Nhưng không chỉdừng lại ở đấy, với ý tưởng chủ đạo là trong thị trường tài chính luôn tồn tại mộtloại tài sản gọi là tài sản phi rủi ro, kết hợp loại tài sản này vào những quy trìnhphân
Trang 1CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LÝ THUYẾT DANH MỤC ĐẦU TƯ HIỆN ĐẠI
Năm 1952, tạp chí “The Journal of Finance” đăng tải một bài báo có tiêu đề
“Portfolio Selection” của Harry Markowitz, ý tưởng của bài báo này chính là nềntảng để xây dựng lên một trong những lý thuyết tài chính nổi tiếng nhất: Lýthuyết danh mục đầu tư hiện đại Trên thực tế thì ban đầu Modern PortfolioTheory (MPT) không nhận được nhiều sự quan tâm, nhưng trải qua thời gian,cộng đồng tài chính đã nhiệt thành đón nhận, và có phần sung bái nó Hơn 50năm đã qua, từ nguyên lý thủa ban đầu của Harry Markowizt, nhiều phát hiện mớinảy sinh, và đã cho ra đời những lý thuyết, mô hình tài chính hữu dụng
I LÝ THUYẾT VỀ DANH MỤC ĐẦU TƯ CỦA MARKOWITZ
Xây dựng một danh mục đầu tư tối ưu không đơn giản chỉ là kết hợp các tàisản riêng biệt lại với nhau Thực tế đã chỉ ra rằng, nhà đầu tư cần phải cân nhắcmối quan hệ giữa các tài sản định đưa vào danh mục, để từ đó thiết lập được mộtdanh mục tối ưu thoả mãn mục tiêu đầu tư của mình
1 Sự gia đời và những giả định nền tảng
Trang 2ro của một danh mục đầu tư Harry chỉ ra rằng phương sai của lợi suất danh mụcđầu tư là chỉ số phản ánh đúng nhất rủi ro khi đầu tư vào danh mục đó Ông đượcxem như là cha đẻ của lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại Lý thuyết củaMarkowitz dựa trên những giả định nền tảng sau:
1.2 Giả định nền tảng
- Nhà đầu tư đưa ra các quyết định đầu tư dựa trên cơ sở quá trình cân nhắc
và suy xét sự phân phối xác suất của lợi nhuận kỳ vọng
- Nhà đầu tư mong muốn tối đa hoá giá trị khả dụng kỳ vọng của họ, tức làluôn mong muốn đạt tới đường khả dụng (cách gọi khác: đường đồng đẳng) caonhất
- Nhà đầu tư đo lường rủi ro dự trên cơ sở sự biến động của lợi nhuận kỳvọng
- Các quyết định được nhà đầu tư đưa ra hầu hết dựa trên lợi nhuận kỳ vọng
và rủi ro của khoản đầu tư Vì vậy, đường khả dụng của nhà đầu tư là đường biểudiễn của hàm số chứa duy nhất 2 biến số này
- Với một mức rủi ro cho trước, nhà đầu tư sẽ chọn lựa khoản đầu tư manglại lợi nhuận cao hơn, và ngược lại, với mức lợi nhuận cho trước, khoản đầu tưnào hàm chứa ít rủi ro hơn sẽ được nhà đầu tư chấp nhận
Nhận xét: Theo những giả định trên, một khoản đầu tư (một tài sản, mộtdanh mục tài sản) được coi là hiệu quả nếu không tồn tại bất cứ một khoản đầu tưnào khác có cùng mức rủi ro lại cho mức lợi suất kỳ vọng cao hơn, và ngược lại
2 Quy trình tổng quát của lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại Viết thêm phần này
Trang 3Mục tiêu của nh à đầu tư Danh mục đầu tư tối ưu
Mô hình lợi nhuận kỳ vọng
Tối ưu hoá danh mục đầu tư Đường biên hiệu quảƯớc lượng rủi ro v hà ệ số tương quan
Những r ng buà ộc trong lựa chọn danh mục
Sơ đồ 1.1: Quy trình tổng quát của lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại
3 Lợi suất và rủi ro của danh mục đầu tư
3.1 Lợi suất và rủi ro của một tài sản
3.1.1 Các phương pháp tính lợi suất kỳ vọng của một tài sản
a Phương pháp dùng dữ liệu quá khứ
R : Lợi nhuận kỳ vọng của tài sản
Ri: Lợi suất kỳ thứ i trong quá khứn: Số kỳ dữ liệu
b Phương pháp dùng số liệu dự báo tương lai
E( R )=∑
1
n
P i R i
E(R): Lợi suất kỳ vọng của tài sản
Ri: Lợi suất dự báo thứ i
Pi: Xác suất đạt được lợi suất Ri
n: Số dự báo
Trang 43.1.2 Rủi ro của một tài sản đầu tư
Rủi ro của một tài sản là độ lệch chuẩn của lợi nhuận thu được khi đầu tưvào tài sản trong quá khứ hoặc hoặc từ dự đoán cho tương lai
a Phương pháp dữ liệu quá khứ
3.2 Lợi suất và rủi ro của một danh mục đầu tư
3.2.1 Lợi suất danh mục đầu tư
Lợi suất kỳ vọng danh mục đầu tư là trung bình trọng số các lợi suất kỳvọng của tất cả các tài sản có mặt trong danh mục đó
3.2.2 Rủi ro của danh mục đầu tư
a Tương quan lợi suất của 2 tài sản đầu tư
- Covariance: Hiệp phương sai là chỉ số đo lường mức độ biến đổi đồng điệutheo thời gian của 2 biến số có liên quan tới giá trị kỳ vọng của từng biến số
Trang 5Trong phân tích danh mục đầu tư, biến số là lợi suất của từng loại tài sản.Công thức tính:
Dữ liệu quá khứ: Cov 1,2=
- Nếu ρ1,2=0 thì không tồn tại quan hệ giữa lợi suất của 2 tài sản.
b Rủi ro của một danh mục đầu tư
4 Đường biên hiệu quả (Markowitz efficient frontier)
4.1 Miền đánh đổi rủi ro-lợi nhuận (Risk-Return Tradeoff Area)
Từ những khái niệm ban đầu ở trên, có thể dễ dàng (về mặt lý thuyết) biểu
diễn các tập hợp [ρ p ,E (R p)] cho một danh mục gồm nhiều tài sản khác nhau.
Trên hệ toạ độ [σ , E( R )] , kết quả chúng ta thu được sẽ là một miền điểm
Trang 6(Risk-Return Tradeoff Area) Dưới đây là miền điểm thể hiện các khả năng của mộtdanh mục kết hợp 6 loại tài sản khác nhau.
Biểu đồ 1.1: Vùng khả năng
The linked image cannot be displayed The file may have been moved, renamed, or deleted Verify that the link points to the correct file and location.
4.2 Đường biên hiệu quả Markowitz (Markowitz efficient frontier)
Mỗi khi ra quyết định, nhà đầu tư dù biết hay không biết đều đã tự chọn chomình một vị trí trong miền điểm trên Vấn đề đặt ra là: các điểm khác nhau khôngtương đương nhau, cùng một mức rủi ro có nhiều mức lợi suất khác nhau vàngược lại cùng một mức lợi suất có nhiều mức rủi ro khác nhau Vì vậy, nếu nhàđầu tư không chọn các vị trí tối ưu thì xem như đã tự đánh mất một phần lợi íchcủa mình
Đường biên hiệu quả Markowitz là tập hợp các điểm thoả mãn 2 điều kiện:
vọng là cao nhất
- Với một mức lợi suất kỳ vọng cho trước thì rủi ro
đi cùng là nhỏ nhất
Trang 7Có thể dễ dàng nhận thấy, Efficient Frontier là một đường cong bắt đầu từđiểm có rủi ro thấp nhất kéo dài tới điểm có lợi suất cao nhất Nhà đầu tư sẽ lựachọn một ví trí phù hợp với khả năng chấp nhận rủi ro của mình.
Biểu đồ 1.2: Đường cong hiệu quả Markowitz
The linked image cannot be displayed The file may have been moved, renamed, or deleted Verify that the link points to the correct file and location.
