PHẦN MỞ ĐẦU 1 Bài tập niên luận Nguyễn Thị Ngọc ánh PHẦN MỞ ĐẦU I Lí do chọn đề tài Lưu Quang Vũ đã ra đi trọn hai mươi năm (1988 – 2008) Hai mươi năm chưa đủ để đi hết nửa đời người, nhưng đã là một[.]
Lịch sử vấn đề
Cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu Nổi bật trong số đó là các bài viết của những chuyên gia trong lĩnh vực này.
Vũ Quần Phương trong bài "Đọc thơ Lưu Quang Vũ" đã phân tích những đặc điểm nổi bật của thơ trữ tình Lưu Quang Vũ, nhấn mạnh rằng thơ của ông "diễn đạt tinh vi được một tâm trạng đang cảm xúc cao độ" Ông cũng nhận xét về "cách nhìn đời hồn hậu, lạc quan" và "những cảm xúc tươi trong" trong tác phẩm của Lưu Quang Vũ Đặc biệt, tác giả đã chỉ ra sự chuyển biến rõ rệt trong thơ của Lưu Quang Vũ qua các giai đoạn sáng tác, đặc biệt là trong khoảng thời gian từ 1971-1972.
Vũ “già đi” trước cuộc đời, “mang rất nhiều dằn vặt, nhiều nghĩ ngợi chiêm
Lớp CLC - K55 Ngữ văn Trường ĐHSP đã trải qua nhiều trải nghiệm, bao gồm cả sự phấn đấu và thất vọng Đặc biệt, Vũ Quần Phương nhận thấy rằng trong những năm đó, Lưu Quang Vũ đã có sự nhận thức xã hội sâu sắc hơn, đặc biệt là việc khám phá ra chính bản thân mình.
Nhà nghiên cứu văn học Phạm Xuân Nguyên đã có những cảm nhận sâu sắc về thơ Lưu Quang Vũ trong bài viết "Lưu Quang Vũ - tâm hồn trở gió" Ông nhận ra những điểm cơ bản trong thơ của Lưu Quang Vũ, đặc biệt là cái tôi trữ tình của tác giả Phạm Xuân Nguyên mô tả thơ Lưu Quang Vũ như một con tàu luôn bồn chồn ra đi, thể hiện sự tất bật và hối hả trong cuộc sống của ông Cảm hứng mạnh mẽ nhất trong thơ của Lưu Quang Vũ là sự khai phá và tìm kiếm, mặc dù cuối cùng chỉ dẫn đến vô biên.
Công trình nghiên cứu về cái tôi trữ tình của Lưu Quang Vũ chủ yếu được thể hiện qua khóa luận của Hà Thị Hạnh, tập trung vào việc phân tích cái tôi trữ tình trong thơ của ông.
Vũ giai đoạn 1971-1973 - là đi nghiên cứu công phu và tỉ mỉ về cái tôi trữ tình
Lưu Quang Vũ là một tác giả nổi bật trong văn học Việt Nam Công trình này khảo sát các tác phẩm của ông, bao gồm Hương cây, Mây trắng của đời tôi, Bầy ong trong đêm sâu, và Lưu Quang Vũ – thơ và đời Nghiên cứu tập trung vào việc phân tích cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ, đặc biệt trong giai đoạn 1971-1973, một thời kỳ mang tính bước ngoặt trong sự nghiệp sáng tác của ông.
Các thành tựu từ các bài viết và công trình nghiên cứu này đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng cho chúng tôi trong quá trình tìm hiểu và khảo sát về cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ.
Năm 2008, nhân kỷ niệm 20 năm ngày mất của Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ, gia đình đã công bố phần di cảo còn lại của Lưu Quang Vũ trong tập "Lưu Quang Vũ – di cảo" Tập di cảo này bao gồm nhật ký "Mùa hoa phượng" và "Nhật ký lên đường", cùng với tập thơ "Những bông hoa không chết" Những tác phẩm này mang lại giá trị sâu sắc cho độc giả.
Lớp: CLC - K55 Ngữ văn Trường ĐHSP khám phá những suy tư, những cảm nhận của Lưu Quang Vũ về cuộc đời và nghệ thuật.
Như vậy, hành trình đi tìm cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ lại đặt ra thêm một nhiệm vụ quan trọng
Trong bài tập niên luận này, chúng tôi khám phá cái tôi trữ tình trong tập thơ Những bông hoa không chết của Lưu Quang Vũ Mục tiêu của chúng tôi là cung cấp một góc nhìn mới về chân dung thơ của Lưu Quang Vũ, nhằm làm sáng tỏ một gương mặt thơ vẫn còn bị che khuất và chưa được chú ý đúng mức.
