Ở ViệtNam, tỷ lệ tăng dân số tương ứng với hai thời kỳ nói trên là 2,0% và 1,3%.Dân số tăng nhanh trong khi kinh tế tăng chậm đã làm cho mức sống dân cư ở các nước đang phát triển chậm đ
Trang 1Tác hại của thất nghiệp là rất rõ ràng Người ta có thể tính toán được sựthiệt hại kinh tế - đó là sự giảm sút nghiêm trọng về sản lượng và đôi khi cònkéo theo nạn lạm phát Sự thiệt hại về kinh tế do thất nghiệp mang lại ở nhiềunước to lớn đến mức không thể so sánh với thiệt hại do tính không hiệu quảcủa bất kỳ hoạt động kinh tế vĩ mô nào khác Những kết quả điều tra xã hộihọc cũng cho thấy rằng, thất nghiệp phát triển luôn gắn với sự gia tăng các tệnạn xã hội như cờ bạc, trộm cắp làm xói mòn nếp sống lành mạnh, có thểphá vỡ nhiều mối quan hệ truyền thống, gây tổn thương về mặt tâm lý vàniềm tin của mọi người (đó là những khoản lãng phí lớn nhất trong nền kinh
tế hiện đại mà mọi quốc gia trong tiến trình phát triển của mình không thể bỏqua)
Hiện nay, trên thế giới có hơn 1 tỷ người (chiếm khoảng 30%) trong lựclượng lao động thiếu việc làm (trong đó, 150 triệu người không có cơ hộikiếm sống bằng chính sức lao động của mình) Theo ước tính của Tổ chức laođộng quốc tế (ILO), khoảng 60 triệu lao động trong độ tuổi từ 15-24 khôngthể tìm được công ăn việc làm Điều đó cho thấy, việc làm là một trong nhữngvấn đề kinh tế - xã hội mang tính chất thời sự toàn cầu An toàn việc làm, antoàn lương thực và môi trường đã, đang và sẽ là những yếu tố cơ bản cho sựphát triển bền vững của một quốc gia Quan tâm đến đời sống vật chất và tinhthần của con người, trong đó có vấn đề giải quyết công ăn việc làm, đảm bảo
Trang 2tối đa quyền lợi của người lao động là nhiệm vụ đặt ra đối với bất cứ nhànước nào
Tại Việt Nam, cỏc chủ trương và chớnh sỏch giải quyết việc làm trongđiều kiện chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoỏ tập trung sang cơ chếthị trường đó được Nhà nước thể chế hoỏ thành một chương riờng trong Bộluật lao động (ban hành năm 1994) Mở rộng việc làm là một trong ba vấn đềcần được ưu tiờn giải quyết trong bối cảnh thế giới đang diễn ra trong khủnghoảng toàn cầu về cụng ăn việc làm Tuy nhiờn, do tốc độ tăng trưởng kinh tếthời gian gần đõy đang cú xu hướng chững lại, cộng với sức ộp dõn số lờn thịtrường lao động rất lớn, việc tăng cường cỏc nỗ lực giải quyết việc làm củaChớnh phủ là hết sức cần thiết trước mắt cũng như trong thời gian tới
Hà Nội cũng như một số địa phương khỏc trong cả nước, tỷ lệ thấtnghiệp cú xu hướng gia tăng (tỷ lệ thất nghiệp thành thị của Hà Nội hiện caonhất so với cả nước) Vỡ vậy, cõu hỏi đặt ra là làm thế nào để giảm nhanh tỷ lệthất nghiệp của Hà Nội, nhằm tận dụng được nguồn nhõn lực dồi dào phục vụcho sự ghiệp CNH-HĐH Thủ đụ núi riờng và cả nước núi chung Nhận thứcđược tầm quan trọng của vấn đề trờn đối với sự phỏt triển kinh tế -xó hội Thủ
đụ, em xin tập trung nghiờn cứu đề tài:
"Định hướng và cỏc giải phỏp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm trờn
địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2009-2015 "
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo,chuyên đề tốt nghiệp được chia làm 3 phần:
Phần I: Cơ sở lý luận về việc làm và thất nghiệp ở cỏc nước đang phỏt triển Phần II: Thực trạng thất nghiệp và thiếu việc làm ở thành phố hà nội
giai đoạn 2000-2008
Phần III: Định hướng và cỏc giải phỏp chủ yếu nhằm giải quyết việc
làm trờn địa bàn Hà Nội giai đoạn 2009-2015
Em xin chõn thành cảm ơn Cụ giỏo Bựi Thị Lan đó tận tỡnh hướng dẫn
Trang 3và giỳp đỡ em trong suốt quỏ trỡnh làm chuyên đề Em cũng xin được bày tỏlũng biết ơn của mỡnh tới tập thể Viện nghiờn cứu phỏt triển kinh tế - xó hội
Hà Nội mà trực tiếp là cựng cỏc anh, chị phũng nghiờn cứu kinh tế đó giỳp đỡ
và tạo mọi điều kiện để em hoàn thành chuyên đề này!
Hà nội thỏng 4 năm 2009
Sinh viờn thực hiện
Nguyễn Kim Ngọc
Trang 4Dân số là cơ sở để hình thành lực lượng lao động Sự biến động của dân
số là kết quả của quá trình nhân khẩu học và có tác động trực tiếp hoặc giántiếp đến quy mô, cơ cấu cũng như sự phân bố theo không gian của dân sốtrong độ tuổi lao động Sự biến động của dân số thường được nghiên cứu qua
sự biến động tự nhiên và biến động cơ học
1.1.1.1.Biến động dân số tự nhiên:
Biến động dân số tự nhiên do tác động của sinh đẻ và tử vong Tỷ lệ sinh
đẻ và tử vong phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế và mức độ thành côngcủa chính sách kiểm toán dân số (như hạn chế sinh đẻ…)
Các nước đang phát triển có tỷ lệ sinh cao hơn so với các nước phát triển
do vậy cũng có tốc độ tăng dân số tự nhiên là cao hơn Chẳng hạn trong giaiđoạn 1975 – 1999, tỷ lệ tăng dân số trung bình hàng năm của thế giới 1,6%thì các nước đang phát triển con số này là 1,9%, các nước chậm phát triển là2,8% còn các nước thuộc OECD có thu nhập cao chỉ là 0,6% Theo số liệu dựbáo của Liên hiệp quốc, giai đoạn 2000 – 2015 tỷ lệ tăng dân số trung bìnhhằng năm của thế giới là 1,2%, các nước đang phát triển là 1,4%, các nướcchậm phát triển là 2,4% Và các nước OECD có thu nhập cao là 0.4% Ở ViệtNam, tỷ lệ tăng dân số tương ứng với hai thời kỳ nói trên là 2,0% và 1,3%.Dân số tăng nhanh trong khi kinh tế tăng chậm đã làm cho mức sống dân
cư ở các nước đang phát triển chậm đươc cải thiện và tạo ra áp lực lớn tronggiải quyết việc làm Do đó, kế hoạch hoá dân số đi đôi với phát triển kinh tế là
Trang 5vấn đề quan tâm đặc biệt ở nước đang phát triển.
Cũng cần chú ý rằng các yếu tố sinh đẻ và tử vong có tác động đến quy
mô dân số trong độ tuổi lao động song có tác động trễ (sau 15 năm) Do vậy,
để hạn chế tốc độ tăng dân số cần có các chính sách kiểm soát dân số có hiệuquả trong thời kỳ ít nhất là 15 năm trước đó
1.1.1.2.Biến động dân số cơ học.
Biến động dân số cơ học là do tác động của di dân (di cư) Ở các nướcđang phát triển, di dân là một trong những nhân tố rất quan trọng, tác độngđến quy mô và cơ cấu lao động, đặc biệt cơ cấu lao động khu vực thành thị vànông thôn Vì dân số và lao động chuyển từ nông thôn ra thành thị là biểuhiện chính của xu hướng di dân trong nước
Tác động của sự di dân từ nông thôn ra thành thị, một mặt làm tăng cunglao động ở thành thị, đặc biệt lao động trẻ (ở Việt Nam, thời kỳ 1999 – 2000,tốc độ tăng lực lượng lao động nông thôn là 2,32%/năm, trong khi ở thành thị
là 5,5%/năm) Nhưng mặt khác còn thúc đẩy tốc độ đô thị hoá và gia tăng tỷ
lệ thất nghiệp ở thành thị
Vậy, nguyên nhân của sự di dân nói trên là từ đây? Về lý thuyết, dựa vào
mô hình John R Harris và Michael P Todaro hay còn gọi là mô hình di dâncủa Todaro (1970) Mô hình dựa vào các giả thuyết sau
- Thứ nhất, giả thiết rằng di dân chủ yếu là một hiện tượng kinh tế mà
đối với cá nhân người di cư có thể là một quyết định hoàn toàn hợp lý cho dù
có tình trạn thất nghiệp ở thành thị
- Thứ hai, quyết định di dân phụ thuộc vào chênh lệch, thu nhập “dự
kiến” sẽ có được chứ không phải thu nhập thực tế giữa nông thôn và thànhthị
Chênh lệch thu nhập “dự kiến” được xác định bởi sự tác động qua lại củahai yếu tố Đó là: chênh lệch về lương thực tế giữa nông thôn – thành thị vàxác suất thành công trong tìm việc làm ở thành thị
Trang 6Những người lao động trong hiện tại và trong tương lai sẽ di cư nếu thunhập “dự kiến” có được trong một khoảng thời gian nhất định ở thành thị caohơn thu nhập hiện tại có ở nông thôn.
Nghiên cứu hiện tượng di cư ở các nước đang phát triển, các nhà kinh tế
đã rút ra nhận xét:
- Người di cư phần lớn là thanh niên (ở độ tuổi 15 – 24) và có trình độhọc vấn nhất định
- Người nghèo thường chiếm tỷ lệ cao trong số người di cư
Việc phân tích xem ai là người chuyển đến thành thị và nguyên nhân tạisao là cơ sở quan trọng để Chính phủ lựa chọn chính sách giải quyết vấn đềtăng cung lao động và thất nghiệp ở thành thị
1.1.2 Nguồn lao động
1.1.2.1 Khái niệm:
Nguồn lao động là dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của phápluật có khả năng lao động, có nguyện vọng tham gia lao động và những ngườingoài độ tuổi lao động (trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các ngànhkinh tế quốc dân
1.1.2.2.Biểu hiện.
