Xuyên suốt quá trình lịch sử hình thành và phát triển, có bốn cuộc cách mạng về công nghiệp đã diễn ra trên thế giới. Theo đó, bao gồm: “cách mạng công nghiệp đầu tiên sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ giới hóa sản xuất. Cuộc cách mạng lần hai diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt. Cuộc cách mạng lần ba sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất. Hiện nay, cuộc Cách mạng Công nghiệp thứ tư đang phát triển từ cuộc cách mạng lần ba, chủ yếu diễn ra trên ba lĩnh vực chính gồm Công nghệ sinh học, Kỹ thuật số và Vật lý” . Với sự phát triển của công nghiệp trên thế giới đã tạo nên những cạnh tranh gay gắt giữa các nhà đầu tư, cung cấp dịch vụ nhằm cạnh tranh về sức hút của hàng hóa, dịch vụ trước khách hàng. Theo đó, để tăng sức cạnh trang cho mặt hàng của mình, các doanh nghiệp thường quan tâm tới một số yếu tố như quảng cáo, thương hiệu, chất lượng,… một trong số đó có bao gồm cả kiểu dáng công nghiệp. Điều này xuất phát từ những nghiên cứu về bản năng mua sắm của người tiêu dùng. Chính bởi vậy, để tăng sức cạnh tranh trên thị trường, phát triển về kiểu dáng công nghiệp cũng chính là điều mà các doanh nghiệp nên dành sự quan tâm nhất định. Kiểu dáng công nghiệp cần phải có vừa mới, vừa có tính sáng tạo và thu hút, và đặc biệt trong một xã hội phát triển theo hướng văn minh thì cần đảm bảo cả về quyền sở hữu công nghiệp. Tại Việt Nam, vấn đề về bảo hộ kiểu dáng công nghiệp đã được luật định tại hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ. Thông qua bài tiểu luận này với đề tài “Pháp luật về điều kiện bảo hộ kiểu dáng công nghiệp”, em sẽ đi giới thiệu và phân tích tổng quan những vấn đề pháp lý liên quan đến nội dung đề tài nêu trên
Trang 1TRƯỜNG …
KHOA …
TIỂU LUẬN LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ Chủ đề: Pháp luật về điều kiện bảo hộ kiểu dáng công nghiệp
Họ và tên: …
Mã sinh viên: …
Lớp: …
Trang 2Năm 2022
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
1 Khái niệm điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp 2
2 Pháp luật về điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp 3
2.1 Yêu cầu đối với đối tượng được bảo hộ kiểu dáng công nghiệp 3
2.2 Điều kiện bảo hộ kiểu dáng công nghiệp 3
KẾT LUẬN 8
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 9
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Xuyên suốt quá trình lịch sử hình thành và phát triển, có bốn cuộc cách mạng về công nghiệp đã diễn ra trên thế giới Theo đó, bao gồm: “cách mạng công nghiệp đầu tiên
sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ giới hóa sản xuất Cuộc cách mạng lần hai diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt Cuộc cách mạng lần ba sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất Hiện nay, cuộc Cách mạng Công nghiệp thứ tư đang phát triển từ cuộc cách mạng lần ba, chủ yếu diễn ra trên ba lĩnh vực chính gồm Công nghệ sinh học, Kỹ thuật số và Vật lý”1 Với sự phát triển của công nghiệp trên thế giới đã tạo nên những cạnh tranh gay gắt giữa các nhà đầu tư, cung cấp dịch vụ nhằm cạnh tranh về sức hút của hàng hóa, dịch vụ trước khách hàng Theo đó, để tăng sức cạnh trang cho mặt hàng của mình, các doanh nghiệp thường quan tâm tới một
số yếu tố như quảng cáo, thương hiệu, chất lượng,… một trong số đó có bao gồm cả kiểu dáng công nghiệp Điều này xuất phát từ những nghiên cứu về bản năng mua sắm của người tiêu dùng Chính bởi vậy, để tăng sức cạnh tranh trên thị trường, phát triển về kiểu dáng công nghiệp cũng chính là điều mà các doanh nghiệp nên dành sự quan tâm nhất định Kiểu dáng công nghiệp cần phải có vừa mới, vừa có tính sáng tạo và thu hút, và đặc biệt trong một xã hội phát triển theo hướng văn minh thì cần đảm bảo cả về quyền sở hữu công nghiệp
Tại Việt Nam, vấn đề về bảo hộ kiểu dáng công nghiệp đã được luật định tại hệ
thống pháp luật về sở hữu trí tuệ Thông qua bài tiểu luận này với đề tài “Pháp luật về điều kiện bảo hộ kiểu dáng công nghiệp”, em sẽ đi giới thiệu và phân tích tổng quan