Giới hạn đề tài và nhiệm vụ nghiên cứu
Bài tập niên luận này sẽ nghiên cứu trong giới hạn văn bản tập Lưu Quang
Tập thơ "Những bông hoa không chết" của Vũ - Di cảo (NXB Lao động – H.2008) mang đến những cảm xúc sâu sắc, đồng thời có sự so sánh thú vị với tập "Lưu Quang Vũ – thơ và đời" (NXB).
Tuyển tập "Văn hóa thông tin" bao gồm những tác phẩm thơ tiêu biểu của Lưu Quang Vũ, kèm theo ý kiến và đánh giá từ các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu, phê bình và phân tích thơ của ông.
Trong bài viết này, chúng tôi sẽ khám phá cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ, đặc biệt là trong tập thơ "Những bông hoa không chết" từ di cảo của ông Chúng tôi sẽ nghiên cứu và đưa ra những nhận định sâu sắc về cái tôi trữ tình trong tác phẩm này.
Phương pháp nghiên cứu
Trong bài tập này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
3 Phương pháp khảo sát thống kê
Lớp: CLC - K55 Ngữ văn Trường ĐHSP
LƯU QUANG VŨ – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP
Cuộc đời
Lưu Quang Vũ, sinh ngày 17 tháng 4 năm 1948 tại huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ, đã trải qua những năm tháng đầu đời tại đây cho đến khi hòa bình lập lại và chuyển về Hà Nội.
Gia đình Lưu Quang Vũ đã sống nhờ một người bà con tại phố Trần Quang Khải trước khi chuyển về căn phòng 96A Phố Huế, nơi ông lớn lên và trải qua thời thơ ấu cũng như những năm tháng thanh niên đầy khó khăn Tại đây, Lưu Quang Vũ đã trở thành nhà thơ, nhà văn, và nhà viết kịch, đồng thời cũng là nơi ông sống những ngày cuối đời.
Theo gia đình anh kể lại, Vũ sớm có tư chất nghệ thuật Năm 1961, mới
Lưu Quang Vũ, ở tuổi 13, đã xuất bản truyện ngắn "Đám trẻ con làng Á" và giành giải thưởng thành phố Với sự ảnh hưởng từ người cha đam mê văn chương, ông đã sớm nuôi dưỡng tình yêu nghệ thuật, giúp tài năng của Lưu Quang Vũ ngày càng tỏa sáng trên nhiều lĩnh vực.
Năm 1965 – mới 17 tuổi – Lưu Quang Vũ nhập ngũ.
Lưu Quang Vũ đã trải qua hai cuộc hôn nhân Vợ đầu tiên của anh là diễn viên Tố Uyên, nổi tiếng với vai diễn trong phim "Con chim vành khuyên", và họ có một con trai tên Lưu Minh Vũ Tuy nhiên, sau khi rời quân ngũ và gặp khó khăn trong công việc, Lưu Quang Vũ đã chia tay Tố Uyên, đánh dấu một giai đoạn khó khăn trong cuộc đời anh.
Năm 1973, Lưu Quang Vũ kết hôn với nữ sĩ Xuân Quỳnh, người đã đồng hành và hỗ trợ anh trong suốt mười lăm năm sáng tạo nghệ thuật Xuân Quỳnh không chỉ là “người bạn đường” mà còn là nguồn động viên lớn lao, cùng anh trải qua những thăng trầm của cuộc sống cho đến hơi thở cuối cùng Mười lăm năm bên nhau đã tạo nên một giai điệu đẹp trong cuộc đời của cả hai.
Vũ đã gia nhập làng kịch và cống hiến cho nghệ thuật kịch, đồng thời tiếp tục sáng tác thơ và truyện ngắn, để lại cho đời một sự nghiệp văn học đồ sộ và quý giá.
Ngày 29 – 8 – 1988, trên một chuyến xe từ Hải Phòng về Hà Nội, ba người trong gia đình anh (Lưu Quang Vũ – Xuân Quỳnh – Lưu Quỳnh Thơ) đã cùng tử nạn Lưu Quang Vũ ra đi khi sự nghiệp và tài năng đang độ chín, để lại tiếc thương vô hạn cho bạn bè, đồng nghiệp, tất cả những ai quý mến và kính trọng tài năng của anh.
Sự nghiệp sáng tác
Lưu Quang Vũ, sinh ra và lớn lên trong bối cảnh chiến tranh, đã trải qua một cuộc đời đầy biến động và đau thương Những khó khăn không chỉ đến từ hoàn cảnh đất nước mà còn từ những trắc trở trong tình yêu Bên cạnh đó, khát vọng sáng tạo mãnh liệt của một nghệ sĩ lớn như ông cũng khiến cho cuộc sống của ông luôn không yên.
