1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những thành tựu, hạn chế và những vấn đề bức xúc đặt ra của ổn định chính trị xã hội trong thời kỳ đổi mới đất nước (1986 nay)

185 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Thành Tựu, Hạn Chế Và Những Vấn Đề Bức Xúc Đặt Ra Của Ổn Định Chính Trị Xã Hội Trong Thời Kỳ Đổi Mới Đất Nước (1986 Đến Nay)
Định dạng
Số trang 185
Dung lượng 131,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vậy theo chúng tôi, khái niệm "chính trị - xã hội" đợc hiểu là một khái niệm ghép phản ánh một trong những quy luật khách quan của một xã hội có giai cấp mà trong xã hội đó mọi hoạt động

Trang 1

mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sau khi Liên Xô sụp đổ, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản độngcho rằng chủ nghĩa cộng sản sẽ biến mất vào cuối thế kỷ XX và chậm nhất là

đầu thế kỷ XXI Chủ nghĩa t bản sẽ tồn tại vĩnh hằng, chiến tranh lạnh chấmdứt thì thế giới đi vào kỷ nguyên hòa bình, nạn binh đao chấm dứt, các dân tộc

đợc sống trong bình yên, hạnh phúc Nhng điều đó đã không xảy ra Từ khithế giới trở thành thế giới một siêu cờng, siêu cờng ấy là Mỹ thì nền hòa bìnhthế giới lại bị đe dọa bị xâm phạm hơn bao giờ hết Mỹ làm ma làm gió, ban

ơn, sai khiến, trừng trị các quốc gia dân tộc Các nớc t bản vẫn cứ thi nhau sảnxuất và buôn bán vũ khí Chiến tranh cục bộ giữ các dân tộc nhỏ yếu, giữa cácsắc tộc, các tôn giáo liên tục nổ ra hết nơi này đến nơi khác trên thế giới vớiquy mô càng rộng lớn và với tính chất quyết liệt hơn Bớc sang thế kỷ XXI,ngay trong năm đầu tiên, cả thế giới t bản hoảng loạn sau vụ khủng bố vào n-

ớc Mỹ (11/9/2001) Sự mất ổn định chính trị, xã hội đã đến gõ cửa thánh đờngthiêng liêng nhất, đợc bảo vệ nghiêm ngặt nhất của thế giới t bản Sự mất ổn

định chính trị, ổn định xã hội đâu chỉ là việc riêng của các nớc nghèo, bị phụthuộc mà nay hậu quả của mất ổn định chính trị, xã hội cũng đã làm chonhững ngời giàu phải khóc Vì vậy vấn đè ổn định chính trị - xã hội trở thànhmột vấn đề nóng bỏng của toàn cầu, trở thành:

"Mục tiêu của hầu hết các nớc trên thế giới Bởi vì nhân loại tiến bộ đãnhận ra rằng nếu không có ổn định thì không làm đợc bất cứ việc gì có tầm cỡquốc gia cho dù đó là việc bình thờng, dễ dàng nhất" [ tr 22]

ở nớc ta, Đảng ta đặc biệt quan tâm đến vấn đề ổn định chính trị - xãhội Ngay từ những ngày đầu đổi mới đất nớc (1986), Đảng ta đã đề ra nhiệm

vụ giữ vững ổn định chính trị - xã hội Đảng ta xác định rõ có ổn định chínhtrị - xã hội mới có điều kiện để ổn định và phát triển kinh tế - xã hội Suốt

Trang 2

15 năm đổi mới đất nớc, không một phút nào Đảng ta lơi lỏng nhiệm vụ giữvững ổn định chính trị - xã hội Do vậy công cuộc đổi mới của ta đã có nhữngbớc đi rất vững chắc, đạt đợc nhiều thành tựu quan trọng, thắng lợi sau to lớnhơn thắng lợi trớc Sau 15 năm đổi mới đất nớc, tình hình chính trị - xã hội củanớc ta: "Cơ bản ổn định, quốc phòng và an ninh đợc tăng cờng"

[ tr 70]

Sau cuộc khủng hoảng tài chính ở châu á và gần đầy sau sự kiện11/9/2001, nớc ta đợc đánh giá là một trong những nớc ổn định nhất trong khuvực và trên thế giới Nhng hiện nay nớc ta cũng còn có những nhân tố tiềm ẩngây ra mất ổn định chính trị - xã hội Nớc ta nằm trong khu vực Đông Nam á,châu á Thái Bình Dơng, một khu vực có nhiều nhân tố tiềm ẩn gây mất ổn

định Sau 11/9/2001, khu vực này có nhiều dấu hiệu mất ổn định ở những nămtới ở trong nớc, bốn nguy cơ ngày càng có nhiều tác động tiêu cực có thể gây

ra mất ổn định chính trị - xã hội Nguy cơ tham nhũng đang là một mối đe dọa

đến việc sống còn của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nớc ta:

"Trong lịch sử thế giới xa nay không ít trờng hợp một nhà nớc, mộtchế độ mặc dù có quá khứ vẻ vang nhng sụp đổ mau chóng một khi thoái hóatham nhũng, quan liêu, xa rời nhân dân, đánh mất niềm tin và sự ủng hộ củanhân dân" [ tr 12]

Xã hội nớc ta hiện nay cũng nổi lên một số vấn đề xã hội nổi cộm, bứcxúc mà nếu không ngăn chặn kịp thời cũng sẽ gây ra những hậu quả xã hộikhôn lờng Vì vây, việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội, hơn bao giờ hết,lại là vấn đề đợc đặt lên hàng đầu, là nhiệm vụ sinh tử mà toàn Đảng, toàn dânphải tập trung giải quyết

Trong lý luận cũng nh trên thực tiễn hiện nay, việc nhận thức "ổn địnhchính trị - xã hội" và hành động nhằm thực hiện giữ vững ổn định chính trị -xã hội cũng cha đợc thống nhất Để thực hiện nhiệm vụ hàng đầu, sinh tử này

đòi hỏi phải có sự thống nhất nhận thức về "ổn định chính trị - xã hội", từ đó

Trang 3

có sự thống nhất hành động nhằm thực hiện thành công nhiệm vụ giữ vững ổn

định chính trị - xã hội Đây là một yêu cầu khách quan và cấp thiết

Từ những lý do trên, việc nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống vấn

đề "ổn định chính trị - xã hội" ở nớc ta là việc làm cấp thiết cả về lý luận vàthực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài này

Trớc đây và hiện nay đã có nhiều công trình khoa học cấp Nhà nớc,cấp bộ, những luận án PTS nghiên cứu vấn đề có liên quan ít nhiều với vấn đề

"chính trị - xã hội"

 Đề tài cấp Nhà nề tài cấp Nhà nớc: KX05: "Đề tài cấp Nhà nổi mới và tăng cờng hệ thống chính trị của nớc ta trong giai đoạn mới" Đề tài này đã đợc nghiệm thu và đợc xuất bản thành sách: "Đề tài cấp Nhà nổi mới và tăng cờng hệ thống chính trị của nớc ta trong giai đoạn mới" do tập thể tác giả GS Nguyễn Đức Bình, GS Trần Ngọc Hiên,

GS Đoàn Trọng Truyến , Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999

 Các đề tài cấp bộ:

- "Khái lợc lịch sử t tởng xã hội chủ nghĩa, ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với công cuộc đổi mới ở nớc ta hiện nay", Chủ nhiệm đề tài: GS.TS Trịnh Quốc

Tuấn, Viện chủ nghĩa xã hội khoa học, thời gian thực hiện 1992 - 1993

- "Những bài học kinh nghiệm từ sự sụp đổ của Liên Xô trớc đây - Triển vọng của chủ nghĩa xã hội và phong trào Cộng sản quốc tế", Chủ nhiệm đề tài:

TS Nguyễn Xuân Sơn, Viện Quan hệ Quốc tế, thời gian thực hiện: 1992 - 1993

- "Đề tài cấp Nhà nảng cầm quyền trong thời đại ngày nay và những vấn đề rút ra trong công cuộc đổi mới, chỉnh đốn Đề tài cấp Nhà nảng ta", Chủ nhiệm đề tài: GS Đậu Thế

Biểu Viện Khoa học chính trị, thời gian thực hiện 1993 - 1994

 Các tác phẩm:

- Đào Duy Tùng: Quá trình hình thành con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994.

Trang 4

- Trần Xuân Trờng: Đề tài cấp Nhà nịnh hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, một số vấn đề lý luận cấp bách, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.

- Nguyễn Phú Trọng: Về định hớng xã hội chủ nghĩa và con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.

- Nguyễn Đức Bách: Một số vấn đề về định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội, 1998.

- Nguyễn Duy Quý: Những vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội và con

đờng đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998.

Ngoài ra, cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu về cơ chế Đảng lãnh

đạo, Nhà nớc quản lý, nhân dân làm chủ, vấn đề nhà nớc và pháp luật, vấn đềcải cách hành chính Cũng có rất nhiều những bài báo trong các tạp chí lýluận, trên báo Nhân Dân bàn về các vấn đề chính trị, dân chủ, công bằng xãhội, tiêu cực xã hội, xóa đói giảm nghèo, những vấn đề văn hóa, đạo đức, lốisống, truyền thống văn hóa dân tộc, vấn đề tiếp thu nền văn minh nhân loại.Những công trình trên cũng có liên quan đến vấn đề ổn định chính trị - xã hộinhng không đặt ra mục đích nghiên cứu riêng về vấn đề này dới góc độ CNXHkhoa học

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án

a) Mục đích:

Nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống vấn đề ổn định chính trị - xãhội ở nớc ta cả về mặt lý luận và thực tiễn từ đó đa ra một số giải pháp để giữvững ổn định chính trị - xã hội nhằm đẩy mạnh CNH, HĐH trong công cuộc

đổi mới đất nớc ta theo định hớng XHCN

b) Nhiệm vụ của luận án là:

- Làm rõ các khái niệm cơ bản dới góc độ chuyên ngành CNCSKH:

"chính trị", "xã hội", "chính trị - xã hội", "ổn định chính trị - xã hội" trong sựnghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN ở nớc ta

Trang 5

- Phân tích rõ những thành tựu về ổn định chính trị - xã hội (t ơngquan với kinh tế ); đồng thời khảo sát, phân tích những mặt hạn chế, bấtcập, những vấn đề chính trị - xã hội bức xúc đang hoặc có khả năng nảy sinh.