những vấn đề pháp lý liên quan đến nội dung đề tài nêu trên
1 Khương Nha & Duy Tín (29/05/2017), ‘Cách mạng Công nghiệp 4.0 là gì’, Zing.vn.
( https://news.zing.vn/cach-mang-cong-nghiep-4-0-la-gi-post750267.html )
Trang 5NỘI DUNG
1 Khái niệm về điều kiện bảo hộ kiểu dáng công nghiệp
Kiểu dáng công nghiệp được coi là một trong các nội dung thuộc về quyền sở hữu
trí tuệ, được thừa nhận bởi Công ước Stockholm năm 1967 rằng: “Sở hữu trí tuệ được
hiểu rộng hơn và bao gồm […] kiểu dáng công nghiệp, […] là kết quả của hoạt động trí tuệ trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, văn học, nghệ thuật” Nội luật hóa nội dung
này, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009 (“Luật SHTT năm 2015”) cũng đã ghi nhận tại khoản 2 Điều 3 rằng “kiểu dáng công nghiệp” là một trong những nội dung thuộc quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ tại nước ta Hay nói một cách khác, kiểu dáng công nghiệp được coi là một bộ phận của quyền Sở hữu trí tuệ và được đảm bảo trên cơ sở văn văn bằng do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp về vấn đề bảo hộ
Có thể hiểu đơn giản, “theo nghĩa hẹp, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp là việc thực hiện một số hoạt động của các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền để ngăn chặn, xử lý bất kỳ sự vi phạm nào nhằm bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp được pháp luật bảo hộ Còn theo nghĩa rộng, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp là sự ghi nhận về mặt pháp lý tổng thể các quyền sở hữu công nghiệp, quy định những biện pháp, cách thức để thực hiện các quyền đó trên thực tế và việc ngăn chặn, xử lý những hành vi xâm phạm các quyền đó”.2
Xuất phát từ vấn đề đó, để vấn đề bảo hộ đối với kiểu dáng công nghiệp được ghi nhận, Nhà nước đã đặt ra một số điều kiện để xem xét, đánh giá và lựa chọn đối với kiểu dáng công nghiệp Do đó, có thể nói, “điều kiện bảo hộ về quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp chính là điều cần thiết phải có, phải đáp ứng của kiểu dáng công nghiệp khi đăng ký bảo hộ” Bởi là những điều kiện cần thiết phải có để bảo hộ nên điều kiện bảo hộ kiểu dáng công nghiệp là nội dung quan trọng mà mỗi kiểu dáng công nghiệp cần phải đáp ứng để được hưởng quyền bảo hộ
2
Nguyễn Thị Thanh Mai (2013), “Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp theo pháp luật
Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ luật học,, tr.13.
Trang 62 Quy định pháp luật về điều kiện bảo hộ kiểu dáng công nghiệp
2.1 Đối tượng được bảo hộ kiểu dáng công nghiệp
Căn cứ theo quy tại Điều 10 của Quy chế thẩm định kiểu dáng công nghiệp được ban hành kèm tại Quyết định số 2381/QĐ-SHTT ngày 08/12/2009 của Cục trưởng Cục
Sở hữu trí tuệ, một kiểu dáng công nghiệp được coi là đối tượng được bảo hộ và cấp bằng độc quyền theo quy định pháp luật khi thỏa mãn đồng thời các điều kiện sau đây:
Một là, “áp dụng cho sản phẩm cụ thể”.