Lưu Quang Vũ đã kiên trì theo đuổi nghệ thuật, vượt qua mọi nỗi đau và khó khăn trong cuộc sống Sự nghiệp của ông là minh chứng cho nỗ lực không ngừng và tài năng thiên bẩm của một nhà thơ, nhà soạn kịch xuất sắc.
Sinh thời, Lưu Quang Vũ sáng tác trên rất nhiều lĩnh vực: viết truyện ngắn, thơ, viết kịch, chân dung diễn viên, phê bình sân khấu…
Lưu Quang Vũ là một nghệ sĩ đa tài, nổi bật nhất trong lĩnh vực kịch và thơ Bắt đầu sự nghiệp kịch vào năm 1980, đến khi qua đời năm 1988, ông đã sáng tác hơn 50 vở kịch, trong đó nhiều tác phẩm đạt Huy chương vàng tại hội diễn sân khấu toàn quốc và được dàn dựng hàng trăm lần Ông được mệnh danh là một trong những nhà viết kịch xuất sắc nhất Việt Nam.
Lưu Quang Vũ không chỉ là một nhà viết kịch tài năng được công nhận mà còn là một gương mặt thơ độc đáo.
Lớp: CLC - K55 Ngữ văn Trường ĐHSP
Tập thơ đầu tiên của Lưu Quang Vũ mang tên Hương cây, được in chung với Bằng Việt trong Hương cây bếp lửa, đã trở thành một hiện tượng nổi bật trong văn học Việt Nam Các nhà nghiên cứu phê bình đánh giá rằng chỉ với hai mươi bài thơ trong tập này, Lưu Quang Vũ đã khẳng định vị thế của mình như một trong những đỉnh cao của thơ ca chống Mỹ và là một hồn thơ được yêu mến nhất.
Lưu Quang Vũ tiếp tục sáng tác nhiều tác phẩm, coi thơ như một hình thức nhật ký để bày tỏ tâm tư Dù bị từ chối in ấn trong bối cảnh khó khăn, anh vẫn viết để thỏa mãn nhu cầu sáng tạo nghệ thuật chân chính Thơ của Lưu Quang Vũ thể hiện sâu sắc nỗi niềm và cảm xúc của tác giả.
Quang Vũ, mặc dù chỉ “sống im lặng trong sổ tay và trí nhớ bạn bè”, đã được công nhận bởi những phê bình gia tinh tế nhất Hoài Thanh từng nhận xét rằng thơ của anh “đúng nó là vàng thật, đúng nó là thơ” Nhà thơ Vũ Quần Phương cũng khẳng định rằng cốt cách của Quang Vũ luôn là “cốt cách thi sĩ”, và trong dài hạn, sự đóng góp của Lưu Quang Vũ cho thơ ca sẽ lớn hơn so với kịch.
Sau khi Lưu Quang Vũ qua đời, các tập thơ tiếp theo của ông mới được biên soạn và phát hành, bao gồm "Mây trắng của đời tôi" (1989) và "Bầy ong trong đêm sâu".
(1993), sau đó là tập Lưu Quang Vũ – Thơ và đời (1997).
Năm 2008, nhân dịp kỷ niệm 20 năm ngày mất của vợ chồng Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh cùng con trai Lưu Quỳnh Thơ, gia đình đã công bố một phần di cảo còn lại của Lưu Quang Vũ, bao gồm tập thơ mang tên Lưu.
Quang Vũ để lại di sản văn học quý giá, trong đó có phần nhật ký ghi lại những kỷ niệm thời học sinh Những trang viết này không chỉ phản ánh mùa hoa phượng nở rộ mà còn là những cảm xúc chân thành trong hành trình trưởng thành của anh Nhật ký "Lên đường" và các bài thơ từ những năm tháng ấy mang đến cái nhìn sâu sắc về tâm tư và khát vọng của một tâm hồn nghệ sĩ.
1971 - 1975: Những bông hoa không chết
Tập di cảo phong phú cung cấp cho độc giả những tư liệu quý giá, giúp họ hiểu rõ hơn về sự nghiệp thi ca cũng như quan niệm nghệ thuật và cuộc sống của Lưu Quang Vũ Đặc biệt, phần thơ trong tập di cảo này được sáng tác trong những năm gần kề thời điểm hòa bình lập lại.
Lớp: CLC - K55 Ngữ văn Trường ĐHSP
(1971 – 1975), cho chúng ta thấy những nét độc đáo trong sáng tác của Lưu Quang Vũ những năm trong chiến tranh giữa bối cảnh chung của văn học chống
Mặc dù đây chưa phải là những bài thơ xuất sắc nhất, nhưng phần thơ trong tập di cảo này mang đến cái nhìn toàn diện về thơ Lưu Quang Vũ, thể hiện những cảm hứng chủ đạo, giá trị độc đáo và đặc biệt là cái tôi trữ tình trong sáng tác của ông ở một giai đoạn nhất định.
Cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ
Lưu Quang Vũ không chỉ là một nhà soạn kịch, nhà văn hay nhà thơ, mà còn là một nghệ sĩ từ bản chất Những trang nhật ký của anh từ khi 15, 16 tuổi trong tập di cảo cho thấy rõ điều này Với bản ngã nghệ sĩ độc đáo, cái tôi trữ tình trong thơ của Lưu Quang Vũ nổi bật và đặc sắc trong nền thơ ca chống Mỹ.
Cái tôi trữ tình là cách nhìn và thái độ của nghệ sĩ trước cuộc sống, thể hiện qua các phương tiện nghệ thuật độc đáo Lưu Quang Vũ, với bản năng nghệ thuật tách biệt và sự phủ nhận lý tưởng hóa, đã khắc họa cái tôi trữ tình một cách sắc sảo và sống động Cái tôi này không chỉ mang đậm dấu ấn cá nhân mà còn chứa đựng những giá trị riêng biệt trong bối cảnh thơ trẻ chống Mỹ thời bấy giờ.
Lưu Quang Vũ bắt đầu sáng tác thơ từ khi còn nhỏ và tiếp tục cho đến cuối đời Trong suốt hành trình sáng tác đầy trăn trở, thơ của ông luôn thể hiện sự vận động và đổi thay Quan điểm của tác giả Hà Thị Hạnh trong nghiên cứu cũng nhấn mạnh điều này.
Cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ giai đoạn 1971-1973, chúng tôi chia hành trình thơ Lưu Quang Vũ ra làm ba giai đoạn:
Lớp: CLC - K55 Ngữ văn Trường ĐHSP
Ba chặng đường thơ của Lưu Quang Vũ đánh dấu sự trưởng thành không chỉ về nội dung mà còn về phương thức biểu hiện Cái tôi trữ tình trong thơ ông đã có những thay đổi lớn lao Từ năm 1963 đến 1970, cái tôi này thể hiện sự giàu cảm xúc, tin yêu và mơ mộng với cuộc đời, với giọng thơ nồng nàn đắm đuối.
1973, giai đoạn này đánh dấu sự trưởng thành của cái tôi trữ tình Lưu Quang
Trong giai đoạn thơ từ 1974-1988, cái tôi trữ tình của Lưu Quang Vũ đã có sự chuyển mình mạnh mẽ, từ những hoài nghi và cay đắng sang một cái tôi tìm thấy lối thoát cho bản thân Cái tôi này không còn là sự say mê mộng mơ như những năm đầu, mà là một niềm tin vững chắc, được xây dựng từ những trải nghiệm và nhận thức sâu sắc về cuộc sống Đây là một cái tôi hồi sinh, khám phá đời sống qua những góc nhìn độc đáo, thể hiện sự trưởng thành và chín chắn trong cảm xúc.
Cái tôi trong văn học không chỉ đơn thuần là cái tôi cá nhân mà còn là cái tôi sử thi, thể hiện sự giao thoa giữa đời tư và lịch sử Hình ảnh đất nước và nhân dân được cảm nhận không chỉ từ góc độ anh hùng trong chiến trận mà còn từ chiều sâu văn hóa và lịch sử, tìm kiếm nguồn cội dân tộc qua những lớp trầm tích văn hóa.
Lớp: CLC - K55 Ngữ văn Trường ĐHSP
Trong các giai đoạn thơ của Lưu Quang Vũ, cái tôi trữ tình phát triển qua từng nấc thang, mỗi giai đoạn mang một đặc trưng riêng Tuy nhiên, cái tôi này luôn tìm thấy giọng điệu và cách biểu hiện tài hoa, với âm sắc đặc biệt Dù trải qua ba chặng đường thơ, cái tôi Lưu Quang Vũ vẫn giữ được sự nồng nàn trong cảm xúc, phóng túng trong liên tưởng, và phong phú về hình ảnh màu sắc Ông luôn nỗ lực vượt thoát để hướng tới chân trời của tình yêu và những giá trị nhân bản cao đẹp trong cuộc sống.
Tập di cảo "Những bông hoa không chết" là một phần thơ của Lưu Quang Vũ, được sáng tác trong giai đoạn từ 1971 đến 1976 Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy rằng trong tập này chỉ có một bài thơ được viết vào năm 1971.
