1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình tượng người phụ nữ trong truyện thơ mường về đề tài tình yêu

62 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hình Tượng Người Phụ Nữ Trong Truyện Thơ Mường Về Đề Tài Tình Yêu
Tác giả Nguyễn Thị Thỏa
Trường học Trường ĐHSP Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại báo cáo khoa học
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 82,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả Hoàng Anh Nhân đã đưa ra lời nhận xét tổng hợp về thể loạitruyện thơ như sau:“Cũng giống như văn học dân gian các dân tộc anh emtrên đát nước ta, một truyện thơ dân gian Mường cũ

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1Cộng đồng các dân tộc Việt Nam gồm 54 dân tộc anh em hình

thành trong quá trình lâu dài dựng nước và giữ nước.Nền văn hoá Việt Nam

do đó là nền văn hoá đa dân tộc

Xác định tầm quan trọng của công tác văn hoá văn nghệ hiện nay, tạiĐại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ IX, Đảng ta

đã xác định một lần nữa phương hướn “xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm

dà bán sắc dân tộc”.[21;114] Tiếp tục khai thác và phát triển mọi sắc thái vàgiá trị văn hoá nghệ thuật của các dân tộc trên đất nước t, tạo ra tính thốngnhất trong đa dạng và phong phú của nền văn hoá Việt Nam-Đó là một địnhhướng đúng đắn mang tính chiến lược mà đảng ta đã xác định tại Đại hộiĐảng lần thứ VII

1.2 Một trong những sắc thái văn hoá và giá trị nghệ thuật của các

dân tộc trên đất nứoc ta phải kể đến đó là gí trị to lớn của vốn văn học dângian cổ truyền của mỗi dân tộc thiểu số mà truyện thơ là thể loại tiêubiểu.Đây không chỉ là một thể loại văn học dân gian tiêu biểu mà còn là hìnhthức sinh hoạt văn hoá văn nghệ vừa cổ truyền lại vừa hiện đại được nhândân các dân tộc đều yêu thích

1.3 Là một dân tộc có số lượn lớn thứ hai cả nước dân tộc mường

được biết đến như là một trong những chủ nhân của nền van hoá Hoà Bìnhnổi tiếng.Truyện thơ Mường không lớn về số lương nhưng lại hết sức phongphú về nội dung.đặc sắc về nghệt thuật.Chúng đề cập đến nhiều mặt trongcuộc sống các dân tộc anh em.Đề tài chủ yếu là tình yêu nam-nữ.Người ta bắtgặp ở đây những xúc cảm thẩm mỹ tinh tế của người Mường mà đặc biệt làhình tượng người phụ nữ trong truyện thơ

Ngoài việc tái hiện lại đời sống hiện thực của xã hội Mường cổ truyềnthì truyện thơ còn thể hiện quá trình phát triển của xã hội, tộc người, những

Trang 2

truyền thống văn hoá đạo lý, phong tục tập quán trải qua nhiều thế kỷ đã làmnên bản sắc văn hoá riêng của mỗi dân tộc

1.4 Về truyện thơ mường cho đến nay vẫn chưa có một công trình

nghiên cứu chuyên biệt mặc dù đã có một số công trình tạo tiền đề như: “Vănhọc các dân tộc thiểu số” (Phan Đăng Nhật, nhà xuất bản văn hoá Hà Nội,1981) ; “Văn học dân gian các dân tộc ít người” (Võ Quang Nhơn, NXB Đạihọc và THCN, 1983) ; “Đặc điểm thi pháp truyện thơ các dân tộc thiểu số”(Luận án tến sĩ ngữ văn của Lê Trường Phát) và một số luận văn thạc sĩ khácnữa

1.5 Kho tàng văn học dân gian Mường có một số truyện thơ Đến nay

đã công bố và in thành sách một số tác phẩm như: Út Lót- Hồ Liêu, NàngNga -Đạo Hai Mối, Nàng Ờm- chàng Bồng Hương; Vườn hoa núi Cối

Trong đó truyện thơ Nàng Ờm –Chàng Bồng Hương được đánh giá làtiêu biểu hơn cả và có những nét độc đáo riêng so với các truyện thơ cònlại.tác phẩm này nổi trội không chỉ là ở vấn đề mà tác phâm đề cập có tínhphổ quát mà còn là nghệ thuật của nó vượt lên trên nhiều tác phẩmkhác.Truyện man màu sắc cổ tích ở kết thúc có hậu của câu truyện tình yêuchàng trai và cô gái mặc dù bị cha nẹ ngăn cấm phải tự gải thoát bằng cáichết song khi sang thế giới bên kia họ vãn được chung sống bên nhau “nênnhà nên cửa” ở núi Làn Ai

1.6 V.Lênin nói rằng: “Nhận thức về phụ nữ, thái độ đối với phụ nữ là

một trong những thước đo trình độ văn hoá, văn minh của một dân tộc”

Quan điểm của Đảng ta cũng chỉ rõ:Phụ nữ là người lao động, là ngườicông dân, vừa là người mẹ, người thầy đầu tiên của con người.Khả năng vàdiều kiện lao động, trình độ vă hoá, vị trí xã hội, đời sống vật chất và tinhthần của người phụ nữ có ảnh hưởng sâu sa đến sự phát triển của thế hệtương lai.Vì vậy phải xem giải phóng phụ nữ là một mục tiêu và nội dungquan trọng của công cuộc đổi mới và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ởnước ta” [11;272]

Líp: K58G - Khoa Ng÷ v¨n Trêng §HSP Hµ Néi

Trang 3

Những vấn đề thời sự mà Đảng và Nhà nước ta đặt ra hôm nay thực sự

là ước mơ khát vọng của nhân dân ta từ ngàn đời nay.Có điều dưới chế độ xãhội phong kiến, sức mạnh của tư tưởng chính thống Nho giáo “trọng namkhinh nữ” đã đè bẹp những ước mơ khát vọng đó.Mảnh đất duy nhất cònươm những chồi xanh khát vọng đó của ông cha ta xưa đó là nền văn hoá –văn học dân gian

Cũng như văn học dân gian các dân tộc anh em, văn học dân gianMường thể hiện một thái độ cảm thông, trân trọng, một tinh thần nhân vănsâu sắc đối với ngưới phụ nữ.Đặc biệt là trong mảng truyện thơ về đề tài tìnhyêu và được biểu hiện tập trung nhất, sâu sắc nhất, có giá trị nhất kết tinhtrong hình tượng Nàng Ờm trong truyện thơ Nàng Ờm –Chàng Bồng Hương

Cùng với cơ sở khoa học khách quan trên thì bản thân người viết cũng

là con em đồng bào các dân tộc thiểu số, sinh ra và lớn lên trên quê hươngcủa truyện thơ nổi tiếng này, do đó mà từ nhỏ người viết đã được tiếp cận vớitruyện thơ này và hiểu được giá trị của nó, đồng thời xuất phát từ lòng cảmthông sâu sắc đối với người phụ nữ trong tình yêu cho nên người viết đã chọnvấn đề này để nghiên cứu

2 Lịch sử vấn đề

Trong những thập niên gần đay việc cho ra đời và công bố hàng loạttruyện thơ của các dân tộc thiểu số ắt hẳn không phải là một hiện tượng ngẫunhiên Rõ ráng sự xuất hiện của chúng là có tính chất quy luật phổ biến, vớinhững nhu cầu khách quan và theo những những diều kiện lịch sử xã hội

Với khuôn khổ một báo cáo khoa học của sinh viên, ngưòi viết không

có điều kiện đẻ giới thiệu hết quá trình sưu tầm và biên dịch, phân tích cácvấn đè thuộc thể laọi truyện thơ m, à chỉ xem xét lịch sử nghiên cứu truyệnthơ Mường với tư cách là từng tác phẩm riêng lẻ và dặc biệtnghiên cứu ởphương diện hình tượng người phụ nữ

Trang 4

2.1 Lần đầu tiên năm 1963, hai nhà sưu tầm Hoàng Anh Nhân và

Minh Hiệu đã giớ thiệu tập “Truyện thơ mường” gồm 4 truyện: Út Lót-HồLiêu ; Nàng Nga- Hai Mối ;và Nàng Con Côi

Năm 1986, các tác giả lại cho giới thiệu một lần nữa trong “Tuyển tậptruyện thơ Mường”.Trong tuyển tập lần này ngoài 4 tác phẩm được chỉnh lý

và giớ thiệu lại, nhà nghiên cứu Hoàng Anh Nhân còn xếp văn bản “Đẻ đất

đẻ nước vào vị trí đầu tien của thể laọi truyện thơ Mưòng.Nhưng thực ra tácphẩm này thuộc thể laọi sử thi được dùng dưới hình thức văn vần của cácroóng, mo cúng người chết, ghi lại lịch sử hình thành và phát triển của cộngđồng Mường

