1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của năng lực tâm lý hành vi học tập chủ động và động lực học tập đến kết quả học tập của sinh viên các trường đại học thuộc khối ngành kinh tế tại TP.HCM

97 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của năng lực tâm lý hành vi học tập chủ động và động lực học tập đến kết quả học tập của sinh viên các trường đại học thuộc khối ngành kinh tế tại TP.HCM
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU (10)
    • 1.1. Lý do chọn đề tài (10)
    • 1.2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu (13)
    • 1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (13)
    • 1.4. Phương pháp nghiên cứu (13)
    • 1.5. Ý nghĩa nghiên cứu (14)
    • 1.6. Bố cục đề tài (14)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU (15)
    • 2.1. Định nghĩa (15)
      • 2.1.1. Năng lực tâm lý (15)
      • 2.1.2. Học tập chủ động (17)
      • 2.1.3. Động lực học tập (17)
      • 2.1.4. Kết quả học tập (18)
    • 2.2. Cơ sở lý thuyết hình thành mô hình nghiên cứu (18)
      • 2.2.1. Lý thuyết Hành vi tổ chức tích cực (POB) (18)
      • 2.2.2. Lý thuyết Bảo tồn tài nguyên (COR) (19)
    • 2.3. Lược khảo các nghiên cứu và giả thuyết liên quan (19)
      • 2.3.1. Nghiên cứu của Yoon và công sự (2015) (19)
      • 2.3.2. Nghiên cứu của C.H. Chan và cộng sự (2018) (20)
      • 2.3.3. Nghiên cứu của Phan Quốc Tấn và Bùi Thị Thanh (2018) (21)
      • 2.3.4. Nghiên cứu của Hoàng Thị Mỹ Nga và Nguyễn Tuấn Kiệt (2016) (21)
      • 2.3.5. Nghiên cứu của Nhóm tác giả lớp ADC - Khóa 42 (2019) (22)
      • 2.3.6. Nghiên cứu của Huỳnh Văn Thái và Lê Thị Kim Anh (2017) (23)
      • 2.3.7. Đặc điểm sinh viên khối ngành kinh tế (24)
    • 2.4. Các giả thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất (25)
      • 2.4.1. Các giả thuyết đề xuất (25)
      • 2.4.2. Mô hình nghiên cứu đề xuất (28)
  • CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (30)
    • 3.1. Quy trình nghiên cứu (30)
    • 3.2. Nghiên cứu định tính (31)
      • 3.2.1. Thiết kế nghiên cứu định tính (31)
      • 3.2.2. Tóm tắt kết quả nghiên cứu định tính (31)
      • 3.2.3. Kết quả nghiên cứu định tính (33)
    • 3.3. Nghiên cứu định lượng chính thức (35)
      • 3.3.1. Thiết kế mẫu nghiên cứu (35)
      • 3.3.2. Phương pháp phân tích dữ liệu (37)
  • CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (45)
    • 4.1. Thông tin về mẫu nghiên cứu (45)
    • 4.2. Kết quả nghiên cứu (47)
      • 4.2.1. Đánh giá thang đo (47)
      • 4.2.2. Đánh giá mô hình đo lường (50)
      • 4.2.3. Đánh giá mô hình cấu trúc (54)
    • 4.3. Kiểm định sự khác biệt (56)
    • 4.4. Kiểm định vai trò trung gian của Động lực học tập, Học tập chủ động (57)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ (59)
    • 5.1. Kết luận (59)
    • 5.2. Thảo luận kết quả nghiên cứu (60)
    • 5.3. Hàm ý quản trị (61)
    • 5.4. Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo (69)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (14)
  • PHỤ LỤC (74)

Nội dung

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC THAM GIA XÉT GIẢI THƯỞNG‘’NHÀ NGHIÊN CỨU TRẺ UEH’’ NĂM 2021Đề tài: ẢNH HƯỞNG CỦA NĂNG LỰC TÂM LÝ, HỌC TẬPCHỦ ĐỘNG VÀ ĐỘNG LỰC HỌC TẬP ĐẾN KẾTQUẢ HỌC TẬP: Trường hợp nghiên cứusinh viên các trường Đại học thuộc khối ngành kinh tếtại TP. Hồ Chí Minh

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Lý do chọn đề tài

Cách mạng công nghiệp 4.0 đang tạo ra những chuyển biến mạnh mẽ trên thị trường, khiến các doanh nghiệp chú trọng vào chiến lược toàn cầu hóa và mở rộng thị trường ra nhiều quốc gia Đồng thời, nhiều mô hình kinh doanh mới dựa trên nền tảng kỹ thuật số đã xuất hiện, thu hút sự quan tâm của không ít doanh nghiệp và ngày càng trở nên phổ biến trên toàn cầu.

Việt Nam đang nổi bật trong bối cảnh kinh tế toàn cầu, với sự gia tăng đầu tư từ các tập đoàn nước ngoài, cho thấy tiềm năng của thị trường Theo khảo sát của JLL, TP.HCM đứng thứ ba thế giới về độ năng động, nhưng cũng đồng nghĩa với sự cạnh tranh khốc liệt trong kinh doanh Để tạo ra lợi thế cạnh tranh, nhiều doanh nghiệp đã áp dụng chính sách tối ưu hóa chi phí và chú trọng vào nguồn lực con người Để đáp ứng nhu cầu về chuyên môn và kỹ năng, TP.HCM hiện có hơn 80 trường Đại học với khoảng 400.000 sinh viên Do đó, việc cải thiện năng lực tâm lý và mối quan hệ trong môi trường Đại học, đặc biệt tại các trường kinh tế, là rất cần thiết.

Hiện nay, nhiều sinh viên đang đối mặt với tình trạng lười biếng và ham chơi, bị cám dỗ bởi những thú vui xa hoa của thành phố, dẫn đến việc bỏ học hoặc tham gia lớp học một cách thờ ơ Sự thiếu chủ động trong học tập ngày càng rõ rệt, sinh viên mất dần động lực nghiên cứu và tham gia các hoạt động học thuật Áp lực từ nhiều khía cạnh trong cuộc sống cũng ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả học tập Do đó, sinh viên ngành kinh tế cần tự tin, lạc quan và kiên trì vượt qua khó khăn, đồng thời phải thích nghi tốt với mọi hoàn cảnh và cập nhật thông tin mới để không bị tụt lại phía sau.

Năng lực tâm lý, theo Luthans và cộng sự (2010), là một nguồn vốn nhân lực quan trọng ảnh hưởng đến năng lực thể chất và tinh thần của sinh viên, bao gồm hành vi học tập chủ động, động lực học tập và kết quả học tập Luthans và Youssef (2004) chỉ ra rằng những người có năng lực tâm lý cao thường duy trì cảm xúc tích cực, giúp họ lạc quan và tự tin khi đối mặt với khó khăn Nhiều nghiên cứu đã chứng minh mối tương quan giữa năng lực tâm lý và kết quả học tập của sinh viên, cho thấy mỗi yếu tố trong năng lực tâm lý đều ảnh hưởng đến thành tích học tập trong môi trường đại học Gần đây, Azeez Olugbenga và Abayomi Akindele-Oscar (2019) đã thực hiện khảo sát tại Olabisi Onabanjo, Nigeria, trong khi Peterson và Byron (2008) cũng đã nghiên cứu tương tự trong lĩnh vực bán lẻ ở Tây Nam Hoa Kỳ.

Năng lực tâm lý của sinh viên có ảnh hưởng đáng kể đến kết quả học tập, điều này đã được nhiều tác giả nghiên cứu, bao gồm Snyder (2000), Werner (2000), Zimmerman (2000), và Corr cùng Gray.

Nhiều tác giả tại Việt Nam đã nghiên cứu mối quan hệ giữa năng lực tâm lý và kết quả công việc Phan Quốc Tấn và Bùi Thị Thanh (2018) đã chỉ ra ảnh hưởng của năng lực tâm lý đến cam kết làm việc và hiệu suất của nhân viên trong lĩnh vực điện-điện tử tại TP.HCM Đồng thời, nghiên cứu của Nguyen Dinh Tho và cộng sự (2014) đã xây dựng mô hình kiểm định vai trò của năng lực tâm lý trong việc tác động đến kết quả công việc của nhân viên tiếp thị.

Nhiều tác giả đã thực hiện các nghiên cứu về mối tương quan giữa năng lực tâm lý và hành vi chủ động trong học tập, điển hình là nghiên cứu của Chan Yuen Fook và cộng sự (2015) tại trường công lập ở bang Selangor, Malaysia, cùng với khảo sát của Suvi Nurtila và cộng sự (2015) tại Đại học Helsinki, Phần Lan Ngoài ra, còn có nhiều nhóm tác giả khác như Waxman Hersh C và cộng sự (2003) và Hyung Joon Yoon và cộng sự (2015) cũng đồng quan điểm với các nghiên cứu này.

