BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ NGỌC CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình từ các cơ quan, tổ chức và cá nhân Nhân đây, tôi xin gửi lời cảm
ơn sâu sắc lòng biết ơn chân thành đến các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện và giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh cùng tập thể các thầy cô giáo, những người đã trang
bị kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Lê Thị Tuyết Hoa người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu và hoàn thiện đề tài
Do thời gian nghiên cứu và kiến thức còn hạn chế, luận văn được hoàn thiện không thể tránh khỏi những sơ suất thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến
của các thầy cô giáo cùng các bạn
Xin chân thành cảm ơn!
, ngày tháng năm 2018
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trang 4MỤC LỤC
MỤC LỤC iii
DANH MỤC KÝ HIỆU, VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG, HÌNH VẼ vii
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Muc tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Phương pháp nghiên cứu 3
1.6 Nội dung nghiên cứu 4
1.7 Đóng góp của đề tài 5
1.8 Kết cấu đề tài nghiên cứu 5
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 6
2.1 Tổng quan về cấu trúc vốn của ngân hàng thương mại 6
2.1.1 Khái niệm về cấu trúc vốn của ngân hàng thương mại 6
2.1.2 Các thành phần cấu trúc vốn của ngân hàng thương mại 8
2.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá cấu trúc vốn của ngân hàng thương mại 8
2.1.4 Cấu trúc vốn tối ưu 13
2.2 Các lý thuyết về cấu trúc vốn 15
2.2.1 Lý thuyết cấu trúc vốn không liên quan đến giá trị doanh nghiệp (mô hình MM không có thuế) 15
2.2.2 Lý thuyết cấu trúc vôn có liên quan đến giá trị doanh nghiệp (trường hợp có thuế) 19
2.2.3 Lý thuyết đánh đổi (Trade off theory) 21
2.2.4 Lý thuyết trật tự ưu tiên (thông tin bất cân xứng) 23
2.3 Các nghiên cứu thực nghiệm 25
2.3.1 Các nghiên cứu nước ngoài 25
2.3.2 Các nghiên cứu trong nước 28
2.3.3 Khoảng trống nghiên cứu 30
2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của ngân hàng thương mại 31
Trang 52.4.1 Các nhân tố bên trong 31
2.4.2 Các nhân tố bên ngoài 34
Kết luận chương 2 37
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 39
3.1 Mô hình nghiên cứu 39
3.1.1 Mô hình đề xuất 39
3.1.2 Mô tả các biến trong mô hình 40
3.1.2.2 Biến phụ thuộc 40
3.1.2.1 Biến độc lập 40
3.1.3 Giả thuyết nghiên cứu 42
3.2 Phương pháp nghiên cứu 44
3.2.1 Dữ liệu nghiên cứu 44
3.2.2 Quy mô mẫu nghiên cứu 45
3.2.3 Thu thập dữ liệu và nguồn tài liệu 46
3.2.4 Phương pháp phân tích 46
3.2.4.1 Phân tích định tính 46
3.2.4.1 Phân tích định lượng 46
Kết luận chương 3 48
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 49
4.1 Phân tích thực trạng cấu trúc vốn các ngân hàng TMCP tại Việt Nam từ năm 2009-2017 49
4.2 Phân tích kết quả hồi quy 53
4.2.1 Thống kê cơ bản 53
4.2.2 Phân tích tương quan giữa các biến 55
4.2.3 Lựa chọn mô hình hồi quy 56
4.3 Kiểm định kết quả mô hình 58
4.3.1 Kiểm định đa cộng tuyến 58
4 3.2 Kiểm định tương quan chuỗi 59
4.3.3 Kiểm định phương sai sai số thay đổi 59
4.3.4 Kết quả mô hình hồi quy điều chỉnh 60
4.4 Thảo luận kết quả nghiên cứu 61
Kết luận chương 4 63
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ 64
5.1 Kết luận 64
Trang 65.2 Một số khuyến nghị 67
5.2.1 Các khuyến nghị đối với ngân hàng thương mại 69
5.2.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 72
5.3 Hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu trong tương lai 74
KẾT LUẬN 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC 80
Trang 7DANH MỤC KÝ HIỆU, VIẾT TẮT
CTV Cấu trúc vốn
GDP Tốc độ tăng trưởng kinh tế
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
NHLD Ngân hàng liên doanh
NHQD Ngân hàng Quốc doanh
NHTW Ngân hàng trung ương
Trang 8DANH MỤC BẢNG, HÌNH VẼ
Bảng 3 1: Bảng tổng hợp biến và mô tả các biến 43
Bảng 4 1: Cơ cấu vốn của các ngân hàng TMCP tại Việt Nam Việt Nam từ năm 2009-2017 51
Bảng 4 2: Bảng thống kê các biến cơ bản 53
Bảng 4 3: Kiểm tra hiện tương quan giữa các biến độc lập 55
Bảng 4 4: Kết quả chạy hồi quy Pooled OLS, FEM, REM 56
Bảng 4 5: kết quả kiểm định Chow với F-test 57
Bảng 4 6: kết quả kiểm định Hausman -Test 58
Bảng 4 7: Kết quả kiểm định VIF 58
Bảng 4 8: Kết quả kiểm định hiện tượng tương quan chuỗi 59
Bảng 4 9: Kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi 60
Bảng 4 10: Kết quả ước lượng bằng phương pháp FEM với Robust 60
Hình 2 1: Minh họa mệnh đề M & M số I trong môi trường không có thuế Error! Bookmark not defined Hình 2 2: Minh họa mệnh đề M&M số II trong môi trường không có thuế 18
Hình 2 3: Minh họa mệnh đề M&M số I trong trường hợp có thuế 19
Hình 2 4: Minh họa mệnh đề M&M số II trong môi trường có thuế 20
Hình 2 5: Biểu đồ cơ cấu nguồn vốn tối ưu trong lý thuyết đánh đổi 21
Hình 4 1: Vốn chủ sở hữu của 26 NHTMCP Việt Nam trong mẫu nghiên cứu từ năm 2009-2017 ( tỷ đồng) 49
Hình 4 2: Tổng nợ của 26 NHTM Việt Nam trong mẫu nghiên cứu từ năm 2009-2017 50
Hình 4 3: Cơ cấu nợ của 26 NHTM Việt Nam trong mẫu nghiên cứu từ năm 2009-2017 50
Trang 10CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Việc hoạch định cấu trúc vốn đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc quản trị doanh nghiệp, nó góp phần tác động trực tiếp đến giá trị doanh nghiệp và
có khả năng khuyếch đại thu nhập cho chủ sở hữu doanh nghiệp Trong khi đó ngân
hàng là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh về lĩnh vực tiền tệ, sự ổn định và
phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại có ý nghĩa rất lớn đến sự phát triển
kinh tế của một quốc gia Trong giai đoạn hội nhập và phát triển kinh tế, ngân hàng
lại càng đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế của một quốc gia,
sức khỏe của một ngân hàng càng có ảnh hưởng mạnh mẽ hơn đến sức khỏe của
nền kinh tế
Trong đó, cơ cấu vốn trong ngân hàng có ảnh hưởng quyết định đến khả năng thực thi các chiến lược kinh doanh, hiệu quả kinh tế và sự phát triển bền vững
của ngân hàng Nhưng tìm được một cơ cấu vốn tối ưu không phải là chuyện dễ
dàng Một cấu trúc tài chính phù hợp có vai trò quan trọng với ngân hàng không chỉ
bởi nhu cầu tối đa lợi ích thu được từ các cá nhân, tổ chức liên quan và hoạt động
của ngân hàng, mà còn bởi tác động của quyết định này tới năng lực kinh doanh của
ngân hàng trong môi trường cạnh tranh Chính vì vậy, tìm ra các nhân tố ảnh hưởng
đến cấu trúc vốn của ngân hàng là vấn đề quan trọng, tất yếu, làm nền tảng để cho
các ngân hàng Việt Nam phát triển trong bối cảnh hội nhập hiện nay
Trên thực tế, cấu trúc vốn sẽ thay đổi tùy thuộc vào đặc điểm, tình hình của từng ngân hàng, quy mô, khả năng sinh lời, mức độ chấp nhận rủi ro của từng ngân
hàng cũng như ảnh hưởng từ sự biến động vĩ mô nền kinh tế, các yếu tố văn hóa, xã
hội Thay vì xem xét tỷ lệ vốn vay trên vốn chủ sở hữu của ngân hàng là bao nhiêu
thì tối ưu, các nhà nghiên cứu về tài chính học thường quan tâm đến cội nguồn, gốc
rễ của việc quyết định tỷ lệ đó là bao nhiêu hay nói cách khác là tìm ra những nhân
tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng vốn vay hay là sử dụng đòn bẩy tài chính của
ngân hàng Chính sự tương quan giữa các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn này,
Trang 11chúng ta có thể đánh giá được quyết định sử dụng vốn vay hoặc vốn chủ sở hữu của
ngân hàng là hợp lý hay không hợp lý, có những bất cập và rủi ro gì có thể phát sinh
để từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính, tối đa hóa giá trị tài sản cho
các ngân hàng
Về mặt học thuật, đã có khá nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước về tác động của cấu trúc vốn đến giá trị doanh nghiệp hay các nhân tố ảnh hưởng đến cấu
trúc vốn của doanh nghiệp điển hình như: Antwi và các cộng sự (2012), Cấu trúc
vốn tác động cùng chiều với giá trị doanh nghiệp; Monica Octavia và Raya Brown
(2008) hay Rient Group và Florian Heider (2009), Các quyết định trong cấu trúc
vốn của các ngân hàng; Trần Đình Khôi Nguyên (2006), Nhân tố tác động lên cấu
trúc vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam; Huỳnh Hữu Mạnh (2010),
Cấu trúc vốn của các doanh nghiệp trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM Tuy
nhiên, có khá ít nghiên cứu ở Việt Nam đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đến cấu
trúc vốn của các ngân hàng thương mại Một phần là do đặc trưng hoạt động ngân
hàng là định chế tài chính trung gian có nguồn vốn hoạt động chủ yếu là từ vốn huy
động tức là vốn nợ khác với các doanh nghiệp thông thường
Xuất phát từ lý do thực tiễn và khoa học trên, học viên chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các ngân hàng TMCP tại Việt Nam” làm luận văn tốt
Trang 12Phân tích được chiều hướng ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân
tố tới cấu trúc vốn của ngân hàng TMCP tại Việt Nam
Đánh giá được thực trạng về cấu trúc vốn của các ngân hàng TMCP tại Việt Nam
Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện cấu trúc vốn của các ngân hàng TMCP tại Việt Nam
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể của nghiên cứu, luận văn cần làm rõ các vấn đề dưới đây:
Các nhân tố nào ảnh hưởng tới cấu trúc vốn của các ngân hàng TMCP tại Việt Nam?
