1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số phương thức nghệ thuật khắc hoạ hình tượng con người cô đơn trong thiên sứ của phạm thị hoài

39 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số phương thức nghệ thuật khắc hoạ hình tượng con người cô đơn trong thiên sứ của phạm thị hoài
Trường học Đại Học Tổng Hợp Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Phê bình văn học
Thể loại Bài tiểu luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 103,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (1)
  • 2. Lịch sử vấn đề (2)
  • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (5)
  • 4. Các phương pháp nghiên cứu (6)
  • B. PhÇn néi dung (6)
  • Chơng I: Khái quát về hình tợng con ngời cô đơn trong văn học (6)
    • 1. Khái niệm cô đơn (6)
    • 2. Hình tượng con người cô đơn trong văn học Việt Nam (7)
  • Chơng II: Từ ý thức đổi mới văn học đến quan niệm về con ngời cô đơn của Phạm Thị Hoài qua "Thiên sứ" (15)
    • 1. Từ ý thức đổi mới văn học (11)
    • 2. Từ cảm quan về tính phi lí, bất ổn trong đời sống hiện đại (12)
    • 3. Đến quan niệm về trạng thái cô đơn của con người (13)
  • Chơng II: Những dạng thức chủ yếu của con ngời cô đơn (0)
    • 1. Những con người bất hoà với môi trường sống (15)
      • 1.1 Khi các giá trị truyền thống bị phá sản (15)
        • 1.1.1 Các giá trị gia đình (15)
        • 1.1.2 Các giá trị chốn học đường (16)
      • 1.2 Các quan hệ xã hội (17)
    • 2. Những con người kiếm tìm hoặc trốn chạy (19)
  • Chơng IV: Một số phơng thức nghệ thuật khắc hoạ hình tợng (0)
    • 1. Lời độc thoại nội tâm như lời tự bạch, tự vấn (22)
    • 2. Những đối thoại rời rạc, lệch hướng, không có sự song hành (23)
    • 3. Giọng dửng dưng, vô cảm và giọng tê tái buồn (24)
    • 4. Những không gian gợi ám ảnh trôi dạt, bế tắc (26)
    • 5. Kiểu thời gian, tù đọng, luẩn quẩn, thời gian của kí ức (29)
    • 6. Tính trò chơi - cuộc thể nghiệm của những cái tôi nhỏ bé –những con người cô đơn trong "Thiên sứ" (30)

Nội dung

Đó là những lí do chúng tôi chọn đề tài: Hình tượng con người cô đơn trong tiểu thuyết " Thiên sứ" của Phạm Thị Hoài như một bước khỏi đầu cho nỗ lực chiếm lĩnh những kinh nghiệm nghệ th

Lịch sử vấn đề

"Thiên sứ" - một tiểu thuyết của Phạm Thị Hoài in lần đầu trên tạp chí

"Tác phẩm văn học" số 7, năm 1988 với chưa đầy 80 trang.

Tác phẩm có 20 chương, viết theo lối độc thoại bằng lời của một nhân vật

Ở tuổi 29, Hoài vẫn giữ vóc dáng trẻ con và chia sẻ những suy nghĩ của mình về thế giới xung quanh Cô phản ánh những sự kiện và biến cố trong cuộc sống hàng ngày, đặc biệt trong giai đoạn chuyển giao giữa cơ chế bao cấp và cơ chế thị trường, cùng với những hệ giá trị văn hóa và đạo đức đang thay đổi.

Phạm Thị Hoài, sinh năm 1960 tại Hải Dương trong một gia đình nho giáo, đã học tập tại Đông Berlin, Đức từ năm 1977 đến 1983 Sau đó, bà làm việc tại Viện sử học và Viện nghiên cứu tôn giáo Việt Nam từ 1983 đến 1993 Kể từ năm 1993, bà cùng gia đình đã định cư tại Berlin, Đức.

