguyên vật liệu thường cách xa nhau, do đó mà trongcông tác cung ứng nguyên vật liệu, công ty phải chủ động vận chuyển, cung cấpmột cách đồng bộ và đầy đủ

Để phù hợp với đặc điểm, yêu cầu trong quá trình sản xuất, phù hợp vớiđặc điểm, tác dụng của từng loại nguyên vật liệu đối với mỗi công trình và giúphạch toán chính xác một khối lượng tương đối lớn và đa dạng về chủng loại thìviệc phân loại nguyên vật liệu của công ty là tương đối khó khăn Vì mỗi loạicông trình có thể cần những loại nguyên vật liệu chính, phụ để cấu thành nêncông trình đó là khác nhau Tuy có thể căn cứ vào công dụng của vật liệu trongquá trình thi công thì nguyên vật liệu của công ty được chia thành các loạinguyên vật liệu chủ yếu:

+ Nguyên vật liệu chính: là đối tượng lao động chủ yếu của công ty và là cơ sởvật chất chủ yếu hình thành nên các công trình như:

- Sắt, thép

- Đá các loại

- Xi măng, cát, sỏi

- Bê tông đúc sẵn

Trang 37

+ Nguyên vật liệu phụ: bao gồm nhiều loại, chúng có tác dụng khác nhau làmtăng chất lượng của các công trình và tạo điều kiện cho quá trình sản xuất đượctiến hành bình thường như sơn các loại màu, que hàn, đất đèn, phụ gia…

+ Nhiên liệu: dầu hỏa, dầu máy, dầu thủy lực…dùng để cung cấp cho đội xe cơgiới vận chuyển, chuyên chở nguyên vật liệu

+ Phụ tùng thay thế: cốp pha, một số thiết bị trong công nghệ thi công, dây xích

và ốc vít…

Việc phân loại nguyên vật liệu như vậy giúp cho việc quản lý của công tytrở nên dễ dàng hơn Dựa trên cơ sở phân loại này, xí nghiệp theo dõi được sốlượng, chất lượng của từng vật tư chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thaythế Từ đó có thể xác định chính xác hơn nhu cầu vật tư cần thiết cho quá trìnhthi công

2.2.2 Nội dung công tác quản trị nguyên vật liệu của công ty:

2.2.2.1 Xây dựng định mức tiêu dùng nguyên vật liệu:

Không giống như các doanh nghiệp sản xuất khác, vì hoạt động trong lĩnhvực xây dựng, cho nên trong việc tính toán, xác định nhu cầu NVL cho sản xuấtkinh doanh, công ty phải áp dụng các bộ định mức xây dựng cơ bản do Bộ Xâydựng ban hành Định mức dự toán xây dựng công trình là định mức kinh tế kỹthuật thể hiện mức hao phí về vật liệu, lao động và máy thi công để hoàn thànhmột đơn vị khối lượng công tác xây dựng như 1m 3 tường gạch , 1m 3 bê tông,1m2 lát gạch, 1 tấn cốt thép, 100m dài cọc… từ khâu chuẩn bị đến khâu kết thúccông tác xây dựng ( kể cả những hao phí cần thiết do yêu cầu kỹ thuật và tổ chứcsản xuất nhằm đảm bảo thi công xây dựng liên tục, đúng quy trình, quy phạm kỹthuật) Các bộ định mức dự toán được Bộ xây dựng thiết lập trên cơ sở các quychuẩn, tiêu chuẩn xây dựng, quy phạm kỹ thuật về thiết kế- thi công- nghiệmthu; mức cơ giới hóa chung trong ngành xây dựng; trang thiết bị kỹ thuật, biệnpháp thi công và những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong xây dựng (các vât liệumới, thiết bị và công nghệ tiên tiến…)

Trang 38

Tác dụng của định mức nguyên vật liệu:

- Định mức NVL là cơ sở để lập kế hoạch nhu cầu NVL cho các ngành

có công tác xây dựng và các công ty, công trường thi công xây lắp

- Làm cơ sở để phân tích kinh tế kỹ thuật, lựa chọn giải pháp thiết kế vàthi công tối ưu