Năng lực tâm lý không chỉ ảnh hưởng đến các yếu tố khác mà còn có tác động tích cực đến động lực học tập của sinh viên tại môi trường Đại học Nghiên cứu của Seyed Davood Mohammadi và cộng sự (2019) đã khảo sát sinh viên ngành y ở Iran, trong khi Barry J Zimmerman (2000) thực hiện nghiên cứu tại một trường sau Đại học ở New York, Mỹ Mối quan hệ này được củng cố bởi nhiều nghiên cứu trong gần 2 thập kỷ qua, như của R Koizumi (1992) và Taofeek A Oose (2019).

Một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả học tập là học tập chủ động Theo Bonwell và Eison (2004), trong môi trường Đại học, học tập chủ động giúp sinh viên phát triển thái độ và suy nghĩ tích cực, từ đó tác động đến hành vi và tư duy của họ Điều này khuyến khích sinh viên tìm hiểu kiến thức sâu hơn, góp phần nâng cao kết quả học tập Nhiều nghiên cứu, bao gồm của Scott Freeman và cộng sự (2014) cũng như Janice D Yoder và Catherine M Hochevar (2003), đã khẳng định tầm quan trọng của mối quan hệ này, gần đây nhất là nghiên cứu của Simon CH Chan và cộng sự (2018).

Mối quan hệ giữa học tập chủ động và động lực học tập đã được nhiều nghiên cứu khẳng định, trong đó nghiên cứu của David C Owens và cộng sự (2017) tại một trường Đại học phía Đông Nam Hoa Kỳ cho thấy rằng các chiến lược học tập chủ động có tác động tích cực đến động lực học tập của sinh viên Nhiều tác giả trước đó như Lumsden (1994), Wentzel (1998), C C Bonwell (1996), Armbruster và cộng sự (2009), Prince (2004), và Springer cũng đã đưa ra những kết quả tương tự, nhấn mạnh vai trò quan trọng của học tập chủ động trong việc nâng cao động lực học tập.

Nhiều tác giả đã nghiên cứu mối quan hệ giữa động lực học tập và kết quả học tập, như Trinora và cộng sự (2015) trong lĩnh vực khoa học giáo dục tại Indonesia, cùng với Sita Chetri (2014) và nhóm Cloud, Noureen, Naz K (2011) Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Võ Thị Tâm (2010) và Phạm Văn Khanh (2016) cũng đã chỉ ra sự liên quan này.

Nghiên cứu hiện tại chỉ ra rằng mặc dù có nhiều bài nghiên cứu chứng minh mối quan hệ giữa năng lực tâm lý, học tập chủ động, động lực học tập và kết quả học tập, nhưng chưa có nghiên cứu nào đồng thời xem xét mối quan hệ giữa cả bốn yếu tố này Hơn nữa, lĩnh vực giáo dục và đào tạo vẫn thiếu các nghiên cứu sâu sắc về vấn đề này Do đó, đề tài này được thực hiện nhằm khám phá mối tương quan giữa bốn yếu tố, từ đó nâng cao kết quả học tập của sinh viên trong các trường kinh tế tại TP.HCM.

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu này có 3 mục tiêu chính, cụ thể như sau:

Mô hình nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích ảnh hưởng của năng lực tâm lý, hành vi học tập chủ động và động lực học tập đến kết quả học tập của sinh viên tại các trường Đại học khối ngành kinh tế ở TP.HCM Nghiên cứu nhằm làm rõ mối quan hệ giữa các yếu tố này và kết quả học tập, từ đó cung cấp những thông tin hữu ích cho việc cải thiện chất lượng giáo dục trong lĩnh vực kinh tế.

- Kiểm định và đo lường mối quan hệ giữa năng lực tâm lý, học tập chủ động, động lực học tập và kết quả học tập

Bài nghiên cứu nhằm phát triển năng lực tâm lý của sinh viên, cải thiện động lực học tập và tăng tính chủ động trong việc học tập, từ đó nâng cao kết quả học tập trong môi trường Đại học Để đạt được ba mục tiêu này, nghiên cứu cần trả lời các câu hỏi liên quan.

Có mối quan hệ giữa năng lực tâm lý, hành vi học tập chủ động và động lực học tập với kết quả học tập của sinh viên tại các trường Đại học khối ngành kinh tế TP.HCM Năng lực tâm lý và động lực học tập đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hành vi học tập chủ động, từ đó ảnh hưởng tích cực đến thành tích học tập của sinh viên.

Mức độ tác động của năng lực tâm lý, học tập chủ động và động lực học tập đến kết quả học tập là rất quan trọng Các yếu tố này có mối tương quan chặt chẽ, ảnh hưởng lẫn nhau và quyết định sự thành công trong quá trình học tập Năng lực tâm lý giúp sinh viên vượt qua khó khăn, trong khi học tập chủ động và động lực học tập thúc đẩy sự tham gia và nỗ lực trong việc tiếp thu kiến thức Do đó, việc phát triển các yếu tố này sẽ góp phần nâng cao kết quả học tập một cách hiệu quả.

Để phát triển năng lực tâm lý của sinh viên, cần chú trọng đến việc cải thiện động lực học tập và tăng cường tính chủ động trong quá trình học Các hàm ý quản trị có thể bao gồm việc tạo ra môi trường học tập tích cực, khuyến khích sinh viên tham gia vào các hoạt động ngoại khóa, và cung cấp hỗ trợ tâm lý cần thiết Những yếu tố này sẽ góp phần nâng cao kết quả học tập của sinh viên trong môi trường Đại học.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là năng lực tâm lý, hành vi học tập chủ động, động lực học tập và kết quả học tập

- Đối tượng khảo sát đề tài là sinh viên đang theo học khối ngành kinh tế

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại các trường Đại học thuộc khối ngành Kinh tế trong khu vực TP.HCM từ tháng 12 năm

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện thông qua 2 phương pháp là nghiên cứu định tính và định lượng, cụ thể như sau:

Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua phỏng vấn nhóm tập trung với 8 sinh viên từ các trường Đại học khối ngành Kinh tế tại TP.HCM Mục tiêu là xác định mô hình nghiên cứu về mối quan hệ giữa năng lực tâm lý, hành vi học tập chủ động, động lực học tập và kết quả học tập, đồng thời điều chỉnh thang đo cho phù hợp với thực tiễn.

Nghiên cứu định lượng được thực hiện để kiểm định độ tin cậy và giá trị của các thang đo, cũng như kiểm tra mô hình đo lường và mô hình cấu trúc Phân tích được thực hiện thông qua phần mềm SPSS phiên bản 20.0 và Smart PLS 3.3.3.

Ý nghĩa nghiên cứu

Kết quả kiểm định mô hình cung cấp cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo nhằm phát triển mô hình trong lĩnh vực năng lực tâm lý Điều này giúp khám phá thêm các yếu tố khác và nhấn mạnh tầm quan trọng của chúng trong việc nâng cao chất lượng dạy và học trong ngành giáo dục và đào tạo.

Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên ngành kinh tế là rất quan trọng Từ đó, chúng ta có thể xây dựng những kế hoạch phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả học tập và đào tạo cho sinh viên.

Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập là cần thiết để tìm ra những hướng phát triển phù hợp, từ đó nâng cao hiệu quả học tập tại trường Việc này không chỉ giúp cá nhân cải thiện thành tích mà còn mang lại ý nghĩa thực tiễn trong quá trình học tập.

Nghiên cứu này sẽ giúp sinh viên cải thiện năng lực tâm lý và hành vi học tập chủ động, từ đó nâng cao động lực và đạt được kết quả học tập tốt hơn.

Nghiên cứu đã cung cấp những thông tin quý giá, giúp nhà trường xây dựng các giải pháp nhằm tạo ra một môi trường học tập thoải mái và năng động hơn cho sinh viên.

Bố cục đề tài

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và một số hàm ý

Tài liệu tham khảo và phụ lục

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Định nghĩa

Cấu trúc tính cách của mỗi cá nhân trong một đơn vị được xem là năng lực tâm lý, có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển cá nhân (Luthans và cộng sự, 2005; Caza và cộng sự, 2010) Năng lực tâm lý không chỉ đa chiều mà còn thay đổi theo thời gian và có thể rèn luyện được trong các tình huống cụ thể (Chen và cộng sự, 2000; Ur Rehman và cộng sự, 2017) Các thành phần chính của năng lực tâm lý bao gồm tự tin, lạc quan, hi vọng và thích nghi.

Trạng thái tâm lý trong các tình huống thay thế, theo Ur Rehman và cộng sự (2017), cho thấy rằng việc thay đổi không dễ dàng và không ổn định, nhưng có thể rèn luyện Các nghiên cứu trước đó của Luthans và cộng sự (2007), Demerouti và cộng sự (2011), cũng như Peterson và cộng sự (2011) chỉ ra rằng các chương trình đào tạo, rèn luyện và chính sách khuyến khích có thể gia tăng tính thích nghi của năng lực tâm lý.