Phạm Thị Hoài là một nhà văn nổi bật trong thời kỳ đổi mới của đất nước, không bị ràng buộc bởi những thành kiến cũ Tâm huyết và đam mê văn chương của bà được thể hiện rõ ràng trong các tác phẩm của mình.

Văn chương mang đến cho chúng tôi cả thuận lợi lẫn khó khăn, với di sản tinh thần phong phú từ dân tộc và thế giới Tuy nhiên, sự hoang mang xuất hiện khi chúng tôi không thể tái hiện những gì đã có Mỗi cây bút cần phải lựa chọn những gì có thể kiểm soát và làm chủ Để kiểm soát hiện thực, tôi thiết lập các mô hình, và tác phẩm của tôi chính là những mô hình đó.

Trong giai đoạn đổi mới văn xuôi Việt Nam sau 1975, Phạm Thị Hoài đã khẳng định được cá tính độc đáo của mình, không chỉ qua các tác phẩm mà còn qua những quan điểm táo bạo, gây ra nhiều tranh cãi sâu sắc và phức tạp.

Trong tác phẩm "Thiên sứ", nhà văn đã trải qua không ít khó khăn, mặc dù theo Nguyễn Thanh Sơn, "Một trận đòn hội chợ đã không kịp xảy ra".

"Trận đòn" tập thể, công khai, "Thiên sứ" tự hào là một trong những tác phẩm hiếm hoi làm sống động văn học Việt Nam, vốn được coi là "rất đỗi bình yên, nhưng đẹp" (Nguyễn Văn Thọ).

Theo khảo sát, có bốn bài báo nghiên cứu chính về "Thiên sứ", bao gồm: "Những đặc điểm của tiểu thuyết Thiên sứ" của Lại Nguyên Ân, "Thiên sứ của Phạm Thị Hoài" của Nguyễn Thanh Sơn, "Phạm Thị Hoài, Thiên sứ" của Thuỵ Khuê, và "Đứa trẻ và thành phố trong Thiên sứ của Phạm Thị Hoài" của Đặng Thị Hạnh.

Một số bài viết đã sử dụng tác phẩm "Thiên sứ" để minh họa cho phong cách của Phạm Thị Hoài, như "Hai tác giả trong một nền văn xuôi đang đổi mới" (Hoàng Ngọc Hiến), "Những bước đi đầu của cây bút Phạm Thị Hoài" (Văn Giá), và "Một vài nhân xét về quan niệm hiện thực trong văn xuôi nước ta từ sau 1975" (Nguyễn Thị Bình).

Trong hội thảo "Chung quanh một số vấn đề thời sự văn học" diễn ra tại ĐHSPHN vào ngày 8/12/1988, Phạm Thị Hoài đã thu hút sự chú ý của dư luận với những ý kiến đánh giá tích cực Đặc biệt, tham luận của hai nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến và Văn Giá đã nổi bật và nhận được sự quan tâm lớn.

Anatoli A Sokolov, một nhà nghiên cứu nước ngoài, đã nhấn mạnh vai trò tiên phong của Phạm Thị Hoài trong việc tự đổi mới văn chương Việt Nam trong thời kỳ đổi mới Ông mô tả tác phẩm của Hoài là "thứ văn xuôi khác thường" với hình tượng và phong cách độc đáo, gây ra những phản ứng trái ngược trong độc giả Việt Nam, từ sự ca tụng đến sự bác bỏ Sokolov khẳng định tính mới mẻ của tiểu thuyết "Thiên sứ", cho rằng nó không thể dễ dàng gắn liền với truyền thống văn xuôi Việt Nam nửa sau thế kỷ XX Ông cũng chỉ ra rằng văn xuôi của Phạm Thị Hoài không thể được xác định rõ ràng là thực nghiệm văn học hay văn học đặc tuyển, mà nổi bật với cách tiếp cận văn hóa độc đáo đối với thực tại.

Hình ảnh cô đơn trong văn xuôi đương đại, đặc biệt là trong tác phẩm của Phạm Thị Hoài, đã thu hút sự chú ý của nhiều người Nhiều ý kiến đã được đưa ra để phân tích và thảo luận về hình tượng con người cô đơn trong sáng tác của bà.