Tác giả Hoàng Anh Nhân đã đưa ra lời nhận xét tổng hợp về thể loạitruyện thơ như sau:“Cũng giống như văn học dân gian các dân tộc anh emtrên đát nước ta, một truyện thơ dân gian Mường cũng là một bài ca về chủnghĩa nhân đạo v0ứ các dang vẻ khác nhau.Đó là sự đòi hỏi quan hệ trongsáng giữa con ngưòi với con người, quyền đựoc yêu chính đáng không có sự

ép uổng lẫn nhau.Đó cũng chính là sự quan tâm, giúp đỡ, che chở cho nhữngcon người bất hạnh và lên án cái tàn bạo, trái ngược với tình ngườiCái thiện,cái đẹp nhiều khi gặp khó khăn, trắ trở nhưng cuối cùng vãn vượt lên đượccái ác, thắng được cái xấu xa” [11;85;86] và mỗi tác phẩm “Nó còn thể hiệnrất rõ ràng những ước vọng những ước mơ chân chính và cũng rất giản đơncủa con người:Được tự do yêu đương, xây dựng hạnh phúc” [25;187]

Năm 1973, nhà sưu tầm Đinh Văn Ân đã dịch và giớ thiệu truyện thơ

“Đang vần va” (vườn hoa núi cối) và trong lời giới thiệu tác giả đã đánh giátác phẩm này là một truyện thơ đặc sắc nhất của người Mường vùng Phù Yên–Sơn La và Văn Chấn- Yên Bái

Tong quá trình điền dã thực tế ông đã cho biết ngưòi Mường ở YênBái vốn ở vùng Thu Cúc, Thanh Sơn, Phú Thọ di cư lên vào khoảng cuối thế

kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, mang theo cả vốn văn hoá, văn học dân gian của

Líp: K58G - Khoa Ng÷ v¨n Trêng §HSP Hµ Néi

Trang 5

dân tộc mình.Ông cũng cho biết ông đã đến vùng Thu Cúc, Thanh Sơn, PhúThọ để tìm ra mối quan hệ của tác phẩm nhung chưa tìm được.

2.2 Năm 1973, nhà sưu tầm Đinh Văn Ân đã dịch và giới thiệu tác

phẩm truyện thơ “Đang vần va” (Vườn hoa núi cối) và trong lời giới thiệu tácgiả đã đánh giá tác phẩm này:Đang vần va là một truyện thơ đặc sắc nhất củangười mường vùng Phù Yên-Sơn La và Văn Chấn –Yên Bái

Trong quá trình điền dã thực tế ông cho biết người mường ở vùng YênBái vốn ở vùng Thu Cúc, Thanh Sơn, Phú Thọ di cư lên vào khoảng cuối thế

kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, mang theo cả vốn văn hoá văn học dân gian củadân tộc mình.Ông cũng cho bết đã đến vùng Thu Cúc, Thanh Sơn, Phú Thọ

để tìm ra mối quan hệ của tác phẩm nhưng chưa thành

2.3 Năm 1981, nhà nghiên cứu Phan Đăng nhật đã công bố công trình

“văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam (nhà xuất bản văn hoá 1981) Theotác giả văn học các dân tộc thiểu số chia làm 3 loại:Văn học hát, văn học kể

và văn học nói.Chính sự kết hợp này đã tạo nên thể loại truyện thơ.Tác giảcũng phân loại truyện thơ thành các loại:truyện thơ về sự nghèo khổ, truyệnthơ chính nghĩa và truyện thơ về đề tài tình yêu.Công trình nghiên cứu này

đã mõ đầu cho sự nghiên cứu về văn học dân gian các dân tộc ít người nóichung và truyện thơ nói riêng các giai đoạn về sau

2.4 Năm 1983, tác giả Võ Quang Nhơn đã công bố công trình “văn

học dân gian các dân tộc ít người Việt Nam” (NXB Đại học và THCN) tácgiả đã giải quyết một cách hệ thống các vấn đề về loại hình, thể loại của khotàng văn học dân gian các dân tộc ít người giúp cho người nghiên cứu nhậnthức hơn về giá trị tiềm năng của văn học dân gian các dân tộc ít người ởViệt Nam

2.5 Năm 2003, luận án phó tiến sĩ của Lê Trương Phát với đề tài “Đặ

điểm thi pháp của truyện thơ các dân tộc ít người”.Đây là công trình khoahọc mang tính chuyên sâu đầu tiên về thể loại truyện thơ các dân tộc thiểusố.Tác giả đặt truyện thơ là một sản phẩm văn học đặc trưng của nền văn học

Trang 6

Đông Nam Á và trên cơ sở đó chỉ ra những nét đặc trưng của truyện thơ cácdân tộc thiểu số

2.6 Và gần đây nhất là luận văn thạc sĩ Ngữ văn của Đinh Đức Giang

với đề tài “Hình tượng người phụ nữ trong truyện thơ Mường về đề tài tìnhyêu”.Tác giả đã nghiên cứu mảng truyện thơ về đề tài tình yêu trong đó cótruyện thơ Nàng Ờm- Chàng Bồng Hương để thấy được những nét chungnhất về dặc điểm của người phụ nữ.Tuy nhiên tác giả chỉ tập chung nghiêncứu người phụ nữ ở phương diện tình yêu để làm nổi bật khát vọng tình yêucủa con người vươn tới cuộc sống hạnh phúc và ý thức chống lại pgong tục

cổ của xã hội Mường dưới chế độ phong kiến để bảo vệ tình yêu.Có nghĩa klàcông trình nghiên cứu chủ yếu khai thác thế giới nội tâm của nhân vật ngườiphụ nữ

Qua nhìn nhận lại toàn bộ các công trình nghiên cứu của các tác giảnghiên cứu chuyên sâu về văn học dân gian các dân tộ thiểu số, chúng tôinhận thấy:Về truyện thơ Mường cho đến nay vẫn chỉ dừng lại ở những trangviết khiêm tốn, tuy có công trình đề cập tới nhưng cũng lại đăt trong tổngquan chung về truyện thơ.thực tế đòi hỏi phải có công trình nghiên cứutruyện thơ Mường với tư cách là một thể loại trong văn học dân gian Mườngnói riêng và trong nền văn học dân gian các dân tộc thiểu số nói chung

Với tinh thần ấy, trong báo các khoa học này, người viết chỉ đi sâunghiên cứu về một hình tương nhân vật người phụ nữ trong một truyện thơtiêu biểu –Nàng Ờm để thấy được những tư tưởng nhân văn mà dân tộcMưòng gửi gắm qua truyện thơ và đồng thời xác lập đặ điểm chung về cácnhân vật nữ trong truyện thơ khác nhau của người Mường

Với tất cả sự nỗ lực của cá nhân người viết và điều kiên cho phép ngườiviết hy vọng sẽ góp một phần nhỏ vào quá trình nghiên cứu truyện thơ Mườngvới tư cách là một thể loại văn học dân gian, góp phần thoả mãn nhu cầu thưởngthức và nghiên cứu truyện thơ Mường hôm nay và mai sau

Líp: K58G - Khoa Ng÷ v¨n Trêng §HSP Hµ Néi

Trang 7

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1Đối tượng nghiên cứu

Kho tàng truyện thơ của các dân tộc thiểu số đồ sộ về số lượng vàphong phú về đề tài thhể hiện.Nhưng riêng truyện thơ Mường sưu tầm đượccho đến nay cũng chỉ dừng lại ở hai đề tài là đề tài về tình yêu và đề tài về sốphận người mồ côi.Mỗi đề tài có một kiểu nhân vật đặc trưng riêng của nó,song đặc biệt nhất là hình tượng người phụ nữ.Người phụ nữ luôn giữ vị trítrung tâm trong cả hai mảng đề tài trên

Nhưng trong báo cáo này người viết chỉ đi sâu nghiên cứu một hìnhtượng nhân vật nữ được xem là tiêu biểu nhất, đặ sắc nhất mang những nếtkhái quát chung của cả hệ thống nhân vật nữ trong một truyên thơ –Hìnhtượn nàng Ờm trong truyện thơ Nàng Ờm –Chàng Bồng Hương căn cứ vàovăn bản sưu tầm, biên dịch và giới thiệu của một số tác giả đặc biệt là hai tácgiả Hoàng Anh Nhân và Minh Hiệu trong cuốn “Truyện thơ Mường” (tuynhiên trong quá trình nghiên cứu người viết không chỉ nghiên cứu đề tài nàyriêng biệt trong thể loại truyện thơ bởi “truyện thơ hình thành trên cơ sởnhững thành tựu của thể loại dân ca và truyện cổ tích.Nhưng tuỳ từng trườnghợp cụ thể mà nổi bật lên hàng đầu vai trò của ca dao hay truyện cổ trong sựhình thành tác phẩm” [14;91] Trong quá trình tìm hiểu người viết nhận thấytruyện thơ Nàng Ờm- Chàng Bồng Hương đã sử dụng khá nhuần nhuyễn vốndân ca cổ truyền vào xây dựng kết cấu truyện thơ Chính vì vậy mà trong báocáo này người viết sẽ sử dụng cả tư liệu về dân ca của người Mường đẻ làmsáng rõ hơn những nhân định của bản thân