5 Đường bàng quan (Indifferent curve) của nhà đầu tư và quyết định định đầu tư
Xây dựng xong Efficient frontier, nhà đầu tư đã có một tập họp các lựa chọntối ưu, tuy nhiên, việc quyết định lấy danh mục nào còn phải phụ thuộc vào mức
độ chấp nhận rủi ro của từng nhà đầu tư (Risk tolerance) Một khái niệm đượcđưa ra là hàm khả dụng (Utility function), dùng để đo lường mức độ đánh đổigiữa rủi ro và lợi nhuận của nhà đầu tư:
U: Giá trị khả dụngE(R): Lợi suất kỳ vọng của danh mục đầu tư
Trang 8U=E (R )−1
2 Aσσ2p A: Mức độ sợ rủi ro của nhà đầu tư (Risk aversion)
σp : Rủi ro của danh mục đầu tư
Những danh mục đầu tư có cùng giá trị hữu dụng (U) thì sẽ được nhà đầu tưlựa chọn mà không có sự phân biệt, chúng nằm trên đường bàng quan của nhàđầu tư (Indifferent curve) Thang điểm hữu dụng được xem là tiêu chí để đánhgiá, xếp loại thứ tự ưu tiên các danh mục trong quyết định của mỗi nhà đầu tư,điều này có nghĩa, nhà đầu tư sẽ lựa chọn các điểm trên các đường bàng quan ở vịtrí cao hơn trong họ đường bàng quan của mình
Biểu đồ 1.3: Đường bàng quan
The linked image cannot be displayed The file may have been moved, renamed, or deleted Verify that the link points to the correct file and location.
Với một nhà đầu tư, danh mục tối ưu dành cho họ chính là tiếp điểm của 1đường trong họ đường cong bàng quan và đường biên hiệu quả của nhà đầu tư
Đó là danh mục đảm bảo:
- Sự tối ưu về mặt thị trường (trong so sánh kết hợprủi ro - lợi suất với các danh mục khác)
Trang 9- Thoả mãn mức khả dụng cao nhất có thể của nhàđầu tư
Đối với thế giới tài chính, Markowitz Portflio Theory là nền tảng của quản
lý danh mục đầu tư hiện đại Lý thuyết này mang tính chất quy phạm, có nghĩa nó
đưa ra các chuẩn mực, nguyên tắc mà nhà đầu tư nên tuân theo trong quá trình
lựa chọn danh mục đầu tư Phát triển trên những gì mà Harry Markowitz sáng tạo
ra, các nhà tài chính thế hệ sau đã cho ra đời một lý thuyết nhiều tính xác thựchơn với những giả thuyết về cách thức hành động của nhà đầu tư chứ không phảinhững quy chuẩn mà nhà đầu tư nên hành động theo, lý thuyết đó có tên: CapitalMarket Theory hay Asset Pricing Theory, gắn liền với lý thuyết này là mô hìnhđịnh giá tài sản tài chính nổi tiếng (CAPM)
II LÝ THUYẾT THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
Markowitz portfolio theory kết thúc ở công đoạn xác định đường cong hiệuquả, đường khả dụng của nhà đầu tư và danh mục đầu tư tối ưu Nhưng không chỉdừng lại ở đấy, với ý tưởng chủ đạo là trong thị trường tài chính luôn tồn tại mộtloại tài sản gọi là tài sản phi rủi ro, kết hợp loại tài sản này vào những quy trìnhphân tích cũ, cộng với giả định của danh mục đầu tư thị trường, các nhà tài chínhthế hệ sau đã sáng tạo ra các sản phẩm như: đường thị trường tài chính, mô hìnhđịnh giá tài sản tài chính (CAPM), đường thị trường chứng khoán, chúng ta gọichung đó là Capital market theory
2 Lịch sử ra đời
Lý thuyết thị trường tài chính được William Sharpe đưa ra vào năm 1964,công trình này đã mang lại cho ông giải Nobel về Kinh tế Tuy nhiên, trong cùngkhoảng thời gian đó, 2 nhà kinh tế khác cũng đã độc lập nghiên cứu và cho ra đời
Trang 10lý thuyết tương tự như của Sharpe, họ là Lintner (công bố kết quả nghiên cứunăm 1965) và Mossin (công bố kết quả nghiên cứu năm 1966) Chính vì lý dotrên, trong một số tài liệu, CAPM còn được gọi bằng cái tên khác, tương đối dài:Sharpe-Lintner-Mossin Capital asses pricing model
3 Giả định nền tảng
Bởi Capital market theory được xâydựng trên nền của Markowitz portfoliotheory, nên ngoài việc kế thừa tất cả các giả định của lý thuyết cũ, nó còn bổ xungthêm một số giả định khác:
Markowitz tức đều mong muốn đầu tư vào các danh mục nằm trên đường conghiệu quả, vị trí chính xác mà từng người lựa chọn phụ thuộc vào hàm khả dụngcủa họ
số lượng tiền nào ở lãi suất phi rủi ro
cùng ước lượng về xác xuất đạt được mức sinh lời trong tương lai
đầu tư cơ bản, hoạt động đầu tư của họ được tiến hành trong các kỳ đầu tư có độdài là bội số của đơn vị thời gian cơ bản này Ví dụ đơn vị thời gian này là: 1tháng, 4 tháng, 6 tháng, 1 năm…
- Tất cả các khoản đầu tư không giới hạn trong việcchia nhỏ, có nghĩa là nhà đầu tư có thể mua, bán bất cứ số lượng tài sản nào màkhông gặp khó khăn gì
mua, bán các tài sản tài chính
Trang 11- Nền kinh tế không có lạm phát, hoặc lạm phát được
dự đoán trước, và không có bất cứ sự thay đổi lãi suất nào
- Thị trường tài chính ở trạng thái cân bằng, các tàisản được định giá rõ rang, chính xác, phù hợp với mức rủi ro của chúng
4 Tài sản phi rủi ro, đường phân bổ vốn và lựa chọn đầu tư hỗn hợp
4.1 Tài sản phi rủi ro
4.1.2 Kết hợp tài sản phi rủi ro và danh mục rủi ro nằm trên đường cong
hiệu quả Markowitz
Vì σ f=0=> cov(f , i)=0
Danh mục được tạo thành từ sự kết hợp trên, có:
E( R p)=ω f E( R f)+(1−ω f)E ( R i)
σp= √ ωf2σf2+(1−ωf)2σi2+ 2ωf( 1−ωf)cov( f ,i )=(1−ωf) σi
ωf : tỷ trọng tài sản phi rủi ro
σf : độ lệch chuẩn của tài sản phi rủi ro
Cov(j,i): Hiệp phương sai của tài sản phi rủi ro và danh mục trên đườngcong Markowitz
Trang 124.2 Đường phân bổ vốn (Capital Allocation Line) và quyết định đầu tư
Biểu diễn trên hệ toạ độ Risk-Return, ta được Rf M (M là điểm tiếp xúc
giữa Rf M và Markowitz efficient frontier, Rf M chính là đường tuyến tính
hiệu quả mới, ưu việt hơn so với đường cong cũ Đường thẳng này gọi được gọi
là đường phân bổ vốn (Capital Allocation line) Nhà đầu tư sẽ lựa chọn danh mục
đầu tư là tiếp điểm của đường khả dụng cao nhất của họ với Rf M.
Biểu đồ 1.4: Phân bổ vốn tối ưu
The linked image cannot be displayed The file may have been moved, renamed, or deleted Verify that the link points to the correct file and location.
5 Danh mục thị trường (Market Porfolio)
Mọi nhà đầu tư đều muốn đầu tư vào danh mục M, mở rộng danh mục nàycho toàn bộ thị trường, danh mục M sẽ bao gồm tất cả các tài sản tài chính, tài sảnnào không nằm trong M có nghĩa là không tồn tại cầu tài sản đó, và nó không cógiá trị Các tài sản trong M thị trường có tỉ trọng tương đương với tỉ trọng giá trị
Trang 13thị trường của nó M được gọi là danh mục thị trường (Market Portfolio) và làdanh mục được đa dạng hoá hoàn toàn, các rủi ro riêng biệt của từng loại tài sảnđược loại bỏ, tồn tại duy nhất rủi ro hệ thống.