Trong bài viết "Bước đi ban đầu của cây bút Phạm Thị Hoài," tác giả Văn Giá đã chỉ ra rằng tác phẩm "Thiên sứ" khắc họa một thế giới nhân vật đầy cô đơn Các nhân vật trong truyện không ngừng hành động và sống mãnh liệt, nhưng cuối cùng lại rơi vào trạng thái cô đơn.

Trong tác phẩm của Phạm Thị Hoài, cô đơn là một chủ đề nổi bật, thể hiện sự ám ảnh thường xuyên của nhân vật Lê Thị Hường nhận định rằng tác giả thường sử dụng môtíp im lặng và ngôn ngữ bất đồng, khiến cho nhân vật chìm đắm trong những suy tư riêng tư của họ.

Trần Thị Mai Nhi nhận định rằng văn phong của Phạm Thị Hoài là một sự hỗn mang đa dạng, với nhiều kênh và chiều hướng khác nhau như lí trí, tư duy khoa học, bản năng, trực giác, linh cảm, hiện thực và mơ tưởng Bà cũng nhấn mạnh rằng hạnh phúc chỉ tồn tại dưới dạng cảm giác, và không có gì có thể bảo đảm cho những cảm giác đó.

Các phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi sẽ tiến hành trên cơ sở vận dụng phối hợp chủ yếu các phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp phân tích tổng hợp

Khái quát về hình tợng con ngời cô đơn trong văn học

Khái niệm cô đơn

Theo tư điển Tiếng việt: "cô đơn" được hiểu là "chỉ có một mình, không nương tựa được vào đâu".

Theo chiết tự Hán, chữ "cô" nghĩa gốc là "mồ côi cha sớm", sau chuyển là

Cô đơn là trạng thái "trơ trọi một mình", không có ai giúp đỡ, thể hiện sự lẻ loi và đơn chiếc của con người Nó cũng mang ý nghĩa vượt khỏi vị trí vốn có so với người khác, dù cao hơn hay thấp hơn, đều khiến cho cảm giác cô đơn trở nên rõ rệt Từ "đơn" chỉ sự "lẻ", "riêng" và chỉ có "một", nhấn mạnh sự cô độc trong tâm hồn.

Từ góc độ triết học, "cô đơn" là một phần của vô thức, thể hiện bản năng con người trong việc tập trung vào những ý hướng, động cơ và ham muốn vĩnh viễn Nỗi cô đơn này đã tồn tại trong mỗi con người ngay từ khi sinh ra, được minh chứng qua tiếng khóc của trẻ sơ sinh, phản ánh nỗi cô đơn bản thể và cô đơn tiền định.

Theo C.Mác, "Bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội" Khi sự tổng hoà này bị phá vỡ, một mối quan hệ nào đó bị đứt gãy, con người có thể rơi vào trạng thái cô đơn Tâm lý học cho thấy cô đơn là cảm giác lẻ loi, hụt hẫng khi con người bị cắt đứt khỏi mối liên hệ với cộng đồng.

Cô đơn như một trạng thái tâm lí bao gồm các cấp độ:

Thứ nhất, nó tồn tại dưới dạng những xúc cảm cô đơn, những rung động rời rạc, riêng lẻ, thoáng qua.

Cảm giác cô đơn là một quá trình tâm lý xuất hiện khi con người bị tác động trực tiếp bởi các sự vật và hiện tượng xung quanh.

Tâm trạng là những biểu hiện tâm lý tồn tại trong một khoảng thời gian tương đối ổn định, ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều khía cạnh của cuộc sống của người trải nghiệm nó.

Có thể qui về hai cơ chế điển hình của nỗi cô đơn:

Tự cô đơn là trạng thái mà con người trải qua khi lớn lên, cảm nhận được sự cô đơn mà không hiểu rõ nguyên nhân Đây được xem như "sự sai khiến của dòng chảy thần thánh trong từng huyết quản của con người", phản ánh cội nguồn bản thể của mỗi cá nhân.