- Làm căn cứ để quản lý cấp phát và sử dụng, thực hiện đúng chế độhạch toán kinh tế

- Làm cơ sở để xây dựng đơn giá XDCB

- Định mức NVL còn dùng trong công tác tổ chức thi công như: xác địnhkhối lượng vật liệu theo thiết kế công trình, lập kế hoạch cung ứng vật

tư, tính toán kho bãi, tính toán phương tiện vận chuyển…

- Định mức NVL là cơ sở để đảm bảo chất lượng công trình ở nhữngloại thiết kế có yêu cầu vật liệu và cường độ, thì định mức vật liệu sẽcho các thành phần cấp phối cần thiết, nếu không làm đúng thành phầncấp phối đó thì không đảm bảo yêu cầu chất lượng

Định mức NVL gồm 2 thành phần:

+ Định mức vật liệu cấu thành sản phẩm ( ĐM gốc): là lượng vật liệu quy định

cần thiết trực tiếp tạo thành một đơn vị khối lượng hoặc bộ phận kết cấu côngtrình

Ví dụ số kg xi măng, số m3 đá, số m3 cát trong 1 m3 bê tông

+ Định mức hao hụt vật liệu: gồm nhiều loại:

- Tùy theo giai đoạn chia thành 3 loại:

 Hao hụt khâu vận chuyển ở công trường

 Hao hụt khâu bảo quản ở kho

 Hao hụt khâu thi công

- Tùy theo tính chất hao hụt, chia làm 2 loại:

Ngày đăng: 10/07/2023, 14:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Những yếu tố cơ bản của hệ thống MRP - Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị nguyên vật liệu tại công ty cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển nông thôn 658
Sơ đồ 1.1 Những yếu tố cơ bản của hệ thống MRP (Trang 10)
Sơ đồ 1.2: Cấu trúc sảm phẩm theo thời gian: - Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị nguyên vật liệu tại công ty cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển nông thôn 658
Sơ đồ 1.2 Cấu trúc sảm phẩm theo thời gian: (Trang 16)
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chu´c bộ máy của công ty - Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị nguyên vật liệu tại công ty cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển nông thôn 658
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chu´c bộ máy của công ty (Trang 33)
Bảng 2.1: Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty trong 3 năm 2007-2009 - Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị nguyên vật liệu tại công ty cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển nông thôn 658
Bảng 2.1 Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty trong 3 năm 2007-2009 (Trang 34)
Bảng 2.3: Bảng phân tích vật tư - Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị nguyên vật liệu tại công ty cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển nông thôn 658
Bảng 2.3 Bảng phân tích vật tư (Trang 41)
Bảng 2.4: Bảng tổng hợp vật tư (Hạng mục: Gói thầu số 4-Nhà giảng - Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị nguyên vật liệu tại công ty cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển nông thôn 658
Bảng 2.4 Bảng tổng hợp vật tư (Hạng mục: Gói thầu số 4-Nhà giảng (Trang 45)
Bảng 2.5: Bảng Tiến độ thi công công trình - Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị nguyên vật liệu tại công ty cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển nông thôn 658
Bảng 2.5 Bảng Tiến độ thi công công trình (Trang 47)
Bảng 2.2:   Tình hình thực hiện kế hoạch nguyên vật liệu về mặt đồng bộ. - Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị nguyên vật liệu tại công ty cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển nông thôn 658
Bảng 2.2 Tình hình thực hiện kế hoạch nguyên vật liệu về mặt đồng bộ (Trang 50)
Bảng 3.1: Tổng hợp dự báo nhu cầu VLXD ở Việt Nam đến năm 2020: - Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị nguyên vật liệu tại công ty cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển nông thôn 658
Bảng 3.1 Tổng hợp dự báo nhu cầu VLXD ở Việt Nam đến năm 2020: (Trang 70)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w