Thông qua việc tìm hiểu về tình hình kinh doanh của Công ty, đồng thời đánh giáthực trạng hoạt động nhập khẩu thép của Công ty để thấy được nhu cầu nhập khẩuthép của Việt Nam, đặc biệt l
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT 4
DANH MỤC BẢNG BIỂU 5
MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN THIẾT BỊ PHỤ TÙNG 8
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty 8
1.1.1 Giới thiệu chung 8
1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển 8
1.2 Cơ cấu tổ chức của Công ty 9
1.2.1 Bộ máy tổ chức 9
1.2.2 Chức năng các phòng ban 9
1.2.2.1 Đại hội cổ đông 9
1.2.2.2 Hội đồng quản trị 9
1.2.2.3 Ban kiểm soát 9
1.2.2.4 Ban giám đốc 9
1.2.2.5 Các phòng ban 11
1.3 Các lĩnh vực kinh doanh của Công ty 12
1.4 Nguồn vốn – Lao động 13
1.4.1 Nguồn vốn 13
1.4.2 Lao động 15
1.5 Đánh giá thực trạng về tình hình kinh doanh của Công ty 16
1.5.1 Kết quả kinh doanh 16
1.5.2 Thành công 19
1.5.3 Khó khăn và thách thức 20
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU THÉP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THIẾT BỊ PHỤ TÙNG 21
Trang 22.1 Tổng quan về thị trường thép Việt Nam 21
2.1.1 Thị trường thép Việt Nam 21
2.1.2 Tình hình nhập khẩu thép của Việt Nam 24
2.1.2.1 Kim ngạch nhập khẩu thép 24
2.1.2.2 Thị trường nhập khẩu 26
2.1.2.3 Mặt hàng 28
2.1.3 Một số chính sách điều hành của Chính Phủ 28
2.2 Thực trạng hoạt động nhập khẩu thép của Công ty Cổ phần Thiết bị Phụ tùng 31
2.2.1 Quy mô kinh doanh 31
2.2.1.1 Mặt hàng 31
2.2.1.2 Kim ngạch 35
2.2.1.3. Cơ cấu thị trường 37
2.2.2 Đối thủ cạnh tranh 42
2.2.3 Các hoạt động nghiệp vụ nhập khẩu thép tại Công ty 43
2.2.3.1 Nghiên cứu thị trường 43
2.2.3.2 Lập kế hoạch và phương án kinh doanh 44
2.2.3.3 Giao dịch đàm phán và ký kết hợp đồng 45
2.2.3.4 Thực hiện hợp đồng 46
2.2.3.5 Hoạt động kinh doanh và tiêu thụ thép nhập khẩu 47
2.2.4 Các nhân tố thị trường ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu thép của Công ty ……… 49
2.2.4.1 Cung cầu thị trường 49
2.2.4.2 Chính sách điều hành của Chính phủ 49
2.2.4.3 Chính sách của Trung Quốc 50
2.2.4.4 Biến động về giá trên thị trường Thế giới 51
2.2.4.5 Tỉ giá USD/VNĐ 51
2.3 Đánh giá hoạt động nhập khẩu thép tại Công ty 52
Trang 32.3.1 Kết quả hoạt động nhập khẩu thép của Công ty 52
2.3.2 Thành công 57
2.3.3 Hạn chế và nguyên nhân 58
2.3.3.1 Hạn chế 58
2.3.3.2 Nguyên nhân 60
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU THÉP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THIẾT BỊ PHỤ TÙNG 62
3.1 Xu hướng phát triển thị trường thép Việt Nam và định hướng phát triển của Công ty 62
3.1.1 Xu hướng phát triển thị trường thép Việt Nam 62
3.1.2 Định hướng phát triển của Công ty 64
3.1.3 Mục tiêu của Công ty đối với hoạt động nhập khẩu thép 65
3.2 Giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động nhập khẩu thép tại Công ty Cổ phần Thiết bị Phụ tùng 68
3.2.1 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và hình thức huy động vốn 68
3.2.1 Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ công nhân viên trong công ty 69
3.2.2 Hoàn thiện quá trình quản lý 70
3.2.3 Hoàn thiện về nghiệp vụ nhập khẩu 70
3.2.3.1 Hoàn thiện hoạt động nghiên cứu thị trường 70
3.2.3.2 Hoàn thiện công tác lập kế hoạch nhập khẩu 71
3.2.3.3 Hoàn thiện hoạt động giao dịch đàm phán và ký kết hợp đồng 72
3.2.3.4 Hoàn thiện công tác thực hiện hợp đồng 73
3.2.3.5 Hoàn thiện hoạt động tiêu thụ thép 74
3.3 Kiến nghị với Nhà nước 75
KẾT LUẬN 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 4DANH MỤC VIẾT TẮT
ST
T
1 AFTA ASEAN Free Trade Area Khu vực Mậu dịch Tự do
3 ASEAN The Association of
Southeast Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á
EUL/ C Letter of Credit Tín dụng chứng từ
Organization
Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Thống kê lao động trong Công ty 16
Bảng 1.2: Báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty giai đoạn 2007 - 2009 17
Bảng 2.1: Kim ngạch nhập khẩu thép của Công ty giai đoạn 2003 – 2006 34
Bảng 2.2: Kim ngạch nhập khẩu thép của Công ty giai đoạn 2007 – 2009 35
Bảng 2.3: Kim ngạch nhập khẩu thép năm 2003 36
Bảng 2.4: Kim ngạch nhập khẩu thép theo thị trường giai đoạn 2007 – 2009 41
Bảng 2.5: Tổng kim ngạch nhập khẩu của Công ty giai đoạn 2004 - 2009 53
Bảng 2.6: Doanh thu của Công ty giai đoạn 2004 - 2009 54
Bảng 2.7: Lợi nhuận của Công ty giai đoạn 2004 - 2009 55
Bảng 2.8: Nộp ngân sách Nhà nước của Công ty giai đoạn 2004 – 2009 56
Bảng 3.1: Dự báo nhu cầu nhập khẩu thép Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015 64
Bảng 3.2: Chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh của Công ty 2010 - 2015 66
Bảng 3.3: Dự báo tổng kim ngạch nhập khẩu của Công ty giai đoạn 2010-2015 66
Bảng 3.4: Dự báo doanh thu của Công ty trong giai đoạn 2010 - 2015
Biểu đồ 2.1: Diễn biến tiêu thụ thép xây dựng trong nước năm 2009……….………… 23
Biểu đồ 2.2: Kim ngạch nhập khẩu thép của Việt Nam giai đoạn 2004 – 2009 24
Biểu đồ 2.3: Cơ cấu thị trường nhập khẩu thép Việt Nam năm 2007 27
Biểu đồ 2.4: Kim ngạch nhập khẩu thép của Công ty giai đoạn 2004 – 2009 36
Biểu đồ 2.5: Cơ cấu thị trường nhập khẩu thép năm 2003 40
Biểu đồ 2.6: Kim ngạch nhập khẩu thép từ thị trường Trung Quốc giai đoạn 2003 – 2009 41
Biểu đồ: Thu nhập bình quân của nhân viên trong Công ty 56
YSơ đồ 1.1: Cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý của Công ty ………10
MỞ ĐẦU
Trang 61 Tính tất yếu
Từ khi chính thức trở thành thành viên của WTO đến nay, chỉ với một quãng thờigian ngắn mà nền kinh tế Việt Nam đã có những bước thăng bước trầm khá rõ rệt.Nếu năm đầu tiên nền kinh tế đang trong đà tăng trưởng và phát triển mạnh, đẩy mứctăng trưởng kinh tế của cả nước lên cao thì sang năm 2008 lại có sự suy giảm, lạmphát tăng do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính Thế giới và nó dần đi vàophục hồi đạt mức tăng trưởng trở lại ở năm 2009 Qua đó cũng phản ánh những khókhăn, thách thức mà các doanh nghiệp phải đối mặt trong thời gian qua Nếu như ởnăm 2007, thị trường mở cửa và bên cạnh những cơ hội cũng là những thách thức mớiđược đặt ra cho các doanh nghiệp trong nước khi đứng trước sự xâm nhập mạnh mẽcủa các doanh nghiệp nước ngoài với những ưu thế về nguồn vốn, trình độ, côngnghệ, phương thức quản lý,… thì sang năm tiếp theo, các doanh nghiệp lại đứng trướcnhững khó khăn do lạm phát tăng, đồng tiền mất giá đẩy giá cả, chi phí lên cao Khókhăn, thách thức đặt ra ngày càng lớn nếu các doanh nghiệp không có những thay đổikịp thời, phù hợp thì khó có thể tồn tại và phát triển
Đối mặt với những thách thức, khó khăn như vậy song Công ty Cổ phần Thiết bịPhụ tùng không những đứng vững mà ngày càng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiềusâu Ba năm qua kể từ thời gian Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTOcũng là giai đoạn phát triển mạnh của Công ty với những con số khá ấn tượng, đặcbiệt là vào năm 2007 tổng doanh thu của Công ty tăng gấp nhiều lần so với năm 2006,
và nó vẫn tiếp tục tăng lên trong hai năm sau đó tuy mức tăng không cao song so vớitoàn bộ nền kinh tế đó là một thành công Trong sự thành công đó có sự đóng gópđáng kể của hoạt động nhập khẩu thép, và đây cũng là lĩnh vực kinh doanh chính củaCông ty Hoạt động nhập khẩu thép ngày càng đóng một vai trò quan trọng trongCông ty, doanh thu do hoạt động này đem lại luôn đạt mức cao, nó chiếm một tỷ trọnglớn trong tổng doanh thu hàng năm của Công ty, đặc biệt từ sau khi Công ty đi theocon đường cổ phần hóa và đây cũng là những nội dung chính được đề cập đến trongchuyên đề “ Hoạt động nhập khẩu thép tại Công ty Cổ phần Thiết bị Phụ tùng”
2 Mục đích nghiên cứu
Trang 7Thông qua việc tìm hiểu về tình hình kinh doanh của Công ty, đồng thời đánh giáthực trạng hoạt động nhập khẩu thép của Công ty để thấy được nhu cầu nhập khẩuthép của Việt Nam, đặc biệt là qua đó để tìm ra giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt độngnhập khẩu thép của Công ty Cổ phần Thiết bị Phụ tùng cũng như của thị trường nhậpkhẩu thép Việt Nam nói chung.
