1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình tượng con người trong chạm khắc cổ việt nam

43 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hình tượng con người trong chạm khắc cổ Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Mai Anh
Trường học Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam
Chuyên ngành Nghệ thuật chạm khắc
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 3,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • A. PHẦN MỞ ĐẦU (1)
    • 1. Lí do chọn đề tài (1)
    • 2. Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu (2)
    • 3. Đôí tượng và phạm vi nghiên cứu (3)
    • 4. Phương pháp nghiên cứu (3)
    • 5. Dự kiến đóng góp đề tài (3)
  • B. NỘI DUNG (4)
  • Chơng 1: Khái quát chung về nghệ thuật chạm khắc cổ Việt Nam (4)
    • 1.1 Khái niệm về chạm khắc (4)
    • 1.2 Nghệ thuật chạm khắc cổ Việt Nam (4)
      • 1.2.1 Chủ đề chạm khắc (5)
      • 1.2.2 Kỹ thuật chạm khắc (10)
  • Chơng 2: Hình tợng con ngời trong nghệ thuật chạm khắc cổ Việt Nam (14)
    • 2.1 Chạm khắc trong chùa (14)
      • 2.1.1 Nhạc sĩ thiên thần (14)
      • 2.1.2 Tiên nữ (16)
      • 2.1.3 Những em bé ở thế giới Cực Lạc (19)
    • 2.2 Chạm khắc tại các đình làng (21)
      • 2.2.1 Hình tượng con người mang yếu tố thần thoại, ước lệ (22)
      • 2.2.2 Hình tượng con người phản ánh cuộc sống xã hội đương thời (28)
    • C. KẾT LUẬN (38)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (42)

Nội dung

Bước sang những thời kì tiếp sau Lý-Trần, không gian kiến trúc mởrộng tại những ngôi đình làng, nghệ thuật chạm khắc dân gian chiếm ưu thế.Với không gian kiến trúc mới tại các ngôi làng,

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ở mỗi vùng quê Việt Nam, hầu như nơi nào cũng thấy có sự xuất hiệncủa những ngôi đình, ngôi chùa, những ngọn tháp cao là nơi linh thiêng gắn vớiđời sống tâm linh của người Việt Trong không gian kiến trúc ấy trên những bệtháp, những chân tượng hay những vì kèo, chắn gió được các nghệ nhân Việtchạm khắc những hoa văn thật mượt mà, tinh xảo, từ hoa văn hình hoa lá cây

cỏ, chim thú cho đến hoa văn hình người đều tươi tắn, sống động

Ngay từ khi xuất hiện nghệ thuật chạm khắc, đề tài con người đã luônđược các nghệ nhân quan tâm và phản ánh dưới nhiều góc độ khác nhau nhưcảnh các nhạc sĩ thiên thần chơi nhạc, những tiên nữ múa lượn, hay nhữngcảnh vui chơi sinh hoạt, lao động sản xuất, cảnh chiến đấu để bảo vệ xómlàng Dẫu rằng lịch sử có nhiều khúc quanh tác động đến hoa văn, nhưng tavẫn nhận thấy mỗi thời kỳ hình tượng con người lại được phản ánh bởi nhữngnét đặc trưng riêng

Triều đại Lý- Trần là thời kỳ hưng thịnh của Phật giáo Nhiều ngôichùa được xây dựng phục vụ tín ngưỡng dân tộc Nghệ thuật chạm khắc ViệtNam chủ yếu được thể hiện trong các ngôi chùa thời kì này Có thể kể đếnhình tượng con người được sử dụng như: những vũ nữ thiên thần, nhạc sỹthiên thần,những em bé ở miền cực lạc Do ảnh hưởng của Đạo phật nên cơthể con người được thể hiện khá cân đối, gần với tự nhiên, ít bị cường điệu,với chân dung đẹp một cách chân phương, thuần hậu Bằng óc sáng tạo vàđôi bàn tay tài hoa, khéo léo của các nghệ nhân dân gian, hình tượng conngười thể hiện bằng những hình ảnh gần với tâm linh, với ý niệm Phật phápcủa nhà Phật Những hình ảnh của cuộc sống đã hoà nhập vào những bứcchạm, nhập tâm tới mức mà chỉ bằng vài khối đơn giản đã diễn tả được mộtcon người cả về hình thể, động tác và ý nghĩa

Trang 2

Bước sang những thời kì tiếp sau Lý-Trần, không gian kiến trúc mởrộng tại những ngôi đình làng, nghệ thuật chạm khắc dân gian chiếm ưu thế.Với không gian kiến trúc mới tại các ngôi làng, ánh sáng thiên nhiên có thểchiếu rọi khắp nơi ở những cung bậc khác nhau, đã nảy sinh bao hình thứcchạm khắc trên các phần kiến trúc như đầu kèo, chắn gió mà tiêu biểu nhưchạm khắc đình Tây Đằng, đình Liên Hiệp đã mang đến một luồng sinh khívới nét chạm tự do, cấu trúc đồ sộ Cá tính và phong cách cá nhân chìm lẫntrong các hình tượng và được dung dưỡng bởi cuộc sống làng xã vừa khép kín,vừa đa dạng như những tế bào gộp nên nền văn hoá nông nghiệp Việt Nam

Trong chạm khắc đình làng, thời kỳ này ta bắt gặp rất nhiều hình ảnh

cỏ cây, hoa lá núi sông, nhưng điều đặc biệt là hình ảnh cuộc sống con ngườitrên nhiều phương diện đã được đề cập và thể hiện một cách rõ nét trên hệthống chạm khắc này Bằng óc sáng tạo và đôi bàn tay tài hoa, khéo léo củacác nghệ nhân dân gian, hình tượng con người trong cuộc sống thường nhật

đã đi vào nghệ thuật chạm khắc thật sinh động, tươi mắt như cảnh mẹ gánhcon, đẽo gỗ, chèo truyền uống rượu, làm xiếc, đánh đàn tất thẩy đều nói lênmột giá trị điêu khắc rõ rệt với các khối được diễn tả căng no đủ, từ một hìnhthức đơn giản, mà vững chắc, mạnh bạo, mang một giá trị nghệ thuật cao