Năng lực tâm lý được xem là một hình thức tâm lý tích cực, đóng vai trò quan trọng như vốn nhân lực và ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh của con người Sinh viên có năng lực tâm lý cao thường thể hiện sự hy vọng và lạc quan trong việc giải quyết khó khăn (Luthans và Youssef, 2004) Theo Luthans và cộng sự (2007), năng lực tâm lý bao gồm bốn thành phần chính: tự tin, lạc quan, hy vọng và khả năng thích nghi.

Nhiều tác giả, như Demerouti và Schaufeli, đã sử dụng các thành phần nêu trên trong nghiên cứu của họ về đề tài này.

Nhóm nghiên cứu đã dựa trên bốn thành phần từ nghiên cứu của Luthans và cộng sự (2007), cùng với các tài liệu của Peterson và Byron (2008), Sweetman và Luthan (2010), và Nguyễn Đình Thọ và cộng sự (2014).

Tự tin vào năng lực và ý chí kiên định theo đuổi mục tiêu là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hành vi và quyết tâm của mỗi người khi đối mặt với thử thách (Bandura, 1998) Niềm tin tích cực hay sự tự tin là động lực thúc đẩy hành động nhằm đạt được thành công (Stajkovic và Luthans, 1998; Luthans và Youssef, 2004) Những người tự tin thường chọn những nhiệm vụ thách thức cao để đạt được thành công (Shahnawaz và Jafri, 2009) Đào tạo và kinh nghiệm làm việc cũng góp phần tăng cường sự tự tin (Demerouti và cộng sự, 2011) Tóm lại, tự tin phản ánh niềm tin tích cực về khả năng thực hiện nhiệm vụ thành công, phù hợp với bối cảnh nghiên cứu của đề tài.

Theo Seligman (1998), lạc quan là niềm tin vững vàng vào thành công và kết quả tốt trong công việc Người lạc quan duy trì tinh thần ổn định và suy nghĩ tích cực về tương lai Nghiên cứu của Demerouti và cộng sự (2011), Luthans và cộng sự (2008, 2010) cho thấy lạc quan ảnh hưởng lớn đến năng lực cá nhân và sự phát triển, đào tạo Định nghĩa của Snyder và cộng sự (1991) cũng nhấn mạnh rằng lạc quan là sự kỳ vọng tích cực và kiên định trong việc đạt mục tiêu.

Hy vọng là yếu tố quan trọng trong việc hình thành ý chí và xác định mục tiêu để đạt được thành công (Snyder, 2000) Nó không chỉ liên quan đến động lực mà còn giúp cá nhân theo đuổi và thực hiện các mục tiêu, từ đó dẫn đến thành công (Luthans và Youssef).

Nghiên cứu của Cetin và Basim (2011) nhấn mạnh rằng hy vọng không chỉ là việc xác định các mục tiêu quan trọng mà còn là quá trình vượt qua những khó khăn Nhóm nghiên cứu đã áp dụng định nghĩa của Snyder (2000) vì nó làm rõ khái niệm về hy vọng.

Thích nghi là khả năng vượt qua khó khăn và phục hồi nhanh chóng, thậm chí vượt qua trạng thái ban đầu để đạt thành công (Luthans và cộng sự, 2007) Sự thích nghi được gia tăng khi có sự tương tác với lạc quan, tự tin và hy vọng (Richardson, 2002) Nó thể hiện niềm tin vào sự phát triển, nhận thức cuộc sống một cách ý nghĩa và phát triển tính linh hoạt để thích ứng với thay đổi (Luthans và Youssef, 2004) Các phương pháp như sử dụng cảm xúc tích cực và thay đổi nhận thức về rủi ro đã được chứng minh là hiệu quả trong việc xây dựng tính thích nghi (Tugade và Fredrickson, 2004; Marten, 2001) Người có khả năng thích nghi tốt hơn trong việc ứng phó với căng thẳng tại môi trường làm việc biến đổi (Tugade và Fredrickson, 2004) Định nghĩa trong nghiên cứu này xem thích nghi là sự chịu đựng, khả năng phục hồi, thích ứng tốt và giải quyết vấn đề hiệu quả để đạt thành công (Rego và cộng sự, 2012).

Học tập chủ động được định nghĩa là hoạt động mà sinh viên tham gia tích cực vào quá trình học, trái ngược với việc tiếp nhận thông tin một cách thụ động Theo Petress (2008) và Chickering cùng Gamson (1987), việc chỉ ngồi nghe giảng không giúp sinh viên tiếp thu kiến thức hiệu quả Michael Prince (2004) nhấn mạnh rằng học tập chủ động bao gồm sự tham gia trên lớp và phương pháp học tập của sinh viên Collins JW và O’Brien NP (2003) cho rằng học tập chủ động yêu cầu sinh viên suy ngẫm về ý tưởng và cách sử dụng chúng, giữ cho họ tích cực trong việc thu thập thông tin và giải quyết vấn đề Học tập chủ động cũng liên quan đến sự tương tác giữa các cá nhân (Chi, 2009; Chickering và Gamson, 1987) Felder và Brent (2009) định nghĩa học tập chủ động là những hoạt động mà sinh viên được khuyến khích thực hiện thay vì chỉ nghe và ghi chép Nghiên cứu của Rodney Carr và cộng sự (2015) cho thấy học tập chủ động giúp sinh viên tích cực xây dựng kiến thức và học hỏi hiệu quả hơn khi họ tham gia vào quá trình học tập.

Học tập chủ động là quá trình mà sinh viên tham gia vào nhiều hoạt động tích cực trong khóa học, giúp họ tiếp nhận thông tin và kiến thức một cách hiệu quả, từ đó có thể áp dụng vào thực tế.

2.1.3 Động lực học tập Động lực giải thích vì sao con người hành động để hoàn thành nhiệm vụ và công việc được giao (Pintrich, 2003), trong đó động lực bên trong được hình thành do và bị ảnh hưởng bởi bản chất công việc và phần thưởng nội tại, mặt khác, động lực bên ngoài được hình thành do và bị ảnh hưởng bởi kỳ vọng của bản thân và các nguồn lực bên ngoài và không có phần thưởng nào gắn liền với công việc (Brief và Aldag, 1977)

Động lực học tập được chia thành hai loại: động lực bên trong, thể hiện hành vi cá nhân nhằm thỏa mãn nhu cầu nội tại, và động lực bên ngoài, thể hiện hành vi để đạt được lợi ích như khuyến khích và sự công nhận (Tsai và Chang, 2007) Theo Chang và Lin (1989), động lực học tập kích thích sự quan tâm và tham gia của cá nhân vào các quá trình nội bộ hướng tới mục tiêu Các nghiên cứu của Reiss (2012), Constanta và Madela (2011), Genovese (2003), James (1998), McCombs (1991), và Schiefele (1991) cũng khẳng định những khái niệm tương tự.

Trong nghiên cứu này, động lực học tập được định nghĩa là ý chí tham gia và học tập trong các buổi học, chủ yếu xuất phát từ động lực nội tại của từng cá nhân (Nguyễn Đình Thọ, 2011) Định nghĩa này dựa trên quan điểm về động lực bên trong, vì động lực học tập thường tập trung vào nhận thức của mỗi cá nhân về hiệu quả học tập (Noe, 1968 và Cole et al, 2004).

Cơ sở lý thuyết hình thành mô hình nghiên cứu

2.2.1 Lý thuyết Hành vi tổ chức tích cực (POB)

Lý thuyết POB, được hình thành từ năm 1999 và phát triển chủ yếu bởi Luthans (2002), tập trung vào việc cải thiện điều kiện làm việc và phương thức quản lý Lý thuyết này không chỉ ảnh hưởng đến các đặc điểm cá nhân (Luthans và cộng sự, 2007) mà còn đưa ra cách tiếp cận mới trong việc ứng dụng năng lực tâm lý tích cực Qua đó, nó giúp đo lường chất lượng nguồn lực và gia tăng hiệu quả trong quản trị nguồn nhân lực.

Các tiêu chí của POB được phản ánh đầy đủ qua các khái niệm tâm lý tích cực như hy vọng, lạc quan, tự tin và khả năng thích nghi Những khái niệm này thường được đề cập trong các nghiên cứu của Luthans và các cộng sự từ năm 2002 đến 2007.

(2004), sự kết hợp của 4 yếu tố này tạo thành nên năng lực tâm lý của người lao động

2.2.2 Lý thuyết Bảo tồn tài nguyên (COR)

Lý thuyết Bảo tồn tài nguyên (COR) của Hobfoll (2001) cho rằng khi con người gặp căng thẳng, họ có xu hướng sử dụng tài nguyên sẵn có để duy trì và đạt được tài nguyên mới Tài nguyên ở đây được hiểu là bất kỳ thứ gì mà cá nhân sở hữu nhằm đạt được mục tiêu, bao gồm đặc điểm cá nhân, điều kiện và năng lượng.

