NGÂN HÀNG NHÀ NƢỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH ĐỖ MINH TUẤN TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÖC SỞ HỮU ĐẾN KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM[.]
Trang 1NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH
-
ĐỖ MINH TUẤN
TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÖC SỞ HỮU ĐẾN KẾT
QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM
KHÓA LUẬN CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 7340201
TP HỒ CHÍ MINH, 2018
Trang 2NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH
-
ĐỖ MINH TUẤN
TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÖC SỞ HỮU ĐẾN KẾT
QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM
KHÓA LUẬN CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 7340201
TP HỒ CHÍ MINH, 2018
Trang 3NHẬN XÉT CỦA NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHÓA LUẬN
Tp HCM, ngày …… tháng …… năm 20…
Người hướng dẫn khoa học
Trang 4NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG XÉT DUYỆT
Tp HCM, ngày …… tháng …… năm 201…
Chủ tịch Hội đồng xét duyệt
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Tác động của cấu trúc sở hữu đến kết quả
hoạt động của các Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam” là công trình do
tôi nghiên cứu thức hiện dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Trần Phúc
Các số liệu trong luận văn được thu thập và có nguồn gốc trung thực Kết quả nghiên cứu trong luận văn chưa được trình bày hay công bố ở bất kỳ công trỳ
nghiên cứu nào khác
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2018
Tác giả
Đỗ Minh Tuấn
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Luận văn là công trình nghiên cứu nghiêm túc của sinh viên trong 3 tháng thực hiện
Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Giảng viên hướng dẫn khoa
học là TS Nguyễn Trần Phúc đã trực tiếp hướng dẫn và động viên nghiên cứu
trong suốt thời gian nghiên cứu Bên cạnh đó, em cũng xin gửi lời tri ân đến các
Thầy, Cô của trường Đại Học Ngân Hàng TP.HCM đã nhiệt tình giúp đỡ trong thời
gian học tập và nghiên cứu
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2018
Tác giả
Đỗ Minh Tuấn
Trang 7ABSTRACT
Currently Vietnam has not much researches on the impact of ownership structure on the operating performance of the joint-stock commercial banks These
international experiences can not be directly applied to Vietnam Therefore, the
study of the impact of ownership structure on the performance of the commercial
banks Vietnam based on empirical studies of other countries with similar
characteristics, which contribute as experimental evidence, it is essential to make
policy recommendations to guide and adjust the ownership structure accordingly
So the authors decided to implement the project "The impact of ownership structure
on operation performance of joint-stock commercial banks in Vietnam."
The objective of this study is to determine the influence of ownership structure on the performance of the commercial banks in Vietnam from which make
recommendations to adjust the structure of commercial banks' ownership
Research has done studying theoretical foundations, definitions, the empirical studies in other countries as well as empirical researches in Vietnam to
indicate the research gap for thesis to steer towards implementation Besides, the
studying helps author to form analysis framework and research model for thesis
topics Next, the thesis has a system of basic definitions of profitability ratios,
ownership structure, theories related to the ownership structure and performance as
well as analysis of the impact the ownership structure to profitability ratio in
commercial banks The brief survey of previous empirical studies in the world and
in Vietnam on the impact of ownership structure on profitability ratio in commercial
banks help identify research model, determine the composition of ownership
In chapter 3, the thesis introduces research methods to the problem of understanding the impact of ownership structure on the results of operations of
commercial banks in Vietnam in the period 2009-2016 by identifying the research
hypothesis, data, models and variables in the model study It also presents the
research facility to continue in chapter 4 which performs quantitative research, tests
Trang 8disabilities of the model and fix them Here, the author gives an overview of the
data, the study variables used in the model From there, the author makes
hypotheses about the expected trend of variables’ impacts on the profitability ratio
of commercial banks in Vietnam In addition, Chapter 3 also presents an overview
of the FEM method, the REM and the Hausman test for selecting research model
Chapter 4 is the quantitative analysis steps, including the implementation of regression models’ profitability ratio through variables describing the structure of
ownership and controlling variables; implementation of accreditation; overcome the
shortcomings of the model obtained by methods PCSE Finally discuss the results
obtained from quantitative models The study in chapter 4 uses tools of quantitative
analysis on the panel data to study the impact of ownership structure on
performance of commercial banks in Vietnam with ownership structure analyzed
under the angle concentration of ownership and mixed ownership Regression
models obtained from FEM methods have autocorrelation phenomenon and
heteroskedasticity Later that, using regression methods PCSE - FEM for handling
disability model to model and obtain the results of the model discussing the impact
of ownership structure to performance The results show that total percentage of
ownership of the 5 largest shareholders have negative effects on ROAA and ROAE,
state ownership negatively affect ROAA and has no impact on ROAE, foreign
ownership has positive relationship with ROAA and while has no impact on ROAE
For controlling variables, total assets and growth equity positively affect ROAA,
debt/total assets ratio and loans/deposits ratio have no impact on the ROAA This is
the basis for proposing solutions on the ownership structure in order to improve
performance of commercial banks in Vietnam
The study aims to determine the impact of ownership structure on performance of commercial banks in Vietnam It is performed by quantitative
methods combining with qualitative research methods through descriptive statistics
to generalize research data
Trang 9Results of quantitative analysis has shown that the main factor in the pattern
of ownership structure and in addition to factors such as total assets, equity growth
can explain about 65% of the variation ROAA and about 70% and the volatility of
ROAE of commercial banks in Vietnam in the period 2009 - 2016 Particularly, the
concentrated ownership has negative impact on ROAA and ROAE; mixed
ownership with the two important components which are state ownership and
foreign ownership, state ownership has negative effect on ROAA while foreign
ownership has positive relationship with ROAA but both components have no
impact on ROAE Besides, characteristic factors of bank such as total assets, the
ratio of equity growth showed positive relationship with profitability ratio Findings
are conformable with the hypothesis H1.1, H1.2, H2.1, H3.1
H1.1: Ownership ratio of 5 biggest shareholders group has negative effect on ROAA
H1.2: Ownership ratio of 5 biggest shareholders group has negative effect on ROEA
H2.1: State ownership has negative effect on ROAA
H3.1: Foreign ownership has positive effect on ROAA
The research results on the impact of concentrated ownership on performance is in accordance with the study of Kiruri (2013), Lin and Zhang
(2009), but in contrast to the findings of Nguyen Hong Son et al (2013) Besides,
the research results of the author are consistent with previous studies about the
impact of foreign ownership and state ownership on operation performance of
commercial banks
In the ownership structure of banks, state ownership and foreign ownership are the the most fundamental components, reflecting old – new reality, subsidized -
open, conservative - integration trend of commercial banks in Vietnam today
Quantitative analysis results indicate that foreign ownership has a positive impact
Trang 10and a stronger impact than the impact of state ownership component on
performance measured by ROAA
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Phương pháp nghiên cứu 4
1.5.1 Phương pháp nghiên cứu 4
1.5.2 Dữ liệu nghiên cứu 5
1.6 Đóng góp của đề tài 5
1.7 Bố cục của Bài luận văn 5
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 6
2.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại 6
2.1.1 Khái niệm và phân loại Ngân hàng thương mại 6
2.1.1.1 Khái niệm 6
2.1.1.2 Phân loại 7
2.2 Khái niệm về kết quả hoạt động 7
2.2.1 Khái niệm 7
2.2.2 Các chỉ tiêu đo lường kết quả hoạt động 8
2.2.2.1 Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (Return On total Asset – ROA) 8
Trang 112.2.2.2 Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (Return on Equity –
ROE) 9
2.3 Tác động của cấu trúc sở hữu đến kết quả hoạt động tại các ngân hàng thương mại 10
2.3.1 Lý thuyết đại diện (Agency Theory) 10
2.3.2 Lý thuyết tài sản (Property rights theory) 11
2.4 Các nghiên cứu về cấu trúc sở hữu tác động đến kết quả hoạt động của ngân hàng thương mại 12
2.4.1 Các nghiên cứu nước ngoài 12
2.4.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam 17
2.5 Khoảng trống nghiên cứu 22
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 24
3.1 Cơ sở dữ liệu và phương pháp định lượng 24
3.1.1 Dữ liệu nghiên cứu 24