Trang 8

- Tập hợp thống kê các văn bản kể liên quan đến truyện thơ Nàng

Ờm –Chàng Bồng Hương của người Mường để khảo sát phân tích

- Tục ngữ dân ca Mường Thanh Hoá (Minh Hiệu) Nhà xuất bản vănhoá dân tộc (1999)

4 Mục đích nghiên cứu.

Người viết nghiên cứu đề tài này nhằm làm sáng tỏ những vấn đề sau:

- Làm rõ những đặc điểm về hình tượng người pự nữ trong truyện thơNàng Ờm- Chàng Bồng Hương và đẻ từ đó khái quát những đặc điểm hìnhtưọng người phụ nữ trong các truyện thơ khác

- Tìm hiểu thêm và nâng cao hiểu biết về văn học dân gian Mườngnói chung và truyện thơ Mường nói riêng

- Hiểu sâu hơn về văn hoá truyền thống của dân tộc Mường

5 Phương pháp nghiên cứu.

Người viết sử dụng phương pháp nghiên cứu văn học kết hợp vớinghiên cứu một hiện tượng văn hoá nói chung.Qua đó làm nổi bật một dạngnhân vật độc đáo mang tính nghệ thuật dân gian

- Sử dụng phương pháp so sánh loại hình giữa truyện thơ và dân ca,truyện cổ Mường trong sự thể hiện một đề tài

- Phương pháp điền dã dân gian

- Phương pháp thống kê phân loại được sử dụng trong quá trình phânloại văn bản và tổng hợp số liệu

- Ngoài ra khi tiến hành nghiên cứu người viết còn sử dụng một sốphương pháp như: phân tích, tổng hợp, quy nạp…

6 Những đóng góp mới của báo cáo.

Qua kết quả nghiên cứu người viết có thể mang đến sự quan tâm, chú ýnhiều hơn của người đọc đến truyện thơ “Nàng Ờm –Chàng BồngHương”

Đồng thời đây là công trình đầu tiên nghiên cứu truyện thơ về phươngdiện một hình tượng người phụ nữ trong một tác phẩm với tư cách là một tác

Líp: K58G - Khoa Ng÷ v¨n Trêng §HSP Hµ Néi

Trang 9

phẩm riêng lẻ không đặt trong hệ thống truyện thơ sẽ ít nhiều gợi ra nhữngvấn đề cần phải nghiên cứu tiếp.

Bên cạnh đó người viết cũng muốn góp phần cho người đọc thấy đượcnhững giá trị trong văn hoá trưyền thống dân tộc Mường cần phải phát huy

7 Cấu trúc của báo cáo.

Báo cáo gồm có 65 trang Trong đó

- Phần mở đầu:13 trang và kết luận 2 trang

- Nội dung của báo cáo gồm các chương:

Trang 10

B PHẦN NỘI DUNG

Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

I Tổng quan về người mường xứ Thanh.

1 Vài nét về địa bàn cư trú.

Dân tộc mường là một thành viên của đại gia đình 54 dân tộc ViệtNam.Người mường phân bố trên một không gian văn hoá rộng từ Sơn La,Phú Thọ, Sơn Tây, Hoà Bình đến Nghệ An.Trong đó người mường ở ThanhHoá chiếm số lượng đông hơn cả (khoảng trên ba trăm nghìn người)

Ngưòi Mường ở Thanh Hoá sinh sống chủ yếu ở các huyện:Ngọc Lặc,Lang Chanh.Thạch Thành, cẩm Thuỷ, Bá Thước

Người Mương ở nhà sàn, sống tụ cư ở các bản Mường trong các thunglũng, gần con nước cho nền kinh tế của họ là nông nghiệp tự cung tựcấp.Thiên nhiên hùng vĩ với những ưu ái của núi rừng, đất đai trải qua các thế

hệ xây dựng bản mường và sức lao động sáng tạo, người mường đã tạo nênmột địa vực cư trú ổn định để làm ăn sinh sống, và một nền văn hoá độc đáo,riêng biệt

2 Đời sống vật chất

Cuộc sống của người ở Thanh Hoá nói chung là theo phương thức tự cung

tự cấp.Họ sống chủ yếu dựa vào rừng, núi và nương rẫy.Lấy nông nghiệp làmkinh tế chính nên lương thực của họ chủ yếu là ngô, khoai sắn.Đồng thờitrong quá trình phát triển kinh tế, họ cũng xây dưng các công trình thuỷ lợi vàtích luỹ kinh nghiệm sản xuất

Ngoài ra họ còn một số nghề như chăn nuôi, thủ công để phụ thên cho kinh

tế gia đình.Đời sống vật chất của người mường đã ảnh hưởng đến đời sốngvăn hoá, tinh thần và liên quan chặt chẽ đến quan niệm sống của họ trongmọi thời đại

Líp: K58G - Khoa Ng÷ v¨n Trêng §HSP Hµ Néi

Trang 11

3 Đời sống tinh thần.

3.1 Tôn giáo tín ngưỡng.

Thế giới tâm linh của người Mường là quan niêm về vũ trụ ba tầng, bốn thếgiới Ba tầng là:Tầng trần gian, tầng trời cao, tầng trời thấp.Bốn thế giớilà:Thế giới Mường Ma, thế giới Mường Người, thế giới Mường Trời thấp vàthế giới Mường Trời cao Họ quan niệm rằng con người chết đi sang thế giớibên kia là mường Ma

Hoạt động thờ cúng của người mường khá đơn giản.Các mường giáp vớimiền xuôi thì thờ thành hoàng làng, có đình.chùa Các mường ở xa khôngxây dựng đền, miếu, nhà thờ, quán sở theo quy mô

3.2 Văn học dân gian.

Với dân số đông thứ hai trong tỉnh, đồng thời lại là chủ nhân của nềnvăn hoá nổi tiếng, người mường đã góp phần không nhỏ vào kho tàng chungcủa nền văn hoá Việt nam

Tuy chưa có chữ viết nhưng ngôn ngữ của ngưòi Mương mang tínhthống nhất về căn bản và ngưòi mườn có một nền văn học dân gian truyềnmiệng phong phú.Đó là:Một số truyện thơ dài, truyện cổ, các loại ca dao, dân

ca, tục ngữ, kho tàng văn học cổ ấy cho đến nay mới được khai thác mộtphần nhỏ

Người mường Thanh Hoá có những truyện thơ dài tới vài nghìn câu, cónhững truyện có kết cấu hoàn chỉnh, nhiều kịch tính phản ánh nhữngmâu thuẫn lớn trong xã hội mường xưa Qua những tác phẩm ấy người

ta có thể hiểu được nhiều mặt trong đời sống xã hội mường

Sau cách mạng tháng Tám đến nay người ta đã sưu tầm và giưói thiệuđược một số thể loại tiêu biểu như:

- Sử thi

- Truyện cười

- Xường trai gái

Trang 12

4 Quan niệm về người phụ nữ và vai trò, vị trí của người phụ nữ trong đời sống gia đình và đời sống xã hội.

4.1 Trong đời sống gia đình.

Gia đình Mường cổ truyền vốn là gia đình mang tính chất phụ hệ, giatrưởng, người đàn ông (người chủ gia đình) có vai trò quan trọng, cóquyền quyết định mọi công việc quan trọng và trong quan hệ với vớilàng xóm, họ hàng.Mọi tài sản trong gia đình đều do người đàn ông quản

lý, chỉ có con trai trong gia đình mới có quyền thừa kế tài sản

Người phụ nữ không có quyền hành gì lớn mà phải chịu sự quản lí củagia đình, cha mẹ, không được tham gia vào việc phân chia tài sản củacha mẹ.Trong gia đình ngưòi phụ nữ hầu như không được đặt chân đếngian thờ (gian chính) mà giành chỗ ấy choi người đàn ông

Mặc dù có dịa vị thấp nhưng người phụ nữ lại có vai trò vô cùng quantrọng.Họ là người đóng góp nhiều mặt vào việc tạo lập kinh tế giađình.Ngoài việc phụ trợ cho người đàn ông trong lao động sản xuất thì

họ còn phải làm nhiều việc nhà như: Trồng bông, dệt vải, đan lát, khâuvá…mặc dù bị phân biệt, đối xử nhưng nổi bật lên ở người phụ nữ đó làtính cần cù, chịu khó, khéo léo và tinh tế trong lao động, chấp nhận vị trícủa mình trong sự phát triển chung của gia đình hướng tới tương lai