Lý thuyết bảo tồn tài nguyên chỉ ra rằng căng thẳng xuất hiện khi cá nhân cảm thấy bị đe dọa mất tài nguyên (Hobfoll, 2012) Để giảm thiểu tác động của yếu tố gây căng thẳng, họ cần đầu tư thêm nguồn lực, do đó, nhân viên sở hữu nhiều tài nguyên sẽ ít có nguy cơ mất mát và có khả năng tích lũy thêm (Hobfoll, 2001; 2012) Khi tài nguyên bị mất, chúng sẽ chuyển hóa thành dạng năng lượng khác để bù đắp.

Nguyên nhân áp dụng lý thuyết bảo tồn tài nguyên trong nghiên cứu là do nhóm nhận thấy năng lực tâm lý là một tài nguyên cá nhân quan trọng đối với những thách thức mà sinh viên ngành Kinh tế tại TP.HCM phải đối mặt Sinh viên cần tập trung vào nguồn lực của chính mình để giảm áp lực từ môi trường xung quanh, và sự khác biệt về năng lực cá nhân ảnh hưởng đến khả năng đạt được mục tiêu học tập Để giảm thiểu tác động của các yếu tố gây căng thẳng, sinh viên cần đầu tư thêm vào học tập chủ động và động lực, nhằm đạt kết quả học tập tốt hơn Nghiên cứu này sẽ chứng minh rằng năng lực tâm lý có ảnh hưởng tích cực đến học tập chủ động, động lực học tập và kết quả học tập của sinh viên.

Lược khảo các nghiên cứu và giả thuyết liên quan

2.3.1 Nghiên cứu của Yoon và công sự (2015)

Nghiên cứu “Ảnh hưởng của Hy vọng đến sự gắn kết trong học tập với kết quả học tập và nhận dạng nghề nghiệp của sinh viên” nhằm kiểm định mối tương quan giữa hy vọng, sự gắn kết của sinh viên, kết quả học tập và nhận dạng nghề nghiệp, trong đó hy vọng được xác định là nhân tố dự đoán chính Quy mô mẫu của nghiên cứu bao gồm

Nghiên cứu với 1685 sinh viên tại bốn trường Đại học ở Canada và Hoa Kỳ cho thấy hy vọng ảnh hưởng tích cực đến kết quả học tập (GPA) và định hướng nghề nghiệp thông qua sự tham gia của sinh viên Sự gắn kết có tác động mạnh mẽ hơn đến GPA so với hy vọng và có mối liên hệ sâu sắc với định hướng nghề nghiệp sau này Những phát hiện này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc các nhà tư vấn nghề nghiệp và giáo dục cần đánh giá và giải quyết hy vọng của học sinh trong quá trình tư vấn Để nuôi dưỡng hy vọng hiệu quả, cần xác định các chiến lược và nguồn lực phù hợp, giúp sinh viên tham gia tích cực vào hoạt động học tập, từ đó cải thiện kết quả học tập và nhận thức về yêu cầu kỹ năng nghề nghiệp.

Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu của Yoon và công sự (2015)

2.3.2 Nghiên cứu của C.H Chan và cộng sự (2018)

Nghiên cứu “Tính tương tác, học tập chủ động và hiệu suất học tập: Vai trò điều tiết của việc cảm nhận niềm vui bằng cách sử dụng hệ thống phản hồi cá nhân” nhằm kiểm tra mối quan hệ giữa sự tương tác, học tập chủ động và hiệu suất học tập của sinh viên, đồng thời xác định ảnh hưởng của sự hài lòng khi sử dụng hệ thống phản hồi cá nhân (PRS) Kết quả từ 247 sinh viên ngành kinh doanh tại một trường Đại học ở HongKong cho thấy học tập chủ động đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa tính tương tác và hiệu quả học tập Hơn nữa, mức độ thú vị cao khi sử dụng PRS đã củng cố mối liên hệ này.

Nghiên cứu này mang lại cái nhìn mới về mối liên hệ giữa tính tương tác, học tập chủ động và hiệu suất học tập của sinh viên Kết quả cho thấy trải nghiệm học tập thú vị có ảnh hưởng tích cực đến sự tham gia của sinh viên Do đó, các giảng viên cần thiết kế mô hình giảng dạy nhằm khuyến khích niềm đam mê học tập, thúc đẩy tính chủ động và kích thích sự tương tác trực tiếp để cải thiện kết quả học tập.

2.3.3 Nghiên cứu của Phan Quốc Tấn và Bùi Thị Thanh (2018)

Nghiên cứu “Ảnh hưởng của năng lực tâm lý đến cam kết làm việc và kết quả công việc của nhân viên” tập trung vào mối quan hệ giữa năng lực tâm lý và cam kết trong công việc tại các doanh nghiệp điện - điện tử ở TP.HCM Dữ liệu được thu thập từ 501 mẫu khảo sát nhân viên làm việc tại các nhà máy trong khu công nghiệp Kết quả phân tích bằng phương pháp cấu trúc tuyến tính (SEM) cho thấy năng lực tâm lý có mối tương quan dương với kết quả làm việc và cam kết của nhân viên, trong đó năng lực tâm lý có ảnh hưởng mạnh mẽ hơn.

Nghiên cứu đề xuất các hàm ý quản trị nhằm hỗ trợ lãnh đạo doanh nghiệp và nhà máy điện - điện tử trong việc phát triển và điều chỉnh chính sách nhân sự Mục tiêu là nâng cao năng lực tâm lý của nhân viên, từ đó gia tăng kết quả công việc và mức độ gắn bó của họ.

Hình 2.2: Mô hình nghiên cứu của Phan Quốc Tấn và Bùi Thị Thanh (2018)

Nghiên cứu của Phan Quốc Tấn và Bùi Thị Thanh (2018) chỉ ra rằng năng lực tâm lý có ảnh hưởng đáng kể đến cam kết làm việc và kết quả công việc của nhân viên Cụ thể, trong bối cảnh các doanh nghiệp điện - điện tử tại các Khu Công nghiệp TP.HCM, năng lực tâm lý không chỉ giúp nâng cao sự gắn bó của nhân viên với công việc mà còn cải thiện hiệu suất làm việc Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển năng lực tâm lý trong môi trường làm việc để đạt được hiệu quả cao hơn trong công việc.

2.3.4 Nghiên cứu của Hoàng Thị Mỹ Nga và Nguyễn Tuấn Kiệt (2016)

Nghiên cứu “Phân tích các nhân tố tác động đến động lực học tập của sinh viên kinh tế trường Đại học Cần Thơ” nhằm kiểm định các yếu tố từ nhà trường ảnh hưởng đến động lực học tập của sinh viên Khoa Kinh tế Dữ liệu từ 495 sinh viên cho thấy hoạt động phong trào, chất lượng giảng viên, chương trình đào tạo, và điều kiện học tập có tác động tích cực đến động lực học tập Kết quả cũng chỉ ra rằng không có sự khác biệt về động lực học tập giữa các sinh viên theo đặc tính cá nhân hay giới tính, nhưng một số đặc tính như tính cách và năng lực lại có ảnh hưởng mạnh mẽ đến động lực học tập của họ.

Dựa trên kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đề xuất các hàm ý quản trị cho nhà quản lý, giảng viên và sinh viên Trường Đại học Cần Thơ nhằm nâng cao kết quả học tập của sinh viên kinh tế Các chiến lược bao gồm chuyển đổi phương pháp giảng dạy, phát triển năng lực cá nhân, khuyến khích học tập chủ động, và tổ chức hội thảo, ngày hội hướng nghiệp để giúp sinh viên có định hướng nghề nghiệp rõ ràng hơn cho tương lai.

Hình 2.3: Mô hình nghiên cứu của Hoàng Thị Mỹ Nga và Nguyễn Tuấn Kiệt

Nghiên cứu của Hoàng Thị Mỹ Nga và Nguyễn Tuấn Kiệt (2016) phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến động lực học tập của sinh viên ngành kinh tế tại trường Đại học Cần Thơ Các yếu tố này bao gồm môi trường học tập, sự hỗ trợ từ giảng viên, và động lực cá nhân của sinh viên Kết quả nghiên cứu cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách nâng cao động lực học tập cho sinh viên, từ đó cải thiện chất lượng giáo dục tại trường.

2.3.5 Nghiên cứu của Nhóm tác giả lớp ADC - Khóa 42 (2019)

Nghiên cứu “Ảnh hưởng của năng lực tâm lý đến sự gắn kết trong học tập và kết quả học tập của sinh viên tại các trường Đại học TP.HCM” nhằm kiểm định mối tương quan giữa năng lực tâm lý, kết quả học tập và sự gắn kết của sinh viên Bài nghiên cứu dựa trên kết quả khảo sát từ sinh viên tại các trường Đại học ở TP.HCM.