3.1.2 Các biến số trong mô hình 25
3.1.3 Mô hình nghiên cứu 26
3.1.4 Các giả thuyết nghiên cứu 26
3.2 Phương pháp nghiên cứu 28
3.2.1 Dữ liệu bảng 28
3.2.2 Phương pháp nghiên cứu trên dữ liệu bảng 28
3.2.2.1 Mô hình tác động cố định (Fixed Effect Model – FEM) 29
3.2.2.2 Mô hình tác động ngẫu nhiên (Random Effect Model – REM) 29
3.2.2.3 Kiểm định Hausman 30
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
4.1 Thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu: 32
4.2 Kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu: 33
4.2.1 Kiểm định Hausman lựa chọn mô hình hồi quy: 33
4.2.2 Kết quả hồi quy nghiên cứu tác động của mức độ tập trung sở hữu đến kết quả hoạt động của các NHTMCP Việt Nam: 34
4.2.2.1 Kết quả hồi quy bằng FEM – cố định theo đối tượng và cố định theo thời gian: 34
4.2.2.2 Lựa chọn mô hình hồi quy: 36
4.2.3 Kết quả hồi quy nghiên cứu tác động của sở hữu hỗn hợp đến kết quả hoạt động của các NHTMCP Việt Nam: 37
Trang 124.2.3.1 Kết quả hồi quy bằng FEM – cố định theo đối tượng và cố
định theo thời gian: 37
4.2.3.2 Lựa chọn mô hình hồi quy: 38
4.2.4 Kiểm định mô hình hồi quy: 39
4.2.4.1 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến: 39
4.2.4.2 Kiểm định hiện tượng phương sai sai số thay đổi: 40
4.2.4.3 Kiểm định hiện tượng tự tương quan phần dư: 40
4.2.5 Khắc phục khuyết điểm của các mô hình hồi quy: 41
4.3 Thảo luận kết quả nghiên cứu: 45
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHẤP VỀ CẦU TRÚC SỞ HỮU NHẰM NÂNG CAO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Giải pháp về cấu trúc sở hữu nhằm nâng cao kết quả hoạt động tại các NHTMCP Việt Nam 51
5.2.1 Nhóm giải pháp đối với cơ quan quản lý 51
5.2.1.1 Kiểm soát chặt chẽ mức độ tập trung sở hữu tại các NHTMCP Việt Nam 51
5.2.1.2 Giảm dần tỷ lệ sở hữu nhà nước tại các NHTMCP Việt nam 52
5.2.1.3 Gia tăng tỷ lệ sở hữu nước ngoài tại các NHTMCP Việt Nam 52
5.2.2 Nhóm giải pháp đối với các NHTMCP Việt Nam 53
5.2.2.1 Tự giám sát cấu trúc sở hữu tại các NHTMCP 53
5.2.2.2 Gia tăng tổng tài sản ngân hàng 54
5.2.2.3 Gia tăng tỷ lệ tăng trưởng vốn chủ sở hữu 55
5.2.2.4 Hạn chế sử dụng đòn bẩy tài chính 55
5.2.2.5 Kiểm soát tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi theo hướng giảm dần 56
5.3 Hạn chế của đề tài gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo 56
Trang 13DANH MỤC BẢNG Bảng 2-1: Bảng tóm tắt kết quả nghiên cứu 21
Bảng 3-1: Ý nghĩa và đơn vị tính các biến trong mô hình nghiên cứu 25
Bảng 3-2: Kỳ vọng dấu xu hướng tác động của cấu trúc sở hữu đến tỷ suất sinh
lời tại các NHTMCP Việt Nam 27
Bảng 4-1: Ý nghĩa và đơn vị tính các biến trong mô hình nghiên cứu 32
Bảng 4-2: Kết quả kiểm định Hausman cho mô hình sự tác động của sở hữu
tập trung đến kết quả hoạt động 33
Bảng 4-3: Kết quả kiểm định Hausman cho mô hình sự tác động của sở hữu
hỗn hợp đến kết quả hoạt động 34
Bảng 4-4: Kết quả hồi quy về tác động của mức độ tập trung sở hữu đến tỷ
suất sinh lợi bằng FEM – cố định theo đối tượng 35
Bảng 4-5: Kết quả hồi quy về tác động của mức độ tập trung sở hữu đến tỷ
suất sinh lợi bằng FEM – cố định theo thời gian 36
Bảng 4-6: Kết quả hồi quy nghiên cứu tác động của sự hỗn hợp sở hữu đến kết
quả hoạt động bằng FEM – cố định theo đối tượng 37
Bảng 4-7: Kết quả hồi quy nghiên cứu tác động của sự hỗn hợp sở hữu đến kết
quả hoạt động bằng FEM – cố định theo thời gian 38
biến độc lập theo các biến độc lập còn lại 39
Bảng 4-9: Kết quả kiểm định Breusch – Pagan – Godfrey cho các mô hình hồi
quy (4.1), (4.2) 40
Bảng 4-10: Kết quả kiểm định Breusch – Pagan – Godfrey cho mô hình hồi
quy (4.3) 40
Trang 14Bảng 4-11: Kết quả kiểm định tự tương quan phần dư Breusch – Godfrey cho
mô hình hồi quy (4.1), (4.2) theo biến trễ 1, 2 kỳ 41
Bảng 4-12: Kết quả kiểm định tự tương quan phần dư Breusch – Godfrey cho
mô hình hồi quy (4.3) theo biến trễ 1, 2 kỳ 41
Bảng 4-13: Kết quả hồi quy bằng PCSE cho mô hình (4.1), (4.2) 42
Bảng 4-14: Kết quả hồi quy bằng PCSE cho mô hình (4.3) 43
Trang 15DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ACB Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
BIDV Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam
PCSE Panel corrected standard error (sai số chuẩn điều chỉnh trong dữ
liệu bảng) Eximbank Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam
FEM Fixed Effects Model (Mô hình các ảnh hưởng cố định)
MB Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội
NVB Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc dân
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
OLS Odinary Least Squares (Bình phương bé nhất thông thường)
REM Random Effects Model (Mô hình các ảnh hưởng ngẫu nhiên)
ROA Return on total Asset (Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản)
ROAA Return on Average Asset (Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản bình
quân) ROAE Return on Average Equity (Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
bình quân) ROE Return on Equity (Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu)
Sacombank Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín
TPHCM Thành phố Hồ Chí Minh
Vietcombank Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam
Vietinbank Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam
Trang 16CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
Trải qua hơn 30 năm cải cách kinh tế, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có những bước phát triển rõ rệt cả về quy mô lẫn chất lượng hoạt động, một trong
những điểm nổi bật trong thời gian qua của hệ thống ngân hàng đó chính là sự đa
dạng hóa trong cấu trúc sở hữu Các tổ chức tín dụng Việt Nam từ một hệ thống
ngân hàng chủ yếu phục vụ mục tiêu kế hoạch của Nhà nước đã trở thành một hệ
thống hoạt động dựa trên nguyên tắc thị trường với nhiều loại hình cơ cấu sở hữu
Sự đa dạng về cấu trúc sở hữu đã tạo nên sự phát triển tích cực trong hệ thống ngân
hàng trong những năm qua
Tuy đã có nhiều sự chuyển biến trong việc đa dạng hóa cấu trúc sở hữu các ngân hàng thương mại tại Việt Nam, sự tác động của sở hữu Nhà nước trong hệ
thống ngân hàng vẫn còn mạnh mẽ Khi việc thành lập ngân hàng được thực thi,
mỗi ngân hàng quốc doanh đều phải có người đại diện từ phía Nhà nước Ngay cả
đối với các ngân hàng thương mại không do nhà nước nắm giữ cổ phần hoặc không
nắm giữ cổ phần chi phối thì việc bổ nhiệm Tổng Giám Đốc vẫn phải cần được sự
thông qua của Thống đốc NHNN Sự hiện diện của Nhà nước trong hệ thống ngân
hàng chủ yếu nhằm mục đích hạn chế những hoạt động vượt ra ngoài khuôn khổ
pháp lý, hoạt động không theo chủ trương chung của nhà nước và những yếu kém
ban đầu về tài chính cũng như nhân sự của các ngân hàng cổ phần mới thành lập Sự
thận trọng này trong bối cảnh hệ thống ngân hàng đang có nhiều sự chuyển biến là
phù hợp, nhưng cũng sẽ ảnh hưởng đến chính sách điều hành của các ngân hàng
thương mại
Đối với việc sở hữu tư nhân, cũng đã thể hiện được nhiều sự chuyển biến trong hệ thống ngân hàng Sự cạnh tranh về giá cả, chất lượng dịch vụ cũng như sản
phẩm mới đã mang lại nhiều lợi ích cho khách hàng Bên cạnh đó việc góp vốn từ
các tổ chức nước ngoài cũng góp phần cải thiện chất lượng quản trị đối với các ngân
hàng thương mại cổ phần nói riêng và toàn hệ thống ngân hàng nói chung
Trang 17Theo một số nghiên cứu về vai trò sở hữu Nhà nước tại nhiều quốc gia trên thế giới, sở hữu Nhà nước có xu hướng làm giảm hiệu quả hoạt động, gia tăng nguy
cơ rủi ro (Claessens và cộng sự (2001), Micco và cộng sự (2004)) Nghiên cứu của
Sun & Tong (200) cũng kết luận rằng sở hữu nhà nước có tác động tiêu cực đến
hiệu suất doanh nghiệp ở Trung Quốc Theo thực tế tại Việt Nam, nghiên cứu của
Nguyễn Hồng Sơn và cộng sự (2013) cũng cho thấy được những tác động tiêu cực
của sở hữu Nhà nước tại các ngân hàng, tăng trưởng tín dụng nóng làm gia tăng nợ
xấu do phân bổ tín dụng chưa hiệu quả… đã làm kết quả hoạt động của hệ thống
ngân hàng bị ảnh hưởng Trong khi đó, kết quả nghiên cứu của Claessens và
Djankov (1998) lại cho thấy sở hữu bởi nhà đầu tư chiến lược nước ngoài có ảnh
hưởng mạnh đến khả năng sinh lời Vậy câu hỏi đặt ra là cấu trúc sở hữu sẽ có sự
tác động như thế nào đến kết quả hoạt động của các ngân hàng? Cụ thể là các
NHTMCP Việt Nam
Vậy vấn đề này đặt ra yêu cầu phải làm rõ tác động của cấu trúc vốn lên kết quả hoạt động của các ngân hàng thương mại, so sánh vai trò sở hữu nhà nước, sở
hữu nước ngoài, sự tập trung sở hữu trong hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay
Đồng thời việc tiến hành tái cơ cấu, đặc biệt là về cấu trúc sở hữu tại các ngân hàng
thương mại cổ phần nhà nước là một trong những nhiệm vụ cấp thiết, để từ đó nâng
cao tính an toàn, minh bạch, hiệu quả của hệ thống ngân hàng
Tại Việt Nam, hiện chưa có nhiều nghiên cứu về sự tác động của cấu trúc sở hữu đến kết quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần Những kinh
nghiệm quốc tế chưa thể áp dụng trực tiếp cho Việt Nam Do đó, việc nghiên cứu sự
tác động của cấu trúc sở hữu lên kết quả hoạt động của các NHTMCP Việt Nam
dựa trên các nghiên cứu thực nghiệm của các quốc gia khác có các đặc điểm tương
đồng, từ đó đóng góp làm bằng chứng thực nghiệm, đưa ra các đề xuất chính sách
để định hướng, điều chỉnh cấu trúc sở hữu cho phù hợp là rất cần thiết Vì vậy tác
giả quyết định thực hiện đề tài “Tác động của cấu trúc sở hữu đến kết quả hoạt
động của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam”
Trang 181.2 Mục tiêu nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu chính của đề tài, bài luận văn thực hiện việc trả lời câu hỏi nghiên cứu chính sau:
Câu hỏi 1: Cấu trúc vốn sở hữu có sự tham gia nước ngoài tác động thế nào
đến kết quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam?
Câu hỏi 2: Cấu trúc vốn sở hữu nhà nước có đóng vai trò tác động thế nào
đến kết quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam?
Câu hỏi 3: Sự sở hữu tập trung tác động thế nào đến kết quả hoạt động của
ngân hàng thương mại Việt Nam?
Đối tượng nghiên cứu: Đối tƣợng nghiên cứu chính của luận văn chính là tác
động của cấu trúc sở hữu đến kết quả hoạt động của các NHTM cổ phần Việt Nam
Phạm vi về thời gian: tác động của cấu trúc sở hữu đến kết quả hoạt động
của các NHTMCP Việt Nam giai đoạn từ năm 2009 đến 2016
Phạm vi về không gian: Bài luận văn sử dụng dữ liệu của 20 NHTM tại Việt
Nam Với tiêu chuẩn lọc mẫu là ngân hàng hoạt động liên tục, loại bỏ các ngân
hàng đã bị mua lại, đã sáp nhập vào ngân hàng khác nhằm đảm bảo độ tin cậy của
Trang 19sử dụng tính toán biến đại diện Các ngân hàng được lựa chọn bao gồm ngân hàng
100% vốn nhà nước, ngân hàng do nhà nước sở hữu chi phối (trên 50%), ngân hàng
thương mại cổ phần và các ngân hàng có sở hữu nước ngoài Nhìn chung, với quy
mô mẫu là 20 ngân hàng là đủ để làm mẫu đại diện cho tổng thể các NHTMCP
trong nước hiện nay
1.5.1 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính thông qua thống kê mô tả để khái quát được dữ
liệu nghiên cứu Với các mục tiêu đã được trình bày của luận văn, các phương pháp
được sử dụng với những nội dung cụ thể như sau:
- Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp: Sau khi thu thập được dữ
liệu thứ cấp về cơ cấu sở hữu của các NHTM, các chỉ tiêu tài chính phản ánh kết
quả hoạt động, dữ liệu sẽ được tổng hợp vào các bảng tính Excel để thống kê, so
sánh giữa các ngân hàng để đưa ra được cái nhìn tổng quát phục vụ cho mục tiêu
của luận văn
- Phương pháp hồi quy kinh tế lượng theo mô hình dữ liệu bảng: Sau
khi thu thập được hệ thống cở sở lý thuyết, tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm và
thống kê mô tả Luận văn sử dụng mô hình tác động cố định FEM cho dữ liệu bảng
đã được tổng hợp trên Excel thông qua phần mềm Eviews 8 để kiểm chứng sự tác
động của sở hữu nhà nước, sở hữu nước ngoài, sở hữu tập trung lên hiệu quả hoạt
động của các NHTM Việt Nam thông qua các chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động
của ngân hàng (ROA, ROE), sau đó luận văn kiểm định khuyết tật của mô hình
như: đa cộng tuyến, phương sai sai số thay đổi, tự tương quan phần dư Cuối cùng,
bài nghiên cứu sẽ sử dụng phương pháp hồi quy PCSE để khắc phục các khuyết tật
của mô hình Các phương pháp hồi quy theo dữ liệu bảng được để cập sẽ được trình
bày cụ thể hơn tại Chương 3 của bài nghiên cứu
Trang 201.5.2 Dữ liệu nghiên cứu
Tác giả sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp của 20 NHTM CP tại Việt Nam thu thập từ năm 2009 – 2016
- Nguồn dữ liệu thứ cấp phản ánh kết quả kinh doanh, các chỉ số tài chính và các chỉ tiêu trên bảng cân đối kế toán sẽ được tác giá thu thập từ nguồn
cung cấp số liệu Tổng cục thống kê, Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Thế giới,
Báo cáo tài chính, Báo cáo thường niên, Biên bản họp đại hội cổ đông…
- Các thông tin về cơ cấu sở hữu của các NHTMCP Việt luận văn sẽ khai thác dữ liệu chủ yếu từ các Báo cáo thường niên, Báo cáo tài chính đã kiểm
toán của các ngân hàng
Về mặt lý luận, đề tài khái quát một cách hệ thống các vấn đề liên quan đến
mối liên hệ giữa cấu trúc sở hữu và kết quả hoạt động của các NHTM
Về mặt thực tiễn, đề tài đóng góp bằng chứng thực nghiệm trong nghiên cứu
tác động của cấu trúc sở hữu đến kết quả hoạt động của các NHTMCP Việt Nam,
đưa ra khuyến nghị điều chỉnh cấu trúc sở hữu tại các NHTM
Bài luận văn được cấu trúc thành 5 chương như sau:
CHƯƠNG 1: Giới thiệu khái quát về tầm quan trọng và sự cần thiết nghiên cứu đề tài, nêu lên mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể và nội dung nghiên cứu của đề
tài
CHƯƠNG 2: Cơ sở lý luận về tác động của cấu trúc sở hữu đến kết quả hoạt động của các ngân hàng thương mại và tổng quan các nghiên cứu về tác động của
cấu trúc sở hữu đến hiệu quả hoạt động Thực trạng tác động của cấu trúc sở hữu
đến kết quả hoạt động của các NHTM tại Việt Nam
Trang 21CHƯƠNG 3: Mô tả dữ liệu, cách thu thập dữ liệu, cùng với phương pháp nghiên cứu được dùng trong bài nghiên cứu Mô hình kiểm định tác động của cấu
trúc sở hữu tới hiệu quả hoạt động của các NHTM tại Việt Nam
CHƯƠNG 4: Trình bày kết quả nghiên cứu và thảo luận
CHƯƠNG 5: Trình bày kết luận và kiến nghị các giải pháp
TRƯỚC
Mục đích của chương 2 là khảo lược cơ sở lý thuyết, khái niệm, những nghiên cứu thực nghiệm tại các quốc gia khác cũng như các nghiên cứu thực
nghiệm đã được thực hiện tại Việt Nam để chỉ ra được khoảng trống nghiên cứu
luận văn hướng tới thực hiện Bên cạnh đó, việc khảo lược giúp tác giả hình thành
khung phân tích và mô hình nghiên cứu cho đề tài khóa luận
2.1.1 Khái niệm và phân loại Ngân hàng thương mại
2.1.1.1 Khái niệm
Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế, hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, nó cung cấp một số dịch vụ cho khách hàng và ngược lại nó
nhận tiền gửi của khách hàng với các hình thức khác nhau Nghiệp vụ kinh doanh
của Ngân hàng thương mại rất phong phú và đa dạng cùng với sự phát triển của
khách hàng, khoa học kỹ thuật kinh tế và xã hội, hoạt động của Ngân hàng thương
mại cũng có nhiều phương pháp mới, nhưng các nghiệp vụ kinh doanh về cơ bản
không thay đổi là nhận tiền gửi và hoạt động cho vay, đầu tư Qua Ngân hàng
thương mại các chính sách tài chính tiền tệ của Quốc gia sẽ được thực hiện một
cách nhanh chóng và cũng nhờ nó mà việc kiểm soát hoạt động của các doanh
nghiệp theo đúng luật pháp được dễ dàng hơn Sự ra đời, tồn tại và phát triển của
Ngân hàng luôn gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế và đời sống xã hội Trong
cơ chế thị trường, các Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng cũng là các
doanh nghiệp nhưng chúng là những doanh nghiệp đặc biệt vì tài sản trong quá trình
Trang 22kinh doanh của các Ngân hàng thương mại đều phụ thuộc vào các khách hàng Mặt
khác, hàng hóa mà các Ngân hàng kinh doanh là một loại hàng hóa đặc biệt, nó rất
nhạy cảm với sự biến đổi của thị trường và tình hình kinh tế xã hội
với mục tiêu hỗ trợ thực hiên cho các mục tiêu cụ thể như thành lập ngân hàng
chính sách xã hội để thực hiện các chương trình xóa đói giảm nghèo, chiến lược
phát triển một ngành hay lĩnh vực kinh tế quan trọng nào đó có tác động mạnh đến
o Ngân hàng liên doanh: Ngân hàng này được hình thành trên góp vốn của hai hay nhiều bên, thường là giữa Ngân hàng trong nước với Ngân hàng nước ngoài để tận dụng lợi thế của nhau