3 Đối tượng nghiên cứu:
Chuyên đề nghiên cứu hoạt động nhập khẩu và kinh doanh thép nhập khẩu củaCông ty Cổ phần Thiết bị Phụ tùng
4 Phạm vi nghiên cứu
Chuyên đề nghiên cứu tình hình kinh doanh cùng các yếu tố tác động đến hoạtđộng nhập khẩu thép của Công ty Cổ phần Thiết bị Phụ tùng
5 Phương pháp nghiên cứu
Chuyên đề sử dụng phương pháp phân tích thống kê, đánh giá, so sánh, phân tích
vi mô kết hợp với vĩ mô… và tham khảo các tài liệu, nguồn thông tin lấy từ Tổng cụcThống kê, Công ty Thiết bị Phụ tùng… để khái quát, phân tích, đánh giá
6 Kết cấu chuyên đề
Ngoài lời mở đầu, danh mục các từ viết tắt, danh mục các bảng biểu, danh mục tàiliệu tham khảo và mục lục, phụ lục, chuyên đề bao gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về Công ty Cổ phần Thiết bị Phụ tùng.
Chương 2: Thực trạng hoạt động nhập khẩu thép tại Công ty Cổ phần Thiết bị Phụ
tùng
Chương 3: Giải pháp đối với hoạt động nhập khẩu thép tại Công ty Cổ phần Thiết bị
Phụ tùng
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN THIẾT BỊ PHỤ TÙNG1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty
Trang 81.1.1 Giới thiệu chung
- Tên Công ty: Công ty Cổ phần Thiết bị Phụ tùng
- Tên giao dịch quốc tế: Machinery And Spare parts Joint – Stock Company
- Tên gọi tắt: MACHINCO
- Trụ sở giao dịch: 444 Hoàng Hoa Thám, quận Tây Hồ, Hà Nội
1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển
Công ty Cổ phần Thiết bị Phụ tùng có tiền thân là Trạm dịch vụ Kinh doanhThiết bị Phụ tùng trực thuộc Tổng Công ty Thiết bị Phụ tùng Trạm được Bộ Vật tưthành lập vào tháng 3 năm 1988
Theo Quyết định số 120/VTQĐ của Bộ Vật tư, ngày 30/03/90 Trạm dịch vụ đổitên thành Xí nghiệp Kinh doanh Thiết bị Phụ tùng tổng hợp
Năm 1991, theo Quyết định số 299/TNQĐ của Bộ Thương mại ra ngày29/03/91 Xí nghiệp đổi tên thành Công ty Thiết bị Phụ tùng tổng hợp
Sang đến ngày 25/08/93 Công ty nhận được Quyết định số 619/TM/TCCB của
Bộ Thương mại chuyển tên thành Công ty Thiết bị Phụ tùng Hà Nội Giai đoạn này,Công ty chính thức trở thành một Doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Tổng Công tyMáy và Phụ tùng, rồi sau đó được tách ra và chịu sự quản lý của Bộ Thương mại
Năm 2003, Công ty chính thức thực hiện cổ phần hóa theo Nghị định số64/2002/NĐ – CP của Chính Phủ và phải đổi tên thành Công ty Cổ phần Thiết bị Phụtùng Hà Nội theo Quyết định số 0282/2003/QĐ – TM của Bộ Thương mại Đến ngày30/07/03 Công ty tổ chức đại hội cổ đông thành lập Công ty Thiết bị Phụ tùng HàNội Và bắt đầu từ ngày 1/09/03 Công ty chính thức chuyển sang hoạt động theo môhình Công ty cổ phần
Ngày 08/09/06 Công ty tiến hành đại hội cổ đông nhiệm kỳ II (2006 – 2009).Đến ngày 17/11/06 Công ty đổi tên thành Công ty Cổ phần Thiết bị Phụ tùng, và từthời kỳ đó đến nay Công ty chính thức hoạt động dưới tên Công ty Cổ phần Thiết bịPhụ tùng, trong đó Bộ Thương mại nắm giữ 20% vốn cổ phần
1.2 Cơ cấu tổ chức của Công ty
1.2.1 Bộ máy tổ chức
Trang 91.2.2 Chức năng các phòng ban
1.2.2.1 Đại hội cổ đông
Đây là bộ phận có thẩm quyền cao nhất trong Công ty, bao gồm toàn bộ các
cổ đông của Công ty Đại hội cổ đông được diễn ra nhằm thông qua các phương ánđiều lệ của Công ty, bầu các thành viên của Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát, nhậncác báo cáo kinh doanh từ ban quản lý…
1.2.2.2 Hội đồng quản trị
Hội đồng quản trị là bộ phận quản lý cao nhất của Công ty, có quyền nhândanh Công ty quyết định những vấn đề có liên quan đến mục đích cũng như quyền lợicủa Công ty Bộ phận này bao gồm có 5 thành viên do Đại hội cổ đông bầu ra: 1 chủtịch cùng với 4 ủy viên
1.2.2.3 Ban kiểm soát
Bao gồm 3 thành viên là những người thay mặt hội đồng cổ đông kiểm soát
mọi hoạt động kinh doanh, quản lý, điều hành trong Công ty, và ban này hoạt độngđộc lập với hội đồng quản trị cũng như ban giám đốc
1.2.2.4 Ban giám đốc
Bao gồm có 3 thành viên và họ đều nằm trong Hội đồng quản trị của Công
ty: 1 Tổng giám đốc (chủ tịch Hội đồng quản trị) cùng với 2 phó tổng giám đốc( ủyviên hội đồng quản trị) Ban giám đốc có quyền điều hành cao nhất trong Công ty, vàphải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình trước Đại hội cổ đông, hội đồngquản trị cũng như trước luật pháp, nhà nước…
Trong Ban giám đốc thì Tổng giám đốc là người có quyền quyết định cao nhất
và nắm giữ mọi quyền điều hành quản lý trong Công ty, còn 2 phó tổng giám đốc làhai người hỗ trợ và nhận sự chỉ đạo trực tiếp cũng như thi hành những nhiệm vụ đượcTổng giám đốc giao phó
Sơ đồ 1.1: Cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý của Công ty
Đại hội cổ đông
Trang 10Nguồn: Mô hình tổ chức của Công ty 1.2.2.5 Các phòng ban
- Khối văn phòng
Phòng tổ chức hành chính: Đóng vai trò tham mưu, giải quyết toàn
bộ các công việc mang tính chất hành chính như lương bổng, khen
Hội đồng quản trị Ban kiểm soát
Tổng giám đốc
Phó tổnggiám đốc
Phó tổng giámđốc
Phòng tàichính kế
toán
Các phòngkinh doanh
Chi nhánhThành phố HồChí Minh
Phòng kinhdoanh 1
Phòng kinhdoanh 2
Phòng kinhdoanh 3
Trang 11thưởng, tuyển dụng, kỷ luật,… nhằm đảm bảo cho Công ty duy trì
mọi hoạt động theo sự quản lý của Ban giám đốc.
Phòng tài chính kế toán: Chịu sự chỉ đạo trực tiếp từ phía Tổng giám
đốc đồng thời tham mưu cho Tổng giám đốc về vấn đề tài chínhtrong Công ty Phòng có nhiệm vụ hoạch toán, thống kê,ghi chépchính xác, chi tiết đầy đủ các thông tin liên quan đến tình hình muabán, chi tiêu, xuất nhập khẩu cũng như kết quả kinh doanh… của
Công ty.
Ban quản lý dự án: Đóng vai trò là tham mưu giúp Tổng giám đốc
xây dựng các phương án ngắn hạn và dài hạn, hoạch toán chi phí dựthầu bỏ thầu…cung cấp các thông tin về các những dự án có thể khảthi cho Tổng giám đốc
- Khối kinh doanh dịch vụ
Phòng kinh doanh
Phòng kinh doanh 1: Chuyên kinh doanh xuất nhập khẩu các sản
phẩm liên quan đến ô tô, thiết bị máy móc như phụ tùng ô tô, máyxây dựng, thiết bị y tế… đồng thời thực hiện các hoạt động nhậpkhẩu thép từ các thị trường Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc…
Phòng kinh doanh 2: Thực hiện các hoạt động về xuất khẩu đặc biệt
là xuất khẩu các mặt hàng cao su và hàng nông sản sang thị trườngcác nước phát triển như Nhật Bản, Trung Quốc, EU,
Phòng kinh doanh 3: Thực hiện công tác dự trù, chuẩn bị đấu thầu và
đấu thầu các dự án, cung cấp các trang thiết bị liên quan đến các dựán
Trung tâm và chi nhánh
Trung tâm Thương mại và Dịch vụ 133 Thái Hà: Chuyên quản lý cơ
sở vật chất và thực hiện các dịch vụ, đặc biệt là về bất động sản nhưcho thuê mặt bằng, thuê nhà, thuê văn phòng…
Trang 12 Chi nhánh miền Trung: Đây là một chi nhánh đại diện của Công ty ở
miền Trung được đặt tại số 89 Hà Huy Tập, Thanh Khê, Thành phố
Đà Nẵng Chi nhánh này đảm nhận nhiệm vụ khai thác nguồn hàng,tìm kiếm khách hàng, mở rộng thị trường vào các tỉnh miền Trung
Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh: Chi nhánh này cũng tương tự
như chi nhánh ở miền Trung, được đặt tại 176/34 đường Trần HuyLiệu, phường 15, quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh, nhằmxâm nhập và mở rộng thị trường ở phía Nam
Ngoài ra, trong năm 2007 Công ty mới thành lập hai Công ty con là MachincoMotos và Machinco Metals đây là hai Công ty con chịu sự giám sát, quản lý của Đạihội cổ đông và Ban kiểm soát, trong mỗi Công ty đều có một ban giám đốc riêng hoạtđộng độc lập với ban giám đốc của Công ty Cổ phần Thiết bị Phụ tùng Hai Công tynày hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực kinh doanh ô tô xe máy và kinh doanh kim khí,song thực chất hai công ty này được mở ra nhằm tạo khả năng huy động vốn choCông ty Cổ phần Thiết bị Phụ tùng
1.3 Các lĩnh vực kinh doanh của Công ty
Công ty có bề dày hơn 20 năm hoạt động trong lĩnh vực thiết bị phụ tùng tạiViệt Nam, đặc biệt là giai đoạn sau khi thực hiện cổ phần hóa, Công ty đã khôngngừng củng cố, nâng cao chất lượng kinh doanh cũng như mở rộng thị trường đa dạnghóa các mặt hàng, các lĩnh vực kinh doanh Bên cạnh đó là sự nhanh nhẹn, nhạy béncủa ban lãnh đạo Công ty khi luôn nắm bắt được những xu hướng mới, những nhu cầucần thiết của thị trường để mở rộng thêm các lĩnh vực kinh doanh tạo khả năng huyđộng vốn, tăng lợi nhuận đồng thời giảm thiểu rủi ro cho Công ty trong quá trình kinhdoanh Chính vì vậy, đến thời điểm hiện nay lĩnh vực kinh doanh của Công ty khárộng nó bao gồm rất nhiều mảng:
Kinh doanh dịch vụ cho thuê văn phòng ở tòa nhà 6 tầng tại số 133 phốThái Hà – Đống Đa, tòa nhà 16 tầng tại 444 Hoàng Hoa Thám …
Kinh doanh vật tư nguyên liệu phục vụ sản xuất
Trang 13 Kinh doanh ô tô, xe máy, thiết bị phụ tùng, phương tiện vận tải
Kinh doanh đồ điện, điện tử, thiết bị quang học và thiết bị y tế
Kinh doanh vật liệu xây dựng
Kinh doanh nông, lâm, thủy hải sản chế biến
Kinh doanh xuất nhập khẩu
Kinh doanh hóa chất, rượu, bia, nước ngọt
Đại lý bán xăng dầu
Kinh doanh bất động sản và dịch vụ bưu điện
Dạy nghề sửa chữa ô tô, xe máy
Đại lý dịch vụ internet công cộng
Buôn bán vật tư trang thiết bị ngành viễn thông, truyền thông, công nghệthông tin, truyền hình, điện lực
Kinh doanh kim loại, kim loại màu và sắt thép phế liệu, khoáng sản
Kinh doanh dịch vụ kỹ thuật về điện tử, điện lực, viễn thông, tin học.Như vậy, với lĩnh vực kinh doanh khá rộng, bao gồm rất nhiều mảng và nhiềulĩnh vực ngành nghề khác nhau có thể đánh giá Công ty như một Công ty kinh doanhthương mại tổng hợp Song trong đó lĩnh vực kinh doanh nhập khẩu thiết bị phụ tùngmáy móc, sắt thép… vẫn là hoạt động kinh doanh chủ yếu của Công ty, các mảngkinh doanh khác chỉ mang tính chất kiếm lời, huy động vốn nhằm tăng nguồn vốn vàgiảm thiểu rủi ro cho hoạt động kinh doanh chính
1.4 Nguồn vốn – Lao động
1.4.1 Nguồn vốn
Từ khi bắt đầu thực hiện cổ phần hóa đến nay Công ty đã có những bước thayđổi, cải cách mới nhằm phù hợp với tình hình thị trường, đồng thời Công ty cũng liêntục mở rộng quy mô, lĩnh vực kinh doanh, đa dạng hóa các mặt hàng, chủng loại làmtăng doanh thu và lợi nhuận cho Công ty Đồng nghĩa với sự gia tăng về lợi nhuận vàdoanh thu là sự tăng trưởng về nguồn vốn
Biểu đồ 1.1: Nguồn vốn chủ sở hữu của Công ty giai đoạn 2003 – 2009
Đơn vị: Tỷ đồng
Trang 14Nguồn: Báo cáo kinh doanh của Công ty
Ngày 01/09/03 Công ty chính thức thực hiện cổ phần hóa, và tại thời điểm nàytổng số vốn chủ sở hữu của Công ty là 12 tỷ đồng Theo biểu đồ, nguồn vốn của Công
ty gia tăng qua các năm, đặc biệt là sự gia tăng nhanh chóng của năm 2007, đây làthời kỳ Công ty chính thức lên sàn, bán cổ phần đồng thời trong thời gian này hoạtđộng kinh doanh của Công ty cũng đạt được nhiều thuận lợi, doanh thu từ hoạt độngnhập khẩu thép tăng cao… làm cho doanh thu cũng như lợi nhuận Công ty tăng lênđáng kể Năm 2007, vốn điều lệ của Công ty đạt 30.000.000 VNĐ, tăng 51,16% sovới năm 2006 và tăng 160% so với thời kỳ đầu mới cổ phần, và đồng nghĩa với sự giatăng của vốn điều lệ thì vốn chủ sở hữu của Công ty cũng tăng lên, đạt 46,875 tỷđồng Song có sự thay đổi khi bước sang năm 2008, do thời gian này xảy ra cuộckhủng hoảng tài chính toàn cầu, nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng, khó khăn,lạm phát tăng làm cho giá cả cùng các chi phí tăng mạnh dẫn đến tình hình kinh doanhcủa Công ty cũng gặp những khó khăn và bị ảnh hưởng Năm 2008, nguồn vốn chủ sởhữu giảm xuống 5,86% so với năm 2007, đạt 41,02 tỷ đồng song so với các năm trước
đó thì nó vẫn đạt mức cao, trong đó vốn điều lệ chỉ tăng nhẹ song nó cũng cho thấyđược sự hấp dẫn của Công ty đối với các nhà đầu tư, tăng 0,37% so với năm 2007, đạt30,383 tỷ đồng
Trang 15Bước sang năm 2009, cuộc khủng hoảng đã qua đi, sức ảnh hưởng của nó đãgiảm sút và nền kinh tế đang dần đi vào phục hồi, đồng nghĩa với nó là sự tăng trở lạicủa Công ty Nguồn vốn chủ sở hữu cũng như số vốn điều lệ trong Công ty đã bắt đầutăng trở lại với tốc độ tăng 7,06% mặc dù so với năm 2007 đây không phải là tốc độtăng lớn song nó cũng không phải là quá thấp
Kinh doanh trên nhiều mảng ở những lĩnh vực khác nhau đòi hỏi Công ty phải
có một nguồn vốn lớn, chính vì vậy Công ty đã huy động vốn dưới nhiều hình thứckhác nhau, và đến thời điểm hiện nay nguồn vốn của Công ty khá là đa dạng Nguồnvốn chủ yếu trong Công ty là do Ngân sách cấp, vốn vay Ngân hàng trung và dài hạn,vốn vay người lao động, từ sàn chứng khoán và các nguồn khác
1.4.2 Lao động
Hiện nay, Công ty có hơn 100 cán bộ công nhân viên:
Bảng 1.1: Thống kê lao động trong Công ty
9 Trung tâm thương mại Thái Hà 27
Nguồn: Báo cáo của Công ty
Như vậy, sau khi thực hiện cổ phần hóa, cùng với sự đa dạng hóa các lĩnh vựckinh doanh, mở rộng thị trường thì số lượng nhân viên trong Công ty cũng được tănglên đáng kể nhằm đáp ứng các hoạt động kinh doanh diễn ra ngày càng nhiều củaCông ty Thời kỳ đầu khi thực hiện cổ phần hóa cả Công ty có gần 100 cán bộ côngnhân viên thì đến thời điểm hiện nay con số đã lên đến hơn 100, mặc dù mức tăng
Trang 16không nhiều song nó cũng cho thấy sự lớn mạnh ngày càng lớn của Công ty về mặtquy mô
Với sự gia tăng về nguồn vốn cũng như số lượng nhân viên trong Công ty đãđẩy hoạt động kinh doanh của Công ty lên cao, đưa doanh thu cùng lợi nhuận tăng lênqua từng năm
1.5 Đánh giá thực trạng về tình hình kinh doanh của Công ty
1.5.1 Kết quả kinh doanh
Với những sự thay đổi về mặt cơ cấu, chính sách, cũng như có những kế hoạchphù hợp, Công ty đã đạt được những thành tựu đáng kể trong thời gian qua đặc biệt làsau khi thực hiện cổ phần hóa
Bảng 1.2: Báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty giai đoạn 2007 - 2009
Nguồn: Báo cáo kinh doanh của Công ty
Nguồn vốn của Công ty đã có sự gia tăng qua từng thời kỳ, mặc dù có chút biếnđổi trong năm 2008, song đến thời điểm hiện nay nguồn vốn gấp 3 lần so với thời kỳmới cổ phần hóa (năm 2009 đạt 43,915 tỷ đồng)
Mở rộng lĩnh vực kinh doanh cũng như thị trường hoạt động đã giúp Công ty
có mức tăng trưởng nhất định về mặt số lượng Doanh thu của Công ty không ngừngtăng cao qua từng năm, và luôn đạt mức tăng trưởng khá đặc biệt là từ khi thực hiện
Trang 17chính thức trở thành thành viên của WTO, đồng thời đây cũng là thời gian Việt Namcắt giảm thuế nhập khẩu đối với một số mặt hàng thép xuống 0% đối với các thànhviên AFTA theo lộ trình cắt giảm thuế đã cam kết, tạo điều kiện cho hoạt động nhậpkhẩu thép của Công ty phát triển Ngoài ra, trong năm 2007 này Công ty chính thức
mở thêm hai Công ty con là Công ty Machinco Metals và Công ty Machinco Motos,hai Công ty con này sau khi được thành lập đã đi vào hoạt động góp phần đáng kểtrong doanh thu cũng như lợi nhuận Công ty Chính những yếu tố này đã đưa doanhthu của Công ty lên cao, bước sang năm 2008 tuy nền kinh tế có khó khăn hơn songdoanh thu của Công ty vẫn tăng, mặc dù mức tăng không cao như năm 2007, tăng13,12% tức đạt 1.612 tỷ đồng Năm 2009, Công ty đã hoàn thành xong và đưa vào sửdụng tòa nhà 16 tầng rộng hơn 1000m2 tại 444 Hoàng Hoa Thám, đồng thời sức ảnhhưởng của cuộc khủng hoảng đã giảm xuống, nền kinh tế đang dần đi vào phục hồi,làm cho doanh thu của Công ty tăng lên đạt 1.934 tỷ đồng tăng 19,98% so với năm2008
Bên cạnh sự đi lên về doanh thu thì lợi nhuận của Công ty cũng tăng lên theothời gian Giống như doanh thu, lợi nhuận cũng tăng đột biến vào năm 2007 đạt12,986 tỷ đồng tăng gần gấp 3,5 lần so với năm 2006 Nhưng sang đến năm 2008 mặc
dù doanh thu tăng song lợi nhuận của Công ty lại giảm xuống, do ảnh hưởng củacuộc khủng hoảng, các chi phí tăng cao cộng thêm vào đó là đồng tiền Việt Nam liêntục mất giá, lạm phát tăng làm cho lợi nhuận trong năm nay giảm xuống chỉ còn12,104 tỷ đồng (giảm 7,75% so với năm 2007), đến năm 2009 lợi nhuận bắt đầu dầntăng trở lại tuy mức tăng chưa cao song nó cũng đánh dấu cho bước phát triển tiếptheo của Công ty trong thời gian tới, đạt 12,348 tỷ đồng tăng 3,08% so với năm 2008,giảm 4,19% so với năm 2007
Đồng thời nguồn thu Ngân sách Nhà nước cũng được gia tăng nhờ sự đóng gópcủa Công ty tăng lên qua từng năm, mặc dù khoản đóng góp của Công ty so với tổngNSNN là không lớn, song nó cũng phần nào đóng góp đưa đất nước phát triển, làmgia tăng ngân khố quốc gia, đẩy nhanh quá trình hoàn thành CNH – HĐH đất nước
Trang 18Yếu tố tích cực và quan trọng làm gia tăng lợi nhuận, doanh thu của Công tytrong những năm vừa qua là kim ngạch xuất nhập khẩu Kim ngạch xuất khẩu củahàng năm luôn chiếm 18 – 20% tổng doanh thu bao gồm các mặt hàng từ cao su, nônglâm thủy sản,… Đồng thời là sự gia tăng về kim ngạch nhập khẩu thép, trong nhiềunăm qua, hàng chục các nhà máy, công trình, dự án trọng điểm của Nhà nước, các Bộ,Ngành, Trung ương và địa phương đã được Công ty cung cấp nguyên vật liệu, thiết bịphụ tùng… Kim ngạch nhập khẩu đóng một phần quan trọng trong tổng doanh thu, lợinhuận hàng năm của Công ty, và trong thời gian gần đây đặc biệt là giai đoạn 2006 –
2009 nó luôn đóng góp khoảng 40% vào tổng doanh thu của Công ty Đặc biệt trongnăm 2008, Công ty đã nhập và bán phế liệu kim loại đen với số lượng lớn cho nhiềunhà máy sản xuất thép trong nước, đây là mặt hàng có giá trị khá lớn
Ngoài ra, phải kể đến sự thành công của hai Công ty con như việc kinh doanh
xe máy và dịch vụ xe máy… của Công ty Cổ phần Machinco Motos đã đáp ứng đượcmột khối lượng nhu cầu thường xuyên, đa dạng về xe máy trên địa bàn và các địaphương lân cận, đóng góp vào doanh thu của Công ty
Công ty cũng khá thành công và phát triển trong dịch vụ cho thuê nhà, Công ty
đã tạo dựng được uy tín cũng như niềm tin với khách hàng trong và ngoài nước tronglĩnh vực này, với hơn 4000 m2 sàn văn phòng cho thuê tại tòa nhà 6 tầng số 133 phốThái Hà, cùng với tòa nhà 16 tầng hơn chục ngàn m2 tại số 444 Hoàng Hoa Thám –Tây Hồ, đầy đủ tiện nghi, giá cả hợp lý
1.5.2 Thành công
Trong thời gian vừa qua, đặc biệt là giai đoạn sau khi thực hiện cổ phần hóa,Công ty luôn hoàn thành vượt kế hoạch chỉ tiêu đã đề ra, đồng thời luôn giữ được mứctăng trưởng khá hàng năm trong doanh thu, mặc dù năm 2008 Công ty phải đối mặtvới không ít những khó khăn Đồng thời, sự đóng góp cho Nhà nước của Công tycũng tăng đáng kể, góp phần đẩy nhanh quá trình CNH – HĐH đất nước, đưa tăngtrưởng kinh tế lên cao
Bên cạnh đó Công ty đã tạo ra được một môi trường làm việc thuận lợi, thoảimái, đầy đủ tiện nghi thúc đẩy các nhân viên trong Công ty tập trung phát huy hết khả
Trang 19năng đem lại hiệu quả cao nhất Đời sống nhân viên trong Công ty luôn được quantâm cả về vật chất lẫn tinh thần, đưa ra các chế độ lương thưởng phù hợp, tổ chức cáccuộc tham quan, nghỉ mát cho công nhân viên… nhằm đảm bảo và nâng cao đời sốngnhân viên
Ngoài ra, các tổ chức xã hội khác trong Công ty cũng được tạo những điều kiệntốt nhất để hoạt động, phát triển như hoạt động công đoàn, đoàn thanh niên… đồngthời Công ty còn tích cực tham gia và đẩy mạnh các hoạt động như ửng hộ quỹ trẻ emnghèo vượt khó, quỹ chất độc màu da cam, trái tim cho em…
Sau khi cổ phần hóa, Công ty luôn có những biến đổi mới nhằm phù hợp vớitình hình thị trường, đồng thời Công ty đã có những thay đổi, những quyết định phùhợp trong chính sách, phương hướng kinh doanh, quá trình quản lý theo xu hướng thịtrường, song vẫn đảm bảo hướng phát triển của Công ty Công ty đã mở rộng và xâmnhập vào một số các lĩnh vực, các thị trường kinh doanh mới nhằm tìm kiếm lợinhuận, tăng doanh thu, khả năng huy động vốn đồng thời san sẻ, giảm thiểu rủi ro choCông ty trong các hoạt động kinh doanh đặc biệt là những hoạt động mang tính rủi rocao
Với bề dày hơn 20 năm kinh doanh trong lĩnh vực thiết bị phụ tùng, Công ty đãtạo dựng được uy tín, thương hiệu đối với các bạn hàng trong và ngoài nước Đồngthời, Công ty cũng không ngừng tìm kiếm các đối tác mới trong mọi lĩnh vực kinhdoanh mà Công ty tham gia
Với những thành tích đã đạt được trong thời gian vừa qua, Công ty Cổ phầnThiết bị Phụ tùng đã được nhận bằng khen từ các bộ ban ngành…
Trang 20hiện những mặt hàng thép kém chất lượng là điều không thể tránh khỏi, song hiệntượng này lại tác động phần nào đến hoạt động nhập khẩu và kinh doanh thép nhậpkhẩu của Công ty ở thị trường nội địa như hoạt động nhập khẩu thép hợp kim có chứahàm lượng Bo
Ngoài ra các thủ tục hành chính của Nhà nước đối với các hoạt động kinhdoanh hiện nay còn khá là rườm rà, mất thời gian, điều này gây ra những khó khănnhất định đối với Công ty nói riêng và các Công ty khác nói chung
Thị trường luôn có những biến động, những thay đổi, và chịu sự chi phối củanhiều yếu tố khác nhau, đồng thời những chính sách, những điều luật về mặt pháp luậtcủa Nhà nước đặt ra cũng là một trong những khó khăn, thách thức đối với Công tytrong quá trình kinh doanh Bên cạnh đó, các lĩnh vực kinh doanh mà Công ty thamgia hầu hết đều đem lại những lợi nhuận đáng kể, và nó ngày càng thu hút các doanhnghiệp, các nhà kinh doanh khác tham gia, chính vì vậy sự cạnh tranh ngày càng diễn
ra phức tạp, quyết liệt hơn giữa các đối thủ và phương thức cạnh tranh cũng được đadạng hơn, cạnh tranh về giá, về chất lượng, về dịch vụ khách hàng…
Bên cạnh đó, nguồn nhân lực của Công ty còn thiếu, dẫn đến nhiều hoạt độngnghiệp vụ cần thiết chưa được chú trọng phát triển, và trong các nhân viên vẫn còn sựchênh lệch về trình độ nghiệp vụ chuyên môn tạo ra hiệu quả không cao trong nhiềuhoạt động kinh doanh
Chi phí thuê bộ phận vận chuyển, kho bãi cao là một vấn đề ảnh hưởng trựctiếp đến lợi nhuận của Công ty Công ty chưa trang bị được bộ phận vận tải, cũng nhưkho bãi dự trữ hàng riêng mà phải đi thuê ngoài, làm giảm lợi nhuận và làm cho Công
ty mất đi sự chủ động trong công việc
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU THÉP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THIẾT BỊ PHỤ TÙNG
2.1 Tổng quan về thị trường thép Việt Nam
Trang 212.1.1 Thị trường thép Việt Nam
Ngày nay, Việt Nam đi theo con đường mở cửa nền kinh tế, tích cực giao lưu
mở rộng quan hệ nhằm thu hút đầu tư từ nước ngoài để tạo tiền đề cho sự nghiệp pháttriển đất nước, đưa tăng trưởng kinh tế lên cao, hoàn thành nhanh công cuộc CNH –HĐH đất nước Song để có thể hoàn thành CNH – HĐH đất nước đòi hỏi Việt Namphải hoàn thiện về cơ sở hạ tầng, tạo ra một môi trường làm việc, kinh doanh thuậnlợi Và đây cũng chính là một trong những lý do khiến cho thị trường thép Việt Namtrong thời gian qua khá là sôi động và phát triển
Nhu cầu tiêu dùng mặt hàng thép ngày càng tăng cao tại thị trường Việt Nam trongthời gian qua, đặc biệt là thép sử dụng trong xây dựng, song ngành thép Việt Nam lạichưa đủ khả năng đáp ứng những yêu cầu chủng loại của các nhà đầu tư, và điều mấuchốt là giá thép nội địa còn khá cao so với giá thép nhập khẩu Có hiện tượng này xảy
ra là do Việt Nam vẫn phải nhập khẩu phôi thép từ thị trường bên ngoài với giá cao,trong khi phôi thép lại là nguyên liệu chính để sản xuất các mặt hàng thép khác Trongnước chỉ có một số doanh nghiệp sản xuất được phôi thép với số lượng hạn chế chỉđáp ứng được 20% vào năm 2002, 40% vào năm 2007 đã cho thấy sự phụ thuộc vàonguyên liệu nhập khẩu, cũng như giá thép trên thị trường Thế giới Trong năm 2007,giá phôi thép và thép trên thị trường thế giới biến động liên tục, ít có năm nào giá mặthàng này lại biến động không ngừng từ đầu năm đến cuối năm như vậy Đầu năm
2007, giá thép chỉ ở mức 8,5 triệu đồng/tấn thì đến cuối năm tăng vọt lên ở mức 13-14triệu đồng/tấn, giá phôi thép thì tăng từ mức trên 400 USD/tấn đầu năm đến cuối nămchạm mức 700 USD/tấn Giá thép trên thị trường thế giới tăng mạnh, đã tác động đếnthị trường thép trong nước, trong khi đó nhu cầu về thép trong nước vẫn tăng mạnh từ17%-19%
Bước sang năm 2008, nguồn cung cầu trên thị trường có những biến động lớn vàkéo theo đó là những thay đổi bất ngờ tại thị trường thép Việt Nam Nếu những thángđầu năm nhu cầu thép vẫn đang ở mức cao và trong sáu tháng đầu năm giá thép trongnước tăng với tốc đọ chóng mặt từ hơn 8 triệu đồng/tấn thép cuộn lên hơn 10 triệu
Trang 22đồng/tấn đạt ngưỡng hơn 19 triệu đồng/ tấn thì đến sáu tháng cuối năm, giá thép độtngột rơi xuống còn hơn 10 triệu đồng/tấn, và gần như thoát khỏi sự kiểm soát của cácnhà sản xuất trong nước Với tình hình thay đổi bất thường này, nhu cầu thép của cảnước năm 2008 giảm mạnh và nhiều nhà máy xưởng sản xuất phải tạm ngừng hoạtđộng, lượng hàng tồn kho tăng cao, đồng thời nhiều doanh nghiệp đã thực hiện xuấtkhẩu phôi thép sang các thị trường khác Nguyên nhân của hiện tượng này là dochúng ta bị phụ thuộc quá nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu (phôi thép, thépphế, xăng dầu ); phụ thuộc vào chính sách thuế xuất khẩu của các nước Cụ thể, saukhi nước ngoài có những thay đổi về chính sách thuế, tăng giảm thuế xuất khẩu nhưviệc Trung Quốc ban hành tăng thuế xuất khẩu phôi thép từ 15% lên 25% vào nhữngtháng cuối năm đã đẩy giá phôi thép lên rất cao dẫn đến giá thép, phôi thép nhập vàoViệt Nam cao lên hoặc thấp xuống một cách bất ngờ Bên cạnh đó là sự ảnh hưởngcủa cuộc suy thoái kinh tế làm cho nhu cầu thép sụt giảm do thị trường bất động sảnsụt giảm, đồng thời chi phí cũng như giá tăng cao.
Năm 2009, có thể được coi là kỳ tích của thị trường thép Việt Nam sau khi chịuảnh hưởng khá lớn từ cuộc khủng hoảng năm 2008 với tốc độ tăng trưởng đạt 2 con sốtrong đó sản xuất tăng 25% tiêu thụ tăng 30% Nếu như bốn tháng đầu năm các doanhnghiệp sản xuất thép đang chao đảo do thị trường tiêu thụ bị thu hẹp và lượng thépnhập khẩu gia tăng mạnh do có giá bán thấp hơn mức giá nội địa từ 500 – 700 nghìnđồng/tấn, song từ những tháng tiếp theo mức tiêu thụ mặt hàng thép nội địa lại tăngcao kéo theo giá bán cũng tăng lên Trong 9 tháng cuối năm, lượng thép xây dựng tiêuthụ luôn đạt khoảng 300 nghìn tấn đến trên 450 nghìn tần mỗi tháng Trong khi đó,giá thép loại này cũng liên tục duy trì mặt bằng giá cao hơn, nhiều lúc, giá bán thấpnhất cũng trên 11.500 đồng/kg
Biểu đồ 2.1: Diễn biến tiêu thụ thép xây dựng trong nước năm 2009
Đơn vị: Triệu tấn
Trang 23290 372 256
Nguồn: www.smc.vn/index/news.php?id=976&cid=2
Theo biểu đồ 2.1, trong 3 tháng đầu năm, lượng tiêu thụ thép xây dựng nội địa khá
là thấp so với cùng kỳ năm trước, đặc biệt là vào tháng 1 lượng thép tiêu thụ giảm56,24% so với cùng kỳ năm trước Do thị trường tiêu thụ ngày càng bị thu hẹp nêndoanh nghiệp sản xuất buộc phải giảm mạnh giá xuống dưới mức giá thành, tạo nênnhững khó khăn cho các doanh nghiệp Song song với sự sụt giảm của thép nội địa là
sự tăng lên của thép nhập khẩu, đặc biệt là từ thị trường châu Á và Trung Quốc, thời
kỳ này thép cuộn nhập khẩu từ những thị trường này tăng 11% so với cùng kỳ năm
2008 Song từ tháng 4 cho đến cuối năm lượng tiêu thụ thép xây dựng nội địa lại cónhững biến đổi bất ngờ, đạt mức tăng cao so với cùng kỳ năm 2008, đồng thời đẩymức giá thép trong nước lên Đây có thể coi là kết quả từ những chính sách của Chínhphủ nhằm giúp các doanh nghiệp có thể giảm giá bán sản phẩm, nâng cao sức cạnhtranh thông qua việc giảm thuế VAT từ 10% xuống 5%, ngoài ra còn sử dụng gói kíchcầu 8 tỷ USD, điều chỉnh thuế nhập khẩu theo hướng có lợi cho các nhà sản xuấttrong nước Với những thành tựu đạt được trong năm 2009, thị trường thép Việt Namkhá là lạc quan trong năm 2010 và những năm tiếp theo, năm 2010 dự kiến lượng tiêuthụ thép trong nước sẽ đạt tốc độ tăng trưởng 10 – 12% /năm Song, trong năm 2010này thị trường thép Việt Nam sẽ khá là dồi dào, phong phú đa dạng cả về chất lượng,
Trang 24chủng loại, giá cả do Việt Nam phải thực hiện cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu một
số mặt hàng thép đối với các nước thành viên WTO, đồng nghĩa với nó là những tháchthức đối với ngành thép Việt Nam trong năm nay
2.1.2 Tình hình nhập khẩu thép của Việt Nam
2.1.2.1 Kim ngạch nhập khẩu thép
Nhu cầu thép của thị trường Việt Nam ngày càng tăng đặc biệt là thép sửdụng trong xây dựng, song khả năng cung ứng từ ngành thép lại không đáp ứngđược nhiều yêu cầu về chất lượng, chủng loại, cũng như số lượng mà thị trườngcần, và yếu tố mấu chốt là giá thành thép nội địa lại quá cao so với giá thép nhậpkhẩu do giá nguyên vật liệu tăng cao Đặc biệt ngành thép chỉ cung ứng được 60%nhu cầu phôi thép dùng trong sản xuất cho cả nước, trong khi giá phôi thép nhậpkhẩu lại khá cao, chính vì vậy việc nhập khẩu thép đối với nước ta là điều cần thiết
Biểu đồ 2.2: Kim ngạch nhập khẩu thép của Việt Nam giai đoạn 2004 – 2009
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam
Trong giai đoạn 2004 – 2009 kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam luôn tăng quatừng năm, mặc dù ngành thép sản xuất trong nước đã có những chuyển biến mới songvẫn chưa đủ để đáp ứng những nhu cầu trong nước Năm 2004 kim ngạch nhập khẩu
Trang 25đạt 5,2 triệu tấn về khối lượng trong đó có 2,278 triệu tấn phôi thép nhập khẩu Giáthép trên thị trường trong thời gian này tăng đột biến đưa mức giá thép của cả nướclên một mức mới là 8,5 triệu đồng/tấn, tạo ra sự chênh lệch khá lớn về giá giữa thépnội địa với thép nhập khẩu, do ngành thép tại thời điểm này chỉ đáp ứng được 20%nhu cầu phôi thép trong nước còn 80% phải nhập khẩu từ thị trường ngoài với giá cao.Chính vì thế các nhà đầu tư có nhu cầu tiêu dùng thép nhập khẩu nhiều hơn làm chokim ngạch nhập khẩu trong thời gian này tăng cao hơn so với năm 2003 cả về khốilượng cũng như giá trị.
Theo biểu đồ 2.2, đã có sự tăng trưởng mạnh trong kim ngạch nhập khẩu năm
2007 về mặt khối lượng, kim ngạch cả năm đạt 8,115 triệu tấn (tăng 42,12% về khốilượng so với năm 2006), đồng nghĩa với nó là sự tăng lên về mặt trị giá, đạt 5,11 tỷUSD tăng 73,8% so với năm 2006 Mức giá thép trong thời gian này cũng có nhiềubiến động và đặc biệt là giá phôi thép, nếu vào đầu năm giá phôi chỉ ở mức 400 USD/tấn thì đến cuối năm nó đã lên trên 600 USD/ tấn đẩy mức giá nhập khẩu phôi thépbình quân tăng 32,7%, đây là mức tăng cao nhất trong giai đoạn từ trước tới nay, đạttrung bình 126 USD/ tấn Giai đoạn này kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam tăngmạnh là do nhu cầu tiêu dùng mặt hàng này trong nước tăng cao, do nửa đầu năm, khiTrung Quốc áp thuế xuất khẩu cao với phôi thép song lại áp dụng chính sách hoànthuế VAT 8% đối với thép thành phẩm làm cho giá thép thành phẩm, nên việc nhậpkhẩu thép thành phẩm đặc biệt là thép cuộn trong thời gian này tăng cao vì đây là mặthàng trong nước chưa có khả năng sản xuất nhiều cũng như giá trong nước cao hơnnhiều so với giá nhập khẩu (giá rẻ hơn 300.000 đồng/tấn)
Sang đến năm 2008, kim ngạch nhập khẩu thép tăng cả về khối lượng cũng nhưgiá trị, song khối lượng chỉ tăng nhẹ (tăng 2,96% so với 2007), nhưng lại có sự tăngmạnh về giá trị tăng 31,7% đạt 6,72 tỷ USD Năm 2008, giá thép nhập khẩu tăngmạnh vào 10 tháng đầu năm ( tăng gấp đôi so với cùng kỳ năm trước) làm cho kimngạch nhập khẩu về mặt giá trị tăng mạnh, nhưng do ảnh hưởng của cuộc khủnghoảng đẩy giá các mặt hàng trên thị trường tăng cao, đồng thời chịu sự ảnh hưởng vềmặt chính sách của các thị trường xuất khẩu đặc biệt là thị trường cung cấp thép chính
Trang 26của nước ta thời kỳ này: thực hiện chính sách hạn chế xuất khẩu thông qua việc đánhthuế xuất khẩu phôi thép lên 25% làm cho giá nhập khẩu vào biến đổi bất ngờ, vàonhững tháng đầu năm tăng cao đến những tháng cuối năm lại xuống thấp, làm chokhối lượng tăng chậm Song sang đến năm 2009, kim ngạch nhập khẩu về khối lượnglại đạt mức tăng trưởng khá trở lại, tăng 15,2% trong khi đó giá trị lại giảm xuống25,37% chỉ đạt 5,36% Mặc dù sức ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng đã giảm sút, nềnkinh tế đang đi vào phát triển trở lại, song do thị trường trong nước lại có xu hướngtiêu dùng hàng nội địa, làm cho nhu cầu tiêu thụ thép nhập khẩu giảm mạnh, đồngnghĩa với nó là giá hàng nhập khẩu giảm so với năm 2008, song giá thép trong nướclại tăng lên.
Biểu đồ 2.3: Cơ cấu thị trường nhập khẩu thép Việt Nam năm 2007
Nguồn: Tổng cục Hải quan
Trong năm 2008, kim ngạch nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc giảm mạnh
về mặt khối lượng (giảm 21,27% so với năm 2007) do Chính phủ Trung Quốc thựchiện chính sách hạn chế xuất khẩu thép nhằm tăng trữ lượng thép trong nước, đồng
Trang 27nghĩa với nó là sự tăng mạnh về kim ngạch nhập khẩu từ các thị trường khác như NhậtBản (tăng 24%), Hàn Quốc (tăng 107%), Nga (tăng 106%), Ucraina… Sang đến năm
2009, mặc dù Chính phủ nước này thực hiện nới lỏng xuất khẩu thép vào những thángcuối năm 2008, song kim ngạch nhập khẩu thép từ Trung Quốc lại có sự sụt giảmmạnh cả về khối lượng cũng như giá trị, đạt 1,3 triệu tấn (giảm 57,6% so với năm2008) và chỉ chiếm 13,33% tổng lượng thép nhập khẩu, nhưng vẫn đứng thứ 2 sauNhật Bản về mặt giá trị, đạt 815,7 triệu USD Bên cạnh sự sụt giảm của các thị trườngTrung Quốc, Hồng Kông, Singapore… là sự tăng đột biến về lượng cũng như giá trịcủa các thị trường như Canada( đạt 173 nghìn tấn tăng 1.838% về lượng và 1.312% vềtrị giá), Đan Mạch (đạt 10 nghìn tấn tăng 1238% về lượng và 595,8% về trị giá), TâyBan Nha (đạt 23 nghìn tấn tăng 1124% về lượng và 292,1% về trị giá)…
Kim ngạch nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc có sự sụt giảm đáng kể trong 2năm gần đây, song thị trường này vẫn được đánh giá là thị trường xuất khẩu thép tiềmnăng cho Việt Nam, vì thị trường này có sự phong phú đa dạng về chủng loại cũngnhư giá cả và chất lượng, đồng thời Trung Quốc tiếp giáp với Việt Nam, đây là điềukiện thuận lợi cho Việt Nam trong quá trình nhập khẩu thép từ thị trường này, quãngđường ngắn, chi phí vận chuyển thấp, thời gian cũng được rút ngắn
2.1.2.3 Mặt hàng
Trong thời gian qua, mặc dù ngành thép Việt Nam đã phát triển hơn rất nhiều,các mặt hàng sản xuất ngày càng được đa dạng song do chi phí nguyên vật liệu đâuvào còn cao dẫn đến giá thành cao hơn so với thép nhập khẩu nên nhu cầu nhập nhậpkhẩu cũng ngày càng đa dạng hơn về chủng loại, trong đó việc nhập khẩu phôi thépluôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trên 20%, do khả năng sản xuất phôi thép của Việt Nammới chỉ đủ để đáp ứng được 60% nhu cầu cho quá trình sản xuất thép trong nước
Ngoài mặt hàng nhập khẩu chính là phôi thép thì thị trường Việt Nam còn nhậpkhẩu thêm các mặt hàng như thép không gỉ, thép cuộn cán nóng, thép cuộn cán nguội,thép hình, thép thanh, cáp thép, thép tấm…
2.1.3 Một số chính sách điều hành của Chính Phủ
Trang 28Trong giai đoạn vừa qua, thị trường luôn có những biến động bất ngờ, hầu hếtcác mặt hàng đều tăng giá, đặc biệt là các nguyên liệu cơ bản, năng lượng và thép.Trước những biến động đó, Chính phủ đã liên tục có những thay đổi, đưa ra các chínhsách nhằm bình ổn thị trường trong nước, hỗ trợ ngành thép Việt Nam phát triển.
Năm 2004, Bộ Tài chính liên tục đưa ra các quyết định cắt giảm thuế nhậpkhẩu đối với các mặt hàng thép (kể cả thép thành phẩm) và phôi thép xuống còn 0%như nhằm hạ nhiệt thị trường thép do giá thép Thế giới tăng quá cao, làm cho giá théptrong nước tăng theo và đưa thị trường vào tình trạng khan hiếm hàng Cụ thể vàongày 27/2/2004 Bộ Tài chính quyết định giảm thuế nhập khẩu 6 mặt hàng sắt thép từ
5 – 40% xuống còn 3 – 20% và phôi thép từ 5 – 10% xuống còn 3 – 5%, nhưng 3ngày sau đó Bộ lại tiếp tục ký Quyết định số 23/2005/QĐ – BTC với nội dung giảmthuế nhập khẩu 17 chủng loại sắt thép và phôi thép, bao gồm các mặt hàng sắtthép( kể cả thép thành phẩm) đang từ 5 – 20%, phôi thép từ 3 – 5% xuống còn 0%.Tại thời điểm này, giá phôi thép Thế giới tăng cao, kéo theo giá thành thép trong nướcđẩy lên mức 8,5 – 9 triệu đồng/ tấn, điều này gây khó khăn cho các doanh nghiệp xâydựng nhưng lại tạo lợi thế cho các doanh nghiệp kinh doanh thép do khả năng sảnxuất thép của Việt Nam giai đoạn này chưa đủ đáp ứng nhu cầu trong nước đặc biệt làkhả năng sản xuất phôi thép mới chỉ đáp ứng được 20%, còn 80% phải nhập khẩu, cácdoanh nghiệp nhập khẩu có thể thu được lãi bình quân gấp 5 – 6 lần/ tấn thép bán ra
so với mức lãi bình quân trong năm 2003 Bước sang năm 2005, Chính phủ ban hànhkhung giá thép mới không quá 8 triệu đồng/ tấn nhằm kiềm chế giá thép tăng quá cao,song giá thép bán trên thị trường vẫn cao hơn mức chỉ đạo vì giá đầu vào quá cao
Thời gian tiếp theo, giá nguyên liệu luyện kim trên thị trường Thế giới vẫn tiếptục tăng và đặc biệt là sự tăng giá phôi thép trong năm 2007, có lẽ từ trước chưa cónăm nào mà giá mặt hàng này có nhiều biến đổi như thế, nếu vào đầu năm giá phôithép ở mức 400 USD/ tấn thì đến cuối năm nó đã tăng lên đến 700 – 800 USD/ tấn,đẩy giá thép lên 13 – 14 triệu đồng/ tấn Trước sự tăng giá chóng mặt của mặt hàngnày cùng với các sản phẩm trọng yếu khác, chỉ số lạm phát của cả nước đã bị đẩy lên
và Chính phủ đã đưa ra các biện pháp nhằm điều chỉnh cũng như giảm bớt tốc độ tăng
Trang 29giá của các mặt hàng Vào ngày 03/08/07 Quyết định điều chỉnh giảm thuế nhập khẩuphôi thép và một số mặt hàng thép được ban hành: giảm thuế nhập khẩu phôi từ 5%xuống 2%, thép thanh, thép cuộn giảm từ 10% xuống 8%; cuộn cán nguội từ 7%xuống 5%; giảm thuế thép xây dựng xuống 2%; Thời gian này, các doanh nghiệp sảnxuất cũng như các doanh nghiệp kinh doanh thép hầu hết đều thu được lợi nhuận đáng
kể, song lợi nhuận của các nhà kinh doanh thép lớn hơn khá nhiều so với các doanhnghiệp sản xuất
Sang đến năm 2008, giá thép trên thị trường Thế giới tăng mạnh đồng thời cácnước đưa ra các biện pháp hạn chế xuất khẩu thép như Trung Quốc nâng mức thuếxuất khẩu phôi thép từ 15% lên 25% trong khi đến thời điểm này sản xuất phôi trongnước mới chỉ đáp ứng được 50% nhu cầu, tạo ra những khó khăn cho thị trường thép.Ngày 20/11/08 Bộ Tài chính đã thực hiện áp thuế tuyệt đối với từng chủng loại phôithép nhằm hỗ trợ tối đa công nghiệp sản xuất phôi thép trong nước đang trong giaiđoạn đầu phát triển đồng thời cũng là để giảm sự mất cân đối trong cơ cấu nội bộngành giảm sự phụ thuộc vào phôi thép nhập khẩu, cụ thể: tăng thuế suất thuế nhậpkhẩu phôi thép từ 2% lên 5%; thép thành phẩm (chủ yếu là thép xây dựng ) từ 8% lên12% bắt đầu áp dụng từ ngày 21/12/08
Sau ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008, sang năm
2009 nền kinh tế Việt Nam dần đi vào phục hồi, và Chính phủ đã có những chính sáchmới nhằm hỗ trợ cho ngành sản xuất thép trong nước phục hồi Bộ Tài chính ban hànhquyết định số 58/2009/QĐ – BTC ra ngày 25/03/09 áp dụng mức thuế suất thuế nhậpkhẩu mới cho các mặt hàng thép và phôi thép: phôi thép từ 5% lên 8%, thép cuộn cánnguội từ 7% lên 8%; thép xây dựng từ 12% lên 15%; sản phẩm dây thép cacbon từ 5 –8% lên 10%; ống thép hàn tăng từ 8% lên 10% và một số sản phẩm tráng kim loại,sơn phủ màu tăng từ 1 – 2% Đến ngày 15/04/09 Bộ Tài chính tiếp tục tăng thuế théphợp kim lên 10% nhằm ngăn ngừa tình trạng nhập khẩu thép hợp kim thay thế thépxây dựng với thuế suất thấp 0%, đồng thời đưa ra các biện pháp xử lý và kiểm tranghiêm ngặt tình trạng lách thuế của các mặt hàng thép như thép cuộn chứa hợp kim
Bo, thép hợp kim sử dụng trong xây dựng: yêu cầu đơn vị nhập khẩu phải xuất trình
Trang 30các giấy chứng nhận giám định mặt hàng hưởng thuế ưu đãi… Ngoài ra, Chính phủcòn thực hiện ổn định tỷ giá USD/VNĐ, ưu tiên cung cấp USD cho nhập khẩu phôithép, thép phế và một số vật tư nguyên liệu phục vụ cho sản xuất trong nước; tiếp tụccho vay với lãi suất ưu đãi để duy trì sản xuất,… Đặc biệt là Nhà nước đã thực hiệngói kích cầu 8 tỷ USD để hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất, giảm 50% mức thuế suấtGTGT với mặt hàng thép được áp dụng từ 1/2/2009đến 31/12/2009; Hỗ trợ 4% lãisuất cho vay các dự án và chương trình đầu tư trong 2 năm 2009-2010 … Với nhữngchính sách này, ngành thép trong nước đã có những bước lội ngược đóng kể và đócũng chính là những lý do khiến cho các nhà đầu tư có xu hướng tiêu dùng mặt hàngthép nội địa nhiều hơn thép nhập khẩu.