Nghiên cứu trên 525 sinh viên tại TP.HCM cho thấy năng lực tâm lý có tác động tích cực đến sự gắn bó và kết quả học tập, mặc dù mức độ tác động còn yếu Hơn nữa, sự gắn bó trong học tập có mối tương quan mạnh mẽ với kết quả học tập của sinh viên.

Nhóm nghiên cứu đã đề xuất các hàm ý nhằm nâng cao chất lượng và tâm lý sinh viên tại các trường Đại học TP.HCM Những đề xuất này hướng đến việc phát triển nguồn năng lực tâm lý nội tại, thúc đẩy sự gắn kết và mang lại kết quả học tập tốt nhất cho sinh viên.

Hình 2.4: Mô hình nghiên cứu đề xuất của Nhóm tác giả lớp ADC - Khóa 42 (2019)

Năng lực tâm lý đóng vai trò quan trọng trong việc gắn kết và nâng cao kết quả học tập của sinh viên tại các trường Đại học TP.HCM, theo nghiên cứu của Nhóm tác giả lớp ADC - Khóa 42 (2019).

2.3.6 Nghiên cứu của Huỳnh Văn Thái và Lê Thị Kim Anh (2017)

Nghiên cứu “Mối quan hệ giữa hoạt động giảng dạy, động cơ học tập và kết quả học tập của sinh viên” nhằm kiểm định mối liên hệ giữa các yếu tố này Kết quả từ nghiên cứu định lượng trên 455 sinh viên trường Cao đẳng Công nghiệp Tuy Hòa cho thấy rằng cả hoạt động giảng dạy và động cơ học tập đều có ảnh hưởng tích cực đến kết quả học tập của sinh viên.

Các giả thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất

2.4.1 Các giả thuyết đề xuất

2.4.1.1 Mối quan hệ giữa Năng lực tâm lý với Kết quả học tập

Nghiên cứu của Zimmerman (2000) cho thấy sự tự tin ở sinh viên có liên quan đến thành tích học tập cao hơn, với tự tin đóng vai trò trung gian trong việc cải thiện phương pháp học tập Corr và Gray (1996) chỉ ra rằng lạc quan có mối quan hệ tích cực với kết quả học tập, khi lạc quan cao sẽ thúc đẩy sự thỏa mãn và niềm vui, từ đó nâng cao thành tích học tập Peterson và Byron (2008) nhấn mạnh rằng hy vọng ảnh hưởng lớn đến kết quả cá nhân, với những người có hy vọng cao thường nỗ lực vượt qua khó khăn để đạt thành công Theo Snyder (2000), hy vọng được định nghĩa là sự hướng tới mục tiêu, là yếu tố quan trọng trong hiệu quả học tập Cuối cùng, Azeez Olugbenga và Abayomi Akindele-Oscar (2019) kết luận rằng sự thích nghi không làm giảm mối quan hệ giữa động lực học tập và kết quả học tập, mà còn có mối liên hệ đáng kể với cả hai yếu tố này, cho thấy những cá nhân kiên trì và thích nghi tốt thường đạt hiệu suất cao hơn.

Trong bài viết này, nhóm tác giả giả thuyết rằng học tập chủ động và động lực học tập là yếu tố trung gian quan trọng trong mối quan hệ giữa năng lực tâm lý và kết quả học tập Theo lý thuyết bảo tồn tài nguyên (COR), sinh viên cần đầu tư thêm nguồn lực để giảm thiểu tác động của các yếu tố gây căng thẳng Do đó, sinh viên có nhiều tài nguyên hơn sẽ có nguy cơ mất mát thấp hơn và khả năng đạt được kết quả học tập tốt hơn.

Một người học tập chủ động và có động lực cao sẽ giảm căng thẳng, từ đó đạt được kết quả học tập tốt hơn.

Cá nhân có năng lực tâm lý cao sẽ học tập hiệu quả hơn nhờ khả năng tự điều chỉnh tâm lý của bản thân.

H1: Năng lực tâm lý có tác động cùng chiều đến Kết quả học tập của sinh viên

2.4.1.2 Mối quan hệ giữa Năng lực tâm lý với Học tập chủ động

Học tập chủ động có mối quan hệ trực tiếp với mức độ tự tin của sinh viên, với những sinh viên tự tin thường chủ động hơn trong việc học (Chan Yuen Fook và cộng sự, 2015) Sự lạc quan cũng ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi học tập chủ động; sinh viên lạc quan cao thường tìm tòi và học hỏi, trong khi sinh viên lạc quan thấp có xu hướng né tránh việc học (Suvi Nurtila và cộng sự, 2015) Hơn nữa, hy vọng của sinh viên có tác động lớn đến mức độ tham gia học tập (Yoon và cộng sự, 2015) Cuối cùng, tính thích nghi của sinh viên cũng liên kết với mức độ chủ động trong học tập (Waxman và cộng sự, 2003).

Nghiên cứu cho thấy rằng sinh viên có khả năng thích nghi cao sẽ tham gia tích cực hơn vào quá trình học tập Theo thuyết bảo tồn tài nguyên (COR), để giảm thiểu tác động của các yếu tố gây căng thẳng, sinh viên cần đầu tư vào nguồn lực của mình Khi sinh viên sở hữu nhiều tài nguyên, họ sẽ ít có nguy cơ mất mát và có khả năng chủ động hơn trong việc học tập.

H2: Năng lực tâm lý có tác động cùng chiều đến Học tập chủ động của sinh viên

2.4.1.3 Mối quan hệ giữa Năng lực tâm lý với Động lực học tập

Theo nghiên cứu của Barry J Zimmerman (2000), tự tin ảnh hưởng trực tiếp và tích cực đến quá trình tạo động lực trong học tập của sinh viên Theo

R Koizumi (1992), tác giả đã thể hiện rõ mối quan hệ giữa lạc quan và động lực Đặc biệt là khi càng lạc quan thì động lực học tập của sinh viên càng cao và thành tích của các sinh viên đó thường là đầu bảng Theo Seyed Davood Mohammadi, Zahra Moslemi, Mahin Ghomi (2019) đã chỉ ra được hy vọng có mối tương quan thuận với động lực học tập của sinh viên tại Iraq Đồng thời kết quả chỉ ra rằng hy vọng cao làm tăng động lực học tập và làm giảm tỉ lệ kiệt sức trong quá trình học tập của sinh viên Taofeek A Oose (2019) chỉ ra rằng thích nghi có mối quan hệ hỗ trợ tuyến tính với động lực học tập của sinh viên và đồng thời có quan hệ tuyến tính với cả kết quả học tập của sinh viên

H3: Năng lực tâm lý có tác động cùng chiều với Động lực học tập của sinh viên

2.4.1.4 Mối quan hệ giữa Học tập chủ động với Kết quả học tập

Học tập chủ động, theo Bonwell và Eison (2004), không chỉ cải thiện thái độ và tư duy của sinh viên mà còn liên kết tích cực với kết quả học tập Nó tạo ra môi trường tự nhiên, nâng cao kỹ năng cá nhân và hiệu suất làm việc Scott Freeman và cộng sự (2014) cho rằng học tập chủ động gia tăng hiệu suất kiểm tra trong các ngành STEM, giúp sinh viên đạt thành tích học tập tốt hơn Janice D Yoder và Catherine M Hochevar (2003) cũng khẳng định rằng học tập chủ động khuyến khích sinh viên tự khám phá kiến thức, từ đó tạo hứng thú và cải thiện kết quả học tập, đặc biệt trong các kỳ thi.

Nghiên cứu của CH Chan và cộng sự (2018) chỉ ra rằng hành vi học tập chủ động có vai trò trung gian, giúp nâng cao hiệu quả kết quả học tập so với phương pháp học tập thông thường.

H4: Học tập chủ động có tác động cùng chiều Kết quả học tập của sinh viên

2.4.1.5 Mối quan hệ giữa Động lực học tập với Kết quả học tập

Nghiên cứu của nhóm tác giả Trinora, Riswandi và Mustakim tập trung vào mối quan hệ giữa động lực học tập và kết quả học tập của sinh viên.

Nghiên cứu của năm 2015 cho thấy mối liên hệ tích cực giữa động lực học tập và kết quả học tập của sinh viên Sita Chetri (2014) cũng khẳng định rằng động lực cao dẫn đến thành tích học tập gia tăng Tương tự, Cloud, Noureen và Naz (2011) đã đưa ra kết quả tương đồng Tại Việt Nam, Võ Thị Tâm (2010) chỉ ra rằng sinh viên có động lực học tập cao sẽ có kết quả học tập tốt hơn nhờ vào cam kết trong việc tích lũy kiến thức và áp dụng các phương pháp học tập hiệu quả Động lực học tập đóng vai trò quyết định trong việc định hướng, tập trung và nỗ lực của sinh viên trong quá trình học.

