T tởngnày đợc thể hiện sinh động nhất trong cách nhìn của Ngời đối với vấn đề PN.Ngay trong thời kỳ tìm đờng cứu nớc, Hồ Chí Minh đã đánh giá đúng đắn vịtrí và tầm quan trọng của PN đối
Trang 1Mở Đầu
1 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Ngay từ buổi bình minh của lịch sử loài ngời, phụ nữ (PN) đã có vaitrò quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội (XH), từ phạm vi gia
đình đến cả cộng đồng Vì vậy, phụ nữ là một lực lợng XH to lớn
Phải khẳng định, sức sống mãnh liệt của t tởng Hồ Chí Minh (TTHCM)chính là chủ nghĩa nhân đạo cao cả, tất cả vì con ngời, lấy con ngời làm điểmxuất phát, là mục tiêu của mọi t tởng (TT), hành động cách mạng (CM) T tởngnày đợc thể hiện sinh động nhất trong cách nhìn của Ngời đối với vấn đề PN.Ngay trong thời kỳ tìm đờng cứu nớc, Hồ Chí Minh đã đánh giá đúng đắn vịtrí và tầm quan trọng của PN đối với sự phát triển của XH nói chung và dântộc (DT) Việt Nam (VN) nói riêng Không chỉ dừng lại ở đó, là nhà TT, lýluận CM lớn của DT, Hồ Chí Minh còn thấy rõ tầm quan trọng của sự nghiệpgiải phóng PN, coi đó là thớc đo của trình độ văn minh: "Nếu không giảiphóng phụ nữ (GPPN) thì không GP một nửa loài ngời" Có thể nói, đây chính
là lý do quan trọng nhất để TTHCM không bị lỗi thời bởi sự vận động nghiệtngã nhng rất công bằng của lịch sử (LS) Cùng với chủ nghĩa Mác- Lênin,TTHCM là nền tảng t tởng, kim chỉ nam cho hành động CM của Đảng Cộngsản Việt Nam (CSVN)
Dới sự lãnh đạo của Đảng, PNVN ở thời đại Hồ Chí Minh đã đợc GP
về cơ bản và có những đóng góp đáng kể cho sự nghiệp GPDT, GP giai cấp(GC) và GPXH
Ngày nay, Đảng CSVN đang kế thừa, vận dụng và phát triển TTHCM
về vấn đề GPPN lên tầm cao mới, phù hợp với yêu cầu của thời đại Vì vậy,chúng tôi chọn đề tài này nhằm góp phần làm sáng tỏ hơn nữa TTHCM về vấn
đề đó trong các giai đoạn phát triển của DT, đặc biệt là ở thời kỳ đổi mới
Trang 22 Tình hình nghiên cứu đề tài
T tởng Hồ Chí Minh về vấn đề GPPN đợc nhiều nghiên cứu đề cập tớivới những hình thức và mức độ khác nhau Ngay từ những ngày đầu của cáchmạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giành sự quan tâm thích đáng trong việc đề rachủ trơng, đờng lối, chính sách nhằm thực hiện vấn đề giải phóng phụ nữ
Nghiên cứu vấn đề phụ nữ trong TTHCM đến nay chúng tôi thấy có
một số ấn phẩm của Nhà xuất bản phụ nữ: "Hồ Chí Minh với vấn đề giải
phóng phụ nữ" (1970); "Bác Hồ với phát triển phụ nữ Việt Nam" (1982);" Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng phụ nữ" (1990) Trong đó chủ yếu thống
kê các bài nói, bài viết của Ngời về vấn đề giải phóng phụ nữ Một số luận ánthạc sĩ Lịch sử Đảng, Triết học, Nghiên cứu t tởng Hồ Chí Minh về giải phóng
phụ nữ: "Hồ Chí Minh với vấn đề giải phóng phụ nữ trong cách mạng Việt
Nam" của Đặng Thị Lơng (1993); "T tởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ" của Lê Minh Hà (1995) Một số luận văn cử nhân cao cấp đề cập đến vấn
đề phụ nữ nh: "Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ" của Vũ Văn Vinh (2000);
"T tởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ" của Vũ Thị Thúy Nhơn (2000);
"Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề giải phóng phụ nữ" của Đào Tố Uyên (2003); Vận dụng t tởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ vào hoạt động
thực tiễn của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ đổi mới" của Trơng
thị Thu Thủy (2006), v.v
Gần đây, Trung ơng Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (TWHLHPNVN),Trung tâm nghiên cứu khoa học về PN, Bảo tàng PN đã tổ chức nhiều hội thảokhoa học về vấn đề này và sản phẩm của nó đã đợc công bố trên các tạp chí,sách, báo và các hình thức xuất bản khác Các luận án tiến sĩ cũng đã đề cập
đến nội dung cụ thể của TT này Theo đó, các nhà khoa học đã khái quát một
số nội dung của TTHCM về GPPN và biểu hiện sinh động của TT ấy trongquá trình CMVN Tuy vậy, cho đến nay, cha có một đề tài có tính chuyênkhảo nào nghiên cứu một cách hệ thống về vấn đề này
Trang 33 Phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ của đề tài
- Đề tài chỉ nghiên cứu nội dung TTHCM về vấn đề GPPN và biểuhiện giá trị thực tiễn trong CMVN TT này vừa giàu tính lý luận vừa có giá trịthực tiễn Vì vậy, đề tài có nhiệm vụ sau:
- Chứng minh tính tất yếu của vấn đề GPPN trong LS phát triển nhânloại, theo đó cũng chính là yêu cầu của LSVN
- Làm sáng tỏ những quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn đề GPPN và
sự vận dụng trong công cuộc đổi mới Theo đó bớc đầu đề xuất một số nhữnggiải pháp với Đảng, Nhà nớc trong việc thực hiện di huấn của Chủ tịch Hồ ChíMinh về vấn đề GPPN trong thời kỳ hiện nay
4 Phơng pháp nghiên cứu và tài liệu
Trên cơ sở vận dụng tổng hợp những quan điểm cơ bản của chủ nghĩaMác- Lênin, đề tài đợc nghiên cứu bằng phơng pháp kết hợp chặt chẽ giữa ph-
ơng pháp duy vật biện chứng và duy vật LS; LS - lôgic; phân tích- tổng hợp; lýluận - thực tiễn từ các nguồn tài liệu: Các tác phẩm của Hồ Chí Minh; các vănkiện của Đảng, Nhà nớc, các tài liệu nghiên cứu LS phát triển của phong tràoPNVN Đề tài còn kế thừa có chọn lọc những công trình khoa học nghiên cứuTTHCM của các nhà khoa học trong nớc và quốc tế
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của đề tàigồm 3 chơng 7 tiết
Trang 4Chơng 1
Giải phóng phụ nữ - yêu cầu tất yếu của lịch sử nhân loại và lịch sử Việt Nam
1.1 Yêu cầu tất yếu của lịch sử nhân loại
Phụ nữ là một nửa của nhân loại, điều đó đợc xác định từ khi có loàingời Tuy vậy, trong quá trình phát triển của LS, vai trò của PN không phải lúcnào cũng đợc đánh giá và nhận thức giống nhau
Dới chế độ công xã thị tộc, vai trò của PN rất lớn LS đã ghi nhận từngtồn tại một chế độ mà quan hệ XH là mẫu hệ hay mẫu quyền Bản chất củachế độ này không phải là vai trò thống trị của PN đối với đàn ông, mà là vaitrò của họ đối với cuộc sống của cả cộng đồng Lúc này, do chiếm vị thế chủ
đạo trong nền sản xuất theo phơng thức săn bắt, hái lợm nên vật chất đảm bảocho đời sống cộng đồng đợc làm ra bởi PN; con cái sinh ra chỉ biết mẹ, mang
họ mẹ; chia cái ăn, cái mặc cho các thành viên của cộng đồng cũng là PN.Chế độ XH này kéo dài hàng triệu năm, và cũng bấy nhiêu thời gian vai tròcủa PN đợc khẳng định
Đến thiên niên kỷ I trớc công nguyên, loài ngời tìm thấy kim loại, vìvậy sản xuất ngày càng phát triển bởi sự tiến bộ của công cụ lao động.Thựctrạng này đòi hỏi nhiều hơn sức lao động của đàn ông và theo đó, đảm bảocuộc sống cho cộng đồng lại chính là đàn ông, XH phụ quyền ra đời thay thế
XH mẫu quyền Và khác với XH mẫu quyền, đàn ông không chỉ xác lập uy tíncủa mình trong gia đình và XH, mà còn cả quyền áp bức PN Của cải vật chấtlàm ra nhiều dẫn đã xuất hiện t hữu, hệ quả là GC ra đời và cuộc đấu tranh GCcũng bắt đầu, nhằm đòi các quyền tự do, bình đẳng của cá nhân Trong quátrình đó, đấu tranh GPPN, đòi quyền bình đẳng và nâng cao vị trí của ngời PNtrong XH là một nội dung mang tính phổ biến và là yêu cầu tất yếu của LS, nóphản ánh một mặt của nền văn minh nhân loại trong từng nấc thang khácnhau
Trang 5Suốt thời kỳ trung cổ, chế độ phong kiến vốn là cơ sở kinh tế (KT), XHcủa các hệ TT bảo thủ và phản động đối với vấn đề PN Những quy định hà khắccủa lễ giáo phong kiến và TT đẳng cấp trong XH đã kìm hãm tận cùng sự pháttriển của cá nhân ngời, trong đó PN bị khinh miệt, coi thờng, rẻ rúng và bị tớchết quyền làm ngời Khổng Tử đã viết: " Chỉ có bọn tớ gái và bọn tôi trai làmình khó ở cho họ vừa lòng Hễ mình gần gũi, dễ dãi với họ thì họ khinh lờn.Còn nh mình xa cách nghiêm nghị với họ thì họ oán ghét" [9, tr 283] Phảichăng khi phát ngôn nh vậy, ngời sáng lập đạo Nho mà chữ "hiếu" đợc đặcbiệt coi trọng đã quên rằng mình cũng có mẹ Từ chỗ khinh miệt PN đến tộtcùng, Nho giáo đã có t tởng phi lý đến phi nhân đối với PN với các thuyết:tam cơng, tam tòng…
Có thể khẳng định, suốt hàng ngàn năm, giáo lý phong kiến đã cóchung quan niệm: phụ nữ là loại ngời khó giáo dục; nam ngoại nữ nội; đạotam tòng; trai 5 thê 7 thiếp, gái chính chuyên chỉ có một chồng; một con traicoi là có, 10 con gái coi là không… Đó thực chất là nhà tù vô hình giam cầmbao thân phận PN, biến họ thành nô lệ của đàn ông và nô lệ của cả XH Thực
tế đó đặt ra cho nhân loại một nhiệm vụ tất yếu: giải phóng phụ nữ
Thời trung cổ, một số ngời mang trong mình chủ nghĩa (CN) nhân văn
đã có vài động thái hớng tới quyền làm ngời ở giai đoạn văn hóa phục hng Sựtiến bộ đó đã le lói chút ánh sáng cho TTGPPN Nhng trên t cách công dân vàcá nhân ngời, TT đó chỉ đợc bắt đầu hình thành tơng đối đầy đủ trong quátrình phát triển của XH t sản TT tự do, bình đẳng xuất hiện từ thời phục hng
đợc GC t sản nắm lấy và coi là vũ khí sắc bén để tấn công vào chế độ phongkiến, xác lập vị trí của GC t sản trong lịch sử Ngời Mỹ nói: " Tất cả mọi ngời
đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thểxâm phạm đợc; trong các quyền ấy, có quyền đợc sống, quyền tự do và quyền
mu cầu hạnh phúc" [16, tr 1], còn ngời Pháp lại quan niệm " Ngời ta sinh ra
tự do và bình đẳng về quyền lợi và luôn luôn đợc tự do bình đẳng về quyềnlợi" [16, tr 1] Theo đó, nhân loại vợt qua bóng đêm u ám của thời Trung cổ đểvơn tới ánh sáng của văn minh, đồng thời làm cho 2 bản Tuyên ngôn của Mỹ
Trang 6và Pháp trở nên bất hủ Tuy vậy, do hạn chế về bản chất GC, tính nhân văncủa các TT đó đã bị vi phạm thô bạo GC t sản đã quay lng lại những ngờitừng là bạn đờng của mình trong cuộc đấu tranh chống CN phong kiến và biến
họ thành kẻ bị thống trị ách áp bức GC không chỉ vẫn tồn tại mà còn rất tànbạo thể hiện ở mức độ tinh vi hơn nhiều Trong số những ngời thuộc giai cấp
bị trị, PN lại là những nạn nhân bi thảm nhất Họ bị tớc đoạt mọi thứ, kể cảnhững quyền sơ đẳng trong đời sống XH Thực tế đó làm nảy sinh hàng loạtvấn đề mới, mà tự do bình đẳng của GC vô sản trong đó có PN là một đòi hỏikhách quan Nhận thức đợc yêu cầu của lịch sử, CNXH không tởng đã xuấthiện ở đầu thế kỷ XIX với các nhà t tởng lớn: Xanh-xi-mông, Phu ri-ê (Pháp),
Ô-oen (Anh) Mỗi ngời có một ý tởng, một phơng pháp riêng, nhng nhìnchung các ông đều phê phán hạn chế của CM t sản, lên án sự bóc lột tàn bạocủa GC t sản đối với ND nói chung và PN nói riêng và dự đoán về một XH t-
ơng lai tốt đẹp, không có áp bức bóc lột, mọi ngời đều đợc tự do, bình đẳng
Để thực hiện, theo các ông, nhất định một cuộc CM mới sẽ phải nổ ra NếuPhu-ri-ê coi trình độ GPPN là biểu hiện của GPXH thì Ô-oen lại áp dụng TT
tự do, bình đẳng cho PN và trẻ em ngay trong chính công xởng của mình.Song các nhà CNXH không tởng có hạn chế lớn, họ chỉ nhìn thấy sự cùng khổ
và coi quần chúng ND lao động là đám đông phải cứu vớt mà không thấy yếu
tố CM trong sự cùng khổ đó Chính vì vậy, quần chúng ND lao động không
đ-ợc coi là động lực của các cuộc CM xã hội Các ông cho rằng, phải dựa vào vĩnhân nào đó hay chân lý vĩnh cửu; cải tạo XH bằng cải cách dần dần, hòa hợp
GC chứ không phải bằng bạo lực CM, và hạn chế lớn nhất là các ông không pháthiện đợc lực lợng GPXH chính là GCCN Chính vì vậy, trào lu TT này đã không
có sức sống, đến những năm 40 của thế kỷ XIX thì trở nên lỗi thời, thậm chíphản động Tuy vậy, ở vào thời điểm LS đó, với TT và hành động của mình,các nhà sáng lập CNXH không tởng- phê phán cũng đã góp phần thức tỉnhquần chúng lao khổ đấu tranh Và nh vậy, họ góp một phần thúc đẩy LS tiếnlên, đặt một trong những dấu son ghi nhận sự phát triển của LSTT nhân loại
Trang 7Cách mạng công nghiệp ở Anh và một số nớc hoàn thành, nền đạicông nghiệp phát triển Giai cấp t sản củng cố hơn nữa vai trò thống trị củamình, mâu thuẫn GC trong XH t bản chủ nghĩa ngày càng gay gắt Giai cấp vôsản cũng lớn mạnh và trở thành một lực lợng độc lập, bớc lên vũ đài chính trị(CT) LS đòi hỏi phải có một TTCM tiên tiến hơn, đáp ứng yêu cầu kim chỉnam cho cuộc đấu tranh của GC vô sản.
Chủ nghĩa XH khoa học ra đời với tên tuổi của các nhà TT vĩ đại:C.Mác và Ph.ăngghen Lý luận CM của CNXH khoa học không chỉ thấm đẫmbản chất nhân văn sâu sắc mà còn vợt lên những hạn chế của các TT trớc đó.Với quan điểm duy vật biện chứng, duy vật LS, CN Mác đã coi con ngời là chủthể duy nhất có khả năng nhận thức và cải tạo thế giới, trong đó công lao lớn vàcũng là nhân văn nhất chính là ở chỗ các ông đã ghi nhận, đánh giá đầy đủ vaitrò và vị trí của PN: Trong lịch sử nhân loại, không có một phong trào to lớn nàocủa những ngời bị áp bức mà lại không có phụ nữ lao động tham gia Phụ nữ lao
động là những ngời bị áp bức nhất trong tất cả những ngời bị áp bức, nênkhông bao giờ họ đứng ngoài và không thể đứng ngoài các cuộc đấu tranh giảiphóng, kể từ phong trào nô lệ đến các phong trào của XH đơng thời Đặc biệttrong phong trào Công xã Pari (1870), PN đã tham gia đông đảo và có vai tròlớn, họ đã sát cánh chiến đấu cùng đàn ông để đánh đổ GCTS Từ thực tế đó,C.Mác đã khái quát: " Ai đã biết LS thì biết rằng muốn sửa sang XH màkhông có PN giúp vào, thì chắc chắn không làm nổi" [11, tr 217] Hơn nữa,các ông còn lấy chính mức độ GPPN làm một trong những tiêu chuẩn để đánhgiá trình độ văn minh của nhân loại: " Xem TT và việc làm của đàn bà con gáithì biết XH tiến bộ nh thế nào" [11, tr 217]
Cách mạng vô sản có nhiệm vụ xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột, xâydựng một XH mới văn minh và nhân đạo hơn Đối tợng đợc giải phóng vàcũng chính là một trong những động lực của CM là PN Theo đó, đây là cuộc
CM triệt để nhất trong LS, là hòn đá tảng phân biệt bản chất của các cuộcCMXH V.I.Lênin cho rằng: "Chừng nào mà PN không những cha đợc tự do
đời sống chính trị nói chung và cũng cha đợc quyền gánh vác một công việc
Trang 8thờng xuyên và chung cho cả mọi ngời, thì chừng ấy cha có thể nói đếnCNXH đợc, mà cũng cha thể nói đến ngay cả một chế độ dân chủ toàn vẹn vàbền vững đợc" [10, tr 158] Theo ông, Đảng Cộng sản phải có nhiệm vụ tổchức và lãnh đạo họ tham gia CM.