- Đề xuất những quan điểm và giải pháp cơ bản để tiếp tục ổn định vềchính trị - xã hội ở nớc ta trong quá trình CNH, HĐH đất nớc những năm tới

4 Những đóng góp mới về khoa học của luận án

- Trình bày một cách có hệ thống quan niệm về: "Chính trị - xã hội",

"ổn định chính trị - xã hội", nêu ra vai trò ổn định chính trị - xã hội trong sựphát triển của xã hội, rút ra những bài học kinh nghiệm về ổn định chính trị -xã hội

- Phân tích thực trạng tình hình chính trị - xã hội ở nớc ta hiện nay,

đồng thời nêu ra một số giải pháp chủ yếu có tính khả thi

5 Cơ sở phơng pháp luận của luận án

- Luận án dựa trên những phơng pháp của chủ nghĩa duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử, lấy t tởng cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cáchmạng XHCN và xã hội CNXH ở Việt Nam; những quan điểm đổi mới của

Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay làm cơ sở lý luận

- Sử dụng các tài liệu nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến ổn

định chính trị - xã hội (cả tài liệu quốc tế và trong nớc)

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo,mục lục, nội dung luận án gồm 3 chơng

Trang 6

Chơng 1

ổn định chính trị - xã hội

và vai trò của nó đối với sự phát triển của xã hội

1.1 Quan niệm về ổn định chính trị - xã hội

1.1.1 Quan niệm về chính trị - xã hội

 Quan niệm về "chính trị"

Chủ nghĩa Mác - Lênin và t tởng Hồ Chí Minh đều có quan niệm về

"chính trị" Đó là cơ sở lý luận để Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nớc ViệtNam vận dụng sáng tạo và đúng đắn trong việc nhận thức cũng nh tổ chứcthực tiễn về chính trị đảm bảo cho sự nghiệp cách mạng của nớc ta đi đếnthắng lợi

Nhng để hiểu rõ hơn quan niệm về "chính trị" trong thời đại ngày nay,chúng ta cũng cần phải biết rõ cả những quan niệm về "chính trị" từ nhữngnguồn t liệu khác nhau

Theo từ điển Anh: "Engglish Language DicTionary (Lonđon, 1990)chính trị (Politics) hay "chính thể" (Polity, Politi) là một xã hội có tổ chức, nổibật là tổ chức Nhà nớc mà do đó mọi ngời phải hoạt động trong một trật tựnhất định

Theo từ điển Pháp: "Potít Larousse en couluers tifrairie larousse" (Pari,1977) thì "chính trị" (Politique) là:

- Sự lãnh đạo của một Nhà nớc và việc quyết định các hình thức hoạt

Trang 7

Chính trị, từ chữ Hy lạp, đó là những công việc nhà nớc hayxã hội, là phạm vi hoạt động gắn với những quan hệ giữa các giaicấp, các dân tộc và các nhóm xã hội khác nhau mà hạt nhân của nó

là vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nớc Cái quan trọngnhất trong chính trị, theo Lênin, là tổ chức chính quyền nhà nớc;chính trị là sự tham gia vào các công việc nhà nớc, định hớng nhà n-

ớc, xác định hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nớc.Bất kỳ hoạt động xã hội nào cũng có tính chất chính trị, nếu nh việcgiải quyết nó trực tiếp hay gián tiếp gắn với lợi ích giai cấp, gắn vớivấn đề quyền lực [ , tr 507]

Từ điển Bách khoa Việt Nam (Tập I, Hà Nội, 1995) quan niệm "chínhtrị" là:

Toàn bộ những hoạt động có liên quan đến các mối quan hệgiữa các giai cấp, giữa các dân tộc, các tầng lớp xã hội mà cốt lõicủa nó là vấn đề giành chính quyền, duy trì và sử dụng quyền lựcnhà nớc, sự tham gia vào các công việc nhà nớc, sự xác định hìnhthức tổ chức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của Nhà nớc [ ,tr ].Các t liệu trên đều nhấn mạnh yếu tố nhà nớc và vai trò của nó trongquan niệm về chính trị Nhng ta cũng thấy rõ sự khác nhau cơ bản giữa quan

điểm t sản và quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về chính trị Quan điểm tsản không đề cập đến bản chất giai cấp của chính trị Còn chủ nghĩa Mác -Lênin coi quan hệ giai cấp, bản chất giai cấp là cái "gốc" của chính trị

Từ những luận điểm về "chính trị" ta có thể nhận thức về khái niệm

"chính trị" nh sau:

Chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, giữa các dân tộc,giữa các quốc gia có liên quan tới vấn đề giành, giữ, sử dụng quyềnlực nhà nớc; là những phơng hớng, những mục tiêu đợc quy định bởilợi ích cơ bản của giai cấp, của đảng phái; là hoạt động thực tiễn

Trang 8

chính trị của các giai cấp, các đảng phái, các Nhà nớc để thực hiện

đờng lối đã đợc lựa chọn nhằm đi tới mục tiêu đã đặt ra

 Quan niệm về "xã hội"

Theo từ điển tiếng Pháp "Petit larousse en couluer-librarie larousse"(Pari, 1997) thì xã hội (Sociéte) là:

- Tập hợp những ngời hoặc vật cùng sinh sống thành các nhóm có

tổ chức

- Sự liên hợp của nhiều ngời dới sự chỉ đạo của một nguyên tắc chung.Theo từ điển xã hội học (do Nguyễn Khắc Viện chủ biên, Hà Nội,1994) thì xã hội là một thuật ngữ rất thông dụng để chỉ một tập hợp ngời cónhững quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội chặt chẽ với nhau Về mặtkhông gian, xã hội đợc chia thành những xã hội lớn và nhỏ; nói chung, gắnvới quốc gia vì bất cứ một tập hợp ngời nào muốn đợc gọi là xã hội đều cónhà nớc của mình với t cách là ngời quản lý, điều tiết những quan hệ

Từ điển tiếng Nga (Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô) có hai loại kháiniệm "xã hội"

Thứ nhất là:

-  (tính từ)

-  (danh từ): Là một tập hợp ngời liên hệ với nhau bởi nhữngmối liên hệ, những điều kiện lịch sử cụ thể chung của đời sống Đây là kháiniệm rộng, có tơng quan với khái niệm rộng đối lập là "" (tự nhiên danh từ)và  (tính từ)

Thứ hai là:

-  (tính từ) không có danh từ tơng ứng Nhng lại có khái niệmghép: " - " Dịch là "Chính trị - xã hội" hay xã hội - chínhtrị" Đây là khái niệm ghép mà đề tài này quan tâm

Trang 9

Tác giả GS Phạm Tất Dong - TS Lê Ngọc Hùng (đồng chủ biên)trong tác phẩm "Xã hội học", Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1999, tr 206 -

207 có nêu ra xã hội là gì?

"Trên thực tế, ta sử dụng khái niệm xã hội rất nhiều Chẳng hạn ta nói

"Xã hội Việt Nam", "Xã hội Nhật", "Xã hội Mỹ" v.v mà không cần dừng lại

để giải thích thế nào về xã hội Có một định nghĩa khác nhau về xã hội Nhngkhi nói về xã hội, điều quan trọng là chỉ ra những đặc điểm bản chất của xãhội nh sau:

Thứ nhất là đặc điểm về lãnh thổ Ví dụ, khi nói "Xã hội Việt Nam" tacần xác định vị trí lãnh thổ địa lý, kinh tế, chính trị, hành chính của Việt Nam

Đặc điểm thứ hai liên quan tới tái sản xuất dân c và di c Điều này có chứcnăng tạo ra những thành viên mới cho xã hội Đặc điểm thứ ba liên quan tới hệthống luật pháp, văn hóa và bản sắc dân tộc " [ , tr ]

Theo Mác: "Xã hội - cho dù nó có hình thức gì đi nữa - là cái gì? Làsản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con ngời" [ tr 657]

Xã hội cũng có quá trình phát triển lịch sử của mình, thể hiện bằng sựvận động, biến đổi và phát triển không ngừng trong cơ cấu xã hội ở mỗi giai

đoạn lịch sử cụ thể, có một dạng cơ cấu xã hội cơ bản đặc thù Nền tảng chungcủa các cơ cấu cụ thể này là những mối quan hệ sản xuất vật chất những mốiquan hệ kinh tế giữa ngời và ngời, trên đó sẽ hình thành nên một kiến trúc th-ợng tầng phù hợp Mác cho rằng: Tổng hợp lại thì những quan hệ sản xuất hợpthành cái mà ngời ta gọi là những quan hệ xã hội, là xã hội, và hơn nữa hợpthành một xã hội ở vào một giai đoạn phát triển lịch sử nhất định

Mỗi một xã hội đều đợc đặc trng bởi một tổng thể quan hệ sản xuất.Nhng cái quyết định nội dung của lực lợng sản xuất lại chính là lực lợng sảnxuất Lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất hợp thành phơng thức sản xuất.Trong phơng thức sản xuất, lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất có mối quan

hệ biện chứng với nhau trong đó lực lợng sản xuất giữ vai trò quyết định Lực

Trang 10

lợng sản xuất mang tính khách quan, tất yếu do đó, xã hội với t cách là sảnphẩm của sự tác động qua lại lẫn nhau giữa ngời với ngời cũng đợc hình thànhmột cách khách quan và tất yếu Sự vận động, biến đổi của xã hội phải tuântheo những quy luật nội tại của nó, trớc tiên là quy luật về sự phù hợp củaquan hệ sản xuất vào trình độ phát triển của lực lợng sản xuất.

Với nghĩa thông thờng thì có thể quan niệm về "xã hội" nh sau:

Xã hội không phải là phép cộng giản đơn các cá nhân mà là một hệthống các hoạt động và quan hệ của con ngời, có đời sống kinh tế, văn hóachung, cùng c trú trên một lãnh thổ ở một giai đoạn phát triển nhất định củalịch sử

Tóm lại, về ngữ nghĩa, với nội dung cơ bản nhất và với nghĩa rộng nhấtthì khái niệm "xã hội" rộng hơn khái niệm "chính trị" Bởi vì mọi vấn đề cóliên quan đến các quan hệ và hoạt động của con ngời thì đều là những quan hệ

và những hoạt động xã hội mang "tính xã hội" trong đó có cả chính trị, kinh

tế, văn hóa v.v Nhng trên thực tế cũng có khái niệm "xã hội" theo nghĩa hẹphơn, ngang cấp với khái niệm "'chính trị", "kinh tế", "văn hóa" đó là kháiniệm "xã hội" phản ánh những quan hệ những hoạt động, những mặt cụ thểhơn, của toàn xã hội đã và đang nảy sinh một cách khách quan cùng với kinh

tế, chính trị, văn hóa ta thờng gọi là "những vấn đề xã hội" Ví dụ: Các vấn đềthất nghiệp, thất học, đói, nghèo, bệnh tật, tệ nạn, hủ tục, bất công, đạo lý,nhân cách v.v Đó là những vấn đề gắn trực tiếp hơn đến nhu cầu vật chất vàtinh thần của mỗi ngời và mọi ngời trong quan hệ giữa ngời với ngời trênnhững cơ sở kinh tế, chính trị, lịch sử và văn hóa xác định Những vấn đề xãhội đó luôn có liên quan chặt chẽ với kinh tế, chính trị nhng lại không thể

"xếp vào" các vấn đề kinh tế, chính trị (với các quy luật của kinh tế, chính trị)

Do vậy hiểu quan niệm về "xã hội" cần phải hiểu theo nghĩa rộng (gồm nhiềulĩnh vực nh chính trị, kinh tế, văn hóa ) chứ không chỉ là những "vấn đề xãhội" theo nghĩa hẹp

Trang 11

1.1.2 Quan niệm về chính trị - xã hội

Về thuật ngữ, từ điển Pháp - Việt (Nhà xuất bản khoa học xã hội, HàNội, 1992) có sử dụng một từ ghép "Socvo - politique" dịch là "xã hội - chínhtrị" hay "chính trị - xã hội"

Từ điển tiếng Nga (Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô) có khái niệmghép: " - " - dịch là "chính trị - xã hội" hoặc "xã hội -chính trị"

Trong các văn kiện của Đảng và Nhà nớc, các bài phát biểu của nhữngngời đứng đầu Đảng, Nhà nớc ở nớc ta có nói nhiều đến thuật ngữ "chính trị -xã hội" Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta cũng có dùng thuật ngữ "chínhtrị - xã hội" Cho đến nay cũng cha có một định nghĩa khoa học nào về thuậtngữ "chính trị - xã hội" Để làm rõ quan niệm về "chính trị - xã hội", chúng tacần phân tích nội dung của các khái niệm ghép trớc đó Thí dụ nh khái niệm

"kinh tế - chính trị" chẳng hạn (mà do đó có môn khoa học riêng là bộ mônkinh tế - chính trị học)

Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa chính trị

và kinh tế là:

- Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế chỉ có đến một trình độphát triển kinh tế nào đó làm nảy sinh giai cấp và đấu tranh giai cấp thì mới cóchính trị và cũng chỉ đến trình độ phát triển hết sức cao của lực lợng sản xuấtkhiến sự xóa bỏ giai cấp và đấu tranh giai cấp trở thành hiện thực thì chính trịcũng sẽ không còn Mặt khác trong suốt thời kỳ tồn tại của xã hội có đấu tranhgiai cấp thì chính trị cũng không ngừng thay đổi tùy theo sự phát triển của kinh

tế, chế độ chính trị nằm ở kiến trúc thợng tầng phải thích ứng với cơ sở kinh tế.Giai cấp thống trị về kinh tế bao giờ cũng là giai cấp thống trị về chính trị vàcuối cùng là lợi ích kinh tế luôn luôn là nội dung của hành động chính trị