Động lực học tập có ảnh hưởng lớn đến kết quả học tập của sinh viên; nếu động lực tích cực, kết quả sẽ tốt hơn.

Động lực học tập đóng vai trò quyết định trong chất lượng và hiệu quả học tập của sinh viên Những sinh viên có động lực tích cực và luôn trau dồi kiến thức thường đạt được điểm số mong muốn Hơn nữa, động lực học tập còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc hình thành phẩm chất, năng lực và nhân cách của học sinh trong quá trình học Rõ ràng, có mối liên hệ mật thiết giữa động lực học tập và kết quả học tập.

H5: Động lực học tập có tác động cùng chiều đến Kết quả học tập của sinh viên

2.4.1.6 Mối quan hệ giữa Học tập chủ động với Động lực học tập

Sinh viên tích cực tìm kiếm tài liệu, bài giảng và khám phá kiến thức, cũng như tương tác với người khác trong quá trình học tập, sẽ có động lực học tập cao hơn.

Nghiên cứu của David C Owens và cộng sự (2017) cho thấy học tập chủ động là một yếu tố trung gian quan trọng, giúp nâng cao động lực học tập của sinh viên Nhiều tác giả khác cũng đã chỉ ra rằng học tập chủ động ảnh hưởng tích cực đến động lực và thái độ học tập của sinh viên trong môi trường Đại học (Armbruster và cộng sự 2009; Prince 2004; Springer và cộng sự 1999; Lumsden, 1994; Wentzel).

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Quy trình nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện qua hai bước chính: nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng Bước đầu tiên, nghiên cứu định tính sử dụng bảng câu hỏi kế thừa từ các nghiên cứu trước, kết hợp với phỏng vấn 8 người để hoàn thiện thang đo và xây dựng bảng câu hỏi cho nghiên cứu định lượng Tiếp theo, thang đo của nghiên cứu định lượng được xác nhận thông qua phương pháp đánh giá độ tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA, trước khi tiến hành các phương pháp phân tích và đánh giá khác.

Nghiên cứu định tính

3.2.1 Thiết kế nghiên cứu định tính

Nghiên cứu định tính được thực hiện qua thảo luận nhóm tập trung với 8 sinh viên ngành Kinh tế tại TP.HCM nhằm xác định tính phù hợp của các biến trong mô hình nghiên cứu và đề xuất biện pháp chỉnh sửa Tác giả đã sử dụng kỹ thuật “Dàn bài thảo luận” để phỏng vấn các đáp viên về các nội dung như năng lực tâm lý, động lực học tập, học tập chủ động và kết quả học tập Các sinh viên tham gia đến từ các trường Đại học UEH, UEF, BUH, FTU và UEL.

Qua phỏng vấn nhóm, tác giả đã thu thập ý kiến từ các đáp viên để điều chỉnh các biến quan sát trong thang đo và xây dựng bảng câu hỏi cho nghiên cứu định lượng theo mô hình đề xuất Mục tiêu của phỏng vấn là xác định mô hình nghiên cứu và hiệu chỉnh thang đo cùng với việc lựa chọn từ ngữ phù hợp hơn.

3.2.2 Tóm tắt kết quả nghiên cứu định tính

Do ảnh hưởng của dịch Covid-19, nhóm nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn tập trung 8 sinh viên ngành kinh tế tại Trường Đại học Kinh tế TP.HCM để đề phòng dịch bệnh và thuận tiện cho việc nghiên cứu định tính Các đáp viên đều cho rằng cần điều chỉnh từ ngữ sau khi Việt hóa để phù hợp và dễ hiểu hơn, nhằm phản ánh thực tế học tập và làm việc nhóm của sinh viên, từ đó thu về câu trả lời chính xác nhất cho bảng câu hỏi khảo sát.

3.2.2.1 Thang đo năng lực tâm lý Để đo lường năng lực tâm lý trong học tập của sinh viên, nhóm đã kế thừa thang đo từ nghiên cứu của Phan Quốc Tấn và Bùi Thị Thanh (2018)

3.2.2.2 Thang đo động lực học tập

Thang đo động lực học tập trong nghiên cứu này được phát triển dựa trên công trình của Nguyễn Đình Thọ và cộng sự (2011) về tâm lý học trong giáo dục.

3.2.2.3 Thang đo học tập chủ động Để đo lường mức độ học tập chủ động của sinh viên, nhóm kế thừa thang đo từ nghiên cứu của Rodney Carr và cộng sự (2015) bằng tiếng Anh và được chuyển qua tiếng Việt, đồng thời chỉnh sửa cho phù hợp với ngữ cảnh nghiên cứu

3.2.2.4 Thang đo kết quả học tập

Bảng tổng hợp ý kiến của các đáp viên được xây dựng dựa trên thang đo kết quả công việc đã được điều chỉnh từ nghiên cứu của Phan Quốc Tấn và Bùi Thị Thanh (2018), nhằm đo lường kết quả học tập của sinh viên trong bài nghiên cứu của nhóm.

Bảng 3.1: Nội dung điều chỉnh

Họ và tên đáp viên

HTCĐ5 Phụ đạo hoặc giảng dạy cho các sinh viên khác để ôn lại kiến thức

“phụ đạo hoặc giảng dạy cho” thành cụm “tổ chức học nhóm với”

“Phụ đạo và giảng dạy” có thể tạo áp lực lớn cho sinh viên, trong khi “chủ động tổ chức học nhóm” lại phù hợp hơn với nhu cầu và phong cách học tập của họ.

HTCĐ6 Tôi chủ động tham gia và các dự án cộng đồng như là một phần của một học

Sinh viên tham gia nhiều dự án đa dạng, không chỉ giới hạn ở các dự án mang tính "cộng đồng", mà còn bao gồm các dự án học tập, cá nhân và doanh nghiệp.

HTCĐ8 Giao tiếp và làm việc nhóm với các sinh viên khác trực tuyến

“nền tảng trực tuyến” Để rõ nghĩa hơn

HTCĐ10 Thường xuyên trao đổi và nhận phản hồi từ các đánh giá của giảng viên

Lý Khả Di Thay cụm “và nhận phản hồi từ các đánh giá của” thành cụm “nội dung học tập”

Trao đổi và nhận phản hồi trong quá trình học tập chưa được thực hiện một cách cụ thể Hơn nữa, giảng viên cũng ít khi tiến hành đánh giá, do đó, người phản hồi đề xuất cần có sự trao đổi rõ ràng hơn về nội dung học tập.

HTCĐ11 Kiên trì với các hoạt động học tập bất chấp khó khăn thử thách

“Kiên trì theo đuổi mục tiêu học tập mà không ngại khó”

Từ bất chấp mang nghĩa tiêu cực nên cần điều chỉnh lại

3.2.3 Kết quả nghiên cứu định tính

Thang đo Năng lực tâm lý (PSYCHOLOGICAL CAPITAL) do Phan Quốc Tấn và Bùi Thị Thanh (2018) phát triển bao gồm bốn biến quan sát cho tự tin (SELF EFFICACY), ba biến cho hy vọng (HOPE), ba biến cho lạc quan (OPTIMISM) và ba biến cho thích nghi (RESILIENCE) Ngoài ra, thang đo Động lực học tập (LEARNING MOTIVATION) được xây dựng dựa trên nghiên cứu của Nguyễn Đình Thọ và cộng sự (2011) với năm biến quan sát, trong khi thang đo Học tập chủ động (ACTIVE LEARNING) do Rodney Carr và cộng sự (2015) phát triển có tổng cộng mười một biến quan sát.

Thang đo Kết quả học tập (PERFORMANCE OF STUDENTS) được phát triển từ nghiên cứu của Nguyễn Đình Thọ và cộng sự (2014) với 4 biến quan sát Để đảm bảo tính rõ ràng và dễ hiểu cho đáp viên trong khảo sát, 8 sinh viên sẽ được phỏng vấn tập trung để thử nghiệm các câu hỏi trong bảng câu hỏi nghiên cứu định tính, bao gồm 2 phần nội dung.

- Phần 1: Khảo sát mức độ đồng ý đối với mỗi câu hỏi khảo sát

- Phần 2: Thông tin cá nhân nói chung của người được khảo sát

Các đáp viên sẽ được khảo sát về độ rõ ràng và ý nghĩa của từng câu hỏi, đồng thời thảo luận và nhận xét về tính phù hợp của từ ngữ trong bối cảnh học tập của họ Qua đó, sẽ tiến hành điều chỉnh các câu hỏi cho phù hợp với ngữ cảnh Việt Nam.