4.2 Trong đời sống xã hội.

Quan niệm của xã hội Mường cổ có phần khăt khe khi đánh giá vềngười phụ nữ, xã hội Mường có những quy định cụ thể đối với ngưòiphụ nữ:cụ thể như: Luật “Thu Luyk” (thu Lụt) áp dụng cho những giađình không có con trai thì sau khi cha mẹ chết đi thì toàn bộ ruộng đất,công cụ lao động sẽ bị nhà lang thu giữ

Ngoài ra còn có luật phạt hoang thai đối với người phụ nữ

Những quy định phức tạp vế hôn nhân tốn kém mang tính chất muabán.người phụ nữ bị xem như một món hàng để cho cha mẹ định giá.Vìthế khi về nhà chồng người phụ nữ phải chấp nhận địa vị thấp kém.Líp: K58G - Khoa Ng÷ v¨n Trêng §HSP Hµ Néi

Trang 13

5 Tiểu kết.

Từ tất cả những điểm đã trình bày ở trên người viết nhận thấy người phụ

nữ trong xã hội mường cổ có địa vị thấp trong đời sống gia đình và đời sống

xã hội là do: Mô hình gia đình phụ hệ và quan niệm:

- “Con gái là cái bòn” [52;13]

- “Con gái ra khỏi ngõ là họ nhà người”[52;13]

Thứ hai là do hủ tục nặng nề trong việc cưới xin

Thứ ba là do quan niệm lấy vợ cho con trai cũng là lấy người lao động chonhà mình do đó khi về nhà chồng người phj nữ phải lao động cật lực cũng làđiều dĩ nhiên

I Hình tượng người phụ nữ trong văn học Mường xứ Thanh.

Hình tượng người phụ nữ trong văn học dân gian mường được xây dựng

và hoàn thiện dần dần qua các thể loại

1 Thể loại truyện cổ tích

Cũng như các dân tộc anh em, người xứ Thanh đã sáng tạo cho mình mộtthế giới những câu truyện cổ tích xung quanh những yếu tố đơn lẻ có thựctrong cuộc sống và gắn với các sự tích

Trong báo cáo này, người viết đã tiến hành khảo sát một số truyện cổtích:Chàng Sáo- Nàng Hoa; Sự tích núi Bưa Phi ; Chàng Đá Rộc và nàng VinVưng ;Hoàng tử Dím và nàng Hơn ;chàng Khun Lỗ và nàng U Tiêm

Người viết nhận thấy rằng các câu truyện cổ tích này không đi sâu vàotừng nhân vật.Hình tượng người phụ nữ được miêu tả khá đơn giản và kháiquát về các trạng thái tình cảm diễn ra trong diẽn biến tình cảm của họ.Điều

đó đựơc giải thích bởi đặc điểm của nhân vật truyện cổ tích là nhân vật chứcnăng, nhân vật dẹt

Người phụ nữ trong truyện cổ tích không được miêu tả sâu sắc ở khía cạnhnội tâm nhân vật, tuy nhiên ta cũng không thể phủ nhận phẩm chất tốt đẹp ởngười phụ nữ- lòng chung thuỷ

Trang 14

Truyện cổ tích chỉ kể lại hành động, sự kiện diễn ra đối với nhân vật chứkhông đi sâu “mổ xẻ” tâm lí của nhân vật diễn ra với nhân vật ra sao.Các nhànghiên cứu văn học dân gian giải thích hiện tượng đó là do yêu cầu của thứvăn xuôi truyền miệng cần ngắn gọn, để tiện nhớ, tiện nắm cốt truyện và dễ

kể lại.Vì lẽ đó cho nên hình tượng người phụ nữ chưa được hiện ra với tất cả

vẻ đẹp của đời sống tình cảm ở họ.Phải đến dân ca thì hình tượng người phụ

nữ mới có những bước tiến trong thuật xây dựng hình tương nhân vật

2 Thể loại dân ca.

Là một bước tiến so với truyện cổ tích, hình tượng người phụ nữ trong dân

ca được thể hiện đầy đủ hơn, đặc biệt là đời sốg nội tâm phong phú và sâusắc đã giúp cho chung ta thấy rõ thân phận người phụ nữ với những ước mơ

và khát vọng đầy giá trị nhân văn

Tuy nhiên, với đặc điểm của thể loại dân ca, hình tượng người phụ nữ chưahiện ra trọn vẹn với một kết cấu nội dung với nhiều chi tiết, tình tiết cụthể.Mà đó mới đang dừng lại ở trạng thái tình cảm của họ trong từng hoàncảnh cụ thể.Cho nên một hạn chế của thể loại dân ca là tính phiếm chỉ và tínhước lệ vẫn là một điểm chung của thể loại dân ca.Song qua đời sống nội tâmcủa nhân vật ta thấy nổi bật lên với những phẩm chất tốt đẹp:Giàu tình yêu,chung thuỷ, sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, thử thách với khát vọng vươnlên môtl cuộc sống tốt đẹp, tự do hạnh phúc do mình tạo nên

Tiểu kết.

Như vậy qua nghiên cứu so sánh với tác phẩm thuộc hai thể loại truyện cổtích (tự sự) và dân ca (trữ tình) về đề tài tình yêu, chúng tôi nhận thấy rằng: Hình tượng người phụ nữ trong văn học dân gian mương cổ truyền đựocxây dựng theo từng bước di lên và phát triển của cộng đông mường.Các tácphẩm truyện cổ tích ra đời sớm trong lịch sử văn học dân gian, ngưòi phụ nữđược xây dựng theo quan niệm và kinh nghiệm xã hội và nhân vật thuộckieeur nhân vật chức năng thực hiện các chức nằng giải quyết các sụ kiện

Líp: K58G - Khoa Ng÷ v¨n Trêng §HSP Hµ Néi

Trang 15

mang tính giai cấp và phải đến thể loại dân ca thì hình tượng người phụ nữmới được phác hoạ tuy vẫn cón mang tính ứơc lệ về ngoại hình và diện mạo Trên cơ sở nền tảng dân ca, truyện thơ ra đời trên cơ sở kết hợp giữa hai yếu

tố tự sự và trữ tình.Nó đã kế thừa dân ca hình tượng nhân vật người phụ nữ,xây dựng và hoàn thiện một hình tượng nhân vật đặc sắc, phù hợp với nhucầu tình cảm thẩm mỹ, ước mơ khát vọng về cuộc sống hạnh phúc trong tâmhồn người dân đất mường

3 Truyện thơ nàng Ờm – Chàng Bồng Hương trong đời sống tình cảm của người dân Mưòng xứ Thanh.

1.1 Quá trình sưu tầm và biên dịch.

Truyện thơ Nàng Ờm –CHàng Bồng Hương là một trong những truyện thơ

có giá trị cua dân tộc mường.Truyện ra đời từ bao giờ không một ai biết rõnhưng có một điều chắc chắn rằng nó xuất phát từ vùng núi Làn Ai

Địa danh núi Làn Ai cách thị xã Thanh Hoá 150 cây số, dọc theo bờ sông

Mã về phía bắc đến Cành Nàng (bây giờ là xã Long Vân, huyện Bá Thước)giữa vùng rừng cây trùng điệp vươn lên một ngọn núi đánghiêng mình soibóng xuống dòng sông, núi ấy là núi Làn Ai, nay là núi Cành Nàng được coi

là quê hương của truyện thơ Nàng Ờm- Chàng Bồng Hương

Quá trính sưu tầm truỵên thơ này gặp rất nhiều khó khăn, cho dến nyngười ta đã sưu tầm được 19 văn bản kể liên quan đến truyện thơ nàỷơ cácbản mường của đồng bào các huyện:Thạch Thành, Ngọc Lặc, Bá Thước,Như Xuân, Cẩm Thuỷ, Lang Chánh …Dân tộc mườn không có chữ viết,tiếng nói ở mỗi vùng lại khác nhau cho nên đồng bào mương ơ các nơikhông hiểu hết tiếng nói của nhau Do đó mà các bản kể sưu tầm ở các nơikhông giống nhau.Chẳng hạn như đoạn tự thuật cuộc đời nàng Ờm, ngườiNhư Xuân kể:

-“Rằng thuở ấy năm đó

Khi em còn nên người

Tuổi em mới lên năm

Trang 16

Răn em còn trắng

Váy em mới bằng một păng

Bàn chân em bằng lá phay pháy

Bàn chân em mà lá me me.

Nhưng đại bộ phận các bản kể ở Bá Thước, Ngọc Lặc đồng bào lại kể:

Thuở ấy tuổi em lên mười lăm

Váy em mới bằng một păng

Hàm răng em còn trắng

Bàn chân em bằng lá phay pháy

Bàn tay em bằng lá muồng muồng”

Với cái chết của nàng Ờm, ở mỗi nơi kể cũng khác nhau.Đặc biệt bản kể ở

xã Minh Sơn (Ngọc Lặc) thì lại khác về căn bản.Theo đồng bào ở đây kể laithì nàng Ờm bị bố mẹ đánh chết ngay trên nhà.Đang cơn giận cha mẹ nàng

đã quẳng xác nàng qua cửa voóng xuống sân, Bồng Hương mơpí đem xácnàng lên núi Làn Ai chôn và sau đó thắt cổ chết theo.Khác hẳn với bản kể ở

Bá Thước, Như Xuân, Ngọc Lặc.Truyện ở các vùng này đều thống nhất rằngnàng Ờm bị đánh đập nhiều quá, cô em gái động lòng thương nên:

Em gái yêu lẳng lặng

Hình như nghe xót thương

Lấy chìa khoá trong lưng

Vội mở cửa con man

Trên trời mây quang

Gió lùa vào voóng ngang

Gió tạt sang voóng cái

Chân tay em tê dại

Liều mình quăng xuống sân

Trang 17

Anh ôm em ngang lưng [221;12]

Tuy nhiêm một điều thuận lợi cho người sưu tầm và biên dịch là hầu hết cácbản kể đều thống nhất ở cốt truyện, chỉ khác nhau ở những chi tiết phụ hoạctrong ngôn ngữ.Nhưng có điều trong 19 bản sưu tầm được có một điều làm

ta băn khoăn đó là chua tìm ra đoạn đầu bằng thơ.Mà cả 19 bản đều có đoạnđầu kể bằng văn xuôi với nội dung như sau: “Ngày xưa khi chàng BồngHương còn bé, một mình thơ thẩn trong rừng quýt, gặp bà mẹ nàng Ờm đitìm quýt vì bà có mang nên thèm của chua.Bà tìm mãi mới thấy một câyquýt ở giữa rừng, có mỗi một quả lại ở tít trên cao nên bà không thể trèo lênhái được, phải nhờ Bồng Hương lên hái hộ và hứa rằng nếu sau này bà sinhcon trai thì sẽ cho làm em Bồng Hương còn nếu sinh con gái thì sẽ cho làmvợ.Về sau bà sinh con gái.nhớ lời hứa Bồng Hương tìm đến nhưng bà mẹnàng Ờm dã bội ước vì bà chê chàng quá nghèo không xứng đáng làm rể bàrồi mới vào tiếp truyện thơ.Về điểm này theo suy luận thì có lẽ do quầnchúng nhân dân sáng tạo ra cho truyện có đầu có đuôi và phát triển hợplôgic, hấp dẫn

Tác giả Hoàng Anh Nhân và Minh Hiệu sau khi sưu tầm được 19 bản kể

đã tiến hành so sánh đối chiếu để bước đầu chỉnh lí và biên dịch một văn bản

đã được lưu hành phổ biến nhất từ trước cho đến nay Và truyện thơ Nàng

Ờm –Chàng Bồng Hương được các tác giả giới thiệu trong cuốn “truyện thơMưòng”, xuất bản năm 1963 do nhà xuất bản Văn học xuất bản cùng với cáctruyện thơ khác như: Út Lót -Hồ Liêu ; Nàng Nga – Hai Mối và Nàng ConCôi

3.2 Nội dung truyện.

Truyện thơ Nàng Ờm- Chàng Bồng Hương kể về câu truyện tình đày xúcđộng của đôi trai gái Mường:Nàng Ờm với chàng Bồng Hưong -Một cô gáisinh ra trong một gia đình lang đạo giàu có với một chàng trai nghèo.Haingười gặp nhau, quen nhau từ khi nàng “mới tuổi mười lăm” và chàng BồngHương thì “trai tơ vừa tuổi”

Trang 18

Em đi chơi bản trên

Anh cũng lên bản trên

Em xuống chơi bản dưới

Anh cũng xuôi bản dưới [221;12]

Và thế rồi tình cảm nảy sinh giữa đôi bạn trẻ “anh đã mến đã thưong đã yêucùng nhớ” –“em đã thương anh rồi, khi xa nhau nghe nhớ, lúc vắng nhaunghe thương” và họ quyết tâm sẽ cùng nhau “nên cửa nên nhà”.Hai người hò

hệ, yêu đương và rồi phải “tìm lời ăn gian nói dối”, “ăn chối nói qua”đẻ cho

bố mẹ khỏi la khỏi mắng chỉ vì “bố không ưng, mẹ chẳng gả” chẳng cho haingười kết duyên chồng vợ.Nhưng chuyện hai người yêu thương nhau cũngkhông dấu đựoc lâu khi cha mẹ nàng phát hiện ra và nàng Ờm đã phải ghánhchịu một trận đòn roi khủng –cơn thịnh nộ của cha mẹ chút xuống thân xácngười con gái yếu mềm.Những tưởng có thể dập tắt được quyết tâm củanàng nhưng dường như càng dâu đớn bao nhiêu thì cái quyết tâm bảo vệ tìnhyêu của nàng càng mãnh liệt bấy nhiêu khi nàng đã nhân thức đựoc giá trịcủa tình yêu tự do đôi lứa:

Anh ơi !

Kiếp ta kiếp khổ

Số ta số khó

Trời mưa ta cũng phải tới

Trời gió ta cũng phải qua

Sự phản kháng lên đến đỉnh điểm, quyết tâm giữ trọn tình yêu và lời nguyệnước tình yêu, chàng trai, cô gái đã tìm đến lá ngón để kết thúc cuộc sốngtrần gian đầy rẫy những đau thương để cùng nhau “về bên ma làm nhà làmcửa” trên núi Làn Ai

Đoạn sau của truỵện thơ kể về cuộc sống vợ chồng của nàng Ờm và chàngBồng Hương trên núi Làn Ai

Ở thế giới mường ma nhưng nàng Ờm vẫn không quên nhắn gửi về cho

“bố cùng mẹ trong làng, chú cùng bác trong bản” đừn ngăn đừng cản khi:Líp: K58G - Khoa Ng÷ v¨n Trêng §HSP Hµ Néi

Trang 19

Các em gái có người mến

Các em gái có người thương.

Mà hãy để cho đôi lứa được tự do yêu đương “Đừng kén chọn kẻ có ngườigiàu”

Lời nhắn gửi của người con gái giống như là tiếng nói đòi quyền tự do yêuđương, quyền được sống hạnh phúc của con người.Tiếng nói tố cáo chế độgia trưởng trong xã hội Mường cũ đã dồn con người ta đến nỗi khổ tột cùngđồng thời thể hiên quan niệm mới mang đày tính nhân văn cao cả- Tình yêu

tự do và hạnh phúc lứa đôi cho con người

Trang 20

Chương II HÌNH TƯỢNG NÀNG ỜM TRONG TRUYỆN THƠ

NÀNG ỜM - CHÀNG BỒNG HƯƠNG.

I Đặc điểm về phương diện hoàn cảnh xuất thân và ngoại hình nhân vật.

Trong quá trình xây dựng hình tượng nhân vật nữ truyện thơ mường đãphát triển và hoàn thiện nhân vật để trở thành một hình tượng nhân vật đặsắc trên cơ sở kế thừa những nét tiêu biểu của các thể loại trước đó

Đặc biệt hình tượng người phụ nữ đựoc miêu tả khá chi tiết về phươngdiện hoàn cảnh xuất thân và ngoại hình của nhân vật ẩn chứa ở trong đó lànhững quan niệm của xã hội mường xưa đối với người phụ nữ nói chung vàtừng nhân vật nữ trong truyện thơ nói riêng

Qua khảo sát toàn bộ thiên truyện chúng tôi nhận thấy nếu như ở các thểloại trước nhân vật người phụ nữ chưa có một lai lịch rõ ràng, ngoại hìnhcủa nhân vật còn mang tính ước lệ, phiếm chỉ thì đến truyện thơ này tần sốxuất hiện của các câu thơ, dòng thơ nói về hoàn cảnh xuất thân và ngoại hìnhnhân vật đã xuất hiện khá nhiều, qua sự tổng hợp người viết thống kê trongbảng số liệu sau:

Hoàn cảnh xuất thân và

ngoại hình nhân vật

Số dòng thơ miêutả

18 dòng/676dòng

Từ dòng 14-32

Ngoại hình nhân vật 27 dòng/676

dòng

Từ dòng:33-4255-60; 86-93

Đó là bước phát triển cao hơn của thể loại truyện thơ so với các thể văn họcdân gian trước đó.Do đặ điểm tự truyện cho nên ngoại hình của nhân vật chonên ngoại hình của nhân vật còn mang tính ước lệ, tượng trưng song qua

Líp: K58G - Khoa Ng÷ v¨n Trêng §HSP Hµ Néi

Trang 21

những nét ngoại hình đó vẫn thấy được cả đời sống nội tâm nhân vật.Đó có lẽchính là điểm đặc biệt của nhân vật nàng Ờm nói riêng và hệ thống các nhânvật nữ trong truyện thơ mường cùng đề tài nói chung.

Và dưới đây là những minh chứng cụ thể cho những điều mà người viết nói ởtrên

1 Đặc điểm về hoàn cảnh xuất thân.