Do đó nghiên cứu về hình tượng con người trong chạm khắc sẽ giúp cánhân em có thể hiểu về nghệ thuật dân tộc một cách sâu sắc, thêm yêu thêmquý đất nước con người Việt Nam Hiểu được sự sáng tạo trong nghệ thuậtcủa dân qua các thời đại và giữ gìn phần nào giá trị to lớn của nghệ thuậtchạm khắc cổ Việt Nam Bởi nghệ thuật chạm khắc dân gian là sự kết tinhmuôn đời, muôn thuở của dân tộc Việt Nam Chúng là những "chữ viết" chânthực, là lời nhắn nhủ đầy tính triết mỹ của tổ tiên chúng ta để lại cho thế hệmai sau

2 Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu:

Trang 3

Tìm hiểu và nghiên cứu về các hoa văn trang trí có hình ảnh con ngườitrong chạm khắc cổ Việt Nam tại các chùa, các đình làng giúp em hiểu đượcgiá trị thẩm mĩ và tư duy nghệ thuật cùng kĩ thuật điêu luyện của các nghệnhân dân gian xưa Việc vận dụng yếu tố thẩm mĩ, giàu tính nghệ thuật màcác nghệ nhân muốn truyền tải cho thấy nghệ thuật không thuần tuý phản ánhcái đẹp mà còn phản ánh cuộc sống, quan niệm của thời đại.

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Tôi muốn nghiên cứu để hiểu biết hơn về giá trị nghệ thuật cũng như

giá trị lịch sử, văn hoá của nghệ thuật chạm khắc cổ Việt Nam.

3 Đôí tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu về hình tượng con người trong

chạm khắc cổ Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu về nghệ thuật chạm khắc cổ Việt

Nam, có hình ảnh con người trong các bức chạm khắc Cụ thể là nghiên cứu

về chạm khắc hình tượng con người trong các chùa, các đình làng miền BắcViệt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu tài liệu

- Giúp người đọc hiểu hơn và tăng thêm kiến thức về nghệ thuật chạmkhắc cổ Việt Nam, biết vận dụng vào bài học một cách linh hoạt, sáng tạo

- Là tài liệu cho bản thân, học sinh và sinh viên Mĩ thuật

Trang 4

6 Bố cục của tiểu luận

Chương 1: Khái quát chung về nghệ thuật chạm khắc cổ Việt Nam

Chương 2: Hình tượng con người trong nghệ thuật chạm khắc cổ Việt Nam

B NỘI DUNG Ch¬ng 1: Kh¸i qu¸t chung vÒ nghÖ thuËt

ch¹m kh¾c cæ ViÖt Nam

1.1 Khái niệm về chạm khắc

Theo từ điển thuật ngữ mĩ thuật phổ thông điêu khắc là: “ nghệ thuậtthực hiện những tác phẩm có không gian 3 chiều (tượng tròn), hoặc 2 chiều(chạm khắc và phù điêu) bằng cách gọt, đẽo, gò , đắp, gắn…những khối vậtrắn chắc như đá , gỗ, kim loại Điêu khắc còn là nghệ thuật nặn tượng bằngđôi tay khéo léo của những người nghệ sĩ

Định nghĩa trên giúp chúng ta hiểu thế nào là điêu khắc và cũng hiểuthế nào là chạm khắc Chạm khắc là thể loại nằm trong nghệ thuật tạo hình vànằm trong khuôn khổ của nghệ thuật điêu khắc

Nói đến chạm khắc là nói đến khối và ta có thể sờ vào khối đó Khốiđược chiếm một vị trí nhất định trong không gian Chạm khắc thường đượcthể hiện bằng chất liệu quý để tồn tại với không gian và thời gian và chịu sựtác động của thời tiết khắc nghiệt như: nắng, gió, mưa, bão….Các chất liệulàm chạm khắc gồm đất nung, gỗ, đá, đồng, kim loại…

Mỗi loại hình nghệ thuật đều có ngôn ngữ biểu đạt riêng Cũng như cácloại hình nghệ thuật khác, chạm khắc có chức năng tái tạo hiện thực cuộcsống, giáo dục thẩm mĩ cho con người và làm đẹp cảnh quan cũng như cuộcsống Nó giúp con người hiểu nhau và yêu thương nhau hơn Ngôn ngữ củachạm khắc là khối và mỗi người có một cách cảm thụ về khối đó khác nhau

1.2 Nghệ thuật chạm khắc cổ Việt Nam

Trang 5

Cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã viết nên những trang sử đẹp chốngngoại xâm và cũng chính những bàn tay đánh giặc,cày cuốc đó lại khéo léo tạonên những sản phẩm giàu tính thẩm mỹ rất đặc trưng của dân tộc.

Nói tới nghệ thuật tạo hình dân gian, người ta thường nghĩ ngay đếnchạm khắc, trang trí trên sập gụ, tủ chè hình chùm nho, con sóc, bộ ghế chạmcon rối, chữ Phúc-Lộc-Thọ Nhưng trên thực tế nền nghệ thuật chạm khắcdân gian đồ sộ của người Việt còn được lưu giữ trên các ngôi đình, chùa, đềnnằm rải rác ở mỗi làng quê vây quanh bởi luỹ tre xanh thầm lặng, mà cho đếnngày nay chúng vẫn là những gì tinh tuý nhất góp phần tạo nên bản sắc vănhoá Việt Nam Nghệ thuật chạm khắc dân gian Việt Nam là một di sản quýgiá mà ông cha ta đã để lại cho thế hệ con cháu

về thiên nhiên, về con người Việt Nam từng thời kỳ dưới dạng thần linh haycon người thế tục Từ thời sơ sử đến thời Lý-Trần, Mạc, Nguyễn mỗi thời

kỳ họa tiết chạm khắc lại mang một phong cách đặc trưng riêng Thời kỳ nàyngười ta không đặt ra quan niệm rành mạch thế nào là nghệ thuật dân gian.Vào thời tiền sử, các hoa văn được trang trí trên đồ gốm rất đơn giản dướidạng hoa văn dập, hoa văn dấu nan đan, hoa văn khắc vạch hình đườngthẳng, hình sóng, hoa văn ấn nép vỏ sò Các hoa văn này biểu tượng cho sứcmạnh, quyền lực và thể hiện những khao khát ước mơ của người dân thời ấy