Việc quy định cụ thể về đô tuổi lao động là khác nhau ở các nước; thậmchí khác nhau ở các giai đoạn của mỗi nước Điều đó tuỳ thuộc trình độ pháttriển của nền kinh tế Đa số các nước quy định cận dưới (tuổi tối thiểu) của độtuổi lao động là 15 tuổi, còn cận trên (tuổi tối đa) có sự khác nhau (60 tuổihoặc 64 tuổi…) Trị số tối đa về tuổi lao động là trùng với tuổi về hưu Ví dụ,
ở Oxtraylia không quy định tuổi về hưu và cũng không có giới hạn tuổi tối đa
Ở nước ta, theo quy định của Bộ luật Lao động (2002), độ tuổi lao động đốivới nam từ 15 tuổi đến 60 tuổi và nữ là từ 15 tuổi đến 55 tuổi Nguồn laođộng luôn được xem xét trên hai mặt biểu hiện đó là số lượng và chất lượng
Trang 7Theo khỏi niệm trờn, nguồn lao động về mặt số lượng bao gồm:
- Dõn số đủ 15 tuổi trở lờn cú việc làm
- Và dõn số trong độ tuổi lao động cú khả năng lao động nhưng đang thấtnghiệp, đang đi học, đang làm cụng việc nội trợ trong gia đỡnh, khụng cú nhưcầu việc làm và những người thuộc tỡnh trạng khỏc (bao gồm cả những ngườinghỉ hưu trước tuổi quy định)
Nguồn lao động xột về mặt chất lượng, cơ bản được đỏnh giỏ ở trỡnh độchuyờn mụn, tay nghề (trớ lực) và sức khoẻ (thể lực) của người lao động
1.1.3.Lực lượng lao động.
Lực lượng lao động theo quan niệm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO– International Labour Organization) là bộ phận dõn số trong độ tuổi laođộng Theo quy định thực tế đang cú việc làm và những người thất nghiệp
Ở nước ta hiện nay, thường sử dụng khỏi niệm sau: lực lượng lao động là
bộ phận dõn số chỉ 15 tuổi trở lờn cú việc làm và những người thất nghiệp.Lực lượng lao động theo quan niệm như trờn là đồng nghĩa với dõn số hoạtđộng kinh tế (tớch cực) và nú phản ỏnh khả năng thực tế về cung ứng lao độngcủa xó hội
Cũng cần chỳ ý là trong lực lượng lao động, chỉ cú bộ phận những ngườiđang làm việc mới là những người trực tiếp gúp phần tạo ra thu nhập cho xóhội
1.2 Vai trò của lao động trong phát triển kinh tế xã hội.
1.2.1 Vai trũ hai mặt của lao động.
Lao động cú vai trũ đặc biệt hơn cỏc yếu tố khỏc vỡ lao động cú vai trũhai mặt
Trước hết lao động là một nguồn lực sản xuất chớnh và khụng thể thiếuđược trong cỏc hoạt động kinh tế Với vai trũ này, lao động luụn được xemxột ở cả hai khớa cạnh, đú là chi phớ và lợi ớch Lao động là yếu tố đầu vào, nú
cú ảnh hưởng tới chi phớ tương tự như việc sử dụng cỏc yếu tố sản xuất khỏc
Trang 8Vì vậy, về lý thuyết trong hoạt động kinh tế, cầu lao động hay người sử dụnglao động luôn dựa trên nguyên lý: DL = MPL = MC Lao động cũng bao hàmnhững lợi ích tiềm tàng theo nghĩa: góp phần làm tăng thu nhập, cải thiện đờisống và giảm nghèo đói thông qua chính sách (tạo việc làm, tổ chức lao động
có hiệu quả, áp dụng công nghiệp phù hợp…)
Vai trò của lao động cũng còn thể hiện ở khía cạnh thứ hai, đó là laođộng – một bộ phận của dân số, là người được hưởng thụ lợi ích của quá trìnhphát triển Mọi quốc gia đều nhấn mạnh đến mục tiêu “phát triển vì con người
và coi đó là động lực của sự phát triển” Trong chiến lược phát triển kinh tế
-xã hội, hầu hết các nước đều đặt trọng tâm vào chiến lược phát triển conngười
Việc nâng cao năng lực cơ bản của các cá nhân, của người lao động sẽgiúp họ có nhiều cơ hội việc làm hơn Khi thu nhập từ việc làm tăng, họ sẽ cóđiều kiện cải thiện đời sống, nâng cao chất lượng cuộc sống kết quả là tăngnhu cầu xã hội, đồng thời tác động đến hiệu quả sản xuất trong điều kiện năngsuất lao động tăng
Những phân tích trên đã khẳng định lao động có vai trò là động lực quantrọng trong tăng trưởng và phát triển kinh tế
1.2.2 Định giá vai trò của lao động với các nước đang phát triển.
Như chúng ta đã biết một trong những lợi thế của các nước đang pháttriển là lao động nhiều, giá lao động rẻ Tuy nhiên ở hầu hết các nước này, laođộng lại chưa phải là động lực mạnh cho tăng trưởng và phát triển kinh tế,nhất là các nước mà lao động nông nghiệp – nông thôn còn chiếm tỷ trọngcáo trong tổng số lực lượng lao động
Bởi vì, lao động nhiều nhưng lại có biểu hiện của sự dư thừa hay tìnhtrạng thiếu việc làm Lao động với năng suất thấp, phần đóng góp của laođộng trong tổng thu nhập còn hạn chế Nguyên nhân chủ yếu là do kinh tếchậm phát triển, các nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng việc
Trang 9làm chậm được cải thiện bổ sung thậm chí còn suy giảm (như quỹ đất đaitrong nông nghiệp) Mặt khác, quan hệ lao động và thị trường lao động, nhất
là ở nông thôn chậm phát triển cũng là nhân tố làm hạn chế vai trò của laođộng
2.ViÖc lµm vµ thÊt nghiÖp ë C¸C N¦íc ®ang ph¸t triÓn
2.1 Việc làm và các nhân tố ảnh hưởng.
2.1.1.Việc làm
2.1.1.1.Khái niệm:
Việc làm là tiền đề cơ bản giúp chúng ta nhận dạng một cách chính xác
và thống nhất về mối quan hệ giữa lao động và việc làm trong nền kinh tế thịtrường
a.Theo các nhà kinh tế học lao động:việc làm được hiểu là sự kết hợp
giữa sức lao động với tư liệu sản xuất nhằm biến đổi đối tượng lao động theomục đích của con người
b.Theo Bộ luật Lao động:khái niệm việc làm được xác định là: “Mọi
hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều đượcthừa nhận là việc làm”
c.Việc làm đầy đủ: là sự thoả mãn đầy đủ nhu cầu về việc làm của các
thành viên có khả năng lao động, nói cách khác là mỗi người có khả năng laođộng, muốn làm việc đều có thể tìm được việc làm trong thời gian ngắn
"Việc làm đầy đủ mới chỉ đề cập về mặt số lượng, chưa tính đến yếu tốnguyện vọng, năng khiếu, sở trường tức là chưa tính đến yếu tố hợp lý củaviệc làm
d.Việc làm hợp lý: là sự phù hợp về mặt số lượng và chất lượng của các
yếu tố con người và vật chất của sản xuất, là bước phát triển cao hơn của việclàm đầy đủ, "việc làm hợp lý" có năng suất lao động và hiệu quả kinh tế - xãhội cao hơn Mục tiêu lâu dài không phải là giải quyết "việc làm đầy đủ" mà
Trang 10là giải quyết "việc làm hợp lý" nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội.
e.Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO):"Người có việc làm là người làm
một việc gì đó, có được trả tiền công, lợi nhuận bằng tiền hay hiện vật hoặctham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vìthu nhập gia đình không nhận tiền công hay hiện vật"
*Từ quan niệm trên cho thấy, khái niệm việc làm bao gồm các nội dungsau:
- Là hoạt động lao động của con người
- Hoạt động lao động nhằm mục đích tạo ra thu nhập
- Hoạt động lao động đó không bị pháp luật ngăn cấm
Số lượng việc làm trong nền kinh tế phản ánh cầu lao động Về lý thuyết,cầu lao động cho thấy số lượng lao động là các tổ chức (đơn vị) kinh tế sẵnsàng thuê (sử dụng) để tiến hành các hoạt động kinh tế với mức tiền lươngnhất định
Cầu lao động phụ thuộc chủ yếu vào quy mô sản lượng và hệ số co giãnviệc làm đối với sản lượng, đầu ra
Lao động là yếu tố đầu vào cần thiết để sản xuất một lượng hàng hoá,dịch vụ nhất định Điều này cũng có nghĩa là quy mô sản xuất hàng hoá, dịch
vụ sẽ quyết định lượng đầu vào được sử dụng
Quan hệ giữa sự thay đổi đầu ra (tăng hay giảm) và thay đổi việc làm(cầu lao động) được xem xét qua khái niệm “hệ số co giãn” việc làm Hệ số
co giãn việc làm thể hiện tỷ lệ phần trăm thay đổi việc làm khi đầu ra thay đổi1%
Tuy nhiên trong nền kinh tế thị trường, đặc điểm của cầu lao động làmang tính chất thứ phát (cầu phái sinh) Nó không chỉ xuất hiện do nhu cầu
mở rộng quy mô của nền kinh tế, của ngành và chịu tác động của các yếu tốkhác đặc biệt là vốn đầu tư và công nghệ sản xuất
Trang 11Quan hệ giữa việc làm và đầu tư thường được các nhà kinh tế xem xétqua chỉ tiêu mức đầu tư để tạo ra một chỗ làm việc mới chẳng hạn ở nước ta ,theo tính toán của các chuyên gia kinh tế, mức đầu tư trung bình cho một chỗlàm việc mới khoảng 39,3triệu đồng(cuối những năm 90).
Mức đầu tư cần thiết để tạo việc làm còn có quan hệ với công nghệ sảnxuất Những ngành có công nghệ cao sẽ cần có nhiều vốn hơn để tạo một chỗlàm việc mới và ngược lạo Ở các nước đang phát triển, trong giai đoạn đầu
do vốn khan hiếm, lao động dồi dào nhưng trình độ lao động hạn chế, do vậylựa chọn công nghệ sản xuất cần ít vốn, nhiều lao động sẽ tạo ra sự tăngtrưởng “kép” tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng việc làm
2.2 Thất nghiệp ở các nước đang phát triển.
2.2.1.Khái niệm.
Theo khái niệm của tổ chức Lao động quốc tế (ILO ) thất nghiệp (theonghĩa chung nhất) là tình trạng tồn tại khi một số người ở độ tuổi lao độngmuốn có việc làm ở mức tiền công nhất định
Người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động,không có việc làm và đang có nhu cầu tìm việc làm
Theo quan niệm nêu trên, tình trạng thất nghiệp của nền kinh tế đượcđịnh giá bằng chỉ tiêu “tỷ lệ thất nghiệp” Nó được xác định bằng tỷ lệ phầntrăm giữa số người thất nghiệp và lực lượng lao động trong độ tuổi lao động
2.2.2.Hình thức thất nghiệp ở các nước đang phát triển.