Nghiên cứu truyện thơ Mường nói chung và truyện thơ Nàng Ờm –ChàngBồng Hương nói chung trong sự tương quan với thể loại truyện cổ mườngchúng tôi nhận thấy rằng nếu như ở truyện cổ các nhân vật nữ chưa có một lailịch rõ ràng, hoàn cảnh xuất thân còn mang tính chung chung.thì đến truyệnthơ nhân vật nữ được tác giả dân gian gắn cho một hoàn cảnh xuất thân cụthể, có lai lịch rõ ràng và hầu hết các nhân vật nữ trong truyện thơ về đề tàitình yêu đều có xuất thân từ một gia đình giàu có, quyền quý

Quê nhà em ở đất Cành Nàng

Làng Cai Gia, con mường kỳ oống

Bố ngà em bố có

Mẹ nhà em mẹ giàu

Dưới sân có trâu cùng bò

Trên nhà cơn no lúa xiềng

Cửa nhà em chẳng phải dùng bương ràn rạn

Nhà em, cái nhà lát ván gỗ lim

Cửa quang, sân rộng

Nhà năm gian con hàng chín voóng [217;12]

Còn địa vị của cha mẹ nàng cũng là địa vị cao sang:

Trang 22

Nàng Ờm- Chàng Bồng Hương mà đã trở thành một đặ điểm chung của cảmột loại nhân vật nữ

Nàng Út Lót (Út Lót- Hồ Liêu) cũng là con của “đạo Tu Liêng” và “nàng

Tu Ó”, là những người có quyền lực cao nhất bản Mường, có quyền cai quảnmường Đủ Sự giàu có của Tu Liêng, Tu Ó cũng được chính nàng Út Lót môtả:

-Từ sanh đồng chén ngọc

Ang bạc mâm vàng

Vò rượu lớn cắm một ngàn hai trăn cái cần

Chiêng vàng đánh ngân vui hơn bể réo

Thửa ruộng cả ruộng to chân làng nhiều phân lúa tốt

Trâu đực lớn nhà ta ăn đầy bãi giữa

Trâu cái chửa nhà ta ăn đầy bãi ngoài [97;98;12]

Hai chị em Nàng Nga (Nàng Nga –Hai Mối) cũng xuất thân từ địa vị caosang không kém.Hai nàng là con của “ông Cun Đủ đạo Dà”, có”trống khútrống rồng”, có “gươm hầu, kiếm bạc”, có quyền uy cai quản mường rộng lớn

và giàu có

Và như vậy ta thấy truyện thơ Mường đã xây dựng hình tượng người phụ

nữ với xuất thân khá đầy đủ.Cha mẹ nàng Ờm là những bậc đầy uy quyền,giàu có, những người đứng đầu bản Mờng, vùng đất.Những người “lắmquyền lắm thế, lắm phép lắm khuôn”.Và có lẽ chính cái thân thế nhu vậy đã

hé mở cho chúng ta dự đoán, mường tượng về cuộc đời sau này của nhân vậtvới đây rẫy những khổ đau vì xã hội Mờng cổ người phụ nữ hoàn toànkhông có quyền quyết định cuộc đời của mình mà đặc biệt là trong tình yêu,hôn nhân buộc phải chịu sụ xắp đặt sẵn của cha mẹ.Trong những gia đình màcha mẹ càng giàu có quyền thế bao nhiêu thì hôn nhân của con cái lại càngkhắt khe bấy nhiêu, càng mang tính chất vụ lơi bấy nhiêu.Chính vì thế mà cái

Líp: K58G - Khoa Ng÷ v¨n Trêng §HSP Hµ Néi

Trang 23

sự giàu có, quyền thế kia chẳng bao giờ đi đôi với hạnh phúc của người phụnữ.có chăng chỉ đem lại những khổ đau hơn mà thôi.

Jean Cuisiner qua khảo sát thực tế ở các bản Mường trước cách mạngTháng Tám 1945 đã nhận xét về hôn nhân của người Mường như sau: “Đốivới người nông đan như chúng tôi đã nói, nam nữ tự do gặp nhau và tự chọnngười bạn đời của họ, nhưng họ không thể lấy nhau nếu không có sự thoảthuận của cha mẹ.Cha mẹ có quyền từ chối, không đồng ý thậm chí có thểbuộc con cái họ phải theo sự lựa chọn của mình.nhưng rất hiếm khi họ dùng

nó với con gái và không bao giờ dùng nó với con trai

Ngược lại, trong các gia đình quý tộc, con cái không được tự do nhiều đếnnhư vậy, cha mẹ quyết định trước dã, trong các gia đình thổ lang thì còn phảixin ý kiến của hội đồng kỳ hào và phải được hội đồng này thừa nhận”.[354;10]

Nàng Ờm xuất thân trong một gia đình giàu có nhưng lại không có con trai,chỉ có hai người con gái:

-Bố nhà em có con gái cầm rựa

Không có con tứa coi cửa coi nhà

Bố đặt tên em là con Ờm

Em gái thứ hai là em yêu

Để sớm cùng chiều

Hầu quyền cha phép mẹ [218;12]

Trong quan niệm của xã hội Mường cổ truyền việc không có con trai nối dõ

là một điều khó có thể chấp nhận được điều đó càng tệ hại hơn khi gia đìnhquý tộc chỉ sinh con một bề.Bởi không có con trai cũng đồng nghĩa với việctoàn bộ gia tài và quyền lực sẽ mất tất cả vào tay người khác.Và có lẽ vì thế

mà mặc dù trong lời kể của nàng Ờm ta không nhận thấy song chị em nàngchính là cái “cớ” và là nạn nhân trong nỗi bực dọc của cha mẹ nàng:

Bố thì bới, mẹ thì mắng

Không nghe thương xót đến con [218;12]

Trang 24

Đặt truyện thơ Nàng Ờm –Chàng Bồng Hương trong hệ thống truyện thơMường về đề tài tình yêu và đăt nhân vật nữ vào hoàn cảnh xuất thân nhưvậy, truyện thơ càng làm nổi rõ hơn giá trị tố cáo hiện thực khắc nghiệt vềnan ép duyên trong lề thói hôn nhân cổ hủ và đồng thời nói lên quan điểmcủa dân gian cho rằng đồng tiền và quyền lực không bao giờ là bạn đồnghành của tình yêu tưi do trong sáng.Mặt khác ca ngợi tình yêu tự do nam nữtrong xã hội

Và như vậy, truyện thơ Nàng Ờm- Chàng Bồng Hương nói riêng và truyệnthơ mường nói chung nhờ có sự kết hợp của yếu tố tự sự và trữ tình đã vượtlên tính phiếm chỉ, ước lệ của dân ca khi giới thiệu nhân vật.Nhân vật có têntuổi, quê quán rõ ràng, điều đó giúp người đọc, người nghe dễ hình dung vàtheo dõi của truyện và nhờ đó mà giá trị nội dung và giá trị thẩm mỹ của hìnhtượng nhân vật nữ nói riêng và cả truyện thơ nói chung đựoc nâng cao hơn sovới các thể loại văn học dân gian ra đơi trước đó

2 Đặc điểm về phương diện ngoại hình nhân vật.

Cùng chung đặc điểm với truyện thơ khác về đề tài tình yêu, hình tượngnàng Ờm được miêu tả một cách ước lệ về phương diện ngoại hình băng thủpháp miêu tả trực tiếp và miêu tả gián tiếp kết hợp với thủ pháp so sánh đểlàm rõ vẻ đẹp của nhân vật trung tâm

Theo quan niệm của người mường xưa, người phụ nữ đựơc cho là đẹp thì

vẻ đẹp đó phải mang tính nữ tính và nó phải toát lên từ con người: Khuônmặt, mái tóc, làn da, chân tay, đôi mày…và những bộ trang phục truyềnthống chính là những phụ trợ làm tôn thêm cho vẻ đẹp ấy của người phụ nữ Ngoại hình nhân vật nàng Ờm được tác giả dân gian miêu tả:

Thuở ấy, tuổi em mới lên mười lăm

Váy em mới bằng một păng

Hàm răng em còn trắng

Bàn chân em bằng lá phay pháy

Bàn tay em bằng lá muồng muồng [219;12]

Líp: K58G - Khoa Ng÷ v¨n Trêng §HSP Hµ Néi

Trang 25

Và khi nàng biết yêu thì:

- Tuổi em đã lên mười chín

Còn phòng cho đến đôi mươi

Mái tóc đã xanh

Em đã nên người

May áo khóm dài

Nói lời con gái [222;12]

Vẻ đẹp của người con gái được tác giả dân gian mô tả theo từng giai đoạntrưởng thành.Từ khi tuổi “em mới lên mười lăm” cho đến khi “em lên mườichín” là hai dáng vẻ khác nhau đánh dấu mức độ trưởng thành cả về thể chấtlẫn tâm lí của người con gái.Những đường nét trên cơ thể người con gái được

mô tả so sánh với những hình ảnh gần gũi: “lá phay pháy”; “lá muồngmuồng” rất quen thuộc trong đời sống của người dân xứ Mường.Điều đó chothấy tư duy của dân gian lúc này vẫn còn khá giản đơn và sơ khai, đây có lẽcũng là đặc điểm chung của hầu hết các sáng tác văn học dân gian Việt Nam Theo quan niệm thẩm mỹ của người mường xưa thì người phụ nữ phải có

vẻ đẹp nữ tính, tức là vẻ đẹp tự nhiên của con người phảo gắn với nhữngkhuôn phép truyền thống văn hoá dân tộc.Có như vậy thì mới có thể coi là vẻđẹp hoàn hảo của người phụ nữ về mặt ngoại hình.Tuy nhiên vẻ đẹp củangười phụ nữ còn phải hướng tới một giá trị quan trọng khác nữa đạt tới vẻđẹp hoàn thiện, hoàn hảo về cái đẹp theo quan niệm của người Mường cổ đó

là vẻ đẹp ngoại hình phải hướng tới biểu lộ những giá trị phẩm chất conngười.Tức là vẻ đẹp ngoại hình biểu lộ phẩm chất bên trong.Cụ thể đó là cáinết ăn, nết ở, là cách ứng xử nó cho thấy nhân cách con người

Ở truyện thơ này do đặ điểm tự truyện nên ta không tìm thấy bất cứ một lờinhận xét nào của nàng Ờm về đức độ của nàng, song qua nội dung của cảthiên truyện chúng ta có thể nhận thấy và khẳng định những phẩm chất tốtđẹp của nàng.Khác với ccá nhân vật nữ trong truyện thơ “Nàng Nga-đạo HaiMối” hay “Út Lót- HỒ Liêu”

Trang 26

Chẳng hạn như vẻ đẹp của nàng Nga được bình mường, dân chúng, tôi tớbên mường nhận xét:

- Khôn mồm, khéo miệng

Đẹp nết, tốt người [96;8]

- Người buôn đứng lại một dãy

Người bán đứng lại một bên

Xem nàng Nga người đep, nết hiền

Đi ra thăm chợ [99;8]

Như vậy với quan niệm theo chiều thuận giữa hình thức và nội dung.Vẻ đepbên ngoài của nhân vật phải trùng khít với vẻ đẹp bên trong.Vẻ đẹp phẩmchất có thể được mô tả hiện lên trực tiếo khi miêu tả ngoại hình nhân vật vàcũng có thể biểu lộ gián tiếp qua quá trình vận động và phát triển của nhânvật trong truyện

Đặc điểm trên giúp người đọc, người nghe hiểu được vẻ đẹp hoàn thiện củanhân vật nữ trong mỗi truyện thơ đồng thời còn là tiền đề đẻ chúng ta tiếp cậncác phương diện phẩm chất cụ thể của hình tượng nhân vật nữ trong hànhloạt truyện thơ khác

Mặt khác nó cũng thể hiệ bước tiến của thể loại truyện thơ so với các thểloại vưn học dân gian ra đời trước đó.Ngoại hình nhân vật được mô tả tuycòn mang tính ước lệ song nó lại có mối quan hệ với phẩm chất bên tronglàm cho hình tượng nhân vật mang một vẻ đẹp hài hoà trong một chỉnh thểthống nhất

3 Tiểu kết.

Qua hai phương diện về hoàn cảnh xuất thân và ngoại hình nhân vật, ngườiviết nhận thấy hình tượng nàng Ờm đã có một bước tiến lớn so với hình tượngnhân vật nữ của các thể loại văn học dân gian ra đời trước như truyện cổ, dân ca,tục ngữ có đề cập đến nhân vật người phụ nữ Nhân vật có hoàn cảnh xuất thân

cụ thể, gần gũi với đời sống xã hội mường.Ngoại hình tuy vẫn còn mang tínhước lệ song các chi tiết miêu tả vẫn đậm đặc hơn.Điều đó giúp chúng ta thấyLíp: K58G - Khoa Ng÷ v¨n Trêng §HSP Hµ Néi

Trang 27

được cả vẻ đẹp bên ngoài và cả vẻ đẹp bên trong của nhân vật, thấy được đờisống nội tâm của nhân vật theo quan niệm của người mường xưa.

II Đặc điểm về phương diện nội tâm nhân vật.

Phẩm chất là phương diện quan trọng nhất của người phụ nữ trong truyệnthơ mường.Bởi người mưòng vốn rất đề cao phẩm hạnh của người phụ nữtrong đời sống.Mặc dù người phụ nữ theo quan niệm và luật tục bị coithường, khinh thị song họ lại khẳng định được vai trò và vị trí của mình trongđời sống gia đình và đời sống xã hội là vô cùng quan trọng.Nhân dân laođộng mà chủ yếu là những người nông dân là những người đầu tiên có sựcảm thông trân trọng đối với người phụ nữ trong xã hội mường cổ vì thế chonên trong các sáng tác dân gian thì hình tượng người phụ nữ trở thành hìnhtượng tiêu biểu mà đặc biệt là trong truyện thơ

Truyện thơ nàng Ờm –Chàng Bồng Hương thuộc nhóm truyện thơ về đề tàitình yêu cho nên hình tượng nàng Ờm được các tác giả dân gian xây dựng,miêu tả chủ yếu trên phương diện tình yêu đôi lứa.Vẻ đẹp của hình tượngnhân vật ở khía cạnh nội tâm được miêu tả khá sâu sắc chiếm dung lượng lớncác dòng thơ miêu tả.Nếu như ngoại hình nhân vật còn mang tính ước lệ thìđời sống nội tâm của nhân vật lại vô cùng phong phú với đa dạng các trạngthái tâm lí khác nhau.Đặc điểm về phương diện nội tâm nhân vật có thể đượcthể nói gọn lại trong bảng thống kê mà người viết đã tổng hợp đựoc sau:Đặc điểm về phương

diện nội tâm nhân vật

Số dòng thơ miêu tả Vị trí xuất hiện

138-142;167-Nỗi đau đớn của người

phụ nữ khi tình yêu bị

chia cắt

106/676 dòng Từ

dòng:220-224;265-307;308;312-316;317-349;383-393;506-

Trang 28

137;156-165;189-và 394-400

Qua bảng thống kê trên chúng tôi có thể nhận thấy rằng nỗi đau đớn củangười con gái trong tình yêu được mô tả nhiều nhất, số câu thơ và dòng thơxuất hiện với tần số dày hơn so với các phương diện khác trong đời sống nộitâm nhân vật.Điều đó có thể được lí giải rằng hầu hết các truyện thơ mường

về đề tài tình yêu đều có chung một dặc điểm là khi miêu tả đời sống nội tâmnhân vật – Tình yêu của người con gái thì đều dành một dung lượng lớn cáccâu thơ để miêu tảnỗi đau đớn của người con gái.Bởi vì chúng ta đều biếtrằng trong xã hội mường xưa thì hôn nhân của con cái đều do cha mẹ xắpđặt.Nếu như người phụ nữ vượt lên luật tục của xã hội để kiếm tìm cho mìnhtình yêu tự do đôi lứa –tình yêu đích thực thì cũng đồng nghĩa với việc phảighánh chịu một nỗi đau đớn khôn cùng khi mối tình ấy bị cha mẹ ngăn cản.Cho nên người ta nói rằng trong tình yêu có cả vị ngọt ngào và cũng có cảđắng cay, có hạnh phúc và cũng có cả khổ đau.Nàng Ờm, nàng Nga, Út Lóttrong các truyện thơ mường đều phải ghánh chịu nỗi đau đớn nhiều hơn làhạnh phúc

1 Thái độ trân trọng tình yêu tự do đôi lứa.

Người phụ nữ trong xã hội mường cổ bị ràng buộc, bị gò ép bởi quan niệmluật tục không được tự lựa chọn cho mình một tình yêu đích thực.Có lẽ vì thếcho nên khát khao về một tình yêu đích thực, một hạnh phúc bền lâu luôn làniềm ấp ủ trong tâm hồn người phụ nữ.Họ quan niệm một tình yêu đích thựcphải được trân trọng, giữ gìn.Tình yêu đó phải được xuất phát từ sự rungđộng của hai trái tim cùng chung nhịp đập, hai tâm hồn hoà hợp

1.1 Tình yêu bắt nguồn từ sự rung động của hai trái tim.

Líp: K58G - Khoa Ng÷ v¨n Trêng §HSP Hµ Néi

Trang 29

Theo quan niệm, luật tục của xã hội mường cổ truyền thì hôn nhân của concái là do cha mẹ hoàn toàn định đoạt không cần quan tâm đến tình cảm, thái

độ của con cái.Đặc biệt trong những gia đình lang đạo thì hiện tượng nàycàng rõ ràng hơn.Thế nhưng nhân dân lao động lại có quan niệm khác khônghẳn là bất công như thế, họ đề cao tình yêu tự do nam nữ Trong dân camường cũng có những câu ca, bài ca nói về tình yêu như thế, song đến truyệnthơ mới được biểu hiện rõ ràng

Và tình yêu của nàng Ờm và chàng Bồng Hương cũng vậy.Tình yêu của đôibạn trẻ cũng bắt nguồn từ sự rung động tận đáy lòng của hai trái tim đang rạorực khao khát yêu đương Khi chàng Bồng Hương:

Anh đã mến đã thương đã yêu cùng nhớ

Anh trộm phép mẹ đùm cá vào bao

Anh trộm phép mẹ đùm cơm vào lá

Anh chăm em như con nhà ngài chăm hoa trước voóng

Anh quý em như con nhà ngài quý hoa trước sân.[221;12]

Và khi hiểu tình cảm mà Bồng Hương dành cho mình thì nàng Ờm cũngkhông ngần ngai bày tỏ tình cảm của mình và đáp lại chàng trai bằng tìnhyêu đích thực:

Em đã thương anh rồi

Khi xa nhau nghe nhớ

Lúc vắng nhau nghe thương

….

Em cùng chàng Bồng Hương

Hái chung một con vườn

Dâu non lắm lộc [223, 12]

Trang 30

1.2 Người phụ nữ vượt qua mọi quan niêm luật tục của xã hội mường cũ

để bảo vệ và giữ gìn tình yêu.

Người con gái trong xã hội mường cổ muốn hướng tới tình yêu tự do thì họphải đối mặt với những rào cản, luật tục của xã hội.người phụ nữ bị đăt tronghai sự lựa chọn: hoặc là phải từ bỏ tình yêu hoặc là vượt qua mọi quan niệmluật tục để giữ gìn bảo vệ tình yêu đến cùng.Và như ở trong hầu hết cáctruyện thơ thì người con gái đều lựa chọn con đường bảo vệ tình yêu củamình.Nàng Ờm cũng giống như nàng Nga, Út Lót, nàng đã quyết tâm vượtqua mọi cấm đoán, ngăn cản của cha mẹ để đến với chàng Bồng Hươngnghèo khó Dù cho:

Em gái yêu chẳng thương

Mách với bố mọi đường

Nói với mẹ mọi nỗi

Để bố nhà em giận

để mẹ nhà em dỗi [224;12]

Nàng Ờm đã phải “tìm lời ăn gian nói dối” cha mẹ hết lần này đến lần khác

để cho cha mẹ “khỏi la khỏi mắng” sau những lần “đi trâu, đi bò” đi chơicùng với chàng Bồng Hương

Theo quan niệm của xã hội mường cổ thì việc hôn nhân của con cái làhoàn toàn do cha mẹ định đoạt, người đàn ông được lựa chọn phải môn đănghậu đối.Thế nhưng nàng Ờm đã vượt qua quan niệm luật tục ấy để yêu chàngBồng Hương.Điều ấy cho thấy sức phản kháng của người phụ nữ cho tìnhyêu và cho thấy sức mạnh của tình yêu chân chính

Nguyên nhân sâu sa ngăn cản tình yêu tự do đôi lứa chính là quyền lực vàtiền bạc trong xã hội mường cũ, bởi cơ sở để lựa chọn chồng cho cô gái củacha mẹ cô (đặc biệt là trong gia đình lang đạo, quý tộc) đó là quyền lực vàtiền bạc- có giá trị đảm bảo nhất cho uy tín, sự giàu có của gia đình, và theocác bậc cha mẹ thì nó chính là yếu tố đảm bảo cho hạnh phúc lâu dài của con

Líp: K58G - Khoa Ng÷ v¨n Trêng §HSP Hµ Néi

Trang 31

cái.Cho nên áp đặt hôn nhân của con cái trong xã hội mường cổ cũng xuấtphát từ nguyên nhân đó.

Nàng Ờm trong hoàn cảnh của mình cũng bắt buộc phải vi phạm vàonhững chuẩn mực đạo đức gia đình để “đi xim đi rớ”cùng chàng BồngHưong

Trước sự khắc nghiệt của gia đình để bắt nàng từ bỏ tình yêu đối với chàngBồng Hương, không có sự lưa chọn nào khác nàng buộc phải bỏ trốn cùngchàng.Và cuối cùng quyết tâm giữ gìn tình yêu chỉ còn có một con đườngduy nhất là tìm đến với cái chết “Những kết thúc đầy đau khổ bằng cía chếtđầy đau khổ của đôi bạn tình là kếy thúc phổ biến của truyện thơ về đề tàitình yêu, nó minh chứng cho tình yêu chung thuỷ, khát vọng yêu đương tự do

và lên án, tố cáo những luật lệ hà khắc và vô lí củ xã hội đã gây nên những bikịch tình yêu đó” [294;8]

Em muốn cùng anh nên cửa

Nhưng bố không cho nên cửa

Em muốn cùng anh nên nhà

Nhưng bố không cho nên nhà

Ta cùng về bên ma cho khỏi bận

Ta đi ăn lá ngón cho nó hai thân

Ta đi thắt cổ cho nó hại người

Cửa nhà không nên là vì bố mẹ [228;12]

Như vậy là sự phản kháng của người con gái đã tăng lên cấp độ cao hơn Từviệc “dối cha dối mẹ” đến việc tìm đến với cái chết đẻ giư bằng được tìnhyêu của mình.Quyết tâm vượt qua mọi thế lực ngăn cản để giữ gìn trọn vẹntình yêu của mình cũng được thể hiên ở hình tượng nàn Út Lót, nàng đã vượtqua mọi quan niệm, luật tục để đến khóc Hồ Liêu (khi chàng mất) như người

vợ khóc chồng rồi tham dự ma chay cho chàng như ngưòi chủ chốt.hànhđộng phản kháng của nàng Út Lót tuy có khác song việc bỏ rơi chàng Cun

Ngày đăng: 10/07/2023, 10:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chu Xuân Diên -Về việc nghiên cứu văn học dân tôc hiện đại, Tạp chí văn học số 5, 1981.13. Cao Xuân Đỉnh-Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, NXB KHXH, Hà Nội, 1974 Khác
2.. Chu Xuân Diên –Văn hoá dân gian và phương pháp nghiên cứu chuyên nghành, tủ sách ĐHTH Thành phố HCM Khác
3. Cao Xuân Đỉnh-Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, NXB KHXH, Hà Nội, 1974 Khác
4. Đinh Gia Khánh- Trên đường tìm hiểu văn hoá dân gian, NXB KHXH, Hà Nội, 1989 Khác
5. Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn –Văn học dân gian Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2001 Khác
6. Hợp tuyển văn học Mường, nhiều tác giả, NXB VHDT, 1996 Khác
7. Hoàng Minh Lường –Quan niệm về nghệ thuật trong văn học dân gian cổ truyền các dân tộc thiểu số, Luận án tiên sĩ ngữ văn Khác
8. Hoàng Anh Nhân-Tuyển tập truyên thơ mường, Tập II, NXB KHXH, Hà Nội Khác
9. Lê Thi –Gia đình và vai trò của phụ nữ, XHH, 13/1992 Khác
10. Lê Trường Phát -Đặc điểm thi pháp trưyện thơ các dân tộc thiểu số, luận án PTS ngữ văn Khác
11. Lê Trường Phát -Đặc điểm thi pháp truyện thơ các dân tộc thiểu số một thể loại văn học-hai phong cách ngôn ngữ, Tạp chí ngôn ngữ và đời sống số 2/1996 Khác
12. Minh Hiệu, Hoàng Anh Nhân, , sưu tầm và giới thiệu-truyện thơ Mường, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1963 Khác
13. Minh Hiệu-Tục ngữ, dân ca Mường Thanh Hoá, NXB văn hoá dân tộc, 1999 Khác
14. Nguyễn Từ Chi- Góp phần nghiên cứu văn hoá và tộc ngưòi, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1995 Khác
15. Nguyễn Ngọc Thanh -Phụ nữ Mường và vai trò lao động của họ, KH và PN số 2/1991 Khác
16.. Nguyễn Bích Hà-Giáo trình văn học dân gian Vịêt Nam, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội Khác
17. Phạm Quang Nhơn- và suy nghĩ về gia đình của các dân tộc ở nước ta hiện nay, tạp chí DT học 2/1993 Khác
18. Phương Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà, La Khắc Hoà- Lí luận văn học, NXB Giáo dục, 2002 Khác
19. Trần Thị Liên, Nguyễn Hữu Kiên sưu tầm và biên soạn-Văn hoá truyền thống dân tộc mường Đủ, sở văn hoá thông tin Thanh Hoá, 1986 Khác
20. Vương Anh Nhân sưu tầm và giới thiệu -Truyện cười dân gian Mường, NXB VHDT, Hà Nội, 1998 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w