Cô đơn là trạng thái liên quan đến hoàn cảnh và cộng đồng xã hội, không phụ thuộc vào ý thức hay mong muốn của con người Tình trạng này xảy ra khi cá nhân cảm thấy bị loại ra khỏi cộng đồng do sự chênh lệch, dẫn đến việc tự ý thức về bản thân và tự loại mình ra khỏi chuẩn mực chung, có thể là thấp hơn hoặc cao hơn.

Từ góc độ khoa học nhân văn, "cô đơn" không chỉ là một trạng thái đáng thương mà còn phản ánh ý thức sâu sắc về giá trị của mỗi cá nhân.

"Cô đơn" không chỉ đơn thuần là trạng thái lẻ loi, mà còn phản ánh tâm lý của con người khi cảm thấy tách biệt, thiếu kết nối với cuộc sống xung quanh.

Hình tượng con người cô đơn trong văn học Việt Nam

Hình tượng con người cô đơn trong văn học thể hiện "ý đồ tư tưởng" của nhà văn, và việc bộc lộ quan điểm cũng như tư tưởng của họ phụ thuộc vào tài năng của tác giả.

Hình tượng con người cô đơn trong văn học đã phát triển qua nhiều thời kỳ và nền văn hóa, từ phương Tây đến phương Đông, từ cổ đại đến hiện đại Sự đa dạng trong cách nhận thức và phản ánh về nỗi cô đơn không chỉ thể hiện thông điệp sâu sắc của các nhà văn về thế giới và con người, mà còn tạo nên một giá trị nhân văn độc đáo.

Hình tượng con người cô đơn đã xuất hiện từ thời kỳ Văn học Việt Nam trung đại, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ ý thức hệ phong kiến Văn học trung đại nhấn mạnh tính trật tự và chức năng xã hội với các quan điểm như "văn dĩ tải đạo" và "thi dĩ ngôn chí" Tuy nhiên, những tài năng lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Phạm Văn Thái và Nguyễn Khuyến luôn thể hiện cá tính mạnh mẽ, vượt ra ngoài khuôn khổ của thời đại.

Cá tính độc đáo đã khiến những nhân vật như Nguyễn Trãi và Nguyễn Du phải đối diện với sự cô đơn trong những khoảnh khắc riêng tư Nguyễn Trãi, người từng nhập thế, cũng có lúc phải lẩn tránh, trong khi Nguyễn Du, với khát vọng phò vua giúp nước, lại phải lặng lẽ khóc thương cho số phận của mình Ngược lại, Nguyễn Công Chứ, với tâm hồn ngông cuồng, đã bộc lộ nỗi phẫn uất qua câu nói: "Kiếp sau xin chớ làm người – Làm cây thông đứng giữa đời mà reo".

Sự bừng tỉnh của ý thức cá nhân vào đầu thế kỷ XX đã tạo ra một cuộc cách mạng trong văn học Việt Nam, với việc khám phá nhiều giá trị mới xoay quanh "cái tôi" cá nhân Chủ đề về con người cô đơn, mặc dù đã xuất hiện từ văn học trung đại, giờ đây trở thành mối quan tâm sâu sắc và ám ảnh hơn bao giờ hết.

Nam Cao, nhà văn tiêu biểu của chủ nghĩa hiện thực tâm lý, đã thành công trong việc khắc họa nỗi cô đơn qua các nhân vật như Lão Hạc và Chí Phèo, những người trở thành nạn nhân của sự bỏ rơi và khước từ Họ không chỉ là tiếng kêu của nỗi cô độc mà còn là lời khích lệ chấp nhận cô đơn để tìm thấy bản thân Trong giai đoạn 1930-1945, vấn đề cô đơn trở thành một nội dung thẩm mỹ quan trọng Tuy nhiên, từ 1945 đến 1975, chủ đề này trở thành điều kiêng kị, khi văn học phải phục vụ cho ý thức cộng đồng và khẳng định con người tập thể Sự khắt khe của dư luận đối với các tác phẩm buồn như "Màu tím hoa sim" của Hữu Loan và "Vòng trắng" của Phạm Tiến Duật lý giải vì sao cô đơn không còn chỗ đứng trong văn học thời kỳ này.