Đối với các nước đang phát triển, quan niệm thất nghiệp và chỉ tiêu tỷ lệthất nghiệp như đã nêu trên chưa phản ánh đúng và đầy đủ thực trạng lựclượng lao động chưa được sử dụng hết Nhìn chung người nghèo ở các nướcđang phát triển là không có các nguồn lực dự trữ, do vậy họ phải chấp nhậnlàm việc ở mọi mức thu nhập; hoặc nếu bị thất nghiệp họ không để thời gian
đó kéo dài Họ có việc làm, song ở khía cạnh nào đó được coi là một dạngthất nghiệp Do đó, tình trạng chưa sử dụng ở các nước đang phát triển được
Trang 12nghiên cứu chủ yếu qua các dạng thất nghiệp, đó là thất nghiệp hữu hình (nhưquan niệm nêu trên) và thất nghiệp trá hình.
Thất nghiệp hữu hình là tình trạng thất nghiệp chủ yếu ở khu vực thành
thị Người thất nghiệp là thanh niên chiếm tỷ lệ cao Theo báo cáo của ILO(2004), tỷ lệ thất nghiệp trong thanh niên ở các nước đang phát triển cao hơn3,3lần so với các nước khác, nguyên nhân một phần do kinh tế chưa phát triểnchưa tạo được việc làm, mặt khác trong 10 năm qua, số người ở độ tuổi thanhniên tăng nhanh (tăng 10,5%) trong khi đó tốc độ tăng việc làm dành chothanh niên tăng chậm (tăng 0,2%)
Thất nghiệp trá hình hay còn gọi là thiếu việc làm là một trong những
đặc trưng cơ bản của nền kinh tế nông nghiệp chậm phát triển Trong khu vựcthành thị, dạng thất nghiệp này tồn tại dưới dạng khác nhau như: việc làm vớinăng suất thấp, không góp phần tạo ra thu nhập là chủ yếu chỉ tạo thu nhậpcho xã hội mà chủ yếu chỉ tạo thu nhập đủ sống (nhiều khi sống dưới mức tốithiểu) Dạng thất nghiệp này được gọi là thất nghiệp vô hình
Trong khu vực nông thôn, thất nghiệp trá hình tồn tại dưới dạng thiếuviệc làm Nguyên nhân là do giới hạn của đất đai nông nghiệp, do khu vựckinh tế phi nông nghiệp, nông thôn chậm phát triển Tốc độ thiếu việc làm ởnông thôn càng trầm trọng hơn khi chúng ta xem xét tới tính thời vụ của việclàm Chẳng hạn ở Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu của các chuyên gia kinh
tế, trong thời gian mùa vụ, một nông dân có thể làm việc 11h/ngày, trong khi
đó ở thời kỳ nông nhàn họ chỉ làm việc 3h/ngày Thất nghiệp tồn tại dướidạng này còn gọi là bán thất nghiệp
Để đánh giá tình trạng thất nghiệp ở các nước đang phát triển cùng vớiviệc sử dụng chỉ tiêu (tỷ lệ thất nghiệp) phải sử dụng chỉ tiêu “tỷ lệ thời gianlao động được sử dụng”
Ngoài hai dạng thất nghiệp phổ biến nêu trên, ở các nứoc đang phát triểncòn tồn tại một số hình thức thất nghiệp khác như: thất nghiệp tự nguyện (ẩn
Trang 13náu trong những người làm công việc nội trợ gia đình do các mức tiền lươngthấp không đủ bù đắp) và thất nghiệp tạm thời và thất nghiệp cơ cấu là thấtnghiệp trong thời gian thay đổi nghề nghiệp, thay đổi nơi làm việc vì muốnlàm công việc tốt hơn ở nước ta,dạng thất nghiệp này diễn ra sôi động hơntrong khu vực nông thôn Theo kết quả khảo sát của Bộ Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn, nếu một lao động chuyển từ nông nghiệp sang một nghề khácthu nhập sẽ tăng từ 30% – 50% Hiện tại có khoảng 22% lao động nông thônthay đổi nghề và số này đã góp phần đáng kể tăng số lao động thất nghiệp tạmthời trong khu vực nông thôn.
2.2.3 Phân loại thất nghiệp:
Thất nghiệp là một gánh nặng, nhưng gánh nặng đó rơi vào đâu, bộ phậndân cư nào, nghành nghề nào Cần biết được điều đó để hiểu được đặc điểm,tính chất, mức độ tác hại của thất nghiệp trong thực tế Với mục đích đó cóthể dùng những tiêu thức phân loại dưới đây:
a Thất nghiệp chia theo giới tính ( nam - nữ)
b Thất nghiệp chia theo lứa tuổi ( tuổi - nghề)
c.Thất nghiệp chia theo vùng, lãnh thổ ( thành thị, nông thôn )
d.Thất nghiệp chia theo ngành nghề
e.Thất nghiệp chia theo dân tộc, chủng tộc
2.2.4.Phân loại theo lý do thất nghiệp
Trong khái niệm thất nghiệp, cần phân biệt rõ thất nghiệp tự nguyện vàthất nghiệp không tự nguyện Nói cách khác, những người lao động tự nguyệnxin thôi việc và những người lao động buộc phải thôi việc Trong nền kinh tếthị trường năng động, các lao động ở các nhóm, các ngành, các công ty đượctrả tiền công lao động khác nhau (mức lương không thống nhất trong cácngành nghề, cấp bậc) Việc đi làm hay nghỉ việc là quyền của mỗi người Cho
Trang 14nên, người lao động có sự so sánh, chỗ nào lương cao thì làm, chỗ nào lươngthấp (không phù hợp) thì nghỉ Vì thế xảy ra hiện tượng:
Thất nghiệp tự nguyện: là loại thất nghiệp mà ở một mức tiền công nào
đó người lao động không muốn làm việc hoặc vì lý do cá nhân nào đó (dichuyển, sinh con ) Thất nghiệp loại này thường gắn với thất nghiệp tạmthời
Thất nghiệp không tự nguyện: là thất nghiệp mà ở mức tiền công nào đó
người lao động chấp nhận nhưng vẫn không được làm việc do kinh tế suythoái, cung lớn hơn cầu về lao động
Thất nghiệp trá hình (còn gọi là hiện tượng khiếm dụng lao động) là hiện
tượng xuất hiện khi người lao động được sử dụng dưới mức khả năng mà bìnhthường người lao động sẵn sàng làm việc Hiện tượng này xảy ra khi năngsuất lao động của một ngành nào đó thấp Thất nghiệp loại này thường gắnvới việc sử dụng không hết thời gian lao động
Kết cục của những người thất nghiệp không phải là vĩnh viễn Có nhữngngười (bỏ việc, mất việc ) sau một thời gian nào đó sẽ được trở lại làm việc,nhưng cũng có một số người không có khả năng đó và họ phải ra khỏi lựclượng lao động do không có điều kiện bản thân phù hợp với yêu cầu của thịtrường lao động hoặc do mất hẳn khả năng hứng thú làm việc hay còn có thể
có một nguyên nhân khác
2.2.5.Phân loại theo nguồn gốc thất nghiệp
Phân loại theo nguồn gốc thất nghiệp cho phép ta phân tích sâu sắc vềthực trạng thất nghiệp, theo cách phân loại này có thể chia thất nghiệp thành 4loại:
a.Thất nghiệp tạm thời: xảy ra khi có một số người lao động đang trong
thời gian tìm kiếm công việc hoặc nơi làm tốt hơn, phù hợp với nguyện vọng
và mong muốn của bản thân (lương cao hơn, gần nhà hơn, phù hợp với khả
Trang 15năng hơn ) hoặc những người mới bước vào thị trường lao động đang tìmkiếm việc làm hoặc chờ đợi đi làm Mọi xã hội trong bất kỳ thời điểm nàođều tồn tại thất nghiệp loại này Chỉ có sự khác nhau về quy mô số người vàthời gian thất nghiệp.
b Thất nghiệp cơ cấu: xảy ra khi có sự mất cân đối cung cầu giữa các
loại lao động (giữa các ngành nghề, khu vực ) Loại này gắn liền với sự biếnđộng cơ cấu kinh tế và khả năng điều chỉnh cung của các thị rường lao động(tổ chức đào tạo, môi giới ) Khi sự biến động này là mạnh và kéo dài, nạnthất nghiệp trở nên trầm trọng và chuyển sang thất nghiệp dài hạn
Thất nghiệp tạm thời và thất nghiệp cơ cấu xảy ra trong một bộ phậnriêng biệt của thị trường lao động
c.Thất nghiệp do thiếu cầu: xảy ra khi mức cầu chung về lao động giảm
xuống, nguồn gốc chính là sự suy giảm tổng cầu Loại này còn được gọi làthất nghiệp chu kỳ bởi ở các nền kinh tế thị trường nó gắn liền với thời kỳ suythoái của chu kỳ kinh doanh Dấu hiệu chứng tỏ sự xuất hiện của loại này làtình trạng thất nghiệp xảy ra tràn lan ở khắp mọi nơi, mọi ngành nghề Thấtnghiệp do thiếu cầu xảy ra khi nền kinh tế đi xuống, toàn bộ thị trường laođộng xã hội bị mất cân bằng
d Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường (còn gọi là thất nghiệp theo lý
thuyết cổ điển) xảy ra khi mức tiền lương được ấn định không bởi các lựclượng thị trường và cao hơn mức lương cân bằng thực tế của thị trường laođộng Loại thất nghiệp này chịu tác động bởi các yếu tố chính trị, xã hội
2.2.6Ảnh hưởng của thất nghiệp thiếu việc làm đến phát triển kinh tế
2.2.6.1Hạn chế tăng trưởng:
Nói đến hậu quả kinh tế của tình trạng thất nghiệp cần phải nói đếnnhững chi phí liên quan đến thất nghiệp, cả trên giác độ gia đình cũng như xãhội Thất nghiệp dẫn đến giảm sút thu nhập của hộ gia đình và kéo theo nhiều
Trang 16hậu quả tiêu cực ở Việt Nam chưa tiến hành điều tra về tình trạng thu nhậpcủa những hộ gia đình có người bị thất nghiệp, nhưng chắc chắn rằng họ đang
phải "vật lộn" với cuộc sống để duy trì sự tồn tại của mình.