Biểu diễn trên đồ thị,thay thế danh mục M gồm hữu hạn các tài sản bằngdanh mục tối ưu cho toàn bộ thị trường-Market Portfolio, sẽ được đường thịtrường tài chính (Capital Market Line) Danh mục hỗn hợp kết hợp tài sản phi rủi
ro và danh mục rủi ro hữu hạn không thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro hệ thống, để giảiquyết vấn đề này, nhà đầu tư có giải pháp là đầu tư một phần vào danh mục thịtrường phần còn lại vào tài sản phi rủi ro, điều này sẽ mang lại sự tối ưu
6 Mô hình định giá tài sản tài chính (CAPM)
Trong Markowitz Portfolio Theory, khi quyết định có hay không việc đưathêm một tài sản vào danh mục đầu tư, nhà đâu tư xem xét bình quân hiệpphương sai của tài sản đó với các tài sản trong danh mục, đó là rủi ro cần quantâm đối với một tài sản Sang Capital Market Theory, khi tài sản bất kỳ được nhàđầu tư quan tâm, nó sẽ trở thành một bộ phận của danh mục thị trường, và rủi rocủa tài sản này được đo bằng bình quân hiệp phương sai của nó với toàn bộ cáctài sản khác trên thị trường hay đơn giản hơn là hiệp phương sai của tài sản với
danh mục thị trường ( Covi ,M )
Lợi suất yêu cầu của tài sản i được tính:
Trang 14E( R i)=R f+β i(R M−R f)
Đây là công thức tính lợi suất yêu cầu của bất kỳ một tài sản tài chính nào,trong đó β là rủi ro hệ thống được chuẩn hoá của một tài sản, R M là lợi suấtcủa danh mục thị trường
Biểu diễn mối quan hệ vừa thu được trên hệ toạ độ rủi ro, lợi suất ta cóđường thị trường chứng khoán (Capital Market Line)
Biểu đồ 1.5: Đường thị trường chứng khoán
The linked image cannot be displayed The file may have been moved, renamed, or deleted Verify that the link points to the correct file and location.
Khi thị trường cân bẳng, tất cả các chứng khoán được định giá đúng và nằmtrên Security Market Line.Tuy nhiên, trạng thái cân bằng của thị trường rất khóxảy ra, vì vậy luôn luôn tồn tại các chứng khoán được giao dịch khác với giá trịhợp lý_ gọi cách khác là bị định giá nhầm.Trong ví dụ trên: chứng khoán A đang
bị định giá thấp, lợi suất kỳ vọng của nó lớn hơn so với lợi suất yêu cầu của thịtrường, chứng khoán B bị định giá cao vì lợi suất kỳ vọng của B thấp hơn so vớilợi suất mà thị trường yêu cầu Đây là cơ hội cho trường phái quản lý danh mụcchủ động, chiến lược đưa ra: mua A và bán khống B
Trang 15Xây dựng điều lệ đầu tư (Investment Policy)
Quyết định chiến lược đầu tư phù hợp
1
2
Ngoài CAPM còn có mô hình định giá tài sản nhiều yếu tố (Multifactor
Asset Pricing Model), mô hình này cùng chung quan điểm về rủi ro hệ thống,
điểm khác biệt so với CAPM là rủi ro này được chia ra theo các yếu tố ảnh hưởng
khác nhau Tuy nhiên, Multifactor Asset Pricing Model ít có giá trị ứng dụng thực
tế vì cho đến ngày nay, giới tài chính vẫn chưa thể đưa ra đầy đủ, hợp lý các yếu
tố cần thiết trong tính toán
Tổng kết
Lý thuyết về quản lý danh mục đầu tư, khởi nguồn từ Harry Markowitz,
William Sharpe, Lintner, Mossin đã mở đường cho ngành quản lý tài sản hiện đại
Tuy nhiên, quản lý danh mục đầu tư không chỉ dừng lại ở việc phân bổ tài sản
vào một danh mục tối ưu bởi thị trường luôn biến đổi, và yêu cầu đầu tư cũng
thay đổi liên tục Nhiệm vụ đặt ra cho nhà quản lý đầu tư là phải: thiết lập, đánh
giá, điều chỉnh liên tục danh mục quản lý để đáp ứng tốt nhất các yêu cầu đầu tư
Đó là một quá trình rất linh hoạt
Trên thực tế, mỗi cá nhân, hoặc tổ chức quản lý danh mục đầu tư chuyên
nghiệp đều tự xây dựng cho mình một quy trình hoạt động riêng Nhưng về cơ
bản các sản phẩm này đều thống nhất ở một quy chuẩn
1. Quy trình chung
Sơ đồ 2: Quy trình quản lý danh mục đầu tư
Trang 16Quy trình quản lý danh mục đầu tư là một vòng lặp Bước đầu tiên đối vớinhà đầu tư là xây dựng điều lệ đầu tư Điều lệ đầu tư cũng giống như bản đồ chỉđường, trong đó nhà đầu tư xác định rõ: rủi ro có thể chấp nhận, mục tiêu vànhững ràng buộc đầu tư Tất cả những quyết định đầu tư đều phải tuân theo cácquy định trong điều lệ Trên thực tế, mong muốn của nhà đầu tư thường thay đổitheo thời gian, vì vậy điều lệ đầu tư phải được xem xét và cập nhật từng giai đoạnhợp lý
Sang bước 2, nhà quản lý danh mục đầu tư nghiên cứu và quyết định sửdụng chiến lược đầu tư đáp ứng tốt nhất những yêu cầu trong điều lệ đầu tư Đểlàm được việc đó, người này phải tiến hành phân tích nền kinh tế, chính trị, xãhội, thị trường tài chính hiện thời và dự đoán xu hướng tương lai, kết hợp kết quảphân tích với các nhân tố từ phía nhà đầu tư
Bước 3 là thực hiện kế hoạch đầu tư, hay nói cách khác là xây dựng danhmục đầu tư Khởi đầu từ quyết định phân phối nguồn vốn cho các thị trường khácnhau, các loại hình tài sản khác nhau (asset allocation) cho tới việc xác định cụthể các chứng khoán đưa vào danh mục (security selection), tất cả đều hướng tớimột mục tiêu: đáp ứng tối đa yêu cầu của nhà đầu tư với mức rủi ro thấp nhất cóthể
Trang 17Chuyển qua bước 4, Theo dõi, cập nhật liên tục nhu cầu của nhà đầu tư, điềukiện thị trường,tiến hành đo lường và đánh giá hiệu quả của danh mục đầu tưcũng như công tác quản lý danh mục Đây là cơ sở phục vụ cho công đoạn kếttiếp của nhà quản lý đầu tư
Bước 5, kết hợp các kết luận đánh giá hiệu quả cùng các phân tích, dự đoánmới về sự thay đổi của thị trường cũng như những yêu cầu từ phía nhà đầu tư, nhàquản lý danh mục đưa ra các điều chỉnh hợp lý: khi cần thiết có thể thay đổi điều
lệ đầu tư, chiến lược đầu tư hoặc cơ cấu lại danh mục hiện tại cho phù hợp (tứclặp lại các bước ở phía trên)
Như vậy, quản lý danh mục đầu tư là một quá trình khép kín và kéo dài liêntục trong suốt thời gian tồn tại của danh mục
2 Chi tiết cụ thể từng giai đoạn
2.1 Xây dựng điều lệ đầu tư
Nhà đầu tư tự mình hoặc kết hợp với nhà tư vấn sẽ xây dựng một bản điều lệđầu tư Một bản điều lệ hợp lý sẽ phải bắt nguồn từ những đặc điểm của nhà đầu
tư và phù hợp với tình hình thị trường
2.1.1 Tầm quan trọng của điều lệ đầu tư
Điều lệ đầu tư là công cụ vô cùng giá trị, nó không những giúp nhà đầu tưhiểu được mình tốt hơn mà còn là trợ thủ đắc lực cho nhà quản lý đầu tư khi raquyết định Trên thực tế thì điều lệ không đảm bảo sự thành công của việc đầu tư,tuy nhiên cái quan trọng nhất là nó thiết lập các nguyên tắc trong quy trình đầu tư,giảm bớt và loại bỏ các quyết định có mục đích xấu, không phù hợp của nhà quản
lý danh mục cũng như nhà đầu tư Như vậy là có 2 lý do chính khiến việc xâydựng điều lệ đầu tư trở nên vô cùng quan trọng: thứ nhất, giúp cho nhà đầu tưhiểu và đưa ra được những kỳ vọng hợp lý, thứ 2, là chuẩn mực để đánh giá hiệuquả của nhà quản lý danh mục
Trang 18a Giúp hiểu và văn bản hoá các mục tiêuthực tế của nhà đầu tư
Nhà đầu tư không chuyên nghiệp thường không không thể xác định rõ ràngmục tiêu đầu tư cũng như kỳ hạn đầu tư cho mình Điều lệ đầu tư giúp cho họhiểu rõ được cái mình cần, những kỳ vọng và cả những giới hạn ràng buộc khitham gia đầu tư Trên cơ sở này, những rủi ro sai lầm khi ra quyết định đầu tưtrong tương lai sẽ được hạn chế, và đồng thời khả năng hoàn thành được mục tiêucũng sẽ được nâng cao bởi mục tiêu đó hoàn thoàn thực tế và khả thi
b Chuẩn mực để đánh giá hiệu quả hoạt động của danh mục
Những kết quả đạt được từ danh mục đầu tư sẽ được đánh giá trên cơ sở sosánh với điều lệ đầu tư Thông thường, trong điều lệ đầu tư sẽ có một danh mụcđầu tư tham chiếu Rủi ro và lợi suất thu được của 2 danh mục sẽ được đem lênbàn cân Kết luận đưa ra chính là yếu tố phản ánh chính xác nhất năng lực, trình
độ của nhà quản lý danh mục đầu tư
Ngoài ra điều lệ đầu tư còn có một số tác dụng khác như bảo vệ nhà đầu tưchống lại các hành vi xấu của nhà quản lý danh mục đầu tư
2.1.2 Nội dung của của điều lệ đầu tư
a Mục tiêu đầu tư
Mục tiêu đầu tư của một nhà đầu tư được thể hiện ở cả 2 yếu tố: lợi nhuận
kỳ vọng và rủi ro có thể chấp nhận được Rủi ro hay thậm chí là thua lỗ là điềuphải được đề cập tới trước khi có bất cứ một khoản đầu tư nào Một số tổ chức có
bộ test để kiểm tra khả năng chịu rủi ro của nhà đầu tư Lợi nhuận kỳ vọng của
Trang 19nhà đầu tư có thể được phản ánh ở con số tuyệt đối, tương đối hoặc chung như:Bảo toàn vốn, tạo thu nhập hiện tại, tăng trưởng vốn hoặc lợi nhuận tổng.
An toàn vốn: tối thiểu hoá việc lỗ, đảm bảo sức mua của khoản vốn đầu tư.Danh mục phải có lợi suất tối thiểu bằng mức lạm phát Đây là chiến lược dànhcho những người rất sợ rủi ro, cần có một sự đảm bảo chắc chắn về tài chính.Tăng trưởng vốn: vốn đầu tư sẽ tăng trưởng thực sự, lợi nhuận chính ở đây
là lãi vốn (Capital Gain) Nhà đầu tư xác định đầu tư dài hạn và sẵn sàng chấpnhận rủi ro để thực hiện được mục tiêu này
Thu nhập hiện tại: Danh mục đầu tư tạo ra lợi nhuận (cổ tức, tiền lãi) ổnđịnh, phụ thêm vào thu nhập hiện tại của nhà đầu tư.Những người nghỉ hưuthường ưa thích loại danh mục đảm bảo yếu tố này
Thu nhập tổng: Chiến lược này cũng gần tương đồng với chiến lược tăngtrưởng vốn, điểm khác biệt là chiến lược này đưa thêm vào hoạt động tái đầu tưcác khoản thu nhập hiện thời và vì vậy, danh mục này có mức rủi ro trung hoàgiữa rủi ro tăng trưởng vốn và rủi ro thu nhập hiện thời
Mỗi độ tuổi lại có một mục tiêu đầu tư khác nhau, nguyên nhân chính làhoàn cảnh và kinh nghiệm thay đổi theo thời gian
b Ràng buộc giới hạn đầu tư
Ngoài mục tiêu đầu tư giới hạn rủi ro, và lợi suất, một số rang buộc kháccũng ảnh hưởng tới kế hoạch đầu tư, bao gồm: Tính lỏng, kỳ hạn đầu tư, yếu tốthuế, giới hạn của luật lệ, những mong muốn, ưu ái đặc biệt trong đầu tư
Mỗi quốc gia lại có các yếu tố luật pháp, hành chính, tài chính khác nhau, vàmỗi nhà đầu tư lại có thời gian đầu tư cũng như thiên hướng đầu tư khác nhau, vìvậy những ràng buộc đầu tư này vô cùng đa dạng, đòi hỏi nhà đầu tư phải traođổi, thống nhất chặt chẽ với nhà quản lý danh mục
2.1.3 Hướng dẫn xây dựng điều lệ đầu tư
Trang 20Trong bất kỳ một trường hợp nào, dù quản lý danh mục đầu tư cá nhân haydanh mục cho một quỹ đầu tư thì bước đầu tiên: xây dựng điều lệ đầu tư là khôngthể bỏ qua Trên thực tế thì trách nhiệm xây dựng điều lệ thuộc về nhà đầu tư,nhưng để có được một điều lệ đầu tư thực sự tốt thì sự góp mặt của nhà tư vấntrong quá trình này đóng vai trò vô cùng quan trọng.
Một số hướng dẫn chung cho nhà đầu tư khi lập điều lệ đầu tư được đínhkèm sau đây
2.2 Quyết định chiến lược đầu tư phù hợp
Giới tài chính thống nhất chung quan điểm: Tồn tại duy nhất 2 chiến lượcquản lý danh mục đầu tư: Thụ động và chủ động,
Chiến lược thụ động: Mua và nắm giữ dài hạn Mục tiêu: lợi suất của danhmục đầu tư sẽ theo sát lợi suất của một chỉ số thị trường nào đó trong suốt thời kỳđầu tư Chính vì có mục tiêu như thế, đầu tư thụ động còn được gọi với cái tênkhác: Indexing Rất hiếm khi danh mục được điều chỉnh lại, trừ một số trườnghợp đặc biệt như: Chỉ số thị trường mục tiêu được bổ xung, loại trừ một vài loạichứng khoán, cổ tức được nhận cần phải đưa vào tái đầu tư…
Trang 21Chiếu lược chủ động: Bằng mọi phương pháp, cách thức điều hành danhmục để đạt được kết quả ưu việt hơn một danh mục chuẩn thụ động khác Danhmục tham chiếu này là một danh mục thụ động có các chỉ tiêu rủi ro, lợi nhuậntương đồng với mục tiêu của nhà đầu tư
2.2.1 Chiến lược quản lý danh mục thụ động
Chiến lược này thoạt nghe thì có vẻ khá bảo thủ, tuy nhiên nó cũng có tính
ưu việt riêng của mình: thứ nhất, khi quyết định thực hiện chiến lược chủ độngđồng nghĩa với việc chấp nhận chi phí quản lý, chi phí giao dịch cao, đây là khókhăn không dễ dàng vượt qua; thứ 2, thị trường chứng khoán là tương đối hiệuquả, có rất nhiều các quỹ đầu tư chủ động không thể theo kịp được lợi suất thịtrường, vì vậy có được một danh mục đầu tư đạt được được lợi suất thị trườngquả thực là một thành công không nhỏ
b Cách thức xây dựng danh mục
Tồn tại 3 cách xây dựng danh mục thụ động
Sơ đồ 3: Các cách đầu tư danh mục Index
Trang 22Lặp lại ho n to nà à (Full replication)
Lấy mẫu(Sampling)
Tối ưu to n phà ương(Quadratic optimization)Indexing
- Lặp lại hoàn toàn: Tất cả các chứng khoán cùng tỉ lệ trọng số của chúngdung để tính Index sẽ được đưa vào không sai khác trong danh mục Cách làmnày thoạt nghe có vẻ là tối ưu vì nó giảm tối đa độ lệch giữa danh mục và Index,tuy nhiên có 2 nhược điểm lớn: thứ nhất, vì cần phải mua nhiều loại chứng khoánnên phí giao dịch là rất lớn, điều này sẽ được trừ vào kết quả của danh mục, độlệch tăng Thứ 2, khi tái đầu tư các khoản cổ tức nhỏ, rải rác trong năm của cáccông ty trong danh mục cũng làm tăng chi phí giao dịch Chi phí giao dịch chinh
là nguyên nhân tại sao phương pháp lặp lại hoàn toàn thường không được sử dụngtrong xây dựng danh mục
- Lấy mẫu: Để khắc phục phương pháp đưa ra ở trên, nhà quản lý chỉ cầnmua một số ít chứng khoán đại diện cho Index Các phương pháp trong chọn mẫuthống kế sẽ được áp dụng Cách này sẽ hạn chế chi phí giao dịch ban đầu cũngnhư tái đầu tư cổ tức, tiền lãi thu được trong quá trình đầu tư Hạn chế lớn nhấtcủa phương pháp này là độ lệch cao hơn so với phương pháp lặp lại hoàn toàn
- Tối ưu toàn phưong: Thay vì lấy mẫu theo ngành, theo đặc tính của từngchứng khoán, nhà quản lý có thể sử dụng các chương trình máy tính để tính toán
ra cơ cấu danh mục tương đồng với Index Đầu vào của các chương trình này làlợi suất, rủi ro, tương quan giữa các loại chứng khoán, và đầu ra là ma trận tỷtrọng tối ưu của danh mục Hạn chế không thể khắc phục của phương pháp này là
sử dụng các dữ liệu yếu tố trong quá khứ, trong khi trên thực tế thì các yếu tố này
Trang 23thay đổi thường xuyên xác suất xảy ra độ lệch lớn giữa danh mục và thị trường làrất cao.
c Cách đo lường độ lệch
Một trong các cách đo lường mức độ không chính xác (tracking error) củadanh mục là tìm độ lệch chuẩn của các khác biệt giữa lợi suất danh mục và lợisuất thị trường
R pt=∑
1
N
ω i R i
Khác biệt lợi suất ở kỳ t: Δt= Rpt− Rbt
Phương sai lợi suất kỳ:
Rpt: Lợi suất danh mục kỳ t
Rbt: Lợi suất của Index mục tiêu T: Số kỳ quan sát
P: Số kỳ trong một năm
Độ lệch chuẩn năm hay còn được gọi là: Lỗi sai khác năm (Anualized tracking
error-TE): TE=σ Δ√P
d Cách đầu tư vào danh mục thụ động
Đối với các quỹ đầu tư thì việc tự xây dựng một danh mục thu động làkhông quá khó khăn, nhưng đối với một nhà đầu tư cá nhân thì công việc nàyhoàn toàn không đơn giản Tuy nhiên, trên thị trường tài chính vẫn có sẵn các sảnphẩm phù hợp vói những nhà đầu tư trường phái đầu tư thụ động này, đó là:Index Mutual Fund và Exchange –Trade Fund Các quỹ đầu tư sẽ phát hànhchứng chỉ quỹ cho các nhà đầu tư, việc xây dựng và quản lý danh mục đầu tư sẽ
do tổ chức quản lý quỹ đó phụ trách Điểm khác biệt giưa Index Fund vàExchange-Trad Fund là bất cứ một cá nhân nào nắm trong tay chứng chỉ củaExchang-Trade Fund đều có quyền quyết định tới lợi suất thu được từ danh mục
Trang 24Chiến lược phân tích cơ bản
Chiến lược phân tích kỹ thuật
Chiến lược dựa v o thuà ộc tính v sà ự bất thường
Chiến lược đầu tư giá trị - tăng trưởng
thuộc sở hữu của mình còn đối với Index Fund thì quyền này thuộc về bộ phậnquản lý của quỹ
2.2.2 Chiến lược quản lý danh mục đầu tư chủ động
a Tổng quan
Nhà quản lý danh mục theo chiến lược chủ động sẽ cố gắng vận dụng tất cảcác phương pháp để đạt được mức lợi suất cao hơn so với một danh mục thụ độngđược lấy làm mốc so sánh Tuy nhiên, sự so sánh này phải dựa trên cơ sở lợi suất
đã bù đắp chi phí và mức độ rủi ro của danh mục
Chiến lược này được chia thành 4 chiến lược cụ thể
Sơ đồ 4: Các chiến lược quản lý danh mục đầu tư chủ động
Quản lý chủ động
b Chiến lược phân tích cơ bản
Nhà quản lý theo chiến lược này sẽ lựa chọn danh mục đầu tư dựa trên cácphân tích cơ bản Tuỳ theo suy luận của riêng mình, mỗi người sẽ áp dụng 1 trong
2 phương pháp: Top-down, Bottom-up
Tổng kết lại thì có 3 cách chính mà các nhà quản lý dùng để gia tăng lợi suấtcho danh mục của mình:
Trang 25- Dịch chuyển nguồn vốn giữa các loại hình tài sản khác nhau như cổ phiếu,trái phiếu, tín phiếu kho bạc… dựa trên cở sở các dự đoán về hướng phát triểncho từng loại hình và lợi suất bù rủi ro mà chúng có thể mang lại
- Dịch chuyển vốn qua lại giữa các nhóm ngành, các phân ngành khác nhautrên thị trường cổ phiếu (ví dụ: Tài chính, công nghệ, công nghiệp…) Mục tiêu là
đi trước thị trường, nắm giữ các đối tượng sẽ là chủ đề “ nóng” trong tương lai
- Tìm kiếm các cổ phiếu đang bị định giá thấp, mua thấp bán cao
2 cách đầu tiên là dựa vào phân tích theo phương pháp Top-down, cách thứ
3 là Bottom-up Cách 1 (Tactical Asset Allocation) và cách 2 (Sector rotationstrategy) hàm chứa nhiều rủi ro, trên thực tế thì các nhà quản lý danh mục thường
ưa thích cách thứ 3 vì độ tin cậy tốt hơn dù rằng lợi suất có thể không cao bằng
dự đoán thị trường (Market timing) như 2 cách trên Dưới đây là minh hoạ chọnlựa của người theo trường phái Sector Rotation:
Sơ đồ 5: Chu kỳ kinh tế và sự chuyển dịch giữa các ngành
The linked image cannot be displayed The file may have been moved, renamed, or deleted Verify that the link points to the correct file and location.
c Chiến lược phân tích kỹ thuật
Nhà quản lý theo đuổi chiến lược này sử dụng phương pháp phân tích kỹthuật để xây dựng danh mục đầu tư Giả định được đưa ra ở đây là những biếnđông của giá chứng khoán trong quá khứ sẽ ẩn chứa những thông tin cho tương
Business Cycle and Sector Rotation
Trang 26Phân tích kỹ thuật
Chiến lược đi ngược thị trường (Contrarian Strategy)
Chiến lược xuôi theo xung động giá (Price Momentum Strategy)
lai, có 2 khả năng có thể xảy ra: Giá chứng khoán sẽ tiếp tục đi theo hướng cũ
hoặc có thể đảo chiều
Dựa vào 2 hướng đi đó, có thể chia chiến lược này thành 2 chiến lược cụ
thể:
Chiến lược đi ngược thị trường Phương châm của chiến lược: thời điểm
mua vào (bán ra) tốt nhất là khi phần lớn các nhà đầu tư đã chán nản, tuyệt vọng
(tham lam, điên cuồng) nhất Chứng khoán được mua vào ở gần đáy và bán ra ở
gần đỉnh Lý do giải thích cho hiện tượng này là giá một chứng khoán sẽ luôn có
xu hướng chuyển động về giá trị thực của nó, vì vậy sẽ tạo ra lợi suất tương đồng
với lợi suất kỳ vọng
Chiến lược đầu tư theo xung động của giá Các nhà đầu tư theo chiến lược
này cho rằng xu hướng giá gần đây của chứng khoán sẽ được giữ vững trong
tương lai, chứng khoán nào đang nóng (lạnh) sẽ vẫn tiếp tục nóng (lạnh) Công
việc được thực hiện đơn giản chỉ là quan sát xu hướng giá hiện thời của chứng
khoán, tuỳ tình hình mà ra quyết định mua hay bán
2.2.3 Chiến lược đầu tư theo thuộc tính và sự bất thường
a Đầu tư theo thuộc tính (Attribute-oriented Strategy)
Chiến lược này còn được gọi theo một cách khác là đầu tư theo xung lượng
thu nhập (Earning Momentum Strategy), nền tảng xây dung chiến lược này là giả
định: giá cả của chứng khoán luôn song hành cùng với thu nhập mà chứng khoán
Trang 27đó mang lại Để đánh giá mức độ thay đổi mạnh, yếu (xung lượng) của thu nhậpchứng khoán, nhà đầu tư thường so sánh kết quả thực tế với những ước lượng sốhọc hoặc dự đoán của các chuyên gia phân tích Hành động của nhà quản lý quỹ
là mua và giữ các chứng khoán đang gia tăng mạnh thu nhập và bán đi nhữngchứng khoán có kết quả tồi, đáng thất vọng
Một hướng tiếp cận khác của chiến lược này là dựa vào giá trị thị trường, vàtình trạng tài chính của tổ chức phát hành Có 2 điểm cần lưu ý ở đây: theo thờigian, lợi suất của chứng khoán có giá trị vốn hoá nhỏ sẽ cao hơn các chứng khoán
có giá trị vốn hoá lớn, và lợi suất mà các chứng khoán có các hệ số: P/E, P/BVthấp mang lại sẽ cao hơn so với loại có các chỉ số này cao hơn
b Chiến lược đầu tư theo những bất thường
Tận dụng những sự kiện có tính đặc dị như: hiệu ứng ngày cuối tuần, hiệuứng tháng Giêng Cho dù số lượng sự kiện bất thường là không nhiều và khả năngthành công là không thể chắc chắn, chiến lược này vẫn được khá nhiều nhà đầu tư
sử dụng
2.2.4 Đầu tư giá trị và đầu tư tăng trưởng
Đây là một trong những chiến lược quan trọng nhất được phát triển nhữngnăm gần đây Tư tưởng cơ bản là xây dựng danh mục dựa trên định hướng đầu tưgiá trị hay đầu tư tăng trưởng Xét chỉ số P/E của một cổ phiếu, quyết định mua(bán) của nhà đầu tư giá trị khác với nhà đầu tư tăng trưởng
Với nhà đầu tư giá trị, quan điểm của họ:
Tập trung đến yếu tố giá cả (P), họ sẽ lựa chọn cổ phiếu nếu bằngmột số biện pháp so sánh, họ thấy giá đó rẻ tương đối
Không quan tâm nhiều tới thu nhập hiện thời hoặc các yếu tố thúcđầy tăng trưởng thu nhập
Trang 28 Ngầm định rằng P/E đang ở dưới mức thật, và thị trường sẽ nhanhchóng sửa chữa sự mất cân đối này bằng việc tăng giá chứng khoán trong khi thunhập (E) được giữ gần như không thay đổi.