Sau năm 1975, đất nước bước vào thời kỳ hòa bình và đổi mới, ý thức cá nhân dần trở lại Văn học thoát khỏi chức năng tuyên truyền, mở rộng khả năng khám phá cuộc sống và con người, trở thành một nghiên cứu về bản chất con người Những biến động lớn và cảm giác bất an đã tạo ra sự quan tâm đến trạng thái cô đơn, chứng tỏ văn học đang chú trọng đến đời sống tinh thần Chủ đề cô đơn đã làm mới diện mạo văn học, phản ánh sự thay đổi trong quan niệm về con người so với thời kỳ chiến tranh Ý nghĩa cô đơn hiện diện trong thơ ca và văn xuôi, từ những bài thơ triết lý đến các tác phẩm về chiến tranh, cải cách ruộng đất, hôn nhân và gia đình, luôn thấp thoáng hình ảnh con người cô đơn Các tác giả như Nguyễn Khải, Chu Lai, Bảo Ninh đã khắc họa những nhân vật bị tổn thương tinh thần bởi chiến tranh, thể hiện hành trình cô độc của họ trong bối cảnh xã hội đầy biến động.

Đề tài của chúng tôi khảo sát nỗi cô đơn của những con người bất hoà với môi trường sống, khi các giá trị truyền thống bị phá sản và quan hệ xã hội trở nên rời rạc Chúng tôi tìm hiểu những người đang kiếm tìm hoặc chạy trốn khỏi nỗi cô đơn, cùng với các phương thức nghệ thuật thể hiện hình tượng này trong tác phẩm "Thiên sứ" của Phạm Thị Hoài, một ngòi bút tiêu biểu cho thành công của văn xuôi thời đổi mới, nổi bật với chủ đề cô đơn trong thế giới nghệ thuật.

Từ ý thức đổi mới văn học đến quan niệm về con ngời cô đơn của Phạm Thị Hoài qua "Thiên sứ"

1 Từ ý thức đổi mới văn học

Cuối thập niên 80, nhu cầu nội tại của văn học kết hợp với bầu không khí dân chủ trong xã hội đã tạo ra một cuộc chuyển biến mạnh mẽ trên văn đàn Nhiều nhà văn nổi bật xuất hiện, mang đến sự sôi nổi và hấp dẫn cho sinh hoạt văn học Tinh thần dân chủ và cởi mở trong tiếp nhận đã có tác động mạnh mẽ đến những đổi mới trong văn học.

Phạm Thị Hoài chỉ trích mạnh mẽ những công thức cũ trong văn chương, cho rằng các nhà văn trước thế kỷ XX không ngại lặp lại chính mình, giống như những đám tang lặp lại cùng một nghi lễ quen thuộc Bà lên án tính bảo thủ trong truyền thống sáng tác và tiếp nhận văn học Việt Nam, nhấn mạnh rằng mặc dù các nhà văn có thể chấp nhận sự hòa hợp, nhưng thực chất họ vẫn thiên về truyền thống.

Phạm Thị Hoài, một nhà văn cá tính và mạnh mẽ, khẳng định sự từ chối của mình đối với "bộ đồng phục tinh thần" mà các thế hệ trước đã chấp nhận Cô tuyên bố: "Tôi từ chối không đúng vào bất kỳ thế hệ nào Tôi từ chối bất kỳ bộ đồng phục quá chật, hoặc quá rộng nào" (Thiên sứ).

Phạm Thị Hoài, giống như Nguyễn Huy Thiệp, đã chọn con đường viết khác biệt, không dễ dãi, để tìm kiếm "cách ứng xử" riêng Khi mới xuất hiện, bà được xem như một "kẻ xa lạ" trong văn học Việt Nam, và hành trình của bà là "đơn độc" Tuy nhiên, chính sự cô đơn ấy lại thể hiện cách ứng xử "lễ" và văn hóa của bà, với tư cách là một nhà văn và tri thức khao khát tham gia vào đời sống dân tộc qua nghệ thuật ngôn từ.

Việc chú trọng đến cách viết là sự lựa chọn có ý thức của người sáng tạo Phạm Thị Hoài đã thể hiện cái tôi cô đơn của nghệ sĩ qua tác phẩm "Thiên sứ" Đây là tinh thần phổ biến trong văn chương hiện đại, được khẳng định bởi các bậc thầy của thế kỷ XX.

2 Từ cảm quan về tính phi lí, bất ổn trong đời sống hiện đại

Văn học trước cái nhìn hiện thực được lý tưởng hóa, trình bày hiện thực như một tiến trình hợp lý tuyệt đối Sau 1975, xu hướng dân chủ hóa đã định vị lại giá trị cá nhân, khiến hiện thực trong văn chương trở thành những trải nghiệm riêng, phức tạp và đa dạng Trong bối cảnh xã hội đầy bất ổn, con người cảm thấy bất an trước những bất công và tình trạng văn minh thấp kém, dẫn đến sự mất thiêng của nhiều giá trị Đọc Phạm Thị Hoài, ta nhận thấy những cảm giác bất an trước hiện thực hỗn độn, với nhiều đổ vỡ và hoài nghi, trong khi sự "lệch pha" giữa cá nhân và cộng đồng đẩy con người vào trạng thái hoang mang.

Trong "Thiên sứ", sự đói khổ và căn bệnh duy ý chí đã giết chết tình người và cái đẹp, khiến tình nhân ái, sự thơm thảo và sự tin cậy bị khước từ Thế giới trong tác phẩm này là một xã hội lộn xộn, nơi bạo lực, lưu manh, bài bạc và buôn lậu lên ngôi, trong khi cái đẹp bị bao vây và tha hoá Nhân vật chị Hằng và bé Hon đại diện cho cái đẹp lạc lõng giữa cuộc đời hỗn loạn và phi nhân tính "Thiên sứ" phản ánh sự chết yểu của tình yêu trong bối cảnh xã hội vội vã chạy theo đồng tiền, với những nguỵ trang của con người trong cử chỉ và ngôn ngữ.

Từ ý thức đổi mới văn học đến quan niệm về con ngời cô đơn của Phạm Thị Hoài qua "Thiên sứ"

Từ ý thức đổi mới văn học

Cuối thập niên 80, nhu cầu văn học kết hợp với bầu không khí dân chủ đã tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trên văn đàn Nhiều nhà văn nổi bật xuất hiện, mang đến sự sôi nổi và hấp dẫn cho sinh hoạt văn học Tinh thần dân chủ và cởi mở trong tiếp nhận đã có ảnh hưởng sâu sắc đến những đổi mới trong văn học.

Phạm Thị Hoài chỉ trích mạnh mẽ những công thức cũ trong văn chương, cho rằng các nhà văn trước thế kỷ XX không ngại lặp lại chính mình, giống như những đám tang lặp đi lặp lại cùng một nghi lễ quen thuộc Bà lên án sự bảo thủ trong truyền thống sáng tác và tiếp nhận văn học ở Việt Nam, nhấn mạnh rằng mặc dù các nhà văn Việt Nam có thể chấp nhận sự hòa hợp, nhưng thực chất họ vẫn thiên về truyền thống.

Phạm Thị Hoài, một nhà văn cá tính và mạnh mẽ, khẳng định sự từ chối của mình đối với "bộ đồng phục tinh thần" mà các thế hệ trước đã chấp nhận Cô tuyên bố: "Tôi từ chối không đúng vào bất kỳ thế hệ nào và từ chối những bộ đồng phục quá chật hoặc quá rộng."

Phạm Thị Hoài, giống như Nguyễn Huy Thiệp, đã chọn con đường viết khác biệt, không dễ dãi, để tìm kiếm "cách ứng xử" riêng Khi mới xuất hiện, bà được xem như một "kẻ xa lạ" trong văn học Việt Nam, với hành trình "đơn độc" Tuy nhiên, chính sự cô đơn ấy lại thể hiện cách ứng xử "lễ" và văn hóa của bà, với tư cách là một nhà văn và tri thức khao khát tham gia vào đời sống dân tộc qua nghệ thuật ngôn từ.

Phạm Thị Hoài nhấn mạnh tầm quan trọng của việc "viết như thế nào" trong sáng tạo văn chương, thể hiện cái tôi cô đơn của nghệ sĩ qua tác phẩm "Thiên sứ" Đây là một tinh thần phổ biến trong văn học hiện đại, được khẳng định bởi các bậc thầy của thế kỷ XX.

Từ cảm quan về tính phi lí, bất ổn trong đời sống hiện đại

Văn học trước cái nhìn hiện thực được thể hiện qua lăng kính lý tưởng hóa, tạo nên một tiến trình hợp lý tuyệt đối Sau năm 1975, xu hướng dân chủ hóa đã định vị lại giá trị cá nhân, khiến hiện thực trong văn chương trở thành những trải nghiệm riêng biệt, phức tạp và đa dạng Trong bối cảnh xã hội đầy bất ổn, con người phải đối mặt với nhiều bất công và tình trạng văn minh thấp kém, dẫn đến cảm giác bất an và sự mất thiêng trong các giá trị Đọc Phạm Thị Hoài, ta cảm nhận được sự lo lắng trước hiện thực hỗn độn, với nhiều đổ vỡ và hoài nghi, trong khi sự "lệch pha" giữa cá nhân và cộng đồng khiến con người rơi vào trạng thái hoang mang.

Trong "Thiên sứ", sự đói khổ và căn bệnh duy ý chí đã giết chết tình người và cái đẹp, khiến tình nhân ái, sự thơm thảo và sự tin cậy bị khước từ Thế giới trong tác phẩm này là một xã hội lộn xộn, nơi bạo lực, lưu manh, bài bạc và buôn lậu lên ngôi, trong khi cái đẹp bị bao vây và tha hoá Nhân vật chị Hằng và bé Hon đại diện cho cái đẹp lạc lõng giữa cuộc đời hỗn loạn và phi nhân tính "Thiên sứ" phản ánh sự chết yểu của tình yêu trong bối cảnh xã hội vội vã chạy theo đồng tiền, với những nguỵ trang của con người trong cử chỉ và ngôn ngữ.

Nhân vật của Phạm Thị Hoài thể hiện cảm nhận về tính phi lý và bất ổn của thực tại, một thực tại đầy dối trá khó tin Sự nổi loạn của nhân vật Hoài là phản ứng mạnh mẽ trước cái "giả" và những "cỗ máy rò rỉ", cùng với các mô hình người cứng nhắc.

Cảm quan về hiện thực phi lý đã dẫn dắt nhà văn lựa chọn những chi tiết phi lý để thể hiện tư tưởng của mình về cuộc sống Hình ảnh "người không mặt" là một biểu tượng sâu sắc trong tác phẩm, phản ánh sự vô hình và mất mát trong bản sắc con người Những chi tiết này không chỉ tạo nên sự hấp dẫn mà còn khơi gợi những suy ngẫm về bản chất của thực tại và con người trong xã hội hiện đại.

Mô hình I và mô hình II không chỉ đơn thuần là những hình ảnh để người đọc tin tưởng, mà thực chất là một lời cảnh báo về lối sống nhạt nhẽo và tầm thường Những con người "không mặt" và các mô hình được đánh số phản ánh sự phê phán mạnh mẽ đối với lối sống "giả" Dù tình yêu, bạn bè và cuộc sống là những giá trị thiêng liêng, chúng vẫn tiềm ẩn nhiều bất trắc mà con người phải đối mặt.