Chiều hướng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến cấu trúc vốn của các ngân hàng TMCP tại Việt Nam như thế nào?
Thực trạng cấu trúc vốn của các ngân hàng TMCP tại Việt Nam như thế nào?
Giải pháp gì để hoàn thiện cấu trúc vốn của các ngân hàng TMCP tại Việt Nam?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Cấu trúc vốn của các ngân hàng TMCP tại Việt Nam
và các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các ngân hàng TMCP tại Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu là 26 ngân hàng TMCP tại Việt
Nam giai đoạn từ 2009 đến 2017 với tổng cộng là 234 quan sát
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu, xác định và phân tích Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các ngân hàng TMCP tại Việt Nam, luận văn sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp thu thập và phân tích thông tin, phương pháp thống kê, tổng hợp, phương pháp so sánh – đối chiếu, phương pháp sử dụng mô hình kinh tế lượng
hồi quy tuyến tính đa biến và xử lý các thông tin thực nghiệm thu được trên mô
hình hồi quy đó
Trang 13Cụ thể, đối với các đối với các phương pháp thu thập, phương pháp thống kê, tổng hợp, phương pháp so sánh dùng để thu thập, thống kê, tổng hợp, so sánh dữ
liệu cấu trúc vốn của 26 Ngân hàng TMCP tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm
2009 đến năm 2017; phương pháp phân tích dùng để phân tích định tính các nhân tố
ảnh hưởng tới cấu trúc vốn của các ngân hàng TMCP tại Việt Nam và phân tích
thực trạng cấu trúc vốn của các ngân hàng TMCP tại Việt Nam và phương pháp
phân tích định lượng dùng để xác định chiều hướng và mức độ ảnh hưởng của từng
nhân tố đến cấu trúc vốn của các ngân hàng TMCP tại Việt Nam, đồng thời căn cứ
vào kết quả phân tích định lượng tác giả xác định được các nhân tố nào thực sự ảnh
hưởng đến cấu trúc vốn của các Ngân hàng TMCP tại Việt Nam và đưa ra giải pháp
để hoàn thiện cấu trúc vốn của các ngân hàng TMCP tại Việt Nam, từ đó trả lời được các
câu hỏi nghiên cứu và đạt được mục tiêu nghiên cứu; phương pháp đối chiếu để đối
chiếu giữa kết quả định tính và định lượng có phù hợp với nhau hay không; phương
pháp sử dụng mô hình hồi quy để xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến
cấu trúc vốn của các ngân hàng TMCP tại Việt Nam, thực hiện với sự trợ giúp phần
mềm kinh tế lượng Stata 12
1.6 Nội dung nghiên cứu
Luận văn gồm 05 chương với những nội dung cơ bản sau:
Chương 1: Trình bày tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên
cứu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu, đóng góp của đề tài Chương này cung
cấp cái nhìn tổng quan về đề tài được nghiên cứu, tạo điều kiện cho người đọc hiểu
sâu hơn các chương tiếp theo
Chương 2: Hệ thống hóa một số cơ sở lý thuyết về cấu trúc vốn, bao gồm
khái niệm, các thành phần, chỉ tiêu đánh giá và cấu trúc vốn tối ưu nhằm giúp người
đọc hiểu rõ hơn về đối tượng được nghiên cứu Ngoài ra, chương 2 cũng giới thiệu
các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước về cấu trúc vốn của các doanh
nghiệp và các ngân hàng, phương pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu Từ đó chỉ
ra các khoảng trống nghiên cứu, làm cơ sở cho việc thực hiện đề tài của luận văn
Chương 3: Tập trung đi sâu phân tích mô hình nghiên cứu, lựa chọn các
nhân tố đưa vào mô hình và phương pháp hồi quy phù hợp
Trang 14Chương 4: Trình bày thực trạng về cấu trúc vốn, tổng quan về các nhân tố
ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các ngân hàng TMCP tại Việt Nam Sau đó kiểm
định, điều chỉnh mô hình và đưa ra kết quả hồi quy chính thức của nghiên cứu Dựa
trên kết quả hồi quy ở chương 3, tác giả sẽ đi sâu phân tích, thảo luận các nhân tố
ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các ngân hàng TMCP tại Việt Nam và mức độ ảnh
hưởng của từng nhân tố tới cấu trúc vốn của các ngân hàng TMCP tại Việt Nam
Chương 5: Đưa ra kết luận và đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện
cấu trúc vốn của các ngân hàng TMCP tại Việt Nam Chương này cũng trình bày
giới hạn của luận văn và đề xuất một số hướng phát triển nghiên cứu trong tương
lai
1.7 Đóng góp của đề tài
Về mặt lý luận: đề tài bổ sung và làm sáng tỏ hơn các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các ngân hàng TMCP tại Việt Nam và mức độ ảnh hưởng của từng
nhân tố đối với các ngân hàng TMCP tại Việt Nam giai đoạn 2009-2017 Từ đó
đóng góp phát triển hệ thống lý thuyết hóa về các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn
của các ngân hàng TMCP và mức độ tác động của từng nhân tố đối với cấu trúc vốn
của các ngân hàng TMCP tại Việt Nam
Về mặt thực tiễn: làm tài liệu tham khảo cho các ngân hàng TMCP để nghiên cứu cấu trúc vốn và làm cơ sở cho hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn
1.8 Kết cấu đề tài nghiên cứu
Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và một số khuyến nghị
.
Trang 15CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN
CỨU THỰC NGHIỆM
2.1 Tổng quan về cấu trúc vốn của ngân hàng thương mại
2.1.1 Khái niệm về cấu trúc vốn của ngân hàng thương mại
Cấu trúc vốn là thành phần và tỷ trọng của từng nguồn vốn so với tổng vốn tại một thời điểm nhất định Một cấu trúc vốn hợp lý phản ánh sự kết hợp hài hòa
của các nguồn vốn riêng biệt trong điều kiện nhất định Công ty có cấu trúc vốn
hợp lý thì chi phí sử dụng vốn thấp và rủi ro ở mức có thể chấp nhận được (Bùi
Văn Vần, 2013)
Cấu trúc vốn của mỗi công ty phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: đặc điểm riêng của công ty, đặc điểm ngành nghề mà công ty hoạt động, đặc điểm của thị
trường tài chính, điều kiện kinh tế vĩ mô của mỗi quốc gia,v.v… Bên cạnh yếu tố
chung công ty còn có yếu tố riêng, nên không có cấu trúc vốn chung cho mọi công
ty Mỗi công ty sẽ có một cấu trúc vốn riêng, thậm chí trong cùng một công ty cấu
trúc vốn thay đổi trong từng giai đoạn cụ thể Vì vậy khi nghiên cứu cấu trúc vốn
của một công ty phải nghiên cứu trong trạng thái động, chứ không thể nghiên cứu
trong trạng thái tĩnh
Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và
sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện
thanh toán Như vậy có thể hiểu ngân hàng thương mại là một tổ chức tín dụng
chuyên kinh doanh tiền tệ và các hoạt động ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận (TS.Lê
Thị Tuyết Hoa, 2009)
Như vậy, qua khái niệm cơ bản, ta có thể đúc kết lại một số đặc trưng chủ yếu về ngân hàng thương mại như sau (Trần Huy Hoàng, 2011): Thứ nhất, ngân
hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp Thật vậy, ngân hàng thương mại
tồn tại mang theo những đặc trưng vốn có của doanh nghiệp: mục đích để nó ra đời
là vì kinh doanh, hoạt động là vì lợi nhuận Thêm vào đó, nó cũng có cơ cấu, tổ
chức bộ máy như một doanh nghiệp hiện hữu, cũng tự chủ về tài chính và cũng phải
Trang 16có nghĩa vụ đóng thuế cho ngân sách nhà nước Hơn nữa, cấu trúc vốn của các ngân
hàng thương mại cũng mang đôi nét tương đồng như các doanh nghiệp khác Thứ
hai, tuy mang màu sắc là một loại hình doanh nghiệp nhưng ngân hàng
thương mại lại có một sắc thái riêng – “một doanh nghiệp đặc biệt” Trên thực tế, rõ
ràng là nét đặc biệt của ngân hàng thể hiện ở lĩnh vực kinh doanh là tiền tệ, tín dụng
và dịch vụ ngân hàng Cũng là một doanh nghiệp nhưng nguồn vốn chủ yếu mà các
ngân hàng sử dụng trong kinh doanh lại là vốn huy động từ bên ngoài, trong khi vốn
riêng có của ngân hàng thì lại chiếm tỷ trọng rất thấp trong tổng nguồn vốn hoạt
động Thêm vào đó, trong tổng tài sản của ngân hàng, tài sản hữu hình chiếm tỷ lệ