Khác biệt với quan điểm trên, nhà đầu tư tăng trưởng lại suy nghĩ khác:
Tập trung vào bộ phận thu nhập (E) và những yéu tố quyết định tới
Tổng kết một cách ngắn gọn, đầu tư tăng trưởng hướng tập trung vào hiệntrạng kinh tế hiện thời và tương lai của tổ chức phát hành chứng khoán, khôngquan tâm tới việc định giá chứng khoán Trái lại, nhà đàu tư giá trị lại cực kỳ tậptrung tới định giá chứng khoán, và cực kỳ quan tâm tới các chứng khoán khi thịtrường điều chỉnh
Sơ đồ 5: Mô hình phân biệt giữa chứng khoán giá trị và chứng khoán tăng trưởng
The linked image cannot be displayed The file may have been moved, renamed, or deleted Verify that the link points to the correct file and location.
2.3 Thực hiện kế hoạch đầu tư
Trang 29Đa dạng hoá đầu tư là ý tưởng xuyên suốt của lý thuyết danh mục đầu tưhiện đại Đa dạng hoá không đơn thuần chỉ dừng lại ở việc lựa chọn nhiều loại cổphiểu cho 1 danh mục cổ phiếu, hay nhiều loại trái phiếu cho danh mục trái phiếu,tiến tới một mức độ cao hơn đó là đa dạng hoá các loại hình tài sản đầu tư (Assetallocation) Xuất phát từ việc lựa chọn loại hình tài sản đầu tư, nhà đầu tư mớiquyết định đưa các chứng khoán cụ thể nào vào danh mục
Như vậy quyết định đầu tư trải qua 2 bước:
- Phân bổ vốn cho các loại hình tài sản (Asset allocation)
- Lựa chọn đầu tư chứng khoán cụ thể (Security selection)
2.3.1 Phân bổ vốn cho các loại hình tài sản (Asset allocation)
a Tầm quan trọng của việc phân bổ các loại hình tài sản
Một số nghiên cứu của Ibbotston và Kaplan (2000), Brinson, Hood vàBeebower (1986) đã cho ra cùng một kết quả: khoảng 90% lợi suất của các quỹđầu tư được giải thích bởi chiến lược phân bổ tài sản của quỹ
Một trong những lý do chính khiến nhà đầu tư viết ra điều lệ đầu tư là đểxác định một chiến lược đầu tư toàn diện Điều lệ đầu tư sẽ không nêu cụ thểdanh mục gồm các chứng khoán nào, mà nên chỉ ra loại hình tài sản nào cần đầu
tư và tỷ lệ tương đối (khoảng tỷ trọng) cho từng loại Định hướng xây dung cơcấu tài sản trong danh mục đích là nhân tố dẫn tới 40% sự khác biệt trong thunhập giữa các quỹ đầu tư khác nhau
Những nghiên cứu thực nghiệm ngay nay đang ngày càng càng chứng tỏ rõhơn tầm quan trọng của Asset allocation tới hiệu quả đầu tư
Chính vì có ý nghĩa to lớn đến thế nên mọi tổ chức, cá nhân đầu tư đều cốgắng xây dung cho mình các phương pháp phân phối tài sản tối ưu
b Các phương pháp phân phối tài sản
Trang 30Phương pháp phân phối t i sà ản tích hợp
Phương pháp chiến lượcPhương pháp chiến thuậtPhương pháp an to nà Phân phối t i sà ản
Tình trạng thị trường t i chínhà
Quy trình dự đoán thị trường
Lợi suất kỳ vọng, rủi ro v à độ tương quan giữa các loại t i sà ản
T i sà ản, công nợ v và ốn ròng của nh à đầu tư
H m chà ịu đựng rủi ro của nh à đầu tư
Mức độ chịu rủi ro của nh à đầu tư
Chương trình tối ưu hoá
Phương pháp phân phối tài sản tích hợpGọi là tích hợp vì phương pháp này dựa trên sự phối hợp của cả 2 yếu tố:tình hình thị trường tài chính và mục tiêu, ràng buộc của nhà đầu tư Danh mụcđược xây dựng trên phương diện lý thuyết sẽ đáp ứng tốt nhất nhu cầu của nhàđầu tư trong điều kiện thị trường hiện tại cũng như trong tương lai Quy trìnhphân phối tài sản theo phương pháp này được mô tả dưới đây
Sơ đồ 6: Quy trình phân phối tài sản tích hợp
Trang 31Lợi nhuận thực tế của danh mục sẽ được sử dụng để làm đầu vào cho vòng l
ặp tiếp theo Khi đó, tình hình thị trường tài chính cũng như hoàn cảnh, nhu cầucủa nhà đầu tư cũng đã có thay đổi, vì vậy danh mục đầu tư cũ sẽ được cấu trúclại sao cho phù hợp
Phương pháp chiến lược
Phương pháp này dùng để xác định cơ cấu tài sản của danh mục trong dàihạn Thông thường, lợi suất trung bình rủi ro, tương quan dài hạn của các loại tàisản được dùng để dự đoán kết quả đầu tư tương lai Đường cong hiệu quảMarkowitz sẽ được thiết lập và nhà đầu tư tự chọn cho mình một danh mục phùhợp trong suốt kỳ đầu tư, cơ cấu của danh mục này hầu như được giữ nguyên, rất
ít khi bị thay đổi
Nói cách khác, phương pháp chiến lược khác phương pháp tích hợp ở chỗ
nó không tạo ra vòng lặp, mọi việc kết thúc ở bước tìm ra danh mục tối ưu
Phương pháp chiến thuật
Trái ngược với phương pháp chiến lược, xây dựng cơ cấu tài sản cho dàihạn, phương pháp chiến thuật hướng nhà đầu tư tới việc thường xuyên điều chỉnhcác tài sản trong danh mục nhằm tận dụng các cơ hội tư sự biến động của thịtrường Việc thêm vào hay loại bỏ một loại tài sản phụ thuộc vào đánh giá về giátrị tương đối của tài sản đó ở thời điểm ra quyết định Phương pháp này dựa trêngiả định nền tảng: tất cả các loại tài sản đều có xu hướng quay về giá trị trungbình dài hạn của nó Tài sản nào bị đánh giá thấp (cao)sẽ được tăng (giảm) tỷtrọng trong danh mục
Tần suất điều chỉnh danh mục của nhà đầu tư phụ thuộc vào một số yếu tốnhư: độ biến động của thị trường tài chính, quy mô của nguồn vốn, lợi suất phi rủi
ro, thay đổi của nền kinh tế vĩ mô
Phân phối tài sản an toàn
Trang 32Giả định đưa ra: lợi nhuận kỳ vọng và rủi ro của tài sản là không đổi theothời gian, chỉ có kỳ vọng và giới hạn đầu tư của nhà đầu tư là thay đổi cùng giá trịthị trường của danh mục họ sở hữu.
Theo phương pháp này, tỷ trọng danh mục tài sản cũng sẽ liên tục điềuchỉnh, tuy nhiên điều này hoàn toàn là do sự biến động giá trị thị trường của danhmục Khi giá trị danh mục tăng, tỷ trọng của các tài sản rủi ro tăng tương ứng, tức
là danh mục tự tăng độ rủi ro của nó, và ngược lại, giá trị thị trường giảm đồngnghĩa với việc rủi ro mà nhà đầu tư phảI chịu cũng giảm tương ứng Thôngthường thì danh mục theo phương pháp này gồm 2 loại tài sản: Tín phiếu kho bạc
và cổ phiếu thường
Hướng đi của phương pháp này khác hẳn với phương pháp chiến thuật, theophương pháp chiến thuật, khi một tài sản trong danh mục tăng giá quá mức, ngaylập tức nhà quản lý sẽ giảm tỉ trọng tài sản này và chuyển nguồn vốn đó qua cáctài sản đang bị thị trường đánh giá thấp Phương pháp an toàn chỉ cần thiết lậpdanh mục ban đầu, và để cho thị trường tự điều chỉnh (vì rủi ro và lợi suất thịtrường là không đổi nên không cần can thiệp) Vì bản chất đó, phương pháp nàycòn có một tên gọi khác là: phương pháp hằng số tỷ trọng
c Cách thức để lựa chọn một phương pháp phân phối tỷ trọng chủ động
Quyết định chọn lựa phương pháp phân phối tài sản nào phụ thuộc vào: mức
độ nhà đầu tư thay đổi mục tiêu, giới hạn đầu tư của mình, và nhận thức về mốiquan hệ giữa các điều kiện thị trường trong quá khứ và tương lai Nếu như nhàđầu tứ tin tưởng rằng sắp tới thị trường vẫn tương đối ổn định, họ sẽ chọn phươngpháp phân phối an toàn Trong trường hợp, mục tiêu của khách hàng (nhà đầu tư)
là ổn định thì phương pháp thích hợp là chiến thuật Trường hợp cả thị trường lẫnnhà đầu tư đều có nhiều sự thay đổi thì phương pháp tích hợp nên được sử dụng,
dù rằng đây là phương pháp tốn kém và khó khăn nhất
Trang 33Các khoản đầu tư thu nhập cố định
Cổ phiếuChứng quyền, quyền chọnFuture
Chứng chỉ quỹ đầu tư
T i sà ản có tính lỏng thấp (tranh ảnh, cổ vật, …)
T i sà ản thực (Bất động sản….)(
T i sà ản t i chínhà
T i sà ản
d Các loại tài sản đầu tư trên thế giới
Sơ đồ 7: Nhóm tài sản tài chính dành cho giới đầu tư
Đối tượng của bài viết này là tài sản tài chính
Các khoản đầu tư thu nhập cố định
Đây là loại tài sản đầu tư có thu nhập và lịch trình nhận thu nhập được xác
định trước Nhà đầu tư sở hữu loại tài sản này đóng vai trò là chủ nợ với tổ chức
phát hành Nhà đầu tư được nhận tiền lãi định kỳ và nhận lại khoản đầu tư gốc
vào thời điểm đáo hạn của tài sản
Các tài sản thuộc loại này:
Đây là loại tài sản được giới đầu tư quan tâm nhất bởi tính linh hoạt về
thanh khoản, lợi suất và thời gian cầm giữ
Trang 34Chứng quyền: là loại quyền chọn được phát hành bởi một tổ chức, nó cho
phép người nắm giữ được mua cổ phiếu phổ thông của tổ chức này tại mức giá
xác định và trong một thời gian xác định
Put and calls: Call option cũng có giá trị tương đương như chứng quyền,điểm khác biệt là chứng khoán này được phát hành bởi một tổ chức thứ 3, khôngphải là tổ chức phát hành cổ phiếu thường và thời gian hiệu lực của Call optionthường ngắn hơn chứng quyền Put option là quyền được bán một loại chứngkhoán tài một mức giá xác định trong một khoảng thời gian xác định Put optioncũng được phát hành bởi tổ chức thư 3
Hợp đồng tương lai
Đây là hợp đồng cam kết sẽ bán (mua) một loai tài sản tại một thời điểm xácđịnh trong tương lại, ở một mức giá định sẵn Việc thanh toán đầy đủ sẽ đượcthực hiện tại ngày giao hàng tuy nhiên, để đảm bảo tính chắc chắn của hộp đồng,người mua sẽ đưa trước cho người bán một khoản đặt cọc Thời hạn của hợp đồngtương lai thường nhỏ hơn 1 năm
Chứng chỉ quỹ đầu tư
Thay vì trực tiếp mua bán các loại cổ phiếu, trái phiếu, nhà đầu tư có thểmua chứng chỉ quỹ của một quỹ đầu tư nào đó Tổ chức quản lý quỹ sẽ có tráchnhiệm dùng tiền thu được để đầu tư trực tiếp
Các loại quỹ phổ biến:
Trang 35- Quỹ đầu tư trái phiếu
- Qũy đầu tư cổ phiếu
- Quỹ đầu tư cân bằng
e Ảnh hưởng của văn hóa quốc gia tới sụ phân phối tài sản đầu tư
Các nhà đầu tư ở các quốc gia khác nhau thường có các quyết định phânphối tài sản khác nhau Nguyên nhân là do sự không tương đồng về điều kiện xãhội, kinh tế, chính trị, khung thuế Một số khác biệt có thể kể ra:
Trong danh mục của các nhà đầu tư ở các nước có tuổi thọ trung bình ngườidân thấp cổ phiếu thường chiếm tỷ trọng lớn
Tại các nước có chính sách hưu trí được chính phủ thiết lập và quản lý tốtthì người dân thường không thích đầu tư nhiều vào cổ phiếu
Một số nước có các quy định về giới hạn tỷ lệ đầu tư mạo hiểm của các quỹnhư Australia, Bỉ, Phần Lan, Pháp…
2.3.2 Lựa chọn chứng khoán đầu tư
Sau khi đã quyết định được cấu trúc tài sản trong danh mục, bước tiếp theo,nhà quản lý danh mục lựa chọn đối tượng cụ thể trong từng loại hình tài sản đểđưa vào danh mục Các đối tượng đầu tư có rất nhiều, nhà quản lý phụ thuộc vàothế mạnh của mình để tìm ra các cơ hội đầu tư tốt nhất, sau đó tối ưu hóa tập lựachọn
Cổ phiếu là một bộ phận phổ biến trong các danh mục đầu tư., nó hấp dẫnbởi khả năng sinh lời cao hơn các chứng khoán khác Tùy thuộc vào chiến lượcđầu tư mà quy trình lựa chọn chứng khoán là đơn giản hay phức tạp Nếu theochiến lược thụ động, lựa chọn cổ phiếu hoàn toàn dựa vào cấu trúc Index và các
mô hình máy tính, bài toán này hoàn toàn không khó đối với một nhà quản lýdanh mục chuyên nghiệp
Trang 36Nhà đầu tư theo trường phái chủ động có nhiều cách lựa chọn chứng khoán.Cách mà hầu hết các nhà đầu tư phải biết khi đến với chứng khoán đó là phân tích
cơ bản, cụ thể là phân tích bottom-up Có 2 vấn đề mà một người theo trườngphái phân tích cơ bản phải trả lời: Doanh nghiệp phát hành có tốt hay không ? và
cổ phiếu có mức giá nào là hợp lý Các cổ phiếu tốt có mức giá hời sẽ xuất hiệnkhi nhà đầu tư trả lời được 2 câu hỏi này
1) Doanh nghiệp có tốt hay không ?
- Phân tích các yếu tố khách quan bên ngoài tác động tới doanh nghiệp
Sơ đồ 8: Mô hình 5 yếu tố cạnh tranh của Micheal Porter
Phân tích về các yếu tố trên sẽ chỉ ra vị thế hiện tại của doanh nghiệp, nhữngrủi ro, khó khăn gặp phải cũng như khả năng phát triển trong tương lai
- Phân tích nội bộ doanh nghiệp
Trang 37+ Tài chính doanh nghiệp
Tất cả các yếu tố trên sẽ cho thấy toàn cảnh bức tranh doanh nghiệp, doanhnghiệp này có lợi thế cạnh tranh gì, yếu điểm gì, tình hình làm ăn ra sao, và điềucần nhất cần phải tìm ra: doanh nghiệp này đang ở giai đoạn nào của sự pháttriển, diễn biến tiếp theo ra sao
2) Cổ phiếu doanh nghiệp này đáng giá bao nhiêu ?
Đây là bài toán định giá chứng khoán Các phương pháp định hướng hoàntoàn cơ bản, nhưng sự áp dụng của mỗi người thì lại khác nhau Nhà phân tíchchứng khoán cần tìm ra các yếu tố đầu vào hợp lý nhất từ các báo cáo tài chínhhiện hành, trên cơ sở kết hợp với phân tích ở phần trên để dự đoán tốc độ tăngtrưởng cho doanh nghiệp, từ đó đưa ra các chỉ tiêu tài chính dự kiến Kết quả thuđược từ quá trình này sẽ được đưa vào các mô hình định giá, chiết khấu ra giá trịnội tại của doanh nghiệp (cổ phiếu của doanh nghiệp) ở thời điểm hiện tại
Cổ phiếu của một doanh nghiệp được đưa vào danh mục chủ động khi nó cógiá trị thị trường thấp hơn giá trị nội tại
2.4 Báo cáo và đánh giá hiệu quả của danh mục đầu tư
2.4.1 Báo cáo kết quả danh mục đầu tư
Khi báo cáo kết quả của danh mục đầu tư, ngoài giá trị danh mục đầu kỳ,cuối kỳ người ta còn sử dụng một số chỉ tiêu để đánh giá kết quả tương đối
a Time-Weighted and Dollar-Weighted Return
Dollar Weighted Return của một danh mục là tỷ lệ nội hoàn của danh mục
đó ( rp ), được tính dựa trên các khoản thu được tại các thời điểm đầu tư và
khoản chi ra ban đầu
Trang 38R : Khoản lợi nhuận thu về định kỳ
rpl : Dollar Weight Return
c Lợi suất kỳ đầu tư
Vì trong thời gian đầu tư thường xảy ra hiện tường nhà đầu tư góp thêm vốnhoặc rút bớt vốn, nên lợi suất kỳ đầu tư của danh mục được điều chỉnh từ côngthức ban đầu:
HPY= EV
BV −1
HPY : Lợi suất kỳ nắm giữ (Holding period yields)
EV : Giá trị cuối kỳ của danh mục
BV: Giá trị đầu kỳ của danh mục
Theo Dietz, đối với một danh mục, nếu trong kỳ nhà đầu tư góp thêm (rút)vốn thì lợi suất kỳ đầu tư được điều chỉnh:
Aσ−HPY = EV −(1−DW ) AσC
BV +( DW ) AσC −1
Aσ−HPY : Lợi suất trong kỳ điều chỉnhAσC : Nguồn vốn góp thêm (rút bớt)
DW : Tỷ lệ thời gian mà khoản góp
thêm (rút bớt) tồn tại trong kỳ đầu tư
2.4.2 Đánh giá hiệu quả của danh mục
a Những yêu cầu đồi với nhà quản lý danh mục đầu tư
Có 2 yêu cầu chính mà nhà quản lý danh mục đầu tư phải đáp ứng là:
- Khả năng kiếm được lợi suất cao hơn mức trung bình tại một mức rủi rocho trước
- Khả năng đa dạng hóa danh mục, loại bỏ hoàn toàn các rủi ro phi hệ thống
Trang 39Để làm được yêu cầu đầu tiên, nhà quản lý danh mục thường áp ụng phươngpháp:
Thứ nhất là cố gắng dự đoán xu thế thị trường, từ đó mua (bán) các chứngkhoán thích hợp ví dụ: Với nhà đầu tư cổ phiếu, dự đoán thị trường tăng, xâydựng danh mục tối ưu các chứng khoán có hệ số β lớn, thị trường giảm, lựa
chọn các chứng khoán có β nhỏ, các công cụ tiền tệ Với nhà đầu tư trái phiếu,
dự đoán lãi suất giảm, mua vào các trái phiếu có Coupon nhỏ và thời gian đáo hạndài, dự đoán lãI suất tăng, giảm thời gian đáo hạn của các trái phiếu trong danhmục Nếu các dự đoán là chính xác, danh mục sẽ mang về lợi nhuận cao hơn trungbình
Một cách khác là phân tích, tìm ra các tài sản đang bị thị trường định giáthấp Với cách này, cho dù nhà quản lý không có lợi thế trong dự đoán thị trườngthì danh mục vẫn có thể đạt yêu cầu như trên
Với yêu cầu thứ 2, rủi ro riêng của tài sản không được bù đắp trong lợi suấtyêu cầu của một tài sản bởi vì chúng có thể bị loại bỏ hoàn toàn bằng đa dạng hóatrong danh mục thị trường Vì lý do này, nhà đầu tư yêu cầu người quản lý danhmục của mình phải có khả năng xây dựng danh mục đa dạng hóa tuyệt đối haynói cách khác là có hệ số β gần hoặc bằng 1.
b Các phương pháp đánh giá hiệu quả của danh mục đầu tư
B1 Phương pháp dùng trước năm 1960
Những năm trước 1960, cáI mà người ta hay dùng để đánh giá tính hiệu quảcủa một danh mục đầu tư là tỷ suất lợi nhuận, và không kết hợp với rủi ro vì hối
đó chưa có cách tính rủi ro cụ thể Đầu những năm 60, khi mà rủi ro đã được tínhtoán cụ thể, người ta vẫn chưa có một cách đánh giá nào kết hợp cả 2 yếu tố trên,cách thường làm là xếp các danh mục cùng độ rủi ro vào một nhóm và so sánh lợisuất của các danh mục này với nhau
Trang 40Sau này, các phương pháp đánh giá đã kết hợp cả 2 yếu tố: rủi ro và lợi suất.
B2 Phương pháp so sánh nhóm đồng đẳng
Tác giả của phương pháp này là Kritzman Cách thức mà Kritzman đưa ra là
tổng hợp tất cả lợi suất đạt được của đại diện các nhà đầu tư, quỹ đầu tư trên thế
giới trong một kỳ hạn đầu tư xác định, sau đó biểu diễn trên đồ thị Từ sụ phân
phối lợi suất thu được, người ta sẽ tiến hành chia khoảng mật độ, dựa vào các
khoảng đó sẽ xếp hạng tương đối các nhà quản lý đầu tư
Phương pháp này có một số hạn chế, đầu tiên là không có bất cứ một đánh
giá rõ ràng về mức rủi ro của các danh mục, hay ngụ ý là tất cả các danh mục đại
diện trên thế giới đều có cùng mức rủi ro (!), điều này là không thể Vấn đề thứ 2
là xây dựng nhóm đồng đẳng để so sánh chắc chắn là điều không tưởng vì để đại
diện cho tất cả các thị trường trên thế giới thì cần phảI có một số lượng khổng lồ
các danh mục đầu tư, do đó các mức so sánh được đưa ra thường là không có ý
nghĩa nhiều lắm
Thứ 3, vì chỉ tập trung vào lợi suất đầu tư, việc so sánh không đề cập tới
một khía cạnh quan trọng là liệu nhà đầu tư đã hiện thực hóa được lợi nhuận
mong muốn và đảm bảo thực hiện đúng được các ràng buộc giới hạn khi đầu tư ?
B3 Phương pháp Treynor
Đây là phương pháp đầu tiên đánh giá kết hợp cả lợi suất lẫn rủi ro của danh
mục đầu tư Treynor đưa ra 2 thành phần rủi ro: rủi ro từ dao động của thị trường,
và rủi ro của danh mục Rủi ro từ dạo động thị trường được thể hiện bằng “đường
tính chất”, đường này biểu diễn mỗi quan hệ giữa lợi suất danh mục đầu tư và
danh mục thị trường, độ dốc của đường này chính là hệ số β của danh mục Độ
lệch của đường tính chất chính là biểu hiện của rủi ro từ dao động riêng của danh
mục
Hệ số Treynor được tính