Khi nêu lên các giải pháp GPPN, các nhà kinh điển của CNXH khoahọc đã xuất phát từ một quan điểm rất khoa học và thực tế Đó là việc PN bịloại khỏi các hoạt động kinh tế, dẫn tới bị tớc đoạt quyền bình đẳng với đàn
ông về mọi mặt Ph.ăngghen đã có cách nhìn rất biện chứng: "Sự GPPN,quyền bình đẳng giữa nam và nữ đều không thể có đợc và mãi mãi không thể
có đợc, chừng nào mà PN còn bị gạt ra ngoài lao động sản xuất XH và cònphải bị bó hẹp trong công việc riêng t của gia đình" [11, tr 506] Nh vậy,muốn GPPN, điều tiên quyết là phải để PN tham gia sản xuất trên một quy mô
XH rộng lớn và chỉ làm công việc nội trợ ít thôi Nhng một mâu thuẫn khógiải quyết sẽ xẩy ra, đó là, ngời PN lại không đảm bảo chức năng làm vợ, làm mẹtrong gia đình Lại cũng Ph.ăngghen, bằng t duy chính trị của mình đã đa ra giảipháp nh sau: biến công việc nội trợ thành công việc chung của XH và thànhlao động hàng hóa Giải pháp này trở thành hiện thực bởi V.I.Lênin
Cách mạng XHCN tháng Mời Nga (1917) thành công, nớc Nga xô viết
ra đời, chấm dứt tình trạng áp bức GC và XH ở nớc Nga Vấn đề GPPN có
điều kiện thực hiện Vừa là nhà lý luận CM, vừa là ngời hoạt động thực tiễn,
sự nghiệp GPPN theo V.I.Lênin phải thực hiện hai bớc:
- Bớc 1: Vạch trần bộ mặt giả nhân, giả nghĩa, lừa bịp và chế độ t hữu
về t liệu sản xuất của chế độ t sản Đem chính quyền CM trao cho số đôngquần chúng ND lao động Chính quyền CM phải thủ tiêu bất bình đẳng trongpháp luật về hôn nhân, gia đình và con cái
- Bớc 2: GPPN ra khỏi cảnh " nô lệ gia đình" bằng cách chuyển côngviệc nội trợ gia đình vụn vặt thành công việc lớn của XH, để PN tham gia lao
động sản xuất chung
Theo V.I Lênin, đây là một việc làm không dễ, vì thực chất là chúng
ta đang thay đổi một trật tự thâm căn cố đế, đã thành thói quen của toàn XH
Trang 9Tuy vậy, dới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, nhà nớc Xô viết đã từng bớc thựchiện GPPN bằng các chủ trơng và chính sách khác nhau Việc lập một số cơquan làm mẫu nh nhà ăn, nhà trẻ; để PN tham gia hoạt động chính trị, quản lýnhà nớc và các xí nghiệp công cộng là một biện pháp hiệu quả nhất Lúc đó,nớc Nga xô viết là nơi đầu tiên trên thế giới, PN đã đợc bình đẳng hoàn toàn
về mọi mặt với đàn ông ở trong gia đình cũng nh ngoài XH Thực tiễn củaCMXHCN tháng Mời Nga đã khẳng định chân lý: Chỉ có giải phóng giai cấp,phụ nữ mới đợc giải phóng, giai cấp vô sản sẽ không đợc tự do hoàn toàn nếu
PN không đợc tự do
Nh vậy, kế thừa, phát triển những TT của nhân loại về GPPN, chủnghĩa Mác- Lênin thể hiện tính vợt trội ở chỗ, đã chỉ rõ nguyên nhân sự bấtbình đẳng giữa nam và nữ để từ đó nêu lên nguyên lý và những giải pháp cótính khả thi cho sự nghiệp GPPN Đó là phải gắn sự nghiệp giải phóng phụ nữvới cuộc cách mạng XHCN, đặt vấn đề giải phóng phụ nữ vừa là mục tiêu, vừa
là động lực của cuộc cách mạng vô sản Song để nó trở thành hiện thực trongcuộc sống, yêu cầu các lãnh tụ cách mạng phải biết vận dụng sáng tạo vàohoàn cảnh LS cụ thể của nớc mình, bởi không có một công thức cũng nh mộtbiện pháp tuyệt đối nào cho từng trờng hợp riêng biệt cụ thể
1.2 Vấn đề giải phóng phụ nữ trong lịch sử dân tộc Việt Nam
Trong quá trình phát triển của LSDT, PNVN cũng đã có một thời kỳ
đ-ợc nhận thức đúng và đánh giá rất cao bởi vai trò của mình trong xã hội mẫu
quyền Chả thế mà, ở Việt Nam, ngời ta có khái niệm "cái" để gọi một số thứ mang tính chất và ý nghĩa "quan trọng", "đứng đầu", "to lớn" nh: đờng cái,
sông cái, cổng cái, cửa cái, đũa cái,… Thế nhng khi t hữu và GC xuất hiện,nhất là chế độ phong kiến ra đời lại lấy Nho giáo, thuyết Khổng- Mạnh làmmực thớc và công cụ củng cố trật tự xã hội thì thân phận của PN bị đảo lộnghê gớm Điều này thể hiện trong sách Việt Nam văn hóa sử cơng: Trong chế
độ phụ quyền, đàn ông là gia trởng có uy quyền tuyệt đối trong nhà Ví dụ:
Trang 10+ Có quyền sở hữu và quản lý tài sản của gia đình, vợ con phải làmlụng cho gia trởng.
+ Có quyền sở hữu đối với vợ con và có thể bắt đi làm thuê hay đembán đi đợc Gia trởng là một vị chủ nhân chuyên chế, cũng nh một vị quân chủchuyên chế
Luật nhà Lý quy định: Vợ con ngời bị tội lu đày đều bị sung công Lệnhà Trần cho phép ngời chồng có vợ ngoại tình đợc coi vợ là nô tỳ và tự ý đemcầm bán [25, tr 125]
Đến thời nhà Lê, Nho giáo với yếu tố tiêu cực nhất là coi khinh PN đãtrở thành TT chính thống, vợt lên trên đạo Phật, thâm nhập vào triều đình,vàonhân dân và phong tục tập quán xã hội Từ đó trở đi, chế độ tôn pháp và lễgiáo Khổng - Mạnh ngày càng gắn bó với chế độ phong kiến thì thân phận PNlại càng bi thảm hơn bao giờ hết
Đặc biệt đến đầu thế kỷ XIX, luật Gia Long lại tròng lên đầu, lên cổngời PN những điều khoản hà khắc nặng nề Nạn nhục hình PN bằng các biệnpháp khiếp đảm vừa chà đạp thô bạo lên thể xác, vừa xúc phạm nhân phẩmghê gớm mà di chứng của nó mãi không xóa đợc, nh gọt gáy bôi vôi; voi dày,ngựa xé; thả trôi sông đợc coi là phổ biến Và không chỉ vậy, GC phong kiếncòn sử dụng cả sự đàm tiếu độc ác của d luận để đe dọa và trừng trị những ng-
ời PN muốn thoát khỏi vòng trói buộc của lễ giáo phong kiến Thực trạng đólàm cho nhiều thế hệ PNVN bị gông cùm trong xích xiềng đồng sắt và đau khổbất công suốt cả cuộc đời Lúc ở nhà phải "tòng phụ" Mất quyền tự do hôn nhânkhông đợc chọn ngời lấy làm chồng ngời con gái trở thành món hàng mua bánvới gánh nặng gia đình nhà chồng cả cuộc đời với thuyết "tòng phu" Ngoài ra,
họ còn bị chôn sống ngay trong buồng ngủ của mình bởi cảnh ngộ " phu tửtòng tử"nếu không may là góa phụ khi còn trẻ Một tình trạng xấu xa nh vậy
đã vây hãm PN, làm hạn chế vai trò của PN vào sự nghiệp chung của đất nớc.Theo đó GPPN cũng là một yêu cầu tất yếu trong LS phát triển của XHVNnhằm chống lại các TT phi nhân đối với PN
Trang 11Đáp ứng yêu cầu đó, từ rất sớm sự phản kháng của con ngời nói chung
và PN nói riêng đã xuất hiện dới những hình thức phong phú mà văn học dângian là hình thức hay và rất có hiệu quả Bằng lời lẽ hóm hỉnh, hài hớc, trí tuệdân gian đã lu truyền những câu ca dao nhằm chống lại những nhà tù vô hìnhgiam cầm PN:
Chống lại TT trọng nam khinh nữ, ND nói: Lệnh ông không bằng cồng
bà Bác bỏ quan điểm về tiết thì:
Mẹ ơi con muốn lấy chồng;
Con ơi mẹ cũng một lòng nh conKhẳng định hạnh phúc lứa đôi là một thực tế thì ca dao cất lên nhngcâu thuyết phục:
Mình về ta chẳng cho về
Ta nắm vạt áo ta đề câu thơ
Câu thơ ba chữ rành rànhChữ trung, chữ hiếu, chữ tình là baChữ trung thì để thờ cha
Chữ hiếu thờ mẹ, đôi ta chữ tình
Ca ngợi phẩm chất anh hùng của PN thì có những vần thơ đầy khí phách:
Con ơi con ngủ cho lành
Để mẹ gánh nớc rửa bành con voiMuốn coi lên núi mà coiCoi bà Triệu tớng cỡi voi đánh cồngHoặc:
Nớc sông trộn lẫn nớc ngòiCon gái Bình Định cầm roi đi quyền
Trang 12Quan trọng hơn, chính phụ nữ đã khẳng định vai trò của mình trong lịch
sử giữ nớc và dựng nớc để dân tộc tồn tại và phát triển Những ngời đầu tiên
đứng lên giành độc lập cho Tổ quốc là phụ nữ " Từ đầu thế kỷ thứ nhất, Hai
Bà Trng phất cờ khởi nghĩa đánh giặc cứu nớc cứu dân" [22, tr.148] Tục ngữ
có câu: "Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh" là truyền thống đặc biệt của phụ nữViệt Nam từ thời đại Hùng vơng- Trng vơng đến thời đại Hồ Chí Minh chống
Mỹ cứu nớc Lịch sử đã khắc sâu một chân lý: Phụ nữ Việt Nam không chỉ loviệc nhà mà còn lo việc nớc: Hai Bà Trng cùng các nữ tớng của mình; bàTriệu và các thế hệ phụ nữ kế thừa ở những giai đoạn lịch sử tiếp theo là mộtbằng chứng tờng minh
Không chỉ góp công sức đánh giặc giữ nớc mà ngời phụ nữ còn đảmnhiệm cả những công việc xã hội, tổ chức và quản lý xã hội Chúng ta có thểnhìn thấy điều này qua hình ảnh của Nguyên Phi ỷ Lan, Thái Hậu Dơng VânNga- những phụ nữ tài ba đã thay chồng lãnh đạo đất nớc vợt qua những khókhăn thách thức Và vô số những phụ nữ khác thay chồng và con trai quản lýxóm làng khi có giặc xâm lăng Ngoài ra, trên diễn đàn văn hóa nghệ thuật,nhiều phụ nữ đã để lại những áng văn thơ nổi tiếng lu truyền đến tận ngàynay: Nhạn Khanh; Lý Ngọc Kiều; Nguyễn Thị Điểm Bích; Đoàn Thị Điểm;Nguyệt Đình; Lê Ngọc Hân; Ngô Chi Lan; Bà Huyện Thanh Quan…
Công lao của ngời phụ nữ không chỉ đợc dân gian ví nh nguồn nớc vôtận của sông, suối mà những truyện Nôm khuyết danh còn lu truyền muôn đờilòng nhân hậu, tình nghĩa thủy chung của biết bao PNVN với những phẩmchất cao cả mà đàn ông mấy ai có đợc: Cúc Hoa, Phơng Hoa, vợ Trơng Viên,Thoại Khanh, Phơng Cơ… rồi khát vọng yêu đơng cháy bỏng, vợt lên lễ giáophong kiến và thói đời đen bạc vì hạnh phúc của riêng mình mà Thị Mầu, XúyVân là tiêu biểu Đến thế kỷ XVIII- XIX, sự phản kháng của PN thể hiện rõhơn trong di sản văn chơng bác học thể hiện qua những tên tuổi Ôn Nh HầuNguyễn Gia Thiều với Cung oán ngâm khúc; Đặng Trần Côn với Chinh phụngâm (Đoàn Thị Điểm dịch ra thơ quốc âm); tiếp đến Nguyễn Du với TruyệnKiều và đặc biệt nhất là bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hơng Thông qua dòng
Trang 13văn học này, các tác giả đã tập trung sự phẫn nộ của mình vào việc lên án sâusắc hiện thực tàn bạo, bất công của XH, tấn công vào lễ giáo phong kiến,mang nặng lòng yêu thơng PN và khát vọng GPPN.
Mặc dù còn những hạn chế do yếu tố lịch sử và còn nhiễm các độc tốcủa hệ TT thống trị nên không chỉ ra đợc con đờng GPPN, nhng văn chơngbác học đã góp một tiếng nói nhân ái, một cách nhìn nhân bản về PN, kháchẳn với sự độc ác phi nhân của Nho giáo và hệ TT phong kiến phản động Nhờ
đó, PNVN đã có cơ hội để có thể thoát khỏi bóng đêm tăm tối, vợt lên sự bủavây của những ớc lệ đạo đức phong kiến hà khắc
Trong lĩnh vực luật pháp, một số bậc minh quân cũng có quan điểm
t-ơng đối tiến bộ về vấn đề PN Ví dụ:
Năm 1429, khi lên ngôi, vua Lê Thái Tổ đã ban hành phép công điền,lấy ruộng công chia cho tất cả mọi ngời, tùy theo phẩm tớc và không phân biệtnam –nữ
Cuối thế kỷ XV, ngời PN có cơ giảm thiểu thân phận tôi đòi bởi một
số điều tiến bộ trong Luật Hồng Đức triều vua Lê Thánh Tôn (1483)
+ Điều 307: quy định trách nhiệm của ngời chồng phải chăm sóc vợ,nếu chồng bỏ rơi vợ 5 tháng(vợ chồng son), một năm (vợ chồng đã có con) thì
có quyền làm giấy trình quan đi lấy chồng
+ Điều 372, 374: ngời PN có quyền sở hữu về tài sản, gặp trờng hợpphải phân chia tà sản giữa vợ và chồng thì luật pháp công nhận cho ngời PN
có quyền sở hữu tài sản riêng của mình do cha mẹ cho khi đi lấy chồng vàquyền hởng thụ bình đẳng (chia đôi) đối với tài sản do hai vợ chồng chungsống gây dựng nên
+ Điều 387: Con gái đợc quyền chia tài sản bình đẳng nh con trai.+ Điều 390: Nhà nào không có con trai, con gái đợc hởng quyền thừa
kế hơng hỏa
Tất cả những điều đó không chỉ thể hiện trên giấy mà đã đợc hiện thựchóa trong đời sống XH Nh vậy Bộ luật Hồng Đức ở một mức độ nào đó đã
Trang 14công nhận và hợp pháp hóa một số phong tục, phản ánh truyền thống đoàn kếtthơng yêu và tinh thần dân chủ của ND lao động Tuy còn nhiều khoản gò bó,
áp bức, coi khinh PN, Luật Hồng Đức đợc coi là bộ luật có tính tiến bộ ở
ph-ơng Đông, thậm chí còn hơn cả một số bộ luật phph-ơng Tây lúc đó Tuy vậy, kểcả văn học dân gian; văn chơng bác học và pháp chế phong kiến mới chỉ manhnha ý tởng giải phóng PN, vì vậy cha thể cho ra đời một hệ TT cao hơn, khôngthể chỉ ra con đờng giải phóng con ngời nói chung và GPPN nói riêng
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp xâm lợc Việt Nam,
d-ới chế độ thuộc địa nửa phong kiến, dân tộc Việt Nam sống trong nỗi nhụcmất nớc, phụ nữ càng khốn khổ hơn Gông xiềng cũ – mới làm cho PNVNphải chịu ách một cổ 3 tròng: là ngời bản xứ; ngời lao động và ngời PN Câukết với chế độ PK phản động, thực dân Pháp không từ một thủ đoạn nào trongviệc áp bức, bóc lột, làm nhục PN, làm cho họ đau đớn ê chề cả về thể xác vàtinh thần
Trong xu thế chuyển mình của thời đại, ở Việt Nam xuất hiện các nhàyêu nớc tiến bộ theo khuynh hớng hệ TTTS, đại diện cho trào lu này là PhanBội Châu
Là nhà hoạt động chính trị và lãnh tụ CM đầu thế kỷ XX, Phan BộiChâu nổi tiếng không chỉ ở tâm huyết với dân, với nớc, cụ còn là ngời đầu tiên
có chủ trơng GPPN với việc kêu gọi đoàn kết toàn dân mà PN cũng là một lựclợng cần đợc động viên trong sự nghiệp GPDT Về vấn đề này, năm 1926, cụPhan có 2 bài diễn văn quan trọng, một bài đọc tại trờng nữ học Đồng Khánh,một đọc tại Hội nữ công Huế [3, tr 49, 55] thể hiện quan điểm của mình vềcác nội dung:
- Đánh giá cao vị trí và vai trò của PN: PN là "một phần cao quý củaloài ngời và của DT", "là mẹ của quốc dân và công thần của XH"
- Phê phán quan điểm khinh thờng PN, bác bỏ thuyết " tam tòng", coi
đó là xiềng xích giam cầm và biến PN thành nô lệ Đồng thời cụ nêu bật mốiquan hệ cha – con, chồng – vợ theo nguyên tắc của sự phục tùng: "Cha có
Trang 15nghĩa vụ làm cha, con có nghĩa vụ làm con; chồng có nghĩa vụ làm chồng, vợ
có nghĩa vụ làm vợ Cha có nên cha thì con mới nên con, chồng có nên chồngthì vợ mới nên vợ " [3, tr 57]
- Về vấn đề nhân quyền và bình đẳng giới, cụ Phan cho rằng chính chị em
PN phải tự nhận thức quyền lợi và nghĩa vụ của mình: rằng mình cũng là ngời, làdân trong nớc, cũng có quyền lợi và nghĩa vụ ngang với đàn ông [3, tr 52]
- Về vấn đề GPPN: Cụ Phan có quan điểm rất biện chứng và khoa họcrằng: PN phải có tinh thần tự lập, phải biết đấu tranh giành lấy nữ quyền; phải
lo và gánh vác một phần việc nớc: "Ta hết lòng gánh vác việc XH tức là biếtnghĩa vụ làm ngời thì quyền ngời mới khôi phục đợc Quyền ngời đã khôiphục thì quyền gái chẳng cần nói nữa" [3, tr 91] Cụ khẳng định, PN phải tựcởi trói cho mình, không thể trông chờ vào ai khác…
Nh vậy, bằng sự kế thừa truyền thống văn hóa DT, kết hợp luân lý
Đông-Tây trong vấn đề PN, cụ Phan đã đánh giá cao vai trò của PN, phê pháncác quan điểm khinh thờng PN, đề ra quan điểm về nghĩa vụ và quyền lợi của
PN một cách đúng đắn Đó chính là công lao lớn nhất của Phan Bội Châu Tuyvậy, vào thời điểm LS này, cũng nh bao ngời khác, tâm huyết có thừa, lòngdũng cảm không thiếu, song Cụ Phan cha chuyển hóa đợc những chủ trơng
đúng đắn của mình thành hiện thực sinh động của đời sống XH PNVN biết
ơn Cụ Phan lắm, nhng để đợc "làm ngời" đúng nghĩa và có khả năng tự GP,PNVN còn phải chờ đợi
Chế độ phong kiến mục nát, giai cấp t sản yếu đuối, không thể đáp ứngnổi yêu cầu chung của lịch sử dân tộc và bức bách riêng của phụ nữ về nhânquyền, tự do và giải phóng Tất cả vẫn chờ ở một lực lợng cách mạng đangphôi thai, đó là giai cấp công nhân; là sự lãnh đạo kiên định và đầy trí tuệ củamột tổ chức chính trị tiên phong và một con ngời mang trong mình không chỉkhát vọng của dân tộc mà cả t duy tiến bộ của nhân loại: lãnh tụ Hồ Chí Minh
Trang 16Chơng 2
T tởng Hồ Chí Minh về giải phóng Phụ nữ
1.1 Các nhân tố hình thành t tởng Hồ Chí Minh về giải
phóng phụ nữ
Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình khoa
bảng, giàu lòng yêu nớc, yêu lao động, lại ở một quê hơng có truyền thống
đánh giặc cứu nớc, tụ nghĩa vì dân Ngay từ những năm tháng ấu thơ, Hồ ChíMinh đã đợc sống trong mái nhà thấm đẫm chất nhân đạo của ông, bà, cha,
mẹ Qua đấng thân sinh, các bậc cha chú và các thày giáo u thời mẫn thế đầytrách nhiệm, Hồ Chí Minh đã chịu ảnh hởng và sớm tiếp cận và tiếp thu nhữngthành tựu văn hóa của dân tộc trên các mặt: lịch sử, triết lý, văn chơng Có thểnói, Hồ Chí Minh đã nhanh chóng thâu hái những tinh hoa, hạt nhân nhân bản
đồng thời nhận thức sâu sắc những hạn chế của các tôn giáo đang tồn tại lúc đó ởViệt Nam, nh Nho giáo, Phật giáo, Thiên chúa giáo Với Phật giáo, Hồ ChíMinh đã có những nhận xét rất công bằng: t tởng của đạo Phật là vô ngã vịtha, cứu khổ cứu nạn; Đức Phật tổ đại từ bi, tốt biết bao Còn với thiên chúagiáo, Ngời cũng có những đánh giá rất trân trọng: "Cách đây gần 2000 năm,trong một đêm đông lạnh lẽo, đức Chúa đã giáng sinh để cứu vớt nhân loại,
Đức Chúa là một tấm gơng hy sinh triệt để vì những ngời bị áp bức, vì nhữngdân tộc bị đè nén, vì hòa bình, vì công lý" [16, tr 67] Tấm gơng hy sinh đó đãlàm xúc động hàng triệu ngời, Hồ Chí Minh nguyện làm theo tấm gơng đó của
đức Chúa
Trong hành trình tìm đờng cứu nớc, Hồ Chí Minh còn tiếp nhận t tởngyêu nớc vĩ đại mà Ngời cho là phù hợp với Việt Nam của Tôn Trung Sơn Đó
là chủ nghĩa tam dân: dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc
Đồng thời những t tởng nhân văn: tự do, bình đẳng, bác ái của đại cách mạngPháp; t tởng nhân quyền của cách mạng Mỹ cũng từng bớc đợc Ngời thâu háitrong suốt những năm tháng bôn ba khắp các châu lục, làm giàu thêm bản chất
Trang 17nhân văn trong t duy cứu nớc của mình Những t tởng này đóng một vai tròkhá lớn trong t tởng, tình cảm của Hồ Chí Minh Song phải đến khi đọc "Sơthảo lần thứ nhất những luận cơng về vấn đề dân tộc thuộc địa" của Lênin (7-1920), thì Hồ Chí Minh mới gặp gỡ và tiếp cận với chủ nghĩa Lênin và từ đó
đến với chủ nghĩa Mác - Lênin Đến với chủ nghĩa Mác- Lênin, các trí thứcphơng Tây nhằm tìm hiểu một học thuyết, còn Hồ Chí Minh cố gắng tìm ở đócon đờng giải phóng dân tộc nên Ngời nhanh chóng nhận ra chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết cách mạng tiên tiến, thấm đẫm chủ nghĩa nhân văn mới,
mà khẩu hiệu hành động của nó là: sự phát triển tự do của mỗi ngời là điềukiện phát triển tự do của tất cả mọi ngời Sinh thời, Hồ Chí Minh đã cho rằng:
"Khổng tử, Giê-Su, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những điểm chung đó sao?
Họ đều muốn mu hạnh phúc cho loài ngời, mu lợi cho xã hội Nếu hôm nay
họ còn sống trên đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng họ chung sốngvới nhau rất hoàn mỹ nh những ngời bạn thân thiết Tôi cố gắng làm ngời họctrò nhỏ của các vị ấy" [24, tr 158]
Nh vậy, trên cơ sở kế thừa, phát triển truyền thống nhân ái của dân tộc,tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, đặc biệt là cơ sở lý luận, phơng pháp luậncủa chủ nghĩa Mác- Lênin và t duy kiệt xuất của mình, Hồ Chí Minh luônnhấn quán một quan điểm lịch sử, đánh giá đúng đắn, khẳng định đúng mức,với một thái độ trân trọng những giá trị văn hóa mà ngời xa đạt đợc; đồng thờicũng triệt để phê phán, bác bỏ các quan điểm không đúng Vì vậy, Ngời đãthu hái đợc những giá trị văn hóa quý báu nhất của thời đại trớc hình thành t t-ởng nhân văn ngời sáng Có thể khẳng định chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minhthật độc đáo, khác ngời xa khi có quan niệm rất khoa học về con ngời, đó làkhông có con ngời chung chung, trừu tợng, phiến diện Hồ Chí Minh đã vợtlên ngang tầm văn minh của loài ngời, quan tâm đến số phận của con ngời cụthể, đồng thời còn vạch ra những biện pháp hữu hiệu nhằm thực hiện triệt đểviệc giải phóng con ngời, trong đó t tởng GPPN là một trong những điểm sángnhất, thể hiện tầm nhìn sâu xa và triết luận CM của Ngời
Trang 182.2 T tởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ
Đảm bảo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin, vận dụngsáng tạo những vào điều kiện cụ thể Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đápứng yêu cầu GPPN bằng những quan điểm rất đúng đắn, vừa mang tính quyluật, vừa mang tính đặc thù, phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn Việt Nam, tạonên cú hích vĩ đại làm biến đổi hoàn toàn thân phận lực lợng chiếm một nửasức mạnh của dân tộc
2.2.1 Chống áp bức nô dịch phụ nữ
Trong sự phát triển của lịch sử, phụ nữ có vị trí và vai trò thật lớn laotrong mỗi gia đình cũng nh ngoài xã hội Song phụ nữ lại bị đối xử hết sức bấtcông, thân phận bị rẻ rúng, coi thờng và chỉ là vật sở hữu, là nô lệ của đàn
ông Sự bất bình đẳng của phụ nữ xuất hiện sớm nhất trong lịch sử và tồn tạidới nhiều hình thức khác nhau, nhất là dới chế độ xã hội có áp bức, bóc lột.Theo đó, lịch sử phát triển của nhân loại cũng chính là lịch sử từng bớc GPPNbằng những quan điểm tiến bộ của các đấng minh quân, các nhà chính trị và ttởng Dù còn nhiều hạn chế do yếu tố lịch sử và giai cấp nên vấn đề GPPN cha
đợc đặt ra đúng với yêu cầu bức thiết của nó nhng lịch sử đã ghi nhận đó lànhững ngời có tấm lòng nhân ái và trong t tởng của họ đã manh nha chủ nghĩanhân văn
Chủ nghĩa thực dân một biểu hiện vô nhân đạo nhất của chủ nghĩa tbản, không những đi ngợc lại tiến trình của xã hội loài ngời đấu tranh vơn tới
tự do, bình đẳng, văn minh, tiến bộ, trong đó có vấn đề GPPN mà còn tái lập
ách áp bức bóc lột ở trình độ dã man đến khủng khiếp, chẳng khác gì thờitrung cổ ở các thuộc địa
Khi còn ở trong nớc cũng nh trên hành trình đi tìm đờng cứu nớc, Hồ ChíMinh đã chứng kiến nỗi nhục của ngời dân vong quốc mà trớc hết là phụ nữ Có
lẽ, không ai nhận thức đợc nỗi khổ của phụ nữ nói chung và PNVN nói riêng dớichế độ thuộc địa bằng Hồ Chí Minh Bằng sự hiểu biết sâu sắc bản chất vô luâncủa chế độ thực dân, Hồ Chí Minh đã phản ánh thực trạng của chế độ này rất đầy
Trang 19đủ trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) Trong đó nỗi khổ của
phụ nữ bản xứ là một nội dung đợc Hồ Chí Minh phản ánh sinh động đầy nớcmắt: " Không một chỗ nào ngời phụ nữ thoát khỏi những hành động bạo ngợc.Ngoài phố, trong nhà, giữa chợ hay thôn quê, đâu đâu họ cũng vấp phải nhữnghành động tàn nhẫn của bọn quan cai trị, sĩ quan cảnh binh, nhân viên nhà đoan,nhà ga" [13, tr 435] Thói dâm bạo của bọn thực dân không có giới hạn, thói ăncớp bóc lột của chúng cũng không kể xiết Thuế má nặng nề, nhiều phụ nữ khốnkhổ, phải mang nặng gông xiềng đi quét đờng chỉ vì tội không nộp nổi thuế Họ
và trẻ em còn bị đầu độc bởi thuốc phiện, rợu và chế độ ngu dân Ngời khái quát:
"Ngời ta thờng nói " chế độ thực dân là ăn cớp" Chúng tôi xin thêm là hiếp dâm
và giết ngời" [13, tr 436]
Hồ Chí Minh đã tố cáo các tội ác tày trời của thực dân Pháp Chẳnghạn khi chúng đến một làng thì: "Tất cả dân chúng đều chạy trốn, chỉ còn lạihai cụ già, một thiếu nữ và một thiếu phụ đang cho đứa con mới đẻ bú, taynắm một em gái lên tám… Ông già bị 2 tên trong bọn lính đem thiêu trongmột đống củi hàng mấy giờ liền để làm trò vui với nhau Trong khi đó thì mộttên khác giở trò đồi bại với 2 phụ nữ và bé gái Xong chúng vật ngửa cô thiếunữ ra, trói lại, nhét giẻ vào miệng rồi một tên đâm lỡi lê vào bụng cô, chặtngón tay cô để lấy chiếc nhẫn và cắt đầu cô để lột cái vòng" [23, tr 10,11]
Vô luân hơn khi chúng coi phụ nữ nh một con chó, bắt phải hiến thâncho chó, nếu không chịu chúng giết ngay bằng lỡi lê Tất cả những tội ác nhvậy thật không kể xiết: "Thói dâm bạo vô độ của bọn xâm lợc thật không cógiới hạn nào cả Cái tinh vi của một nền văn minh khát máu cho phép chúng t-ởng tợng đợc đến đâu thì chúng cứ thực hiện tính tàn ác lạnh ling của chúngtới đó" [7, tr 443]
Không những bị xâm phạm nhân phẩm, phụ nữ còn bị bóc lột sức lao
động hết sức nặng nề Họ phải làm những công việc nặng nhọc, không có điềukiện tối thiểu đảm bảo cho cuộc sống của một con ngời bình thờng, khiếnnhiều ngời chết vì bệnh tật và tai nạn lao động ở đó không có luật hay sự hạnchế nào để kiềm chế bớt bọn bóc lột, ngời thợ bản xứ bị coi nh súc vật Đã
Trang 20vậy, chúng còn đặt nhiều luật lệ cấm đoán, duy trì những tập tục lạc hậu đểngăn cấm chị em phụ nữ tham gia các hoạt động chính trị – xã hội Bằngchính sách ngu dân triệt để Thực dân Pháp đã làm cho 98% phụ nữ Việt Namtrong tình trạng tối tăm ngu dốt Có thể nói, các thuộc địa là nơi hội tụ tất cả
sự dã man của thời trung cổ và chủ nghĩa t bản Nguyễn ái Quốc mỉa mairằng: "Cứ 1000 làng thì có 1500 đại lý bán lẻ rợu và thuốc phiện, nhng lại chỉvẻn vẹn có 10 trờng học" [5, tr 339] Không dừng lại ở đó, giai cấp thống trịcòn khuyến khích các hủ tục mê tín, dị đoan để xoa dịu lòng căm phẫn của chị
em, khiến cho phụ nữ cam chịu kiếp sống nô lệ Chính vì vậy, sinh ra làm thângái, phụ nữ vốn bị những thiên kiến độc ác, lạc hậu cầm cố, lại bị chính sáchchính trị –kinh tế –xã hội của chủ nghĩa thực dân tròng lên đầu lên cổ gôngxiềng nên phụ nữ bị trở thành lớp ngời u mê, đần độn, dễ bề sai bảo Bằng lý
lẽ sắc bén và sâu sắc, Hồ Chí Minh đã tố cáo đanh thép âm mu đen tối trongchính sách cai trị của thực dân Pháp đối với phụ nữ Việt Nam: " Chủ nghĩa tbản bóc lột, dìm anh chị em trong cảnh tối tăm, ngu dốt, áp bức anh chị em vềmặt t tởng và tiêu diệt nòi giống của anh chị em bằng rợu và thuốc phiện Chế
độ bản xứ bỉ ổi của bọn đế quốc t bản đặt ra, tớc mất của chị em mọi quyền tự
do cá nhân, mọi quyền lợi chính trị và xã hội, do đó đã hạ anh chị em xuốngthân phận trâu ngựa" [5, tr 462]
Trong những ngày lao động ở các thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc,chứng kiến tội ác của chúng đối với các dân tộc thuộc địa, Hồ Chí Minh đãkết luận rằng ở đâu chủ nghĩa thực dân cũng tàn ác, ở đâu các dân tộc thuộc địacũng đau khổ Chính từ nhận thức đó, lòng yêu thơng con ngời nô lệ mất nớcViệt Nam đã mở rộng thành lòng yêu thơng giai cấp cần lao thế giới Theo đó,Ngời không chỉ đau nỗi đau của phụ nữ Việt Nam mà dới ngòi bút của Ngời,
sự thật về thân phận bi thảm của phụ nữ và tội ác của chủ nghĩa thực dân đốivới phụ nữ khắp các thuộc địa đã đợc hiện lên một cách cụ thể nhất:
- ở Công xtăng-tin, từng đoàn phụ nữ lũ lợt kéo đi ăn xin Một ngờitrong đám ngời cùng khổ đó đã chết bên cầu En-căng-ta-ra, tay còn ẵm đứacon nhỏ
Trang 21- ở Tơ-ri-ni-tê, một phụ nữ tên là Luy-banh đã bị bắn gãy hai đùi màbọn thực dân vẫn còn muốn bắt chị đi bộ 32 km đến tòa án
- ở Phết Mơ-đa-la (Angiêri), mỗi tên lính thực dân đã vồ lấy và hãmhiếp một ngời trong số 12 em gái ở độ tuổi 12, những phụ nữ có thai, những
bà cụ 70 tuổi, và những bà mẹ đang cho con bú suốt hơn một tháng trời…
- Năm 1929, Đảng Ku- Khec luc-Khamlan đã hành hình 12 phụ nữ ởMitxixipi, 7 phụ nữ ở Alabima, 6 phụ nữ ở Tếchdat, 5 phụ nữ ở ác - căng- da-xơ, 5 phụ nữ ở Giooc-gi-a…
- "Công nhân phụ nữ ở Đông Dơng chiếm một phần lớn trong giai cấpvô sản Bọn t bổn và bọn đế quốc ngày càng mở rộng cách hợp lý hóa: dùngcông đàn bà cho rẻ, bởi vậy, số công nhân phụ nữ lại ngày càng thêm đông.Trong đám quần chúng lao khổ ở thành phố và nhà quê, phụ nữ cũng chiếmmột phần lớn Tình hình sinh hoạt của 2 hạng phụ nữ ấy rất cực khổ Ngoàinhững cảnh bóc lột nh: nhiều giờ làm, ít tiền lơng, họ lại bị phong tục bóbuộc, bị coi là hạng ngời tôi mọi rất đê tiện trong xã hội, không có một chút tự
do nào hết" [14, tr 153]
Không chỉ đau nỗi đau của họ, mà khát vọng giải phóng phụ nữ ViệtNam của Ngời đợc mở rộng thành khát vọng giải phóng phụ nữ ở tất cá cácdân tộc thuộc địa
Phân biệt rạch ròi giai cấp thống trị và nhân dân lao động ở các nớc tbản chính quốc, Hồ Chí Minh đã thật lòng xót thơng các bà mẹ, những ngời
vợ, ngời chị, ngời em bị bọn thực dân cớp mất ngời thân ném vào các cuộcchiến tranh xâm lợc phi nghĩa bằng những lời lẽ chứa chan chủ nghĩa nhânvăn và chủ nghĩa quốc tế Trong việc làm, Ngời và Đảng ta đã cùng những ng-
ời cộng sản và nhân loại tiến bộ tổ chức sự đoàn kết giữa phụ nữ Việt Nam vớiphụ nữ tất cả các nớc, trong đó có phụ nữ Pháp và phụ nữ Mỹ đấu tranh chốngchiến tranh xâm lợc và bảo vệ hòa bình thế giới
Từ những dẫn chứng cụ thể, Hồ Chí Minh đã biến sự phản ánh những
đau thơng, tủi nhục của phụ nữ thuộc địa thành vũ khí sắc bén phê phán chủ
Trang 22nghĩa thực dân Theo Ngời, chủ nghĩa thực dân- con đẻ của chủ nghĩa đế quốc
và chính bản thân chủ nghĩa đế quốc là chế độ dã man nhất, là thủ phạm gâynên những tội ác, kìm hãm sự phát triển của lịch sử nhân loại nói chung và cácthuộc địa nói riêng trong nghèo đói, lạc hậu, bất công Chủ nghĩa thực dân là
kẻ thù của dân tộc, đồng thời là kẻ thù nguy hiểm nhất của phụ nữ và trẻ em.Chống áp bức, nô dịch phụ nữ và trẻ em phải gắn liền với xóa bỏ chủ nghĩathực dân trên phạm vi toàn thế giới Có thể khẳng định nội dung này chứa
Mặc cho t duy truyền thống phủ nhận, đánh giá thấp vai trò của phụnữ, trí tuệ dân gian đã sớm đề cao vai trò phụ nữ Nếu ngời cha đợc so sánhvới núi Thái Sơn thì ngời mẹ đợc đánh giá nh nguồn của sông suối Núi dù caocòn có đỉnh, nguồn của sông suối là vô tận Khái niệm " cái" nh đã nói cũng làmột minh chứng cho trí tuệ công bằng của dân gian Đặc biệt, mở đầu chotrang sử vàng chống giặc ngoại xâm, cứu nớc của dân tộc lại là các vị nữ: Hai
Bà Trng, sau đó là Bà Triệu đã trở thành những anh hùng đầu tiên của dân tộcViệt Nam Nh vậy, không phải ai khác, chính phụ nữ đã khẳng định vai tròcủa mình trong lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức sớm và đặt niềmtin vững chắc vào khả năng to lớn của phụ nữ: "Từ đầu thế kỷ thứ nhất, Hai BàTrng phất cờ khởi nghĩa đánh giặc cứu nớc, cứu dân, cho đến nay, mỗi khi nớcnhà gặp nguy nan thì phụ nữ ta đều hăng hái đứng lên góp phần xứng đáng củamình vào sự nghiệp giải phóng phụ nữ" [11, tr 64 ] Trong nhận thức của HồChí Minh, lịch sử là do nhân dân lao động sáng tạo nên, trong đó phụ nữ làmột lực lợng to lớn Ngời nói: "Xem trong lịch sử cách mệnh chẳng có lần nào
là không có đàn bà con gái tham gia… Vậy nên muốn thế giới cách mệnhthành công thì phải vận động đàn bà con gái công nông các nớc" [14, tr 219]
Trang 23Từ thực tiễn cách mạng nhiều nớc trên thế giới, Hồ Chí Minh đã đi đến kết luận
có tính nguyên tắc: "Dân chúng công nông là gốc của cách mệnh, đàn bà, trẻcon cũng giúp làm việc cách mệnh đợc nhiều" [14, tr 193]
Với Hồ Chí Minh, phụ nữ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cáchmạng Không chỉ nhận thức sức mạnh của phụ nữ, Hồ Chí Minh còn biết đánhthức những khả năng đó và đa họ vào trận tuyến đấu tranh chung của dân tộc
Trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, Ngời luôn kêu gọi và cóbiện pháp tổ chức để phụ nữ tham gia Trong tài liệu huấn luyện "Đờng Káchmệnh", Ngời viết: "Cách mạng Nga mau thành công nh thế, đứng vững nh thế,cũng nhờ đàn bà con gái giúp vào An Nam cách mệnh cũng phải có nữ giớitham gia mới thành công" Hởng ứng lời kêu gọi đó, từ 1927 đến 1930, phụ nữ
ở cả 3 miền đất nớc đã tham gia tổ chức " Việt Nam cách mạng thanh niên"
nh các chị Hoàng Thị ái, Nguyễn Thị Minh Lãng, Thái Thị Bôi, Nguyễn ThịNhỏ… Một số chị: Nguyễn Thị Minh Khai,Tôn Thị Quế, Nguyễn Thị Xân đãtham gia hoạt động trong Tân Việt cách mạng Đảng Đảng Cộng sản ViệtNam ra đời (2-1930) đã mở ra một thời kỳ mới có tính bớc ngoặt đối với vấn
đề GPPN Các chị lần lợt trở thành đảng viên của Đảng khi mới 19-20 tuổi.Bằng chính mồ hôi, công sức, thậm chí cả máu xơng của mình, các chị đã gópphần không nhỏ vào sự nghiệp GPDT Trớc tòa đại hình của kẻ thù, chịNguyễn Thị Nhâm đã đanh thép trả lời: " tôi làm cách mạng để lấy lại nớctôi, tôi không có tội gì cả, nếu các ngời muốn buộc tội tôi thì hãy buộc tội bàGian Đa, anh hùng cứu nớc của nớc Pháp đi đã" Lòng yêu nớc, tên tuổi vàtấm gơng hy sinh của các chị đã sáng lên trên Diễn đàn Đại hội Quốc tế Cộngsản lần thứ VII (7-1935) bởi báo cáo của đại biểu Đảng Cộng sản Đông DơngNguyễn Thị Minh Khai
Chiến tranh thế giới lần thứ II bùng nổ, phù hợp với sự chuyển hớngchỉ đạo chiến lợc của Đảng, phụ nữ đã tích cực tham gia vào việc chuẩn bịmọi mặt cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn vàkhởi nghĩa Nam Kỳ (1940) đã thu hút đông đảo phụ nữ tham gia, có nhiều chịtrực tiếp chỉ huy nh Nguyễn Thị Bảy- tỉnh ủy viên Chợ Lớn; chị Nguyễn Thị
Trang 24Hồng- Bí th huyện ủy Vũng Liêm… Nhiều chị đã anh dũng hy sinh, trong đólịch sử dân tộc Việt Nam còn mãi mãi ghi nhớ tấm gơng của ngời Xứ ủy viênNam Kỳ, Bí th Thành ủy Sài Gòn: Nguyễn Thị Minh Khai lúc mới 31 tuổi Càngtiến tới ngày tổng khởi nghĩa toàn quốc, hởng ứng lời kêu gọi của MTVM, phụ nữtrong cả nớc đã tham gia rộng rãi với nhiều hình thức đấu tranh, từ việc nuôigiấu cán bộ nh mẹ Tơm (Thanh Hóa); mẹ Luật ở Bần (Hng Yên); Bà Hai Vẽ ởChèm… đến công tác lãnh đạo quần chúng đấu tranh, làm giao thông liên lạc,chuyển tài liệu, đa đón cán bộ, làm tài chính cho Đảng, vận động binh lính
địch quay về với cách mạng Sát ngày khởi nghĩa, phụ nữ chiếm 20% trongcác đơn vị tự vệ chiến đấu "An toàn khu" Trong Tổng khởi nghĩa tháng Támnăm 1945, nhiều chị giữ các trọng trách: Chị Hà Thị Quế lãnh đạo giànhchính quyền ở tỉnh Bắc Giang và đợc cử vào ủy ban nhân dân tỉnh kiêm phụtrách công tác quân sự toàn tỉnh Chị Nguyễn Thị Định dẫn đầu đội quângiành chính quyền ở tỉnh Bến Tre…
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nớc Việt Nam dân chủcộng hòa ra đời, công lao thuộc về khối đại đoàn kết dân tộc mà phụ nữ cónhững đóng góp không nhỏ các chị là những Bà Trng, Bà Triệu ở thời đại HồChí Minh
Đất nớc đợc độc lập, thân phận của phụ nữ đã thay đổi Họ càng có
điều kiện tham gia việc xã hội Góp phần vào củng cố cơ quan quyền lực caonhất của Nhà nớc, 48% phụ nữ trong tổng số cử tri đã đi bầu cử Quốc hội ngày6-1-1946 Điều đặc biệt là lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, 10 đại biểu phụnữ đã trúng cử vào Quốc hội khóa I của nớc VNDCCH
Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ, phụ nữ lạicùng chồng con mình có mặt khắp nơi, từ tiền tuyến đến hậu phơng Ngày 1-5-1952, tại Đại hội anh hùng và chiến sĩ thi đua toàn quốc lần I, trong 7 ng-
ời đợc bầu là anh hùng có 1 ngời PN: anh hùng Nguyễn Thị Chiên Ngoài ra,trong suốt cuộc kháng chiến trờng kỳ, còn có hàng trăm, hàng ngàn nữ chiến
sĩ thi đua Trên mọi nẻo đờng ra trận, những bớc chân không mỏi của những
Bà Trng, Bà Triệu ở thế kỷ XX đã làm sáng lên lẽ sống của các thế hệ PNVN
Trang 25và góp phần to lớn viết tiếp bản anh hùng ca bách chiến bách thắng của DT.Một bại tớng của Pháp tại mặt trận Biên Giới (1950) đã nhận ra một điều thú
vị, đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh - một lãnh tụ đã kêu gọi đợc cả đàn bà và trẻcon ra trận: " Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ ngời già ngời trẻ… " [16, tr 480].Trong th gửi PNVN nhân lễ kỷ niệm Hai Bà Trng và ngày Quốc tế PN, Chủtịch Hồ Chí Minh đã bày tỏ lòng kính trọng đối với PNVN và các liệt nữ đã hysinh cho Tổ quốc: " Nhân dịp 8/3, tôi kính cẩn nghiêng mình trớc linh hồn cácnữ liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc Tôi kính chào các bà mẹ có con trong bộ đội
và các bà mẹ cùng vợ con của các liệt sĩ… tôi và Chính phủ rất biết ơn các
cụ, các bà" [23, tr 28]
Chủ nghĩa thực dân cũ của đế quốc Pháp bị chôn vùi ở Đông Dơng.Thất bại trong âm mu quốc tế hóa và kéo dài cuộc chiến tranh Đông Dơng, vớichính sách "lấp chỗ trống" của Tổng thống Aixenhao, ngời Mỹ đã nhảy vàothay thế, hòng biến miền Nam Việt Nam và Đông Dơng thành thuộc địa kiểumới của chúng CMVN lại đứng trớc những thử thách, khó khăn Phát huythành quả đạt đợc, Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh lại động viên cả
DT, trong đó có PN vào trận tuyến đấu tranh."Đội quân tóc dài" đã là một lựclợng đợc Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm Ngời vừa khẳng định những thànhtích của phụ nữ hai miền,vừa khích lệ động viên chị em rất kịp thời, đúng lúc
và cụ thể, không quên, không bỏ sót, không chung chung, đa phụ nữ vào trậntuyến đấu tranh với niềm tin thắng lợi Nh sự tiếp nối của quá khứ với hiện tại,phản đối chiến tranh đâu phải cùng con "đi hóa đá", mà bằng niềm tin sắt đávào sức mạnh của mình, "Đội quân tóc dài" của đất "Thành đồng" lại cùng chồngcon vào trận mới Họ đã đem hết khả năng và tài sáng tạo của mình để phục vụcách mạng, không hề có sự toan tính cá nhân, đợc mất, sống chết, chịu hy sinh,thiệt thòi mà vẫn mãn nguyện Từ trong máu lửa, nhiều tấm gơng sáng chói đãxuất hiện, tiêu biểu là các nữ anh hùng: út Tịch, Tạ Thị Kiều, Kan Lịch; Lê ThịHồng Gấm, Mời Lý… Đằng sau song sắt bạo tàn của nhà tù đế quốc, nhiềuchị đã làm kẻ thù hoặc run sợ hoặc khâm phục mà chị X; chị Y; chị Võ ThịThắng mãi chói sáng trong sử vàng của lịch sử phụ nữ Việt Nam Trong lớp
Trang 26lớp PNVN anh hùng ấy, chị Nguyễn Thị Định đã là Hội trởng Hội Liên hiệpphụ nữ miền Nam, phó Tổng t lệnh quân giải phóng MNVN Chủ tịch Hồ ChíMinh đặc biệt tự hào: " Phó tổng t lệnh quân giải phóng là cô Nguyễn Thị
Định Cả thế giới chỉ có nớc ta có vị tớng quân gái nh vậy Thật là vẻ vang chomiền Nam, cho cả DT ta" [23, tr 61] Thế rồi, tại Hội nghị Pari (1969-1973),một ngời PNVN khác đã để lại sự khâm phục và ấn tợng rất tốt cho ND quốc
tế bởi thiện chí hòa bình cùng trí tuệ và tài ứng xử thấm đẫm chất văn hóasang trọng của nền văn minh Lạc Hồng và chủ nghĩa nhân văn cao cả ViệtNam Ngời PN đó là Bộ trởng Ngoại giao Chính phủ CM lâm thời CHMNVNNguyễn Thị Bình Sau này, ở cơng vị Chủ tịch hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam,rồi Phó Chủ tịch nớc CHXHCNVN, các bà vẫn phát huy đợc phẩm chất củamình, góp phần cùng chị em phụ nữ Việt Nam viết thêm vào sử sách RồngTiên những trang hào hùng nhất Họ xứng đáng với kết luận trân trọng của HồChí Minh: " Nh thế là từ xa đến nay, từ Nam đến Bắc, từ trẻ đến già, PNVN tathật anh hùng" [23, tr 62] và 8 chữ vàng "anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm
đang" mà Ngời đã tặng họ
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng hết sức đề cao vai trò ngời PN ở hậu
ph-ơng- một nhân tố thờng xuyên quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến Phụnữ ở hậu phơng phải chịu bao gian nan vất vả, vừa phải tăng gia sản xuất để
đảm bảo cuộc sống và cung cấp cho tiền tuyến, vừa phải đảm đang công việcgia đình cho chồng, con đi đánh giặc, vừa phải nuôi dạy con cái, đủ khả năngtiếp bớc con đờng cách mạng của cha anh Chị em phải chịu đựng thiếu thốn,mất mát về tình cảm vợ - chồng, mẹ - con, anh -em Biết bao bà mẹ, ngời vợ
đã hiến dâng cho Tổ quốc những ngời thân yêu nhất của mình và âm thầmchịu đựng thiệt thòi do hoàn cảnh éo le của thời chiến cũng nh hậu chiến Quýtrọng, khâm phục, biết ơn những bà mẹ, ngời vợ Việt Nam, Hồ Chí Minh nhậnthức sâu sắc, mỗi chiến công của quân dân trên cả 2 miền đều thấm đẫm mồhôi, nớc mắt và cả máu của họ Họ xứng đáng là anh hùng của những anhhùng đất Việt Chính vì vậy, Ngời không chỉ nhắc nhở cả xã hội phải biết ơncác bà mẹ ở hai miền Nam – Bắc, đã sinh ra và nuôi dỡng những ngời con u