Trên khía cạnh kinh tế vĩ mô có thể chia ra làm hai loại chi phí liên quanđến thất nghiệp:
- Chi phí bằng tiền (chủ yếu là tiền từ ngân sách và các quỹ xã hội)
- Lãng phí sản phẩm xã hội do không sử dụng đầy đủ các yếu tố sẵn cócủa sản xuất xã hội
Những chi phí bằng tiền bao gồm: Tiền từ ngân sách Nhà nước và cácquỹ của doanh nghiệp cũng như của xã hội chi cho bảo hiểm thất nghiệp, trợcấp mất việc làm, chi cho về hưu sớm cùng các chi phí xã hội cho đào tạo,đào tạo lại, dịch vụ việc làm từ những chương trình chống thất nghiệp
Khi thất nghiệp xảy ra sẽ làm giảm đi lực lượng lao động trong một nướcnào đó Khi đó sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến tổng cầu và tăng trưởng của nước
đó Cụ thể là: khi Việt Nam bị ảnh hưởng bởi suy thoái nền kinh tế tài chínhthế giới thì lượng thất nghiệp của thế giới nói chung và của Việt Nam nóiriêng tăng lên đáng kể
Vì khi người lao động bị thất nghiệp thì sẽ không có được thu nhập vàkhông đảm bảo về chi tiêu và các vấn đề khác trong xã hội
Khi đó Nhà nước cần phải dùng các nguồn ngân sách để kích cầu trongtiêu dùng với mục đích là tăng tổng cầu và tổng thu nhập quốc dân hơn nữagóp phần cho tăng trưởng đất nước không bị suy giảm quá nhiều Mục đíchkích cầu là để giúp các nhà kinh doanh sản xuất tiếp tục và mở rộng sản xuất
để lực lượng lao động có việc làm tăng lên
2.2.6.2.Hạn chế khả năng tích lũy
ở nước ta mặc dù chưa có hệ thống bảo hiểm thất nghiệp, nhưng chỉ
Trang 17riêng việc thực hiện trả trợ cấp mất việc làm và chi phí cho đào tạo, đào tạolại theo Điều 17 Bộ luật Lao động đối với khoảng 10% lao động trong doanhnghiệp Nhà nước đã nghỉ việc nhưng chưa được hưởng chế độ (theo quy địnhcủa pháp luật) đã lên đến gần 1000 tỷ đồng (theo tính toán của Vụ Chính sáchLao động - Việc làm năm 1998) Chi phí bằng tiền liên quan đến thất nghiệpcòn bao gồm việc giảm thu ngân sách quốc gia Người thất nghiệp không cóthu nhập, không đóng thuế, chỉ đóng ít hoặc không đóng vào quỹ bảo hiểm xãhội Chi phí của Chính phủ cho tình trạng thất nghiệp lớn sẽ dẫn đến hậu quảgia tăng thâm hụt ngân sách Lãng phí lớn nhất đối với xã hội là không sửdụng đầy đủ các yếu tố sẵn có của sản xuất Lãng phí này được xác định theođịnh luật A.Okun (mang tên nhà kinh tế người Anh), nó chỉ ra khoảng cáchgiữa GDP thực tế và GDP tiềm năng, tức GDP có được trong điều kiện đạt
mục tiêu việc làm đầy đủ Định luật này nói rằng: cứ 1% vượt quá tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên thì GDP giảm 2,5% Vận dụng định luật này cho trường hợp
nước ta, giả thiết tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên là 5% thực hiện phép quy đổi đơngiản cả thất nghiệp hữu hình đô thị và thất nghiệp trá hình ở nông thôn và khuvực doanh nghiệp Nhà nước và tỷ lệ chung chúng ta xác định tỷ lệ thất nghiệpchung cho cả nước và khoảng 20% Như vậy, chúng ta đã lãng phí khoảng(20-5) x 2,5% = 37,5% GDP Đây là một trong những nguyên nhân chính củanạn đói nghèo ở Việt Nam Hậu quả kinh tế của thất nghiệp còn phải kể đếnnhững mất mát liên qua đến sự di cư ra nước ngoài của một bộ phận dân cư,chủ yếu là thanh niên, có trình độ học vấn tay nghề cao nhưng không tìmđược việc làm trong nước
Người lao động bị mất việc sẽ dẫn đến không tạo ra thu nhập, trong khi
đó cần phải chi tiêu cho các vấn đề trong sinh hoạt và nhiều vấn đề khác từ đó
sẽ giảm thiểu được lượng vốn tích luỹ được dẫn đến giảm rất nhiều khoảnkhác như: tiết kiệm, gửi ngân hàng, đầu tư, tiêu dùng…
Thất nghiệp là vấn đề gánh nặng của không chỉ ở người dân mà còn ảnh
Trang 18hưởng tới cả một nền kinh tế của nước nào đó có tỷ lệ thất nghiệp cao.
2.2.6.3 - Hậu quả tâm lý xã hội của thất nghiệp
a.Nảy sinh nhiều tiêu cực đặc biệt là các tệ nạn xã hội
Tăng nhanh thất nghiệp trở thành một trong những vấn đề nhức nhối của
xã hội Thất nghiệp không chỉ đồng nghĩa với tình trạng vật chất ngày càngxấu đi mà còn kèm theo những hậu quả tâm lý xã hội mà người thất nghiệpcũng như xã hội phải gánh chịu
Theo những kết quả điều tra xã hội học cho thấy: Người mất việc làm sẽtrải qua những diễn biến tâm lý phức tạp
Giai đoạn đầu là sự lạc quan và tin tưởng vào việc tìm được chỗ làm
việc mới, thời kỳ này thường ngắn
Giai đoạn tiếp theo là thời kỳ bi quan Thời gian thất nghiệp kéo dài dẫn
đến vô vọng và buông xuôi số phận Người thất nghiệp mặc cảm với chínhmình, suy giảm tinh thần và khả năng tự tìm việc làm, phôi phai dần nhữngkiến thức và kỹ năng nghề nghiệp đã có
Mất việc làm đồng nghĩa với không thể thoả mãn những nhu cầu cơ bản:Nhu cầu hoạt động trong một tổ chức, tiếp xúc với môi trường ngoài gia đình,
có cơ hội tự đánh giá và so sánh với những thành viên khác của tổ chức, địnhhướng hoạt động và tổ chức cơ cấu thời gian trong ngày, trong tuần Nhữngvấn đề xã hội cơ bản đi kèm với thất nghiệp là: suy sụp thể lực và tinh thần;mâu thuẫn gia đình tăng; gia tăng tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự Thấtnghiệp tạo ra các điều kiện để phát triển các loại tội phạm khác nhau: trộmcướp, giết người và các tệ nạn xã hội: nghiện rượu, trích hút cũng như làmbăng hoại các giá trị đạo đức, văn hoá của gia đình, dân tộc Kết qủa điều tramẫu của Cục phòng chống tệ nạn xã hội ( Bộ LĐTBXH ) tại 41 tỉnh , thànhphố năm 1998 cho thấy 24,3% người nghiện ma tuý là không có việc làm,
Trang 1939,3% người nghiện có việc làm nhưng không thường xuyên; Với người tổchức sử dụng ma tuý, 46,3% trong số họ là không có việc làm, 29,3% làngười có việc làm nhưng không thường xuyên Đối với tệ nạn mại dâm, kếtquả điều tra những năm 1994 -1997 cho thấy: 50% gái mại dâm trước hànhnghề là không có việc làm, 25% chỉ có việc làm một phần và 25% có việclàm nhưng thu nhập thấp Các điều tra xã hội và tội phạm ở hầu hết các nước
đều xác nhận: đối với thanh niên, rất dễ xảy ra tình trạng "Tam giác đen", đó
là "Thất nghiệp - nghiện hút - tội phạm" Để thoát khỏi "Tam giác đen" này
là rất khó khăn, nhiều khi là điều không thể
2.3.Nguyên nhân dẫn đến thất nghiệp ở các nước đang phát triển.
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng thất nghiệp và thiếu việclàm, nhưng quan trọng nhất là do sự mất cân đối giữa cung - cầu lao động.Khi cung lao động lớn hơn cầu lao động thì sẽ dẫn đến tình trạng dư thừa laođộng, trong khi đó khối lượng việc làm do nền kinh tế tạo ra lại không đápứng được nhu cầu việc làm của người lao động điều đó tất yếu dẫn đến tìnhtrạng thất nghiệp và thiếu việc làm Dưới đây ta sẽ xem xét các nhân tố chủyếu tác động đến cung, cầu lao động:
2.31.Các nhân tố ảnh hưởng tới cung lao động
2.3.1.1.Về quy mô và số lượng
Quy mô dân số là nhân tố quan trọng nhất tác động tới cung lao động
Do lực lượng lao động là một bộ phận của dân số nên quy mô dân số và cunglao động (lực lượng lao động) có mối quan hệ tỷ lệ thuận với nhau: khi quy
mô dân số lớn dẫn đến tổng cung lao động của toàn xã hội lớn và ngược lạikhi quy mô dân số nhỏ thì tất yếu cung lao động của xã hội cũng sẽ nhỏ theo.Một quốc gia có dân số đông thì trong tương lai lực lượng lao động của quốcgia đó cũng sẽ đông, bên cạnh lợi thế về nguồn nhân lực dồi dào là áp lực lớn
về việc làm cho người lao động Như vậy để giảm áp lực về việc làm ngoài
Trang 20các biện pháp kinh tế cần phải có những chính sách để giảm dân số, nói cáchkhác là thu nhỏ lại quy mô dân số Việc khống chế sự gia tăng dân số có tácđộng rất lớn đến lượng cung lao động, khi chúng ta kiểm soát được tốc độ giatăng dân số thì công việc quản lý lượng cung lao động của xã hội sẽ dễ dàng
và thuận lợi hơn
2.3.1.2.Về chất lượng nguồn lao động và cơ cấu đào tạo
Bên cạnh quy mô dân số, thì chất lượng nguồn lao động và cơ cấu đàotạo cũng là những nhân tố ảnh hưởng lớn đến cung lao động Chất lượngnguồn lao động và cơ cấu đào tạo quyết định khả năng đáp ứng yêu cầu củanền kinh tế mà cụ thể là các đơn vị kinh tế sử dụng lao động Một nguyênnhân sâu xa của tình trạng thất nghiệp là do chất lượng của người lao độngkhông đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp Hiện tượng này ngàycàng phổ biến khi mà các đơn vị sản xuất kinh doanh, nhất là các khu côngnghiệp cao, các công ty có vốn đầu tư nước ngoài chuyển đổi sản xuất và cảitiến kỹ thuật Hơn nữa, cơ cấu đào tạo hiện nay cũng còn nhiều điều bất hợp
lý gây nên tình trạng "vừa thừa, vừa thiếu": thừa lao động có trình độ đại học,cao đẳng trong khi đó thì lại thiếu lao động có trình độ tay nghề cao Việc đàotạo công nhân kỹ thuật lành nghề cần phải được chú trọng hơn nữa mới đápứng được nhu cầu lao động kỹ thuật của nền kinh tế
2.3.1.3.Quá trình di dân tự do
Trong một xã hội đang phát triển, sự phát triển không đồng đều giữa cácvùng là một thực tế khách quan, điều này dẫn đến hiện tượng có một bộ phậnlao động rời bỏ quê hương mình đi đến những vùng phát triển hơn để sinhsống Sự di chuyển tự do này đã làm cho lượng cung lao động của nơi đến giatăng đột biến gây nên tình trạng mất cân đối trên thị trường lao động Trongkhi công tác giải quyết việc làm còn hạn chế, thì bộ phận lao động do di dân
tự do này lại ngày một tăng dẫn đến tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm
Trang 21cũng gia tăng theo Vấn đề này cần được giải quyết để làm sao tạo nên sự cânđối giữa cung và cầu lao động ở nơi đến Tuy nhiên, để làm được điều đó cầnphải có sự phối hợp đồng bộ giữa cả nơi đến và nơi đi nhằm tìm ra một giảipháp hiệu quả cho sự mất cân đối này.