Sản phẩm cụ thể ở đây được hiểu là một sản phẩm nhất định, được xác định chính xác bởi tên gọi, có tồn tại ở dạng vật chất Nói một cách khác, sản phẩm này không phải
ở trong tưởng tượng, hình dung mà phải hiện hữu ngoài đời thực
Hai là, “hình dáng bên ngoài của sản phẩm phải nhìn thấy và nhận biết được bằng
mắt thường”
Theo đó việc nhận biết bằng mắt thường có thể hiểu là sản phẩm mang kiểu dáng công nghiệp thông qua nhìn nhận bằng mắt thường có thể thấy được hình dáng cụ thể của sản phẩm đó Một số sản phẩm không đảm bảo về nội dung này như những sản phẩm có kích thước quá nhỏ (muối, cát, bột,…) trừ trường hợp những sản phẩm này được tập hợp thành một hình dạng khuôn nhất định đảm bảo mắt thường có thể quan sát và nhận biết
Ba là, “sản phẩm có hình dáng bên ngoài là kiểu dáng công nghiệp phải sản xuất
được bằng phương pháp công nghiệp hoặc thủ công nghiệp, có kết cấu và chức năng rõ ràng, được lưu thông độc lập (ví dụ như: đồ vật, dụng cụ, thiết bị, phương tiện,….)” 3
2.2 Điều kiện bảo hộ kiểu dáng công nghiệp
Theo quy định tại Điều 63 Luật SHTT năm 2005, một kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ khi đáp ứng các điều kiện về:
Một là, đảm bảo điều kiện về tính mới
3 Cục Sở hữu trí tuệ (2009), Điều 10 “Quy chế thẩm định kiểu dáng công nghiệp”, Quyết định số 2381/QĐ-SHTT ngày 08/12/2009 của Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ
Trang 7Tính mới của kiểu dáng công nghiệp được xem xét và đánh giả ở mức độ khác biệt giữa kiểu dáng công nghiệp đó với những kiểu dáng công nghiệp của sản phẩm khác đã được công bố, “bộc lộ công khai” trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên nếu đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp được hưởng quyền ưu tiên Mức độ khác biệt này phải đảm bảo “đáng kể”
Theo đó, để giải thích cho thuật ngữ “sự khác biệt đáng kể”, cũng tại Điều 65 của Luật này đã quy định về những nội dung không được coi là khác biệt đáng kể đối với hai kiểu dáng công nghiệp là “nếu chỉ khác biệt về những đặc điểm tạo dáng không dễ dàng nhận biết, ghi nhớ và không thể dùng để phân biệt tổng thể hai kiểu dáng công nghiệp đó” Theo đó, đặc điểm tạo dáng được định nghĩa là “yếu tố thể hiện dưới dạng đường nét, hình khối, màu sắc, tương quan vị trí hoặc tương quan kích thước để khi kết hợp với các đặc điểm (dấu hiệu) khác tạo thành một tập hợp cần và đủ để tạo thành kiểu dáng công nghiệp đó”4 Pháp luật chia đặc điểm tạo dáng thành hai loại là “đặc điểm tạo dáng
cơ bản và đặc điểm tạo dáng không cơ bản” Nếu như đặc điểm tạo dáng cơ bản là “đặc điểm tạo dáng dễ dàng nhận biết/ghi nhớ, cần và đủ để xác định kiểu dáng công nghiệp
và phân biệt kiểu dáng công nghiệp với kiểu dáng công nghiệp khác dùng cho sản phẩm cùng loại” thì đặc điểm tạo dáng không cơ bản là đặc điểm thuộc những trường hợp ngược lại
Như vậy, để hai kiểu dáng công nghiệp có được sự khác biệt đáng kể trong cùng một loại sản phẩm, thì cần phải có sự khác biệt ở “ít nhất một đặc điểm tạo dáng cơ bản”5
Mặt khác, thuật ngữ “bộc lộ công khai” được hiểu là việc “kiểu dáng công nghiệp
đã được sử dụng hoặc đã được mô tả bằng văn bản (thông qua việc phát hành sách, báo, viết blog, hay trưng bày trong các cuộc triển lãm) hoặc bất kỳ hình thức nào (như qua hình ảnh, video, bản trình chiếu, ) trong nước hoặc nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên nếu đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp được hưởng quyền ưu tiên,
4 Mục 33.7 Thông tư 01/2007/TT-BKHCN hướng dẫn thi hành Nghị định 103/2006/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành.
5 Nguyễn Thùy An và cộng sự (2019), “Pháp luật về điều kiện bảo hộ kiểu dáng công nghiệp”, Báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, tr.15.
Trang 8trong đó ngày ưu tiên được xác định theo quy định của Công ước Paris”6 Theo đó, các cá nhân khác sẽ có khả năng tiếp cận với kiểu dáng công nghiệp đã được công khai theo một phương thức đơn giản, vấn đề về rào cản để tìm hiểu hầu như là không hoặc rất ít tồn tại
Tuy nhiên, để tránh hiểu lầm, cần phải làm rõ rằng kiểu dáng công nghiệp sẽ không được coi là mất đi tính mới nếu đã được công bố trong một số trường hợp cụ thể nhưng đồng thời phải thỏa mãn điều kiện “đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp được nộp trong thời hạn sáu tháng kể từ ngày công bố”, bao gồm:
“(i) Kiểu dáng công nghiệp bị người khác công bố nhưng không được phép của người có quyền đăng ký kiểu dáng công nghiệp;
(ii) Kiểu dáng công nghiệp được người có quyền đăng ký công bố dưới dạng báo cáo khoa học;
(iii) Kiểu dáng công nghiệp được người có quyền đăng ký trưng bày tại cuộc triển lãm quốc gia của Việt Nam hoặc tại cuộc triển lãm quốc tế chính thức hoặc được thừa nhận là chính thức”.7
Thứ hai, đảm bảo điều kiện về tính sáng tạo
Theo quy định tại Điều 66 Luật SHTT năm 2005, “Kiểu dáng công nghiệp được
coi là có tính sáng tạo nếu căn cứ vào các kiểu dáng công nghiệp đã được bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp trong trường hợp đơn được hưởng quyền ưu tiên, kiểu dáng công nghiệp đó không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình
về lĩnh vực tương ứng”
Trong đó, “Người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng được
hiểu là người có các kỹ năng thực hành kỹ thuật thông thường và biết rõ các kiến thức
6 Nguyễn Thùy An và cộng sự (2019), tldd, tr.16
7
Điều 65 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2009.
Trang 9chung phổ biến trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng”.8
Để tiến hành đánh giá tính sáng tạo của kiểu dáng công nghiệp, “phải tiến hành so
sánh tập hợp các đặc điểm tạo dáng cơ bản của kiểu dáng công nghiệp đó với tập hợp các đặc điểm tạo dáng cơ bản của các kiểu dáng công nghiệp đối chứng tìm được trong quá trình tra cứu thông tin”.9
Khi đó, kiểu dáng công nghiệp được coi là không có tính sáng tạo nếu:
“(i) Kiểu dáng công nghiệp là sự kết hợp đơn thuần của các đặc điểm tạo dáng đã
biết (các đặc điểm tạo dáng đã được bộc lộ công khai được sắp đặt hoặc lắp ghép với nhau một cách đơn thuần như thay thế, thay đổi vị trí, tăng giảm số lượng );
(ii) Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng sao chép/mô phỏng một phần hoặc toàn
bộ hình dáng tự nhiên vốn có của cây cối, hoa quả, các loài động vật , hình dáng của các hình hình học (hình tròn, hình elíp, hình tam giác, hình vuông, chữ nhật, hình đa giác đều, các hình lăng trụ có mặt cắt là các hình kể trên ) đã được biết rộng rãi;
(iii) Kiểu dáng công nghiệp là sự sao chép đơn thuần hình dáng các sản phẩm, công trình đã nổi tiếng hoặc được biết đến một cách rộng rãi ở Việt Nam hoặc trên thế giới;
(iv) Kiểu dáng công nghiệp mô phỏng kiểu dáng công nghiệp thuộc lĩnh vực khác, nếu sự mô phỏng đó đã được biết đến rộng rãi trên thực tế (ví dụ: đồ chơi mô phỏng ô tô,
xe máy ).
Nếu không thuộc các trường hợp nói trên, kiểu dáng công nghiệp được coi là có tính sáng tạo.”10
Thứ ba, “có khả năng áp dụng công nghiệp”.11
Theo quy định tại Điều 67 Luật SHTT năm 2005, “Kiểu dáng công nghiệp được
coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể dùng làm mẫu để chế tạo hàng loạt
8 Mục 23.6a Thông tư 01/2007/TT-BKHCN tldd.
9 Mục 35.8a Thông tư 01/2007/TT-BKHCN tldd.
10 Mục 35.8b Thông tư 01/2007/TT-BKHCN tldd.
11
Điều 67 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2009.
Trang 10sản phẩm có hình dáng bên ngoài là kiểu dáng công nghiệp đó bằng phương pháp công nghiệp hoặc thủ công nghiệp”
Như vậy, để đánh giá về tiêu chí này của kiểu dáng công nghiệp sẽ dựa trên khả năng áp dụng và thực hiện trong thực tế của kiểu dáng công nghiệp đó Cụ thể, trong các trường hợp nhất định sau đây, kiểu dáng công nghiệp sẽ bị coi là không có khả năng áp dụng công nghiệp:
“(i) Đối tượng nêu trong đơn là hình dáng của sản phẩm có trạng thái tồn tại không cố định (các sản phẩm ở thể khí, chất lỏng );
(ii) Chỉ có thể tạo ra sản phẩm có hình dáng như đối tượng nêu trong đơn nhờ có
kỹ năng đặc biệt hoặc không thể lặp đi lặp lại việc chế tạo ra sản phẩm có hình dáng như đối tượng nêu trong đơn;
(iii) Các trường hợp với lý do xác đáng khác”12
Như vậy, để được bảo hộ, một kiểu dáng công nghiệp cần đảm bảo đáp ứng đầy đủ
ba tiêu chí bao gồm: tính mới, tính sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp Cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ căn cứ trên cơ sở các nội dung điều kiện này để đánh giá cụ thể đối với một kiểu dáng công nghiệp Khi đảm bảo đáp ứng đầy đủ và chính xác, kiểu dáng công nghiệp đó sẽ được cấp văn bằng bảo hộ theo quy định của pháp luật
12 Mục 35.6b Thông tư 01/2007/TT-BKHCN, tldd.
Trang 11KẾT LUẬN
Trong xã hội hiện đại đang ngày càng phát triển theo hướng văn minh hiện nay, vấn đề về quyền sở hữu trí tuệ trở thành nội dung quan trọng và cần thiết phải được quan tâm đúng mức tại mỗi quốc gia, trong đó bao gồm cả nội dung về bảo hộ kiểu dáng công nghiệp Theo pháp luật Việt Nam, nội dung này cũng được ghi nhận và cụ thể hóa thành
hệ thống các quy định rõ ràng
Với phạm vi cho phép, bài tiểu luận đã phân tích một cách khái quát về khái niệm cùng một số quy định pháp luật của nước ta về vấn đề này Qua đó, đối với quy định pháp luật có thể rút ra được kết luận chung nhất đó là: để được bảo hộ, kiểu dáng công nghiệp phải đảm bảo đáp ứng đầy đủ các tiêu chí cơ bản được ghi nhận bao gồm: tính sáng tạo, tính mới và khả năng áp dụng công nghiệp
Trang 12DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Công ước Stockholm năm 1967 về việc thành lập Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới
(WIPO)
2 Cục Sở hữu trí tuệ (2009), “Quy chế thẩm định kiểu dáng công nghiệp”, Quyết
định số 2381/QĐ-SHTT ngày 08/12/2009 của Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ
3 Khương Nha & Duy Tín (29/05/2017), ‘Cách mạng Công nghiệp 4.0 là gì’,
Zing.vn (https://news.zing.vn/cach-mang-cong-nghiep-4-0-la-gi-post750267.html)
4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2009
5 Nguyễn Thị Thanh Mai (2013), “Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu
dáng công nghiệp theo pháp luật Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ luật học
6 Nguyễn Thùy An và cộng sự (2019), “Pháp luật về điều kiện bảo hộ kiểu dáng công nghiệp”, Báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn
7 Thông tư 01/2007/TT-BKHCN hướng dẫn thi hành Nghị định 103/2006/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành