1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về hợp đồng tín dụng và thực trạng vi phạm hợp đồng tín dụng

13 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp luật về hợp đồng tín dụng và thực trạng vi phạm hợp đồng tín dụng
Trường học Trường ...
Chuyên ngành Luật Kinh Doanh Các Tổ Chức Tín Dụng
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 35,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm đáp ứng nhu cầu của các tổ chức, cá nhân về việc luân chuyển vốn vay trong tình hình nền kinh tế đang ngày càng phát triển như hiện nay, thì một hệ thống quy phạm pháp luật rõ ràng, cụ thể điều chỉnh các giao dịch phát sinh nêu trên là rất cần thiết. Với sự điều chỉnh của pháp luật góp phần đảm bảo giao dịch được tiến hành minh bạch, không xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của bất kỳ bên nào tham gia và hướng tới bảo vệ sự an toàn của nền kinh tế nói chung và lĩnh vực tài chính nói riêng. Trong hệ thống pháp luật điều chỉnh nó, những quy phạm liên quan đến Hợp đồng tín dụng được xem là một trong những nội dung cốt yếu, ảnh hưởng và điều chỉnh trực tiếp tới hoạt động tín dụng. Bài Tiểu luận sau đây với đề tài: “Pháp luật về hợp đồng tín dụng và thực trạng vi phạm hợp đồng tín dụng” sẽ đi tìm hiểu chi tiết hơn về loại hợp đồng này và quy định pháp luật có liên quan. Đồng thời trên cơ sở pháp luật nghiên cứu, đánh giá về thực trangj vi phạm hợp đồng tín dụng hiện nay tại nước ta.

Trang 1

TRƯỜNG

KHOA

TIỂU LUẬN MÔN: LUẬT KINH DOANH CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG

Đề tài: Pháp luật về hợp đồng tín dụng và thực trạng vi phạm hợp đồng tín dụng

Họ và tên:

Mã sinh viên:

Lớp:

Năm 2022

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 2

1 Khái niệm, đặc điểm Hợp đồng tín dụng 2

1.1 Khái niệm Hợp đồng tín dụng 2

1.2 Đặc điểm Hợp đồng tín dụng 2

2 Pháp luật về Hợp đồng tín dụng 3

2.1 Hệ thống pháp luật 3

2.2 Một số quy định pháp luật về hợp đồng tín dụng 4

3 Thực trạng vi phạm Hợp đồng tín dụng 8

KẾT LUẬN 10

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11

Trang 3

MỞ ĐẦU

Nhằm đáp ứng nhu cầu của các tổ chức, cá nhân về việc luân chuyển vốn vay trong tình hình nền kinh tế đang ngày càng phát triển như hiện nay, thì một hệ thống quy phạm pháp luật rõ ràng, cụ thể điều chỉnh các giao dịch phát sinh nêu trên là rất cần thiết Với sự điều chỉnh của pháp luật góp phần đảm bảo giao dịch được tiến hành minh bạch, không xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của bất kỳ bên nào tham gia và hướng tới bảo vệ sự an toàn của nền kinh tế nói chung và lĩnh vực tài chính nói riêng Trong hệ thống pháp luật điều chỉnh nó, những quy phạm liên quan đến Hợp đồng tín dụng được xem là một trong những nội dung cốt yếu, ảnh hưởng và điều chỉnh trực tiếp tới hoạt động tín dụng

Bài Tiểu luận sau đây với đề tài: “Pháp luật về hợp đồng tín dụng và thực trạng vi phạm hợp đồng tín dụng” sẽ đi tìm hiểu chi tiết hơn về loại hợp đồng này và quy định pháp luật có liên quan Đồng thời trên cơ sở pháp luật nghiên cứu, đánh giá về thực trangj

vi phạm hợp đồng tín dụng hiện nay tại nước ta

Trang 4

NỘI DUNG

1 Khái niệm, đặc điểm Hợp đồng tín dụng

1.1 Khái niệm Hợp đồng tín dụng

Pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể nào đề cập đến khái niệm “Hợp đồng tín dụng” Tuy nhiên, nhắc đến Hợp đồng tín dụng, trước hết chúng ta hiểu rằng đây là một loại hợp đồng, do đó cơ sở xác lập là dựa trên sự thoả thuận, thống nhất ý chí giữa các bên chủ thể tham gia giao kết hợp đồng Các bên tham gia hợp đồng là tổ chức tín dụng và khách hàng, thực hiện giao dịch cho vay mà theo quy định tại Điều 3 Quy chế cho vay đính kèm tại Quyết định 1627 ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà

nước Việt Nam thì “cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó, tổ chức tín dụng giao cho

khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc lẫn lãi”

Theo phân tích nêu trên có thể đưa ra khái niệm về Hợp đồng tín dụng như sau:

“Hợp đồng tín dụng là sự thoả thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) với khách hàng là tổ chức, cá nhân (bên vay) Theo đó, tổ chức tín dụng thoả thuận ứng trước một số tiền cho bên vay sử dụng trong một thời hạn nhất định với điều kiện có hoàn trả cả gốc lẫn lãi dựa trên sự tín nhiệm”

1.2 Đặc điểm Hợp đồng tín dụng

Hợp đồng tín dụng là một loại hợp đồng vay vốn, do vậy sẽ mang đầy đủ bản chất của một loại hợp đồng vay Ngoài ra, hợp đồng tín dụng có những đặc điểm riêng biệt sau đây:

Thứ nhất, về chủ thể: Chủ thể tham gia Hợp đồng tín dụng có đặc trưng là luôn

phải bao gồm một bên là tổ chức tín dụng (đáp ứng các điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật và có thể là: “ngân hàng, tổ chức tín dụng phí ngân hàng, tổ chức tài chính

vi mô và quỹ tín dụng nhân dân”1) Chủ thể còn lại dựa trên những điều kiện vay vốn

1 Khoản 1 Điều 4 Luật Tổ chức tín dụng 2010, đã sửa đổi, bổ sung

Trang 5

được quy định bởi pháp luật hay tổ chức tín dụng có thể là cá nhân, tổ chức hoặc hộ gia đình, tổ hợp tác

Thứ hai, về đối tượng: Đối tượng của Hợp đồng tín dụng luôn là tiền tệ

Thứ ba, về hình thức: Văn bản chính là hình thức bắt buộc khi xác lập Hợp đồng

tín dụng Điều này đã được nêu rõ tại khoản 1 Điều 23 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước

ngoài đối với khách hàng (“Thông tư 39/2016/TT-NHNN”) như sau: “Thỏa thuận cho

vay phải được lập thành văn bản” Trong đó, Hợp đồng cũng phải đảm bảo có đầy đủ các

nội dung tối thiểu được quy định tại khoản 1 Điều 23 nêu trên

Thứ tư, về mục đích: Mục đích của Hợp đồng tín dụng luôn hướng tới việc sinh

lợi Mục đích này được thể hiện cụ thể mức lãi suất mà bên cho vay thu được khi thực hiện hợp đồng vay Theo đó, mục đích sinh lợi vừa là được coi là điều tất yếu và cũng là động lực để tổ chức tín dụng duy trì hoạt động kinh doanh của mình

2 Pháp luật về Hợp đồng tín dụng

2.1 Hệ thống pháp luật

Liên quan đến Hợp đồng tín dụng hiện nay, hệ thống pháp luật nước ta nhìn chung

đã và đang ngày càng hoàn thiện hướng tới việc cơ bản đáp ứng được các yêu cầu đối với hoạt động tín dụng Theo đó, có thể kể đến một số văn bản quy phạm pháp luật trực tiếp điều chỉnh quan hệ Hợp đồng tín dụng như sau:

“- Bộ luật dân sự năm 2015;

- Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010;

- Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010 của Quốc hội; Luật

số 17/2017/QH14 ngày 20/11/2017 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Văn bản hợp nhất số 07/VBHN-VPQH ngày 12/12/2017 của Văn phòng Quốc hội;

Trang 6

- Luật thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14/6/2005 của Quốc hội; Luật Quản lý ngoại thương số 05/2017/QH14 ngày 12 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội; Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-VPQH ngày 28/6/2017 của Văn phòng Quốc hội;

- Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014 của Quốc hội;

- Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch đảm bảo; Nghị định số 11/2012/NĐ- CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 163;

- Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng;

- Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Thông báo số 15/TB-HĐTP ngày 05/6/2019

về việc đính chính Nghị quyết số 01

- Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;

- Một số văn bản: nghị định, thông tư khác có liên quan…”2

2.2 Một số quy định pháp luật về hợp đồng tín dụng

* Thời hạn cho vay:

Căn cứ theo quy định tại Điều 10 Thông tư 39/2016/TT-NHNN, thời hạn cho vay đối với Hợp đồng tín dụng do các bên lựa chọn giữa một trong ba thời hạn sau:

“1 Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay tối đa 01 (một) năm.

2 Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 01 (một) năm và tối đa 05 (năm) năm.

3 Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 05 (năm) năm.”

2 Phòng 9 – Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình (2020), “một số đề xuất hoàn thiện pháp luật về hợp đồng trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng”, xem tại: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TRONG LĨNH VỰC TÍN DỤNG NGÂN HÀNG (vksninhbinh.gov.vn)

Trang 7

Theo đó, tuỳ từng loại thời hạn vay khác nhau mà quy trình thẩm định, thủ tục phê duyệt và các mức lãi suất áp dụng sẽ là khác nhau dựa trên nguyên tắc: “Thời hạn càng lâu thì càng tiềm tàng rủi ro, và sự nguy hiểm sẽ tăng theo lãi suất”.3 Ngoài ra, khác với hợp đồng kinh doanh thương mại, thời hạn vay cho vay của hợp đồng tín dụng sẽ được

“tính từ ngày tiếp theo của ngày tổ chức tín dụng giải ngân vốn vay cho khách hàng cho đến thời điểm khách hàng phải trả hết nợ gốc và lãi tiền vay theo thỏa thuận của tổ chức tín dụng và khách hàng”4

* Lãi suất:

Theo quy định tại Điều 7 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất và phạt vi phạm:

“1 Lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng do các bên thỏa thuận nhưng phải phù

hợp với quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng, thời điểm tính lãi suất.

2 Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, Tòa án áp dụng quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng để giải quyết mà không áp dụng quy định về giới hạn lãi suất của Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định lãi, lãi suất.”

Như vậy, theo quy định này lãi suất cho vay không áp dụng theo quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015 (khoản 1 Điều 468) giới hạn về mức lãi suất mà áp dụng theo quy định tại Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 đã sửa đổi bổ sung:

“Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng

trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật” (khoản 2

Điều 91)

3 Công ty Luật TNHH Đại Việt, “Quy định pháp luật và thực tiễn”, xem tại: Hợp đồng tín dụng (Quy định và thực tiễn) - Công ty Luật Đại Việt - Tư vấn pháp luật Hà Nội - Văn Phòng Công Chứng Trần Hằng (luatdaiviet.vn)

4 Khoản 8 Điều 2 Thông tư 39/2016/TT-NHNN.

Trang 8

Cụ thể theo quy định tại khoản 4 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN, tổ chức tín dụng được quy định các loại lãi tiền vay sau đây trong Hợp đồng tín dụng:

“- Tiền lãi trên nợ gốc trong hạn (Lãi suất theo thỏa thuận của các bên).

- Tiền lãi nợ quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các

bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc (lãi suất áp dụng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn).

- Lãi chậm trả khi khách hàng không trả đúng hạn phần lãi trong hạn Lãi suất do

hai bên thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.”

* Hiệu lực của Hợp đồng tín dụng:

Hợp đồng tín dụng về bản chất là một loại Hợp đồng dân sự đặc biệt, do vậy, hiệu lực của Hợp đồng tín dụng được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự Cụ thể như sau:

- Về điều kiện có hiệu lực:

Căn cứ theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015, Hợp đồng tín dụng với tư cách là một loại hình giao dịch dân sự sẽ có hiệu lực khi đảm bảo đủ các điều kiện sau đây:

“a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với

giao dịch dân sự được xác lập;

b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.”

Và trong đó:

Trang 9

“Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

trong trường hợp luật có quy định.”5 Theo đó, như đã được phân tích tại phần đặc điểm ở trên, hợp đồng tín dụng phải đảm bảo hình thức được lập bằng văn bản theo quy định tại

“Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng với khách hàng”

Như vậy, Hợp đồng tín dụng phải thoả mãn điều kiện về chủ thể; về tính tự nguyện của giao dịch; về nội dung và mục đích của giao dịch và về hình thức của giao dịch được xác lập

- Về thời điểm phát sinh hiệu lực:

Một cách đơn giản có thể hiểu, thời điểm phát sinh hiệu lực chính là thời điểm được lấy làm mốc của thời gian mà tại thời gian đó các bên tham gia hợp đồng tín dụng

có quyền và nghĩa vụ liên quan đến hợp đồng bắt đầu phát sinh Theo quy định tại khoản

1 Điều 401 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ

thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác.” Trong đó, do Hợp đồng tín dụng là loại hợp đồng ưng thuận và bắt buộc phải xác

lập bằng hình thức văn bản nên có thể hiểu thời điểm phát sinh hiệu lực của Hợp đồng tín dụng là tại thời điểm nội dung hợp đồng đã được các bên thoả thuận và thống nhất sau đó tiến hành ký kết, đóng dấu theo quy định tại hợp đồng

- Về sự vô hiệu và hậu quả pháp lý khi hợp đồng vô hiệu:

Theo quy định tại Điều 122 đến Điều 130 của Bộ luật Dân sự năm 2014 có thể thấy giao dịch dân sự nói chung và Hợp đồng tín dụng nói riêng có hai phạm vi vô hiệu là

“vô hiệu toàn bộ và vô hiệu từng phần” Theo đó, trường hợp vô hiệu từng phần thì

“phần nội dung của giao dịch dân sự vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của

phần còn lại của giao dịch”6 Khác với đó, trong Hợp đồng tín dụng vô hiệu toàn bộ thì toàn bộ nội dung của Hợp đồng đó sẽ bị vô hiệu

5 Khoản 2 Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015.

6 Điều 130 Bộ luật Dân sự năm 2015

Trang 10

Mặt khác, xét về mức độ có hai trường hợp là: Hợp đồng tín dụng vô hiệu tuyệt đối và Hợp đồng tín dụng vô hiệu tương đối Hai mức độ này xảy ra tương ứng với từng trường hợp cụ thể khác nhau Theo đó, đối với trường hợp vô hiệu tuyệt đối sẽ dẫn tới

hậu quả pháp lý là “Hợp đồng tín dụng không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền,

nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập”7

Trường hợp Hợp đồng tín dụng vô hiệu tương đối thì “chi khi nào đã hết thời hạn cho phép để khắc phục các vi phạm đó nhưng các bên không thể khắc phục được thì khi

đó, theo yêu cầu của bên có quyền lợi bị phương hại, Toà án mới chính thức tuyên bố hợp đồng tín dụng bị vô hiệu, về nguyên tắc, bên có lỗi trong việc tạo ra nguy cơ vô hiệu của hợp đồng tín dụng sẽ không có quyền đưa ra yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng tín dụng”.8

3 Thực trạng vi phạm Hợp đồng tín dụng

Vi phạm hợp đồng tín dụng được hiểu là “hành vi của một bên hoặc cả hai bên

tham gia Hợp đồng, vô ý hoặc vô ý làm trái các điều khoản đã cam kết trong Hợp đồng tín dụng”9 Trên thực tế thực hiện xảy ra nhiều trường hợp vi phạm Hợp đồng tín dụng và theo đó lỗi hoàn toàn có thể phát sinh từ phía tổ chức tín dụng hoặc tổ chức, cá nhân đi vay Theo đó các trường hợp vi phạm Hợp đồng tín dụng phổ biến là tổ chức, cá nhân vay tiền nhưng không trả hoặc không trả đúng hạn theo quy định tại Hợp đồng tín dụng hoặc khách hàng không trung thực trong quá trình thực hiện hợp đồng Một số trường hợp khác do cả hai bên không tuân thủ quy định pháp luật trong việc ký hợp đồng tín dụng Chẳng hạn như trường hợp sau đây:

Hai bên A và Ngân hàng B ký hợp đồng thế chấp tài sản của bên C cho một hợp đồng tín dụng (đã được ghi rõ trong hợp đồng) Khi hạn vay hết, bên A tất toán khoản vay với Ngân hàng B nhưng ngay sau đó lại tiếp tục ký hợp đồng tín dụng mới với Ngân

7 Khoản 1 Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015

8 Luật Minh Khuê (2021), “Quy định về giao kết hợp đồng tín dụng? HIệu lực của Hợp đồng tín dụng”, xem tại:

https://luatminhkhue.vn/quy-dinh-ve-giao-ket-hop-dong-tin-dung-hieu-luc-cua-hop-dong-tin-dung.aspx

9 Luật Minh Khuê, “Thực hiện hợp đồng tín dụng và trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng tín dụng?”, xem tại:

https://luatminhkhue.vn/thuc-hien-hop-dong-tin-dung-va-trach-nhiem-phap-ly-do-vi-pham-hop-dong-tin-dung.aspx

Trang 11

hàng B và sử dụng tài sản của Bên C làm tài sản bảo đảm mà chưa được sự đồng ý của Bên C, bên C không biết và cũng chưa ký vào Hợp đồng tín dụng mới Trường hợp này các bên A và Ngân hàng B đã vi phạm trong việc ký kết hợp đồng tín dụng

Các vi phạm Hợp đồng tín dụng xảy ra làm ảnh hưởng trực tiếp tới quyền và lợi ích của các bên tham gia hợp đồng, đồng thời ảnh hưởng xấu đến quá trình luân chuyển vốn trong xã hội và ảnh hưởng đến an ninh trật tự Chính vì vậy, càng đặt ra yêu cầu đối với việc quy định pháp luật về Hợp đồng tín dụng đảm bảo chặt chẽ, phù hợp để đây có thể trở thành cơ sở pháp lý vững chắc, rõ ràng giúp cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp và đảm bảo quyền lợi cho các bên

Ngày đăng: 10/07/2023, 11:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w