2.4.Các nhân tố ảnh hưởng tới cầu lao động
Một thực tế là khi nền kinh tế tăng trưởng sẽ tạo ra nhiều chỗ làm việccho người lao động Sự mở mang các ngành nghề, hoạt động sản xuất kinhdoanh phát triển dẫn đến nhu cầu thuê lao động tăng lên và là điều kiện thuậnlợi cho việc người lao động đi tìm kiếm việc làm Việc tăng chi tiêu củaChính phủ phục vụ mục đích tăng trưởng cũng góp phần giảm bớt tình trạngcăng thẳng trong việc giải quyết việc làm cho người lao động
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế luôn gắn liền với sự chuyển dịch cơcấu lao động Theo các nhà kinh tế thì khi năng suất lao động không đổi hoặctăng không đáng kể, tỷ trọng của một ngành trong GDP tăng lên hoặc giảmxuống dẫn đến tỷ trọng lao động của ngành đó cũng sẽ tăng lên hoặc giảmxuống tương ứng Khi GDP và năng suất lao động của ngành đều tăng nhanh,mức tăng lao động trong các ngành sẽ chậm lại Quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế diễn ra đồng thời với việc tăng nhanh năng suất lao động có thể sẽ gây
ra sự dôi dư lao động trong nền kinh tế Vì vậy, việc nghiên cứu xu hướngchuyển dịch cơ cấu kinh tế cần phải tính đến sự chuyển dịch cơ cấu lao động
để đưa ra các biện pháp nhằm giải quyết thất nghiệp và thiếu việc làm
Ngoài các nhân tố tác động đến cung, cầu lao động nói trên còn có cácnguyên nhân tâm lý xã hội khác tác động đến vấn đề việc làm và thất nghiệpnhư: người lao động không muốn làm những công việc nặng nhọc, độc hạihoặc những công việc có thu nhập thấp Việc lựa chọn công việc phù hợp vớikhả năng, nguyện vọng của người lao động cũng rất khác nhau tuỳ thuộc vàotâm lý của người lao động mong muốn như thế nào Để đáp ứng được những
Trang 22vấn đề này cần phải tạo ra được một mụi trường lao động thuận lợi, phự hợpvới khả năng, nguyện vọng của từng người, khuyến khớch người lao độngtham gia Tuy nhiờn, đõy là một vấn đề rất khú cần phải được giải quyết từ từnhằm từng bước đỏp ứng nhu cầu của người lao động.
3.Sự cần thiết phảI đặc vấn đề giảI quyết việc làm ở hànội
3.1.Giải quyết việc làm là một trong 7 chương trỡnh mục tiờu quốc gia
Ngày 14 thỏng 1 năm 1998 Thủ tướng Chớnh phủ đó cú quyết định số05/1998/QĐ-TTg về triển khai thực hiện 7 chương trỡnh mục tiờu quốc gia:
1 Chương trỡnh xoỏ đúi giảm nghốo
2 Chương trỡnh dõn số và kế hoạch hoỏ gia đỡnh
3 Chương trỡnh thanh toỏn một số bệnh xó hội và bệnh dịch nguy hiểm
4 Chương trỡnh nước sạch và vệ sinh mụi trường nụng thụn
5 Chương trỡnh phũng chống HIV/AIDS
6 Chương trỡnh xõy dựng lực lượng vận động viờn tài năng quốc gia vàxõy dựng cỏc trung tõm thể thao trọng điểm
7 Chương trỡnh giải quyết việc làm
Trong 7 chương trỡnh này thỡ chương trỡnh giải quyết việc làm là mộtchương trỡnh trọng tõm và cú ý nghĩa quan trọng Một đất nước muốn phỏttriển thỡ người lao động trong nước đú phải được đảm bảo đầy đủ việc làm từ
đú tận dụng được hết nguồn lực của xó hội, đồng thời vấn đề giải quyết việclàm được thực hiện thỡ cỏc vấn đề xó hội khỏc cũng được giải quyết theo.Cựng với cả nước, Hà Nội cũng đang từng bước giải quyết vấn đề việc làmtrờn địa bàn của mỡnh, trờn cơ sở đú đề ra cỏc chớnh sỏch đồng bộ thực hiệncỏc mục tiờu khỏc
3.2- Xuất phỏt từ thực trạng thất nghiệp và thiếu việc làm của Hà Nội
Trang 23Hà Nội là thành phố đông dân nhất ở phía Bắc, số người thất nghiệp ở Hà Nộichiếm tỷ lệ cao và có xu hướng ngày càng tăng, nhất là khu vực thành thị tỷ lệ
sử dụng thời gian lao động ở nông thôn là 81,3% , mỗi năm có khoảng gần 9vạn người thất nghiệp Tình hình thất nghiệp ở thành phố đang tiếp tục giatăng và chịu sức ép của nhiều yếu tố, đặc biệt là do ảnh hưởng của tình hìnhbiến động về tố chức, sắp xếp lại sản xuất ở các DNNN làm cho bộ phận laođộng thiếu việc làm và mất việc làm ngày càng gia tăng Mặt khác việc tăngdân số cơ học, đặc biệt là tình trạng lao động ngoại tỉnh về thành phố tìm việclàm, học sinh, sinh viên ra trường không trở về các địa phương mà ở lại HàNội tìm việc làm đã gây sức ép lớn cho thành phố trong công tác giải quyếtviệc làm
3- Xuất phát từ nhiệm vụ kế hoạch giai đoạn tiếp theo của Hà Nội
Kế hoạch những năm tiếp theo cho phát triển kinh tế - xã hội của Thànhphố Hà Nội đã đặt ra cho công tác giải quyết việc làm nhiệm vụ:
Hàng năm tạo việc làm mới cho 60.000 người, giảm tỷ lệ thất nghiệp đôthị còn 5,5 - 6,5% Tạo lập các ngành nghề mới để thu hút các lực lượng laođộng chưa có, hoặc thiếu việc làm đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động.Thực hiện tốt công tác quản lý dân cư, lao động phù hợp với quá trình chuyểnđổi nền kinh tế và đô thị hoá
Nhiệm vụ này đòi hỏi phải đặt vấn đề nghiên cứu thực trạng thất nghiệp
và thiếu việc làm từ đó đề ra các giải pháp cụ thể nhằm tạo mở việc làm, hạnchế thất nghiệp trên địa bàn Thủ đô trong giai đoạn tới Muốn thực hiện tốt kếhoạch phát triển kinh tế - xã hội của Hà Nội thì công tác giải quyết việc làmcần phải thực hiện thường xuyên và hiệu quả có như vậy mới từng bước nângcao thu nhập cho người lao động và giải quyết các vấn đề xã hội nan giảikhác
Tóm lại, trước tình hình trên để tiến tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Đông Đô - Hà Nội thì vấn đề giải quyết thất nghiệp và thiếu việc ở Thủ đô Hà
Trang 24-Nội là hết sức cần thiết và cấp bách Sự nghiệp CNH - HĐH Thủ đô đang cần
có sự phối hợp đồng bộ giữa các chính sách trong đó có chính sách giải quyếtthất nghiệp và thiếu việc làm để từ đó từng bước đẩy mạnh sự phát triển kinh
tế, nâng cao đời sống của người dân và giải quyết các vấn đề xã hội khác củaThủ đô, sớm đưa Hà Nội trở thành Thủ đô hoà bình, văn minh, hiện đại tươngxứng với vị thế là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hoá của cả nước
4 kinh nghiÖm gi¶I quyÕt viÖc lµm ë mét sè níc trªn thÕ giíi
4.1.Kinh nghiệm Trung Quốc
Trung Quốc - một quốc gia được coi là rất thành công trong việc giảiquyết thất nghiệp và thiếu việc làm Với số dân đông nhất thế giới (hơn 1,2 tỷngười), trong đó 70% sống ở nông thôn, hàng năm có hàng trục triệu ngườibước vào độ tuổi lao động và có nhu cầu tìm việc làm nhưng theo các nhàkinh tế và thống kê Trung Quốc cho rằng họ đã cơ bản thực hiện được mụctiêu toàn dụng lao động, tỷ lệ thất nghiệp ở mức rất thấp (2%) Trên "đất nướcbiển người" này người ta ít nghe thấy hai từ thất nghiệp mà thay vào đó lànhững "người chờ việc" Điều đó chứng tỏ rằng chính phủ Trung Quốc rất coitrọng việc giải quyết thất nghiệp và thiếu việc làm và đã thành công Vậy điều
gì đã làm nên thành công này ? Nghiên cứu các chính sách giải quyết thấtnghiệp và thiếu việc làm ta thấy:
- Chính phủ Trung Quốc đã coi phát triển công nghiệp nông thôn nhưmột giải pháp quan trọng để giải quyết tình trạng thất nghiệp và thiếu việclàm ở nông thôn Những chính sách nhằm phát triển công nghiệp nông thônthường tập trung vào các vấn đề như:
+ Đa dạng hoá và chuyên môn hoá sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tếnông thôn Thay vì quá trình tập thể hoá, các quá trình sản xuất nông nghiệpđược giao khoán cho từng cá nhân Bên cạnh đó, hỗ trợ các mặt hàng nôngsản trong thời gian đầu: tăng giá thu mua nông sản nhằm nâng cao thu nhập
Trang 25và tạo khả năng tiêu thụ cho các mặt hàng nông sản.