Trang 6

Đến thời Đông Sơn, người Việt cổ tập trung vào trang trí hoa văn trên đồđồng mà tiêu biểu là trên trống đồng Với những họa tiết hoa văn phong phú

và đa dạng hơn rất nhiều so với thời tiền sử Hoa văn trong thời kỳ này đượcchia thành hoa văn hiện thực và hoa văn hình học Hoa văn hiện thực có thể

kể đến như hoa văn tả người, động vật hay thực vật là mảng hoa văn chủ đề

mà người xưa muốn gửi gắm vào đó những suy nghĩ, tâm tư, ước nguyện củamình về cuộc sống ấm no hạnh phúc Còn hoa văn hình học chỉ mang tínhchất trang trí, làm nền cho hoa văn hiện thực Nhưng chính nhờ đó mà khốihoa văn hiện thực trở nên nổi nét hơn, đặc sắc hơn

Cùng với thời gian, nhiều biểu tượng hoa văn đã mất đi, nhưng cũngnhiều biểu tượng vẫn còn được lưu lại trong nền mỹ thuật tạo hình thời đạisau Sang đến thời Lý-Trần từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 14 là thời kỳ Phật giáo,Đạo giáo và tín ngưỡng bản địa thịnh hành, nên nghệ thuật chạm khắc dângian đa phần là những đề tài phục vụ cho tôn giáo và thờ thần nông nghiệpnhư: rồng chầu lá đề, một biểu tượng của nhà Phật, tiên nữ dâng hương, hoacúc, hoa sen tượng trưng cho ý nghĩa nhân quả của Phật pháp ở thời kỳ này,những họa tiết hoa văn xuất hiện trên rất nhiều chất liệu như gốm, đá, gỗnhưng tiêu biểu cho thời kỳ này là tác phẩm chạm khắc trên bệ đá hoa senhình hộp thời Trần ở chùa Thầy, chùa Bá Khê, chùa Dương Liễu…theonhững đề tài khác nhau như: rồng chầu lá đề, hoa sen, chim thần, con dê, hoacúc, cây cỏ, hình sóng nước và hình tượng con người nghệ sỹ xưa đã biếttìm tòi, sáng tạo, những đường nét tuy đơn giản nhưng sống động, hấp dẫn

Họ đã gửi gắm vào trong đó bao tâm huyết, ước nguyện từ cuộc sống hàngngày, về cách sống và đạo lý làm người Mỹ thuật thời Lý - Trần có mối quan

hệ chặt chẽ với dân tộc, gần gũi với dân gian, đường nét dứt khoát, hình khốimạnh chắc thể hiện phong cách chạm khắc độc đáo, riêng biệt mà không thểnhầm lẫn với bất kỳ phong cách chạm khắc của thời kỳ nào Nhà Mạc thaynhà Lê, chấm dứt thời hoàng kim của ý thức hệ Nho giáo Con người được tự

Trang 7

do hơn, mọi xu hướng mỹ thuật dân gian trước kia được phát triển mạnh mẽ.Những nét kế thừa mỹ thuật thời Trần còn in đậm trên các trang trí kiến trúcchùa Cói, đình Tây Đằng với những hình rồng, hoa lá, hình sóng, hình bônghoa sen được chạm điêu luyện, và điều đáng chú ý là những vân ốc lớn nhưđứng trung tâm cả mảng trang trí Vào thời kỳ này, trên kiến trúc đình làng,chùa làng xuất hiện nhiều chạm khắc dân gian rất đặc sắc Tiêu biểu chotrang trí trên kiến trúc là đình Tây Đằng thuộc huyện Ba Vì, Hà Tây Nét độcđáo ở đình Tây Đằng là những bức chạm khắc trong các cấu kiện kiến trúcvới những đề tài về thiên nhiên, hoa cỏ và đặc biệt là mảng đề tài thiên vềhoạt động của con người ở làng xã Việt Nam thế kỷ 16 như: cảnh thầy đồ dạyhọc, mẹ gánh con, lễ hội, bơi thuyền, uống rượu tất cả đều tự nhiên, mộcmạc bộc lộ cá tính của tác giả và mang đậm tính dân tộc.

Vào thế kỷ 16, nghề buôn bán trên biển tương đối phát triển và tượngPhật Quan Âm Nam Hải như một yêu cầu của nghề sông nước để cầu cho cácthương thuyền ở phương Nam được thuận buồm xuôi gió Tượng phật Quan

Âm Nam Hải ngồi trên đài sen được chạm khắc tinh xảo, sống động Đài sengồm 4 tầng cánh sen xếp bên nhau, các cánh sen đều múp phồng và đượctrang trí hoa văn Dưới nữa là thân bệ gồm 3 tầng với những hoa văn chạmnổi hình rồng, hình hổ phù và hình hoa lá, sóng nước với những nét chạmphóng khoáng, tự do mang cá tính, phong cách cá nhân chìm lẫn trong cáchình tượng thần Phật và được duy dưỡng bởi cộng đồng làng xã Việt Nam

Có thể nói mỹ thuật dân gian thế kỷ 17 đã trỗi dậy mạnh, nhưng cho đếnkhoảng cuối thế kỷ 17 mới phát triển, thời kỳ này đạo Phật, đạo Lão, đạoKhổng đã di chuyển về làng xã và đây là giai đoạn điêu khắc tượng tròn pháttriển khá mạnh mẽ Vào thế kỷ 17, 18 chạm khắc dân gian phát triển khámạnh và phổ biến với những chất liệu như gỗ, đá, đồng Một loại hoa vănhầu như không thể thiếu vắng trên các bia đá thời kỳ này là hình hoa dây kiểutay mướp leo Ngoài ra còn có những hình hoa lá, cây cỏ, chim muông tạo

Trang 8

nên không khí sinh động và vui nhộn Bên cạnh chạm khắc trên đá, chạmkhắc trên gỗ có phần đa dạng hơn Hình trang trí trong thời kỳ này rất vuinhộn với nhiều loại thú như hổ, voi, ngựa, rồng chơi tung tăng, đùa nghịch.Những hình tượng rồng, phượng, hoa lá, đặc biệt là chim thú, con người đượcthẩm mỹ dân gian chấp nhận để trở thành mẫu mực trang trí.

Với sự phát triển mạnh mẽ thẩm mỹ , những hình chạm thế kỷ 17, 18

đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật tạo hình Việt Nam Khi mà phép vuakhông hạn chế và không chi phối toàn bộ sự phát triển về nghệ thuật trong tưtưởng người dân, nghệ thuật không còn chỉ là phục vụ cho giai cấp thống trị,vua chúa quan lại cũng cảm thấy bấp bênh và tìm đến Phật giáo, Đạo giáo.Điều đó đã tạo điều kiện cho mỹ thuật phát triển trên nhiều dạng di tích khácnhau như đình, chùa, đền, miếu Vào thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, song hànhgiữa chạm khắc dân gian là chạm khắc chính thống Thời kỳ này, chạm khắctrang trí trên kiến trúc đình làng, chùa làng dường như chững lại ở những hoavăn hình rồng, ngựa, rùa, hoa sen, hoa cúc Khác với trang trí trên kiến trúc,

ở thời Nguyễn, các phù điêu độc lập và đồ ứng dụng được phát triển rộng rãi.Như phù điêu Quốc tổ Lạc Long Quân tại đình Bình Đà, Thanh Oai, Hà Tây,với nội dung ca ngợi và ghi nhớ công đức của Người Hay bức phù điêu Thậpđiện Diêm Vương tại chùa Huyền Kỳ, Thanh oai, Hà Tây, mang ý nghĩa dăndạy người đời phải sống nhân hậu hơn và cư xử với nhau tốt hơn Cũng trongthời Nguyễn, chạm khắc trên các đồ ứng dụng bày biện trong đình, chùa, đềnnhư hương án, bát bửu, hoành phi câu đối, kiệu, ngai phát tiển rất mạnh.Họa tiết hoa văn trang trí trên các đồ ứng dụng chủ yếu là hình hoa lá, cây cỏ

và đặc biệt trang trí với hình tượng con vật được các nghệ nhân thực sự quantâm Nếu họa tiết hoa lá, cây cỏ chỉ bao gồm hình sóng nước, hình hoa sen,hoa cúc thì hình tượng các con vật lại rất đa dạng như: con rồng, phượng,voi Mỗi hình tượng, đường nét chạm khắc được thể hiện tinh xảo, sâu sắcmang đậm phong cách dân gian đặc trưng của thời kỳ nhà Nguyễn

Trang 9

Hoa văn cây cỏ là đề tài xuyên suốt trong nghệ thuật tạo hình củangười Việt Sự hỗ trợ của cây cỏ đã làm cho ngôi đền, ngôi chùa, ngôi đình

cổ trở nên ấm áp hơn, linh thiêng hơn Cây cỏ trong tạo hình của thời nàocũng vậy, nó phản ánh đúng tư tưởng, tình cảm của người đương thời, phảnánh những mơ ước cháy bỏng về một cuộc sống yên bình, no đủ

Những con vật trong chạm khắc dân gian chủ yếu là linh vật, còn đượcgọi là những con vật trong vũ trụ như rồng, phượng, lân, nghê Người đời đãgán cho chúng những khả năng siêu phàm có thể chi phối đến cuộc sống nhânthế ở những mức độ khác nhau Linh vật không mang hình tượng nhân cáchnhưng lại hội tụ những chức năng cụ thể nhằm tất cả vì con người, vì mốiquan hệ nhân sinh, vũ trụ Nối tiếp hình tượng con người từ thời kỳ đồ đồng,các thời kỳ tiếp theo đề tài này luôn được người Việt quan tâm để có một vịtrí xứng đáng

Trong trang trí, tính chất dân dã thể hiện qua đề tài con người là sâuđậm nhất Hầu như trong bất kể hình thức nào tính chất đó cũng được bộc lộ

rõ ràng Và khi đi vào cuộc sống thường nhật như: cảnh đánh cờ, chèothuyền, đấu vật, ôm gà tất cả đều nói lên một giá trị điêu khắc rõ rệt với cáckhối được diễn tả căng no đủ trong một hình thức đơn giản, khái quát cao, thểhiện tinh thần vui chơi, hồn hậu của truyền thống dân tộc Đó chính là cuộcsống là không gian của những người nông dân Việt xưa Có thể nói rằngnhững gì thể hiện trên những bức chạm khắc là những suy nghĩ, những ước

mơ, những hình ảnh thân thuộc nhất của đời sống người dân thời bấy giờ.Qua những hình ảnh, những nét chạm khắc còn lại trên những công trìnhnghệ thuật chúng ta hoàn toàn có thể hình dung ra được cuộc sống, nếp sinhhoạt hay những quan niệm của người nông dân xưa trên đó Nghệ thuật đãphát triển lên một trình độ mới, thể hiện ý thức về cuộc sống tinh thần củangười dân đương thời Hình tượng con người không những phong phú về chủ

Trang 10

đề, ý tưởng mà còn đa dạng về thủ pháp nghệ thuật diễn đạt và chiếm một vịtrí trang trọng trong nền nghệ thuật chạm khắc Việt.

1.2.2 Kỹ thuật chạm khắc

Nghệ thuật chạm khắc trang trí trong các ngôi chùa hay các đình làngthể hiện trình độ cao trong kĩ thuật chạm khắc tạo hình Việt Nam Ở mônnghệ thuật này chúng ta bắt gặp sự tập trung và phát huy cao độ tài năng củanhững nghệ nhân, nghệ sĩ nông dân Việt Nam Những ngôi đình, ngôi chùatuỳ theo từng thời đại mà mức độ chạm khắc có khác nhau khi sử dụng kỹthuật chạm nông, lúc chạm nổi, kênh bong, lộng nhưng tất cả đều thể hiệntài nghệ của các nghệ nhân xưa vừa giỏi kiến trúc vừa tài hoa chạm khắc.Qua bàn tay khéo léo của họ dường cuộc sống, xã hội, nếp sinh hoạt của họđược dựng lên sinh động và đầy màu sắc, trường tồn với thời gian Các kĩthuật chạm khắc của điêu khắc trang trí bao gồm:

Chạm thủng: Chạm thủng trong điêu khắc, trang trí thường nghệ nhân

sử dụng trên các phiến gỗ làm chắn gió, chạy xung quanh nhà Lớp gỗ nàythường mỏng, không dày nên dễ bị đục thủng, chỉ còn lại các hình trang trí

Về giá trị thực dụng nó đáp ứng nhu cầu thông thoáng ánh sáng và không khí.Chạm thủng không có khả năng biểu đạt khối, tiếng nói điêu khắc của nó kháyếu kém Song nó có khả năng diễn hình hết sức phong phú Những hình hoa

lá, sóng nước có tính chất mềm mại, thanh nhã thường được dử dụng hìnhthức này Hiệu quả của chạm thủng chỉ dừng ở mức thông tin, tín hiệu chongười xem biết được dưới hình thức gợi, tính chất diễn tả hết sứd hạn chế.Song sử dụng sự đục thủng qua các khoảng trống làm cho chũng ta cảm giáckhông gian được mở dài xa tít tắp đằng sau Hình thức chạm thủng khi kếthợp với nhiều hình thức tạo khối khéo nó góp phần đẩy hiệu quả thẩm mĩ củađiêu khắc đình làng tới mức hoàn thiện Ta có thể thấy những đình chùa sửdụng hình thức chạm thủng này tại cửa võng đình Tây Đằng (Ba Vì-Hà Tây),Chu Quyến (Ba Vì-Hà Tây)

Trang 11

Chạm nông: Một hình thức nghệ thuật mà hình tượng được diễn tả

trên mặt phẳng bằng độ đục chạm (trên gỗ, sừng, ngà, đá, kim loại ) nôngsâu khác nhau.Tuỳ theo độ cao của hình khối so với mặt nền của bức chạm,người ta chia ra ba loại:

- Chạm nông thấp: các hình tượng được chạm với độ nổi rất thấp, đủ

để diễn tả độ tương quan tương đối giữa hình khối của đối tượng miêu tả CNthấp thường được thể hiện trên kim loại (đồng, vàng, bạc ) hoặc thể hiện hoavăn trên mặt phẳng bức chạm để làm nền cho các hình tượng khác (như nềnmây hoa trong các bức chạm đá thời Lý; nền vân gấm, nền triện trên bứchoành phi, câu đối cổ)

- Chạm nông vừa: các hình tượng được diễn tả có độ nổi cao hơn loại

CN thấp Nhưng những độ cao nhất của các hình tượng vẫn nằm trên một mặtphẳng tương đối (như những bức chạm đá ở dọc theo hành lang và cầu đáchùa Bút Tháp - Bắc Ninh)

- Chạm nông cao: các hình tượng được chạm với độ nổi cao dườngnhư chúng được đắp lên mặt phẳng nền Chạm nông cao tạo nên độ tươngphản mạnh giữa khối nổi thu ánh sáng và những hốc tối sâu do bị thiếu ánhsáng để diễn tả những đề tài gây ấn tượng thẩm mĩ mạnh mẽ do hình khối củahình tượng gần với hiện thực hơn Quan niệm cao thấp ở đây không được chỉđịnh bằng độ dài của các đơn vị đo lường mà bằng tỉ lệ độ cao của hình khốiđược chạm so với kích thước của toàn bộ bức chạm Kiểu chạm này bề mặt

gỗ thường phẳng và các chi tiết được chạm nổi trên đó Các bức chạm vuôngvức trên các ván bưng, hoành phi, câu đối…thường dùng lối chạm này, rấtthuận tiện cho việc sơn son thếp vàng Kĩ thuật chạm nông cho phép các hìnhtrang trí được bố cục trải đều phủ kín mà không làm giảm chịu lực của cấukiện gỗ

Chạm kênh bong: thuật ngữ kĩ thuật dân gian chỉ hình thức chạm

khắc trên gỗ mà một số thành phần của bức chạm được chạm trồi cao lên gần

Trang 12

như tách ra khỏi mặt nền Lối chạm này tạo nên nhiều lớp cao thấp nhằmdiễn tả chiều sâu không gian, khẳng định những hình tượng nghệ thuật chủyếu của bức chạm, ví dụ trong bức chạm diễn tả một ổ rồng mẹ và con thì cácthân rồng vẫn bám vào mặt nền còn các đầu rồng được chạm trồi lên cao, bật

ra khỏi nền Kiểu chạm này được chạm nhiều trên các thành phần kiến trúc ởđình, chùa cổ Việt Nam Tiêu biểu là các bức chạm trên cổng đình Thổ Hà(Bắc Ninh), đình Ngọc Canh, Thổ Tang (Vĩnh Phúc) thế kỉ 17 Kĩ thuậtchạm này là để tạo ra các hình trang trí nhiều lớp từ thân gỗ chịu lực Cáchình rồng, phượng, mây, hoa lá, gắn với các khối lớn hoặc các xà kèo lớnthường được tách ra có khi theo nhiều lớp chồng lên nhau Kĩ thuật này tạo racảm giác các hình như mọc ra từ thân gỗ, kết hợp với hiệu quả ánh sáng gâycảm giác trang trí uốn lượn rất cầu kì, hơn hẳn cách chạm nông hay chạmthủng Nhiều khi người ta kết hợp kiểu chạm kênh bong bằng việc gắn thêmphía ngoài những chi tiết khắc tách rời, tạo hiệu quả tầng tầng, lớp lớp củamảng trang trí Kiểu chạm kênh bong khá phổ biến ở phù điêu trang trí đìnhlàng Điển hình cho kĩ thuật này là chạm khắc ở đình Hạ Hiệp (Hà Tây)

Chạm lộng:.

Điêu khắc đình làng là sự tập trung và phát huy tột bậc các kỹ thuậtchạm khắc gỗ Việt Nam, trong đó chạm lộng là cách chạm khắc đòi hỏi kĩthuật cao, công phu, tỉ mỉ của người thợ và là cách chạm khắc biểu cảm nhất

có hiệu quả không gian và hiệu quả khối cao nhất Các hình khối chạm lộngthường là những nhân vật và các con thú , đầu rồng, cánh phượng…chúnggần như những pho tượng tròn, lồi hẳn ra, chồng chéo nhiều tầng lớp làm mấtcảm giác về nền vốn có của bức chạm Cả thân gỗ được đục khoét tạo cáckhoảng trống được luồn lách trong khối tượng Điêu khắc và trang trí chạmlộng thường để mộc và hiện diện cuốn hút mới lạ nhất của nghệ thuật chạmkhắc đình làng Nhờ những sáng tạo của các nghệ nhân cừ khôi, chạm lộng

đã tiến một bước tiến tạo nên sự độc đáo Những biến hoá giàu ngôn ngữ điêu

Trang 13

khắc đã làm cho chạm lộng tăng hiệu quả cảm thụ cởi mở, thông thoáng, đachiều, tạo tương phản không gian sáng - tối, vừa giữ được bố cục thẩm mỹ,tính vững chắc về kết cấu, vừa tạo cảm giác nhẹ nhàng

Chạm lộng là hình thức nghệ thuật mang tính kế thừa nghệ thuật điêukhắc truyền thống, sự phát triển ngày càng nhiều đình làng với quy mô ngàycàng lớn đã đánh thức tiềm năng sáng tạo của những nghệ nhân dân giantrong việc đào luyện thể hiện tác phẩm tạo nên những hiệu quả thẩm mỹ mới,cảm thụ cao hơn trong không gian kiến trúc trang trí Bởi vậy, điêu khắcchạm lộng chính là sự sáng tạo trong quá trình lao động nghệ thuật cùng với

sự đòi hỏi ngày càng cao của xã hội đương thời

Chạm lộng nở rộ và phát triển khi đề tài được khai mở rộng rãi, giàuchất nhân văn, mang tính cộng đồng và dân chủ, ít màu sắc tôn giáo khôngchịu gò bó của qui phạm lễ nghi Các bức chạm được đẩy lên cao dành khônggian cho sinh hoạt, ánh sáng tự nhiên hắt mạnh từ nhiều phía Từ nhữngmảng chạm nông chuyển dần sang chạm bong, kênh với kỹ thuật chạm sâuvào bên trong khối gỗ, tạo thành nhiều lớp không gian mà dường như khôngcòn khái niệm về nền Đó là bước tiến ngoạn mục của chạm khắc truyềnthống với những ưu thế: tạo chiều sâu không gian, hiệu quả tương phản sángtối, có thể đục một, hai tầng tạo nên sự uyển chuyển sinh động, cảm giác nhẹnhàng thanh thoát mà không ảnh hưởng đến kết cấu công trình

Trang 14

Ch¬ng 2: H×nh tîng con ngêi trong nghÖ thuËt ch¹m

kh¾c cæ ViÖt Nam

2.1 Chạm khắc trong chùa

Chùa Việt Namđược xây dựng chủ yếutrong thời Lý- Trần, khi

mà Phật giáo trở thànhquốc giáo Tất cả cáchoạt động của đời sốngtinh thần người dân Việtđều chịu sự chi phối của

hệ tư tưởng tôn giáonày Trong chạm khắc Việt Nam chúng ta bắt gặp nhiều những hình ảnh vềcon người trong các ngôi chùa Nhiều đề tài được đề cập đến trong nghệ thuậtchạm khắc Những đề tài được biết đến như các nhạc sĩ thiên thần, tiên nữ,những em bé ở thế giới cực lạc…

2.1.1 Nhạc sĩ thiên thần.

Đề tài nhạc sĩ thiên thần ta có thể bắt gặp hình ảnh này ở mặt đứngdưới chân bệ tượng của chùa Phật Tích (Tiên Du- Bắc Ninh)

(nhạc sĩ thiên thần dưới chân tượng chùa Phật Tích)

Có 10 nhạc sĩ thiên thần, mỗi người 1 nhạc cụ đang trong hướng dichuyển vào trung tâm lá đề cách điệu Hầu như người nào cũng có mặt

Chùa Phật Tích (Tiên Du- Bắc Ninh)

Trang 15

nghiêng chéo nhìn lên và cùng hướng vào giữa, tất cả đều trong một điệumúa vũ trụ trầm hùng bắt nguồn từ Ấn Độ Điệu nhảy của các nhạc sĩ là điệutam gấp Phần thân thẳng đứng xuống dưới, một chân co gấp về phía trước,phần đầu ngả vuông góc với phần thân Nhìn chung các nhạc công đều cóthân hình thon thả, khuôn mặt trái xoan, phục xức cầu kì với những lớp xiêm

y mềm mại, vành mũ kết hoa, tóc dài uốn bồng cao, quanh người những nhạc

sĩ thiên thần này được điểm xuyết bằng những dải lụa ở khuỷu bay lượn lêntrên, tất cả đều trên nền hệ thống là văn xoắn đặc kín Đó là những biểutượng gắn với không gian tầng trên như khẳng định về những con người củamiền thiên quốc đang hướng tới trí tuệ Phật để tìm giác ngộ và giải thoát.Được tượng trưng bằng chiếc lá đề tại trung tâm Với các nhạc cụ dễ thấynhư sáo, tiêu, đàn nguyệt, tì bà, trống cơm , đàn nhị…

Bằng kĩ thuật chạm khắc điêu luyện của mình các nghệ sĩ nông dân đãchạm những nhạc sĩ thiên thần sống động và mềm mại đến lạ kì Dùng kĩthuật chạm nông trên đá, những nhát chạm tinh tế và cẩn thận, người nghệ sĩ

đã cho chúng ta thấy được độ mềm mại, nét thanh thoát trong điệu múa củacác thiên thần Gắn chặt với kết cấu kiến trúc, kĩ thuật chạm nông chú trọngphương pháp thể hiện khái quát chủ yếu diễn tả nội dung, tạo điểm nhấnphóng dụ, bố cục luôn luôn chú ý sự liên hoàn giữa các nhân vật, giữa các bộphận các mảng đặc được cân nhắc tạo sự hài hoà mềm mại nhưng vẫn đảm

Trang 16

bảo sự vững chắc của bề mặt tác phẩm Những nhát chạm nông nhẹ nhàngnhưng sắc nét, các vũ nữ thiên thần mềm dẻo trong từng khối thân người

Cũng với đề tài là nhạc sĩ thiên thần ở chùa thời Trần chúng ta có thểthấy các nghệ nhân dân gian thể hiện dưới 2 dạng khác nhau Dạng thứ nhấtthường đi theo phạm trù cặp đôi Những nhạc sĩ này đều cưỡi chim thiêng vớibóng dáng thoảng đâu đó có nét như kế thừa từ nhạc sĩ thiên thần ở chân tảng

đá chùa Phật Tích thời Lý Đôi chim do 2 người cưỡi đều quay về một phíahướng về trung tâm Ở những mảng chạm khắc khác chúng ta lại bắt gặpdạng thứ 2 về đề tài nhạc sĩ thiên thần này đó chính là những cụm mây cóđuôi làm nền cho ba nhạc sĩ thiên thần gồm 2 nữ và 1 nam Bố cục 3 cânxứng đều trông động tác gẩy đàn Những bản nhạc thiên thần với đàn chanh,đàn tính, tì bà…Đáng quan tâm ở đây là cách phục trang đã thể hiện theohình thức khác, thoáng như gần gũi với tầng lớp chịu ảnh hưởng phong cáchTrung Hoa Động thái tỏ ra cao sang, phiêu diêu cùng vũ trụ thoảng như chịuảnh hưởng tư tưởng Thiền và Lão

Phong cách biểu hiện của chúng tuy có biến diễn, nhưng trước sau vẫnthống nhất, cũng lối sử dụng những đường nét cong thanh, hình khối trònchắc và dẻo trên các tượng, cũng lối chạm tỉ mỉ đến tinh tế và điêu luyện,dùng nhiều đường lượn đầy chất trang trí trên các mặt phẳng, chúng dàn trảikín các đồ án với sự cân đối nhịp nhàng và nguyên tắc chặt chẽ Chính sự ổnđịnh của đời sống xã hội đã tạo sự ổn định tương đối của nghệ thuật, mọihình tượng của mỹ thuật đều trở thành chuẩn mực và có ý nghĩa Cùng một

đề tài nhưng trên các di tích khác nhau cả về thời gian và không gian, hìnhhiện ra luôn có một cái chung thanh tú, tinh tế, tươi mát, mềm mại, tròn trịa

và ổn định đến chuẩn mực

2.1.2 Tiên nữ

Ở một số chùa dấu vết điêu khắc trên các chùa còn được thể hiện ởnhiều thành bậc như phần trên của thành bậc chùa Chương Sơn (Ý Yên-Nam

Trang 17

Định) ở mỗi mặt đều chạm bảy vũ nữ thiên thần dâng hoa, đang trong điệumúa vũ trụ.

Những vũ nữ thiên thần này phần nào gắn với điệu múa apsaras trong nghệthuật phương Nam là ở động tác 1 chân co, một chân duỗi thẳng chéo (lựccủa thân tỳ lên chân co) cẩn thận và duyên dáng

(Tiên nữ dâng hoa chùa Phật Tích)

Các vũ nữ có dáng người thon lẳn khoẻ mạnh, cổ có ngấn, cánh taytròn, khuôn mặt gần trái xoan, đầy đặn Khuôn mặt các vũ nữ đều thuần hậu,

ấm áp, cặp mắt dài với bộ lông mày nhỏ uốn cong, chiếc mũi thanh tú hiện ratrước mắt người xem một thần thái hướng nội tâm với tâm hồn của một cưdân nông nghiệp Việt Một điều hơi khác trong điệu múa apsaras tại chùaPhật Tích chính là điệu múa được Việt hoá với chân chịu lực là chân đứngthẳng vì thế chân kia co lên và không tiếp đất: chân trái gập khuỷu, đầu gối

và bàn chân hướng thẳng về phía trước, chân phải duỗi thẳng ra sau, đùi vàống chân thẳng, bàn chân cũng hướng về phía trước, mông nhô cao, thânngười quay nghiêng về bên phải và ngả lên đùi trái, hai tay đưa ngang vai,khuỷu tay gập ngang gần 900, bàn tay trái ngửa cầm búp sen mập, bàn tayphải ngửa gần 900, đầu vũ nữ quay ngang với thân mình và hơi nghiêngchếch về phía trên Về phục sức xiêm áo và trang sức của các tiên nữ rất cầu

kì Trên các hình còn nhìn rõ ở bậc tháp Chương Sơn mỗi tiên nữ thời Lý đềumang xiêm áo 2 tầng mềm mại và nhiều nếp gấp: tầng trên rộng lượn quanhngười, phủ qua mông và buông lửng tới bắp vế, tầng dưới ôm gọn lấy cặp

Trang 18

chân Quàng qua vai là lớp yếm lượn tròn trước bụng để lộ hai cánh tay trần

và thon lẳn,quấn quýt ở tay và chân có 2 dải lụa dài và tha thướt Đầu các tiên

nữ thời Lý đội mũ 3 tầng kết hoa tròn ôm sát nửa đầu phía trước Vành mũnày tạo nên thế tôn bộ tóc dài lên cao và uốn bồng lên đỉnh đầu rồi mới lậtngược trở lại, đuôi tóc dắt chặt vào vành mũ Cổ vũ nữ đeo vòng nhiều tầngkết hạt ngọc, hoa tròn và tua dài Cổ tay và cánh tay, cổ chân đều đeo vòngkép Dưới chân các vũ nữ thiên thần là các hình sóng dạng núi đứng trêndạng sóng nước (hình ảnh thấy tại tháp Chương Sơn)

Các bẩy và kẻ đỡ máihiên như ở thượng điệnchùa Bối Khê chạm khắcbiến thành các con rồngngắn hay tương tự nhưcon mackara đầu rồng,thân ngắn đầy vẩy Cáchình người đỡ trụ, đấuchùa Dâu, chùa Thái Lạccao chừng 45-50cm là sự vận dụng biến dạng hình tượng hợp lý phù hợp vớicông năng kết cấu kiến trúc Khối trụ tròn, người đỡ trụ đấu nén bẹp cơ thể

và dàn ra theo điện cong của trụ đấu, tay nâng đài sen, tay chống sườn, chângập lại trong báy lá tọa, đầu vặt nghiêng sát với ngực và bụng, còn vai nhôcao Các chi tiết trang trí phối hợp rất cân xứng theo nhịp điệu cấu trúc cơthể Có thể nói đây là cách vận dụng điêu khắc vào trang trí kiến trúc mộtcách tài tình nhất Đó là các hình rồng chầu, tiên nữ đầu người mình chimdâng hương, dâng hoa, tấu nhạc, các cảnh vũ nhạc triều đình trong mây thực

sự đã trở thành những nét nổi bật trong nghệ thuật chạm khắc thời kì này

Hình tượng chính chạm rất cao mảng lớn, mây búi, cụm tóc nở theonhịp điệu chạy uốn khúc hình sin của các hoa văn dương sỉ,hoa dây nổi lên

Tiên dâng hoa (chùa Thái Lạc)

Trang 19

bền mặt rồi chìm xuống tận đáy bức chạm Tất cả đều bằng gỗ lim dày cứngchạm hai mặt và có tác dụng chịu lực nén của mái phụ trợ cho khung vì kèothô mộc.

Bức chạm bên được chạm trên gỗtại chùa Dâu với hình tượng tiên nữđang đỡ tòa sen Tóc búi cao, mặttrái xoan đang nhìn chéo lên phíatrên, hai tay đỡ tòa sen Dưới chân

là hoa văn hình sóng nước mềmmại Tiên nữ hiện lên với dángmềm mại, uyển chuyển của ngườiphụ nữ á đông Kĩ thuật chạm nôngkhông chú trọng diễn khối hình màchủ yếu diễn tả thông tin lên bức chạm

2.1.3 Những em bé ở thế giới Cực Lạc

Trong một số di tích chùa tháp Lý - Trần có chạm những hình người bénhỏ đang thực hiện những động tác múa hoặc nhào lộn Tuỳ theo hình dángkích thước có người gọi đó là những người tí hon, có người gọi đó là Phỗng

Chắc chắn đây không phải là nhân vật trang trí bình thường Trên bệtượng Phật bằng đá chùa Phật Tích , những người này thường leo trèo, nhàolộn với rất nhiều động tác khác nhau giữa các dây hoa cúc Trên một phiến đáchạm khắc ở Phật Tích có một số người thể hiện các độn tác gần như điệu múaapsara của các tiên nữ thời Trần Quan sát kĩ các hình còn rõ rết, có thể thấyroc đó là hình em bé có khuôn mặt trẻ thơi, vui nhộn và vóc dáng thon thả

Rõ ràng hơn cả là các em bé được chạm trên các cột trốn chùa TháiLạc Cũng trên điệu múa apsara giữa khoảng sóng nước bên dưới và toà sen

Tiên nữ đỡ tòa sen

(chạm gỗ chùa Dâu- Hà Tây)

Trang 20

bên trên, những em bé đều có khuôn mặt bụ bẫm, chân tay mập mạp, bụng nởcăng tròn.

Một không gian thần thoại với một điệu múa thần thoại như vậy chothấy đây là những em bé thần thoại của Phật giáo Một số tài liêu nghiên cứucho biết các bức chạm ở thành Đôn Hoàng (di tích Phật giáo Trung Quốc thờiĐường) và một số nước Á Đông khác người ta thích vẽ những đề tài về Tâyphương thế giới Cực Lạc của đức Phật Adiđà Trong những cảnh này thườngthấy xuất hiện các em bé cầm hoa sen Đó là biểu trưng cho ước mơ về thếgiới Cực Lạc, một thế giới trong sạch, yên vui không còn một chút phiền nãonào của các tín đồ Tịnh độ tông

Ở Việt Nam hiện nay chưa có tài liệu nào cho thấy sự tồn tại chắc chắncủa Tịnh độ tông với tư cách là một tông phái độc lập mà chỉ là một yếu tốđược các Thiền phái Việt Nam chấp nhận Các yếu tố Tịnh độ tông đã xuấthiện chắc chắn từ thời Lý với việc thờ cúng phật Adiđà và Quan Thế Âm BồTát Riêng ở Trung Quốc thì tông phái này được hình thành sớm từ thế kỉ V.Như vậy qua hơn một nghìn năm Bắc thuộc, những hình ảnh của em bé đãảnh hưởng đến nghệ thuật Phật giáo thơì Lý- Trần và được biến tấu mạnh mẽcủa cả phong cách lẫn biểu trưng Hình các em bé Việt Nam không chỉ biểutrưng cho thế giới Phật Adiđà mà còn xuất hiện ở tháp Long Đọi có Phật NhưLai , chùa Thái Lạc thờ Phật Pháp Vân

Như vậy những em bé này ở Việt Nam là biểu trưng chung cho Phậtpháp và đã tìm thấy ở chùa Phật Tích, tháp Long Đọi, tháp Chương Sơn, đền

Lê đại Hành thời Lý, chùa Thái Lạc thời Trần

Trên các hình trang trí có kích thước nhỏ, những em bé thời Lý nóichung có vóc dáng thon khoẻ, trang phục gọn, động tác hoạt bát nhanh nhẹn,chỉ có em bé ở đền Lê Đại Hành (Thanh Hoá) có dáng mập tròn, khuôn mặt

bụ bẫm, quần rộng có tỉa nhiều lớp mềm,có thắt dây lưng, chân đi giầy mũi

Trang 21

cong, trang sức có vòng cổ, vòng chân, vòng tay tương tự như các tiên nữcùng thời.

2.2 Chạm khắc tại các đình làng

Điêu khắc đình làng ViệtNam là một di sản nghệ thuậtbất hủ cùng với thành tựuđáng tự hào về kiến trúc của

tổ tiên ta

Trong suốt 4 thế kỷ (16 19) ngôi đình là sản phẩmthuần khiết gắn với văn hoálàng, hội tụ biểu tượng cao độ về đời sống vật chất và tinh thần của làng Giátrị bất hủ của nó nằm ở thành tựu kiến trúc và điêu khắc Việt Nam, ở đó đã

-kế thừa và phát triển cao, độc đáo nghệ thuật điêu khắc truyền thống

Theo các nhà nghiên cứu, đình làng có thể ra đời từ trong lòng xã hội

Lê sơ, song hình mẫu hoàn chỉnh đạt giá trị kiến trúc nghệ thuật và còn để lạiđến nay từ sớm nhất là thời Mạc mà nổi bật là đình Tây Đằng (Hà Tây), đình

Lỗ Hạnh (Bắc Giang) Khoảng chuyển của 2 thế kỷ 15 - 17 có đình Phù Lưu(Bắc Ninh) và nở rộ đạt tới đỉnh cao ở cuối thế kỷ 17, tiêu biểu với các đình:Phù Lão, Thổ Hà (Bắc Giang), Diềm (Bắc Ninh), Chu Quyến (BaVì-Hà Tây),Thổ Tang, Ngọc Canh (Vĩnh Phúc); Xốm (Phú Thọ); Hương Lộc (NamĐịnh), Chẩy (Hà Nam), Trà Cổ (Quảng Ninh), Kiền Bái (Hải Phòng) Sangthế kỷ 18 - 19 đình làng xây dựng thưa thớt hơn, song cũng có đình được xâymới ở Thạch Lỗi (Hải Dương), Hồi Quan (Đình Bảng-Bắc Ninh), Hoành Sơn(Trung Cần-Nghệ An)

Nghệ thuật chạm khắc đình làng đã phát triển lên một trình độ mới, thểhiện ý thức về cuộc sống tinh thần của người dân đương thời Chạm khắc

Đình Tây Đằng ( Hà Tây)

Ngày đăng: 10/07/2023, 09:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w