Sang đến năm 2010, thị trường thép đã ổn định trở lại, trong những tháng đầunăm giá thép cũng như phôi thép liên tục tăng, và Chính phủ đã có yêu cầu đối với cácCông ty, doanh nghiệp, địa phương về việc tăng cường xử lý, kiểm tra, giám sát thịtrường ngăn ngừa hiện tượng đầu cơ nâng giá thép nhằm bình ổn thị trường Và trongquý I vừa qua giá phôi thép đã có những biến động, giá phôi thép nhập khẩu đặc biệttăng mạnh vào tháng 3 lên đến 620 – 630 USD/ tấn
Như vậy, với những chính sách điều hành trong thời gian gần đây của Chínhphủ nhằm phát triển ngành công nghiệp sản xuất thép, đưa ngành thép Việt Nam lênmột tầm cao mới, đồng thời giảm giá thép nội địa nhằm giảm nhập siêu đã tạo nênnhững thành công đáng kể Nếu như trong năm 2002 ngành thép chỉ có thể đáp ứng20% nhu cầu phôi thép trong nước thì đến nay nó đã đáp ứng được 60% , đã phần nàolàm giảm giá thép so với giá thép nhập khẩu Song do trình độ cũng như công nghệsản xuất thép của Việt Nam còn chưa hoàn toàn phát triển nên vẫn chưa đáp ứng đượcnhững yêu cầu của nhà đầu tư, và giá thép trong nước vẫn khá cao do phải nhập khẩuphôi thép giá cao về sản xuất Đồng thời, bắt đầu từ năm 2010 này, ngành thép ViệtNam sẽ không được nhận những chính sách bảo hộ cao từ phía Nhà nước do thực hiệntheo lộ trình cắt giảm thuế nhập khẩu đối với mặt hàng thép khi gia nhập WTO, điềunày sẽ tạo nên sự cạnh tranh mãnh mẽ và ngày càng quyết liệt hơn giữa thép nội địa
Trang 31với thép nhập khẩu, đây cũng chính là những thách thức những cơ hội cho tất cả cácdoanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp nhập khẩu kinh doanh thép.
2.2 Thực trạng hoạt động nhập khẩu thép của Công ty Cổ phần Thiết bị Phụ tùng
2.2.1 Quy mô kinh doanh
2.2.1.1 Mặt hàng
Công ty được thành lập hơn 20 năm và hoạt động trong nhiều lĩnh vực nênCông ty được đánh giá như là một Công ty kinh doanh Thương mại tổng hợp, chính vìvậy mặt hàng kinh doanh của Công ty khá là đa dạng phong phú và nhiều chủng loại.Song hoạt động nhập khẩu thép đóng góp một vai trò quan trọng và nó ảnh hưởng trựctiếp đến hoạt động kinh doanh của Công ty trong suốt thời gian qua đặc biệt là nhữngnăm gần đây sau khi thực hiện cổ phần hóa
Do nhu cầu thép ngày càng cao mà khả năng sản xuất của thị trường trong nướclại không đáp ứng được nhiều yêu cầu trên thị trường, ngoài ra việc Việt Nam ra nhậpWTO cũng là một yếu tố tích cực ảnh hưởng đối với hoạt động nhập khẩu thép củaCông ty
Chính vì vậy, Công ty đã tập trung đầu tư và phát triển hoạt động này, đồngthời chú đi vào nhập khẩu các mặt hàng thép phục vụ cho xây dưng là chính như thépkhông gỉ, thép tấm cán, cáp thép
- Thép không gỉ hay còn gọi là inox đây là một dạng hợp kim sắt chứa tối thiểu10,5% crôm Nó ít bị biến màu hay bị ăn mòn dễ dàng như các loại thép thông thườngkhác chính vì vậy nó còn được gọi là thép chống ăn mòn Thép không gỉ có tốc độ hóabền rèn, độ dẻo, độ cứng và độ bền cao, khả năng chống chịu ăn mòn tốt, chính vớinhững tính năng này mà nhu cầu tiêu thụ thép không gỉ trên Thế giới nói chung và ởViệt Nam nói riêng ngày càng gia tăng, đặc biệt là trong ngành xây dựng và côngtrình công nghiệp – nơi mà thép không gỉ được sử dụng để làm trang trí và chống gỉ,yêu cầu về bảo dưỡng thấp và có độ bền rất cao Nhận thấy được sự cần thiết cũngnhư xu hướng tiêu dùng thép không gỉ ngày càng tăng, nên Công ty đã tiến hành nhậpkhẩu ngay từ thời kỳ đầu tiên, và đến hiện nay thép không gỉ đã trở thành mặt hàng
Trang 32thép nhập khẩu truyền thống, lâu dài của Công ty Kim ngạch nhập khẩu thép không
gỉ của Công ty giữ
- Thép tấm cán bao gồm có hai loại là thép tấm cán nóng ( Hot Roll Steel) vàthép tấm cán nguội (Cold Roll Steel), trong đó Công ty chủ yếu nhập khẩu thép tấmcán nóng, mặt hàng này thường ở dạng cuộn dễ bị rỉ sét do bị oxy hóa, để sản xuấtđược đòi hỏi phải có trình độ cũng như những công nghệ cao nên loại thép này ở ViệtNam chưa sản xuất nhiều, hiện nay mới có Công ty Cổ phần Thép Cửu Long –Vinashin đặt tại Hải Phòng đi vào sản xuất thành công mặt hàng này, và ngày11/3/2010 Công ty thép Việt Nam đã ký kết với Tập đoàn thiết kê, chế tạo công nghệsản xuất Thép lớn trên Thế giới – Daniel Italia về việc xây dựng một nhà máy sảnxuất thép tấm cán nóng đầu tiên với công suất 2 triệu tấn/ năm tại khu vực Phú Mỹ I,tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Đây là mặt hàng được sử dụng chủ yếu trong xây dựng,ngành đóng tàu thuyền, kết cấu nhà xưởng, bồn bể xăng dầu, cơ khí… chính vì vậy nóđem lại lợi nhuận cao cho Công ty Công ty thường nhập khẩu: SS 400,Q235A,Q235B, Q235C, Q235D … từ thị trường Trung Quốc, và CT3, CT3C, CT3K, … từthị trường Nga
- Thép thường (thép cacbon) là hợp kim của sắt và cacbon trong đó hàm lượngcacbon thường dưới 2,14%, loại thép này được sử dụng rộng rãi trong Công nghiệp vàxây dựng, đời sống sinh hoạt vì nó dễ đúc, dễ gia công đồng thời giá lại rẻ hơn théphợp kim rất nhiều song nó lại không có hiệu quả cao, không có độ bền và tính chống ô
xy hóa…, nên mặt hàng này được Công ty chú trọng nhập khẩu một số lượng lớn vàonăm 2004, song đến năm 2005 kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này lại giảm mạnh dokhối lượng nhập khẩu lớn, chi phí lớn nhưng giá trị lại không cao Công ty chủ yếunhập khẩu mặt hàng này từ Hàn Quốc và Trung Quốc
- Thép phế đây là nguyên liệu chính để các nhà máy trong nước sản xuất phôithép, chính vì vậy mặt hàng này có nhu cầu ngày càng tăng cao, và nó cũng nhậnđược sự khuyến khích từ phía Nhà nước Thời gian gần đây, đặc biệt là từ năm 2006Công ty đã chú trọng nhập khẩu mặt hàng này, do nhu cầu tăng cao đồng thời mặthàng này cũng có giá trị khá lớn
Trang 33- Bên cạnh những mặt hàng thép nhập khẩu thường xuyên và có khối lượng lớnnày Công ty còn tiến hành nhập khẩu những mặt hàng thép khác như cán thép, thépcuộn, thép góc.
Đây là những mặt hàng thép được Công ty nhập khẩu chủ yếu trong thời gian quasong các mặt hàng chỉ được đa dạng về chủng loại sau khi thực hiện cổ phần hóa, cònthời kỳ trước Công ty chỉ tập trung nhập khẩu 3 mặt hàng chính là thép không gỉ, théptấm cán và cáp thép
Bảng 2.1: Kim ngạch nhập khẩu thép của Công ty giai đoạn 2003 – 2006
Nguồn: Báo cáo xuất nhập khẩu của Công ty năm 2004 – 2006
Theo bảng, kim ngạch nhập khẩu thép của năm 2003 khá là thấp, nó chiếm chưađến 20% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả Công ty trong năm này Trong đó mặthàng nhập khẩu chủ yếu là thép tấm cán nóng ( chiếm 72,01 %), do thời kỳ này nước
ta chưa có bất kỳ một xưởng sản xuất tấm cán nóng nào
Sau khi thực hiện cổ phần hóa, Công ty đã ngày càng chú trọng hơn đến hoạtđộng nhập khẩu thép đồng thời mở rộng thị trường, quy mô kinh doanh và đa dạnghóa các mặt hàng thép nhập khẩu, tiến hành nhập khẩu thêm những mặt hàng như thépthường, thép tấm cán, thép góc, thép phế
Mặt hàng
SL ( Tấn)
GT (N.USD)
SL (Tấn)
GT (N.USD)
Trang 34Theo bảng 2.1, đã có sự chuyển biến trong năm 2004, Công ty đã không thựchiện nhập khẩu thép tấm cán song thay vào đó Công ty nhập khẩu thêm thép cuộn vàthép thường với số lượng khá lớn, đặc biệt là thép thường (với số lượng trên 48 nghìntấn) Chính sự thay đổi này đã đẩy kim ngạch nhập khẩu trong năm nay tăng cao (tăng93% so với năm 2003), bên cạnh đó số lượng hai loại thép truyền thống là thép không
Bảng 2.2: Kim ngạch nhập khẩu thép của Công ty giai đoạn 2007 – 2009
Nguồn: Báo cáo của Công ty 2007 - 2009
Sang đến năm 2008, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã tác động đến các ngànhnghề nói chung và hoạt động nhập khẩu thép của Công ty nói riêng, trong năm này tuykhối lượng và giá trị nhập có sự suy giảm so với năm 2007 (giảm 8,23% về giá trị)song nó vẫn ở mức cao so với các năm trước đó (tăng 3,96% so với năm 2006) Để đạtđược kim ngạch cao này, Công ty đã phải thực hiện đa dạng hóa các mặt hàng, đồng
Trang 35thời giảm thiểu những mặt hàng nhập khẩu khối lướng lớn mà giá trị thấp như thépthường và tập trung vốn nhập khẩu những mặt hàng đem lại giá trị cao.
Đến năm 2009, Công ty vẫn duy trì những mặt hàng đã nhập trong các năm trướcsong mặt hàng thép cuộn được nhập khẩu nhiều hơn vào những tháng đầu năm do nhucầu trong nước tăng mà giá thép nội địa lại tương đối cao hơn so với thép nhập khẩu.Bên cạnh đó là các mặt hàng như thép thường, thép tấm cũng được nhập khẩu nhiềuhơn đồng thời các mặt hàng như thép không gỉ, thép phế, thép tấm cán lại giảm so vớinăm 2008
2.2.1.2 Kim ngạch
Hoạt động nhập khẩu thép mới được chú trọng đầu tư và phát triển đặc biệt vàothời kỳ thực hiện cổ phần hóa, chính vì vậy kim ngạch nhập khẩu thép của Công tyluôn có những biến động cả về giá trị, số lượng, chủng loại
Trước khi thực hiện cổ phần hóa, kim ngạch nhập khẩu thép của Công ty khákhiêm tốn và chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng doanh thu của Công ty
Bảng 2.3: Kim ngạch nhập khẩu thép năm 2003
Cán thép chịu lực/ Trung Quốc Mét 177.076 302,797
Nguồn: Báo cáo của Công ty năm 2004
Dựa vào bảng 2.6, ta thấy được kim ngạch nhập khẩu thép của năm 2003 khá làthấp, nó chiếm chưa đến 20% doanh thu của cả Công ty trong năm này Song, ngay từkhi bước vào thực hiện cổ phần hóa thì con số này đã có những cải thiện đáng kể
Biểu đồ 2.4: Kim ngạch nhập khẩu thép của Công ty giai đoạn 2004 – 2009
Trang 36Nguồn: Báo cáo nhập khẩu của Công ty
Như vậy, ngay sau khi thực hiện cổ phần hóa kim ngạch nhập khẩu thép của Công
ty tăng lên qua từng năm và tăng trung bình trên 15%/năm tức gấp hơn 10 lần về mặtgiá trị
Đặc biệt năm 2004, khi Công ty đã đi vào hoạt động ổn định sau khi thực hiện cổphần hóa thì hoạt động nhập khẩu thép được chú trọng, đầu tư nhiều hơn, ngoài ra bộmáy quản lý đã được rút gọn, hoạt động có hiệu quả hơn và bên cạnh đó là đội ngũcán bộ công nhân viên đã có tinh thần trách nhiệm hơn đối với công việc của mình,chính những yếu tố này đã tạo nên một cú huých lớn đẩy kim ngạch nhập khẩu thépcủa Công ty nhảy vọt, tăng … so với năm 2003 về mặt giá trị
Sang các năm tiếp theo, kim ngạch nhập khẩu thép của Công ty vẫn giữ được mứctăng trưởng cao, và đều vượt kế hoạch đã đề ra vào đầu năm Như vậy, trong giai đoạn
2004 – 2007 kim ngạch nhập khẩu thép luôn tăng cao qua từng năm, năm 2007 kimngạch đạt 89 triệu USD tăng 78% so với năm 2006
Năm 2008, hoạt động nhập khẩu thép của Công ty vẫn giữ ở mức kim ngạch caođạt 150 nghìn tấn về khối lượng giảm gần 19% so với năm 2007 song chỉ giảm 9% vềmặt giá trị tức đạt 81 triệu USD Do thời gian này giá thép nhập khẩu trên thị trườngtăng cao, đặc biệt là vào 10 tháng đầu năm tăng giá thép tăng gần nhưu gấp đôi làmcho giá trị thép nhập khẩu của Công ty chỉ giảm nhẹ so với sự giảm của khối lượng
Trang 37Khối lượng thép nhập khẩu của Công ty giảm xuống là do Thị trường Trung Quốc hạnchế xuất khẩu thép trong khi đó thị trường này lại là thị trường cung cấp chính choCông ty, không tìm được nguồn hàng thay thế nguồn hàng từ Trung Quốc, làm chokim ngạch nhập khẩu của Công ty trong thời gian này giảm xuống.
Năm 2009, kim ngạch nhập khẩu của Công ty có đôi chút đảo chiều so với năm
2008 Trước hết là mức độ tăng không cao so với các năm trước do thời gian này thịtrường tiêu thụ trong nước có xu hướng chuyển dịch sang tiêu thụ mặt hàng thép nộiđịa, đồng nghĩa với nó là giá thép nhập khẩu trên thị trường trong thời gian này giảmmạnh, nên kim ngạch nhập khẩu của Công ty chỉ đạt 75 triệu USD về trị giá (giảm7,41% so với năm 2008), mặc dù khối lượng nhập khẩu tăng 5% đạt 157,5 nghìn tấn
2.2.1.3 Cơ cấu thị trường
Cùng với đa dạng hóa về mặt chủng loại và sự tăng lên đáng kể về kim ngạchthì thị trường nhập khẩu thép của Công ty cũng ngày được mở rộng Thay vì chỉ chútrọng nhập khẩu ở một vài thị trường quen thuộc thì Công ty đã tìm kiếm mở rộng quy
mô thị trường nhập khẩu cũng như thị trường tiêu thụ trong nước Công ty chủ yếunhập hàng từ các thị trường chính và đặc biệt là các thị trường Châu Á như TrungQuốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Malaysia…
- Thị trường Ấn Độ
Ấn Độ được biết đến với một trình độ công nghệ sản xuất thép thuộc loại khátrong khu vực châu Á, và đây cũng chính là một trong những thị trường đầu tiên tronghoạt động nhập khẩu thép của Công ty Thị trường này thường cung cấp thép không gỉcho Công ty, tuy số lượng nhập về không nhiều song đây lại là mặt hàng có giá trị lớn
và cho khả năng sinh lời khá cao Thị trường này được coi là một thị trường truyềnthống của Công ty nên những hoạt động về thăm dò, đàm phán cũng được giảm thiểu
và diễn ra đơn giản hơn rất nhiều, đồng thời Công ty cũng được hưởng những ưu đãinhất định từ phía đối tác trong quá trình mua bán vận chuyển
- Thị trường Hàn Quốc, Malaysia
Đây là hai thị trường mới của Công ty, Công ty mới bắt đầu nhập khẩu thép từhai thị trường này từ năm 2004 và kim ngạch nhập khẩu từ hai thị trường này ngày
Trang 38càng tăng cao Hàn Quốc và Malaysia đều có trình độ sản xuất thép khá cao, chấtlượng thép ổn định song đồng nghĩa với nó là giá cả cũng rất cao, ngoài ra chi phí vậnchuyển từ hai thị trường này về Việt Nam rất lớn Chính vì vậy hiện tại Công ty chỉnhập khẩu thép với tỉ trọng nhỏ từ hai thị trường này ( chiếm khoảng 5-15%) và chủyếu là nhập khẩu những mặt hàng như thép cuộn, thép thường
- Thị trường Nga
Nga là thị trường đầu tiên và cũng là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Công tykhi chưa thực hiện cổ phần hóa ( năm 2003 chiếm …%) song hoạt động nhập khẩuthép từ thị trường này lại có sự gián đoạn, ngắt quãng: năm 2004 Công ty ngừng hoạtđộng nhập khẩu thép từ thị trường này và sang đến năm 2005 thì nó lại tăng vọt, đếngiai đoạn hiện nay thì Công ty vẫn duy trì hoạt động nhập khẩu thép từ thị trường nàyđều đặn qua các năm song mức độ không ổn định, có hiện tượng này là do Công tychưa tìm được đối tác trên thị trường này Nga được biết đến với trình độ luyện kimhàng đầu trên Thế giới nên chất lượng cũng như giá thép ở đây thuộc vào mức độ cao,song nhu cầu tiêu dùng mặt hàng thép từ thị trường này lại đang có xu hướng tăng,chính vì vậy Công ty đang cố gắng khai thác thị trường đầy tiềm năng này Công tythường nhập khẩu từ thị trường này thép tấm cán nóng, thép thường, thép cuốn cánnóng
- Thị trường Trung Quốc
Trung Quốc ngày càng phát triển đặc biệt là sự lớn mạnh về ngành Côngnghiệp và nó đã đưa Trung Quốc trở thành một trong những thị trường sản xuất lớnnhất trên Thế giới Với sự đa dạng về chủng loại cùng với những điều kiện địa lý khácthị trường này được đánh giá là thị trường tiềm năng của Công ty Trong năm 2003Công ty chỉ nhập khẩu cán thép chịu lực từ thị trường này với số lượng nhỏ nhưngsang những năm tiếp theo thì chủng loại nhập khẩu từ thị trường này đã có sự biếnđộng lớn cả về mặt số lượng, giá trị cũng như chủng loại Các mặt hàng thép hiện naycủa Công ty chủ yếu được nhập khẩu ở thị trường này như thép phế, thép góc, thépthường, cán thép, thép tấm…
- Các thị trường khác