Bảng 3.2 Các biến quan sát của thang đo sau khi được điều chỉnh và được sử dụng trong nghiên cứu định lượng chính thức

Ký hiệu Tên biến quan sát

TT1 Tôi tự tin trong việc phân tích và tìm giải pháp trong học tập

TT2 Tôi tự tin khi trình bày bài thuyết trình trên lớp

TT3 Tôi tự tin khi trao đổi, giao tiếp bài học với giảng viên

TT4 Tôi tự tin khi thảo luận việc học với bạn bè

LQ1 Tôi luôn mong đợi điều tốt đẹp nhất sẽ xảy ra mỗi khi gặp khó khăn trong học tập

LQ2 Tôi tin tưởng rằng thuận lợi và may mắn sẽ luôn đến với mình

LQ3 Nói chung, tôi luôn hi vọng mọi việc sẽ diễn ra theo những gì tôi mong muốn

HV1 Tôi đang hăng hái theo đuổi mục tiêu trong học tập

HV2 Tôi có nhiều kế hoạch để đạt được mục tiêu hiện tại của mình

HV3 Tôi có nhiều cách để giải quyết vấn đề tôi đang vướng mắc trong học tập

TN1 Tôi nhanh chóng vượt qua và hồi phục sau những rắc rối trong học tập TN2 Tôi dễ dàng hòa đồng với bạn bè

Sau những cuộc tranh luận gay gắt, tôi nhanh chóng lấy lại bình tĩnh và cố gắng học tài liệu của môn học nhiều nhất có thể Tôi dành nhiều thời gian cho việc học, với việc đầu tư vào nghiên cứu tài liệu là ưu tiên hàng đầu Tôi nỗ lực hết mình để nghiên cứu tài liệu, và nhìn chung, động lực học tập của tôi rất cao.

HTCĐ1 Tôi thường xuyên đặt ra câu hỏi và đóng góp vào các cuộc thảo luận trực tiếp trên lớp hoặc trực tuyến

HTCĐ2 Tôi chủ động nhận công việc thuyết trình trên lớp hoặc trực tuyến

HTCĐ3 Tôi chủ động làm việc nhóm với các sinh viên khác trong suốt buổi học

HTCĐ4 Tôi chủ động làm việc nhóm với các sinh viên khác ngoài giờ học để chuẩn bị cho buổi học tiếp theo

HTCĐ5 Tôi chủ động tổ chức học nhóm với các sinh viên khác để ôn lại kiến thức

HTCĐ6 Tôi chủ động tham gia vào các dự án như là một phần của môn học

HTCĐ7 Thảo luận sau buổi học về các nội dung trong sách vở hoặc nội dung giảng dạy

HTCĐ8 Giao tiếp và làm việc nhóm với các sinh viên khác trên nền tảng trực tuyến

HTCĐ9 Chủ động tìm kiếm tài liệu liên quan đến các môn học

HTCĐ10 Thường xuyên trao đổi nội dung học tập với giảng viên

HTCĐ11 Kiên trì theo đuổi mục tiêu học tập mà không ngại khó khăn

KQHT1 Tôi tin rằng tôi có phương pháp học tập đem lại hiệu quả

KQHT2 Tôi hài lòng với kết quả học tập đạt được của mình

KQHT3 Giảng viên đánh giá cao về kết quả và năng lực học tập của tôi

KQHT4 Bạn bè cùng lớp đánh giá cao về kết quả và năng lực học tập của tôi

Nghiên cứu định lượng chính thức

3.3.1 Thiết kế mẫu nghiên cứu

Sau khi tiến hành nghiên cứu định tính, bảng câu hỏi đã được điều chỉnh để phù hợp với sinh viên Việt Nam Đối tượng khảo sát là sinh viên ngành kinh tế tại TP.HCM, sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện Quá trình nghiên cứu định lượng được thực hiện theo các bước cụ thể.

Bước 1: Soạn thảo bảng câu hỏi cho nghiên cứu

Bảng câu hỏi phỏng vấn được thiết kế dựa trên các mục đã nêu và bổ sung thông tin nhân khẩu học Ban đầu, bảng câu hỏi được soạn thảo bằng tiếng Anh, sau đó nhóm tác giả đã dịch sang tiếng Việt để phù hợp với ngôn ngữ địa phương và thuận tiện cho việc khảo sát.

Bước 2: Xác định cỡ mẫu của nghiên cứu

Kích thước mẫu tối thiểu cần đạt 100 hoặc lớn hơn (Hair và cộng sự, 2010) Tỷ lệ quan sát trên biến đo lường là 5:1, nghĩa là mỗi biến đo lường cần tối đa 5 biến quan sát (Nguyễn Đình Thọ, 2011) Mô hình nghiên cứu đề xuất bao gồm 4 yếu tố với 33 biến quan sát, do đó kích thước mẫu tối thiểu cần thiết là 33*5 = 165.

Để kiểm tra lý thuyết, mô hình giả thuyết được áp dụng phương pháp mô hình cấu trúc tuyến tính bình phương bé nhất từng phần (PLS-SEM), đặc biệt trong các mô hình có cấu trúc khái niệm bậc cao dạng phản ánh Các cấu trúc như năng lực tâm lý, học tập chủ động, động lực học tập và kết quả học tập được mô hình hóa dưới dạng phản ánh, sử dụng phương pháp chỉ báo lặp lại Chỉ báo của cấu trúc bậc thấp sẽ được lặp lại để đo lường cấu trúc bậc cao Phân tích được thực hiện bằng phần mềm SPSS 20.0 cho thống kê mô tả và SmartPLS 3.3.3 cho các mô hình đo lường và phương pháp cấu trúc tuyến tính.

Nghiên cứu hiện tại của nhóm tác giả dựa trên kích thước mẫu 403 quan sát, phù hợp với quy tắc phân tích SEM Nhóm tác giả đã áp dụng phương pháp lấy mẫu thuận tiện để thực hiện quá trình lấy mẫu.

Bước 3: Cung cấp bảng câu hỏi cho người được phỏng vấn Đối tượng nghiên cứu là sinh viên Đại học thuộc khối ngành Kinh tế tại TP.HCM Nghiên cứu của Hoàng Thị Bích Hạnh và cộng sự (2018) cho thấy phần lớn sinh viên nhận thức rõ tầm quan trọng của môn học và sự đam mê, từ đó tạo động lực nội tại mạnh mẽ giúp họ học tập hiệu quả hơn Những người tham gia khảo sát đại diện cho những sinh viên có kinh nghiệm trong học tập, hiểu rõ các yếu tố tạo động lực và thúc đẩy họ đạt được kết quả học tập tốt nhất.

Do ảnh hưởng của dịch Covid-19, việc hạn chế tiếp xúc gần và đến những nơi đông người là cần thiết Để thực hiện nghiên cứu này, sinh viên các khối ngành Kinh tế tại TP.HCM đã được gửi bảng câu hỏi khảo sát qua Google Form Người tham gia sẽ trả lời các câu hỏi theo thang đo 5 mức độ từ "Rất không đồng ý" đến "Rất đồng ý" Tổng cộng, 450 mẫu được gửi và thu về 425 mẫu, trong đó số mẫu khảo sát hợp lệ cuối cùng là

Bảng câu hỏi gồm 2 phần:

- Phần 1: bao gồm các câu hỏi về đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng khảo sát

- Phần 2: bao gồm các nội dung đo lường liên quan đến mô hình nghiên cứu

Bước 4: Kiểm tra câu trả lời và mã hóa dữ liệu đầu vào

Kiểm tra bảng câu hỏi là bước quan trọng để loại bỏ các mẫu trả lời không hợp lệ Trong tổng số 450 mẫu thu thập qua phương pháp lấy mẫu thuận tiện, chỉ có 403 câu trả lời được đưa vào phân tích, trong khi 47 mẫu bị loại do không đạt yêu cầu.

Tất cả dữ liệu đã được cập nhật vào Microsoft Excel để tiến hành phân tích cho nghiên cứu, bao gồm thống kê mô tả qua phần mềm SPSS 20.0 và mô hình đo lường cùng phương trình cấu trúc tuyến tính sử dụng phần mềm Smart PLS 3.3.3.

3.3.2 Phương pháp phân tích dữ liệu

3.3.2.1 Đánh giá sơ bộ thang đo

Phương pháp đánh giá sơ bộ thang đo bao gồm kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA Mục đích kết hợp hai phương pháp này là để sàng lọc các thang đo cho từng khái niệm nghiên cứu, loại trừ những biến quan sát không đạt tiêu chuẩn Nhóm nghiên cứu sử dụng phần mềm SPSS 20 để xử lý dữ liệu trong bước này.

Kiểm định hệ số Cronbach’s Alpha là phương pháp phân tích nhằm đánh giá độ tin cậy của thang đo Mục đích của kiểm định này là xác định xem các biến quan sát có đo lường đồng nhất cho một khái niệm cụ thể hay không.