không lớn, mà chủ yếu là tài sản vô hình Và một điểm vô cùng quan trọng là hoạt
động kinh doanh của ngân hàng thương mại chịu sự chi phối rất lớn bởi chính sách
tiền tệ của ngân hàng trung ương Chính vì những lý lẽ đó mà dường như ngân hàng
thương mại hiện hữu như là một hình thức doanh nghiệp đặc biệt và thường được
loại ra khỏi mẫu nghiên cứu của các công trình thực nghiệm về cấu trúc vốn của các
công ty phi tài chính.Thứ ba, ngân hàng thương mại còn được xem như là một
kênh trung gian tài chính khá năng động Quả thực, nó đóng vai trò như là một tổ
chức trung gian với chức năng tập trung, huy động các nguồn tiền nhàn rỗi tạm thời,
và rồi chuyển chúng đến những nơi thiếu và cần vốn
Vô hình trung, ngân hàng thương mại đã trở thành một mắc xích quan trọng không thể nào thiếu được trong sợi dây kết nối vận hành vòng quay sản xuất hoạt
động kinh doanh của toàn bộ nền kinh tế
Vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do bản thân ngân hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các
dịch vụ kinh doanh khác
Cấu trúc vốn của NHTM bao gồm vốn chủ sở hữu, vốn huy động, vốn đi vay
và vốn khác Mỗi loại vốn đều có tính chất và vai trò riêng trong tổng nguồn vốn
hoạt động của ngân hàng và đều có những tác động nhất định đến hoạt động kinh
doanh của NHTM
Cấu trúc vốn của ngân hàng cho biết mức độ độc lập về tài chính cũng như
xu hướng biến động của nguồn vốn huy động
Trang 17Cấu trúc vốn có ảnh hưởng quyết định đến khả năng thực thi các chiến lược kinh doanh, hiệu quả kinh tế và sự phát triển bền vững của ngân hàng Vì vậy mục
tiêu của ngân hàng là hướng đến một cấu trúc vốn tối ưu mà ở đó chi phí sử dụng
vốn bình quân nhỏ nhất và giá trị ngân hàng là lớn nhất
2.1.2 Các thành phần cấu trúc vốn của ngân hàng thương mại
Các thành phần cấu trúc vốn bao gồm:
*Vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu hay vốn tự có của NHTM là nguồn vốn riêng của ngân hàng
do chủ sở hữu đóng góp ban đầu và được bổ sung trong quá trình kinh doanh Vốn
tự có của ngân hàng được hình thành căn cứ vào hình thức tổ chức của ngân hàng
thương mại là: ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân hàng thương mại cổ phần
hay ngân hàng thương mại liên doanh Vốn chủ sở hữu của ngân hàng bao gồm vốn
tự có cơ bản và vốn tự có bổ sung
+ Vốn tự có cơ bản là vốn điều lệ Đây là số vốn của ngân hàng phải có để đi vào hoạt động và được ghi vào điều lệ Tùy theo loại hình ngân hàng mà nó được
hình thành từ những nguồn khác nhau: cụ thể đối với ngân hàng thương mại cổ
phần là do cổ đông góp vốn được tính theo mệnh giá cổ phiếu Là lĩnh vực kinh
doanh có ngành nghề, do vậy vốn điều lệ phải lớn hơn hoặc bằng vốn pháp định do
ngân hàng trưng ương quy định (Trầm Thị Xuân Hương&Hoàng Thị Minh Ngọc,
2011)
+ Vốn tự có bổ sung trong quá trình hoạt động của ngân hàng gia tăng vốn chủ sở hữu theo nhiều phương thức khác nhau tùy thuộc vào điều kiện cụ thể và các
quỹ như: Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự trữ đặc biệt và quỹ khác Nguồn
nội bộ (nguồn từ lợi nhuận): Trong điều kiện thu nhập ròng lớn hơn không, chủ
ngân hàng có xu hướng gia tăng vốn bằng cách chuyển một phần thu nhập ròng
thành vốn đầu tư Tỷ lệ tích lũy tùy thuộc vào cân nhắc của chủ ngân hàng về tích
lũy từ lợi nhuận và tiêu dùng Những ngân hàng lâu năm có thu nhập ròng lớn,
nguồn vốn tích lũy từ lợi nhuận sẽ cao hơn với vốn của chủ hình thành ban đầu
Các quỹ:
Trang 18+ Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: Là quỹ được dùng với mục đích tăng cường vốn tự có ban đầu Lợi nhuận hàng năm bổ sung vào quỹ này cho đến khi đạt
được coi là một bộ phận vốn sở hữu của ngân hàng (vốn bổ sung) do nguồn này có
một số đặc điểm như sử dụng lâu dài, có thể đầu tư vào nhà cửa, đất đai và có thể
không phải hoàn trả khi đến hạn
Vốn chủ sở hữu của một ngân hàng thương mại đóng vai trò sống còn trong việc duy trì các hoạt động thường nhật và đảm bảo cho ngân hàng khả năng phát
triển lâu dài Vốn đóng vai trò là một tấm đệm giúp chống lại rủi ro phá sản, vốn là
điều kiện bắt buộc để ngân hàng có được giấy phép tổ chức và hoạt động trước khi
nó có thể huy động được những khoản tiền gửi đầu tiên, vốn tạo niềm tin cho công
chúng và là sự đảm bảo đối với chủ nợ (gồm cả người gửi tiền) về sức mạnh tài
chính của ngân hàng, vốn cung cấp năng lực tài chính cho sự tăng trưởng và phát
triển của các hình thức dịch vụ mới, cho những chương trình và trang thiết bị mới
Cuối cùng, vốn được xem như một phương tiện điều tiết sự tăng trưởng, giúp đảm
bảo rằng sự tăng trưởng của một ngân hàng có thể được duy trì, ổn định và lâu dài
Cả các cơ quan quản lý ngân hàng và thị trường tài chính đều đòi hỏi rằng vốn ngân
hàng cần phải được phát triển tương ứng với sự tăng trưởng của danh mục cho vay
và của các danh mục tài sản rủi ro khác
*Nợ của NHTM bao gồm (Trầm Thị Xuân Hương&Hoàng Thị Minh Ngọc,
2011):
+ Vay của ngân hàng trung ương: Bất kỳ ngân hàng thương mại nào khi được ngân hàng trung ương cấp phép hoạt động đều được vay vốn tại ngân hàng
Trang 19trung ương trong trường hợp cần bổ sung vốn khả dụng theo hạn mức tín dụng được
cấp Ngân hàng trung ương cho ngân hàng thương mại vay vốn dưới hình thức tái
cấp vốn như: cho vay lại theo hồ sơ tín dụng; chiết khấu, tái chiết khấu thương
phiếu và các giầy tờ có giá ngắn hạn khác; cho vay bảo đảm bằng cầm cố thương
phiếu và các giầy tờ có giá ngắn hạn khác; cho vay bổ sung vốn trong thanh toán bù
trừ; cho vay đặc biệt khi ngân hàng thương mại mất khả năng thanh toán có nguy cơ
mất an toàn hệ thống Khoản vay này liên quan đến lượng tiền cung ứng của ngân
hàng trung ương đến việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
+ Vay của các tổ chức tín dụng khác: Qua thị trường tiền tệ liên ngân hàng, ngân hàng có thể khai thác các khoản vốn nhàn rỗi từ các ngân hàng và tổ chức tín
dụng khác nhằm đáp ứng nhu cầu dự trữ chi trả cấp bách Hoạt động vay mượn này
nhằm mục đích điều hòa vốn khả dụng và đảm bảo nguồn vốn lưu chuyển thông
suốt liên tục trong hệ thống ngân hàng
+ Tiền gửi của khách hàng: Đây là vốn quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn vốn ngân hàng thương mại và đó là mục tiêu tăng trưởng hằng năm của ngân
hàng Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ
chức kinh tế và cá nhân trong xã hội, thông qua việc thực hiện các nghiệp vụ tín
dụng, thanh toán, nghiệp vụ kinh doanh khác và được dùng làm vốn để kinh doanh
Nguồn vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau Ngân hàng chỉ có
quyền sử dụng chứ không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả đúng thời
hạn cả gốc và lãi khi đến hạn hoặc khi họ có nhu cầu rút.Vốn huy động đóng vai trò
rất quan trọng đối với mọi hoạt động kinh doanh của NHTM Nguồn vốn huy động
không ngừng tăng lên, tỷ lệ thuận với mọi thành phần kinh tế trong xã hội Do đó,
các NHTM luôn quan tâm khai thác để mở rộng tín dụng Nhưng nguồn vốn này chỉ
được sử dụng một phần để kinh doanh, còn phải dự trữ một tỷ lệ hợp lí để đảm bảo
khả năng thanh toán
+ Ngân hàng chủ động phát hành các giấy tờ có giá để huy động vốn nhằm thực hiện những dự án đầu tư đã định Các giấy tờ có giá như kỳ phiếu, trái phiếu,
chứng chỉ tiền gửi; trong đó, kỳ phiếu và chứng chỉ tiền gửi là phiếu nợ ngắn hạn,
trái phiếu là loại phiếu nợ trung dài hạn Các giấy tờ có giá đó được ngân hàng
Trang 20thương mại phát hành từng đợt với mục đích và số lượng cụ thể và được ngân hàng
Trung ương chấp nhận Khả năng vay mượn tùy thuộc vào uy tín của ngân hàng, lãi
suất và trình độ phát triển của thị trường tài chính
+ Vốn khác là toàn bộ giá tị tiền tệ mà ngân hàng huy động được thông qua việc cung cấp các phương tiện thanh toán và cung cấp các dịch vụ ủy thác đầu tư
Bao gồm nguồn ủy thác, nguồn thanh toán và các nguồn khác Nguồn ủy thác là
ngân hàng thương mại thực hiện các dịch vụ uỷ thác qua đó làm tăng nguồn vốn của
ngân hàng như uỷ thác đầu tư, uỷ thác cho vay, uỷ thác cấp phát, uỷ thác giải ngân
và thu hộ , nguồn trong thanh toán là các khoản thanh toán không dùng tiền mặt
như: L/C, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi hay ngân hàng là đầu mối trong đồng tài trợ
cũng giúp ngân hàng làm tăng nguồn vốn của mình, Nguồn khác gồm các khoản
phải nộp, phải trả như: thuế chưa nộp, lương chưa trả
2.1.3 Đánh giá cấu trúc vốn của ngân hàng thương mại
2.1.3.1 Đo lường quy mô vốn của ngân hàng
Trước khi xem xét cấu trúc vốn của ngân hàng chúng ta cần xem xét phương pháp đo lường vốn chủ sở hữu của ngân hàng Hiện nay có nhiều phương pháp đo
lường được sử dụng như sau:
* Trị giá vốn sổ sách hay vốn GAAP
Phần lớn tài sản và nợ được phản ánh vào sổ sách ngân hàng theo giá trị tại thời điểm khoản mục phát sinh Theo thời gian, lãi suất thay đổi, một vài món nợ
hoặc chứng khoán trở nên không thể thu hồi và do đó giá thị trường của chúng sẽ
khác rất nhiều so với giá trị sổ sách ban đầu Nhưng dù sao với nhiều nhà quản lý
ngân hàng, giá trị sổ sách (không phải là giá trị thị trường) lại là thước đo hoàn hảo
cần được sử dụng Giá trị sổ sách của vốn ngân hàng bằng giá trị sổ sách của tài sản
trừ giá trị sổ sách của các khoản nợ và cũng bằng tổng mệnh giá của vốn cổ phần,
thặng dư vốn, lợi nhuận không chia và dự phòng tổn thất từ tín dụng và cho thuê
* Vốn theo phương pháp RAP
Trang 21Nhằm làm cho các ngân hàng trở nên an toàn hơn về mặt hình thức, một số
cơ quan quản lý ngân hàng đã đưa ra định nghĩa về vốn ngân hàng (Vốn RAP) bao
- Giấy nợ thứ cấp có khả năng chuyển đổi
- Các khoản mục khác (như thu nhập từ công ty con)
* Vốn theo giá thị trường MVC
Giá thị trường của vốn ngân hàng (MVC)
=
Giá thị trường của tài sản (MVA)
-
Giá thị trường của nợ (MVL)
Ngân hàng có thể nhanh chóng ước lượng mức vốn theo giá thị trường bằng cách:
Giá trị thị trường hiện tại của mỗi
cổ phiếu
x
Số lượng
cổ phiếu phát hành
2.1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá cấu trúc vốn của ngân hàng thương mại
*Tỷ số nợ:
Tỷ số nợ cho biết trong 100 đồng tổng vốn có bao nhiêu đồng là nợ, hay nói cách
khác là có bao nhiêu % tài sản được tài trợ bởi nợ Tỷ số nợ lớn hơn 50% cho biết
cơ cấu vốn nghiêng về nợ (Lê Mạnh Hưng, 2015)
𝑇ổ𝑛𝑔 𝑛𝑔𝑢ồ𝑛 𝑣ố𝑛 𝑥 100%
* Tỷ số tự tài trợ
Tỷ số tự tài trợ cho biết trong 100 đồng vốn có bao nhiêu đồng là vốn của chủ sở
hữu, hay nói cách khác là có bao nhiêu % tài sản được tài trợ bởi vốn chủ sở hữu
Trang 22Tỷ số tự tài trợ lớn hơn 50% cho biết cơ cấu vốn nghiêng về vốn chủ sở hữu (Lê
Mạnh Hưng, 2015)
𝑇ỷ 𝑠ố 𝑡ự 𝑡à𝑖 𝑡𝑟ợ = 𝑉ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢
𝑇ổ𝑛𝑔 𝑛𝑔𝑢ồ𝑛 𝑣ố𝑛 𝑥 100%
* Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu
Hệ số nợ trên VCSH cho biết một đồng vốn chủ sở hữu thì gánh bao nhiêu đồng nợ
Hệ số nợ trên VCSH lớn hơn 1 cho biết cơ cấu vốn nghiêng về nợ, khả năng thanh
toán nợ thấp và ngược lại (Lê Mạnh Hưng, 2015)
𝑉ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢
* Hệ số đòn bẩy tài chính
Hệ số đòn bẩy tài chính cho biết tổng vốn của doanh nghiệp gấp bao nhiêu lần
VCSH Hệ số đòn bẩy tài chính lớn hơn 2 cho biết cơ cấu vốn nghiêng về nợ (Lê
Mạnh Hưng, 2015)
𝐻ệ 𝑠ố đò𝑛 𝑏ẩ𝑦 𝑡à𝑖 𝑐ℎí𝑛ℎ = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑛𝑔𝑢ồ𝑛 𝑣ố𝑛
𝑉ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢 Các chỉ tiêu đo lường cơ cấu vốn nêu trên thể hiện mức độ đóng góp của các chủ
thể khác nhau trong tổng vốn đầu tư, cho biết mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính và
khả năng tự chủ tài chính của các ngân hàng thương mại
2.1.3.3 Cấu trúc vốn tối ưu
Cấu trúc vốn tối ưu là một thuật ngữ chỉ về cấu trúc vốn mà trong đó cơ cấu
nợ trên vốn chủ sở hữu tồn tại dưới dạng “tốt nhất” cho một doanh nghiệp nói
chung và ngân hàng nói riêng, khi mà chi phí sử dụng vốn bình quân nhỏ nhất và
giá trị doanh nghiệp đạt được lớn nhất
Cấu trúc vốn tối ưu sẽ khác biệt giữa các doanh nghiệp và giữa các ngành
Trong những ngành kinh doanh đòi hỏi tập trung lượng vốn lớn như khai khoáng,
luyện kim hoặc hóa chất, nguồn vốn của các doanh nghiệp thường từ các nguồn vốn
vay Trong những ngành lĩnh vực thiên về ý tưởng chất xám như dược phẩm, quảng
cáo, công nghệ, các công ty lại có xu hướng duy trì tỷ lệ nợ thấp Các công ty này
Trang 23thường ít hoặc giữ đòn bẩy tài chính thấp Ngược lại, các công ty bất động sản, hãng
hàng không, các tổ chức tài chính cũng như các ngân hàng thương mại cổ phần,
nguồn vốn hoạt động của họ phụ thuộc rất nhiều từ vốn vay từ bên ngoài Chính vì
lý do đó, các doanh nghiệp này thường duy trì một tỷ lệ nợ cao
Đạt được cấu trúc vốn tối ưu có thể giúp cho tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp cũng như ngân hàng Về mặt lý thuyết, bởi vì các nhà quản lý có xu hướng
tối thiểu hóa chi phí vốn bình quân gia quyền (WACC), họ sẽ cố gắng điều chỉnh
cấu trúc vốn (Brealey và các cộng sự 2011)
Bất kể vốn của doanh nghiệp được tài trợ từ nguồn nào, doanh nghiệp sẽ luôn phải có nghĩa vụ chi trả chi phí vốn, đó là lãi suất trả cho trái phiếu, các tổ
chức cho vay tài chính như các ngân hàng TMCP khác hay ngân hàng trung ương
Bởi vậy, trong quy trình định giá dài hạn, chi phí vốn bình quân gia quyền (WACC)
sẽ được sử dụng để đánh giá chi phí sử dụng vốn chung
WACC là một công cụ phân tích đầu tư quan trọng cho cả nhà đầu tư và các nhà quản lý Dưới góc nhìn của nhà đầu tư, WACC chỉ ra lợi tức tối thiểu mà doanh
nghiệp phải đạt được để làm hài lòng nhà đầu tư (Pushner 1995) Cụ thể hơn, nếu tỷ
lệ lợi nhuận của doanh nghiệp hay ngân hàng nhỏ hơn WACC, điều đó chỉ ra rằng
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp chưa tốt và không hấp dẫn được nhà đầu tư
Ngoài ra, nhà quản lý sử dụng WACC như một chỉ số hữu ích để xem liệu các dự án
đầu tư tương lai và chiến lược tài trợ vốn của công ty có thực sự xứng đáng thực
hiện hay (Pushner 1995) Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, WACC
đóng vai trò quan trọng trong việc định giá ngân hàng Trong các mô hình định giá
dòng tiền tương lai của ngân hàng, các nhà tài chính thường hay sử dụngWACC là
nhân tố chiết khấu Cũng vì lý do đó, các ngân hàng có xu hướng tối thiểu hóa chi
phí vốn bình quân gia quyền để giảm chi phí vốn, củng cố sự hấp dẫn của ngân
hàng trong mắt nhà đầu tư, nhưng quan trọng hơn là để gia tăng giá trị của ngân
hàng
Để minh họa cấu trúc vốn ảnh hưởng như thế nào tới WACC, công thức chi phí vốn bình quân gia quyền sau thuế khi không tính đến cổ phiếu ưu đãi được đưa
ra như sau:
Trang 24Trong đó: WACC là chi phí vốn bình quân gia quyền
D là giá trị thị trường của tổng nợ
E là giá trị thị trường của tổng vốn cổ phần
rd là chi phí sử dụng nợ
rs là chi phí sử dụng vốn cổ phần
T là thuế thu nhập doanh nghiệp Theo công thức (2.4), chi phí vốn bình quân gia quyền WACC bao gồm hai
bộ phận: chi phí vay nợ sau thuế -rd nhân với tỷ lệ vay nợ trên tổng tài sản, và, chi
phí của việc sử dụng vốn chủ sở hữu –rs nhân tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản
Một điều hiển nhiên là đòn bẩy tài chính ảnh hưởng đến WACC theo hai hướng:
trước tiên, sự thay đổi trong lợi tức chi trả ảnh hưởng đến WACC, và thứ hai, sự
thay đổi tỷ lệ vốn vay trên vốn chủ sở hữu cũng ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị
WACC
Bởi lẽ, ngân hàng luôn muốn tối thiểu chi phí sử dụng vốn, nên lượng vốn vay và chi phí vốn vay đóng vai trò quan trọng trong việc xác định hiệu quả hoạt
động ngân hàng Bởi thế, việc điều chỉnh hai nhân tố trên có thể giúp ngân hàng đạt
được cấu trúc vốn tối ưu của mình (Nickell và Neil,1997)
vốn lý giải được quan hệ giữa giá trị doanh nghiệp, chi phí sử dụng vốn và mức độ
sử dụng nợ của doanh nghiệp
Trang 25Về nội dung lý thuyết M&M được phát biểu thành hai mệnh đề quan trọng:
Mệnh đề thứ nhất nói về giá trị doanh nghiệp, mệnh đề thứ hai nói về chi phí sử
dụng vốn Các mệnh đề này sẽ được lần lượt xem xét trong hai trường hợp có thuế
thu nhập doanh nghiệp và không có thu nhập doanh nghiệp
*
Lý thuyết M&M trong trường hợp không có thuế thu nhập doanh nghiệpĐể đơn giản hoá, trước hết lý thuyết M&M đưa ra các giả định sau:
- Không có thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân
- Không có chi phí giao dịch
- Không có chi phí phá sản và chi phí khó khăn tài chính
- Cá nhân và công ty đều có thể vay tiền ở mức lãi suất như nhau
- Thị trường vốn là thị trường hoàn hảo
Với những giả định như trên, nội dung của lý thuyết M&M được phát biểu thành hai mệnh đề được trình bày dưới đây
- Mệnh đề thứ nhất: Giá trị doanh nghiệp có sử dụng nợ vay (V L ) bằng giá trị doanh nghiệp không sử dụng nợ vay (V U ), nghĩa là V L = V U hay chính là cơ cấu
nguồn vốn không có ảnh hưởng gì đến giá trị doanh nghiệp
Trong điều kiện thị trường vốn hoàn hảo, rõ ràng những lợi ích của việc vay
nợ (lợi thuế) và chi phí của việc đi vay (chi phí giao dịch, chi phí phá sản, chi phí
đại diện,v.v ) đều không tồn tại Do đó, việc sử dụng nợ vay không đem lại bất kỳ
khoản lợi ích tăng thêm và chi phí tăng thêm nào cho doanh nghiệp Doanh nghiệp
có giá trị không đổi bất chấp cơ cấu nguồn vốn Giải thích bằng hình ảnh, nếu giá trị
doanh nghiệp là một chiếc bánh thì với các lát cắt khác nhau để chia chiếc bánh
thành 2 phần (nợ phải trả và VCSH) đều không ảnh hưởng tới kích thước chiếc
bánh Bánh to hay nhỏ không phụ thuộc vào cách cắt bánh Do đó, giá trị doanh
nghiệp không bị ảnh hưởng bởi tỷ lệ vay nợ và vốn chủ sở hữu Điều đó cũng có
nghĩa là dù cho doanh nghiệp có lựa chọn bất kỳ phương thức tài trợ bằng nợ như
thế nào đi nữa, cũng không làm thay đổi giá trị doanh nghiệp Tức là giá trị doanh
nghiệp có sử dụng nợ vay bằng với giá trị của doanh nghiệp không sử dụng nợ vay
Trang 26Mặc dù những giả định về thị trường vốn hoàn hảo là không có thực, tuy nhiên, cần đặc biệt chú ý tới những giả định này
Giả định là không có việc đánh thuế: Đây là điều kiện quan trọng để nợ phát huy lợi ích lớn nhất của mình với vai trò lá chắn thuế Tuy nhiên, giả định này chỉ
đúng trong một số ít trường hợp, chẳng hạn doanh nghiệp mới thành lập, công ty
mới cổ phần hóa được miễn thuế trong 3 năm đầu Đại đa số là trường hợp doanh
nghiệp phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp
Giá trị doanh nghiệp được tính toán hoàn toàn bởi tính biến đổi của các luồng tiền Họ bỏ qua khả năng các luồng tiền có thể dừng vì vỡ nợ Đây là vấn đề
rất khác lý thuyết nếu thực tế các doanh nghiệp có hệ số nợ cao
Việc sử dụng nợ đem lại ROE cao hơn cho chủ sở hữu, ROE cao hơn này chính xác là những gì họ bù đắp cho nguy cơ (rủi ro) tăng lên từ việc gia tăng hệ số
nợ Với các giả thuyết trên, phương trình lý thuyết M&M như sau:
Tổng giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ = Tổng giá trị của doanh nghiệp không sử dụng nợ (VL = VU)
Hình 2 1: Minh họa mệnh đề M & M số I trong môi trường không có thuế
Giá trị công ty
VL = VU
Giá trị nợ (D)
(Nguồn: Bùi Văn Vần, 2013)
- Mệnh đề thứ hai: Chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu tỷ lệ thuận với hệ số nợ
Mệnh đề này cho rằng, chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu tăng lên nếu doanh nghiệp gia tăng hệ số nợ Trong trường hợp không có thuế thu nhập doanh nghiệp,
chi phí sử dụng vốn bình quân (WACC) của doanh nghiệp được xác định bằng công
thức sau:
Trang 27rWACC : chi phí sử dụng vốn bình quân
D : Giá trị thị trường của nợ
E : Giá trị thị trường của VCSH
V: Giá trị của doanh nghiệp (V = D+E)
Hình 2 2: Minh họa mệnh đề M&M số II trong môi trường không có thuế
vốn
(Nguồn: Bùi Văn Vần, 2013)
Với các điều kiện giả định, chi phí sử dụng vốn vay thấp hơn chi phí sử dụng vốn cổ phần Do đó, nếu doanh nghiệp tăng tỷ trọng nợ vay làm giảm chi phí sử
dụng vốn bình quân, đồng thời chi phí sử dụng vốn cổ phần cũng tăng theo tỷ trọng
nợ vay lại làm chi phí sử dụng vốn bình quân tăng lên Do đó, chi phí sử dụng vốn
bình quân không thay đổi
Chi phí
sử dụng vốn
Trang 282.2.2 Lý thuyết cấu trúc vôn có liên quan đến giá trị doanh nghiệp (trường
hợp có thuế)
Năm 1963, M&M đưa ra một nghiên cứu tiếp theo với việc loại bỏ bớt giả thiết không có thuế thu nhập doanh nghiệp
- Mệnh đề thứ nhất: Giá trị doanh nghiệp có sử dụng nợ vay bằng giá trị doanh
nghiệp không sử dụng nợ vay cộng với giá trị hiện tại của lá chắn thuế từ lãi vay
Theo M&M, với thuế thu nhập doanh nghiệp, việc sử dụng nợ sẽ làm tăng giá trị của doanh nghiệp Vì chi phí lãi vay là chi phí hợp lý được khấu trừ khi tính
thuế thu nhập doanh nghiệp, do đó mà một phần thu nhập của doanh nghiệp có sử
dụng nợ được chuyển sang cho các nhà đầu tư Phần tiết kiệm thuế đó còn được gọi
là “lá chắn thuế từ lãi vay” Vì vậy, giá trị doanh nghiệp có sử dụng nợ vay bằng giá
trị doanh nghiệp không sử dụng nợ vay cộng với giá trị hiện tại của lá chắn thuế từ
lãi vay:
VL = Vu + tD Trong đó:
t: thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, D: giá trị nợ vay
Hình 2 3: Minh họa mệnh đề M&M số I trong trường hợp có thuế
Trang 29(Nguồn: Bùi Văn Vần, 2013)
Theo mệnh đề này cơ cấu nguồn vốn có liên quan đến giá trị của doanh nghiệp Sử dụng nợ càng cao thì giá trị doanh nghiệp càng tăng và gia tăng đến tối
đa khi doanh nghiệp được tài trợ 100% nợ
- Mệnh đề thứ hai: Chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu tỷ lệ thuận với hệ số nợ
Tương tự như ở trường hợp không có thuế, trong trường hợp có thuế chi phí
sử dụng vốn chủ sở hữu cũng tăng lên theo mức độ sử dụng nợ vay Do đó, nếu
doanh nghiệp tăng tỷ trọng nợ vay làm giảm chi phí sử dụng vốn bình quân, đồng
thời chi phí sử dụng vốn cổ phần cũng tăng theo tỷ trọng nợ vay lại làm chi phí sử
dụng vốn bình quân tăng lên với tốc độ tăng chậm hơn Do đó, chi phí sử dụng vốn
bình quân giảm khi doanh nghiệp tăng hệ số nợ
Hình 2 4: Minh họa mệnh đề M&M số II trong môi trường có thuế
(Nguồn: Bùi Văn Vần, 2013)
Mệnh đề thứ hai trong trường hợp có thuế cho thấy rõ sự tác động của đòn bẩy tài chính lên chi phí sử dụng vốn Nói chung, vay nợ giúp doanh nghiệp tiết
kiệm được thuế nên làm cho chi phí sử dụng vốn trung bình giảm, mặt khác đòn bẩy
tài chính gia tăng làm tăng rủi ro đối với vốn chủ sở hữu nên chi phí sử dụng vốn
chủ sở hữu sẽ tăng lên
Trang 302.2.3 Lý thuyết đánh đổi (Trade off theory)
Khác với thuyết M&M khi cho rằng doanh nghiệp nên vay nhiều nhất có thể,
lý thuyết đánh đổi cho rằng doanh nghiệp nên duy trì cơ cấu nguồn vốn đúng mức
Các doanh nghiệp sẽ tìm kiếm và duy trì cơ cấu nguồn vốn mục tiêu thông qua việc
làm cân bằng giữa lợi ích và chi phí của nợ vay Lợi ích của nợ vay chủ yếu là lá
chắn thuế và chi phí của nợ vay chủ yếu là chi phí kiệt quệ tài chính Lý thuyết đánh
đổi đã phát triển tiếp và khắc phục được một hạn chế của lý thuyết M&M về cơ cấu
vốn khi bổ sung giả định có chi phí kiệt quệ tài chính Nội dung của lý thuyết đánh
đổi tập trung vào việc xác định cơ cấu vốn mục tiêu, giá trị doanh nghiệp và đi vào
giải thích cách hành xử của các doanh nghiệp trong thực tế
Theo lý thuyết đánh đổi, cơ cấu nguồn vốn mục tiêu là điểm mà tại đó những lợi ích thu được từ việc tăng nợ vay bị triệt tiêu hết bởi chi phí kiệt quệ tài chính
phải gánh chịu thêm Tình trạng kiệt quệ tài chính xảy ra khi doanh nghiệp không
đủ khả năng để thực hiện các cam kết cho chủ nợ bởi lợi nhuận trước thuế và lãi vay
(EBIT) thấp hơn tiền lãi vay phải trả Chi phí kiệt quệ tài chính bao gồm chi phí phá
sản và chi phí kiệt quệ tài chính nhưng chưa phá sản Trong hầu hết các trường hợp
kiệt quệ tài chính thường dẫn tới phá sản Trong quá trình phá sản sẽ phát sinh các
khoản chi phí như: Chi phí pháp lý, chi phí hành chính và các khoản thiệt hại do vỡ
nợ nên buộc các nhà quản lý bỏ qua các các cơ hội đầu tư có lời (Myers, 1977) Khi
doanh nghiệp vay nợ càng nhiều thì các chi phí này càng tăng Do đó, doanh nghiệp
chỉ nên vay nợ đến mức mà khoản lợi thuế từ một đồng vốn vay tăng thêm bằng khoản
chi phí kiệt quệ tài chính tăng thêm từ chính việc vay vốn tăng thêm đó
Hình 2 5: Biểu đồ cơ cấu nguồn vốn tối ưu trong lý thuyết đánh đổi
Trang 31(Nguồn: Bùi Văn Vần, 2013)
Giá trị doanh nghiệp được xác định như sau:
VL= VU + t D – PVChi phí kiệt quệ tài chính Trong đó:
VL: Giá trị của doanh nghiệp có nợ vay
Vu: Giá trị của doanh nghiệp không vay nợ
t : Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp D: giá trị thị trường của nợ vay
PV: giá trị hiện tại của chi phí kiệt quệ tài chính
Lý thuyết đánh đổi thừa nhận sự tồn tại của cơ cấu nguồn vốn tối ưu ở các doanh nghiệp Các doanh nghiệp hành xử luôn hướng tới hệ số nợ mục tiêu Hệ số
nợ này cao hay thấp phụ thuộc vào 2 yếu tố cơ bản là thuế và chi phí kiệt quệ tài
chính Các doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế cao và tài sản hữu hình an toàn
thường sử dụng nhiều nợ hơn, trong khi các doanh nghiệp có tài sản vô hình nhiều
và mức sinh lợi kém thì sử dụng nhiều VCSH hơn Có nhiều yếu tố đẩy doanh
nghiệp xa rời khỏi cơ cấu vốn mục tiêu, khi điều chỉnh cơ cấu vốn sẽ làm phát sinh
các chi phí liên quan, điều này khiến cho các doanh nghiệp khó duy trì hệ số nợ
Giá trị thị trường của doanh nghiệp
Giá trị tối đa của doanh nghiệp
Giá trị của công ty không nợ
Hệ số nợ tối ưu Hệ số nợ
Chi phí kiệt quệ tài chính
Lá chắn thuế của lãi vay
VU
Trang 32mục tiêu Các doanh nghiệp có thể cùng có hệ số nợ mục tiêu như nhau nhưng hệ số
nợ thực tế của các doanh nghiệp lại thường rất khác nhau Khi doanh nghiệp đạt hệ
số nợ mục tiêu cũng chính là doanh nghiệp đạt được cơ cấu nguồn vốn tối ưu
Nghiên cứu từ lý thuyết đánh đổi có thể rút ra các nhận định cơ bản sau: Lý
thuyết xây dựng được một công thức để xác định cơ cấu nguồn vốn tối ưu Điểm tối
ưu của cơ cấu nguồn vốn đạt được khi giá trị hiện tại của khoản tiết kiệm thuế do
vay nợ thêm vừa đủ bù đắp cho sự tăng thêm trong giá trị hiện tại của chi phí kiệt
quệ tài chính Khi đó, doanh nghiệp tối thiểu hoá chi phí sử dụng vốn, tối thiểu hoá
rủi ro và tối đa hoá giá trị của doanh nghiệp
Ưu điểm: Lý thuyết đánh đổi làm rõ hơn tác động của thuế, của chi phí kiệt
quệ tài chính tới cơ cấu nguồn vốn và giá trị doanh nghiệp, hữu ích để lý giải mức độ
sử dụng nợ vay trong cơ cấu nguồn vốn
Hạn chế: Bên cạnh những ưu điểm, lý thuyết đánh đổi còn có một số hạn chế
sau:
- Chưa lý giải được một số trường hợp khác về cơ cấu vốn cũng như cách hành xử của doanh nghiệp trong các trường hợp cụ thể như: Một số công ty thành
công gần như sử dụng chủ yếu là 100% VCSH trong khi theo lý thuyết đánh đổi đáng
lẽ nên sử dụng nhiều nợ vay, hay như việc một số công ty hiếm khi thay đổi cơ cấu
vốn vì thuế trong khi rõ ràng thuế là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến cách huy động vốn
- Chưa lượng hoá được hết các yếu tố để giúp doanh nghiệp xác định cơ cấu vốn mục tiêu, bao gồm: chi phí liên quan kiện tụng phá sản, kế toán theo dõi và giải
quyết phá sản; những chi phí gián tiếp như chi phí do mất khách hàng, mất nhà cung
cấp, mất nhân viên giỏi, mất thời gian và công sức của ban quản lý vào việc đối phó
với khó khăn tài chính …
2.2.4 Lý thuyết trật tự ưu tiên (thông tin bất cân xứng)
Lý thuyết trật tự phân hạng thị trường còn gọi là lý thuyết thứ tự tăng vốn
Lý thuyết này được nghiên cứu khởi đầu bởi Meyers và Majluf (1984) Xuất phát từ
thông tin không cân xứng khi cho rằng nhà quản lý biết về hoạt động tương lai của
doanh nghiệp (tiềm năng, rủi ro và giá trị của doanh nghiệp) rõ hơn các nhà đầu tư
Trang 33bên ngoài (thông tin không cân xứng) Các nhà đầu tư bên ngoài doanh nghiệp quan
sát hoạt động tài trợ của doanh nghiệp để có phản ứng lại, xem nó như một sự phát
tín hiệu từ phía doanh nghiệp Khi công ty phát hành cổ phiếu để huy động vốn, nhà
đầu tư bên ngoài doanh nghiệp sẽ xem đây như một tín hiệu xấu khi cho rằng công
ty đang gặp khó khăn về vốn, triển vọng phát triển thấp, do đó giá cổ phiếu thường
sẽ giảm ngay khi có thông tin về việc phát hành cổ phiếu của công ty Thêm vào đó,
công ty cũng phải mất chi phí liên quan cho việc phát hành, điều này sẽ làm tăng chi
phí của nguồn tài trợ bên ngoài so với nguồn vốn nội bộ Trong khi đó, chỉ những
nhà quản lý mới biết rõ thực trạng công ty, nhà quản lý sẽ phát hành cổ phiếu như
một kênh huy động vốn khi thiếu vốn và cũng sẽ thực hiện phát hành cổ phiếu khi
nhận thấy tiềm năng phát triển của công ty, giá cổ phiếu của công ty đang được thị
trường đánh giá cao ngay cả khi không có sẵn các dự án Vì vậy, việc phát hành cổ
phiếu sẽ chuyển tải nhiều thông tin không thuận lợi hơn là việc vay nợ Điều này
khiến các nhà quản trị quan tâm đến vay nợ hơn là huy động vốn cổ phần bằng phát
hành cổ phiếu
Cơ cấu nguồn vốn được quyết định bởi việc doanh nghiệp cân nhắc lựa chọn
từ 3 nguồn chính: Nguồn vốn nội bộ (chủ yếu là lợi nhuận tái đầu tư), nợ vay (chủ
yếu là vay nợ và phát hành trái phiếu) và phát hành cổ phiếu Do tính không cân
xứng đưa đến một trật tự phân hạng (hay thứ tự ưu tiên) trong hoạt động tài trợ cho
các dự án như sau: Trước tiên, doanh nghiệp sẽ sử dụng nguồn vốn nội bộ vì như
vậy tiết kiệm được chi phí phát hành so với nguồn vốn bên ngoài Tiếp theo, doanh
nghiệp sử dụng vay nợ mới vì nó ít rủi ro và tránh được tình trạng định giá sai
doanh nghiệp bởi thông tin không cân xứng Cuối cùng doanh nghiệp phát hành vốn
cổ phần mới Đây là phương án cuối cùng khi doanh nghiệp đã sử dụng hết khả
năng vay nợ
Thuyết trật tự phân hạng trên giải thích lý do vì sao các công ty có lợi nhuận nhiều thường lại vay nợ ít, điều đó không phải vì họ đặt ra mục tiêu tỷ lệ nợ vay
thấp mà bởi vì nguồn lực tài chính bên trong của họ mạnh nên không cần huy động
nhiều từ nguồn vốn bên ngoài Các công ty có lợi nhuận ít thường phát hành nợ bởi
Trang 34vì họ không có đủ nguồn vốn bên trong cho dự án đầu tư của mình và bởi vì nợ vay
chính là trật tự được xếp đầu tiên khi cần huy động từ nguồn lực bên ngoài
Những nhận xét rút ra từ việc nghiên cứu lý thuyết này
Myers và Majluf cho rằng không có một cấu trúc vốn tối ưu, việc huy động vốn sẽ theo một trật tự phân hạng nhất định Thuyết không tập trung vào cơ cấu
nguồn vốn tối ưu bởi lợi nhuận tái đầu tư đứng đầu trật tự phân hạng còn vốn cổ
phần đứng cuối trật tự phân hạng Nó tập trung vào các quyết định hiện hành Quyết
định về cơ cấu nguồn vốn không dựa trên hệ số nợ mà dựa trên phân hạng thị trường
- Ưu điểm: Thuyết trật tự phân hạng cho phép doanh nghiệp xác định cơ cấu
nguồn vốn ở bất kỳ thời điểm nào, nghĩa là ở trạng thái động Nó được ưu tiên và hữu
ích trong việc giải thích những thay đổi trong cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp
Nó đã thành công trong việc giải thích tại sao các doanh nghiệp có khả năng sinh lời
thấp thường vay nợ nhiều; các doanh nghiệp có khả năng sinh lời cao, cơ hội đầu tư
hạn chế sẽ cố gắng duy trì tỷ lệ nợ thấp; các doanh nghiệp có khả năng sinh lời cao,
cơ hội đầu tư lớn sẽ vay nợ nhiều hơn Điều này không hoàn toàn đúng với tất cả
doanh nghiệp nhưng đã giải thích được tại sao hầu hết tài trợ bên ngoài của doanh
nghiệp chủ yếu là từ nợ vay
- Hạn chế: Thuyết trật tự phân hạng không cho thấy ảnh hưởng của các yếu
tố như thuế, chi phí kiệt quệ tài chính, chi phí đại diện (chi phí phát sinh khi xảy ra
sự thiếu đồng thuận giữa mục đích của người quản trị và người sở hữu trong một
công ty) tới cơ cấu vốn Đồng thời cũng không có mô hình lý thuyết để xác định cơ
cấu nguồn vốn tối ưu
2.3 Các nghiên cứu thực nghiệm
2.3.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Rajan và Zingales (1995) What Do We Know about Capital Structure? Some
Evidence from International Data cho rằng giữa đòn bẩy tài chính và tăng trưởng có
mối quan hệ nghịch biến
Gerler và Gilchist (1993), trong thời kỳ suy thoái kinh tế, hoạt động của doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc tìm ra những dòng tiền để hoàn trả
Trang 35nghĩa vụ nợ Và ngược lại, khi kinh tế tăng trưởng dồi dào và chi phí huy động vốn
cũng giảm nên các ngân hàng trong thời kỳ tăng trưởng sẽ có xu hướng sử dụng nợ
nhiều hơn
Titman và Wessels (1988) nghiên cứu trên 469 doanh nghiệp ở Mỹ trong giai đoạn từ năm 1974 đến 1982 Kết quả nghiên cứu cho thấy, mối tương quan thuận
chiều giữa cấu trúc tài sản và quy mô doanh nghiệp với cấu trúc vốn Trong khi đó,
khả năng sinh lợi (ROA) có mối tương quan nghịch chiều với cấu trúc vốn Cũng
như Titman và Wessels (1988), Rajan và Zingales (1995) đã tiến hành phân tích dữ
liệu từ 8000 doanh nghiệp ở các nước G-7 (Mỹ, Nhật, Đức, Pháp, Ý, Anh và
Cananda) trong giai đoạn 1987- 1991 Kết quả này tương tự như nghiên cứu của
Titman và Wessels (1988) Jan và Mateus (2008) đã nghiên cứu mối quan hệ qua lại
giữa đòn bẩy tài chính và hiệu quả hoạt động của các công ty thuộc lĩnh vực ngân
hàng ở Mỹ là thị trường phát triển với mẫu quan sát là 425 tổ chức hoạt động trong
lĩnh vực ngân hàng, sử dụng các thông số đo lường hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp dựa trên quan điểm lý thuyết chi phí trung gian Các tác giả đã kết luận rằng, đòn
bẩy tài chính cao có mối quan hệ thuận chiều với tính hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp
Reint Group anf Florian Heider (2009), The determinants of bank capital
structure, European Central Bank để đánh giá tác động của các nhân tố lên cấu trúc
vốn ngân hàng, công trình nghiên cứu đã sử dụng biến đại diện cho cấu trúc vốn là
đòn bẩy tài chính Nghiên cứu cũng bổ sung các biến vĩ mô vào mô hình: tăng
trưởng, GDP, lạm phát, rủi do trong thị trường chứng khoán Kết quả cho thấy tăng
trưởng GDP và lạm phát tác động cùng chiều lên đòn bẩy tài chính và rủi ro thị
trường chứng khoán thì tác động ngược chiều lên đòn bẩy tài chính
Monica Octavia and Rayna Brown (2008), Determinants of Bank Capital
Structure in Developing Countries: Regulatory Capital Requyrement versus the
Standard Determinants of Capital Structure nghiên cứu với mẫu là 56 ngân hàng từ
10 quốc gia đang phát triển trong thời kỳ từ 1996 – 2005 cho ra kết quả quy mô và
giá trị sản xuất tác động đồng biến lên đòn bẩy tài chính của ngân hàng; lợi nhuận,
tài sản thế chấp, cổ tức và rủi ro thì tác động nghịch biến
Trang 36Huang và Song (2006) tiến hành nghiên cứu và phân tích trên 1200 doanh nghiệp niêm yết ở Trung Quốc trong giai đoạn 1994-2003 Kết quả chỉ ra vai trò
mạnh mẽ của các yếu tố như: khả năng sinh lợi, cơ hội tăng trưởng, cấu trúc tài sản
và thuế trong việc xác định cấu trúc vốn Cụ thể, khả năng sinh lợi, thuế và cơ hội
tăng trưởng có tác động tiêu cực đến cấu trúc vốn; ngược lại, mối tương quan giữa
cấu trúc tài sản và cấu trúc vốn là thuận chiều
Berger và Patti (2006), Capital Structure and Firm Performance: A New
Approach to Testing Agency Theory and an Application to the Banking Industry đã chỉ ra
DN có tỷ lệ vay nợ càng lớn, thì chi phí đại diện càng nhỏ và càng làm tăng kết quả hoạt
động của DN, điều này ủng hộ lý thuyết chi phí đại diện của Jensen và Meckling (1976)
DeAngelo & Masulis (1980) cho rằng tấm chắn thuế sẽ thay thế cho lợi ích thuế
từ việc tài trợ nợ cho doanh nghiệp và doanh nghiệp sẽ ưu tiên sử dụng tấm chắn thuế
hơn, rủi ro cũng vì thế mà thấp hơn
Nghiên cứu của Wanrapee Banchuenvijit (2009) được thực hiện trên 81 công
ty niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thái Lan từ năm 2004 – 2008 Với năm
nhân tố được đưa vào mô hình gồm tỷ suất sinh lợi, quy mô doanh nghiệp, tỷ lệ tài
sản cố định hữu hình, tốc độ tăng trưởng tài sản, sự biến động của lợi nhuận hoạt
động Kết quả cho thấy có ba nhân tố có ý nghĩa thống kê ở mức 1% đó là: tỷ suất
sinh lợi, tài sản cố định có mối quan hệ ngược chiều với hệ số nợ, còn quy mô công
ty lại có mối tương quan cùng chiều với hệ số nợ
Rajan & Zingales (1995) và Gaud et al (2005) cho rằng đòn bẩy tài chính có quan
hệ nghịch biến với tăng trưởng
Nghiên cứu của Jean.J.Chen (2003) được thực hiện trên 77 công ty lớn có cổ phiếu niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thượng Hải, Trung Quốc trong giai
đoạn 1995 - 2000 Tác giả đã dựa trên lý thuyết đánh đổi và lý thuyết trật tự phân
hạng để xác định các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các công ty niêm yết
gồm: lợi nhuận, khả năng tăng trưởng, tài sản cố định hữu hình, chi phí kiệt quệ tài
chính và lá chắn thuế đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu
của Chen cho thấy tỷ suất sinh lợi và quy mô doanh nghiệp có tác động ngược chiều
(-) với cấu trúc vốn, còn tốc độ tăng trưởng và tài sản cố định hữu hình lại có tác
Trang 37động cùng chiều với tỷ lệ nợ Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy có sự khác biệt
giữa việc lựa chọn sử dụng nợ giữa các công ty Trung Quốc và các nước phát triển,
đó là các công ty Trung Quốc thường ưa thích sử dụng nợ ngắn hạn hơn là nợ dài
hạn Đồng thời, theo Chen thì lý thuyết trật tự phân hạng giải thích kết quả nghiên
cứu tốt hơn so với lý thuyết đánh đổi
Nghiên cứu của Qayyum (2013) trên 20 doanh nghiệp ngành xi măng tại Pakistan, trong 3 năm từ 2007-2009 Theo đó, cấu trúc tài sản và tốc độ tăng trưởng
có mối tương quan cùng chiều trong khi khả năng sinh lợi có tác động nghịch chiều
với đòn bẩy tài chính của các doanh nghiệp ngành xi măng Pakistan
2.3.2 Các nghiên cứu trong nước
Trần Đình Khôi Nguyên (2006), Capital Structure in small and medium –
sized enterprises với các nghiên cứu thực nghiệm cũng chứng minh GDP có tác
động cùng chiều lên đòn bẩy tài chính doanh nghiệp và các ngân hàng
Nghiên cứu của Lê Đạt Chí “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc hoạch định cấu trúc vốn của các nhà quản trị tài chính tại Việt Nam” đăng trên Tạp chí Phát triển và
Hội nhập số 09(19) tháng 3-4/2013 được thực hiện nhằm kiểm định những nhân tố giữ
vai trò quan trọng trong quyết định cấu trúc vốn của các công ty niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2007 - 2010 Mẫu quan sát gồm 178
công ty phi tài chính được niêm yết trên các sàn giao dịch chứng khoán ở VN (HOSE
và HNX) trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2010 Nghiên cứu dựa trên nền tảng
các lý thuyết truyền thống về cấu trúc vốn (đánh đổi, trật tự phân hạng và thời điểm thị
trường), đồng thời xem xét vấn đề trong khuôn khổ lý thuyết tài chính chính hành vi
Kết quả nghiên cứu chỉ ra 6 nhân tố thực sự giữ vai trò quan trọng là thuế (+), lạm phát
(-), tỷ số giá trị thị trường trên giá sổ sách (-), đòn bẩy ngành (+), ROA (-) và hành vi
nhà quản trị (+) Kết quả cho thấy việc hoạch định cấu trúc vốn của các công ty trong
giai đoạn này không có tương quan đáng kể với lý thuyết đánh đổi nhưng lại có tương
quan mạnh với lý thuyết trật tự phân hạng
Bài nghiên cứu “Các nhân tố tác động tới cấu trúc vốn của doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh” của nhóm tác giả là thạc sỹ
Đặng Thị Quỳnh Anh và Quách Thị Hải Yến, Trường Đại học Ngân hàng thành phố
Trang 38Hồ Chí Minh đăng trên Tạp chí Phát triển và Hội nhập số 18(58) tháng 9-10/2014 Bài
viết sử dụng phương pháp ước lượng các yếu tố không ngẫu nhiên (FEM – Fixed
Effect Model) với 10 nhân tố được đưa vào mô hình gồm có: Quy mô doanh nghiệp,
khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, sự tăng trưởng của doanh nghiệp, đặc điểm riêng
của tài sản, tài sản cố định hữu hình, tính thanh khoản của tài sản, điều kiện của thị
trường chứng khoán, thuế, điều kiện thị trường nợ Dữ liệu được thu thập từ 180 công
ty phi tài chính niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh trong
giai đoạn 2010 – 2013 Kết quả cho thấy có 3 nhân tố tác động mạnh đến cấu trúc vốn
của các doanh nghiệp trong giai đoạn này là: Quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lợi
và thuế Trong đó quy mô doanh nghiệp có tương quan cùng chiều, còn thuế và khả
năng sinh lợi có tương quan ngược chiều với cấu trúc vốn
Lê Thị Tuấn Nghĩa và Phạm Mạnh Hùng (2016), Các nhân tố ảnh hưởng
đến đòn bẩy tài chính của ngân hàng thương mại và một số khuyến nghị Nghiên
cứu lựa chọn 22 ngân hàng thương mại trong giai đoạn 2009-2014 với biến phụ
thuộc là đòn bẩy tài chính và các biến độc lập là quy mô ngân hàng, khả năng sinh
lời, khả năng tăng trưởng, giá trị tài sản thế chấp Và kết quả nghiên cứu của tác giả
cũng khẳng định các nhân tố trên có ảnh hưởng đến đòn bẩy tài chính của ngân
hàng
Nghiên cứu của Lê Thị Minh Nguyên (2016), Trường Đại học Văn Hiến “Các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn: Một nghiên cứu trong ngành xi măng Việt Nam”
được thực hiện với mẫu quan sát bao gồm 17 doanh nghiệp ngành xi măng được niêm
yết trên trên Sở Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và Sở Giao dịch
Chứng khoán Hà Nội trong giai đoạn 2007-2013 Kết quả cho thấy: Khả năng sinh lợi,
khả năng thanh toán, tuổi doanh nghiệp, tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà nước và lá chắn
thuế khấu hao có mối tương quan không đồng thuận với tỷ lệ nợ, giá trị các yếu tố này
càng cao thì tỷ lệ nợ càng thấp và ngược lại Quy mô của doanh nghiệp, cấu trúc tài sản
cố định hữu hình có tác động cùng chiều với tỷ lệ nợ Nghiên cứu một lần nữa minh
chứng cho lý thuyết trật tự phân hạng, và làm cơ sở cho các nhà quản trị tài chính xây
dựng cấu trúc vốn hợp lý cho doanh nghiệp
Trang 39Trần Hùng Sơn & Trần Viết Hoàng (2008), Cơ cấu vốn và hiệu quả hoạt
động doanh nghiệp của các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Tp Hồ
Chí Minh Bài viết này phân tích mối liên hệ giữa hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp với cơ cấu vốn
Nguyễn Thị Nhung và các cộng sự (2014), Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu
trúc vốn, kiểm định tại thị trường Việt Nam Với bộ số liệu 103 công ty niêm yết
trên sàn chứng khoán HOSE từ năm 2007 tới năm 2013, bài viết đưa ra Biến phụ
thuộc là DE (Tỷ lệ nợ / Tổng tài sản) và các biến phụ thuộc là Tỷ suất sinh lợi trên
tổng tài sản (ROA), được tính bằng lợi nhuận ròng trên tổng tài sản, Quy mô doanh
nghiệp (SIZE), được tính bằng logarit tự nhiên của tổng tài sản – ln(TTS), tỷ lệ Tài
sản hữu hình/Tổng tài sản (TANG), Tính thanh khoản (LIQUIDITY), được tính
bằng tổng tài sản ngắn hạn trên tổng nợ ngắn hạn, Thuế thu nhập doanh nghiệp
(TAX) Và đưa ra kết luận: Các nhân tố vĩ mô của nền kinh tế: tốc độ tăng trưởng
kinh tế, lãi suất, tỷ lệ lạm phát, chỉ số VN-index tác động mạnh đến cấu trúc vốn của
doanh nghiệp Việt Nam, đặc điểm ngành tác động quan trọng đến cấu trúc vốn của
doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp tác động mạnh và có tương quan thuận với tỷ
lệ nợ, tài sản cố định hữu hình có tương quan thuận với tỷ lệ nợ, tuy nhiên hầu như
rất ít tác động đến tỷ lệ nợ, chỉ tác động mạnh mẽ đến cấu trúc vốn của ngành bất
động sản, thuế có mối tương quan nghịch với tỷ lệ nợ, tuy nhiên hầu như không tác
động đến cấu trúc vốn, tính thanh khoản tác động rất mạnh đến tỷ lệ nợ, đối với các
doanh nghiệp Việt thì tính thanh khoản có tác động nghịch
Phạm Tuấn Anh và Nguyễn Chí Đức (2016), Các nhân tố ảnh hưởng đến
cấu trúc vốn của hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam Nghiên cứu phân
tích các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của hệ thống ngân hàng thương mại
Việt Nam thông qua việc áp dụng mô hình ảnh hưởng cố định (FEM) và mô hình
ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM) cho dữ liệu bảng
2.3.3 Khoảng trống nghiên cứu
Đã có rất nhiều nghiên cứu trong nước về các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp và các nghiên cứu ngoài nước về các nhân tố ảnh
hưởng đến cấu trúc vốn của ngân hàng và doanh nghiệp Tuy nhiên, ở Việt Nam có
Trang 40rất ít nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các ngân hàng
TMCP tại Việt Nam Mới đây nhất, có nghiên cứu (Lê Thị Tuấn Nghĩa, Phạm Mạnh
Hùng (2016) Các nhân tố ảnh hưởng đến đòn bẩy tài chính của ngân hàng thương
mại và một số khuyến nghị) đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến đòn bẩy tài chính
của 22 ngân hàng thương mại trong giai đoạn 2009 – 2014, tuy nhiên nghiên cứu
bao gồm các ngân hàng thương mại nhà nước, ngân hàng TMCP, ngân hàng liên
doanh, ngân hàng nước ngoài Do đó, học viên chỉ tập trung nghiên cứu về các ngân
hàng TMCP tại Việt Nam giai đoạn 2009-2017 để làm rõ các nhân tố ảnh hưởng
đến cấu trúc vốn của ngân hàng TMCP tại Việt Nam để có thể đưa ra một số giải
pháp hoàn thiện cấu trúc vốn của các ngân hàng TMCP tại Việt Nam Học viên chỉ
tập trung nghiên cứu 26 ngân hàng TMCP tại Việt Nam với giai đoạn dài 9 năm
(2009 – 2017), nên tính quy luật rõ ràng hơn
2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của ngân hàng thương mại
NHTM cũng là một dạng doanh nghiệp nhưng là doanh nghiệp đặc biệt Nét đặc biệt của doanh nghiệp ngân hàng được thể hiện như: Lĩnh vực kinh doanh của
ngân hàng là tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng Vì vậy ngoài những nét chung
như các doanh nghiệp khác, ngân hàng còn có những nét đặc thù riêng
2.4.1 Các nhân tố bên trong
- Quy mô của NH: NH có quy mô lớn thường có tiềm lực tài chính vững
chắc, những NH này thường thực hiện đa dạng hoá đầu tư để phân tán rủi ro và tăng
hiệu quả đầu tư NH quy mô lớn có uy tín cao, có giá trị thương hiệu lớn, dễ dàng
tiếp cận thị trường huy động vốn và thị trường tín dụng, thuận lợi trong việc huy
động nợ vay nên những NH này có xu hướng sử dụng nhiều nợ vay hơn để có lợi
nhiều hơn từ tấm chắn thuế Do đó, về mặt lý thuyết thì NH có quy mô lớn có thể
duy trì một hệ số nợ cao, cơ cấu nguồn vốn nghiêng về vốn vay Như vậy, quy mô
của NH ảnh hưởng tới mức độ sử dụng nợ vay của NH, từ đó ảnh hưởng tới cơ cấu
nguồn vốn của NH Nghiên cứu của Phạm Tuấn Anh và Nguyễn Chí Đức (2016),
Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của hệ thống ngân hàng thương mại tại
Việt Nam đều cho thấy quy mô NH có mối quan hệ thuận chiều với hệ số nợ
- Khả năng sinh lời: