PhÇn më ®Çu 1 PhÇn më ®Çu I Môc ®Ých, ý nghÜa cña ®Ò tµi Hå Xu©n H¬ng vµ TrÇn TÕ X¬ng lµ hai t¸c gi¶ lín cña v¨n häc trung ®¹i ViÖt Nam S¸ng t¸c cña hä ® gãp h¬ng s¾c, lµm phong phó cho vên hoa v¨n hä[.]
Trang 1Phần mở đầu
I Mục đích, ý nghĩa của đề tài
Hồ Xuân Hơng và Trần Tế Xơng là hai tác giả lớn của văn học trung
đại Việt Nam Sáng tác của họ đã góp hơng sắc, làm phong phú cho vờn hoavăn học Ngời ta đã từng biết đến một Xuân Hơng- "bà chúa thơ Nôm" vớinhững vần thơ nh muốn đào xới, lật tung khuôn khổ của thơ ca cũng nh củaxã hội phong kiến; một Tú Xơng- "bậc thần thơ thánh chữ" với những bài thơvừa hiện thực, vừa trữ tình Và ngời ta đã từng thừa nhận sức sống lâu bềncủa hai tác giả trong lòng công chúng không chỉ bởi do sách vở mà còn do
nó sống trong đời sống sinh hoạt hàng ngày Từ những ngời trí thức đếnnhững ngời bình dân đều có thể nhớ và thuộc thơ họ một cách dễ dàng Phảichăng thơ của hai tác giả này giản dị, gần gũi với đời sống hay do có mộtmạch ngầm từ thơ ca dân gian đã thấm vào từng vần thơ của họ Có lẽ là do
cả hai Chính điều này đã gợi ý cho ngời viết chọn đề tài: "Yếu tố dân gian trong thơ Nôm Hồ Xuân Hơng và Trần Tế Xơng từ góc nhìn so sánh".
Tìm hiểu đề tài này, chúng tôi nhằm mục đích:
2 Về thực tiễn:
Chúng tôi nhận thấy những bài thơ của Hồ Xuân Hơng và Trần Tế
X-ơng đợc lựa chọn giảng dạy ở nhà trờng các cấp đều có yếu tố dân gian khá
đậm Thực hiện đề tài sẽ giúp chúng tôi có thêm kiến thức và cái nhìn sâusắc về hai tác giả này cũng nh giúp giảng dạy tốt hơn những bài thơ của họtrong chơng trình các cấp
II Lịch sử vấn đề
1 Nghiên cứu về yếu tố dân gian trong thơ Hồ Xuân Hơng
Trang 2Trên thi đàn, Hồ Xuân Hơng có một vị trí đặc biệt quan trọng bởi thơ
bà thể hiện đợc sự đổi mới, cách tân trên nhiều phơng diện Trớc hết về nộidung Bà đã đa vào thơ những đề tài bình dị, dân dã, cũng nh cách cảm,cách nghĩ của dân gian Đề cập tới vấn đề này nhà nghiên cứu Tam Vị trong
bài viết: "Tinh thần phục hng trong thơ Hồ Xuân Hơng" (Tạp chí văn học số
3 năm 1991) cho rằng:" Hồ Xuân Hơng đã làm sống lại trong văn học thànhvăn cả một truyền thống văn hoá phồn thực hùng hậu Văn hoá này đợchình thành từ rất lâu và sống rất bền vững trong đời sống dân gian." (trang25) Đề cập tới tinh thần phục hng trong thơ Hồ Xuân Hơng chính là việctác giả tiến hành chứng minh và khẳng định: Hồ Xuân Hơng đã đem vàovăn học cả tinh thần, thế giới quan của văn hoá dân gian
Tác giả Nguyễn Đăng Na trong bài nghiên cứu: " Hồ Xuân Hơng với văn học dân gian" lại chỉ ra mối liên hệ giữa thơ Hồ Xuân Hơng với văn
hoá dân gian và hẹp hơn là văn học dân gian trong cách cảm, cách nghĩ, từ
đó tìm thấy sự kế thừa cũng nh nét độc đáo riêng của nữ sĩ Tác giả khảo sátthơ Hồ Xuân Hơng trên ba hệ thống đề tài: Đề tài về loại ngời "có học"; đềtài về nhà chùa và đề tài về ngời phụ nữ rồi đi tới khẳng định: "Hồ Xuân H-
ơng tiếp thu dân gian nhng không lặp lại dân gian; bà chỉ tiếp thu cái hay,cái đẹp, cái đúng; cái gì cha đúng thì uốn nắn." ( Con đờng giải mã văn hoátrung đại Việt Nam- trang 596)
Trong công trình nghiên cứu khá công phu: "Hồ Xuân Hơng- hoài niệm phồn thực" tác giả Đỗ Lai Thuý đi sâu vào những biểu tợng phồn thực
trong thơ Hồ Xuân Hơng, phân tích và chỉ ra những ý nghĩa sâu xa của nó
Nh các biểu tợng liên quan đến các bộ phận của cơ quan sinh sản, hành vitính giao, thân thể phụ nữ Tác giả chứng minh sự gắn bó mật thiết giữabiểu tợng trong thơ Hồ Xuân Hơng với những biểu tợng của tín ngỡng phồnthực trong dân gian Sự trở về với những biểu tợng phồn thực cổ xa và dângian trong thơ "Bà chúa thơ Nôm" cho thấy: "Bà là ngời rất yêu sự sống".Bên cạnh những biểu tợng gốc, Đỗ Lai Thuý phát hiện trong thơ Hồ XuânHơng còn có những biểu tợng phái sinh Đó là sáng tạo riêng của nhà thơ,tạo nên phong cách độc đáo của nữ sĩ
Để giúp độc giả hiểu rõ hơn về một số vấn đề trong thơ Hồ Xuân
H-ơng, giáo s Lê Trí Viễn trong bài: "Đôi điều về thơ Hồ Xuân Hơng" đã đề
cập đến cái tục trong thơ bà và lí giải nó dới nhãn quan văn hoá dân gian.Tác giả cho rằng: "Hồ Xuân Hơng đã tiếp nhận từ những sinh hoạt hội hèmang đậm nét dân gian một ảnh hởng thật sâu sắc Thơ Hồ Xuân Hơng
Trang 3phần đó ( ý nói phần chứa đựng yếu tố tục) là sự đột nhập của nền văn hoádân gian Việt Nam thời trung cổ không đợc thừa nhận vào lĩnh vực nghệthuật thơ ca cao cấp Nh vậy thì không có cái gì gọi là tục nh ta quan niệmnữa Nó chính là sự sống gốc nguồn và cuộc sống trần tục Nhìn thân thểngời phụ nữ mà thành "đèo Ba Dội", nhìn cái riêng của phụ nữ thành "cáiquạt", "cái giếng", "hang Cắc Cớ" thì đó là "vật chất xác thịt đợc khuyếch
đại đến mức khổng lồ" tựa thần thoại về nòi giống nh Ông Đùng Bà Đà, TứTợng, Nữ Oa mà thôi, bởi đó là hình ảnh của tập thể nhân dân luôn luônphát triển và luôn luôn đổi mới"( Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hơng - trang 31)
Nh vậy, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra những yếu tố dân gian in đậmtrong nội dung thơ Hồ Xuân Hơng Nhng quan trọng hơn là họ đã phát hiện
ra sự kế thừa và sáng tạo độc đáo riêng của nữ sĩ trong quá trình tiếp thu vàphát triển Chính điều này đã làm nên phong cách nghệ thuật của "Bà chúathơ Nôm"
* Nghệ thuật đậm chất dân gian
Nghệ thuật thơ Hồ Xuân Hơng đã đợc rất nhiều nhà nghiên cứu dàycông tìm hiểu Trong quá trình đó họ đều thừa nhận nghệ thuật thơ bà thấm
đẫm chất dân gian Điều này đợc thể hiện ở cách dùng từ, ở hệ thống thànhngữ, tục ngữ, ca dao đợc bà vận dụng một cách hết sức tự nhiên và sáng tạo
Trong bài "Tinh thần phục hng trong thơ Hồ Xuân Hơng" bên cạnh
việc chỉ ra tinh thần, thế giới quan của văn hoá dân gian trong nội dung thơXuân Hơng, tác giả Tam Vị còn khẳng định nghệ thuật thơ của nữ sĩ họ Hồcũng nh đợc tắm trong cái nôi văn hoá dân gian Ông viết:" Hồ Xuân Hơng
đã đa vào văn học cả một vỉa ngôn ngữ trào lộng, suồng sã, dân gian "(
Hồ Xuân Hơng tác gia tác phẩm- trang361) Các phơng tiện ngôn ngữ màtác giả đề cập tới ở đây chính là : các trò nói lái, nói lỡm, đố tục giảngthanh, thậm chí cả trò nói tục, nói ngoa, chửi thề, sỉ mắng, nguyềnrủa Chính những yếu tố hình thức này đã tạo nên trong thơ bà một "tiếngcời lỡng trị" vừa chôn vùi, vừa tái sinh của văn học Phục hng Bên cạnh đó,
nó nh đa ngời đọc trở về với những sinh hoạt văn hoá dân gian- nơi nhữngngôn ngữ nh thế đợc sử dụng Và chính nó cũng tạo nên sự hấp dẫn trongthơ Xuân Hơng, làm cho thơ bà đi ngợc lại với cái phơng hớng đang ngàycàng trở nên chủ đạo và tuyệt đối hoá trong văn học thành văn là ra sức noitheo, thậm chí bắt chớc những mẫu mực văn học lớn phơng Bắc
Trang 4"Nữ sĩ bình dân" là tên bài viết của tác giả Nguyễn Hồng Phong.
Trong bài viết này bên cạnh việc chỉ ra t tởng bình dân luôn đứng về phíanhân dân của nữ sĩ, tác giả còn tìm hiểu sự thành công của thơ Hồ Xuân H-
ơng về phơng diện nghệ thuật "Sự thành công của Xuân Hơng trong nghệthuật thơ là do nơi bà đã hấp thu và phát huy đợc vốn văn nghệ dân gianphong phú Những gì là tinh tuý, là tuyệt diệu của nghệ thuật thơ Hồ XuânHơng đều liên quan đến những tinh hoa của nền văn nghệ dân gian mà thi sĩ
đã rất thấm nhuần" (Hồ Xuân Hơng tác gia tác phẩm-trang131) Tiếp đó tácgiả tìm hiểu nghệ thuật trào lộng của Xuân Hơng ở việc xây dựng hình ảnhtơng phản và lối nói ám dụ nửa tục, nửa thanh cũng nh tìm hiểu ngôn ngữtrong thơ Hồ Xuân Hơng : "Ngôn ngữ Xuân Hơng là ngôn ngữ của tục ngữ,
ca dao, ngay cả cách nói của Xuân Hơng, lối so sánh ví von cũng là cáchnói của nhân dân qua tục ngữ, ca dao".(Hồ Xuân Hơng tác gia tác phẩm-trang 134) Xuân Hơng cũng hay dùng lối chơi chữ, lối nói lái nhằm mục
đích trào lộng hoặc mỉa mai, châm biếm; chính nó làm cho câu thơ trở nênduyên dáng vô cùng Cuối cùng Nguyễn Hồng Phong nhận định: "Thànhcông của Hồ Xuân Hơng cũng nh trờng hợp của Nguyễn Du sau này, chứng
tỏ các thiên tài lớn trớc hết là những ngời biết tiếp thu tinh tuý vốn văn hoádân gian, biết học tập và vận dụng đợc ngôn ngữ của nhân dân" (Hồ XuânHơng tác gia tác phẩm -trang 135)
Đi tìm phong cách độc đáo của Hồ Xuân Hơng tác giả Nguyễn Lộc
trong bài: "Hiện tợng thơ Hồ Xuân Hơng" khẳng định Hồ Xuân Hơng thuộc
phong cách bình dân nhng nhà thơ không tan biến trong phong cách chung
ấy mà sắc thái cá nhân rất đậm nét
Về ngôn ngữ, ông cho rằng trong văn học cổ không ai giản dị, dễhiểu và mộc mạc nh Xuân Hơng Ngôn ngữ của Xuân Hơng không khác gìngôn ngữ của ca dao, tục ngữ Đó là một ngôn ngữ thuần tuý Việt Nam.Trong kiến trúc chung của câu thơ Xuân Hơng, những yếu tố ca dao, tụcngữ đợc đặt đúng chỗ nên rất tự nhiên Nó nhuyễn vào những từ, những câukhác làm thành một thể hữu cơ thống nhất Đặc biệt "Xuân Hơng vận dụngngôn ngữ không câu nệ ở hình thức, bà có thể đa vào thơ một loạt từ ngữ
"đầu đờng xó chợ" miễn là những từ ấy nói đúng đợc đời sống tình cảm"(Hồ Xuân Hơng tác gia tác phẩm- trang 188)
Nh vậy "ngôn ngữ thơ của Xuân Hơng là ngôn ngữ đời sống đợc sửdụng một cách có nghệ thuật" (Hồ Xuân Hơng tác gia tác phẩm- trang 188)
Trang 5Nghiên cứu khuynh hớng thơ Hồ Xuân Hơng tác giả Nguyễn VănHoàn cho rằng: "Thơ Hồ Xuân Hơng nổi rõ lên khuynh hớng bình dân,khuynh hớng dân gian Điều này đợc thể hiện qua việc sử dụng ngôn ngữ,qua việc vận dụng và gia công phát triển, sáng tạo lại tục ngữ, ca dao; triệt
để lợi dụng những tính từ, trạng từ, từ lấp láy để tăng hiệu suất chính xáccho việc miêu tả".(Hồ Xuân Hơng tác gia tác phẩm trang 250)
Ông đa ra nhận xét: "Nếu nh trong lĩnh vực nội dung, chúng ta thấy sựlấn bớc, sự tấn công của khuynh hớng nhân dân đối với t tởng phong kiếnthống trị thì trong lĩnh vực hình thức, Hồ Xuân Hơng đã phát huy cao độnhững đặc sắc, những sở trờng của nghệ thuật thơ ca dân gian để hỗ trợ chovăn học "bác học" (Hồ Xuân Hơng tác gia tác phẩm- trang 250)
Đi sâu vào phân tích cách sử dụng thành ngữ và tục ngữ trong thơ HồXuân Hơng tác giả Tr ơng Xuân Tiếu đã có bài nghiên cứu: "Thành ngữ và tục ngữ tiếng Việt với thơ Nôm Đờng luật của Hồ Xuân Hơng" Tác giả
khảo sát và kết luận mật độ thành ngữ, tục ngữ trong thơ Hồ Xuân Hơng rấtcao (chiếm khoảng 30%) và phân ra làm hai loại: một loại giữ nguyên hìnhthức và một loại đợc Hồ Xuân Hơng bẻ vụn đan cài vào hệ thống ngôn ngữtác phẩm: "Hồ Xuân Hơng đã "tâm trạng hoá" thành ngữ, làm cho thànhngữ in đậm dấu ấn cá tính sáng tạo của bà" (Hồ Xuân Hơng tác gia tác
phẩm- trang 385) Ví nh trong bài thơ "Bánh trôi nớc" nhờ vận dụng thành
ngữ tiếng Việt, Hồ Xuân Hơng đã thể hiện một quan niệm tiến bộ về nữ
giới ở bài "Mời trầu" cũng nhờ sử dụng thành ngữ mà đằng sau lời mời
trầu niềm nở, thân mật ấy, còn ngân vọng một lời tỏ tình, giao duyên nồngnàn, đằm thắm của một cô gái- của một Hồ Xuân Hơng đang sống cô đơngiữa cuộc đời nhng trong lòng vẫn ấp ủ một khát khao vô cùng tốt đẹp: khátkhao trai gái hoà hợp, gắn bó, nên vợ nên chồng bởi tình yêu và bởi cả sựrun rủi của số phận
Tác giả còn phân tích và nêu lên nhiều ví dụ về cách sử dụng thànhngữ, tục ngữ độc đáo của Hồ Xuân Hơng, từ đó đi tới một nhận xét kháiquát: "Hồ Xuân Hơng là nhà thơ đã tiếp thu đến mức tối đa và vận dụng đến
độ thành thục, điêu luyện nhất những chất liệu, yếu tố của tục ngữ, thànhngữ Tiếng Việt vào cấu trúc ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm của mình
Và đây chính là một nét đặc sắc nổi bật trong thi pháp ngôn ngữ thơ Nôm
Đờng luật của Hồ Xuân Hơng" ( Hồ Xuân Hơng tác gia tác phẩm- Trang388)
Trang 6Trong chuyên mục nghiên cứu về thơ Nôm Đờng luật, tác giả LãNhâm Thìn đã có phần nghiên cứu về ngôn ngữ văn học dân gian Bằngthống kê, tác giả nhận thấy rằng thành ngữ, tục ngữ, ca dao đợc thể hiệntrong thơ Hồ Xuân Hơng có mật độ rất cao: tỉ lệ câu thơ, bài thơ có sử dụngthành ngữ, tục ngữ, ca dao là 1/28,6 câu thơ Trong khi đó ở " Quốc âm thitập" tỉ lệ là 1/79,5 ; "Bạch Vân quốc ngữ thi tập" :1/47,2 ; ở Tú Xơng là1/57,7 ; ở Nguyễn Khuyến là 1/54,4 Thơ Bà Huyện Thanh Quan thì hoàntoàn không có dấu vết nào của văn học dân gian.
Nh vậy trong các tác giả thơ Nôm Đờng luật, "Hồ Xuân Hơng là ngời
sử dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao với tỉ lệ cao nhất Hồ Xuân Hơng đúng
là thi sĩ của dân gian" (Thơ Nôm Đờng luật- trang 168)
ở Hồ Xuân Hơng, ngôn ngữ văn học dân gian không chỉ góp phầnbiểu đạt t duy, trí tuệ Việt Nam mà còn góp phần biểu đạt tình cảm, tâmhồn dân tộc Hồ Xuân Hơng cũng đã "tâm trạng hoá" thành ngữ, làm chothành ngữ in đậm dấu ấn của bà
Qua hàng loạt các công trình nghiên cứu công phu hay những bài viết
đầy tính phát hiện, các tác giả đã cho chúng ta thấy thơ Hồ Xuân Hơngkhông chỉ mang đậm tinh thần, thế giới quan của văn hoá dân gian mà hìnhthức thể hiện nó cũng giản dị, dân dã nh ca dao, tục ngữ Hồ Xuân Hơng đ-
ợc phong tặng danh hiệu "Bà chúa thơ Nôm" hay" Nữ sĩ bình dân" chínhbởi ở những bài thơ giản dị và gần gũi với quảng đại quần chúng nh thế
2 Nghiên cứu về yếu tố dân gian trong thơ Trần Tế Xơng
Các công trình nghiên cứu về ảnh hởng của văn học dân gian đối vớithơ ca Tú Xơng cũng khá công phu và tỉ mỉ
* Nội dung mang yếu tố dân gian
Các tác giả chỉ ra nội dung thơ Tú Xơng mang đậm yếu tố dân gianvì ông đã đa vào thơ mình những đề tài, những nhân vật trào phúng hay cómặt trong thơ ca dân gian Đồng thời ông cũng nhìn, cũng cảm bằng nhãnquan của dân gian trong việc phê phán, chế giễu những thói h tật xấu của xãhội
Trong bài" Nội dung thơ văn của Tú Xơng " hai tác giả Trần Thanh
Mại và Trần Tuấn Lộ chỉ ra rằng thơ Trần Tế Xơng một phần vạch bộ mặtthực của xã hội thời ông, bộ mặt của chính quyền thực dân và bù nhìn,trong đó bao gồm cả tình trạng Nho học và chế độ thi cử thở bấy giờ Để
Trang 7minh hoạ cho bản cáo trạng của mình, nhà thơ ghi lại hình ảnh của một số
đông nhân vật phản diện Một phần khác của thơ Tú Xơng dành cho nhữngvấn đề tình cảm của nhà thơ, dành cho những ngời mà nhà thơ kính phục,những bạn bè ông yêu mến, đời sống của nhân dân, quan niệm về đạo đức,
t cách, về chính nghĩa của nhà thơ
"Tú Xơng là nhà thơ lớn đã tiếp thu đợc truyền thống tốt đẹp của nềnthi ca hiện thực trào phúng của dân tộc Ông đã góp phần nâng cao nó lênhơn nữa để sử dụng nó trong việc phục vụ cuộc đấu tranh chống phong kiếnthối nát, chống sự câu kết giữa phong kiến với chủ nghĩa t bản thực dân,chống chế độ thực dân và những hậu quả của nó." (Tú Xơng tác gia tácphẩm- trang 85)
Tác giả Đỗ Đức Hiểu với bài viết "Thơ văn Tú Xơng" khái quát: "Thơ
văn Tú Xơng phản ánh cái bộ mặt xấu xa của thời đại, đồng thời cũng phản
ánh tâm sự của những ngời thất thế trớc sự xa đoạ của xã hội mới" (Tú
X-ơng tác gia tác phẩm- trang 111)
Nh vậy, các tác giả không chỉ ra một cách rõ ràng, cụ thể yếu tố dângian trong nội dung thơ Tú Xơng nhng qua hệ thống đề tài, qua cách nhìn,cách đánh giá của Tú Xơng đối với từng nhân vật và sự kiện thì có thể nhậnthấy rằng nội dung thơ ông có yếu tố dân gian khá đậm
*Nghệ thuật thơ có yếu tố dân gian
Về mặt nghệ thuật, nhiều bài viết nghiên cứu ngôn ngữ, thể thơ, hìnhtợng trong thơ ông để tìm ra mối liên hệ giữa văn học dân gian với thơ củanhà thơ sông Vị
Bài" Nghệ thuật thơ Tú Xơng " Trần Thanh Mại và Trần Tuấn Lộ tìm
hiểu ngôn ngữ thơ Tú Xơng và đa ra nhận xét: "Ngôn ngữ trong thơ văn TúXơng đợc vận dụng một cách tài tình ít có; một thành ngữ thông thờng, mộttiếng nói hàng ngày dới ngòi bút của nhà thơ trở nên có một sc sống hết sứcsinh động, kì diệu." (Tú Xơng tác gia tác phẩm-trang 116) Hơn nữa các tácgiả còn phân tích sự khéo léo của Tú Xơng trong cách đa thành ngữ, tụcngữ, ca dao vào thơ mình Cùng với lối nói lái và chơi chữ đã giúp cho thơ
Tú Xơng mang sức công kích, phê phán mạnh mẽ sâu cay Thơ Tú Xơng cósức sống lâu bền, vợt thời gian phải chăng nguyên nhân là ở chỗ ông đãbám sát nguồn gốc văn học dân gian, biết tiếp thu và phát huy truyền thốngthơ ca của dân tộc
Trang 8Tác giả Đỗ Đức Hiểu trong bài: "Thơ văn Tú Xơng" thì cho rằng thơ
Tú Xơng hấp dẫn và đợc nhân dân yêu quý là do: "Tú Xơng đã vận dụngngôn ngữ thơ ca dân tộc một cách tài tình Ông thờng dùng những tiếng lấytrong ca dao, tục ngữ, trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân"( TúXơng tác gia tác phẩm-trang 121) Ông còn khai thác thể thơ lục bát- mộtthể thơ mang đậm tính dân tộc để nói lên tâm tình, cũng nh những tình cảmthầm kín của mình
Vận dụng ngôn ngữ và thể thơ dân tộc, thơ văn Tú Xơng thật bình dị,gần gũi với đời sống của nhân dân
Trong nghệ thuật thơ ca, Tú Xơng đợc Nguyễn Công Hoan suy tôn làbậc "Thần thơ thánh chữ" Điều này đủ nói lên tài nằng ngôn ngữ của nhà
thơ đất Vị Hoàng Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Chú trong bài "Tú Xơng, nhà thơ lớn của dân tộc" thêm một lần nữa khẳng định điều đó "Tú Xơng
đã cắm thêm một cái mốc lớn trên bớc đờng phát triển nghệ thuật ngôn ngữthơ ca tiếng Việt Trong thơ Tú Xơng, ngôn ngữ của cuộc sống bình thờng,khẩu ngữ dân gian đã chiếm lĩnh thế giới nghệ thuật một cách triệt để, bềthế và vẻ vang" (Tú Xơng tác gia tác phẩm-trang 434) Tú Xơng đã kế bớcNguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hơng, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn CôngTrứ và cùng với Nguyễn Khuyến thêm một lần nữa làm tăng độ tinh tế,nhuần nhuyễn, mềm mại, biến hoá, thần diệu và tính chất dân tộc của ngônngữ thơ ca tiếng Việt
Tìm hiểu vị trí của Tú Xơng trên dòng văn học hiện thực chủ nghĩaViệt Nam, nhà nghiên cứu Đỗ Đức Dục đánh giá theo ông chính Tú Xơng
là ngời đã mở đầu cho chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học ViệtNam Bởi Tú Xơng đã khái quát hoá một xã hội, điển hình hoá một tầng lớpngời và phát triển ngôn ngữ nhân dân Ông đã đa lời ăn tiếng nói của xã hộivào trong thơ Ông đã nhập làm một ngôn ngữ văn học với ngôn ngữ thôngdụng đến nỗi nhiều câu thơ của ông trở thành lời nói cửa miệng của nhândân Tác giả so sánh ngôn ngữ thơ Tú Xơng với Hồ Xuân Hơng và đa ranhận xét: "Trớc Tú Xơng, Hồ Xuân Hơng cũng đã từng đa ngôn ngữ thôngdụng vào trong thơ nhng với Hồ Xuân Hơng mới chỉ là một phần hạn chếnhất định của đời sống Cho đến Tú Xơng thì gần nh toàn bộ đời sống xãhội đã đột nhập vào trong thơ."(Tú Xơng tác gia tác phẩm-trang 506) Điềunày làm cho mức "Việt Nam hoá" trong thơ Tú Xơng đã đạt tới độ nhuầnnhị, tự nhiên tuyệt vời, với những câu thơ chẳng khác gì văn xuôi hay lời ăntiếng nói thông thờng
Trang 9Nh vậy, dù cho có ít công trình riêng biệt nghiên cứu về chất dângian trong sáng tác của hai nhà thơ cũng nh so sánh sự giống và khác trongcách vận dụng, nhng các nhà nghiên cứu đều thống nhất ở một điểm đó làthơ Hồ Xuân Hơng và Tú Xơng rất đậm chất dân gian Hai tác giả đã tìm vềvới văn học dân gian để học tập và làm mới những chất liệu ngôn ngữ vốnquen thuộc Đọc thơ họ ta nh đợc đắm trong không khí mát lành của thơ cadân gian Nhng bên cạnh đó ta cũng thấy đợc những điểm mới mẻ và sángtạo riêng của từng tác giả Có lẽ vì thế mà sáng tác của họ đã có sức sốnglâu bền vợt thời gian.
3 Nhiệm vụ của luận văn:
Với đề tài: "Yếu tố dân gian trong thơ Nôm Hồ Xuân Hơng và Trần
Tế Xơng từ góc nhìn so sánh" luận văn nhằm hớng tới nghiên cứu các yếu
tố dân gian (chủ yếu về phơng diện hình thức nghệ thuật) trong thơ Nôm
Hồ Xuân Hơng và Trần Tế Xơng Từ những điểm chung, nét riêng, chỉ ra sự
độc đáo của từng tác giả trong việc kế thừa, tiếp thu văn hoá dân gian vàquy luật ảnh hởng chung của sự ảnh hởng qua lại giữa văn học dân gian vàvăn học viết
III Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Trang 103 Ph¬ng ph¸p liªn ngµnh v¨n ho¸ d©n gian- v¨n häc d©n gian- v¨n häc viÕt
V CÊu tróc cña luËn v¨n
Ngoµi phÇn më ®Çu, phÇn kÕt luËn, luËn v¨n gåm ba ch¬ng:
Trang 11Phần Nội dung Chơng I: So sánh yếu tố dân gian trong thơ
Hồ Xuân Hơng và Trần Tế Xơng qua đề tài
I Giới thuyết một số khái niệm
1 Yếu tố dân gian- văn hoá dân gian- văn học dân gian
a Yếu tố dân gian
b Văn hoá dân gian
"Theo đúng nghĩa văn hoá dân gian là nền văn hoá của dân chúng.Văn hoá này bao gồm cả văn hoá về vật chất và văn hoá về tinh thần Thuậtngữ quốc tế chính xác nhất mang nghĩa văn hoá dân gian là folklore Vănhoá dân gian là nền tảng của văn hoá dân tộc" ( Từ điển văn hóa dân gian-trang 120)
Nh vậy theo định nghĩa trên, văn hoá dân gian bao gồm cả văn hoávật thể và phi vật thể đợc quần chúng nhân dân sáng tác và lu truyền
c Văn học dân gian
Trong cuốn "Từ điển thuật ngữ văn học" các tác giả định nghĩa: "Vănhọc dân gian còn gọi là văn chơng (hay văn học) bình dân, văn chơngtruyền miệng hay truyền khẩu là toàn bộ những sáng tác nghệ thuật ngôn từcủa nhân dân" ( Từ điển thuật ngữ văn học- trang 404)
Văn học dân gian có nhiều đặc điểm và thuộc tính quan trọng, đángchú ý nh tính truỳên miệng, tính nguyên hợp, tính tập thể, tính vô danh trong đó tính truyền miệng đợc coi là thuộc tính quan trọng nhất, có quan
hệ nhiều nhất với các thuộc tính và đặc điểm khác của văn học dân gian
Văn học dân gian cùng với văn học viết đã góp phần tạo thành nềnvăn học của dân tộc Có mối quan hệ ảnh hởng qua lại giữa văn học dângian và văn học viết
2 Yếu tố dân gian về phơng diện nội dung và phơng diện nghệ thuật
a Yếu tố dân gian về phơng diện nội dung
Nội dung tác phẩm văn học là một thể thống nhất giữa khách quan vàchủ quan, trong đó vừa có phần nhà văn khái quát, tái hiện đời sống kháchquan vừa có phần bắt nguồn từ cảm xúc, huyết mạch, lí tởng của tác giả
Trang 12Yếu tố dân gian về phơng diện nội dung chính là những yếu tố thuộc
về đề tài, chủ đề, sự lí giải chủ đề hay cách cảm, cách nghĩ, cách nhìn nhận,
đánh giá của tác giả mang đậm chất dân gian
b Yếu tố dân gian về phơng diện hình thức
Hình thức là sự biểu hiện cuả nội dung, là cách thể hiện nội dung.Những yếu tố dân gian về phơng diện hình thức chính là những yếu tố thuộc
về thể loại, ngôn ngữ, chi tiết, hình tợng, nhân vật, kết cấu có dấu ấn củachất dân gian
II Thống kê, phân loại
1 Những bài thơ có đề tài dân gian trong thơ Hồ Xuân Hơng
+ Đề tài ng ời phụ nữ
2 Phờng lòi tói
2 Những bài thơ có đề tài dân gian trong thơ Tú Xơng
+ Đề tài về ng ời phụ nữ
Trang 14III phân tích và nhận xét
Đề tài là "yếu tố cơ bản của tác phẩm văn học" (Từ điển văn học), làmột phạm vi nhất định của cuộc sống đợc nghệ sĩ nhận thức và biểu hiệntrong tác phẩm của mình Trong quá trình sáng tác mỗi nhà văn đều lựachọn cho mình những mảng, loại đề tài riêng, qua đó chúng ta có thể hiểu
đợc phong cách, cá tính sáng tạo của nhà văn
1 Đề tài trong thơ Hồ Xuân Hơng
Đề tài trong thơ Hồ Xuân Hơng rất phong phú và đa dạng Bà viết vềthiên nhiên, về con ngời, về hiện thực cuộc sống với một niềm say mê, vớinhững phát hiện, tiếng nói mới mẻ Đằng sau mỗi hiện tợng đợc bà lựa chọnphản ánh luôn chứa đựng những bức tranh tâm trạng, những gửi gắm riêng
t của nữ sĩ Trong giới hạn của luận văn, chúng tôi chỉ tìm hiểu những đề tàichứa đựng yếu tố dân gian Nh trên đã thống kê, có bốn loại đề tài mà ở đó
ta thấy có sự tiếp nối mạch cảm hứng của văn học và văn hoá dân gian: Đềtài về ngời phụ nữ (8/48 bài= 17%); đề tài về phong tục, sinh hoạt dân gian:(4/48 bài=8%); đề tài về nhà chùa: (5/48 bài=10,4%); đề tài về ngời có học:(2/48 bài=4%)
a Đề tài ngời "có học"
Dân tộc ta là một dân tộc có truyền thống ngàn năm văn hiến và rấthiếu học Ngời có học luôn đợc xã hội trọng vọng và ca ngợi Vậy có mâuthuẫn không khi trong thơ mình Xuân Hơng lớn tiếng đả kích và bôi nhọnhững ngời "có học"? Mới nghe qua, tởng vô lí nhng kì thực lại hoàn toàn
có lí bởi chữ có học ở đây đã đợc đặt trong ngoặc kép Đó chính là nhữngcon ngời kì thực dốt nát, vô đạo đức nhng bên ngoài thì luôn tỏ ra huênhhoang, khoe mẽ Dân gian ghét cay, ghét đắng những loại ngời hợm hĩnh,ngu si và dốt nát đó Xuân Hơng đã tiếp nối truyền thống ấy, bà dựng lêntrong thơ mình chân dung những kẻ sĩ, hiền nhân quân tử thật đáng cời vớinhững bộ mặt xấu xa, nhơ nhuốc Bà gọi bọn chúng là "lũ ngẩn ngơ", "ph-ờng lòi tói" Chính tên gọi ấy đã đa những kẻ đang kiêu căng từ trên chíntầng mây xuống dới bùn đen:
"Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ
Lại đây cho chị dạy làm thơ
Ong non ngứa nọc châm hoa rữa
Dê cỏn buồn sừng húc dậu tha"
(Lũ ngẩn ngơ)
Trang 15Bà nh một ngời chị kiêu hãnh đứng xa nhìn lũ ngẩn ngơ đang múamáy thơ phú mà không khỏi tức cời Chữ "chị" đã phân biệt vị thế giữa nữ sĩvới lũ ngẩn ngơ kia "Dạy làm thơ" tức là dạy cho chữ nghĩa, vì bọn chúngtuy tỏ ra là những kẻ hay chữ nhng nào có chữ gì trong bụng Chỉ là một lũkhoe khoang ngựa non háu đá, giống nh "ong non ngứa nọc" và "dê cỏnbuồn sừng" mà thôi.
Nối tiếp mạch cảm hứng này, trong bài " Phờng lòi tói" bà một lầnnữa phanh phui những dốt nát của bọn hay chữ lỏng:
"Dắt díu nhau lên đến cửa chiền Cũng đòi học nói, nói không nên
Ai về nhắn bảo phờng lòi tói Muốn sống đem vôi quét trả đền"
( Phờng lòi tói)
Trong bức tranh này bọn chúng thật nhếch nhác Ngời có học gì màphải dắt díu nhau, phải học nói, rồi muốn nói nhng chẳng lên lời, cứ ấp a,
ấp úng giống nh một đàn thằng ngọng đứng xem chuông Dốt nát lại cònmuốn khoe chữ Thật đáng nực cời! Xuân Hơng đã lớn tiếng bảo với bọnchúng: "Muốn sống đem vôi quét trả đền"
Chỉ bằng hai bài thơ với những chân dung tiêu biểu, bộ mặt của những
kẻ tự xng là kẻ sĩ, ngời có học đã hiện ra rõ nét ở đây cũng cần hiểu rằng
Hồ Xuân Hơng không có ý định chê bai ngời học dốt mà bà chỉ giễu cợtnhững kẻ đã dốt nát nhng lại không chịu học hỏi, hay khoe mẽ mà thôi
Chân dung của những học trò thì nh thế, còn "hiền nhân quân tử" thìsao? Bằng hai câu kết trong bài thơ "Thiếu nữ ngủ ngày" bà đã chụp đợccái khoảnh khắc thể hiện rõ nét nhất bản chất của kẻ quân tử:
Trang 16dằng" đó, bà đã phơi bày rõ bộ mặt thật của quân tử, bôi nhọ vào cái danhhão ấy Thực chất bà không phê phán việc quân tử kia ngắm nhìn, chiêm ng-ỡng cái đẹp (dù cho đó là thân thể con ngời), bà chỉ cời cái hành vi lén lút,gợi cho ta nghĩ đến những chuyện xấu xa của quân tử mà thôi.
Chân dung của những hiền nhân quân tử còn đợc Xuân Hơng nhắc
đến trong bài "Đèo Ba Dội" Trớc vẻ đẹp của đèo (đèo là biểu tợng của âmvật) quân tử đã không cầm lòng cho đợc:
"Hiền nhân quân tử ai là chẳng Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo"
(Đèo Ba Dội )
Bài thơ lấp lửng hai nghĩa, nói chuyện đèo nhng đồng thời cũng ámchỉ về "cái ấy" Và nếu hiểu theo nghĩa ngầm nh cách chúng ta vẫn hiểu vềnhiều bài thơ của Xuân Hơng thì hình ảnh của kẻ hiền nhân quân tử thật
đáng buồn cời Mà hiền nhân quân tử thì "ai là chẳng" tức là cùng mộtgiuộc hết Chính điều này hạ thấp thanh danh của cả một lớp ngời tự xng làquân tử Nhng dù sao, với những lũ quân tử mê sắc dục này Xuân Hơng còn
đỡ bực mình hơn cái bọn đạo đức giả, trong bụng thì thèm muốn nhng bênngoài lại lên giọng cao ngạo không thèm nh ca dao đã tổng kết lại một câurất sâu sắc: "Ban ngày quan lớn nh thần Ban đêm quan lớn tần mần nh ma"
Nh vậy, khi viết về ngời "có học" Xuân Hơng tỏ rõ thái độ coi thờng,chế giễu Đó giống nh cái nhìn, cách đánh giá của dân gian Nhng đối vớibọn ngời này, bà chỉ bực mình mà phê phán, mỉa mai chứ không căm ghét
và có thái độ phủ định nh với lũ s sãi- kẻ khoác trên mình tấm áo cà sa, lớntiếng rêu rao là ăn chay niệm Phật nhng rồi cuối cùng tu lại chẳng trót đời
b Đề tài về nhà chùa
Nh trên đã nói, Xuân Hơng thực sự căm ghét s sãi, vì chúng đã lớntiếng tuyên bố cái chân lí phản lại tự nhiên, trái với bản chất của con ngời.Con ngời vốn đẹp hồn nhiên và cởi mở, sống chan hoà trong những niềmvui của cuộc đời Phải sống với cuộc đời trần tục, vui với những niềm vuitrần tục Hồ Xuân Hơng là nhà thơ của tình yêu và sự sống với tất cả nhữnggì tự nhiên và thuần khiết nhất nên bà cực lực phản đối những gì trái với tựnhiên Cảnh tu hành "ăn chay niệm Phật" là trái với tự nhiên rồi Hơn thếnữa, bà nhìn thấy bản chất của những kẻ tu hành này chẳng qua cũng chỉ là
Trang 17một lũ đạo đức giả Họ mặc áo cà sa, nhng lại đi đêm, ăn thịt chó Chính vìthế dù không a, không tán thành việc xuất giá đi tu nhng Xuân Hơng cũng
nh các tác giả dân gian không đả kích nhà chùa, s tăng một cách chungchung, bà chỉ hớng mũi nhọn châm biếm vào những kẻ buôn thần bánthánh, mợn danh s để làm điều xằng bậy Thử điểm qua những bài thơ màXuân Hơng viết về s sãi, nhà chùa:
"Nào nón tu lờ, nào mũ thâm
Đi đâu chẳng đội để ong châm
Đầu s há phải gì bà cốt Bá ngọ con ong bé cái nhầm"
(S bị ong châm)
"Cái kiếp tu hành nặng đá đeo
Vị gì một chút tẻo tèo teo Buồm từ cũng muốn về Tây Trúc Trái gió cho nên phải lộn lèo"
(Cái kiếp tu hành)
"Chẳng phải Ngô, chẳng phải ta
Đầu thì trọc lốc, áo không tà Oản dâng trớc mặt dăm ba phẩm Vãi nấp sau lng sáu bẩy bà Khi cảnh, khi tiu, khi chũm choẹ Giọng hì, giọng hỉ, giọng hi ha
Tu lâu có lẽ lên s cụ Ngất nghểu toà sen nọ đó mà"
Trang 18đeo" Từ hình dáng "đầu thì trọc lốc áo không tà" đến bản chất đều lố lăng,
đáng căm ghét Xuân Hơng thật độc đáo và sâu cay khi đánh đồng "đầu s"với "gì bà cốt" Chỉ bằng một hình ảnh, mà căn nguyên là do sự nhầm lẫncủa con ong, Xuân Hơng đã hạ bệ tên s nọ, làm cho ngời đọc thấy hả hê,sung sớng Bà ném ra những cái nhìn coi thờng và khinh bỉ: s cụ chỉ là kẻ tulâu, giỏi hành lạc, quen đi "đáo nơi neo", còn lũ tiểu, vãi thì cũng cùng mộtgiuộc là nguyên nhân để làm "trái gió lộn lèo" đi tất cả Xuân Hơng không
ngần ngại đa vào thơ mình những động từ mạnh: đáo, đấm, đeo, khua tang, móc kẽ, sáng banh, tra trật nó giúp gợi lên sự lờm lợm về cái xã hội nhà
Hay:
"Ai về nhắn với ông s
Đừng hơng khói nữa mà h mất đời"
Hoặc có một câu thơ mà có thể chính nó đã gợi ý cho Xuân Hơngviết về những hình ảnh con ong, đầu s và "gì bà cốt":
"Bà cốt đánh trống long bong Nhảy lên nhảy xuống con ong đốt đồ"
Dới ống kính của các tác giả dân gian những kẻ đội lốt thầy tu thật
đáng lên án Xuân Hơng đã "cảm cách cảm dân gian, nghĩ cách nghĩ dângian" (ý của nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na) để rồi từ đó dựng lên trongthơ mình những hình tợng trào phúng đặc sắc, đem lại cho ngời đọc nhữngtiếng cời hả hê
Xuân Hơng không chỉ viết về những đối tợng đáng cời với những thói
h tật xấu của họ mà bà còn có những vần thơ sâu lắng về ngời phụ nữ nhân vật mà nhà thơ luôn yêu thơng và bảo vệ
-c Đề tài ngời phụ nữ
Thơ ca dân gian đã dành một vị trí quan trọng để viết về ngời phụ nữ.Xuân Hơng cũng vậy Nh trên đã thống kê, những bài thơ viết về đề tài nàychiếm một tỉ lệ khá cao: (8/48 bài chiếm gần 17%) Điều này đủ nói lênthái độ và tình cảm mà Xuân Hơng dành cho những nhân vật phụ nữ Cókhi Xuân Hơng viết về mình, cũng có khi viết về ngời nhng bao giờ cũng
Trang 19toát lên một tinh thần lạc quan, vui tơi, khoẻ khoắn Bà tiếp thu đề tài này từdân gian nhng cách bà nhìn nhận, đánh giá về những nhân vật của mình thìkhác với các tác giả dân gian Ví nh khi viết về những ngời phụ nữ phảichịu cảnh thiệt thòi lấy chồng chung thơ ca dân gian thờng lớn tiếng phêphán ngời vợ cả:
Lấy chồng làm lẽ khổ thay
Đi cấy đi cày chị chẳng kể công Tối tối chị giữ mất chồng Chị cho manh chiếu nằm không ngoài hè
Hay:
Ngời ta đi ở có công Thân tôi làm lẽ càng trông càng buồn
Hoặc:
Thân em làm lẽ chẳng nề
Đâu nh chánh thất mà lê lên giờng
Cũng một đôi khi trách móc ngời vợ lẽ:
Gió đa bụi chuối sau hè Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ
Xuân Hơng thì khác, bà không phê phán một đối tợng nào mà thơngcảm cho thân phận của những ngời chịu cảnh chung chồng Từ những éo letrong cuộc sống tình duyên, bà thấu hiểu nỗi khổ không chỉ của ngời vợ lẽ
mà còn của cả ngời vợ cả Tình yêu vốn là một thứ tình cảm ích kỉ, nên nếu
đem chia sẻ thì dù có đợc ở vị thế cao hơn thì cũng không thể tránh khỏinhững thiệt thòi Vì vậy mà Xuân Hơng cảm thông sâu sắc Bà khái quát lạitình cảnh của họ:
Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng Chém cha cái kiếp lấy chồng chung Năm thì mời hoạ hay chăng chớ Một tháng đôi lần có cũng không
Cố đấm ăn xôi xôi lại hẩm Cầm bằng làm mớn, mớn không công Thân này ví biết dờng này nhỉ
Thà trớc thôi đành ở vậy xong
(Làm lẽ)
Đa ra hai bức tranh đối lập: Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng, XuânHơng so sánh để thấy đợc nghịch cảnh cay đắng Từ đó bật lên tiếng chửi
Trang 20đổng: "Chém cha cái kiếp lấy chồng chung" Tiếng chửi không chỉ nhằmgiải toả những bức xúc của ngời trong cuộc mà dờng nh nó hớng về phía cáixã hội bất công là nguyên nhân đa đến những cảnh ngộ dở khóc, dở cời ấy.Bất công vì nó cho phép trai đợc năm thê bẩy thiếp còn gái chính chuyênchỉ có một chồng Chính vì d luận xã hội, vì những hủ tục lạc hậu mà ngờiphụ nữ không thể tìm đợc hạnh phúc trọn vẹn cho bản thân mình Xuân H-
ơng kể lại những nỗi bất hạnh mà ngời chung chồng phải chịu: Nào là nămthì mời hoạ đợc chăng hay chớ, nào là một tháng chỉ đợc quan tâm đôi lần,nào là phải làm mớn không công biết bao nhọc nhằn đè nặng lên vai, biếtbao tủi hổ mang nặng trong lòng Họ chỉ còn biết than vãn và mơ ớc:
Thân này ví biết dờng này nhỉ Thà trớc thôi đành ở vậy xong
Nói vậy nhng ngời phụ nữ nào lại không mơ ớc có một mái ấm gia
đình, một ngời chồng và những đứa con Nên dù biết sẽ khổ, họ vẫn camchịu và chấp nhận Nói lên sự thực nghịch lí này dụng ý của Xuân Hơngmuốn chĩa mũi nhọn vào cái xã hội phong kiến cổ hủ và lạc hậu mà thôi
Cảnh chồng chung đã khổ nhng cảnh không chồng mà chửa còn tủi
hổ và đau đớn hơn bởi trong hoàn cảnh này ngời phụ nữ phải chịu những áplực và hình phạt nặng nề Xuân Hơng rất đồng cảm với những cô gái vì cả
nể để rồi bị rơi vào hoàn cảnh phải cắt tóc, cạo trọc đầu, bôi vôi đó Bà
nh một ngời chị mở lòng ra chia sẻ, an ủi, đồng thời cũng nh một trạng sbào chữa cho lỗi lầm của họ:
Cả nể cho nên sự dở dang Nỗi niềm chàng có biết chăng chàng?
Nh vậy nguyên nhân đâu phải do ngời phụ nữ này lăng loàn, h hỏng
mà chỉ là do cái tính cả nể mà thôi Cả nể tức là quá yêu, quá thơng Và nhvậy thì có gì đáng trách lắm đâu? Có trách thì chỉ nên trách ngời quân tử
mà lại giống nh Sở Khanh "rẽ dây cơng lối nào" Đứng về phía ngời phụ nữ,cũng là đứng về phía sự sống, Hồ Xuân Hơng khẳng định:
Quản bao miệng thế lời chênh lệch
Không có, nhng mà có mới ngoan
Hai câu thơ đã tiếp thu mặt tiến bộ, tiếp thu chủ nghĩa nhân đạo tronggian:
Không chồng mà chửa mới ngoan
Có chồng mà chửa thế gian sự thờng
Trang 21Từ "ngoan" trong câu thơ của Xuân Hơng cũng nh trong ca daokhông chỉ bao hàm ý khẳng định mà còn hàm cả một chút trách móc Tráchmóc một chút, vì ngời con gái cũng có lỗi là đã quá tin yêu kẻ Sở Khanh
đến nỗi quên đi cả phép tắc Nhng chủ yếu là Xuân Hơng khẳng định quyềnlàm mẹ giúp cho ngời phụ nữ lỡ làng vợt lên đợc miệng thế lời chênh lệch,vững tin hơn vào thiên chức của mình
Ngời phụ nữ trong thơ Xuân Hơng không chỉ khổ vì bị bỏ rơi, tủi hổkhi lấy chồng chung mà hơn thế nữa đôi khi còn phải chịu cảnh goá bụa Córất nhiều bài thơ Xuân Hơng viết về tình cảnh đáng thơng này Nh "Dỗ ngời
đàn bà khóc chồng"; "Bỡn bà lang khóc chồng"; "Khóc Tổng Cóc"; "Khóc
ông phủ Vĩnh Tờng" Nhng đọc lên ta không thấy buồn, bởi Xuân Hơngkhông muốn than thở bi luỵ Cuộc sống thật tơi vui, thay vì than khóc hãytìm những niềm vui, những ý nghĩa của cuộc đời Chính vì vậy mà trong thơXuân Hơng ta luôn thấy dào lên một sức sống, ngay cả khi nhân vật của bàrơi vào hoàn cảnh buồn thơng nhất
Cảm thông với những nỗi bất hạnh của ngời phụ nữ, ca ngợinhững đức tính tốt đẹp của họ, Xuân Hơng đã viết về ngời phụ nữ bằng tấtcả tấm lòng Tiếp thu mạch cảm hứng của thơ ca dân gian nhng cái tôiXuân Hơng vẫn thể hiện rõ trong từng trang thơ Nếu nh trong ca dao, tácgiả dân gian thờng để cho nhân vật hạ mình xuống bằng cách xng hô khiêmnhờng:
- Thân em nh dải lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai -Thân em nh miếng cau khô
Ngời thanh ham mỏng ngời thô ham dày
-Thân em nh hạt ma sa Hạt vào đài các, hạt ra luống cày.
Có cái gì đó thật tội nghiệp trong những câu ca về thân phận con
ng-ời Ngời phụ nữ ở vị trí khiêm nhờng nh vậy là vì họ không thể tự quyết
định đợc số phận và hạnh phúc của mình Điều này hoàn toàn phụ thuộcvào ngừời chồng của họ Xuân Hơng thì khác Bản lĩnh và cá tính của XuânHơng đã giúp bà hiểu đợc vai trò, vị thế của ngời phụ nữ Họ không để chongời ta phải thơng hại ngay cả khi rơi vào tình cảnh bi đát nhất là khôngchồng mà chửa hay chồng chết Trong thơ bà những nhân vật phụ nữ bộc
Trang 22lộ rõ cái tôi cá nhân của mình Điều này hoàn toàn mới mẻ so với ca dao.
Ví nh trong bài thơ " Mời trầu" bà viết:
Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi Này của Xuân Hơng mới quệt rồi.
(Mời trầu)
Không phải là "em" hay "thiếp" mà là cách xng tên riêng thật độc
đáo Có cái gì đó thật mạnh mẽ, táo bạo nhng cũng thật tinh tế, dịu dàngtrong hai tiếng "Xuân Hơng" Ngời đợc mời chắc sẽ không thể không ấn t-ợng với cách mời và sự tự tin đó Dù cho miếng trầu của nàng chỉ là "miếngtrầu hôi " với một "quả cau nho nhỏ" Không chỉ dũng cảm xng tên mình,
có khi Xuân Hơng còn xng chị với lũ ngời "có học" :
Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ
Lại đây cho chị dậy làm thơ
(Lũ ngẩn ngơ)
Chỉ bằng một đại từ xng hô "chị" đã cho thấy sự khác nhau về vị trí,trình độ và thế đứng Xuân Hơng đứng trên cao mà nhìn xuống lũ học tròngẩn ngơ Xng hô nh thế là ý thức hết đợc tài năng và bản lĩnh của mình Bàgọi chúng là "lũ", là "phờng" khiến cho chúng trở nên đáng khinh, đángghét hơn Không chỉ kiêu hãnh khi đứng trớc lũ học trò hay phờng lòi tói,
mà trớc quan lại hay hiền nhân quân tử Xuân Hơng cũng xng hô một cáchrất thoải mái:
Ví đây đổ phận làm trai đợc Thì sự anh hùng há bấy nhiêu
Nh vậy, Xuân Hơng đã tiếp thu văn học dân gian trong việc dựng lênnhững chân dung phụ nữ với những nỗi éo le, bất hạnh nhng khác với dângian, Xuân Hơng tìm thấy bản lĩnh, cá tính mạnh mẽ của những ngời phụnữ ấy Xuân Hơng đề cao và trân trọng những ngời vỗn dĩ "thấp cổ bé
Trang 23họng" đó, cho thấy lòng yêu thơng và tin yêu con ngời sâu sắc của bà Giản
dị, gần gũi mà độc đáo, riêng biệt; "rất dân gian mà cũng rất Xuân Hơng"
d Đề tài về phong tục, sinh hoạt dân gian.
Xuân Hơng đi đây đó nhiều, lại sống hoà mình vào cuộc sống thôn
quê nên bà rất am hiểu về phong tục cũng nh những sinh hoạt dân gian.Chính đời sống phong phú, sinh động của ngời dân đã gợi cho bà cảm hứng
để sáng tác những bài thơ rộn ràng âm thanh, sắc màu cuộc sống Điều nàykhác hẳn với nữ sĩ cùng thời Bà Huyện Thanh Quan Nếu nh Bà HuyệnThanh Quan chỉ a viết về những cảnh thiên nhiên tĩnh lặng hay những kinhthành mang đầy vẻ hoài cổ thì Xuân Hơng lại thích viết về cuộc sống vui tơivới những sinh hoạt hội hè Bà nhìn thấy trong cảnh lao động hay vui chơimột sức sống căng tràn, một niềm vui phơi phới Cách nhìn này rất giốngvới cách nhìn của tác giả dân gian Ví nh cảnh đánh đu ngày Tết đợc XuânHơng khắc hoạ lại:
Bốn cột khen ai khéo khéo trồng Ngời thì lên đánh kẻ ngồi trông Trai du gối hạc khom khom cật Gái uốn lng ong ngửa ngửa lòng Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới
Đôi hàng chân ngọc duỗi song song Chơi xuân có biết xuân chăng tá
Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không?
(Đánh đu)
Quả là một bức tranh sống động tuyệt mĩ Nó gợi ra trớc mắt ngời
đọc không khí hội hè với những trò chơi dân gian hết sức hấp dẫn của ngờidân vùng đồng bằng Bắc Bộ Trên một bãi đất rộng ngời ta nô nức chơi đu
và xem đu Sắc màu vui nhộn, trẻ trung từ những bộ trang phục rực rỡ củanhững nam thanh nữ tú làm cho ngày xuân thêm tơi tắn Không gian thậtkhoáng đạt Đất trời dào dạt sức xuân, lòng ngời phơi phới tình xuân Traithì "du gối hạc", gái thì "uốn lng ong" cùng hoà nhịp vào nhau đẩy cho cây
đu lên cao mãi Xuân Hơng đã khắc hoạ một trò chơi dân gian sống động,với những con ngời độ tuổi thanh xuân dạt dào sức trẻ Ta nh đợc trở vềnhững lễ hội dân gian từ những vần thơ của nữ sĩ
Nhân dân Việt Nam ta từ xa đã có tục ăn trầu Miếng trầu đề cao tìnhnghĩa anh em vợ chồng keo sơn, gắn bó Đó chính là một nét văn hóa riêng
Trang 24biệt và tiêu biều Xuân Hơng đã gợi lại nét văn hoá ấy trong bài thơ "Mờitrầu":
Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi Này của Xuân Hơng mới quệt rồi
Có phải duyên nhau thì thắm lại
Đang cơn nắng cực chửa ma tè
Rủ chị em đi tát nớc khe Lẽo đẽo chiếc gầu ba góc chụm Lênh đênh một ruộng bốn bờ be
(Tát nớc)
Hay là cảnh dệt cửu của những cô gái nơi thôn dã:
Thắp ngọn đèn lên thấy trắng phau Con cò mấp máy suốt đêm thâu Hai chân đạp xuống năng năng nhắc Một suốt đâm ngang thích thích mau
(Dệt cửi)
Có những lớp nghĩa ngầm ở những bài thơ này Nhng trớc hết nó vẫn
là những bức tranh về cảnh lao động tự nhiên và quen thuộc Xuân Hơnggợi tả thật chính xác, sinh động Nó giúp ta nh đợc trở về với làng quê, vớinhững con ngời chân chất, giản dị, cùng tình yêu, niềm say mê cuộc sốngcủa họ Tinh thần lạc quan là điểm hấp dẫn trong thơ nữ sĩ
Đề tài trong thơ Hồ Xuân Hơng thật bình dị Không phải là tùng, cúc,trúc, mai hay những gì cao quý mà là những con ngời, cuộc sống quanh bà.Qua đó Xuân Hơng thể hiện thái độ khen, chê rõ rệt Bà yêu thơng, nâng niunhững con ngời bất hạnh, đặc biệt là ngời phụ nữ; bà chế giễu và căm ghétnhững kẻ hiền nhân quân tử, s sãi với thói đạo đức giả và sự ngu dốt Bà vuisay với những sinh hoạt của ngời dân cũng nh những trò chơi lễ hội vui nhộn
Trang 25của họ Có sự gặp gỡ giữa Hồ Xuân Hơng với các tác giả dân gian trong cáchnhìn, cách cảm, cách đánh giá Nhng cũng có sự khác biệt- đó là nơi cá tính
và phong cách nhà thơ đợc thể hiện rõ nhất
Bên trên chúng tôi tìm hiểu hệ thống đề tài trong thơ "Bà chúa thơ Nôm",còn với nhà thơ thành Nam- Tú Xơng thì sao? Có gì giống và khác nhau trongnhững mảng đề tài tiêu biểu mang đậm chất dân gian của hai nhà thơ này?
2 Đề tài trong thơ Trần Tế Xơng
Tú Xơng sinh sau Hồ Xuân Hơng khoảng một thế kỉ Ông sống vàonhững thập niên cuối cùng của thế kỉ XIX, khi thực dân Pháp cơ bản đãbình định xong toàn cõi Việt Nam Sự thống trị của thực dân đã dẫn đếnnhiều thay đổi Trớc hết là lối sống với những trò lố lăng của xã hội ngangnhiên diễn ra trong buổi Tây Tầu lẫn lộn đó Rồi đến văn hoá, đạo đức Sống trong một thời đại đầy bão táp với những chuyển biến dữ dội nh thế
Tú Xơng có một đôi mắt nhìn và một tinh thần khác với các nhà nho phongkiến Điều này ảnh hởng tới cảm hứng thơ cũng nh chi phối hệ thống đề tàicủa ông Bên cạnh việc tiếp nối những đề tài vốn đã quen thuộc của thơ cadân gian ông còn có những đề tài nóng hổi tính thời sự, phản ánh thời cuộc
đảo điên trong xã hội thực dân nửa phong kiến Trong giới hạn của luậnvăn, chúng tôi chỉ đi sâu tìm hiểu những đề tài có yếu tố dân gian trong thơ
ông Nh trên đã thống kê, đó là đề tài về ngời phụ nữ, đề tài về quan lạiphong kiến
a Đề tài về ngời phụ nữ
Cũng giống nh Hồ Xuân Hơng ngời phụ nữ có vị trí khá đặc biệttrong thơ Trần Tế Xơng Ông viết về vợ mình, về những ngời xung quanhcuộc sống của mình với nhiều thái độ và cung bậc tình cảm khác nhau Cóngời thì ông đề cao, trân trọng, yêu thơng, nhng cũng có ngời thì ông lên án
và phê phán Về kiểu ngời thứ nhất, tiêu biểu là nhân vật bà Tú- vợ của nhàthơ Viết về vợ trong văn học thật hiếm, ca ngợi vợ mình với niềm trântrọng và yêu thơng hết mực thì có lẽ càng hiếm hơn Tú Xơng đã viết về vợmình bằng tất cả tấm lòng, gan ruột Tình cảm mà ông gửi gắm nh trĩu nặngtrong từng câu thơ rất chân thành, xúc động:
Quanh năm buôn bán ở mom sông Nuôi đủ năm con với một chồng Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nớc buổi đò đông Một duyên hai nợ âu đành phận
Trang 26Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
đặc biệt Tú Xơng ca ngợi vợ nhng cũng là cách để tự trách mình- trụ cộttrong gia đình mà lại thành gánh nặng cho vợ Hình ảnh bà Tú trong bàithơ hiện lên thật đẹp Đẹp trong sự tảo tần, trong sự hi sinh Đó chính là vẻ
đẹp truyền thống của ngời phụ nữ Việt Nam mà thơ ca dân gian đã nhiềulần đề cập đến
Tú Xơng thơng vợ, cảm phục vợ, vì thế ngay cả khi bà Tú còn sống
ông vẫn làm một bài văn tế sống để đề cao công lao của bà Hình ảnh bà Tútrong bài văn tế đợc khắc hoạ rõ nét từ hình dáng đến tính cách, cả cái tínhhay lam, hay làm:
Mặt nhẵn nhụi, chân tay trắng trẻo, ai dám chê rằng béo hay gầy Ngời ung dung tính hạnh khoan hoà, chỉ một nỗi hay gàn hay dở
Đầu sông bãi bến, đua tài buôn chín bán mời
Trong họ ngoài làng, vụng lẽ chào rơi nói thợ
(Văn tế sống vợ)
Trong lịch sử văn học, chắc chỉ có Tú Xơng làm văn tế sống vợ mình.Cách bày tỏ tình cảm của Tú Xơng thật độc đáo Bằng những lời lẽ thốngthiết của thể loại văn tế ông vừa khắc hoạ đợc hình ảnh của bà Tú, vừa thểhiện đợc sự yêu thơng, trân trọng của mình
Trang 27Không chỉ viết về vợ mình với tất cả tấm lòng, Tú Xơng còn dànhtình cảm, sự cảm thông cho những cô gái chịu cảnh thiệt thòi trong xã hội.Trong bài thơ "Lấy lẽ" ông viết:
Cha kiếp sinh ra phận má hồng Khéo thay một nỗi lấy chồng chung Mời đêm chị giữ mời đêm cả
Suốt tháng em nằm suốt tháng không Hầu hạ đã cam phần cát luỹ
Là một nhà thơ có trái tim nhân hậu, Tú Xơng còn thơng cảm nhữngcô gái bán hoa với nỗi nhọc nhằn về thể xác và ê chề về tâm hồn vì cuộc musinh Nhất là trong những ngày Tết, tình cảnh của các cô thật đáng buồnbiết bao:
Chị hỡi chị, năm nay túng lắm Biết làm sao Tết đến nơi rồi
Trang 28-Gái đâu có gái lạ đời Chỉ trừ có một ông trời không chim
- Vắng chồng thì lại có chồng Tội gì mà chịu nằm không một mình
Tú Xơng khắc hoạ đậm nét thêm những tính xấu của những ngời đàn
bà trong xã hội ông Không chỉ để phê phán họ mà còn để cảnh tỉnh thói
đời, với sự tha hoá xuống cấp của đạo đức, nhân phẩm Điều này khác với
Hồ Xuân Hơng, trong thơ bà ngời phụ nữ bao giờ cũng đẹp, đáng trântrọng, nâng niu Nguyên nhân là do Tú Xơng sống trong thời đại mà nhữnggiá trị văn hoá truyền thống đang bị lung lay, xáo trộn và thay đổi Trongmôi trờng ấy ngời ta dễ đánh mất mình Tú Xơng nhắc đến một số chândung tiêu biểu Trớc hết là cô gái đĩ "thật gớm ghê":
Ra tuồng gái goá khi còn trẻ
Nh chuyện chồng xa lúc chửa về Nói nói cời cời theo gọng tỉnh Khăn khăn áo áo giữ màu quê
(Chế gái đĩ)
Nhà thơ thực sự bất bình với thái độ giả dối của kẻ: "bề ngoài có vẻngây thơ, chung thuỷ làm cho ngời khờ khạo đắm say nhng thực ra lại đangời cửa trớc, rớc ngời cửa sau"
Những cô gái đĩ giả dối và đĩ thoã còn cớ để ta hiểu và thông cảm,nhng ngay cả những đức bà lên mặt phu nhân, hay những cô mang danhchính chuyên cũng đĩ thoã chẳng kém Hãy xem ông miêu tả về nhữngmệnh phụ phu nhân:
Tráp tròn sơn đỏ bà quyết theo trai
(Để vợ chơi nhăng)
Hoặc những ngời đàn bà goá đi dan díu cả với ngời tài phú của mìnhkhiến nhà thơ phải thốt lên kinh ngạc:
Trang 29Con ngời nh thế mà nh thế
Nh thế thì ra nghĩ cũng xằng
(Gái góa nhà giầu)
Chứa ai chẳng chứa chứa thằng Cuội Tôi gớm gan cho cái chị Hằng
(Chị Hằng thằng Cuội)
Còn rất nhiều chân dung những ngời đàn bà tha hoá đạo đức, nhâncách nh thế nh những ả gái buôn hay những kẻ tham tiền, tham vị Cáinhìn bao quát và sâu sắc của Tú Xơng đã giúp cho hình tợng thơ ông sống
động, chân thực hơn Nối tiếp nguồn đề tài của thơ ca dân gian nhng cảmquan hiện thực đã chi phối trong cách nhìn, cách nghĩ, giúp ông xây dựngnhững nhân vật phụ nữ khá điển hình cho xã hội thời ông
So sánh với đề tài ngời phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hơng ta nhận thấy
điểm giống nhau của hai nhà thơ ở mảng đề tài chung này là họ đều ca ngợi
vẻ đẹp từ hình thức tới tâm hồn của những ngời phụ nữ chân chính Nếu ởXuân Hơng bà chú ý tới vẻ đẹp của cá tính mạnh mẽ thì ở Tú Xơng ôngquan tâm đến sự hi sinh thầm lặng Điểm khác nhau là nếu ở trong thơXuân Hơng những ngời phụ nữ bao giờ cũng đẹp dù vẻ đẹp ấy ít nhiều cònmang tính trừu tợng thì ở thơ Tú Xơng ngời phụ nữ đã đợc khắc hoạ trongcái nhìn đa diện, cả tốt lẫn xấu Đặc biệt họ hiện lên khá chân thực và cụthể, đó là những con ngời có tên tuổi và quê quán, thật nh trong đời thờng
b Đề tài quan lại
Có thể nói đây là mảng đề tài đợc Tú Xơng đặc biệt chú ý Chính vìthế mà số lợng bài thơ ông viết về quan lại chiếm tới 25% trong tổng số thơcủa ông:( 28/151 bài ) Quan lại vốn là một đối tợng mà dân gian ta haynhắc tới để châm biếm, đả kích Chúng ta đã rất quen thuộc với những câu
ca dao nh:
Ban ngày quan lớn nh thần Ban đêm quan lớn tần mần nh ma Ban ngày quan lớn nh cha Ban đêm quan lớn rầy rà nh con
Hay nh những câu ca dao phê phán thói hợm hĩnh:
Cậu cai nón dấu lông gà Ngón tay đeo nhẫn mặn mà dơng oai
Ba năm đợc một chuyến sai
Trang 30áo ngắn đi mợn quần dài đi thuê
Có khi dân gian lại đả kích sự dâm đãng, mất nhân cách của bọnchúng:
Em là con gái đồng trinh
Em đi bán rợu qua dinh ông Nghè
Ông Nghè cho lính ra ve
- Trăm lạy ông Nghè em đã có con
- Có con thì mặc có con Thắt lng cho tròn mà lấy chồng quan
Rồi thói tham lam, chỉ biết vơ vét về mình:
Chơi với quan viên Kẻ Vẽ Không còn bát mẻ mà ăn
Nh vậy qua lăng kính của các tác giả dân gian, quan lại chỉ là một
lũ háo sắc, háo danh, tham lam và ngu dốt Cha ông ta đã lên án những
kẻ nh thế không tiếc lời Nối tiếp mạch cảm hứng đó, Tú X ơng đã mởmột phòng tranh triển lãm, ở đó có rất nhiều bộ mặt quan tham, nhng bộmặt nào cũng xấu xa, gớm giếc Chúng ta hãy thử xem l ớt qua phòngtranh của ông Đầu tiên ta sẽ gặp ông đốc học dốt nát nh ng lại rất ham
Rồi thì ông huyện mà lại mù chữ:
Chẳng hay gian dối vì đâu vậy
Đ.mẹ thằng ông biết chữ gì
(Chế ông huyện)
Ông ấm không ra ấm mà lại ra nồi:
ấm không ra ấm ấm ra nồi
ấm chạy loăng quăng ấm chẳng ngồi
(Bỡn ông ấm Điềm)
Ông đồ thì thực chất là thằng bán sắt với hình dáng thật đáng ghê:
Hỏi ra mới biết thằng bán sắt Mũi nó gồ gồ trán nó giô
Trang 31(Giễu ông đồ Bốn ở phố hàng Sắt) Ông cử Nhu thì vừa dốt lại vừa ngu:
Thi khảo khoa này bác cử Nhu Thật là vừa dốt lại vừa ngu
(Ông cử Nhu)Còn biết bao những ông quan khác nh ông tiến sĩ với lối văn đánggớm: "Nghe văn mà gớm cho ông mãi" hay những ông quan từ mặt mũi đếnnhân cách đều xấu xa: "Thành thì đen kịt đốc thì lang", những chú Hàn quádốt nhng lại đậu đợc là do lạy lục xin xỏ: "Đậu lạy quan xin nọ chú Hàn" Mỗi chân dung quan Tú Xơng chỉ vẽ bằng một nét tiêu biểu nhng cũng đủvùi chúng xuống bùn đen Tú Xơng khách quan miêu tả nhng nhiều lúc ôngkhông nén nổi cảm xúc của mình Cái tôi chủ quan đợc thể hiện cũng khá
rõ Ông chế (Chế ông đốc học, Chế ông huyện); ông đùa (Đùa ông phủ,
Đùa ông Hàn); ông giễu: (Giễu ông đội, Giễu ông đồ Bốn ở phố hàng Sắt );
ông bỡn (Bỡn ông ấm Điềm); ông c ời : (Cời ông Hàn); ông chửi: (Chửi cậuấm) Mỗi loại quan ông lại có thái độ khác nhau, có khi chỉ giễu đùa chovui nh khi ông viết về ông ấm Điềm nhng đa phần là khinh ghét, căm tức
So sánh với thơ Xuân Hơng, nếu nh Xuân Hơng chỉ chú ý và có thái độ giễucợt đối với bọn học trò và hiền nhân quân tử thì Tú Xơng đã đi sâu hơn vàoxã hội quan lại để phanh phui ra những thói h tật xấu của bọn chúng Tú X-
ơng không sợ sệt hay nể vì, ông thẳng thắn tố cáo và bày tỏ quan điểmkhinh ghét của mình Cha bao giờ ngời ta lại thấy trong thơ chân dung quanlại đông đúc nh thế Tất cả đều lố nhố, lố lăng, đáng ghét Nào là quan ta,nào là quan Tây nhng chúng nào có khác gì nhau Đều là những kẻ ngu dốt,tham lam, giỏi bịp bợm Viết về đề tài này thơ ông "choang choang nhữngtiếng tả thực" bởi chỉ có tả thực mới lột tả hết đợc tận cùng bản chất cũng
nh những thói h tật xấu
Tiếp nối dòng thơ trào phúng về những đối tợng quan lại phong kiến,thơ Trần Tế Xơng đã đi gần với ca dao Nhng nét độc đáo của Tú Xơngchính là ông đã điển hình hoá những bộ mặt quan lại mang đậm dấu ấn củathời đại ông
So sánh với Xuân Hơng, Tú Xơng giống Xuân Hơng trong cái nhìn
có tính phê phán đối với những kẻ có quyền nhng lại ngu si, dốt nát trongxã hội Nhng nếu Hồ Xuân Hơng chỉ dừng lại ở mức chế bọn ngời có học,bọn quân tử, thì Tú Xơng ông đã đi xa hơn, vào thẳng xào huyệt của bọnquan lại phong kiến để phanh phui những thói tật của bọn chúng Thái độ
Trang 32của Tú Xơng cũng mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn Nguyên nhân có lẽ do thời
đại ông bộ mặt quan lại đã tha hoá biến chất đến cực độ Nên ngời có lơngtâm và phẩm giá nh Tú Xơng không thể làm ngơ, để cho lũ hống hách ấylộng quyền đợc Ông viết những bài thơ trào phúng nh những lỡi dao láchvào trúng tim đen của những kẻ quan tham
c Đề tài về hiện thực thói đời
Nh trên đã nhắc đến thời đại Tú Xơng là thời đại cũ- mới, Tây- ta lẫnlộn Xã hội cũ thì đang tàn với những con ngời nghèo khổ, băn khoăn, uất
ức Xã hội mới với những con ngời lố lăng, giả dối không còn chút lơngtâm, chỉ biết có tiền, ngoi lên địa vị thống trị Thơ văn Tú Xơng phản ánh
bộ mặt thật của thời đại, đồng thời cũng phản ánh tâm sự của những ngờithất thế trớc sự xa đoạ của xã hội mới đó Không những nhận xét thật sâusắc những sự việc, ông còn vạch ra đợc cả những mu mô, thủ đoạn và lộttrần đợc cái tâm lí xấu xa của những hạng ngời ông đả kích
Ông viết về hiện thực xã hội, về thói đời đảo lộn kèm theo những tâm
sự uất ức của mình:
Ngời bảo ông điên ông chẳng điên
Ông thơng ông tiếc hoá ông phiền
Kẻ yêu ngời ghét hay vì chữ
Đứa trọng thằng khinh chỉ vì tiền
(Thói đời)
Một ngời có t cách, có đạo đức nh Tú Xơng làm sao mà không phiềnmuộn, buồn rầu trớc những cảnh lố lăng đang diễn ra trớc mắt Hãy xem TúXơng miêu tả lại Trớc hết là cảnh lộn xộn trong gia đình:
Nhà kia lỗi phép con khinh bố
Mụ nọ chanh chua vợ chửa chồng
(Đất Vị Hoàng)
Con không còn kính cha, vợ không còn trọng chồng, tất cả truyềnthống tốt đẹp vốn có ngàn đời của dân tộc ta nay bị đảo lộn tùng phèo Nhàthơ nhìn cảnh đó mà chua chát Nhng nó vẫn cứ hàng ngày diễn ra, mà đâuchỉ trong một gia đình Nhà thơ còn chứng kiến những cảnh chồng chung
vợ chạ thật đáng phê phán:
Chồng chung vợ chạ kìa cô Bố
Đậu lạy quan xin nọ chú Hàn
(Phố hàng Song)
Trang 33Không riêng gì "cô Bố" mà ngay cả những đức bà vốn có tiếng là
"tiết hạnh khả phong" cũng lăng loàn, đĩ thoã không kém:
Tráp tròn sơn đỏ bà quyết theo trai
Đôi đức bà lên mặt phu nhân, ngón đĩ thoã bà nào cũng nhất
(Kể lai lịch)Nhất bởi vì các bà không thể kém chị, kém em trong cái khoản ănchơi này đợc Một bà mợn cớ lễ chùa để dan díu với s Một bà lấy cớ buônbán để tằng tịu với lái thuyền Vậy mà các bà vẫn nghênh ngang, ra vẻ ta
đây là ngời trinh thục Thật đáng nực cời thay!
Không những cảnh chung chạ diễn ra nhan nhản ngoài đờng mà ngaytrong khuôn khổ gia đình, nó cũng len lỏi vào Sự ham mê nhục dục dẫn
đến sự loạn luân mất nhân cách Tú Xơng nhìn cảnh con rể t thông với mẹ
vợ mà buồn, mà tức:
Ai về nhắn bảo việc này cho Nhắn bảo ai rằng việc nhỡ to Chép miệng bà nuôi to cái dại Phờ râu ông rể ẵm con so Cắm sào sâu quá nên thêm khổ Néo chặt dây vào hoá phải lo
(Mẹ vợ với chàng rể)Tình cảnh dở khóc, dở cời đó đã cho thấy bộ mặt đạo đức thật của xãhội Toàn những con ngời tha hoá với những lối sống tha hoá Con không racon, mẹ chẳng ra mẹ, vợ chẳng ra vợ, chồng chẳng ra chồng tất cả nhốnnháo, tất cả đảo lộn Trong phạm vi gia đình thì nh thế, còn ngoài xã hội thìsao? Quả là một bức tranh rộng lớn hơn, nơi đó cũng diễn ra nhiều trò lố lănghơn Đó là cảnh ngời ta coi nhẹ, đánh đổi tất cả chỉ vì tiền:
Kẻ yêu ngời ghét hay gì chứ
đứa trọng thằng khinh chỉ vì tiền
Trang 34Ngời với ngời thì cạn tàu ráo máng với nhau nh vậy, còn ở chốn quantrờng thì sao? Quan lại chỉ là một bọn "phờng nhơ", quanh năm đi "hót củatrời" tức là đi vơ vét của cải của nhân dân để làm đầy túi mình:
Nó rủ nhau đi hót của trời
Đang khi trời ngủ của trời rơi Hót mau kẻo nữa kinh trời dậy Trời dậy thì bay chết bỏ đời
(Hót của trời)Hoặc là đi lạy lục xin xỏ để đợc thăng quan tiến chức: "Đậu lạy quanxin nọ chú Hàn"
Trong xã hội ấy liệu có nơi nào còn kỉ cơng phép tắc? Nhà chùa vốn
là nơi linh thiêng, nơi ngời tu hành ăn chay niệm phật và làm điều thiện, cóthể nơi này còn tốt đẹp chăng? Nhng hỡi ôi, sự tha hoá đã tràn cả vào nơicúng lễ linh thiêng đó S sãi thì thông dâm với nhau Nhà chùa biến thànhnơi hành lạc của những kẻ "từ bi":
Một thằng trọc tếch ngồi khua mõ Hai ả lng tròn đứng múa bông Thấp thoáng bên đèn bên bóng cậu Thớt tha dới trớng nguýt s ông Chị em thủ thỉ đêm thanh vắng Chẳng sớng gì hơn lúc thợng đồng
(Ông s và mấy ả lên đồng)Chỉ bằng một vài chi tiết, Tú Xơng đã cho chúng ta hiểu rõ hơn về toàncảnh xã hội Trong gia đình thì cha con, vợ chồng chẳng tốt với nhau, cảnhchồng chung vợ chạ, đàng điếm diễn ra nhan nhản, ngoài xã hội thì ngời với ng-
ời coi nhau nh cỏ rác, quan lại thì tham lam, nhà chùa thì thành nơi hú hí của ssãi Sự tha hoá đạo đức diễn ra từ cá nhân tới từng gia đình và toàn xã hội Cảmột bầu không khí ô nhiễm Chính điều này làm cho một ngời có nhân cách
nh Tú Xơng phải thốt lên những câu thơ với niềm đau nhói:
Muốn mù trời chẳng cho mù nhỉ?
Dơng mắt trông chi buổi bạc tình
(Đau mắt)Hiện thực thói đời trong thời đại Tú Xơng là thế Nhà thơ đã đa nóvào thơ chân thực và sống động, để gióng lên hồi chuông cảnh báo về sựxuống dốc của đạo đức, nhân phẩm con ngời
Trang 35Tiếp nối mạch đề tài của thơ ca dân gian, Tú Xơng phát triển và biểuhiện nó bằng một cảm quan hiện thực sắc bén Đó là nét khác biệt với thơ
bà chúa thơ Nôm vì trong thơ bà ta không thấy có sự xuất hiện của mảng đềtài mang đậm chất hiện thực này Có lẽ do thời bà không có quá nhiều cảnhchớng tai gai mắt nh ở thời đại Tú Xơng Và có lẽ bà cũng không phải chịuquá nhiều bất công ngang trái do cái hiện thực ấy mang lại nh Tú Xơng
Nh vậy hệ thống đề tài trong thơ Trần Tế Xơng khá phong phú và đadạng ở những đề tài tiêu biểu ta thấy có sự bắt mạch với nguồn đề tài củathơ ca dân gian Nhng nó vẫn có những nét mới mẻ mang hơi thở của thời
đại và cá tính sáng tạo của tác giả Nhân dân yêu mến thơ ông bởi họ tìmthấy ở đó những điều mà họ quan tâm, đồng thời họ cảm thấy đợc cảmthông, chia sẻ những nỗi niềm bức xúc Thơ Tú Xơng có sức sống mãnh liệtphải chăng vì nó đậm chất dân gian và nói đợc tiếng nói tri âm đó?
kẻ sĩ và nhà chùa Nếu ở Hồ Xuân Hơng bà đặc biệt chế giễu lũ s hổ mangthì ở Tú Xơng ông quan tâm nhiều hơn đến bè lũ quan lại Cả hai tác giả đã
có những cái nhìn và phát hiện mới mẻ về những đối tợng mà mình phản
ánh Họ đứng về phía nhân dân nên cái nhìn và lập trờng của họ cũng mangtính nhân dân đậm nét Họ viết về những gì mắt thấy, tai nghe quanh mìnhbằng một cảm quan hồn nhiên, sinh động Điều này khác hẳn với các tác giavăn học trung đại cùng thời với họ Nếu nh những tác giả ấy chú ý tới những
đề tài cao quý, làm thơ để ngâm vịnh, để cùng nhau thởng ngoạn lúc trà d tửuhậu, thì Xuân Hơng và Tú Xơng lại viết về những đề tài giản dị mang đậmtính xã hội để vạch mặt, tố cáo Thơ của họ là thứ vũ khí sắc bén, là l ỡi daolách vào tim gan của những kẻ xấu xa, bỉ ổi đó
Chọn những đề tài đậm chất dân gian, họ còn giống nhau ở cái nhìn,cách đánh giá Họ đứng trên lập trờng của nhân dân để phán xét, kết luận
Điều này giúp cho thơ họ gần gũi với dân chúng, ai đọc cũng hiểu và thích
Trang 36thú Nó giải thích tại sao có hiện tợng dân gian hoá trong thơ Hồ Xuân
H-ơng và Trần Tế XH-ơng
Khơi vào nguồn đề tài của thơ ca dân gian; nhìn, cảm nhận bằng conmắt dân gian, cả hai nhà thơ đều đắm mình trong mạch nguồn của văn hoádân gian Tiếp thu nhng họ không lặp lại Họ có những sáng tạo riêng củamình Ví nh khi Hồ Xuân Hơng viết về ngời phụ nữ, bên cạnh vẻ đẹp,những cô gái của Xuân Hơng còn có bản lĩnh và cá tính mạnh mẽ Họ dũngcảm b y tỏ cảm xúc của mình, dám làm, dám chịu Đó là những nét riêng
mà những cô gái trong ca dao không có Hay nh Tú Xơng khi viết về quanlại ông không phê phán chung chung mà với mỗi nhân vật ông lại tìm ramột điểm xấu riêng và điển hình hoá nó Điều này là do hai nhà thơ đều cócá tính, phong cách riêng đậm nét
Bên cạnh điểm tơng đồng trong cách lựa chọn, biểu hiện đề tài, họcòn có những điểm khác biệt Ta có thể dễ dàng nhận thấy Tú Xơng pháttriển sâu hơn mảng đề tài hiện thực ông viết về hiện thực xã hội thời ông,với sự tha hoá, xuống cấp về đạo đức nhân phẩm của tất cả các hạng ngời vàloại ngời Từ những kẻ thị dân bình thờng đến tầng lớp quan lại Tây ta, rồi
s sãi, học trò Đối tợng phê phán, chế giễu ở thơ Hồ Xuân Hơng mới chỉ
là một số thì ở thơ Tú Xơng nó nhân lên thành vô vàn Thái độ của HồXuân Hơng chủ yếu là cời cợt và chế giễu thì của Tú Xơng là phê phán vàchửi rủa Tú Xơng không ngần ngại nói ra tất cả những gì mình nhìn, mìnhthấy mà không chút e dè
Lí giải nguyên nhân của sự khác nhau này chính là do thời đại và bảnlĩnh của mỗi nhà thơ Là một nhà thơ nữ, Xuân Hơng ít nhiều có sự mềmmỏng và tế nhị, hơn thế thời đại Xuân Hơng xã hội cha đến mức nhố nhăngvới đầy rẫy những trò kệch kỡm nh ở thời đại Tú Xơng Tú Xơng phải sống
và hít thở trong cái bầu không khí nhốn nháo, ô hợp Tây ta lẫn lộn, với sựxuống cấp, tha hoá về mọi giá trị trong đời sống Tú Xơng lại là nạn nhâncủa chế độ đó, ông trở thành một kẻ bất đắc chí, có tài mà phải ngồi một xónhìn những kẻ bất tài, tham lam, độc ác, múa may trớc mắt Bất đắc chí vớixã hội giúp ông mẫn cảm hơn với những điều chớng tai gai mắt Cả XuânHơng và Tú Xơng đều nhạo đời, cời đời, nhng tiếng cời của Tú Xơng làtiếng cời gằn, đằng sau đó ta thấy nỗi đau, thấy nớc mắt của tác giả
Tóm lại, xét về mặt đề tài cả Hồ Xuân Hơng và Trần Tế Xơng đềutiếp thu, kế thừa mạch cảm hứng, nguồn đề tài của thơ ca dân gian, nhng họ
Trang 37vẫn có những sáng tạo riêng độc đáo Đó chính là dấu ấn của cá tính, củaphong cách, giúp cho thơ họ gần ca dao mà không lẫn với ca dao.
Chơng II: So sánh yếu tố dân gian trong thơ Nôm Hồ Xuân Hơng và Trần Tế Xơng qua hình tợng nghệ
thuật
I Thống kê, phân loại
1 Những hình tợng mang đậm chất dân gian trong thơ Hồ Xuân Hơng
+ Mô típ hình t ợng từ văn học dân gian, văn hoá dân gian
Đôi gò Bồng Đảo hơng còn ngậm Một lạch Đào Nguyên suối chửa thông
(Thiếu nữ ngủ ngày)
Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình Chị cũng xinh mà em cũng xinh Hai đứa nh in tờ giấy trắng Ngàn năm còn mãi cái xuân xanh
Trang 38Cửa: (Qua cửa đó)
Giếng: ( Cầu trắng phau phau đôi ván ghép) Lỗ: (Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không)
Kẽ hầm: (Kẽ hầm rêu mốc trơ toen hoẻn)
Kẽ rêu: ( Tra trật nào ai móc kẽ rêu)
Cái quạt: (Chành ra ba góc da còn thiếu
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa)
Miệng túi: ( Miệng túi càn khôn khép lại rồi)
Cọc: ( Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không)
Hòn đá: (Đâm toạc chân mây đá mấy hòn)
Trang 39- Liên quan đến hành vi tính giao
Đánh đu: ( Trai du gối hạc khom khom cật
Gái uốn lng ong ngửa ngửa lòng)
Dệt cửi: ( Hai chân đạp xuống năng năng nhắc
Một suốt đâm ngang thích thích mau)
Đánh trống: ( Ngày vắng đập tung dăm bẩy chiếc
Đêm thanh đánh lộn một đôi hồi
Khi giang thẳng cánh bù khi cúi
Chíên đứng không thôi lại chiến ngồi)
Châm: ( Ong non ngứa nọc châm hoa rữa)
Húc: (Dê cỏn buồn sừng húc giậu tha)
Trèo: ( Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo)
- Liên quan đến thân thể phụ nữ:
Bánh trôi: ( Thân em vừa trắng lại vừa tròn)
Quả mít: ( Thân em nh quả mít trên cây
Vỏ nó sù sì múi nó dầy)
Mặt trăng: (Đêm vắng cớ chi phô tuyết trắng
Ngày xanh sao để tạnh lòng son)
Bồng đảo: ( Đôi gò bồng đảo sơng còn ngậm)
Nơng long: ( Yếm đào trễ xuống dới nơng long)
Lng ong: ( Gái uốn lng ong ngửa ngửa lòng)
Mông đít: ( Nhấp nhổm bên nghềnh đít vắt ve)
2 Những hình tợng mang đậm chất dân gian trong thơ Tú Xơng
- Hình t ợng nghệ thuật từ văn học dân gian, văn hoá dân gian
(Tú Tây Hồ, đồ Xuân Dục)
Nó rủ nhau đi hót của trời
Đang khi trời ngủ của trời rơi
(Hót của trời)
Ông mà giữ tính kiêu kỳ mãi
Trang 40Huấn đạo nh ông huấn đạo gìa
2 Gìa chơi trống bỏi
3 Anh kiệt chơi hoang