Hệ số Cronbach’s Alpha được coi là có thể sử dụng khi đạt từ 0.6 trở lên, đặc biệt trong trường hợp khái niệm đo lường là mới hoặc chưa quen thuộc với người tham gia nghiên cứu (Nguyễn Đình Thọ, 2011) Theo nguyên tắc, thang đo tốt sẽ có hệ số Cronbach’s Alpha từ 0.8, trong khi hệ số từ 0.7 đến 0.8 cho thấy thang đo có thể được áp dụng trong nghiên cứu.

Nghiên cứu của Nunnally và cộng sự (1994) cho thấy hệ số Cronbach’s Alpha không xác định biến nào nên giữ lại hay loại bỏ, mà giá trị đóng góp của biến được phản ánh qua hệ số tương quan với biến tổng (Corrected item - Total correlation), yêu cầu tối thiểu là 0.3 Tuy nhiên, quyết định loại bỏ một biến quan sát không chỉ dựa vào con số thống kê mà còn cần xem xét giá trị nội dung của khái niệm (Nguyễn Đình Thọ, 2011) Nếu biến có tương quan với biến tổng nhỏ hơn 0.3, việc loại bỏ cần được cân nhắc kỹ lưỡng.

(trong trường hợp hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo đáp ứng điều kiện chuẩn làm ảnh hưởng đến hàm ý của khái niệm thì không nên loại bỏ biến

Phân tích EFA là một phương pháp định lượng quan trọng để phân tích các biến đa chiều có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau Mục tiêu chính của EFA là đánh giá giá trị hội tụ và giá trị phân biệt của thang đo dựa trên mối tương quan giữa các biến (Nguyễn Đình Thọ, 2011) Các tiêu chuẩn kiểm định giá trị thang đo trong EFA rất cần thiết để đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của kết quả phân tích.

Hệ số tải nhân tố (Factor Loading) là chỉ số quan trọng trong việc xác định giá trị hội tụ của thang đo Các biến quan sát có hệ số tải dưới 0.5 sẽ bị loại, trong khi hệ số tải giữa các nhân tố khác biệt đạt giá trị ≥ 0.3 cho thấy thang đo đạt được giá trị hội tụ Để giữ lại biến quan sát, hệ số tải tối thiểu cần đạt ± 0.3; mức ± 0.5 cho thấy biến quan sát có ý nghĩa thống kê tốt, và ± 0.7 thể hiện ý nghĩa thống kê rất tốt Đối với kích thước mẫu từ 350 trở lên, yêu cầu hệ số tải nhân tố phải ≥ 0.3 (Hair và cộng sự, 2009).

- Điểm dừng khi trích các yếu tố Eigenvalues và tổng phương sai trích:

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 10/07/2023, 12:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu của Yoon và công sự (2015) - Ảnh hưởng của năng lực tâm lý hành vi học tập chủ động và động lực học tập đến kết quả học tập của sinh viên các trường đại học thuộc khối ngành kinh tế tại  TP.HCM
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu của Yoon và công sự (2015) (Trang 20)
Hình 2.2: Mô hình nghiên cứu của Phan Quốc Tấn và Bùi Thị Thanh (2018) - Ảnh hưởng của năng lực tâm lý hành vi học tập chủ động và động lực học tập đến kết quả học tập của sinh viên các trường đại học thuộc khối ngành kinh tế tại  TP.HCM
Hình 2.2 Mô hình nghiên cứu của Phan Quốc Tấn và Bùi Thị Thanh (2018) (Trang 21)
Hình 2.3: Mô hình nghiên cứu của Hoàng Thị Mỹ Nga và Nguyễn Tuấn Kiệt - Ảnh hưởng của năng lực tâm lý hành vi học tập chủ động và động lực học tập đến kết quả học tập của sinh viên các trường đại học thuộc khối ngành kinh tế tại  TP.HCM
Hình 2.3 Mô hình nghiên cứu của Hoàng Thị Mỹ Nga và Nguyễn Tuấn Kiệt (Trang 22)
Hình 2.4: Mô hình nghiên cứu đề xuất của Nhóm tác giả lớp ADC - Khóa 42 (2019) - Ảnh hưởng của năng lực tâm lý hành vi học tập chủ động và động lực học tập đến kết quả học tập của sinh viên các trường đại học thuộc khối ngành kinh tế tại  TP.HCM
Hình 2.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất của Nhóm tác giả lớp ADC - Khóa 42 (2019) (Trang 23)
Hình 2.5: Mô hình nghiên cứu của Huỳnh Văn Thái và Lê Thị Kim Anh (2017) - Ảnh hưởng của năng lực tâm lý hành vi học tập chủ động và động lực học tập đến kết quả học tập của sinh viên các trường đại học thuộc khối ngành kinh tế tại  TP.HCM
Hình 2.5 Mô hình nghiên cứu của Huỳnh Văn Thái và Lê Thị Kim Anh (2017) (Trang 24)
Bảng 3.1: Nội dung điều chỉnh - Ảnh hưởng của năng lực tâm lý hành vi học tập chủ động và động lực học tập đến kết quả học tập của sinh viên các trường đại học thuộc khối ngành kinh tế tại  TP.HCM
Bảng 3.1 Nội dung điều chỉnh (Trang 32)
Bảng 4.1: Thông tin về mẫu nghiên cứu  Các đặc điểm nhân khẩu học  Tần số  Tỷ lệ (%) - Ảnh hưởng của năng lực tâm lý hành vi học tập chủ động và động lực học tập đến kết quả học tập của sinh viên các trường đại học thuộc khối ngành kinh tế tại  TP.HCM
Bảng 4.1 Thông tin về mẫu nghiên cứu Các đặc điểm nhân khẩu học Tần số Tỷ lệ (%) (Trang 46)
Bảng 4.2. Tóm tắt kiểm định độ tin cậy thang đo - Ảnh hưởng của năng lực tâm lý hành vi học tập chủ động và động lực học tập đến kết quả học tập của sinh viên các trường đại học thuộc khối ngành kinh tế tại  TP.HCM
Bảng 4.2. Tóm tắt kiểm định độ tin cậy thang đo (Trang 48)
Bảng 4.3: Kết quả phân tích EFA chính thức - Ảnh hưởng của năng lực tâm lý hành vi học tập chủ động và động lực học tập đến kết quả học tập của sinh viên các trường đại học thuộc khối ngành kinh tế tại  TP.HCM
Bảng 4.3 Kết quả phân tích EFA chính thức (Trang 49)
Bảng 4.8. Kiểm định sự khác biệt nhóm giới tính  Mối quan hệ - Ảnh hưởng của năng lực tâm lý hành vi học tập chủ động và động lực học tập đến kết quả học tập của sinh viên các trường đại học thuộc khối ngành kinh tế tại  TP.HCM
Bảng 4.8. Kiểm định sự khác biệt nhóm giới tính Mối quan hệ (Trang 57)
Bảng 4.9: Mức độ tác động (β) của các biến trung gian - Ảnh hưởng của năng lực tâm lý hành vi học tập chủ động và động lực học tập đến kết quả học tập của sinh viên các trường đại học thuộc khối ngành kinh tế tại  TP.HCM
Bảng 4.9 Mức độ tác động (β) của các biến trung gian (Trang 57)
Bảng 5.2: Giá trị thực trạng các biến đo lường thành phần của Năng lực tâm lý - Ảnh hưởng của năng lực tâm lý hành vi học tập chủ động và động lực học tập đến kết quả học tập của sinh viên các trường đại học thuộc khối ngành kinh tế tại  TP.HCM
Bảng 5.2 Giá trị thực trạng các biến đo lường thành phần của Năng lực tâm lý (Trang 62)
Bảng 5.1: Giá trị thực trạng các biến đo lường thành phần của Học tập chủ động - Ảnh hưởng của năng lực tâm lý hành vi học tập chủ động và động lực học tập đến kết quả học tập của sinh viên các trường đại học thuộc khối ngành kinh tế tại  TP.HCM
Bảng 5.1 Giá trị thực trạng các biến đo lường thành phần của Học tập chủ động (Trang 66)
Bảng 5.3: Giá trị thực trạng các biến đo lường thành phần của Động lực học tập - Ảnh hưởng của năng lực tâm lý hành vi học tập chủ động và động lực học tập đến kết quả học tập của sinh viên các trường đại học thuộc khối ngành kinh tế tại  TP.HCM
Bảng 5.3 Giá trị thực trạng các biến đo lường thành phần của Động lực học tập (Trang 68)
Bảng 3.1: Nội dung điều chỉnh - Ảnh hưởng của năng lực tâm lý hành vi học tập chủ động và động lực học tập đến kết quả học tập của sinh viên các trường đại học thuộc khối ngành kinh tế tại  TP.HCM
Bảng 3.1 Nội dung điều chỉnh (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w