- Nhng sẽ là sai lầm nếu coi nhân tố kinh tế quyết định tất cả Phải chú

ý đến sự tác động trở lại của chính trị, pháp lý đối với quan hệ sản xuất,đối

Trang 12

với sự phát triển kinh tế, biểu hiện rõ nhất ở chức năng kinh tế của Nhà nớchiện đại Trong th gửi Cônrát Smít, đề ngày 27/10/1890, Ph Ăngghen viết:

Tác động ngợc lại của quyền lực Nhà nớc đối với sự pháttriển kinh tế có thể có 3 loại Nó có thể tác động cùng h ớng, khi ấy

sự phát triển diễn ra nhanh hơn; nó có thể tác động ngợc lại sự pháttriển kinh tế - khi ấy thì hiện nay ở mỗi dân tộc lớn, nó sẽ tan vỡ saumột khoảng thời gian nhất định, hoặc là có thể cản trở sự phát triểnkinh tế ở những hớng nào đó và sẽ thúc đẩy sự phát triển ở những h-ớng khác Trờng hợp này rốt cuộc dẫn đến một trong hai trờng hợptrên Tuy nhiên, rõ ràng là trong trờng hợp thứ hai và thứ ba, quyềnlực chính trị có thể gây tác hại lãng phí to lớn về sức lực và vật chất[ , tr ]

Nh vậy chính trị,kinh tế liên hệ chặt chẽ với nhau Từ ghép "chính trị kinh tế" đợc hiểu là những khía cạnh, những mặt, những biểu hiện, những ý nghĩa về chính trị của các quan hệ, các hoạt động kinh tế chứ không phải nh

-"kinh tế học" thuần túy chỉ xét riêng các quan hệ kinh tế Thực chất của kháiniệm "kinh tế - chính trị" là phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa quan hệsản xuất trong mối liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại với lực lợng sản xuất vàkiến trúc thợng tầng Đây cũng chính là đối tợng nghiên cứu của môn chính trị

sự tác động của các quan hệ xã hội nh giữa các lực lợng xã hội và

Trang 13

chính trị, giữa Nhà nớc với các giai cấp, các đảng phái, các dân tộc,

các tập thể, các cá nhân v.v Các quan hệ xã hội này trong xã hội

có giai cấp đều có tính chất chính trị nên gọi là các quan hệ chính trị- xã hội Cần chú ý rằng việc nghiên cứu các quan hệ chính trị -

xã hội rất phức tạp về cơ cấu và có quan hệ mật thiết với các quan

hệ xã hội khác trong lĩnh vực kinh tế và đời sống tinh thần của xãhội [ , tr 15]

ở đoạn lập luận này, tác giả của giáo trình có giải thích "quan hệchính trị - xã hội" là: Các quan hệ xã hội này trong xã hội có giai cấp đều cótính chất chính trị nên gọi là các quan hệ "chính trị - xã hội" Cách giải thíchnày đã cho chúng ta hiểu đợc phần nào khái niệm ghép "Chính trị - xã hội".Chúng ta cần phân tích mối quan hệ giữa "chính trị" và "xã hội"

"Chính trị" là một bộ phận nằm ở thợng tầng kiến trúc của một hìnhthái kinh tế - xã hội "Chính trị" có ảnh hởng rất rõ đối với các yếu tố khác ởthợng tầng kiến trúc nh Pháp luật, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật và có tác độngrất lớn đối với cơ sở kinh tế V.I.Lênin nhấn mạnh: "Chính trị là sự biểu hiệntập trung của kinh tế" do đó "chính trị không thể không chiếm vị trí hàng đầu

"chính trị" thâm nhập vào nhân tố "xã hội" và nhân tố "xã hội" cũng thâmnhập vào nhân tố "chính trị" tạo ra mối quan hệ biện chứng giữa "chính trị" và

"xã hội" Thuật ngữ "chính trị - xã hội" phản ánh mối quan hệ biện chứng này

Trang 14

Vậy theo chúng tôi, khái niệm "chính trị - xã hội" đợc hiểu là một khái niệm ghép phản ánh một trong những quy luật khách quan của một xã hội có giai cấp mà trong xã hội đó mọi hoạt động xã hội của con ngời, những cộng đồng ngời đều có dấu ấn chủ đạo của một giai cấp cầm quyền thông qua hệ t tởng chính trị và những thiết chế quyền lực của nó trong một chế độ cụ thể.

Phân tích cặn kẽ hơn về khái niệm "chính trị - xã hội" thể hiện trên cả

mặt thực tiễn và lý luận, chúng ta có thể thấy rõ, đó là: Những định hớng chính trị, những ý nghĩa chính trị, những tác động chính trị, do giai cấp cầm quyền tác động lên những quan hệ, những hoạt động của con ngời trên các lĩnh vực cơ bản của xã hội nh: Lĩnh vực chính trị, lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực

văn hóa, lĩnh vực quốc phòng - an ninh, lĩnh vực đối ngoại Trong lịch sử nhânloại, các chế độ xã hội khác nhau đều có những lĩnh vực chủ yếu nh trên Nh-

ng ở các xã hội khác nhau thì các lĩnh vực chủ yếu đó lại có nhiều đặc điểm,nội dung, hình thức khác nhau Suy cho cùng là do các giai cấp thống trị ở

mỗi chế độ xã hội đã có những định hớng chính trị khác nhau trên các lĩnh

vực của xã hội, theo hình ảnh của mình, tức là phải phù hợp với mục tiêu vàlợi ích của mình Thí dụ cùng trên lĩnh vực kinh tế nhng lĩnh vực kinh tếTBCN là đem lại lợi ích kinh tế nhiều nhất cho nhà t bản, lĩnh vực kinh tếXHCN là mang lại lợi ích cho chính ngời lao động Thí dụ nh cùng là sử dụngthành tựu khoa học nh nguyên tử, la de nhng chủ nghĩa đế quốc dùng thànhtựu này để xâm lợc các dân tộc khác Chủ nghĩa xã hội dùng thành tựu này đểbảo vệ hòa bình Thí dụ, cùng là vấn đề giúp đỡ ngời thất nghiệp, ngời nghèo,nhng ở CNTB, Chính phủ t sản chủ yếu là trợ cấp, phát chẩn suốt mấy thế kỷqua (dù mức trợ cấp rất cao) nhng không đặt ra mục đích giải quyết triệt đểvấn đề đó vì nếu xã hội thực sự có bình đẳng t sản - vô sản thì không còn giaicấp t sản, chủ nghĩa t bản Trong CNXH, dù bớc đầu sản xuất, đời sống cònthấp nhng giai cấp công nhân, Đảng, Nhà nớc chủ trơng "xóa đói giảmnghèo", hỗ trợ ngời nghèo để ngời nghèo tự vơn lên để giàu có nh những ngờikhác Rõ ràng là cùng một vấn đề, nhng giai cấp t sản và giai cấp chủ nghĩa đã

Trang 15

có định hớng chính trị - xã hội khác nhau theo mục đích, lợi ích của mình.

Với cách hiểu này thì các xã hội có giai cấp: Xã hội chiếm hữu nô lệ,

xã hội phong kiến, xã hội t sản, xã hội XHCN đều có mặt chính trị - xã hội khác nhau Mặt chính trị - xã hội, do đó, mang bản chất giai cấp (mang bản

chất của giai cấp đang thống trị xã hội) Các học giả t sản tuy thừa nhận mặtchính trị - xã hội của xã hội t sản (không ngừng củng cố tăng cờng các tổ chứcbạo lực nhằm duy trì xã hội theo trật tự t sản) nhng vẫn bỏ qua tính chất giaicấp t sản Họ cố tình che đậy bản chất t sản về mặt chính trị - xã hội của xãhội t sản Còn những ngời theo chủ nghĩa Mác - Lênin, khái niệm "chính trị -xã hội" đã bao hàm bản chất của giai cấp công nhân, đồng thời cũng bao hàmtính nhân bản rộng rãi và tính nhân đạo nhân văn sâu sắc "Chính trị - xã hội"mang bản chất giai cấp công nhân với nội dung là: Giải phóng giai cấp côngnhân đồng thời giải phóng mọi ngời lao động, là cùng nhau xây dựng một xãhội tốt đẹp không có ngời bóc lột, không có bất công, mọi ngời đều đợc sống

tự do, hạnh phúc

1.1.3 Quan niệm về "ổn định chính trị - xã hội"

 Hiện nay, thuật ngữ "ổn định" đợc dùng khá phổ biến trong mọi lĩnhvực của đời sống xã hội

Thí dụ nh: ổn định đời sống, ổn định thu nhập, ổn định gia đình Từ

"ổn định" thờng kết hợp với một danh từ khác để tạo thành một từ ghép nhằm

để chỉ một trạng thái, một tính chất, một đặc điểm của sự vật trong quá trình phát triển của sự vật đó Nói "ổn định" là nói đến trạng thái cân bằng,

hài hòa trong sự phát triển của sự vật ổn định trong phát triển, phát triểntrong ổn định để đạt đợc sự ổn định và phát triển ở mức cao hơn

 Quan niệm về "ổn định chính trị - xã hội".

Trong các văn kiện của Đảng, Nhà nớc, trong các tác phẩm nghiên cứu

lý luận của nhiều tác giả, trong ngôn ngữ thờng dùng, chúng ta bắt gặp rất

Trang 16

nhiều cụm từ: ổn định chính trị - xã hội, điều kiện chính trị - xã hội, tổ chứcchính trị - xã hội, chế độ chính trị - xã hội Riêng cụm từ "ổn định chính trị -xã hội" đợc xuất hiện rất nhiều, cách dùng, cách hiểu cụm từ này cũng rấtkhác nhau Có tác giả cho rằng cụm từ "ổn định chính trị - xã hội" chỉ đợcdùng khi nói đến trạng thái chính trị, xã hội của các nớc XHCN, là cái riêng

có của xã hội xã hội chủ nghĩa Có tác giả lại dùng cụm từ này cho cả xã hội tbản chủ nghĩa Thí dụ nh khi nói về tình hình chính trị của các NIES, có tácgiả cho rằng các nớc đó đã giữ đợc ổn định chính trị - xã hội trong quá trìnhcông nghiệp hóa Cách hiểu, cách dùng khác nhau ấy ắt sẽ dẫn đến sự nan giảitrong việc đa ra một định nghĩa chính xác nhất về "ổn định chính trị - xã hội".Vì thế cho đến nay việc sử dụng cụm từ này đã mang tính phổ biến nh ng vẫncha có ai đa ra một định nghĩa đầy đủ về định nghĩa "ổn định chính trị - xãhội" Chúng tôi cho rằng để đi đến một định nghĩa về "ổn định chính trị - xãhội" cần phải làm sáng tỏ một số vấn đề sau:

- Mặt chính trị - xã hội ở các xã hội có áp bức bóc lột mang tính đốikháng giai cấp nên giai cấp thống trị chỉ có thể tạo ra ổn định chính trị chứkhông có thể đảm bảo đợc ổn định chính trị - xã hội Nếu phân tích quan hệgiữa nhà nớc và cá nhân dới chế độ bóc lột thì thấy rất rõ điều này Kể từ khiNhà nớc ra đời (Nhà nớc là công cụ duy trì sự thống trị chính trị của giai cấpthống trị, bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị ), quan hệ giữa c dân thuộcquyền quản lý của Nhà nớc và nhà nớc dần dần đợc hình thành Mối quan hệ

ấy có bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên hay không, điều đó phụthuộc vào bản chất của mỗi chế độ Nhà nớc (thực chất là bản chất của giai cấpthống trị xã hội) Dới chế độ chiếm hữu nô lệ, nhà nớc chủ nô là:

Tổ chức quyền lực chính trị của giai cấp chủ nô, do giai cấpchủ nô thiết lập và đợc giai cấp chủ nô sử dụng nh là một công cụ

có hiệu lực nhất để đàn áp, bóc lột nô lệ và những ngời lao độngkhác Nô lệ không đợc coi là con ngời mà chỉ là "công cụ lao độngbiết nói" và hoàn toàn lệ thuộc vào giai cấp chủ nô về thân thể, kinh

Trang 17

tế, chính trị t tởng, xã hội [ , tr 26].

