Quyền sở hữu: Là biểu hiện pháp lý của các quan hệ sở hữu. Đó là các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân hay các chủ thể khác trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản. Như vậy, quyền sở hữu là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng và định đoạt các tư liệu sản xuất, tư dùng tiêu dùng và những tài sản khác theo quy định của pháp luật.
Trang 1ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ GIAO THÔNG VẬN TẢI
KHOA CHÍNH TRỊ - QPAN – GDTC
BỘ MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
TIỂU LUẬN MÔN PHÁP LUẬT VIỆT NAM ĐẠI CƯƠNG
Tên tiểu luận: “Quyền sở hữu, căn cứ xác lập quyền sở hữu và những bất cập, hướng hoàn thiện những bất cập về quyền sở hữu
trong Bộ luật dân sự 2015”
Sinh viên thực hiện:
Mã sinh viên:
Lớp:
Khóa:
Giảng viên hướng dẫn: TS …
HÀ NỘI– 2022
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG TIỂU LUẬN 3
1 Phần lý thuyết 3
1.1 Quyền sở hữu 3
1.2 Các căn cứ xác lập và chấm dứt quyền sở hữu 5
2 Những bất cập và hướng hoàn thiện những bất cập về quyền sở hữu trong Bộ luật dân sự 2015 6
2.1 Những bất cập quyền sở hữu 6
2.2 Hướng hoàn thiện về quyền sở hữu 9
2.3 Ý kiến cá nhân 10
KẾT LUẬN 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 3MỞ ĐẦU
Trong cuộc sống ngày nay, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng Nó là phương tiện không thể thiếu đảm bảo tồn tại, trật tự và ổn định bình thường của
xã hội nói chung và nhà nước nói riêng Pháp luật là công cụ quản lý hữu hiệu của nhà nước, vai trò của pháp luật là tất yếu khách quan Pháp luật góp phần xây dựng một xã hội trật tự, kỉ cương, văn minh mà còn hướng đến bảo vệ và hướng đến các giá trị tốt đẹp, điều chỉnh, ngăn chặn, giảm thiểu việc làm tiêu cực của con người, một trong số đó là hành vi vi phạm pháp luật Một nước có chế độ kinh tế, chính trị, có nhiều tài sản sở hữu toàn dân như khoáng sản, rừng, đất đai nên xảy ra khá nhiều vụ việc xâm hại, khai thác trái phép làm thất thoát tài sản của nhà nước, nhân dân Thấy được tầm quan trọng của các quy định luật trong việc sở hữu, sử dụng các tài sản nên em xin chọn đề tài tiểu luận “Quyền
sở hữu, căn cứ xác lập quyền sở hữu và những bất cập, hướng hoàn thiện những bất cập về quyền sở hữu trong Bộ luật dân sự 2015”
Trang 4NỘI DUNG TIỂU LUẬN
1 Phần lý thuyết
1.1 Quyền sở hữu
Sở hữu là việc chiếm hữu những của cải vật chất trong xã hội Trong xã hội có rất nhiều quyền sở hữu như: Quyền sở hữu trí tuệ, Quyền sở hữu công nghiệp; Quyền sở hữu tài sản; Quyền sở hữu đất đai; Quyền sở hữu nhà ở; Quyền sở hữu kinh doanh
Quyền sở hữu:
Là biểu hiện pháp lý của các quan hệ sở hữu Đó là các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân hay các chủ thể khác trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản
Như vậy, quyền sở hữu là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chiếm hữu,
sử dụng và định đoạt các tư liệu sản xuất, tư dùng tiêu dùng và những tài sản khác theo quy định của pháp luật
Nội dung quyền sở hữu bao gồm 3 quyền:
- Quyền chiếm hữu: là quyền của chủ sở hữu tự mình nắm giữ, quản lí tài sản thuộc sở hữu của mình
Thông thường quyền chiếm hữu được thực hiện bởi chủ sở hữu, tuy nhiên có những người không phải là chủ sở hữu cũng có quyền chiếm hữu tài sản trong trường hợp chủ sở hữu chuyển giao quyền hoặc do pháp luật quy định
- Quyền chiếm hữu được phân biệt thành chiếm hữu có căn cứ pháp luật và chiếm hữu không có căn cứ pháp luật
Chiếm hữu có căn cứ pháp luật: Theo quy định Điều 165 BLDS 2015 thì chiếm hữu có căn cứ pháp luật là chiếm hữu tài sản trong các trường hợp sau: a) Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản;
Trang 5b) Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản;
c) Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định pháp luật;
d) Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được của ai
là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn, bị vùi lấp, chìm đắm phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan;
e) Trường hợp khác do pháp luật quy định