2.2.1 Khái niệm
Khả năng sinh lời phản ánh kết quả hoạt động của một ngân hàng là kết quả
sử dụng các tài sản vật chất và tài sản chính mà ngân hàng năm giữ, khả năng sinh
Trang 23lời cần ít nhất đủ để đáp ứng được đòi hỏi là đảm bảo duy trì vốn cho ngân hàng
hoạt động và phát triển (Rose, 1999)
Tỷ suất sinh lời của NHTM là một tỷ số phản ánh khả năng sinh lợi trên một đơn vị tài sản, vốn chủ sở hữu… mà NHTM đạt được Tỷ suất sinh lời cao cho thấy
khả năng sinh lời cao, đây là mục tiêu mà các ngân hàng quan tâm hơn hết vì thu
nhập cao có thể giúp các ngân hàng bảo toàn vốn, tăng khả năng mở rộng thị
trường Tỷ suất sinh lời còn được xem là một trong những tiêu chí dùng để đánh giá
hiệu quả hoạt động bên cạnh các chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh và các chỉ
tiêu đánh giá rủi ro trong hoạt động ngân hàng
2.2.2 Các chỉ tiêu đo lường kết quả hoạt động
Có nhiều chỉ tiêu khác nhau để đo lường kết quả hoạt động nhưng khi đề cập đến kết quả hoạt động của một ngân hàng, các chỉ tiêu sau thường được sử dụng: tỷ
suất sinh lời trên tổng tài sản, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, tỷ lệ thu nhập lãi
cận biên… Về cơ bản, các chỉ tiêu này càng cao càng chứng tỏ ngân hàng hoạt động
có hiệu quả Mỗi tỷ lệ đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng được sử dụng
trong từng trường hợp khác nhau và phản ánh những ý nghĩa đặc trưng riêng
2.2.2.1 Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (Return On total Asset – ROA)
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản là tỷ số tài chính cho biết ngân hàng tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế từ một đồng tài sản
Công thức tính: ROA =
(Rose, 2004) ROA là thước đo hiệu quả sử dụng tài sản, vì mọi tài sản đều là những khoản đầu tư của ngân hàng ROA chỉ ra khả năng quản trị ngân hàng tỏng quá trình
chuyển tài sản thành thu nhập ròng Một mức ROA thấp là kết quả của một chính
sách đầu tư hay cho vay không hiệu quả hoặc chí phí hoạt động của ngân hàng quá
mức Ngược lại, mức ROA cao phản ánh ngân hàng sử dụng một cơ cấu tài sản hợp
lý, chính sách kinh doanh và đầu tư tài sản hiệu quả
Trang 24Bên cạnh cách tính chỉ số ROA như trên, để phản ánh chính xác hơn tỷ suất sinh lời của tài sản ngân hàng trong một thời kỳ, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản
bình quân – ROAA (Return on Average Asset) được sử dụng thay cho ROAA
Công thức tính ROAA =
Trong đó:
Tổng tài sản bình quân trong kỳ = (tổng tài sản đầu kỳ + tổng tài sản cuối kỳ) / 2
2.2.2.2 Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (Return on Equity – ROE)
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của vốn chủ sở hữu, cho biết một đơn vị tiền tệ vốn chủ sở hữu bỏ ra tạo được bao nhiêu đơn
vị tiền tệ lợi nhuận ròng
Công thức tính: ROE =
(Rose, 2004) ROE cao là mục tiêu hướng tới của bất kỳ người chủ sở hữu ngân hàng nào
Đây là một chỉ tiêu đo lường tỷ lệ thu nhập của các cổ đông ngân hàng, thể hiện thu
nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vào ngân hàng Hiệu quả sử dụng
vốn và tài sản của ngân hàng càng cao là cơ sở để ngân hàng tăng quy mô vốn cũng
như năng lực tài chính của mình Chỉ số ROE cao và ổn định phản ánh việc quản lý
sinh lời và hiệu quả Tuy nhiên ROE quá cao so với ROA, chứng tỏ vốn chủ sở hữu
chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong nguồn vốn, ngân hàng đã huy động vốn nhiều để cho vay,
điều này có thể ảnh hưởng đến sự an toàn trong hoạt động kinh doanh của ngân
hàng Bên cạnh đó, những cổ phiếu theo chu kỳ tuần hoàn (biến động cùng với nền
kinh tế) thường có chỉ số ROE thấp
Tương tự như khi tính toán tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản, số liệu vốn chủ
sở hữu tại thời điểm cuối kỳ không phải là con số đại diện cho vốn chủ sở hữu trong
cả một khoảng thời gian trước đó, nên khổng phản ánh đúng thức chất tình hình tài
chính của ngân hàng trong cả thời kỳ Vì vậy, vốn chủ sở hữu bình quân thường
được sử dụng để thay thế cho vốn chủ sở hữu trong công thức ROE Khi đó, tỷ suất
sinh lời trên vốn chủ sở hữu ROE được thay bằng tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở
hữu bình quân ROAE (Return on Average Equity)
Trang 25Công thức tính: ROAE =
(Rose, 2004) Trong đó:
Vốn chủ sở hữu bình quân = (vốn chủ sở hữu đầu kỳ + vốn chủ sở hữu cuối kỳ) / 2
2.3.1 Lý thuyết đại diện (Agency Theory)
Stephen Ross và Barry Mitnick (1973)được xem là cha đẻ của Lý thuyết đại diện Hai tác giả đã động lập nghiên cứu và công bố kết quả đồng thời vào năm
1973 Trong đó, Ross đưa ra các vấn đề đại diện liên quan đến lĩnh vực kinh tế,
Mitnick lại nghiên cứu các vấn đề đại diện của các thể chế nói chung; tuy vậy
những tư tưởng cơ bản chính của cả hai tác giả thì tương tự nhau Mặc dù vậy, sức
ảnh hưởng mạnh mẽ đến giới học thuật của Jensen và Mecking (1976) qua bài
nghiên cứu “Theory of the firm: Managerial Behaviour, Agency Costs and
Ownership Structure” – “Lý thuyết công ty: Hành vi của nhà quản lý, chi phí đại
diện và cấu trúc sở hữu”; đã khiến ngày nay người ta lầm tưởng lý thuyết đại diện là
do Jensen và Meckling khởi xướng
Lý thuyết đại diện phân chia rủi ro giữa người ủy quyền (chủ sở hữu) và người đại diện (nhà quản lý) do hai bên có mục tiêu và sự phân công lao động khác
nhau Người ủy quyền giao phó nhiệm vụ điều hành, quản lý tài sản cho người đại
diện thông qua một hợp đồng Khi lợi ích của người ủy quyền và người đại diện có
sự khác nhau và giữa họ có thông tin không hoàn hảo về trạng thái của tác nhân,
thông tin không đối xứng giữa các tác nhân sẽ dẫn đến hành vi cơ hội của người đại
diện, có thể gây thiện hại đến lợi ích của người ủy quyền Để hạn chế hành vi cơ hội
của người đại diện, hợp đồng giữa hai bên luôn phát sinh một khoảng chi phí gọi là
Trang 26chi phí đại diện (Agency cost), bao gồm: (1) Chi phí cho việc kiểm tra và động viên
khen thưởng – do người ủy quyền bỏ ra để định hướng hành vi của người đại diện;
(2) Chi phí nghĩa vụ - do người đại diện gánh chịu nếu gây ra những hành vi thiệt
hại đến người ủy quyền; (3) Chi phí do mất mát phụ trội – là phần chênh lệch không
thể tránh khỏi giữa kết quả hành động đã diễn ra của người đại diện với kết quả
hành động cần thiết để tối đa hóa lợi ích của người ủy quyền Lý thuyết đại diện tập
trung vào trả lời các câu hỏi sau: Xây dựng một cơ chế động viên và khen thưởng
như thế nào để khiên người đại diện hành động vì mục tiêu tối đa hóa lợi ích của
người ủy quyền? Làm thế nào để giảm chi phí đại diện trong điều kiện các thông tin
không hoàn hảo?
Nghiên cứu thực chứng của Lý thuyết đại diện tập trung tìm hiểu cấu trúc hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty cổ phần để nhận biết tình huống
có thể xảy ra mâu thuẫn về quyền lợi giữa người ủy quyền và người đại diện và mô
tả những cơ chế quản lý hạn chế hành vi cơ hội của người đại diện Jensen và
Meckling (1976) đã đưa ra một số kết luận, trong đó có kết quả “sở hữu của người
đại diện trong công ty tăng lên thì hành vi cơ hội của người đại diện giảm xuống”
Kết quả này của lý thuyết đại diện thường được viện dẫn trong các tình huống
nghiên cứu về cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của công ty
2.3.2 Lý thuyết tài sản (Property rights theory)
Lý thuyết tài sản trong kinh tế xác định cách thức một hàng hóa kinh tế hay nguồn tài nguyên được sở hữu và sử dụng (Alchian, Armen A., 2008) Hàng hóa
kinh tế có thể được sở hữu (vì thế là một tài sản) bởi những cá nhân, các tổ chức
hoặc nhà nước Theo Klein, Daniel B và J Robinson (2011), quyền tài sản có bốn
đặc tính cơ bản, bao gồm: quyền sử dụng tài sản, quyền tạo ra thu nhập (lợi ích) từ
tài sản, quyền chuyển giao tài sản cho người khác và quyền đòi hỏi sự tôn trọng
quyền tài sản Lý thuyết quyền tài sản công ty được S Grossman, O Hart và J
Moore (1986) phát triển dựa trên sự không hoàn hảo trong các hợp đồng làm việc
giữa các bên (thường là ban điều hành công ty và các cổ đông) Thông thường, có
sự đảm phán lại về các điều khoản của hợp đồng khi dựa trên kết quả kinh doanh
của công ty trong tương lai Ban giám đốc có thể không hài lòng với cơ chế làm
Trang 27việc, cơ chế ưu đãi đã kí kết vì không tương xứng với lợi nhuận mang lại cho các cổ
đông Hay ngược lại, các chủ sở hữu công ty cho rằng kết quả kinh doanh không
tương xứng với những điều khoản ưu đãi đã dành cho ban điều hành Vì thế quyền
tài sản cho rằng: những người điều hành đồng thời sở hữu cổ phần của công ty sẽ
làm việc vì lợi ích của công ty hơn so với những người điều hành mà không sở hữu
cổ phần của công ty Lý thuyết quyền tài sản còn chỉ ra rằng những công ty thuộc sở
hữu của nhà nước thường hoạt động kém hiệu quả hơn so với các công ty sở hữu tư
nhân Nguyên nhân là vì ban giám đốc thường quan tâm đến các lợi ích cá nhân hơn
lợi ích chung (Kim & Chung, 2007) Các công ty có cấu trúc sở hữu tập trung, có cổ
đông lớn thường hoạt động hiệu quả hơn so với công ty có cấu trúc sở hữu phân tán
vì những áp lực, những ảnh hưởng của cổ đông lớn lên ban điều hành, buộc ban
điều hành phải hành động vì lợi ích của công ty
ngân hàng thương mại
2.4.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Theo cuốn sách ―Công ty hiện đại và Tài sản cá nhân‖ (Adolph và Gardiner
Means, 1932), sự phân tán trong cơ cấu cổ đông của công ty thì tỷ lệ nghịch với
hiệu quả hoạt động của công ty Sự mở rộng về quyền sở hữu sẽ cho phép các nhà
quản lý theo đuổi lợi ích riêng của họ và không phù hợp với lợi ích chung của các
cổ đông Do vậy, việc vận hành công ty bị ảnh hưởng bởi sự phân biệt quyền sở hữu
và cấu trúc kiểm soát
Trong bài nghiên cứu về mối quan hệ giữa hành vi nhà quản trị, chi phí đại diện và cấu trúc sở hữu, Jensen và Meckling (1976) đã đặt giả thuyết tỷ lệ sở hữu
của ban quản lý doanh nghiệp là yếu tố ngoại sinh và sử dụng phương pháp bình
phương nhỏ nhất (OLS) để thực hiên nghiên cứu Kết quả của nghiên cứu đã cung
cấp những chứng cứ về việc tồn tại mối quan hệ tuyến tính giữa tỷ lệ sở hữu của
Ban giám đốc và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, cụ thể tỷ lệ sở hữu cổ phần
của thành viên ban quản lý càng lớn thì các quyết định của nhà quản lý càng có xu
Trang 28hướng nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cũng như bám sát theo mục
tiêu cuối cùng của quản trị doanh nghiệp là tối đa hóa giá trị tài sản chủ sở hữu
Các nghiên cứu thực nghiệm về mối liên hệ giữa cấu trúc sở hữu và kết quả hoạt động của doanh nghiệp ở Mỹ thu được những kết quả khác nhau Đề xuất về
tính chất nội sinh của cấu trúc sở hữu trong đo lường tác động tới hiệu quả hoạt
động, Demsetz và Lehn (1985)đã kiểm định thực nghiệm với 511 doanh nghiệp lớn
của Mỹ, với sự quan sát các hình thức trong cấu trúc sở hữu của các doanh nghiệp
như: sở hữu tổ chức, sở hữu cá nhân, sở hữu của 5 cổ đông lớn nhất Hai tác giả đã
sử dụng các mô hình hồi quy tuyến tính mà trong đó cấu trúc sở hữu được xem là
biến nội sinh
Tại các nước phát triển và đang phát triển, tỷ trọng sở hữu nước ngoài dần tăng lên trong khi đó tỷ lệ sở hữu nhà nước đang có xu hướng giảm dần Từ cuộc
khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007 – 2008, nguyên nhân sâu xa bắt nguồn từ sự
bất ổn của hệ thống ngân hàng làm trầm trọng thêm cuộc tranh luận về cơ cấu sở
hữu của ngành ngân hàng
Từ đây, chia ra làm hai luồng quan điểm về ảnh hưởng của sở hữu nhà nước
Quan điểm thứ nhất dường như ủng hộ cho việc sở hữu của nhà nước tại các ngân
hàng Theo Stiglitz (1993), nhấn mạnh rằng bằng cách giúp vượt qua những thất bại
của thị trường và tận dụng các nguồn lực, các ngân hàng có sự sở hữu chi phối bởi
nhà nước có thể thúc đẩy các khoản đầu tư và nâng cao phúc lợi xã hội Bên cạnh
đó Gerschenkron (1962) cũng nhấn mạnh rằng các ngân hàng nhà nước có thể đóng
một vai trò quan trọng trong việc phân bổ các nguồn lực cho các ngành công nghiệp
chiến lược mà khu vực tư nhân không thể hoặc không muốn tài trơ, do đó giúp đẩy
nhanh sự phát triển kinh tế
Ngược lại, cũng có những quan điểm nhấn mạnh việc sở hữu nhà nước có thể dẫn đến phân bổ nguồn lực không hiệu quả Dựa trên quan điểm của thuyết người
đại diện (Agency Theory), ngay cả khi chính phủ có những mục đích tốt nhất, xung
đột lợi ích giữa chính phủ và các quan chức được chỉ định để quản lý các ngân hàng
dẫn đến giảm tính hiệu quả hoạt động (Hart và cộng sự, 1997) Cũng như vậy, sự
sở hữu ngân hàng bởi chính phủ là cơ chế để các nhà chính trị theo đuổi các mục
Trang 29tiêu cá nhân của họ (lợi nhuận cá nhân, tái tranh cử …) dẫn đến việc tài nguyên bị
phân bổ sai mục đích và hiệu quả kinh tế không cao (Shleifer và Vishny, 1988)
Liên quan đến các vấn đề trên, theo Perotti và Vorage (2010) cũng cho thấy các chính trị gia có xu hướng ủng hộ sở hữu ngân hàng của chính phủ khi trách
nhiệm giải trình và sự độc lập của tư pháp là thấp, vì các chính trị gia có thể khai
thác những lợi ích mà không phải gánh chịu hậu quả cá nhân
Trong nghiên cứu “Bank Ownership and Performance” của Micco và cộng
sự (2004) các tác giả đã xây dựng bộ số liệu xấp xỉ 50,000 quan sát từ 199 quốc gia
trên thế giới trong giai đoạn 1995 – 2002 để mô tả ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu
đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Nghiên cứu chỉ ra rằng, ở các nước đang
phát triển, có mối liên hệ mật thiết giữa cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của
ngân hàng, trong khi các quốc gia phát triển lại không có mối liên hệ này, hoặc
không đáng kể Sự tác động đối với các quốc gia đang phát triển là tiêu cực, tức là
các ngân hàng có sở hữu nhà nước có mức lợi nhuận thấp hơn, trong khi chi phí lại
cao hơn Điều này cũng dẫn đến một tỉ lệ nợ xấu cao hơn của các ngân hàng có sở
hữu nhà nước
Ngoài những nghiên cứu về sở hữu nhà nước, nghiên cứu của Kosak và Cok (2008)nghiên cứu tại 6 quốc gia Đông Âu cũng chỉ ra sự khác biệt trong khả năng
sinh lời của các ngân hàng có sở hữu nước ngoài và sở hữu trong nước Nghiên cứu
đã sử dụng các biến về sở hữu nước ngoài, sở hữu trong nước và các chỉ số sinh lời
trong giai đoạn 1995 – 2004 Kết quả nghiên cứu của Clasessens và Djankove
(1998) tại Cộng hòa Séc cho thấy sở hữu bởi nhà đầu tư chiến lược nước ngoài có
ảnh hưởng mạnh và tích cực đến khả năng sinh lời
Các chủ đề tương tự nghiên cứu sự tác động của cấu trúc sở hữu đến kết quả hoạt động của các ngân hàng cũng được kiểm chứng tại rất nhiều quốc gia đang
phát triển Trong đó vai trò của sở hữu nhà nước luôn đứng ở vị trí trung tâm trong
các nghiên cứu tại các quốc gia này
Tại Trung Quốc, nghiên cứu của Sun và Tong (2003) kết luận rằng sở hữu nhà nước có tác động tiêu cực đến hiệu suất doanh nghiệp, trong khi sở hữu nước
ngoài lại không thể hiện rõ ràng việc có tác động tích cực hay không đối với hiệu
Trang 30suất doanh nghiệp Ngược lại, Clasessens và Djankow (1998) lại cho rằng sở hữu
bởi nhà đầu tư chiến lược nước ngoài có ảnh hưởng mạnh đến khả năng sinh lời
Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng tại những nước đang phát triển, Micco và cộng sự (2004) đã phát hiện ra mối quan hệ mật
thiết giữa cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của các NHTM Nghiên cứu chỉ ra,
những NHTMCP có vốn nhà nước chi phối có chỉ số sinh lời thấp hơn nhóm
NHTMCP tư nhân Ngoài ra, những ngân hàng cổ phần có vốn sở hữu nước ngoài
là một yếu tố làm tăng chỉ số sinh lời
G Gursoy và K Aydogan (1998)đã sử dụng tổng tỷ lệ sở hữu của 3 cổ đông lớn nhất để nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của sự tập trung sở hữu đến hiệu quả
hoạt động của các NHTM Thổ Nhĩ Kỳ R Kiruri (2013) lại sử dụng tổng tỷ lệ sở
hữu của 5 cổ đông lớn nhất trong tình huống nghiên cứu tương tự ở Kenya Ezugwu
CI và A Itodo (2014) sử dụng tỷ lệ sở hữu của 5 cổ đông và 100 cổ đông lớn nhát
trong tình huống nghiên cứu tương tự ở Nigeria
Cơ cấu sở hữu quá tập trung không phải là một cơ cấu hiệu quả Nghiên cứu của Shleifer và Vishny (1997) đã chỉ ra “những nhà đầu tư lớn có thể có những mối
quan tâm riêng và những mối quan tâm này không mang lại lợi ích với các nhà đầu
tư khác trong công ty” Đối với ngành ngân hàng, các cổ đông lớn áp dụng hành vi
cơ hội cho bản thân hoặc công ty sân sau, chẳng những gây tổn hại lợi ích của các
cổ đông nhỏ mà còn gián tiếp tổn hại đến lợi ích của người gửi tiền hoặc chính phủ,
bời vì các công ty này không đáp ứng được yêu cầu tín dụng, dễ mang nợ xấu, giảm
lợi nhuận và tỷ suất sinh lợi của ngân hàng Các nghiên cứu như: R Kiruri (2013),
Lin và Zhang (2009) chỉ ra mức độ tập trung sở hữu tác động ngược chiều đến
ROE
Nghiên cứu của Berge và cộng sự (1990) về thực trạng hiệu quả hoạt động của các ngân hàng tại Argentina những năm 1990 cũng cho thấy, các ngân hàng
quốc doanh sau khi cổ phần hóa đã hoạt động hiệu quả đáng kể, mặc dù trước đó đã
phải trải qua một thời gian dài hoạt động tồi tệ Nghiên cứu của Williams và
Nguyen (2005) tập trung vào mối liên hệ giữa hiệu suất hoạt động và quản trị ngân
hàng tại các nước Đông Á (Indonesia, Malaysia, Philippines và Thái Lan) từ năm
Trang 311990 đến năm 2003 Phát hiện của họ cho thấy, các ngân hàng được chọn để sáp
nhập, mua lại và cổ phần cho hiệu quả lợi nhuận tương đối thấp khi thay đổi quản
trị và xấu đi trong ngắn hạn, nhưng trong dài hạn, hiệu quả được cải thiện Về mặt
tổng thể, kết luận của họ có xu hướng thiên về ngân hàng tư nhân và từ chối sở hữu
nhà nước mặc dù phát hiện của họ cho thấy những lợi ích tiềm năng của sở hữu tư
nhân hay nước ngoài có thể phải mất một thời gian dài để thực hiện được
Những kết luận trên phù hợp với kết luận của La Porta (2000) khi cho rằng,
ở một nước mà hệ thống pháp luật chưa chặt chẽ và quản trị doanh nghiệp trong
ngân hàng không hiệu quả thì việc tư nhân hóa sẽ dẫn đến những quan hệ tín dụng
không theo nguyên tắc giữa ngân hàng và các chủ sở hữu của chúng, từ đó, làm
giảm hiệu quả hoạt động, lợi nhuận và ảnh hưởng đến chất lượng tài sản trong dài
hạn của ngân hàng Như vậy, sự tham gia của các nhà đầu tư tư nhân chưa hẳn đã
hiệu quả nếu như các điều kiện giám sát chưa hoàn thiện, hệ thống luật pháp còn
nhiều kẽ hở cho các nhà đầu tư trục lợi
Những ưu điểm của sở hữu nước ngoài trong hệ thống ngân hàng cũng là một chủ đề thu hút được nhiều sự chú ý Về cơ bản, sự tham gia của các nhà đầu tư
nước ngoài vào hệ thống ngân hàng được cho là sẽ đem lại những dấu hiệu tích cực
trong cơ chế và hiệu quả hoạt động Demirguç -Kunt và Huizinga (1999) nhận định
rằng, các ngân hàng nước ngoài sẽ thu được lợi nhuận cao hơn so với các ngân hàng
nội địa ở các quốc gia đang phát triển, nhưng không đúng với các quốc gia phát
triển, do bản thân họ là những ngân hàng có kinh nghiệm điều hành, công nghệ tiên
tiến và hoạt động hiệu quả Classens và cộng sự (2001) cũng đưa ra những kết luận
tương tự
Bên cạnh sở hữu nhà nước và nước ngoài, mức độ tập trung sở hữu cũng được nghiên cứu tại các quốc gia đang phát triển Theo nghiên cứu của Wen (2010)
khi khảo sát 50 ngân hàng ở Trung Quốc trong ba năm 2003, 2006 và 2008 đã nhận
thấy, không có mối liên hệ tuyến tính nào giữa mức độ tập trung sở hữu đến khả
năng sinh lời, biểu hiện bằng ROA, ROE của các NHTM nhà nước, các NHTM cổ
phần Tuy nhiên, sau khi xây dựng mô hình hồi quy quadratic model, ông lại tìm ra
Trang 32mối quan hệ tuyến tính thuận chiều giữa mức độ tập trung sở hữu đến ROA trong
năm 2006 và 2008
2.4.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Nhìn chung, số lượng các nghiên cứu liên quan đến chủ đề tác động của cấu trúc sở hữu đến kết quả hoạt động của các NHTM tại Việt Nam tương đối ít Nhưng
có các bằng chứng nghiên cứu về nội dung này dành cho các nhóm quốc gia, trong
đó có Việt Nam, chẳng hạn như nhóm các quốc gia đang phát triển, ASEAN, khu
vực Châu Á – Thái Bình Dương … Thêm vào đó, do một số điểm tương đồng giữa
hai quốc gia, có thể sử dụng các nghiên cứu tại Trung Quốc làm cơ sở để phân tích
tại Việt Nam
Trong nghiên cứu của Cornett và cộng sự (2009), tiến hành nghiên cứu tại 16 quốc gia Đông Á trong đó có Việt Nam từ năm 1989 đến 1998, Nghiên cứu đã chỉ
ra rằng, ngân hàng có sở hữu nhà nước hoạt động có lợi nhuận thấp hơn rõ rệt, tỷ lệ
vốn cấp một thấp hơn nhưng rủi ro tín dụng lại cao hơn tương đối, thanh khoản thấp
hơn và hiệu quả quản lý cũng thấp hơn so với ngân hàng tư nhân
Nghiên cứu của Vu & Turnel (2010) chỉ ra rằng, năng suất của các ngân hàng Việt Nam có sở hữu nhà nước đang có xu hướng giảm Nghiên cứu sử dụng
dữ liệu của toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2000 – 2008 Kết quả này
phù hợp với những nghiên cứu của các tác giả trong nhóm nước đang phát triển
Nghiên cứu của tác giả Trịnh Quốc Trung và Nguyễn Văn Sang (2013) chỉ ra loại hình NHTM, cấu trúc sở hữu nhà nước có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động
thông qua chỉ số ROE mà không thông qua chỉ số ROA Nghiên cứu này sử dụng
mô hình hồi quy Tobit dựa trên phân tích số liệu của 39 ngân hàng Việt Nam giai
đoạn 2005-2012
Berger và cộng sự (2007) khi thực hiện nghiên cứu tại các quốc gia Đông Á trong đó có Việt Nam nhận định rằng, với sự tham gia của các nhà đầu tư nước
ngoài, những hoạt động liên quan đến điều hành, chuyển giao công nghệ và dịch vụ
từ phía họ sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng trong nước
Tuy nhiên, cũng giống như các nước khác, quá trình này phải mất một thời gian mới
Trang 33có thể đem lại những hiệu ứng tích cực do ban đầu, họ sẽ khai thác vào những điểm
yếu và những khu vực không chịu sự cạnh tranh trực tiếp với các ngân hàng nội địa
Ngoài ra, với tỷ lệ tham gia của Chính phủ vào các ngân hàng lớn cũng như hệ
thống pháp luật và trình độ phát triển của hệ thống tài chính còn nhiều hạn chế như
ở Việt Nam, đây có thể sẽ là một rào cản cho quá trình tham gia và phát huy hiệu
quả của các ngân hàng có yếu tố nước ngoài
Nghiên cứu của tác giả Phạm Hoàng Ân và Nguyễn Thị Ngọc Hương (2013)được thực hiện nhằm phân tích các yếu tố quyết định đến thu nhập lãi cận biên
(NIM) của các NHTM ở Việt Nam với sự nhấn mạnh đặc biệt về loại hình sở hữu
của ngân hàng Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp của 30 NHTM với 150 quan sát
trong giai đoạn 2008 – 2012 và áp dụng phân tích hồi quy dữ liệu bảng với phương
pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi (Feasible General Least Square –
FGLS) để ước lượng các hệ số hồi quy Kết quả thực nghiệm cho thấy có sự tác
động của loại hình sở hữu đến thu nhập lãi cận biên của ngân hàng, các NHTMCP
tư nhân có tỷ lệ này cao hơn khi so sánh với các NHTM có cổ phần nhà nước chi
phối Đồng thời, quy mô hoạt động cho vay, chi phí hoạt động, rủi ro tín dụng, rủi
ro thanh khoản, tỷ lệ vốn chủ sở hữu có tương quan dương và có ý nghĩa thống kê
với thu nhập lãi cận biên của ngân hàng
Tác giả Trương Quốc Cường và cộng sự năm 2013 nghiên cứu một vấn đề khá đặc biệt của sở hữu trong hệ thống ngân hàng là hiện tượng sở hữu chéo Đề tài
nghiên cứu khoa học của ngành ngân hàng “Vấn đề sở hữu chéo trong hệ thống
NHTM Việt Nam: Thực trạng, hệ lụy và giải pháp” đã tập trung nghiên cứu một
cách có hệ thống những vấn đề lý luận cùng kinh nghiệm thực tiễn, từ đó đưa ra các
giải pháp định hướng, quản lý và kiểm soát tình trạng sở hữu chéo trong hệ thống
các TCTD Việt Nam Theo kết quả nghiên cứu, sở hữu chéo là một vấn đề mang
thuộc tính khách quan cùng sự phát triển của một nền kinh tế mà vốn dựa vào tín
dụng ngân hàng Kinh nghiệm ở nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy sự tồn tại của
sở hữu chéo đã tạo nên tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn dài Tuy nhiên, những hệ
lụy từ sở hữu chéo tới rủi ro của hệ thống tài chính là không nhỏ khi mà sở hữu
chéo có thể thúc đẩy cho hoạt động cho vay, đầu tư thiếu minh bạch, làm tăng rủi ro
đạo đức từ phía người sử dụng vốn Chính hiện tượng sở hữu này là nguyên nhân
Trang 34gây ra nhiều tác động tiêu cực đến hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam thời
gian qua
Trong nghiên cứu của mình năm 2013, các tác giả Nguyễn Hồng Sơn và cộng sự đã nghiên cứu tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời của các
ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh tái cơ cấu Kết quả nghiên cứu cho
thấy mức độ tập trung vốn chủ sở hữu và tỷ lệ sở hữu tư nhân có tác động cùng
chiều đến khả năng sinh lời của các NHTM Trong khi đó, tỷ lệ nợ xấu có tác động
tiêu cực đến khả năng sinh lời của ngân hàng Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng
thống nhất với các nghiên cứu trước về tác động cùng chiều của quản trị công ty
đến khả năng sinh lời của các NHTM Các phát hiện về tác động của cấu trúc sở
hữu và quản trị công ty đến khả năng sinh lời của các NHTM ở Việt Nam trong
nghiên cứu này có nhiều tương đồng với các kết quả nghiên cứu của các tác giả
nước ngoài về tác động của cấu trúc sở hữu và quản trị công ty đến khả năng sinh
lời của các NHTM ở Kenya, Trung Quốc, Malaysia (Wen, 2010) Từ các kết quả
trên, một số gợi ý chính sách đã được đưa ra, bao gồm: (i) Khuyến khích các cổ
đông lớn tham gia hội đồng quản trị (HĐQT) nhằm giảm mâu thuẫn lợi ích trong
các NHTM; (ii) Khuyến khích tăng cường sở hữu tư nhân trong các NHTM nhằm
tăng khả năng sinh lời; (iii) Thúc đẩy cải thiện quản trị công ty trong các NHTM
theo thông lệ quốc tế và; (iv) Đẩy mạnh xử lý nợ xấu trong quá trình tái cơ cấu hệ
thống NHTM Việt Nam
Đề tài nghiên cứu của tác giả Kiều Hữu Thiện và nhóm nghiên cứu Học viện Ngân hàng (năm 2014) đã thực hiện nghiên cứu khá toàn diện về tác động của sở
hữu nhà nước đến hiệu quả hoạt động của các NHTM nhà nước có cổ phần chi phối
Bằng phương pháp định tính và định lượng, đề tài đã chứng minh được mối liên hệ
giữa hình thức sở hữu và hiệu quả hoạt động của các NHTMNN và NHTM do nhà
nước giữ cổ phần chi phối Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động cũng như kết
quả từ mô hình kinh tế lượng chỉ ra các NHTMNN và NHTM do nhà nước giữ cổ
phần chưa đạt được hiệu quả kỳ vọng Thêm vào đó, dù các NHTM có sở hữu nhà
nước luôn có những ưu điểm nhất định như đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống
ngân hàng Việt Nam, có tốc độ tăng trưởng tổng tài sản và tín dụng ổn định hơn so
với các nhóm ngân hàng còn lại
Trang 35Qua những phân tích trên, chúng ta có thể nhận thấy vấn đề cấu trúc sở hữu
và hiệu quả hoạt động của ngân hàng có mối quan hệ mật thiết với nhau Cấu trúc
sở hữu có tác động quyết định đến cơ cấu và bộ máy quản trị, từ đó ảnh hướng đến
lợi nhuận, chi phí, tính thanh khoản… của ngân hàng Nghiên cứu mối quan hệ này
là cơ sở cho những nhận định và đánh giá về thực trạng và ảnh hưởng của cấu trúc
sở hữu đến hiệu quả của NHTM tại Việt Nam Bảng 2-1 sẽ tóm tắt lại kết quả
nghiên cứu về sự tác động cùng chiều, ngược chiều hoặc không có mối quan hệ của
các biến độc lập về sự tập trung sở hữu, sở hữu nhà nước và sở hữu nước ngoài lên
kết quả hoạt động
Trang 36Bảng 2-1: Bảng tóm tắt kết quả nghiên cứu
YẾU TỐ
NGHIÊN CỨU TRƯỚC
KHÔNG CÓ MỐI QUAN
HỆ
Sự tập trung
sở hữu
Clasessens và Djankow (1998);
Wen (2010);
Nguyễn Hồng Sơn và cộng sự (2013);
Demsetz và Lehn (1985);
Shleifer và Vishny (1997);
Berge và cộng sự (1990);
Perotti và Vorage (2010);
Shleifer và Vishny (1988);
Sun và Tong (2003);
Micco và cộng sự (2004);
Williams và Nguyen (2005);
Cornett và cộng sự (2009);
Vu & Turnel (2010);
Trịnh Quốc Trung và Nguyễn Văn Sang (2013);
Phạm Hoàng Ân và Nguyễn Thị Ngọc Hương (2013);
Nguyễn Hồng Sơn và cộng sự (2013);
Trang 37
Sở hữu
nước ngoài
Kosak và Cok (2008);
Clasessens và Djankow (1998);
Micco và cộng sự (2004);
Williams và Nguyen (2005);
Demirguç -Kunt và Huizinga (1999) tại các quốc gia đang phát triển;
Berger và cộng sự (2007);
Nguyễn Hồng Sơn và cộng sự (2013);
(2003);
Chủ đề cấu trúc sở hữu tác động đến kết quả hoạt động đã được nghiên cứu ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển hay các quốc
gia đang phát triển tương tự Việt Nam Tuy nhiên, các nghiên cứu về đề tài này đối
với thị trường tài chính Việt Nam chưa có nhiều, nhìn chung được thực hiện trong
tập hợp nhiều quốc gia trong khu vực Đông Nam Á hơn là cho riêng hệ thống ngân
hàng Việt Nam (Cornett và cộng sự (2009)) Trong nghiên cứu của mình, Cornett
và cộng sự (2009) đã sử dụng dữ liệu của 16 quốc gia Đông Nam Á, trong đó có
Việt Nam và đi đến kết luận là các ngân hàng do Nhà nước nắm giữ cổ phần chi
phối hoạt động kém hiệu quả và tiềm ẩn nhiều rủi ro tín dụng hơn so với các
NHTMCP Ngoài ra, một số nghiên cứu khác về vấn đề này tại Việt Nam có thể kể
đến là: Kiều Hữu Thiện và cộng sự (2014)Mối liên hệ giữa cấu trúc sở hữu và hiệu
quả hoạt động của các NHTM nhà nước và NHTM do nhà nước giữ cổ phần chi
phối (thực trạng, xu hướng và định hướng điều chỉnh) Nghiên cứu của Nguyễn
Hồng Sơn và cộng sự (2013) về tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời
của các NHTM Việt Nam trong bối cảnh tái cơ cấu Nhìn chung, các nghiên cứu
này được trình bày dưới dạng bài báo khoa học đăng tạp chí, chưa đi sâu phân tích
cơ sở lý thuyết, thực trạng về tác động của cấu trúc sở hữu trong hệ thống ngân
hàng Việt Nam, đặc biệt là việc gắn sở hữu với hoạt động quản trị công ty Hơn
Trang 38nữa, các nghiên cứu trên chưa đưa ra được các định hướng điều chỉnh về cấu trúc sở
hữu trong tương lai Điều này làm phát sinh một khoảng trống trong nội dung
nghiên cứu đối với trường hợp của các NHTM Việt Nam
Kết luận chương 2
Chương 2 đã hệ thống các khái niệm cơ bản về tỷ suất sinh lời, khái niệm cấu trúc sở hữu, các lý thuyết có liên quan đến cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt
động cũng như phân tích về sự ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến tỷ suất sinh lời
tại các NHTM Việc khảo lược các nghiên cứu thực nghiệm trước đây trên thế giới
và tại Việt Nam về tác động của cấu trúc sở hữu đến tỷ suất sinh lời tại các NHTM
giúp xác định mô hình nghiên cứu, xác định thành phần sở hữu, cách đo lường sự
tập trung sở hữu cũng như các yếu tố kiểm soát phù hợp với tình huống nghiên cứu
các NHTM của luận văn
Trang 39CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU
Chương 3 giới thiệu phương pháp nghiên cứu cho vấn đề tìm hiểu tác động của cấu trúc sở hữu đến kết quả hoạt động của các NHTMCP Việt Nam trong giai
đoạn 2009 – 2016 qua việc xác định các giả thuyết nghiên cứu, dữ liệu, mô hình và
các biến trong mô hình nghiên cứu, trình bày các cơ sở nghiên cứu để tiếp tục cho
chương 4 thực hiện nghiên cứu định lượng, kiểm định khuyết tật mô hình và khắc
phục khuyết tật trong mô hình
3.1.1 Dữ liệu nghiên cứu
Việc thu thập dữ liệu nghiên cứu thuận tiện nhất là giai đoạn 2009 – 2016
Trước năm 2009, các thông tin về tỷ lệ sở hữu của mỗi thành phần cổ đông không
được công bố một cách đầy đủ và rộng rãi Dữ liệu tỷ suất sinh lời được chọn là
ROAA – tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản bình quân và ROAE – tỷ suất sinh lời trên
vốn chủ sở hữu bình quân để gia tăng độ tin cậy của tỷ suất sinh lời Các dữ liệu
được lấy vào thời điểm cuối năm, từ báo cáo tài chính của các NHTMCP Việt Nam
Theo mô hình nghiên cứu tác động của mức độ tập trung sở hữu, tỷ lệ sở hữu của 5 cổ đông lớn nhất được chọn làm thước đo Theo mô hình nghiên cứu sự hỗn
hợp sở hữu, hai thành phần sở hữu được chọn là sở hữu nhà nước và sở hữu nước
ngoài Dữ liệu về tỷ lệ sở hữu được lấy từ báo cáo thường niên của các NHTMCP
Việt Nam được nghiên cứu Tuy nhiên, một số ngân hàng không công bố đầy đủ
thông tin này, việc tính toán tỷ lệ sở hữu hàng năm phải dựa trên lịch sử giao dịch
của phiếu lấy từ cơ sở dữ liệu của SGDCK kết hợp với báo cáo tài chính
Dữ liệu về quy mô ngân hàng như tốc độ tăng trưởng nguồn vốn, tổng tài sản, dữ liệu về việc sử dụng nợ trong hoạt động kinh doanh ngân hàng như tỷ lệ cho
vay/tiền gửi, tỷ lệ nợ phải trả/tổng tài sản được tính toán vào thời điểm cuối năm, từ
báo cáo tài chính hàng năm
Trang 403.1.2 Các biến số trong mô hình
Nhằm cung cấp một cái nhìn khái quát về kết quả hoạt động của các ngân hàng dưới ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu, nghiên cứu sẽ sử dụng các chỉ số ROAA,
ROAE của các ngân hàng làm biến phụ thuộc trong mô hình Trong đó, cấu trúc sở
hữu được xem xét dưới hai hình thức: mức độ tập trung sở hữu và thành phần sở
hữu bao gồm: sở hữu nhà nước và sở hữu nước ngoài (sau đây thành phần sở hữu sẽ
được nhắc đến bằng sự hỗn hợp sở hữu)
Theo nghiên cứu của Ezugwu CI và A Itodo (2014), qua phân tích tác động của cấu trúc sở hữu theo hai hướng tiếp cận là sự tập trung sở hữu và hỗn hợp sở
hữu và một số đặc thù riêng ngành ngân hàng như tỷ lệ cho vay trên tiền gửi, tổng
tài sản ngân hàng, tỷ lệ tăng trưởng vốn chủ sở hữu, tỷ lệ nợ trên tổng tài sản đến
kết quả hoạt động của các ngân hàng Nigerian gợi ý cho các biến sử dụng trong mô
hình và mô hình nghiên cứu Bảng 3-1 sẽ tóm lược các biến được sử dụng trong mô
hình nghiên cứu
Bảng 3-1: Ý nghĩa và đơn vị tính các biến trong mô hình nghiên cứu
Biến động lập C5 Tổng tỷ lệ sở hữu của 5 cổ đông lớn nhất %
GOV Tỷ lệ sở hữu của thành phần nhà nước % FOR Tỷ lệ sở hữu của thành phần nước ngoài % Biển kiểm soát ASS Logarit tự nhiên của tổng tài sản Tỷ đồng
FLE Tỷ lệ nợ phải trả/tổng tài sản % LDR Tỷ lệ tổng cho vay/tổng tiền gởi % GRO Tỷ lệ tăng trưởng vốn hàng năm %
(Nguồn: Tự tổng hợp)