Quan hệ giữa Nhà nớc của giai cấp chủ nô với nô lệ là bất bình đẳngcả về quyền lợi và nghĩa vụ Có thể lấy thí dụ về thân phận nô lệ ở Aten (Hylạp cổ đại) để chứng minh:

Dù là nô lệ của t nhân hay của nhà nớc, luật pháp Aten quy

định nô lệ là sở hữu riêng, tài sản riêng của chủ nô Nô lệ là "công

cụ biết nói" - không có tài sản, không có gia đình không có tên gọi(thờng đợc gọi theo quê quán) Để phân biệt và để nhận biết nô lệcủa mình, chủ nô thờng khắc dấu trên trán mỗi nô lệ Chủ nô bỏ tiền

ra mua nô lệ, nô lệ hoàn toàn thuộc về sở hữu của họ, có nghĩa vụlao động sản xuất và phục dịch Luật pháp thừa nhận và bảo vệquyền sở hữu này, chủ nô có quyền bán, mua, nhợng đổi, thừa kếcho ngời khác nô lệ của họ, hành hạ đánh đập, thậm chí có thể giếtchết nô lệ của mình Việc bán, mua, đổi chác nô lệ là việc thờngngày, công khai và đậm tính thơng mại Nô lệ ở Aten đã thành mộtmón hàng hóa Aten có những chợ chuyên bán nô lệ Nô lệ đợc đembán nh ngời ta bán gia súc Ngời mua xem xét, xoi mói từ dáng dấp,cái răng, cái tóc đến những khả năng có thể có đợc của nô lệ Giá cảkhông ổn định, phụ thuộc vào số tù bình có đợc sau mỗi cuộc chiến,

số lợng ngời bị bắt trong các vụ cớp biển và vào khả năng, nghềnghiệp của nô lệ Những nô lệ vốn là thợ thủ công giỏi, vũ nữ, nhạccông bao giờ cũng cao giá hơn [ tr 221]

ở xã hội phong kiến, quan hệ giữa Nhà nớc phong kiến và nông dâncũng là quan hệ không bình đẳng Ngời nông dân sống trên lãnh địa củaphong kiến và phải lao động cho phong kiến Tuy lệ thuộc vào phong kiến nh-

ng so với thân phận của ngời nô lệ thì ngời nông dân có khá hơn Nông dân ởthời đại phong kiến có kinh tế cá thể, họ là ngời sản xuất nhỏ Tuy nhiên, sựbóc lột của địa chủ đối với nông dân cũng rất nặng nề Nông dân phải nộp tô

Trang 18

cho phong kiến và còn phải chịu hình thức lao động cỡng bức Nhà nớc phongkiến bảo vệ lợi ích của địa chủ phong kiến tăng cờng chuyên chính đối vớinông dân Lênin viết rằng:

Giai cấp phong kiến cần một bộ máy tập hợp và thu phục rất

đông ngời, bắt họ phải tuân theo những luật pháp và quy chế nhất

định; về căn bản tất cả các luật pháp đó chung quy chỉ một mục

đích duy nhất Duy trì chính quyền của chúa phong kiến đối vớinông nô [ , tr 87]

Trong xã hội t bản, về mặt hình thức giữa nhà nớc t sản và công dân có

vẻ bình đẳng vì Hiếp pháp t sản có ghi nhận đầy đủ quyền tự do, dân chủ củacông dân và nghĩa vụ của Nhà nớc t sản với công dân Nhng đây chỉ là bình

đẳng trên lý thuyết Trên thực tiễn, nhà nớc t sản tìm mọi cách trốn tránhnghĩa vụ đó hoặc hạn chế tối đa quyền tự do dân chủ của công dân Lênin đãphân tích rất rõ bộ mặt giả hiệu của nền dân chủ t sản, một nền dân chủ bị cắtxén và bất bình đẳng

Sự bất bình đẳng trong quyền lợi và nghĩa vụ của Nhà nớc với nhữngngời bị trị ở các xã hội có áp bức bóc lột đã dẫn đến tình trạng xã hội th ờngxuyên không ổn định Tầng lớp thống trị luôn tìm cách tăng cờng bộ máy bạolực để đàn áp sự nổi dậy của kẻ bị trị Những ngời bị trị thì liên tục vùng lênlật đổ ách thống trị của giai cấp thống trị Các cuộc khởi nghĩa của nô lệ trongthời chiếm hữu nô lệ; các cuộc khởi nghĩa của nông dân trong thời phong kiến;các cuộc đấu tranh giai cấp chống lại giai cấp t sản trong xã hội t sản tronglịch sử đã minh chứng cho điều này Để duy trì sự thống trị lâu dài của mình,giai cấp thống trị rất chú trọng đến việc ổn định chính trị mà giải pháp cơ bản

là tăng cờng bộ máy nhà nớc, tăng cờng cơ quan bạo lực trấn áp, kiện toànpháp luật xử phạt nghiêm khắc với ngời chống đối Tất nhiên để giữ vững ổn

định chính trị, giai cấp bóc lột cũng rất quan tâm đến chức năng xã hội củaNhà nớc đặc biệt là trong giai đoạn mà xung đột xã hội căng thẳng Nhng nhìn

Trang 19

chung, việc thực hiện chức năng xã hội của Nhà nớc bóc lột chỉ có tác dụnglàm dịu xung đột xã hội chứ không có thể tạo ra ổn định xã hội Khi nào có sự

đối lập về lợi ích giai cấp thì không thể có sự ổn định xã hội

Từ sự phân tích trên chúng ta thấy rõ rằng, giai cấp bóc lột có khảnăng giữ đợc ổn định chính trị (đó là duy trì sự thống trị giai cấp của mình)nhng do hạn chế giai cấp (có áp bức bóc lột mới tồn tại đợc) nên đã không thểgiữ đợc ổn định xã hội Một câu hỏi đặt ra là vì sao không giữ đợc ổn định xãhội mà vẫn duy trì đợc ổn định chính trị? Trả lời câu hỏi này quả là không dễ!Nhng vẫn có thể giải thích đợc thực tế này là vì mất ổn định xã hội ở các xãhội đó cha có đủ sức mạnh để làm mất ổn định chính trị Những ngời bị trị cha

đoàn kết lại thành một sức mạnh để chống lại một nhóm thống trị vì nhómthống trị này giữ trong tay sức mạnh kinh tế, sức mạnh chính trị Nhng lịch sử

đã từng chứng minh rằng do khủng hoảng xã hội sâu sắc mà chế độ chiếm hữunô lệ đã nhờng chỗ cho chế độ phong kiến, chế độ phong kiến đã nhờng chỗcho xã hội t bản và xã hội t bản đã và sẽ bị xã hội XHCN thay thế

- Mặt chính trị - xã hội trong xã hội XHCN không mang tính đốikháng nên giai cấp công nhân có khả năng giữ vững ổn định chính trị và giữvững ổn định chính trị - xã hội

Chuyển sang xã hội XHCN, quan hệ giữa Nhà nớc XHCN với công dân

đã thay đổi về chất, cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau

Sự bình đẳng này đợc thể hiện qua hai mặt sau:

+ Nhà nớc đối với công dân, ở đây Nhà nớc mang hai t cách: Vừa là tổchức công quyền quản lý công dân bằng pháp luật, vừa là công cụ (phơngtiện) hữu hiệu nhất bảo đảm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

+ Công dân đối với Nhà nớc, ở đây, công dân cũng mang hai t cách:Vừa là chủ thể của quyền lực nhà nớc (ngời làm chủ Nhà nớc) vừa là đối tợngtác động của quyền lực đó

Trang 20

Nh vậy, xét từ hai góc độ quan hệ nêu trên:

Cả nhà nớc và công dân đều có quyền và nghĩa vụ đối vớinhau Các quyền và nghĩa vụ đó do Hiến pháp và pháp luật quy định

Sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ đó tất yếu và cần thiết trong điềukiện nhà nớc và pháp luật đã là của dân, do dân, vì dân còn côngdân đã trở thành chủ nhân của Nhà nớc và xã hội [ , tr 29]

Do quan hệ bình đẳng giữa Nhà nớc XHCN và công dân nên giai cấpcông nhân, giai cấp lãnh đạo Nhà nớc XHCN vừa giữ đợc ổn định chính trị,vừa giữ đợc ổn định xã hội Trạng thái vừa giữ đợc ổn định chính trị, vừa giữ

đợc ổn định xã hội sẽ tạo ra trạng thái giữ vững "ổn định chính trị - xã hội".Giai cấp công nhân giữ đợc ổn định chính trị thể hiện ở việc giai cấp công dânduy trì và tăng cờng vai trò lãnh đạo của mình đối với xã hội bằng việc tăng c-ờng chuyên chính vô sản thực hiện sức mạnh lịch sử của giai cấp công nhân.Giai cấp công nhân giữ vững đợc ổn định xã hội là vì: Do lợi ích của giai cấpcông nhân thống nhất với lợi ích của dân tộc, thống nhất với lợi ích với đại đa

số nhân dân lao động nên xã hội không còn đối kháng lợi ích Xung đột xã hộikhông phải là xung đột của lợi ích đối kháng Xã hội về cơ bản là thống nhấtlợi ích nên có thể giữ vững ổn định xã hội Tất nhiên những sự khác biệt giaicấp vẫn còn, những cuộc đấu tranh giai cấp trong nội bộ nhân dân vẫn còn nh-

ng những xung đột này không gây ra mất ổn định xã hội

Từ sự phân tích trên, chúng tôi xin nêu ra định nghĩa về "ổn định chínhtrị - xã hội" nh sau:

ổn định chính trị - xã hội là một trạng thái của xã hội xã hội chủ nghĩa, trong đó, sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua vai trò lãnh

đạo của Đề tài cấp Nhà nảng Cộng sản đợc duy trì và tăng cờng trên tất cả các mặt hoạt

động cơ bản của xã hội, giữ cho xã hội luôn luôn có sự thống nhất về lợi ích,

đảm bảo cho xã hội có nền nếp, kỷ cơng và không ngừng phát triển trong sự

Trang 21

cân đối, hài hòa.

Nếu theo định nghĩa này thì ở xã hội có áp bức bóc lột, khi giai cấpthống trị đang lên, đang là giai cấp tiên tiến thì có thể tạo ra và giữ vững ổn

định chính trị - xã hội trong một khoảng thời gian nào đó Thí dụ nh giai cấp tsản trong những ngày tiến hành cách mạng t sản và ở những ngày đầu tiên xâydựng CNTB Lúc này lợi ích của giai cấp t sản thống nhất với lợi ích của nôngdân và những ngời lao động Nhà nớc t sản bảo vệ cho tự do cạnh tranh, tự dolàm giàu Nhng ngời nào thắng trong cạnh tranh, là ngời giàu - chính là giaicấp t sản Vì vậy trạng thái ổn định chính trị - xã hội bị phá vỡ bởi vì lợi ích tsản dần dần trở thành đối lập với lợi ích của toàn thể công dân Cho nên nếuxét trong điều kiện giai cấp t sản đang là giai cấp cách mạng thì ổn định chínhtrị - xã hội do giai cấp t sản tạo ra rất ngắn ngủi Nhìn suốt các giai đoạn pháttriển tiếp theo của CNTB thì phổ biến là: Giai cấp t sản chỉ giữ vững ổn địnhchính trị, không giữ đợc ổn định chính trị - xã hội Giai cấp t sản ở NIES Đông

á trong khi tiến hành công nghiệp hóa TBCN cũng có thời gian tạo ra sựthống nhất lợi ích (lợi ích dân tộc) nên cũng có lúc tạo ra sự ổn định chính trị -xã hội nhng sự ổn định này nhanh chóng bị phá vỡ cũng do lợi ích của giai cấp

t sản Đông á đối lập với lợi ích của toàn thể nhân dân Nói cho chính xác thìNIES Đông á chỉ mới tạo ra điều kiện thuận lợi cho việc ổn định chính trị - xãhội chứ cha phải là sự ổn định chính trị - xã hội

Còn ở các nớc XHCN, sự thống nhất lợi ích của giai cấp công nhân vớilợi ích của dân tộc, lợi ích của các giai cấp xuất hiện ngay trong cuộc đấutranh giành chính quyền và đợc củng cố duy trì trong suốt quá trình xây dựngCNXH Giai cấp công nhân là giai cấp luôn luôn là giai cấp tiên tiến, cáchmạng Vì vậy ổn định chính trị - xã hội trong xã hội XHCN đợc thiết lập ngay

từ những ngày đầu giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành đợc chínhquyền và không ngừng đợc củng cố phát triển trong tiến trình xây dựng xã hộiXHCN

Trang 22

ổn định chính trị - xã hội trong điều kiện XHCN mang tính phổ biếnnhng do mỗi nớc có hoàn cảnh lịch sử khác nhau nên ổn định chính trị - xãhội ở mỗi nớc cũng có nét đặc thù riêng ổn định chính trị - xã hội ở nớc tacũng có những nét riêng ổn định chính trị - xã hội ở nớc ta tiếp thu những t t-ởng chính trị - xã hội quý báu của dân tộc Đó là tính cộng đồng "bầu ơi thơnglấy bí cùng Tuy rằng khác dậu nhng chung một giàn", "Gà cùng một mẹ chớhoài đá nhau", "Trong ấm ngoài êm" "Nớc mất nhà tan" Đó là đờng lối trị nớccủa các anh hùng dân tộc: Lấy dân làm gốc, coi trọng chữ "Hòa", "Lấy nhânnghĩa thắng hung tàn", đặt quyền lợi của Tổ quốc lên trên hết Đó là sự chịu

đựng trong khó khăn, lòng bao dung trong xử thế của ngời Việt Nam, đó làkhát vọng về sự yên ổn để làm ăn sinh sống, khát vọng hòa bình bởi đất nớcluôn luôn phải tự vệ để tồn tại Những truyền thống này đã làm cho ổn địnhchính trị - xã hội ở nớc ta có sắc thái riêng, có độ vững bền và liên tục pháttriển trong tiến trình xây dựng CNXH ở nớc ta

 Nhận dạng ổn định chính trị - xã hội.

- Một xã hội đợc đánh giá là xã hội có ổn định chính trị - xã hội phải

đảm bảo đợc yếu tố quan trọng nhất đó là: Giai cấp thống trị xã hội có duy trì vàtăng cờng đợc vai trò thống trị của mình đối với xã hội hay không? Vai tròthống trị này đợc thể hiện qua vai trò lãnh đạo của Đảng chính trị, vai trò củaNhà nớc do giai cấp thống trị lập ra đối với các lĩnh vực cơ bản của xã hội

- Lợi ích của giai cấp thống trị xã hội về cơ bản phải thống nhất lâu dàivới lợi ích của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, thống nhất lâu dài với lợiích dân tộc, xã hội không còn tình trạng ngời bóc lột ngời, mọi ngời, mọi giaicấp trong xã hội đều bình đẳng cả về quyền và nghĩa vụ

- Xã hội duy trì đợc nền nếp, kỷ cơng và luôn luôn phát triển trong sựcân đối, hài hòa Tính cân đối, hài hòa thể hiện rõ ở việc các lĩnh vực cơ bảncủa xã hội đều phát triển trong mối liên hệ biện chứng Không có tình trạngchỉ giữ đợc ổn định chính trị - xã hội trên lĩnh vực chính trị mà kinh tế hay các

Trang 23

mặt khác mất ổn định, hoặc chỉ ổn định trên lĩnh vực kinh tế mà các mặt cònlại mất ổn đinh.

Với ba yêu cầu này thì chỉ có xã hội XHCN mới có đủ điều kiện, khảnăng tạo ra và giữ vững ổn định chính trị - xã hội Nhng cũng cần nhớ rằng ổn

định chính trị - xã hội với những yêu cầu trên ở các chặng đờng phát triển củaCNXH cũng có mức độ khác nhau Trong thời kỳ quá độ tiến lên CNXH thì

ổn định chính trị - xã hội tuy vẫn đảm bảo ba yêu cầu trên nhng ở mức độthấp Giai cấp công nhân, thông qua vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản mớibớc đầu là giai cấp giữ vị trí thống trị xã hội Phải có một khoảng thời giankhá dài để giai cấp công nhân thiết lập, củng cố sự thống trị của mình trong xãhội XHCN Vì vậy sự thống trị của giai cấp công nhân ở giai đoạn đầu là ch avững chắc nên ổn định chính trị - xã hội ở giai đoạn đầu chỉ ở mức thấp Vềmặt lợi ích thì xã hội còn nhiều lợi ích, vẫn còn sự khác biệt lớn về lợi ích Thí

dụ nh nớc ta hiện nay do phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần cóngời giàu, có ngời nghèo Sự thống nhất lợi ích cũng chỉ ở mức độ thấp nên ổn

định chính trị - xã hội cũng ở mức độ thấp Trong những năm đầu của thời kỳquá độ lên CNXH, xã hội cha có thể có đợc nền nếp, kỷ cơng của trật tựXHCN Sự phát triển các mặt cơ bản của xã hội cha có thể tạo ra sự cân đối,hài hòa, vẫn còn tình trạng mất cân đối vì vậy ổn định chính trị - xã hội cũng chỉ

ở mức độ thấp Cùng với sự tăng cờng vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhântrong công cuộc xây dựng CNXH, cùng với việc tạo ra sự thống nhất ngày càngcao về lợi ích của xã hội, cùng với việc củng cố trật tự XHCN và sự phát triểnxã hội ngày càng cân đối, hài hòa thì ổn định chính trị - xã hội cũng ngàycàng đạt ở mức phát triển cao hơn Cho nên để giữ vững ổn định chính trị - xãhội, ở từng chặng đờng phát triển của CNXH, chúng ta phải thấy rõ những yêucầu cụ thể của từng chặng đờng này Từ đó mới định rõ mức độ phù hợp của

ổn định chính trị - xã hội trong từng chặng đờng phát triển để không ngừngcủng cố phát triển ổn định chính trị - xã hội ở các chặng đờng phát triển tiếptheo

Trang 24

1.2 Nội dung của ổn định chính trị - xã hội trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở nớc ta

Gồm 5 nội dung cơ bản sau:

- ổn định chính trị - xã hội trên lĩnh vực chính trị

- ổn định chính trị - xã hội trên lĩnh vực kinh tế

- ổn định chính trị - xã hội trên lĩnh vực văn hóa

- ổn định chính trị - xã hội trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh

- ổn định chính trị - xã hội trên lĩnh vực đối ngoại

1.2.1 Nội dung ổn định chính trị - xã hội trên lĩnh vực chính trị

Công cuộc xây dựng CNXH ở nớc ta đợc bắt đầu từ việc xây dựngCNXH ở miền Bắc sau năm 1954 và ở cả nớc từ sau 1975 đến nay Thực tiễncủa công cuộc xây dựng CNXH đã chỉ ra rằng muốn giữ vững đợc sự ổn địnhtrên lĩnh vực chính trị thì phải thực hiện đợc những nội dung sau:

- Đảm bảo vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua vai tròlãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với toàn xã hội

- Phải phát huy đợc vai trò quản lý của nhà nớc XHCN, nhà nớc củadân, do dân và vì dân, đặt dới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

- Phải phát huy đợc vai trò làm chủ tập thể của nhân dân lao động

Có đảm bảo đợc những nội dung này mới tạo ra và giữ vững đợc ổn

định chính trị - xã hội Vì vậy khi xem xét nội dung của ổn định chính trị - xãhội trên lĩnh vực chính trị, chúng ta cần phân tích rõ những nội dung trên

 Thứ nhất là muốn giữ vững ổn định chính trị - xã hội trên lĩnh vực chính trị phải đảm bảo vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam thông qua sự lãnh đạo của Đề tài cấp Nhà nảng Cộng sản Việt Nam đối với toàn xã hội

Trang 25

Ngay từ khi ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã xác định:

"Bản chất giai cấp công nhân là nguyên lý cơ bản nhất trong học thuyết Mác Lênin về Đảng cộng sản, là vấn đề cốt lõi trong công cuộc xây dựng Đảng"[ ] Đảng ta luôn nhấn mạnh: giữ vững bản chất của giai cấp công nhân lànhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Đảng ta, Điều lệ Đảng (đã đợc Đại hộiVIII thông qua) ghi rõ: Đảng là đội tiền phong của giai cấp công nhân ViệtNam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động

-và của cả dân tộc Trong công cuộc xây dựng CNXH, với t cách là ngời đạidiện, Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang đại diện cho lợi ích của giai cấpcông nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc Vì rằng, dới sự lãnh đạo của

Đảng, lợi ích của giai cấp công nhân và của cả dân tộc là thống nhất Đảng đạibiểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộckhông chỉ trớc mắt và cả lâu dài Cho nên Đảng Cộng sản Việt Nam là ngờigiữ vị trí lãnh đạo nhân dân Việt Nam trong công cuộc xây dựng CNXH vàbảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN Cũng qua vai trò lãnh đạo của Đảng Cộngsản Việt Nam, giai cấp công nhân Việt Nam thực hiện vai trò và sứ mệnh lịch

sử của mình

Đảng ta là một đảng cầm quyền Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí

Minh có viết: "Đảng ta là một đảng cầm quyền Phải giữ gìn Đảng ta thậttrong sạch, xứng đáng là ngời lãnh đạo, là ngời đầy tớ thật trung thành củanhân dân" [ , tr 510]

Vị trí cầm quyền này đã đợc khẳng định trên thực tế và đợc xác địnhtrong Hiến pháp Điều đó cũng có nghĩa là: "Sự cầm quyền của Đảng ta đợctoàn dân và toàn xã hội ủng hộ và thừa nhận" [ , tr 11]

Thông qua sự cầm quyền, Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo, quản lý đốivới toàn xã hội Đảng phải gánh trách nhiệm lớn hơn trớc Mọi thành công haythất bại trong xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội, trong công tác quốc phòng -

an ninh, đối nội, đối ngoại đều gắn với trách nhiệm của Đảng, với đội ngũ,cán bộ, đảng viên đợc Đảng giao quyền, giao trách nhiệm Trở thành Đảng

Trang 26

cầm quyền, nh Lênin nhấn mạnh: "Ngày nay, nhiệm vụ quản lý đã trở thànhnhiệm vụ chủ yếu và trung tâm [ , tr 209] "Là thời kỳ lịch sử mà lý luận biếnthành thực tiễn" [ , tr 243].

Tình hình và nhiệm vụ mới, đòi hỏi Đảng phải đổi mới nội dung,

ph-ơng pháp lãnh đạo, không ngừng nâng cao trí tuệ, năng lực tổ chức, quản lý,phẩm chất đội ngũ cán bộ, đảng viên, đủ khả năng lãnh đạo mọi lĩnh vực của

đời sống xã hội

Để thực hiện vai trò là Đảng cầm quyền, Đảng không chỉ phải thờngxuyên tiến hành cuộc đấu tranh chống lại các thế lực thù địch mu toàn giànhlại chính quyền, tiến hành cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, mà còn phảibắt tay vào việc giải quyết những căn bệnh, những nguy cơ từ trong Đảng vàtrong xã hội mà lúc cha cầm quyền không mắc phải nh quan liêu, tham nhũng,ham quyền, ham lợi

ở nớc ta, Đảng ta chủ trơng nhất nguyên chính trị, không chấp nhận

đa nguyên chính trị Từ năm 1930 đến nay, Đảng ta luôn giữ vai trò độc quyềnlãnh đạo cách mạng Việt Nam Xu thế độc tôn:

Ngày một phát triển và củng cố cùng với sự trởng thành củaphong trào và thắng lợi của cách mạng Địa vị độc tôn này mangtính khách quan bởi sự bất lực của các lực lợng chính trị khác và uytín chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày một nâng cao, bởiquần chúng qua kinh nghiệm bản thân ngày càng tín nhiệm Đảngcộng sản, gắn bó máu thịt với Đảng cộng sản Đảng trở thành ngời

đại diện chân chính duy nhất của dân tộc; và nhân dân trở thành cơ

sở xã hội của Đảng [ , tr 171]

Năm 1946, khi tiến hành tổng tuyển cử tự do, dân chủ, chính nhân dânqua lá phiếu của mình đã một lần nữa xác lập địa vị độc tôn lãnh đạo cáchmạng Việt Nam của Đảng cộng sản Cũng cần nói thêm rằng, do chính sách

đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, do chủ trơng tập hợp mọi lực

Trang 27

lợng, mọi cá nhân thành một khối để chống kẻ thù chung, giữ vững chủ quyềnquốc gia nên Quốc hội đã tán thành đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh giành

72 ghế cho các đảng phái, các tổ chức chính trị đối lập và trao cho họ một sốchức vụ quan trọng trong các cơ quan quyền lực của Nhà nớc ta Nhng một lầnnữa các tổ chức chính trị đối lập đã bộc lộ bản chất phản động trong tất cả cáchành động trên cơng vị họ phụ trách Lần lợt những đại biểu "u tú" nhất củacác đảng phái đối lập đã phải rời bỏ vũ đài chính trị trớc sự phỉ nhổ và cămghét của nhân dân Lịch sử đã khẳng định vai trò lãnh đạo duy nhất của ĐảngCộng sản Việt Nam ngay từ những năm 30 đến khi Nhà nớc Cộng hòa Dânchủ Việt Nam ra đời, thì không còn một đảng phái chính trị nào đủ sức thamgia hệ thống tổ chức quyền lực với t cách là một đảng đối lập hay là một liênminh Mặc dù vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh

đạo vẫn bằng mọi cách mở rộng khối đoàn kết toàn dân, phát huy tiềm năngcủa các tầng lớp nhân dân nhằm đấu tranh cho sự nghiệp độc lập, tự do, hạnhphúc của dân tộc nên trong những năm 40, đã giúp đỡ cho hai đảng xã hội và

Đảng Dân chủ ra đời Hai Đảng này đã thu hút đợc nhiều trí thức, nhân sĩ, cácnhà công thơng có tinh thần yêu nớc, tha thiết với nền độc lập, tự do của Tổquốc Nhận rõ vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với lịch sử dân tộc,hai Đảng Xã hội và Dân chủ đã tự nguyện đặt mình dới sự lãnh đạo của ĐảngCộng sản Việt Nam, nguyện phấn đấu theo tôn chỉ, mục đích của Đảng Cộngsản Việt Nam Trên thực tế, trong mấy chục năm ở nớc ta đã có 3 Đảng (Đảngcộng sản, Đảng xã hội, Đảng dân chủ) cùng tồn tại nhng cũng chỉ có Đảngcộng sản giữ vai trò lãnh đạo Suốt từ khi mới ra đời cho tới ngày nay ĐảngCộng sản Việt Nam đã đợc nhân dân và tất cả các tổ chức chính trị - xã hộicủa nhân dân kính trọng, thừa nhận là tổ chức chính trị duy nhất xứng đáng

đại diện cho trí tuệ, lơng tâm và danh dự của dân tộc Vì vậy, Đảng Cộng sảnViệt Nam đã là Đảng cầm quyền, là Đảng đã đợc xác lập giữ vai trò lãnh đạonhà nớc trong suốt quá trình hình thành hệ thống quyền lực ở nớc ta Trongcông cuộc xây dựng CNXH, Đảng ta luôn giữ vững vai trò độc tôn của mình,

Trang 28

nên đã trở thành nhân tố quyết định đến việc ổn định chính trị - xã hội của đấtnớc.

Sự vững mạnh hay suy yếu của Đảng Cộng sản Việt Nam quyết địnhtrực tiếp đến việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội Để liên tục giữ vững đ ợc

ổn định chính trị - xã hội của đất nớc, Đảng Cộng sản Việt Nam cần phải ờng xuyên thực hiện tốt các nội dung sau:

th Thờng xuyên giữ vững, củng cố và phát triển hệ t tởng của giai cấpcông nhân

Trong công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam, Đảng ta luôn xác địnhchủ nghĩa Mác - Lênin và t tởng Hồ Chí Minh là nền tảng t tởng, tinh thần củaxã hội Giữ vững, củng cố, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và t tởng Hồ ChíMinh là sự đảm bảo cho ổn định t tởng, tinh thần của đất nớc

Xa rời hoặc đi ngợc lại chủ nghĩa Mác - Lênin và t tởng Hồ Chí Minh

đều dẫn đến sự rối loạn về hệ t tởng và sẽ dẫn đến mất ổn định chính trị - xãhội

- Đờng lối, chủ trơng chính sách của Đảng phải ổn định về mặt chiếnlợc nhng luôn luôn có sự đổi mới về sách lợc, về biện pháp thực hiện ổn định

về mặt chiến lợc là đờng lối chính sách của Đảng phải nhất quán về mục tiêuxây dựng CNXH, không đợc xa rời chủ nghĩa Mác - Lênin và t tởng Hồ ChíMinh Có sự đổi mới về sách lợc, biện pháp thực hiện là phải xuất phát từ thực

tế khách quan để kịp thời điều chỉnh, tìm ra sách lợc, biện pháp phù hợp nhằmthực hiện sự ổn định chiến lợc Chỉ thay đổi sách lợc chứ không đợc thay đổichiến lợc Đờng lối đổi mới để có CNXH chứ không phải đổi màu CNXH Đ-ờng lối đổi mới của Trung Quốc về cơ bản vẫn giữ đợc mục tiêu XHCN nên

đã xây dựng đợc CNXH mang màu sắc Trung Quốc Đờng lối đổi mới củaLiên Xô và các nớc XHCN Đông Âu vì thay đổi mục tiêu XHCN nên đã dẫn

đến khủng hoảng chính trị - xã hội, dẫn đến sụp đổ

- Phải thờng xuyên kiện toàn bộ máy Đảng từ Trung ơng đến địa

Trang 29

ph-ơng Phải thờng xuyên thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt độngcủa Đảng Phải thờng xuyên chăm lo đến công tác cán bộ, nâng cao trình độchính trị, chuyên môn và phẩm chất đạo đức của đảng viên Có thực sự thờngxuyên thực hiện những việc này thì tổ chức Đảng và đảng viên mới mạnh,

đảm nhận đợc vai trò lãnh đạo của Đảng

- Thờng xuyên đổi mới phơng thức lãnh đạo của Đảng Đổi mới phơngthức lãnh đạo của Đảng phải lấy mục tiêu là Đảng lãnh đạo Nhà nớc XHCN,các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức của quần chúng, lãnh đạo toàn thểnhân dân ngày càng có hiệu quả hơn

- Phải liên hệ mật thiết với nhân dân Chỉ có dựa vào dân, gắn bó máuthịt với nhân dân, đợc nhân dân tin yêu kính trọng Đảng mới có cơ sở xã hộivững chắc để tồn tại Và, đó chính là cái bảo đảm vững chắc nhất cho vị trílãnh đạo của Đảng trong hệ thống quyền lực

 Thứ hai là: muốn giữ vững ổn định chính trị - xã hội trên lĩnh vực

chính trị thì phải phát huy vai trò quản lý của Nhà nớc XHCN

Để xây dựng Nhà nớc XHCN ở nớc ta vững mạnh, cần phải thực hiệnnhững nội dung sau:

- Phải giữ vững bản chất của Nhà nớc XHCN Nhà nớc của ta là Nhànớc mang bản chất của giai cấp công nhân, là nhà nớc của dân, do dân và vìdân Trong mỗi giai đoạn cách mạng, Nhà nớc XHCN có một số đổi mới về tổchức và hoạt động "song những đổi mới ấy đều phải dựa trên cái bất biếnthuộc về bản chất Nhà nớc ta" [ , tr 116]

- Phải thờng xuyên hoàn thiện hệ thống luật pháp tiến bộ, giữ nghiêmluật pháp, tăng cờng pháp chế XHCN

- Phải thờng xuyên chăm lo đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ côngchức Đội ngũ cán bộ công chức phải đủ tài, đủ đức hoàn thành công việc đợcgiao

Trang 30

- Phải tăng cờng sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối vớiNhà nớc XHCN Chỉ có dới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, Nhà nớc XHCNmới đảm bảo đợc bản chất của giai cấp công nhân, mới thực sự là Nhà nớc củadân, do dân, vì dân, mới phát huy vai trò trụ cột của mình trong hệ thốngchính trị XHCN.

Xây dựng nhà nớc vững mạnh thì mới thờng xuyên giữ vững đợc ổn

định chính trị - xã hội của đất nớc

 Thứ ba là muốn giữ vững đợc ổn định chính trị - xã hội trên lĩnh vực chính trị thì phải phát huy đợc vai trò làm chủ của nhân dân lao động

Quần chúng nhân dân là ngời sáng tạo ra lịch sử Trong sự nghiệp xâydựng CNXH, chỉ khi nào có sự tham gia đầy đủ, tích cực của nhân dân thì sựnghiệp xây dựng CNXH mới đi đến thắng lợi Với lực lợng đông đảo của mìnhtrong xã hội, họ có tác động cực kỳ to lớn đến việc giữ vững hay làm mất ổn

định chính trị - xã hội Để giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nớctrong sự nghiệp xây dựng CNXH, Đảng và Nhà nớc phải phát huy vai trò làmchủ tập thể của nhân dân

Có thực hiện tốt đợc quyền làm chủ của nhân dân thì lòng dân mớiyên, dân phấn khởi đóng góp sức mình vào công cuộc xây dựng CNXH và bảo

vệ Tổ quốc XHCN Dân yên thì chính trị - xã hội đợc ổn định và phát triển

 Đảm bảo đợc sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với toànxã hội, phát huy vai trò quản lý của Nhà nớc XHCN, phát huy vai trò làm chủtập thể của nhân dân lao động là những nội dung cơ bản nhất cho việc giữvững ổn định chính trị - xã hội trên lĩnh vực chính trị Trong đó nội dung đảmbảo sự lãnh đạo của Đảng cộng sản đối với toàn xã hội là quan trọng nhất vìchỉ trên cơ sở đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thì mới pháthuy đợc vai trò của Nhà nớc XHCN, phát huy đợc vai trò làm chủ tập thể củanhân dân lao động Nhng ngợc lại nếu có phát huy đợc vai trò quản lý của Nhànớc XHCN, phát huy vai trò làm chủ tập thể của nhân dân lao động thì sự lãnh

Trang 31

đạo của Đảng cộng sản lại càng đợc bảo đảm vững chắc hơn Cho nên để giữvững ổn định chính trị - xã hội trên lĩnh vực chính trị cần phải chú ý toàn diện

ba nội dung này

1.2.2 Nội dung ổn định chính trị - xã hội trên lĩnh vực kinh tế

Chúng ta không nên đi sâu vào nội dung kinh tế của sự nghiệp xâydựng CNXH về kinh tế mà chỉ tập trung nghiên cứu sự tác động về mặt chínhtrị - xã hội đối với lĩnh vực kinh tế Lênin cho rằng: chính trị là biểu hiện tậptrung của kinh tế Vì vậy cần phải làm sáng rõ mặt chính trị - xã hội trong lĩnhvực kinh tế Trên thực tế, tác động của mặt chính trị - xã hội này đối với kinh

tế có thể gây ra sự ổn định hay mất ổn định của nền kinh tế, kéo theo sự ổn

định hay mất ổn định chính trị - xã hội của toàn xã hội

Nội dung của ổn định chính trị - xã hội về kinh tế là việc giải quyếtmối quan hệ giữa Đảng, Nhà nớc và nhân dân trong việc xây dựng và pháttriển nền kinh tế - xã hội của đất nớc Trong mối quan hệ này, Đảng giữ vị trílãnh đạo, Nhà nớc giữ vai trò quản lý, thực hiện, nhân dân là ngời trực tiếpthực hiện việc xây dựng và phát triển kinh tế Để giữ vững đợc ổn định chínhtrị - xã hội trên lĩnh vực kinh tế, Đảng, Nhà nớc, nhân dân phải làm tròn tráchnhiệm của mình và phải tạo ra mối quan hệ hài hòa giữa Đảng, Nhà nớc, nhândân

Chỉ có trên cơ sở giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nớc, nhândân trong xây dựng và phát triển kinh tế mới đảm bảo đợc sự ổn định chính trị

- xã hội trên lĩnh vực kinh tế góp phần vào việc giữ vững ổn định chính trị - xãhội của đất nớc

1.2.3 Nội dung ổn định chính trị - xã hội trên lĩnh vực văn hóa

Trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở nớc ta, việc giữ vững ổn địnhchính trị - xã hội trên lĩnh vực văn hóa chính là việc giải quyết mối quan hệgiữa Đảng cộng sản, Nhà nớc XHCN và nhân dân đối với việc xây dựng và

Trang 32

phát triển văn hóa Cũng nh trong kinh tế, ở mối quan hệ này, Đảng cộng sảngiữ vị trí lãnh đạo, Nhà nớc XHCN giữ vai trò quản lý, nhân dân là ngời thựchiện Sự ổn định chính trị - xã hội trên lĩnh vực văn hóa chỉ đợc giữ vững nếu

nh Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nớc XHCN, nhân dân đều làm tốt vai tròcủa mình và có sự phối hợp nhịp nhàng giữa Đảng, Nhà nớc XHCN và nhândân

1.2.4 ổn định chính trị - xã hội trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh

Trong sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN, giữ vững

ổn định chính trị - xã hội trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh cũng chính làviệc giải quyết mối quan hệ giữa Đảng cộng sản, Nhà nớc XHCN, nhân dântrong việc củng cố, tăng cờng quốc phòng - an ninh Tạo sự phối hợp nhịpnhàng giữ Đảng, Nhà nớc và nhân dân trong lĩnh vực quốc phòng - an ninh

1.2.5 ổn định chính trị - xã hội trên lĩnh vực đối ngoại

ổn định chính trị - xã hội trên lĩnh vực đối ngoại trong công cuộc xâydựng CNXH ở nớc ta đợc xác định trên cơ sở giải quyết đúng đắn mối quan hệgiữa Đảng cộng sản, Nhà nớc XHCN và nhân dân trong việc mở rộng quan hệ

đối ngoại Trong mối quan hệ này, Đảng giữ vị trí lãnh đạo đa ra đờng lối đốingoại, Nhà nớc XHCN quản lý các hoạt động đối ngoại, nhân dân là ngời thựchiện Kết hợp hài hòa sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nớc, việcthực hiện của nhân dân trong lĩnh vực quan hệ đối ngoại

Nội dung giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong công cuộc xây dựng

CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN phải đợc thực hiện ở việc giữ vững vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua vai trò lãnh đạo của Đề tài cấp Nhà nảng Cộng sản Việt Nam đối với toàn xã hội ở việc phát huy vai trò quản lý của

Nhà nớc XHCN, phát huy vai trò làm chủ tập thể của nhân dân lao động; ởviệc giữ vững ổn định chính trị - xã hội trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa,quốc phòng - an ninh, đối ngoại Một trong những lĩnh vực cơ bản trên mất ổn

Trang 33

định cũng sẽ ảnh hởng đến các mặt khác và hạn chế đến việc giữ vững ổn địnhchính trị - xã hội

1.3 Vai trò của ổn định chính trị - xã hội đối với sự phát triển của xã hội

Các quốc gia dân tộc ngày nay càng nhận rõ rằng, muốn tồn tại thìphải phát triển, phát triển theo chiều sâu, phát triển vì con ngời, phát triển bềnvững

Sự phát triển của một quốc gia, một xã hội chỉ có đợc trên cơ sở xáclập đợc một lý thuyết phát triển thật sự khoa học Lý thuyết phát triển có tínhkhoa học phải: "dựa trên nguyên lý và quy luật phát triển phổ biến của giới tựnhiên nói chung và của xã hội loài ngời nói riêng với sự tính toán một cáchkhoa học có sự kết hợp đúng đắn các yếu tố, các điều kiện, các khả năng và cảcác thời cơ, v.v " [ ]

Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đang thực hiện lý thuyết pháttriển bền vững Theo lý thuyết phát triển bền vững thì: Sự phát triển trong thếhài hòa mà tự nhiên - xã hội - con ngời kết hợp đồng bộ các mặt kinh tế - kỹthuật - văn hóa vận động và đi lên bằng chính năng lợng và nội lực củachính mình, bảo đảm sự ổn định, sự vững chắc cả hiện tại lẫn tơng lai - đó là

sự phát triển bền vững

Và nh vậy, chỉ với sự phát triển bền vững mới có thể gọi là một sự tiến

bộ Tiến bộ thể hiện trình độ vợt qua bản thân sự vật, mà đối tợng ở đây đangnghiên cứu là trình độ vợt qua của bản thân xã hội Có nghĩa là, sự tiến bộ trớchết là kết quả của sự phát triển bền vững Mỗi sự phát triển bền vững là một bớc

đa sự vật (xã hội) đi lên phía trớc theo hớng cao hơn, hoàn thiện hơn

Công cuộc đổi mới toàn diện ở nớc ta do Đại hội VI đề ra và thực hiện

15 năm qua thực tế là nhằm phát triển đất nớc Đó là quá trình thực hiện mục

tiêu: "Cải biến xã hội cũ thành một xã hội mới tiến bộ hơn hoặc cải tiến mọi

Trang 34

mặt đời sống xã hội để xã hội đó tốt đẹp hơn" [ , tr 19].

Mục tiêu chung là đi tới đổi mới toàn diện Từ đổi mới t duy đến đổimới kinh tế, chính trị, văn hóa, quốc phòng - an ninh, đối ngoại Nếu chúng ta

thực hiện thành công sự đổi mới toàn diện này thì đất nớc ta phát triển bền vững, toàn diện trong sự cân đối, hài hòa.

1.3.1 Vì sao phải giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong công cuộc đổi mới đất nớc

Thứ nhất là, trong quá trình đổi mới đất nớc, tình hình chính trị, kinh

tế, xã hội ở trong nớc và thế giới luôn có nhiều biến động phức tạp đòi hỏiphải giữ vững ổn định chính trị thì mới đảm bảo cho công cuộc đổi mới đi đếnthắng lợi

Khi bắt tay vào công cuộc đổi mới, tình hình chính trị, kinh tế, xã hộicủa nớc ta lúc đó diễn biến rất phức tạp Sau thắng lợi của cuộc kháng chiếnchống Mỹ cứu nớc (30/4/1975), đất nớc thống nhất và cả nớc đi lên CNXH

Từ đó đến khi Đảng ta đề xớng đờng lối đổi mới ở Đại hội VI (1986) vừa trònmột thập kỷ Đây là thời kỳ xây dựng kinh tế, phát triển văn hóa sau chiếntranh đi liền với nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân nhằm khắc phục hậu quả vôcùng nặng nề của cuộc chiến tranh khốc liệt, kéo dài nhất trong lịch sử củadân tộc ta Trong 10 năm này, đất nớc ta liên tục gặp nhiều khó khăn, thửthách Thiên tai, hạn hán, bão lụt, mất mùa làm cho nông nghiệp suy sụp trầmtrọng Hậu quả của cuộc chiến tranh chống Mỹ cha khắc phục xong thì haicuộc chiến tranh mới lại xuất hiện: chiến tranh biên giới Tây Nam chống bọndiệt chủng Pôn Pốt (1978) và chiến tranh ở vùng biên giới phía Bắc (1979).Hai cuộc chiến tranh và hậu quả của nó gây ra những xáo trộn kinh tế, xã hộicũng rất nặng nề ở ngoài nớc, Liên Xô và các nớc XHCN cũng đang "cải tổ"gặp nhiều khó khăn nên đã cắt giảm viện trợ cho nớc ta Mỹ lại tăng cờng cấmvận Các thế lực đế quốc bằng mọi cách đã làm cho Việt Nam rơi vào thế côlập và bị bao vây Trong khi lãnh đạo quản lý đất nớc, Đảng và Nhà nớc ta lại

Trang 35

có sai lầm khuyết điểm.

Những nguyên nhân khách quan và chủ quan đã đa nớc ta lâm vàocuộc khủng hoảng trầm trọng về kinh tế xã hội Sản xuất tuy có tăng nhngtăng rất chậm so với khả năng sẵn có và công sức bỏ ra, so với yêu cầu cầnnhanh chóng ổn định đời sống nhân dân và có vốn để công nghiệp hóa, củng

cố quốc phòng - an ninh Hiệu quả sản xuất và đầu t rất thấp Tài nguyên đấtnớc cha đợc khai thác tốt, bị sử dụng lãng phí, môi trờng sinh thái bị phá hoạinghiêm trọng Lu thông ách tắc, phân phối rối ren, lạm phát tăng với tốc độphi mã (hơn 700%) Nền kinh tế mất cân đối trầm trọng giữ cung và cầu về l -

ơng thực thực phẩm, hàng tiêu dùng, năng lợng, vận tải giữa thu và chi, xuấtkhẩu và nhập khẩu Đời sống của nhân dân, nhất là công nhân, viên chức gặprất nhiều khó khăn Nhiều nhu cầu vật chất, tinh thần tối thiểu của nhân dâncha đợc bảo đảm Nông dân nghèo nàn, thiếu thốn, có nơi nạn đói xuất hiện.Hiện tợng tiêu cực trong xã hội phát triển Công bằng xã hội bị vi phạm Phápluật kỷ cơng không nghiêm Những hành vi lộng quyền, tham nhũng của một

số cán bộ và công chức nhà nớc, những hoạt động của bọn làm ăn phi pháp cha bị trừng trị nghiêm khắc và kịp thời Thực trạng này đã làm giảm lòng tincủa quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của các cơ quannhà nớc Cũng chính xuất phát từ tình hình trên cho nên muốn hạn chế, loạitrừ khủng hoảng kinh tế - xã hội thì phải giữ vững đợc ổn định chính trị - xãhội ổn định chính trị - xã hội là đòi hỏi bức thiết của tình hình lúc bấy giờ vì

có giữ vững đợc ổn định chính trị - xã hội thì mới chặn đứng sự lây lan củakhủng hoảng kinh tế - xã hội không cho khủng hoảng kinh tế - xã hội chuyểnthành khủng hoảng kinh tế - xã hội Mặt khác giữ vững đợc ổn định chính trị -xã hội sẽ tạo ra thuận lợi để từng bớc loại trừ khủng hoảng kinh tế - xã hội

Sau 5 năm thực hiện công cuộc đổi mới, ở Đại hội VII, Đảng ta đãphân tích đánh giá tình hình mọi mặt của đất nớc sau 5 năm đổi mới, phân tíchsâu sắc tình hình chính trị, xã hội của thế giới Đại hội nhận định rằng: Đạihội VII tiến hành trong bối cảnh quốc tế và trong nớc phức tạp Liên Xô và

Trang 36

các nớc XHCN Đông Âu đang trên đà tan rã sụp đổ Các nớc đế quốc, đứng

đầu là Mỹ có âm mu, hành động hòng xóa sạch CNXH hiện thực vào cuối thế

kỷ XX Sự sụp đổ không tránh khỏi của Liên Xô và các nớc XHCN Đông Âu,

sự thắng lợi của chủ nghĩa đế quốc đã gây ra hoang mang dao động cho cán

bộ, đảng viên và nhân dân ta Cũng ở thời điểm này những thế lực phản độngtrong nớc ngóc đầu dạy, bọn lu vong tăng cờng hoạt động chống cộng, bọn cơhội trong Đảng, trong Nhà nớc đòi đa nguyên chính trị, đa đảng ở trong n-

ớc, nh Đại hội VII nhận định: không một ai trong chúng ta có thể yên tâm vớithực trạng tình hình Dù đạt đợc một số thành tựu về kinh tế - xã hội nhng nớc

ta vẫn còn chồng chất khó khăn Đất nớc vẫn cha ra khỏi khủng hoảng kinh tế

- xã hội, công cuộc đổi mới còn những mặt hạn chế, nhiều vấn đề kinh tế - xãhội nóng bỏng cha đợc giải quyết Lạm phát còn ở mức cao, nhiều cơ sở sảnxuất đình đốn kéo dài, thiếu việc làm Đời sống của những ngời sống chủ yếubằng lơng hoặc trợ cấp xã hội và đời sống của một bộ phận nông dân giảm sút.Nhiều mặt văn hóa, xã hội xuống cấp Tham nhũng, tiêu cực và bất công xãhội tăng thêm, lối sống thực dụng hủ tục mê tín dị đoan phát triển Tình trạng

vi phạm dân chủ còn nhiều Pháp luật, kỷ cơng cha nghiêm Vẫn có nhữngnhân tố có thể gây ra mất ổn định chính trị không thể xem thờng Nh vậy cảtình hình quốc tế và trong nớc đều đòi hỏi phải giữ vững cho đợc ổn địnhchính trị - xã hội Bởi vì nếu để xảy ra mất ổn định chính trị - xã hội lúc này

có nghĩa là mất nớc, mất CNXH và các thành quả cách mạng khác mà biếtbao máu xơng của các thế hệ cách mạng Việt Nam chiến đấu, hy sinh mới có

đợc

Sau 10 năm đổi mới đất nớc, ở Đại hội VIII, Đảng ta đã đánh giánhững thành tựu, hạn chế của 10 năm đổi mới đất nớc, phân tích rõ tình hìnhthế giới và trong nớc Đảng ta đã có những nhận định đúng đắn về tình hìnhquốc tế: cho dù CNXH ở Liên Xô và các nớc Đông Âu sụp đổ nhng khônglàm thay đổi tính chất của thời đại; loài ngời vẫn đang trong thời đại quá độ từCNTB lên CNXH Nguy cơ chiến tranh thế giới bị đẩy lùi nhng xung đột vũ

Trang 37

trang, chiến tranh cục bộ, xung đột về dân tộc, sắc tộc và tôn giáo, chạy đua

vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố vẫn xảy ra nhiều nơi Cáchmạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng cao.Cộng đồng thế giới đứng trớc nhiều vấn đề có tính toàn cầu đòi hỏi phải hợptác đa phơng Khu vực châu á - Thái Bình Dơng đang phát triển năng động vàtiếp tục phát triển với tốc độ cao Đồng thời khu vực này cũng tiềm ẩn một sốnhân tố có thể gây mất ổn định Những nhận định về tình hình quốc tế này đòihỏi nớc ta cần thiết phải tiếp cận giữ vững ổn định chính trị - xã hội Bởi vì cógiữ vững đợc ổn định chính trị - xã hội, chúng ta mới giữ đợc CNXH, mới loạitrừ đợc những hành động can thiệp, lật đổ của chủ nghĩa đế quốc, mới có thểhợp tác quốc tế với các nớc trong khu vực và quốc tế Đặc biệt ở Đại hội VII,

Đảng ta đã chỉ ra thời cơ và thách thức đối với sự nghiệp đổi mới ở nớc ta

Đảng ta đã chỉ rõ bốn nguy cơ: tụt hậu về kinh tế, quan liêu tham nhũng,chệch hớng XHCN, âm mu "diễn biến hòa bình" Để đẩy lùi những nguy cơnày đòi hỏi đất nớc phải giữ vững đợc ổn định chính trị - xã hội

Sau 15 đổi mới đất nớc, ở Đại hội IX (2001), Đảng ta đã có những

đánh giá đúng đắn về: Việt Nam trong thế kỷ XX và triển vọng trong thế kỷXXI Về tình hình thế giới, Đảng ta chỉ rõ: Thế kỷ XXI sẽ tiếp tục có nhiềubiến đổi Khoa học và công nghệ thế giới sẽ có bớc nhảy vọt Kinh tế tri thức

có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển sản xuất Toàn cầu hóakinh tế là xu thế khách quan, lôi kéo nhiều nớc tham gia Đấu tranh dân tộc vàgiai cấp tiếp tục diễn ra gay gắt CNXH trên thế giới có khả năng tạo ra bớcphát triển mới Chiến tranh cục bộ, xung đột dân tộc, tôn giáo xảy ra ở nhiềunơi với tính chất phức tạp ngày càng tăng Khu vực Đông Nam á, châu á -Thái Bình Dơng phát triển năng động nhng vẫn tiềm ẩn những nhân tố gâymất ổn định Nh vậy, để có thể tồn tại và hội nhập với khu vực và thế giới, nớc

ta càng cần phải giữ vững ổn định chính trị - xã hội ở Đại hội IX, Đảng ta chỉ

ra rằng những nguy cơ mà Đại hội VIII nêu ra vẫn cha đợc đẩy lùi, thậm chínguy cơ tham nhũng ngày càng trầm trọng đe dọa đến sự sống còn của chế độ

Trang 38

XHCN Cho nên việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội trở thành một yêucầu cấp thiết đảm bảo sự tồn tại và phát triển của nớc ta là sự đảm bảo chocông cuộc đổi mới của nớc ta đi tới thắng lợi.

Thứ hai là: Mục đích, nội dung, yêu cầu của công cuộc đổi mới đòi

hỏi đất nớc phải giữ vững ổn định chính trị - xã hội thì công cuộc đổi mới mới

đích, nội dung, yêu cầu của công cuộc đổi mới cũng đòi hỏi trong quá trình

đổi mới, đất nớc phải giữ vững đợc ổn định chính trị - xã hội

- Về mục đích của công cuộc đổi mới đất nớc

+ Công cuộc đổi mới đất nớc luôn luôn loại trừ những cái cũ, nhữngcái hạn chế phát sinh trên con đờng đổi mới Bớc vào công cuộc đổi mới,chúng ta phải xóa bỏ những cái cũ kìm hãm sự phát triển của xã hội Về mặtnhận thức, chúng ta phải xóa bỏ những nhận thức cha đúng về CNXH, về chủnghĩa Mác - Lênin, xóa bỏ t tởng chủ quan, nóng vội, t tởng thụ động Thực tếcho thấy việc xóa bỏ này cũng chẳng phải dễ dàng gì Sau 15 năm đổi mới đấtnớc, có không ít cán bộ, đảng viên, một bộ phận nhân dân vẫn không thay đổi

đợc nhận thức, vẫn ảo tởng về CNXH thời kỳ đổi mới Trong tiến trình đổimới, rất nhiều những t tởng tiêu cực phát sinh nh xóa nhòa hệ t tởng Mác -Lênin với hệ t tởng t sản, xóa nhòa CNXH với CNTB, t tởng chủ nghĩa cánhân phát triển trong thời cơ chế thị trờng Về cơ chế lãnh đạo, quản lý,chúng ta cần phải xóa bỏ cơ chế quan liêu bao cấp Vấn đề xóa bỏ cơ chế quanliêu bao cấp đợc đặt ra ngay khi tiến hành công cuộc đổi mới Từng bớc đi của

Trang 39

công cuộc đổi mới chúng ta đã loại trừ dần dần cơ chế quan liêu bao cấp

Nh-ng cho đến nay cơ chế này cũNh-ng cha hoàn toàn bị loại trừ mà còn có nhữNh-ngbiểu hiện rất tinh vi Về bộ máy lãnh đạo, quản lý, chúng ta đã đặt ra phải xóa

bỏ tình trạng cồng kềnh, chồng chéo, phải kiên quyết đa những ngời thoáihóa, kém phẩm chất, năng lực ra khỏi bộ máy lãnh đạo quản lý Nhng việclàm này cũng cha đạt đợc kết quả nh mong muốn Nói giảm biên chế nhngtrên thực tế biên chế lại phình to ra, nói giảm cơ quan để bớt chồng chéonhững lại sinh thêm nhiều cơ quan khác càng chồng chéo hơn Về tiêu cực xãhội thì một là không xóa triệt để những tiêu cực cũ, thậm chí tiêu cực cũ lạitrầm trọng thêm, hai là cha ngăn chặn giải quyết kịp thời những tiêu cực mớiphát sinh

Công việc xóa bỏ cái cũ có thể gây ra những biến động chính trị, xãhội nhất định Để xóa bỏ triệt để những cái cũ, những tiêu cực mới phát sinh

đòi hỏi đất nớc phải giữ vững ổn định chính trị - xã hội ổn định chính trị - xãhội đợc giữ vững sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc xóa bỏ cái cũ trên con đ -ờng đổi mới đất nớc Cũng cần phải nói thêm rằng nếu mất ổn định chính trị -xã hội thì cái cũ, cái tiêu cực mới phát sinh sẽ có cơ hội để tiếp tục phát triển

+ Đổi mới đất nớc là việc khám phá ra những cái mới phù hợp với đòihỏi của sự phát triển đất nớc Vấn đề đặt ra là phải bảo vệ cái mới để cái mớichiến thắng hoàn toàn cái cũ, để cái mới tiếp tục phát triển Trong kinh tế:phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, cơ chế thị trờng, chế độ phân phối,nền kinh tế tri thức đều là cái mới Trong văn hóa, quốc phòng - an ninh, đốingoại đều có những cái mới của đổi mới Những cái mới này chỉ đợc khẳng

định và phát huy trong điều kiện chính trị - xã hội ổn định Chỉ cần một mặtnào đó của xã hội mất ổn định chính trị - xã hội thì sẽ hạn chế cái mới ở mặt

đó và kéo theo sự hạn chế cái mới ở các mặt khác của xã hội

- Về nội dung của công cuộc đổi mới Công cuộc đổi mới có nội dung

toàn diện Muốn thực hiện nội dung toàn diện này đòi hỏi đất nớc phải giữ

Trang 40

vững đợc ổn định chính trị - xã hội Nếu chỉ tập trung vào một mặt thí dụ nhtập trung vào đổi mới kinh tế mà xem nhẹ các mặt khác thì việc đổi mới kinh

tế cũng không thể thực hiện thành công đợc Tập trung vào kinh tế mà xemnhẹ chính trị, văn hóa, quốc phòng - an ninh, đối ngoại thì các mặt này sẽ cảntrở trực tiếp đến đổi mới kinh tế Chỉ có trên cơ sở giữ vững ổn định chính trị -xã hội trên tất cả các mặt của xã hội thì mới đảm bảo đợc đổi mới toàn diệncác mặt của đời sống xã hội

- Về yêu cầu của công cuộc đổi mới Đổi mới phải triệt để, có bớc đi

thích hợp Để thực hiện đợc yêu cầu này thì đòi hỏi đất nớc phải giữ vững đợc

ổn định chính trị - xã hội Chỉ có trên cơ sở giữ vững ổn định chính trị - xã hộithì Đảng, Nhà nớc, nhân dân mới thực hiện đợc tính triệt để của công cuộc đổimới, mới chủ động đề ra và thực hiện những bớc đi thích hợp cho công cuộc

duy nhất cầm quyền, Đề tài cấp Nhà nảng ta đã chủ động đề ra và thực hiện việc giữ vững ổn

định chính trị - xã hội trong công cuộc đổi mới đất nớc Đây là nhân tố chủ

quan đối với việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội ở nớc ta ở Đại hội VI,VII, VIII, IX, Đảng ta luôn chủ động đề ra và thực hiện nhiệm vụ giữ vững ổn

định chính trị - xã hội Nhờ có sự chủ động này mà Đảng ta đã giải quyếtthành công nhiệm vụ giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nớc trong giai

đoạn đổi mới đất nớc

Tóm lại: Việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nớc trong

Ngày đăng: 10/07/2023, 09:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w