Chiếm hữu không có căn cứu pháp luật: Việc chiếm hữu tài sản không phù hợp với quy định tại Điều 165 BLDS 2015 này là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật
Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật lại phân ra thành 2 loại:
Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật ngay tình: Người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình là người chiếm hữu tài sản mà không biết hoặc không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật
Chiếm hữu không ngay tình: Biết tài sản đó nhưng vẫn chiếm hữu không có căn cứ pháp luật hoặc phải biết rằng mình không có quyền đối với tài sản chiếm hữu
Quyền sử dụng là quyền của chủ sở hữu khai thác công dụng, hoa lợi, lợi tức từ tài sản Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại Lợi tức là các khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản
Người chủ sở hữu trực tiếp thức hiện quyền sử dụng thì được thực hiện theo ý chí của mình nhưng không được gây thiệt hại và làm ảnh hưởng đến lợi ích của người khác Người không phải là chủ sở hữu cũng có quyền sử dụng tài sản trong trường hợp được chủ sở hữu chuyển giao quyền sử dụng thông qua hợp đồng hoặc do pháp luật quy định
Trang 6Quyền định đoạt là quyền của chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho người khác hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó Các hình thức định đoạt thông thường như bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ tài sản Chủ sở hữu tự mình hoặc ủy quyền cho người khác quy định định đoạt tài sản của mình Việc định đoạt tài sản phải do người có năng lực hành vi dân sự thực hiện theo quy định của pháp luật
Các chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác đều được pháp luật quy định có đủ cả ba quyền trên trong quyền sở hữu của mình Nguyên tắc chung trong việc thực hiện quyền sở hữu là: ”Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”
1.2 Các căn cứ xác lập và chấm dứt quyền sở hữu
Các căn cứ xác lập quyền sở hữu ( Điều 221 BLDS 2015):
- Do lao động, do hoạt động sản xuất kinh doanh hợp pháp;
- Được chuyển quyền sở hữu theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước thẩm quyển;
- Thu hoa lợi, lợi tức
- Tạo thành vật mới do sát nhập, trộn lẫn, chế biến;
- Được thừa kế tài sản;
- Chiếm hữu trong các điều kiện do pháp luật quy định đối với vật vô chủ, vật đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên
- Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản
Căn cứ chấm dứt quyền sở hữu: (Điều 237 BLDS 2015):
Trang 7- Chủ sở hữu chuyển quyền sở hữu của mình cho người khác;
- Chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình;
- Tài sản bị tiêu hủy;
- Tài sản bị xử lý để thực hiện nghĩa của chủ sở hữu;
- Tài sản bị trưng mua;
- Tài sản bị tịch thu;
- Vật bị đánh rơi, bị bỏ quên , gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên mà người khác đã được xác lập quyền sở hữu trong các điều kiện tự do pháp luật quy định; tài sản đã được xác lập quyền sở hữu khi họ đã chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản
2 Những bất cập và hướng hoàn thiện những bất cập về quyền sở hữu trong Bộ luật dân sự 2015
2.1 Những bất cập quyền sở hữu
Đầu tiên về khái niệm tài sản, khoản 1 Điều 105 quy định: “Tài sản là tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản” là không chính xác Từ "là" trong văn bản
luật thường dùng cho quy phạm định nghĩa, còn tại quy định nói trên chỉ là liệt
kê tài sản trong lưu thông dân sự Tên mục 1 chương XI Phần thứ hai trùng với tên của Điều 160 thuộc ngay trong mục này, đó là “Nguyên tắc xác lập, thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản” Kết cấu này không hợp lý, không thể về một nội dung với nội hàm bao trùm lên rất nhiều nội dung của nhiều Điều luật lại trùng tên như hiện trạng của BLDS năm 2015
Thứ hai, nội dung quy định tại khoản 2 Điều 179 có sự đồng nhất giữa
chiếm hữu và quyền chiếm hữu thông qua sự liệt kê các hành vi chiếm hữu: với cách quy định như vậy thì được hiểu rằng, chiếm hữu bao gồm chiếm hữu của người có quyền và người không có quyền; điều này có vẻ như đã trái với định hướng khi thiết kế các điều luật trong phần này Cần hiểu rằng, việc chiếm hữu
Trang 8luôn được bảo vệ độc lập với bảo vệ quyền sở hữu Muốn bảo vệ quyền chiếm hữu là một quyền năng của quyền sở hữu thì người tranh chấp quyền với người chiếm hữu phải tự chứng minh, khi bảo vệ việc chiếm hữu thì người được bảo
vệ không phải chứng minh chủ sở hữu tài sản là ai, đây là nội dung làm giảm giá trị pháp lý của chế định chiếm hữu
Thứ ba, điều 107 BLDS 2015 khi quy định về bất động sản và động sản
như một sự kế thừa các quy định trước đây mà không có thêm nội dung mới hay tiến bộ, chưa dự liệu đến các trường hợp liên quan đến nhà theo quan niệm mới
và theo sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật cũng như sự hiện đại hóa của cuộc sống Công nghệ trong việc xây dựng nhà ở, khách sạn, nhà thủy tạ có thể không gắn liền với đất đai, mà chúng lại trôi nổi trên sông Trên thực tế, ở Đồng bằng sông Cửu Long hay những vùng ven biển miền Trung , người dân xây dựng những ngôi nhà bè, những nhà hàng trên biển được dùng vào việc ở và kinh doanh,… Vậy, khi xảy ra tranh chấp thì loại tài sản này được điều chỉnh theo quy định của BLDS về loại tài sản nào trong số các loại tài sản đã quy định trước đó Thứ tư, khoản 1 Điều 107 chưa khái quát hết được các loại tài sản cũng là bất động sản như khoáng sản trong lòng đất, cây cối giá trị, mùa màng đến mùa thu hoạch Những loại tài sản này cũng là loại tài sản gắn liền với đất đai Do đó, cần bổ sung thêm một điểm hoặc một khoản nhỏ trong điều luật về bất động sản
để có thể bao quát và điều chỉnh được các loại tài sản nêu trên Thêm vào đó, ở nước ta việc đăng ký, bảo hiểm cho các cây quý hiếm, tác phẩm kiến trúc nghệ thuật chưa được biết đến rộng rãi Việc đăng kí sẽ giúp các tài sản đó được bảo
vệ tốt hơn
Thứ năm, tính thiếu nhất quán mâu thuẫn giữa các nội dung Cụ thể là, khi
mô tả các dạng của chiếm hữu gồm có: chiếm hữu ngay tình; chiếm hữu không ngay tình; chiếm hữu liên tục; chiếm hữu công khai thì nội dung của điều luật đã khẳng định hành vi chiếm hữu liên tục và công khai không được coi là căn cứ để suy đoán về tình trạng chiếm hữu theo Điều 184 thì lại nhắc đến hai hình thức chiếm hữu này là điều kiện của việc hưởng quyền
Trang 9Thứ sáu, BLDS 2015 khi phân loại tài sản thành tài sản hiện có và tài sản
hình thành trong tương lai đó là: mặc dù khi quy định tài sản hình thành trong tương lai là “tài sản đã hình thành” nhưng lại phải phụ thuộc vào thực trạng
“nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch”? Tuy nhiên, nếu chủ thể không xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch thì “tài sản đã hình thành” có vẫn được coi là tài sản hình thành trong tương lai hay không? Do vậy, cần sớm ban hành một nghị định quy định chi tiết hướng dẫn về vấn đề trên để tranh tình trạng hiểu sai luật Các văn bản luật thiếu tính thống nhất giữa với nhau
Thứ bảy, Điều 182 BLDS năm 2015: “chiếm hữu liên tục là việc chiếm hữu được thực hiện trong một khoảng thời gian mà không có tranh chấp về quyền đối với tài sản đó hoặc có tranh chấp nhưng chưa được giải quyết bằng một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác, kể cả khi tài sản được giao cho người khác chiếm hữu” Theo quy định này, tiêu chí để xác định tính liên tục của việc chiếm hữu
là dựa vào việc có hay không có tranh chấp xảy ra trong quá trình chiếm hữu Việc đưa ra tiêu chí xác định như theo quy định là không chính xác Bởi, chiếm hữu có liên tục hay không liên tục không phụ thuộc vào việc trong quá trình chiếm hữu đó có xảy ra tranh chấp hay không xảy ra tranh chấp vì sự kiện có tranh chấp xảy ra chỉ liên quan đến vấn đề bất đồng quyền lợi giữa các bên chủ thể trong trong tranh chấp Do vậy, khoản 1 Điều 182 BLDS năm 2015 giải thích về chiếm hữu liên tục chưa chính xác
Cuối cùng, khoản 3 Điều 184 không rõ ràng, đó là quy định chủ thể
chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai được hưởng quyền nhưng quyền gì thì điều luật lại không chỉ rõ Điều này khiến cho người đọc luật phải tra cứu trong
rất nhiều điều luật để tìm ra được Điều 236: “Người chiếm hữu, người được lợi
về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”.
Trang 102.2 Hướng hoàn thiện về quyền sở hữu
Thứ nhất, BLDS năm 2015 bổ sung chế định chiếm hữu với tính chất là
một tình trạng pháp lý được ghi nhận tại Chương XII Việc ghi nhận chiếm hữu
là một chế định pháp luật độc lập với chế định quyền sở hữu là một bước tiến đáng ghi nhận trong hoạt động lập pháp để bảo vệ tốt nhất quyền và nghĩa vụ
của các chủ thể thuộc lĩnh vực dân sự Phân biệt“quyền chiếm hữu” - một quyền năng của chủ sở hữu và “chiếm hữu” - một tình trạng pháp lý có ý nghĩa quan
trọng trong thực tiễn đời sống xã hội Người đang thực tế chiếm hữu sẽ được suy đoán là chiếm hữu ngay tình và được bảo vệ trước sự xâm phạm của các chủ thể khác Nếu các chủ thể khác không thừa nhận việc chiếm hữu của một chủ thể là không ngay tình thì phải chứng minh Với quy định này, BLDS năm 2015 đã phản ánh đúng thực tế trong xã hội và ổn định các quan hệ xã hội Bởi nếu có tranh chấp xảy ra liên quan đến tài sản chiếm hữu thì không thể trong mọi trường hợp đều yêu cầu các bên tranh chấp phải chứng minh quyền sở hữu đối với tài sản, thậm chí trong một số trường hợp không thể chứng minh được quyền
sở hữu Do vậy, người được bảo vệ đầu tiên trong trường hợp này là người đang thực tế chiếm hữu
Thứ hai, BLDS năm 2005, kết cấu mục “Tài sản” nằm trong phần thứ hai
quy định về “Tài sản và quyền sở hữu” Theo bố cục của BLDS năm 2015, mục quy định về “Tài sản” đã được chuyển sang phần thứ nhất về “Quy định chung”
Có sự kết cấu lại vị trí này là vì những quy định trong mục “Tài sản” không chỉ
áp dụng cho chế định về quyền sở hữu mà còn được áp dụng ở nhiều chế định khác, đó là các chế định “Nghĩa vụ và hợp đồng”, “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”, “Thừa kế”, "Pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài" Đây là sự thay đổi rất thuyết phục vì các nội dung trong mục này liên quan xuyên suốt đến tất cả các chế định khác trong Bộ luật dân sự
Thứ ba, BLDS 2015 tại chương XIV quy định về "quyền khác đối với tài sản" Đây là chế định thể hiện tính tích cực, đột phá, nỗ lực và sáng tạo của các nhà soạn luật trong quá trình tái pháp điển BLDS Nhiều nội dung trong đó đã
Trang 11phản ánh thực tiễn sống động của đời sống dân sự, có nhiều nội dung bổ sung, thay đổi cũng như có nhiều điểm mới so với hai BLDS trước đó của Việt Nam BLDS năm 2015 hệ thống, bổ sung và thay đổi những quy định trước đây và pháp điển nó ở mức độ cao hơn, mặc dù ở mặt này hay mặt khác còn có những hạn chế nhất định.
Thứ tư, Quyền đối với bất động sản liền là vật quyền được xác lập đối
với tài sản là bất động sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của chủ thể khác Các quy định trong chế định này gồm: khái niệm quyền đối với bất động sản liền kề[, căn cứ phát sinh quyền đối với bất động sản liền kề, hiệu lực của quyền đối với bất động sản liền kề, nguyên tắc thực hiện đối với bất động sản liền kề, thay đổi việc thực hiện quyền đối với bất động sản liền kề và chấm dứt quyền đối với bất động sản liền kề] Có thể nói, việc sửa đổi và bổ sung các quy định liên quan đến quyền đối với bất động sản liền kề giúp hoàn thiện chế định luật này nói riêng và BLDS năm 2015 nói chung Những quy định mới này ở chế định quyền đối với bất động sản liền kề có ý nghĩa trong việc hướng dẫn thực hiện và áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp về bất động sản liền kề của các cơ quan bảo vệ pháp luật
2.3 Ý kiến cá nhân
Trong xã hội ngày nay, trước yêu cầu phải sử dụng tiết kiệm và hiệu quả mọi tài sản trong xã hội, nên các vật quyền khác ngoài quyền sở hữu luôn được các Nhà nước quan tâm, ghi nhận và bảo vệ Đặc biệt, ở Việt Nam, xuất phát từ các đặc thù của chế độ chính trị, kinh tế, đặc biệt là chế độ sở hữu toàn dân về một số tài sản đặc biệt như khoán sản, đất đai nên đã xuất hiện các tiền đề kinh
tế - xã hội cho việc hình thành các loại vật quyền khác mà nhiều nước trên thế giới không có, bộ luật có trách nhiệm ghi nhận và bảo vệ Các cải cách và thay đổi các điều luật ngày càng tiến bộ, chặt chẽ hơn nhưng cũng không thể tránh khỏi các lỗ hổng, thiếu sót gay ra việc lách luật, tranh chấp gây thất thoát tài sản của nhà nước và nhân dân Bộ luật cần lắng nghe phản hồi của người dân, liên