Những bông hoa không chết, còn lại đều được sáng tác trong khoảng những năm
Giai đoạn 1974-1976 đánh dấu một thời kỳ đặc biệt trong sự nghiệp sáng tác của Lưu Quang Vũ, nằm ở giai đoạn thứ ba nhưng lại là giai đoạn đầu, thể hiện những bước chuyển tiếp và đổi thay độc đáo Tập thơ này phản ánh cái tôi trữ tình với những nét đẹp riêng, góp phần làm phong phú thêm sự nghiệp thi ca của ông.
Trong bài tập niên luận này, chúng tôi sẽ khảo sát và phân tích cái tôi trữ tình của Lưu Quang Vũ trong tập thơ, dựa trên những ý kiến định hướng từ các nhà nghiên cứu trước.
Lớp: CLC - K55 Ngữ văn Trường ĐHSP
CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG TẬP THƠ NHỮNG BÔNG
Cái tôi sử thi
Cái tôi sử thi được hình thành từ tư cách công dân và cảm hứng lãng mạn, đặc biệt trong thời kỳ chiến tranh khi con người sống cho lý tưởng và hướng về những sự kiện lớn của lịch sử Do đó, cái tôi sử thi thường lấn át cái tôi thế sự đời tư.
Văn học chống Mĩ, hay chính xác hơn là văn học thời kỳ chống Mĩ, tập trung vào việc thể hiện cảm xúc và thái độ ngợi ca cuộc kháng chiến anh hùng của nhân dân Nó ca ngợi tinh thần kiên cường và sức mạnh của dân tộc trong bối cảnh kháng chiến.
Lớp CLC - K55 Ngữ văn Trường ĐHSP thể hiện âm hưởng sử thi qua các tác phẩm như “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng” của Chế Lan Viên và “Tổ quốc tôi như một thiên đường” của Tố Hữu Cảm hứng tự hào và niềm tin vững chắc được thể hiện ngay cả trong những ngày gian khổ, như trong câu thơ: “tôi xẻ mình ra ngang dọc chiến hào/ cho liền sông núi vạn đời sau/ Việt Nam chín vạn ngày lửa đạn/ cho ngàn năm nhân loại ngẩng cao đầu” của Chế Lan Viên.
Thời kỳ chống Mỹ được thể hiện qua hiện thực hào hùng, nơi cái tôi sử thi cảm nhận sâu sắc trong bối cảnh lãng mạn Con người, với tư cách là công dân, đã dũng cảm phát ngôn và thể hiện tiếng nói của thời đại.
Cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ thể hiện một cái tôi sử thi độc đáo, từ chối lí tưởng hóa và phản ánh đời sống theo cách riêng Trong tập thơ "Những bông hoa không chết", cái tôi này nhận thức về dân tộc và quốc gia qua chiều dài lịch sử - văn hóa, thể hiện sự uyên bác và khám phá đất nước từ một góc nhìn sâu sắc và rộng lớn.
1 Cái tôi suy tưởng về lịch sử dân tộc
Bài thơ gồm ba mươi bốn tác phẩm, trong đó nổi bật là bốn bài viết về Sông Hồng Ngoài ra, các tác phẩm như "Năm 1954", "Người báo hiệu", "Khâm Thiên" cũng thể hiện sâu sắc cảm nhận về dân tộc và đất nước qua chiều dài lịch sử và chiều sâu văn hóa.
Dòng sông Hồng trong cái nhìn của cái tôi trữ tình Lưu Quang Vũ là dòng sông của thời gian, của lịch sử:
Một con sông chảy qua thời gian Chảy qua lịch sử
Chảy qua triệu triệu cuộc đời Chảy qua trái tim mỗi người Khi êm đềm khi hung dữ
Dòng sông ấy, trong tâm hồn trữ tình, là nguồn cội của sự sống, của dân tộc, của tiếng mẹ đẻ, của những trang thơ và của mỗi cuộc đời.
Lớp: CLC - K55 Ngữ văn Trường ĐHSP
Một con sông rì rầm sóng vỗ Trong muôn vàn trang thơ Làm nên xóm thôn, hoa trái, những ngôi nhà Tạo sắc áo, màu cây và tiếng Việt
Một giống nòi sinh tự một dòng sông
Lưu Quang Vũ, với kiến thức sâu rộng về lịch sử và văn hóa, đã có những cảm nhận sâu sắc về dân tộc, thể hiện qua chiều sâu văn hóa và chiều dài lịch sử Cái tôi của ông không chỉ nhìn nhận dòng sông như một địa danh anh hùng trong kháng chiến, mà còn hiểu nó ở một mức độ sâu xa hơn.
“Sông Hồng” là biểu tượng gắn bó sâu sắc với lịch sử và sự phát triển của dân tộc, như một dòng sông lắng đọng phù sa qua thời gian Dòng sông này không chỉ mang trong mình những lớp trầm tích lịch sử mà còn phản ánh giá trị văn hóa không thể đo đếm Nhiều nền văn minh lớn trên thế giới đều bắt nguồn từ các dòng sông, và Sông Hồng chính là nơi khởi nguồn của nền văn minh Bắc Hà, chảy qua thủ đô – trái tim của đất nước Trong cảm nhận của Lưu Quang Vũ, Sông Hồng là cội nguồn của dân tộc, là tiếng nói và giống nòi, biểu trưng cho sự sống, niềm vui và hạnh phúc mới đang mở ra cho dân tộc hồi sinh và phát triển.
Máu ta mang sắc đỏ của sông Hồng, biểu trưng cho nỗi khổ và niềm vui bất tận, luôn mới mẻ và luôn ra đi Sông Hồng không chỉ là dòng chảy của lịch sử, mà còn là tâm hồn đằm thắm, nơi tình yêu thương dâng trào Đất đai mở rộng ra biển, tạo nên bãi mới xanh ngát, là minh chứng cho sự sống và sự hồi sinh, không phải là máu đen của quân thù hay tiếng nấc nghẹn ngào sau những thất bại.
Lưu Quang Vũ và Nguyễn Khoa Điềm đều thể hiện cái tôi sử thi trong cảm nhận về đất nước, nhưng có sự khác biệt trong cách nhìn nhận Trong khi Nguyễn Khoa Điềm tập trung vào khía cạnh lịch sử và văn hóa của dân tộc, Lưu Quang Vũ lại mang đến một cái nhìn sâu sắc hơn, với tình yêu thương mãnh liệt dành cho quê hương Đối với Lưu Quang Vũ, đất nước không chỉ là lịch sử hay văn hóa, mà còn là nơi chứa đựng tình yêu thương, dù trải qua bao đau thương.
“đằm thắm phù sa/ dâng yêu thương đỏ rực đôi bờ”
Cái tôi trữ tình đã quay về quá khứ đau thương của dân tộc, nhìn nhận những danh nhân và trang sử hào hùng, đồng thời đối diện với những mâu thuẫn trong bản sắc dân tộc Nó “bóc mẽ” những niềm tự hào tưởng chừng đã trở thành cốt lõi của người Việt.
Chúng ta nhớ gì ngày ấy? nước Nam
…Những ông quan võng lọng vẹo xiêu Ham chọi gà và giỏi làm câu đố
Những đồng bãi bốn mùa nghèo đói Những chiếu chỉ chữ Nôm
(do hai chữ Tàu ghép lại)
Và tỏ niềm ngưỡng mộ với những bậc anh hùng lỡ vận của một thời đại nhiễu nhương:
Lớp: CLC - K55 Ngữ văn Trường ĐHSP
Ngọn đèn le lói trong đêm đông chiếu sáng gương mặt của một người thức trắng, Nguyễn Trường Tộ, với đôi mắt sáng đầy cô đơn Ông viết tờ trần dâng vua, đề xuất cách trị thủy cho Hồng Hà, nhấn mạnh rằng không thể chỉ dùng đê quai tạm bợ mà cần phải đào hồ lớn và khai thông đường sá Đến lúc cần thiết, ông cho rằng phải trọng toán lí hơn văn.
Lưu Quang Vũ đã hóa thân vào những con người vô danh trong những ngày tăm tối, cất lên tiếng nói về lịch sử và những sự kiện bi thương của dân tộc.
Tôi là người lính già tóc bạc Đi theo vua Hàm Nghi Trong ngàn sân Quảng Trị xanh rì Nhìn nhà vua trẻ măng
Tôi ôm đầu trong im lặng, lòng quặn thắt và nghẹn ngào Nước mất rồi, chúng ta sẽ đi đâu? Đối diện với những sự kiện lớn trong quá khứ, chúng ta cần bàn về vấn đề sống còn của mỗi cá nhân, mỗi số phận trong cơn bão táp của lịch sử.
Quang Vũ là cái tôi sử thi – nhân văn , hướng tới con người và vì con người.
Cảm hứng ấy khiến cho cái tôi trữ tình Lưu Quang Vũ chỉ nhìn về một điểm độc sáng:
Năm 72! Có thể thế được chăng Hãy mở mắt ra trông
Vụ thảm sát chưa nay chưa từng cóNăm trái đất phóng bao tàu vũ trụKhông nơi nào nói đến tình thương Lớp: CLC - K55 Ngữ văn Trường ĐHSP
Cái tôi thế sự đời tư
Cái tôi thế sự vốn là một cái tôi không nổi trội trong dòng văn học chống
Cảm thức chủ đạo của văn học thời chống Mỹ là cảm thức sử thi, thể hiện qua sự căm ghét, yêu thương, và tinh thần chiến đấu, hướng tới cuộc chiến tranh vĩ đại của dân tộc vì một mục đích chung Mặc dù cái tôi cá nhân có phần lạc lõng, nhưng vẫn có sự hiện diện của nó trong tác phẩm của các nhà thơ như Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền, và Nguyên Sa.
… Thơ Lưu Quang Vũ thời chống Mĩ chủ yếu đi về với cái tôi này, cái tôi thế sự đời tư.
Bản chất của cái tôi trong đời sống cá nhân là kết quả của sự tỉnh thức về ý thức và nhu cầu cá nhân Nhà nghiên cứu Lưu Khánh Thơ đã chỉ ra rằng đây là thời kỳ khó khăn và cô đơn tột cùng.
Lớp: CLC - K55 Ngữ văn Trường ĐHSP
Lưu Quang Vũ, một nhà thơ ít người biết đến, đã trải qua những giai đoạn thất vọng, cô đơn và bế tắc, nhưng từ đó, anh đã nhận thức sâu sắc về bản thân và cuộc sống Trong tập thơ "Những bông hoa không chết", cái tôi trữ tình của Lưu Quang Vũ chuyển từ sự say mê và mơ mộng sang hoài nghi và đổ vỡ, rồi dần dần tỉnh thức về ý thức và nhu cầu cá nhân Ở giai đoạn này, cái tôi của anh không chỉ dừng lại ở những trăn trở mà đã đạt đến nhận thức sâu sắc về ý nghĩa cuộc sống, thể hiện một triết lý và luận bàn sâu sắc Cái tôi thế sự đời tư của Lưu Quang Vũ trong tác phẩm này là một cái tôi đầy chiều sâu và thấm thía.
1 Cái tôi day dứt về số phận con người và ám ảnh tâm thức hậu hiện đại
Lưu Quang Vũ không theo đuổi những lý tưởng ngợi ca về thời đại anh hùng trong văn học sử thi, mà thay vào đó, ông mang đến một góc nhìn chân thực và từ chối sự lý tưởng hóa Tiếng thơ của ông phản ánh sự từ chối những hình ảnh hào nhoáng, tập trung vào những khía cạnh thực tế của cuộc sống.
– cách nhận thức – cách cảm thụ đời sống như riêng mình muốn, cái tôi trữ tình
Lưu Quang Vũ trong tập thơ "Những bông hoa không chết" thể hiện nhận thức sâu sắc về chiến tranh qua những mất mát và đau thương Ông khắc họa chiến tranh với góc độ tàn khốc và vô nhân tính, tập trung vào nỗi đau khổ, chết chóc và sự đảo lộn của các giá trị nhân văn Cảm hứng thơ ca của Lưu Quang Vũ phản ánh cái nhìn thế sự và đời tư về thời đại, nhấn mạnh sự tha hóa của những giá trị con người trong bối cảnh chiến tranh.
Cái tôi này mang đến một cái nhìn sắc sảo và trực diện về chiến tranh, tập trung vào những khía cạnh tối tăm, bất thường và phi lý của nó, thể hiện sự vô nghĩa trong những cuộc xung đột.
Tôi yêu trái đất này sao đượcNgười ta ném bom xuống làng xóm chúng tôi Lớp: CLC - K55 Ngữ văn Trường ĐHSP
Những máy bay nhanh hơn tiếng động Những người trai của một thành phố khác Cày nát đất tôi rồi
Bao đứa trẻ con đã chết Dưới mặt trời ô nhục Trái đất mình đẹp lắm phải không em?
Hình ảnh trẻ em chết đi sống lại trong thơ Lưu Quang Vũ thể hiện nỗi đau xót sâu sắc về những mất mát trong chiến tranh Chiến tranh tàn phá đất đai, cướp đi sinh mạng con người, và hủy diệt cái đẹp, cái tốt, phơi bày bộ mặt phi nhân tính của nó.
Chiến tranh không chỉ mang đến bi kịch của sự giết chóc mà còn làm suy thoái tinh thần con người Nó đảo lộn nhân tính, khiến trẻ em mất đi sự hồn nhiên Hình ảnh những đứa trẻ với tóc dài như người già và ánh mắt hằn học phản ánh sự tha hóa sâu sắc trong tâm hồn chúng.