+ Khuyến khích các doanh nghiệp công nghiệp nông thôn khai thác thịtrường tại chỗ; hạn chế di chuyển di dân tự phát; thiết lập môi trường tàichính có hiệu quả
+ Thành lập và phát triển xí nghiệp Hương Trấn - một loại hình doanhnghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn Được thực hiện từ cuối những năm 70 của thế
kỷ 20, đã thu hút 96 triệu lao động, chiếm 13,8% lao động nông thôn Cácdoanh nghiệp Hương Trấn đã giải quyết tạo được một khối lượng lớn việclàm cho người lao động nông thôn
Sau một thời gian phát triển công nghiệp nông thôn, Trung Quốc đãgiảm được tỷ trọng lao động nông nghiệp, hàng năm tạo việc làm thêm chohơn 12 triệu lao động, nâng cao thu nhập của người dân
- Thành lập các công ty dịch vụ lao động Toàn bộ những công ty này lậpthành một mạng lưới liên hệ theo chiều dọc, nghĩa là từ cấp vùng tỉnh đến cáchạt và liên hệ theo chiều ngang giữa các công ty cùng cấp với nhau Mỗicông ty đều nắm vững số lượng và chất lượng của người chờ việc (tuổi, giớitính, trình độ học vấn, chuyên môn, nguyện vọng ) Chức năng của công tykhông chỉ là giới thiệu việc làm, mà còn tổ chức đào tạo nghề và lập ra cácđơn vị kinh tế để thu hút người lao động vào làm việc
Đảng và Chính phủ Trung Quốc rất quan tâm đến các công ty dịch vụ laođộng, kể cả việc đề ra chính sách, giúp đỡ tài chính và miễm giảm thuế Nhiềucác tổ chức xã hội khác cũng tăng cường ủng hộ, giúp đỡ các công ty dịch vụviệc làm phát triển Nhờ đó mà giải quyết đáng kể việc làm cho người laođộng
4.2.Kinh nghiệm Thái Lan
Thái Lan một quốc gia có nhiều điểm tương đồng với nước ta; là trườnghợp điển hình cho sự phát triển không đồng đều Phần lớn quá trình công
Trang 26nghiệp hoá và hiện đại hoá đều diễn ra ở các thành phố lớn Cho đến nay, mặc
dù nông nghiệp chỉ chiếm 10% trong GDP nhưng lực lượng lao động tại khuvực này chiếm tới 60% Tình trạng thất nghiệp theo mùa vụ và thu nhập thấpvẫn còn phổ biến trong nông nghiệp và nông thôn Chương trình phát triểnnông thôn đã được chính phủ Thái Lan đặc biệt nhấn mạnh từ những năm 70thông qua các chương trình năm năm Mặc dù nội dung của các chương trìnhkhác nhau qua từng thời kỳ, nhưng tất cả đều được thực hiện với mục đíchphát triển nông thôn, ưu tiên cho những vùng nghèo có mật độ dân số cao; tạođiều kiện cho nông dân tham gia vào các hoạt động xã hội và giải quyếtnhững vấn đề nảy sinh trong cộng đồng Trong những giai đoạn gần đây, cácchương trình 5 năm tiếp tục nhấn mạnh mục tiêu hạn chế đói nghèo, tạo việclàm và tăng thu nhập Song song với các chương trình kế hoạch 5 năm, một sốchương trình cụ thể phát triển nông nghiệp được áp dụng nhằm tạo việc làmđược thực hiện từ những năm 70:
- Chương trình phát triển xã: Mục tiêu của chương trình là giúp đỡ nôngdân tự tạo việc làm, tăng thu nhập thông qua kế hoạch đào kênh mương, xâydựng các hồ đập nhỏ từ ngân sách Nhà nước để xây dựng cơ sở hạ tầngnông thôn
- Chương trình tạo việc làm nông thôn: Chương trình được thực hiệnnhằm giải quyết các vấn đề: thu nhập của nông dân sau kỳ thu hoạch; tạoviệc làm thông qua các dự án xây dựng các công trình công cộng; hạn chế didân ồ ạt theo mùa từ nông thôn ra thành thị
- Chương trình phát triển cộng đồng: Mục tiêu quan trọng của chươngtrình nhằm nâng cao khả năng tự quản lý và phát triển cộng đồng nông thôn.Chương trình được triển khai theo các hướng:
+ Chính phủ trực tiếp bổ nhiệm quan chức nhà nước tham gia hội đồngcấp làng, xã
Trang 27+ Cải cách cơ cấu tổ chức hành chính nhằm nâng cao vai trò của chínhquyền làng, xã.
+ Khuyến khích khả năng tự quản lý của các địa phương; nhấn mạnhtrách nhiệm và quyền lợi của từng cá nhân
+ Ngân sách Nhà nước tài trợ cho các dự án phát triển cộng đồng như:
"chương trình dịch vụ xã hội cơ bản"
+ Tăng cường khả năng của hội đồng xã trong việc vạch kế hoạch tuyểnchọn và quản lý điều hành dự án trong phạm vi xã
Các chương trình này ngày càng phát huy tính hiệu quả của nó, một mặt
nó góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế nông thôn, mặt khác nó giúp chongười nông dân có được công việc ổn định, tăng thu nhập cho họ, từ đó phầnnào giải quyết được các vấn đề xã hội khác
4.3.Kinh nghiệm Nhật Bản
Chiến tranh thế giới II kết thúc, Nhật Bản lâm vào tình trạng kiệt quệ vềmọi mặt, nền kinh tế - xã hội thì khủng hoảng trầm trọng Nhưng chỉ sau 20năm, từ một nước có điểm xuất phát rất thấp, Nhật Bản đã vươn lên thành mộtquốc gia có nền kinh tế phát triển vào loại bậc nhất, cả thế giới khâm phụctrước sự phát triển " thần kỳ " của Nhật Bản Tình trạng dư thừa nhân lực chỉtồn tại trong thập kỷ đầu sau chiến tranh, vì trên phạm vi toàn quốc ngườiNhật Bản đã nhận thức được nó và có những giải pháp mà Phương Tây coi lànhững biện pháp hữu hiệu Nếu năm 1959, cứ một chỗ làm việc có 3,6 ngườixin vào thì đến năm 1963 tình hình hoàn toàn ngược lại, cứ một người xinviệc thì có 3 nơi cần tuyển Tình trạng thất nghiệp được giải quyết ngay từnhững năm 1960
Nghiên cứu các giải quyết việc làm của Nhật Bản ta thấy:
- Nhật Bản đã duy trì một "nền kinh tế nhiều tầng" Tầng trên là các công
ty lớn, các đại xí nghiệp, các tập đoàn tài chính có từ 300 đến 1000 công
Trang 28nhân Còn tầng dưới là những xí nghiệp dưới 300 công nhân, thậm trí số xínghiệp có 3 công nhân (mang tính chất gia đình) chiếm tới 51,55% tổng số xínghiệp loại này) Số xí nghiệp trung bình và nhỏ ở Nhật Bản chiếm tới 99,43
% trong tổng số các xí nghiệp Là một nước có nền công nghiệp phát triểnmạnh, số lao động nông, lâm, ngư nghiệp chỉ chiếm khoảng 20%, còn 80%làm việc trong các ngành công nghiệp, giao thông vận tải, dịch vụ , nhưngngười Nhật Bản không sa lầy vào các làm ăn lớn một cách vội vã, nôn nóng,
mà họ chú ý đến sự phát triển của nền sản xuất tiểu thủ công nghiệp và kinh tếgia đình Có những ngành nghề trong cơ cấu của các xí nghiệp nhỏ trang bịrất thô sơ lạc hậu nhưng họ vẫn chú ý cải tiến, tạo thế mạnh cho nó phát triểnsong song với một cơ cấu kinh tế hiện đại của nền sản xuất lớn Xí nghiệpnhỏ, trung bình đã sử dụng được 70% nhân công và sản xuất trên 58% mặthàng, chiếm 1/2 tổng số sản phẩm xuất khẩu
- Người Nhật đã dồn số lao động của mình sang sản xuất kinh doanh làchính Số lao động làm việc trong ngành hành chính và các công sở rất thấp,chỉ chiếm 3% tổng số lao động
Do đặc điểm riêng của người Nhật Bản có quan niệm rất thoáng, rất linhhoạt về lao động, việc làm và nghề nghiệp ở Nhật Bản, tình trạng dư thừa laođộng thời kỳ sau chiến tranh chủ yếu là lao động nữ chủ yếu trong tuổi thanhniên Các loại dịch vụ rất phong phú đã hình thành để thu hút lực lượng laođộng này
Như vậy, bằng cơ cấu kinh tế hai khu vực kinh doanh, sản xuất cùng tồntại Nhật Bản đã giải quyết được mâu thuẫn người đông, ít vốn mà mọi ngườidân đều có công ăn việc làm, trong đó Nhà nước đề ra chính sách cụ thể và tổchức thực hiện
- Một điểm rất khác biệt của Nhật Bản là người dân ở đây làm việc tạinhà bằng máy tính điện tử Người ta cho rằng làm việc tại nhà có nhiều ưu
Trang 29điểm hơn so với các hình thức cơ cấu tổ chức lao động cũ Nó cho phép phânphối lao động theo khu vực hợp lý hơn Với hệ thống thông tin hoạt động ổnđịnh, nhà ở dù xa nơi làm việc bao nhiêu chăng nữa cũng không quan trọng.Ngoài ra còn giảm nhẹ gánh nặng giao thông trong và ngoài thành phố trongnhững giờ cao điểm.
Những người về hưu, tàn tật, nội trợ có trình độ chuyên môn tốt khôngthể đến cơ quan hàng ngày được vẫn có thể tham gia lao động được nhờ làmviệc tại nhà Lao động tại nhà tạo điều kiện tốt cho cuộc sống cá nhân và củng
- Phải xác định đúng vị trí của nền kinh tế trong bậc thang phát triển, căn
cứ vào đó để xây dựng các chính sách phát triển Nhiều quốc gia đã chuyển từnền kinh tế nông nghiệp lạc hậu sang sản xuất nông nghiệp hiện đại thànhcông do áp dụng những chính sách phát triển hợp lý
- Sự quan tâm của chính quyền các cấp là điều kiện tiên quyết cho thànhcông của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn, đặc biệt trongviệc tạo một môi trường pháp lý thuận lợi, khuyến khích phát triển nông thôn.Trong giai đoạn đầu cần có những chính sách bảo hộ mặt hàng nông sản vàcông nghiệp trong nước và thay thế nhập khẩu, quan tâm hỗ trợ chuyển giaocông nghệ mới và đào tạo nghề cho nông dân
- Phát triển nông nghiệp, nông thôn trước hết phải nhằm mục đích xoá
Trang 30đói giảm nghèo Các dự án phải giải quyết được mối quan hệ tỷ lệ thuận giữađói nghèo và phá huỷ môi trường, hạn chế sự phát triển chênh lệch giữa thànhthị và nông thôn.
- Nhằm đa dạng hoá sản phẩm, thu hút lực lượng không có đất và không
có tay nghề cần phát triển mô hình kinh tế trang trại, đồn điền quy mô nhỏ donông dân quản lý
- Phát triển các loại hình doanh nghiệp ở nông thôn, khuyến khích môhình làng nghề để thu hút lao động địa phương, giảm sức ép di dân đối vớicác thành phố lớn và dần dần hình thành mạng lưới đô thị vệ tinh
- Mối quan hệ công - nông cần được duy trì và phát triển theo hướngcùng hợp tác, cùng chịu trách nhiệm và hỗ trợ tạo điều kiện về vốn vì lợi íchchung của người dân và các doanh nghiệp đảm bảo hoạt động hiệu quả, lâudài
- Tăng thêm tính linh hoạt về việc làm, cho phép các doanh nghiệp giảm
bớt người dư thừa; tăng cường thực hiện chính sách sử dụng lao động tạmthời
- Mở rộng mạng lưới bảo hiểm cho những người không được hưởng tiền
bồi thường thất nghiệp
- Khuyến khích, thúc đẩy hoạt động của các công ty đầu tư tư nhân.
Nâng cao hiệu quả của các cơ quan dịch vụ việc làm Phát triển các chươngtrình đào tạo nghề
- Xoá bỏ những thủ tục hạn chế, cản trở sự thành lập và phát triển của
các doanh nghiệp
- Tăng đầu tư cho khoa học và giáo dục, thu hút đầu tư trực tiếp của
nước ngoài để nâng cao trình độ công nghệ, tăng thêm năng lực cạnh tranhcho sản phẩm trên thị trường trong và ngoài nước
Cho đến nay, Việt Nam vẫn bị coi là một trong những nước nghèo nhất
Trang 31thế giới với 80% dân số sống ở nông thôn Tỷ lệ thất nghiệp tương đối cao,hiện tượng di dân còn phổ biến, đặc biệt các dòng di dân tới các đô thị lớn gâysức ép nhiều mặt Nhà nước đã và đang có những nỗ lực nhằm tạo việc làm vàgiảm tỷ lệ thất nghiệp, xây dựng hành lang pháp lý tạo nền tảng cho việc hìnhthành một thị trường lao động lành mạnh và có hiệu quả
Những kinh nghiệm quốc tế trên đây sẽ là những bài học bổ ích cho Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng nhằm đưa ra những giải pháp có hiệu quả cao trong việc giải quyết vấn đề thất nghiệp và thiếu việc làm, đảm bảo sự phát triển kinh tế - xã hội ổn định và bền vững
Trang 32có vai trò kinh tế quan trọng trong khu vực Hà Nội là nơi tập trung các cơquan đầu não của Đảng, Nhà nước, các viện nghiên cứu khoa học, các trungtâm đào tạo, dạy nghề lớn của cả nước Hà Nội có hệ thống giao thông thuậnlợi: đường sắt, đường bộ, đường sông, đường hàng không, nối liền các địaphương trong cả nước và quốc tế.
Hiện nay Hà Nội có gần 40 trường đại học và cao đẳng, 34 trường trunghọc chuyên nghiệp, 41 trường dạy nghề, 112 viện nghiên cứu chuyên ngành,ngoài ra còn có các tổ chức quốc tế, các công ty nước ngoài, các ngành côngnghiệp tiên tiến mũi nhọn của cả nước Hà Nội có lực lượng cán bộ khoa học
kỹ thuật, các chuyên gia và công nhân lành nghề rất hùng hậu, có điều kiệntiếp cận với kiến thức và kinh nghiệm tiên tiến của các nước trên thế giới, lựclượng luôn luôn được bổ sung từ các trung tâm khoa học, các trường đại học,cao đẳng, trung học chuyện nghiệp và dạy nghề đóng trên địa bàn Với điềukiện và khả năng đó Hà Nội có thể ứng dụng nhanh những thành tựu khoahọc, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến trong và ngoài nước
Hà Nội là thành phố đông dân nhất khu vực phía Bắc và đứng thứ haitrong cả nước (sau Thành phố Hồ Chí Minh), có sức hút rất lớn về nhân lực
và các nguồn lực khác, đồng thời cũng có sức lan toả, ảnh hưởng rất mạnh ra
cả nước Các chủ trương, chính sách đẩy nhanh sự phát triển kinh tế - xã hội
Trang 33của Hà Nội có ảnh hưởng lớn đến dân số, lao động và công tác quản lý laođộng của Hà Nội cũng như các tỉnh lân cận.
Sự phát triển mạnh của quá trình đô thị hoá, mở rộng phạm vi phát triển
ở các vùng ven đô,v v.cùng với sự phát triển của các thành phần kinh tế, đặcbiệt là khu vực quốc doanh, sẽ làm thay đổi nhanh cả về số lượng, chất lượng
và cơ cấu lao động ở Thủ đô
Hà Nội được sự quan tâm chỉ đạo trực tiếp của Trung ương, của cácngành Hà Nội được ưu tiên đầu tư các nguồn lực (con người, tài nguyên,khoa học công nghệ v v.) của Trung ương cũng như của các tổ chức quốc tế,
có điều kiện cũng như khả năng hình thành các khu công nghiệp tập trung,các khu công nghệ, kỹ thuật cao
Cùng với sự chuyển mình đi lên của đất nước, Hà Nội đã và đang ngàycàng có những thay đổi tốt đẹp Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm sau cao hơnnăm trước, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thời kỳ 1986 - 1990 tăng7,1%/năm, thời kỳ 1991 - 1993 tăng bình quân 10,5%/năm, năm 1995 so vớinăm 1994 tăng 14,23%, năm 1997 so với năm 1996 tăng 17,43%, năm 1998
so với năm 1997 tăng 11,08% và cho đến năm 2000 tổng sản phẩm quốc nộicủa Hà Nội là 19.515 tỷ đồng, GDP/người là 990$/người/năm Cơ cấu kinh tếchuyển dịch theo hướng tích cực, năm 1998 tỷ trọng công nghiệp, xây dựngtăng lên 36,2%, nông nghiệp giảm còn 4,3%, ngành dịch vụ tăng lên 59,5%.Với sự tăng trưởng kinh tế mức sống của người dân không ngừng được cảithiện, thu nhập trung bình của người dân Hà Nội cao gấp 3 - 4 lần mức thunhập bình quân của đồng bằng sông Hồng
Tỷ lệ giàu - nghèo có sự thay đổi rõ rệt, Số hộ giàu năm 1994 là 15,3%,năm 1995 là 18,9%, năm 1996 là 21,3% Tỷ lệ hộ nghèo năm 1994 là 3,47%,năm 1995 là 2,13%, năm 1996 là 1,94%, năm 1997 là 2,6% Thu nhập tăng, tỷ
lệ hộ giàu tăng là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới tiêu dùng và tích luỹcủa mỗi gia đình nói riêng và của toàn thành phố nói chung Đồng thời yếu tốnày cũng ảnh tới các hàng hoá và tạo điều kiện mở rộng thị trường tiêu thụcác sản phẩm trong nước, kích thích sự phát triển các ngành nghề truyềnthống góp phần quan trọng vào việc giải quyết việc làm cho người lao động
Trang 34Đặc biệt, Hà Nội có lịch sử ngàn năm văn hiến, người dân Hà Nội cótruyền thống văn hoá lâu đời Hà Nội là nơi có nhiều ngành nghề truyền thốngvới các sản phẩm có giá trị kinh tế, văn hoá cao Từ năm 1993 một số ngànhnghề đã được khôi phục và phát triển cả chiều sâu lẫn chiều rộng, thu hút mộtlực lượng lao động đáng kể không chỉ tại chỗ mà ở cả các vùng lân cận, gópphần giải quyết quỹ thời gian nhàn rỗi, tạo việc làm và tăng thêm thu nhậpcho người lao động.
Bảng 1: Một số chỉ tiêu kinh tế của Hà Nội
Chỉ tiêu Đơn vị 1990 1995 Ước
2000
Tốcđộ tăng bình quân:% 91-95 96-00 91-00 Tổng sản phẩm quốc nội(GDP)
GDP/người
Tốc độ tăng trưởng GDP bq
năm
Cơ cấu kinh tế theo ngành
Công nghiệp - xây dựng
Nông - lâm nghiệp
Dịch vụ
Tỷ (đ) USD
29,1 9 61,9
2335,4 695 -
33 5,4 61,6
2730 990 9,14
38 3,8 58,2
2,62 - 12,52
- -
-3,17 - 10,18
- -
-2,90 - 11,34
- -
-1.2- Khó khăn
Tốc độ tăng dân số chung rất cao tăng nhanh, nguồn lao động lớn vàkhông ổn định, sức ép về việc làm lớn, tỷ lệ thất nghiệp đô thị của Hà Nội cao(8,96%)
Hơn nữa, lực lượng lao động di chuyển tự do đến Hà Nội khá lớn với xuhướng ngày càng tăng và khó quản lý, vừa gây sức ép về việc làm vừa dễ nảysinh các hiện tượng phức tạp tiêu cực trong xã hội
Mặt khác, chất lượng nguồn lao động Hà Nội không đồng đều, có tìnhtrạng vừa thiếu vừa thừa lao động (thừa lao động phổ thông nhưng lại thiếulao động chất xám, lao động chuyên môn kỹ thuật cao).Tốc độ đô thị hoá
Trang 35nhanh trong khi cơ sở vật chất, kỹ thuật hạ tầng cho sản xuất, đời sống và chocông tác quản lý yếu kém, không đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu củagiai đoạn mới.
Ngoài ra, hậu quả mà mô hình và cơ chế cũ để lại trong lực lượng laođộng cũng như trong công tác quản lý quá lớn và nặng nề
2- Những vấn đề về dân số của Hà Nội
2.1- Quy mô dân số.
Hà Nội có số dân vào loại đông, đứng thứ hai trong cả nước (sau Thànhphố Hồ Chí Minh), theo kết quả sơ bộ cuộc tổng điều tra dân số toàn quốc,tính đến ngày 01/04/1999, dân số Hà Nội là 2.672.122 người, tăng 30% so vớinăm 1990 và ước tính dân số trung bình Hà Nội năm 2000 là 2.730.000người
Theo tính toán, trung bình mỗi năm dân số Hà Nội tăng lên khoảng100.000 người và cứ 5 - 6 năm sẽ tăng thêm khoảng 500.000 người, tươngđương với dân số của một quận trung bình hiện nay ở Hà Nội Với tốc độ tăngnhanh chóng này dự báo đến hết năm 2001 dân số Hà Nội sẽ vào khoảng2.821.000 người, đến năm 2005 dân số Hà Nội sẽ đạt khoảng 3.000.000người
2.2- Tốc độ tăng dân số tự nhiên
Cũng như các tỉnh thành khác trong cả nước, kể từ sau khi thực hiệnchính sách kế hoạch hoá gia đình, tốc độ tăng dân số tự nhiên của Hà Nội tuy
có giảm, nhưng giảm chậm Tốc độ tăng dân số trung bình hàng năm thời kỳ
1996 - 2000 vẫn ở mức từ 1,3% đến 1,4% Tuy nhiên, tốc độ tăng dân số tựnhiên của Hà Nội vẫn thấp hơn so với chỉ tiêu trung bình của cả nước Kếtquả này là do mức chết biến động rất ít, mức sinh có xu hướng giảm, nhưnggiảm chậm Tỷ lệ sinh ở khu vực ngoại thành còn cao, nhất là các huyện nhưSóc Sơn, Đông Anh, Thanh Trì
Trang 36Bảng 2: Tốc độ gia tăng dân số tự nhiên của Hà Nội.
Nguồn: Cục Thống kê Thành phố Hà Nội.
Kể từ năm 1996 - năm đầu tiên thực hiện chiến lược DS - KHHGĐ, mứcsinh ở khu vực nội thành giảm chậm hơn khu vực ngoại thành, cụ thể là mứcsinh ở khu vực nội thành giảm 0,03%, trong khi đó ngoại thành giảm được0,185% Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng này có thể là do mức sinh ởngoại thành cao hơn nội thành, vì vậy khả năng giảm là nhiều hơn Tuy nhiêntrong thời gian gần đây, từ năm 1997, chênh lệch về mức sinh giữa 2 khu vực
đã được rút ngắn; đến năm 1998, mức sinh của nội thành là 1,63%, trong khicủa ngoại thành là 1,74%
2.3 - Tốc độ tăng dân số cơ học: Quá trình đô thị hoá và sự phát triển kinh tế
- xã hội đã ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ tăng dân số cơ học của Hà Nội Hàngnăm, các dòng di dân tự do từ các địa phương khác vào Thành phố Hà Nộitìm việc làm, chủ yếu là vào khu vực nội thành đã dẫn đến tốc độ tăng cơ học
từ 0,5% (thời kỳ 1975-1980) lên tới 1,5% (1990 -1995) Số người di dân tự do
đến Hà Nội năm 1994 là khoảng 41.000 người; năm 1996 - khoảng 93.000người; năm 1999 - khoảng 200.000 người và ước tính năm 2000 khoảng236.500 người Số lượng người lao động ngoại tỉnh tại Hà Nội không đượcquản lý chặt chẽ ngày một tăng, ước tính đến nay khoảng 25-30 vạn Hơnnữa, bình quân hàng năm Hà Nội phải tiếp nhận khoảng gần 2 vạn lao động từcác trường đại học, trung học chuyên nghiệp tốt nghiệp ở lại tìm việc làm tạiđây Tình trạng này dẫn đến sức ép lớn về mọi mặt, đặc biệt là tác động tới sự
Trang 37phát triển kinh tế - xã hội của Hà Nội.
Biến động cơ học ở Hà Nội hiện nay không chỉ dừng lại ở sự di chuyểncủa dân cư Hà Nội, mà còn bao gồm cả dòng di chuyển dân từ các tỉnh khácđến làm ăn sinh sống lâu dài, học tập hoặc tìm việc làm tạm thời, thời vụ Tuynhiên con số này rất khó thống kê một cách đầy đủ do việc khai báo và quản
lý chưa thật chặt chẽ
Như vậy, mức tăng của dân số Hà Nội còn cao bình quân hàng nămthời kỳ 1996 - 2000 tăng 2,2%, mức tăng này chủ yếu là do ảnh hưởng củamức tăng cơ học cao Quản lý chặt chẽ về nhân khẩu là điều kiện cần để cónhững thông tin chính xác về biến động cơ học của dân số làm cơ sở cho dựbáo và hoạch định chính sách
3- Những vấn đề về lao động của Hà Nội
3.1- Quy mô lực lượng lao động
Với quy mô dân số đông đã tạo ra nguồn lao động dồi dào cho Thủ đô
Hà Nội Đây là một lợi thế rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hộicủa Hà Nội Nguồn lao động dồi dào này vừa nguồn lực, tài sản quý giá vừa
là mục tiêu, động lực của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Thành phố Nguồn lao động ở Thủ đô Hà Nội bao gồm nguồn lao động hình thành từdân cư sở tại và lực lượng lao động di chuyển cơ học vào thành phố từ các địaphương khác
Trang 38Bảng 3: Quy mô và tỷ lệ tăng nguồn lao động của Hà Nội 1996 - 2000
Năm
Nguồn lao động
(1.000 người) 1.135,6 1.137,4 1.162,33 1.336,4 1.424,7Nguồn lao động /
Nguồn : Cục Thống kê Hà Nội
Bảng cho thấy lực lượng lao động Thủ đô liên tục tăng qua các năm,nguyên nhân của hiện tượng gia tăng nhanh chóng này là:
- Hàng năm Hà Nội có khoảng 4 - 5 vạn người bước vào tuổi lao động.Nguồn lao động trẻ chiếm tỷ trọng cao, độ tuổi từ 16 - 34 năm 1996 chiếm34,3% dân số và ước tính năm 2000 chiếm 40,1% dân số Số lao động thuộcnhóm tuổi trên 35 có số lượng ít hơn so với số lao động ở tuổi thanh niên và
có xu hướng giảm đi theo mức tăng của độ tuổi
- Tốc độ gia tăng cơ học của lao động Hà Nội rất cao Mỗi năm Hà Nộiđón nhận từ 170.000 - 220.000 lao động từ các tỉnh khác chuyển về và khoảnghơn 2 vạn lao động từ các trường đại học, trung học chuyên nghiệp tốt nghiệp
ở lại tìm việc làm tại Hà Nội
Về độ tuổi lao động: Nhìn chung lực lượng lao động của Hà Nội tươngđối trẻ, với 43% số lao động dưới độ tuổi 35, độ tuổi từ 35 - 55 chiếm 53,3%còn độ tuổi trên 55 chỉ chiếm 3,7% Tỷ lệ trên không có sự cách biệt giữa cácquận nội thành và các huyện ngoại thành Lao động trẻ là một trong nhữngđiều kiện thuận lợi của Hà Nội, vì chỉ có lực lượng lao động trẻ mới có điềukiện về tri thức, sức khoẻ cần thiết để nâng cao trình độ văn hoá, chuyên môn,nghiệp vụ, khả năng tiếp thu khoa học - công nghệ hiện đại, khả năng thíchứng với cơ chế thị trường đầy biến động nếu được sự định hướng và quản lýtốt của Nhà nước
Trang 393.2- Trình độ văn hóa và chuyên môn của lực lượng lao động Hà Nội
3.2.1Trình độ văn hoá của lực lượng lao động Hà Nội:
Lực lượng lao động của Hà Nội có trình độ văn hoá tương đối cao, tỷ lệbiết chữ là 99,7% Số người có trình độ văn hoá thấp (tức là từ cấp I trởxuống) của Hà Nội ít hơn nhiều so với số người có trình độ từ bậc THCS trởlên Tỷ lệ lớp học cao nhất đã qua bình quân cho một người (lớp/12) của lựclượng lao động Hà Nội trung bình là 9,7- một tỷ lệ cao so với cả nước Tuynhiên, số người có trình độ học vấn quá thấp, bao gồm cả số chưa học hết tiểuhọc, vẫn còn 177.734 người là một vấn đề bức xúc đòi hỏi cần phải cóhướng giải quyết ở một trung tâm kinh tế - chính trị - văn hoá quan trọng nhấtnước như Thủ đô Hà Nội
Hiện nay Hà Nội còn hơn 1000 em trong độ tuổi 11-16 mù chữ; 13 xã có
số học sinh đi học dưới 50%; 15 xã có hiện tượng trẻ em bỏ học tăng Nămhọc 1996-1997, tỷ lệ bỏ học toàn Thành phố là 0,5%; riêng huyện Sóc Sơn là2% Hiện tượng biến động dân số, dân cư ở các địa bàn ven đô, tỷ lệ sinh sảncòn cao và khó khăn về kinh tế ở các huyện ngoại thành như Sóc Sơn cộngvới những tác động của cơ chế thị trường (bỏ học để đi kiếm việc làm nuôigia đình ) là những nhân tố tác động mạnh đến việc nâng cao chất lượng laođộng ở khu vực ngoại thành
Lực lượng trong độ tuổi 15-35 có đến 100% biết chữ với số năm đi họctrung bình là 9,5 năm Số người tốt nghiệp phổ thông trung học cơ sở chiếm45,7% số lượng lao động Còn số lao động tốt nghiệp phổ thông trung học trởlên chiếm 39,6% nguồn lao động
Nếu năm 1996 tỷ lệ phổ cập cấp II ở khu vực ngoại thành là 67% thì đếnnăm 2000 tỷ lệ này là 100% Tuy nhiên, trình độ văn hoá bình quân giữa laođộng ở khu vực thành thị và khu vực nông thôn còn chênh lệch rất lớn Lượnglao động nông thôn chiếm tới 41,2% lao động của toàn Thành phố Đa số laođộng ở vùng nông thôn Hà Nội mới tốt nghiệp trung học cơ sở
3.2.2.Trình độ chuyên môn của lao động Hà Nội:
Sự phát triển của đội ngũ lao động có chuyên môn ở Thủ đô hiện nay làrất mạnh, tuy nhiên cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn kỹ thuật vẫn
Trang 40còn là một vấn đề lớn cần phải quan tâm giải quyết Trên địa bàn Thành phố
cơ cấu lao động ĐH, CĐ - THCN - CNKT của Hà Nội năm 2000 là 1 - 0,8 - 1
cụ thể: Lao động có trình độ đại học, cao đẳng chiếm 11,1% so với nguồn laođộng, trong đó ở thành thị là 17,1% và ở nông thôn là 2,1% Lao động cótrình độ THCN chiếm 8,6% so với nguồn lao động, trong đó ở thành thị là12% và ở nông thôn là 3,4% Lao động có trình độ CNKT có bằng chiếm10,1% so với nguồn lao động; trong đó ở thành thị chiếm 12,5% và ở nôngthôn chiếm 6,4%
Cơ cấu này là chưa hợp lý (tỷ lệ thích hợp trên thế giới là 1 - 1,5 - 7).Hiện Hà Nội thiếu nhiều công nhân kỹ thuật, đặc biệt là CNKT bậc cao Sốsinh viên đào tạo gấp 5 lần số CNKT Hơn nữa, số người tốt nghiệp đại họcnhiều nhưng chưa phát huy được hiệu quả, tập trung quá nhiều vào khu vựchành chính, đoàn thể
Theo điều tra năm 1996 của Sở lao động và Cục thống kê Hà Nội thì ở
Hà Nội hiện nay có tới 57,6% lao động trong độ tuổi 18-23 chưa được đào tạonghề và 88,6% lao động ở khu vực nông thôn chưa được đào tạo nghề Còntrong độ tuổi 21-45 thì có tới 32,9% lao động ở khu vực nông thôn và và84,7% lao động ở khu vực nông thôn chưa được đào tạo nghề Tỷ lệ lao động
đã qua đào tạo/tổng số lao động đang làm việc trong kinh tế quốc doanh:36%
3.3- Về phân bổ lao động
Lao động đang làm việc trong khu vự nhà nước trên địa bàn Hà Nội phântheo ngành kinh tế năm 2007 là 468609 người trong đó:
- Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản: năm 2007 là 2114 người
- Khai khoáng năm 2007 là 5017 người
- Công nghiệp chế biến, chế tạo năm 2007 là 79710 người
- Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa
không khí năm 2007 là 3825 người
- Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải năm 2007
là 8607 người
- Xây dựng năm 2007 là 131942 người