…Bọn cướp trẻ măng đốt phá các bảo tàng Chúng không tin các nhà duy tâm
Chúng không theo các nhà duy vật Đã tới cái giờ kinh khủng nhất Cái giờ quyết định
Những bước chân chạy ầm ầm Biển sôi như vạc dầu nóng bỏng
(Hoa cẩm chướng trong mưa)
Lưu Quang Vũ, với tư cách là “đứa con thành thị”, thể hiện những dự cảm ám ảnh về thời đại và con người, đồng thời khắc họa cái tôi trữ tình sâu sắc trong thơ của mình.
Lớp CLC - K55 Ngữ văn Trường ĐHSP thể hiện những cảm nhận sâu sắc về hiện thực và những dự cảm thời hậu chiến Chủ thể trữ tình bộc lộ sự hoang mang, hốt hoảng, như một sự tiên tri về sự tha hóa của loài người và sự xuống cấp của nền văn minh Những hình ảnh thơ vừa rùng rợn vừa xót xa, như “những đứa trẻ…mắt gườm gườm hằn học” và “bọn cướp trẻ măng đốt phá các bảo tàng”, cùng với “biển sôi như vạc dầu nóng bỏng”, phản ánh sự hao mòn nhân tính trong xã hội.
Nhân gian được ví như cõi âm ti, nơi chỉ có ma quỷ và những tiếng kêu khóc rợn người Chiến tranh đã làm tha hóa con người, đưa đến “tận cùng hoan lạc/tận cùng tội ác” Văn minh không giúp con người phát triển mà còn lùi sâu vào bóng tối, như lời nhà bác học: “Con người ngồi trên những máy điều khiển học/Tiếp tục nhổ vào mặt nhau” Đến những năm 80, các nhà văn thời hậu chiến như Nguyễn Huy Thiệp trong “Thương nhớ đồng quê” và Bảo Ninh với “Nỗi buồn chiến tranh” mới bắt đầu khai thác chủ đề này Lưu Quang Vũ là người đi trước, với cái tôi trữ tình nhạy bén và sâu sắc về thời đại.
Nhà văn Tàn Tuyết, một trong những tác giả lớn của văn học Trung Quốc hiện đại, đã khẳng định rằng những tác phẩm vĩ đại mang tính vĩnh cửu, luôn khơi gợi điều mới mẻ cho các thế hệ sau So sánh với thơ Lưu Quang Vũ, chúng tôi nhận thấy rằng tác phẩm của anh không chỉ là văn học của một thời, mà còn chứa đựng những dự cảm về thời hậu chiến tại Việt Nam Những bài thơ của anh, dù được đọc lại nhiều lần, vẫn để lại ám ảnh sâu sắc, không bao giờ cũ, đặc biệt khi con người đối diện với những biến động đầy đe dọa của cuộc sống.
Lớp: CLC - K55 Ngữ văn Trường ĐHSP
Nhận thức về cuộc đời, cái tôi đó đặt ra những vấn đề đầy ý nghĩa nhân sinh:
Anh có nhớ Macxen Macsô Cái ông hề tóc bạc
Có gương mặt buồn rất cô đơn Anh có nhớ con người đùa bỡn Với cái mặt nạ cười
Rồi không sao cởi được Đau đớn mệt nhoài kiệt sức Tuyệt vọng ôm vai, cái mặt vẫn cười?
Nước mắt sau những gương mặt hề thể hiện bi kịch của con người, và Mạc Can đã xây dựng hình tượng nghệ thuật trọn vẹn Lưu Quang Vũ đã khắc họa sinh động bi kịch của một loại người, với những câu thơ lay động lòng người nhờ cái nhìn nhân hậu và sâu sắc trước những bi kịch nhân sinh.
Con người với chiến tranh, Lưu Quang Vũ có một cái nhìn tưởng như đơn giản nhưng thực ra đã phát hiện được cả cái phần bản chất:
Trái đất mình rộng quá Ở đâu cũng có con người Sao chưa tìm được cách nào Sống với nhau cho ổn thỏa?
Câu hỏi về cách con người sống hòa thuận với nhau là vô cùng quan trọng Khi chúng ta tìm ra phương thức để sống chung, chiến tranh và bạo lực sẽ không còn Dù đây có thể chỉ là một cái nhìn lãng mạn của một nhà thơ, nhưng nó vẫn mang tính nhân đạo và nhân văn sâu sắc.
Lưu Quang Vũ đã thể hiện rõ quan điểm và nhận thức sâu sắc về đời sống thông qua những câu hỏi có vấn đề mà ông đặt ra.