Đến quan niệm về trạng thái cô đơn của con người

Cô đơn là một biểu hiện quan trọng trong tiểu thuyết về sự nhỏ bé và hữu hạn của con người Trong tác phẩm "Thiên sứ", con người có thể "được sinh ra" hoặc "bị sinh ra", và có thể trải qua sự tuyệt vọng ngay từ khi chào đời, giống như "con chim trốn tuyết" Hình ảnh "nụ cười và môi hôn của bé Hon" trở nên lạc lõng giữa thế giới "u xám, lạnh lùng".

Phạm Thị Hoài cho rằng cô đơn là hệ quả của sự phi lý trong cuộc sống đầy ngẫu nhiên Cô cảm nhận nỗi cô đơn khi chứng kiến sự tranh giành, chửi rủa giữa con người, và đặc biệt là khi khao khát tình yêu nhưng không được đáp lại Người yêu của cô, một công dân mẫu mực, không bao giờ nhận ra những điều tinh tế trong tâm hồn Hoài Cuộc sống khó khăn khiến mẹ cô trở nên bẳn gắt, còn bố cô thì co mình trong mặc cảm Hoài luôn thổn thức vì chưa từng biết đến tình yêu thương từ mẹ Dù có nhiều người theo đuổi, nhưng không ai hiểu được mong ước thật sự của cô Trong hoàn cảnh này, con người không muốn nhưng vẫn phải chịu đựng nỗi cô đơn.

Trong sáng tác của Phạm Thị Hoài, con người luôn cảm thấy bị tù túng và cố gắng thoát khỏi những định kiến, ràng buộc của cuộc sống Họ phải đối mặt với sự cô đơn của sự lựa chọn, chấp nhận cô đơn như một giá trị sống để tồn tại trong xã hội phi lý Các nhân vật của Hoài coi cô đơn là điều hiển nhiên, cho thấy rằng dù trong hoàn cảnh nào, cô đơn vẫn là một phần phổ biến trong cuộc sống nhân loại, và nó mang lại ý thức cho con người.

Những dạng thức chủ yếu của con ngời cô đơn

Những con người bất hoà với môi trường sống

1.1 Khi các giá trị truyền thống bị phá sản

1.1.1 Các giá trị gia đình

Gia đình là nơi mang lại sự bình yên trong cuộc sống đầy khó khăn và thử thách Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện đại, gia đình đã có sự thay đổi, như được thể hiện trong tác phẩm "Thiên sứ" của Phạm Thị Hoài, nơi các thành viên trong gia đình trở nên xa cách, mỗi người như một vũ trụ riêng biệt.

Cô bé Hoài lớn lên trong một gia đình thiếu sự gắn kết, luôn cảm thấy xa lạ với người thân Giấc mơ về một gia đình hạnh phúc với người vợ dịu dàng và người chồng âu yếm đã hình thành từ những trải nghiệm ngột ngạt trong gia đình Hoài quen thuộc với những trận cãi vã của bố mẹ nhưng chưa bao giờ cảm nhận được tình yêu thương từ mẹ Gia đình cô không được xây dựng trên nền tảng tình yêu mà chỉ là những giá trị giả dối như uy tín và danh dự Bố cô giống như một cỗ máy đơn điệu, và trong gia đình, mọi người đều là những "cỗ máy bị tuột xích", không ai hiểu ai và mỗi người đều có phong cách riêng biệt.

Chị Hằng, người chị sinh đôi của Hoài, xinh đẹp và thông minh, đã kết hôn với một người chồng giàu có Tuy nhiên, những dòng nhật ký của chị về chồng lại khiến người đọc cảm thấy như chị đang viết về một người xa lạ, không liên quan đến cuộc sống của mình Dù sở hữu vẻ đẹp mà nhiều người ao ước, Hằng lại không cảm thấy hạnh phúc, vì chị không hiểu rõ những khát khao thầm kín của bản thân Chị chỉ có thể chia sẻ những tâm tư của mình với đứa em mãi mãi ở tuổi mười bốn.

Phạm Thị Hoài đã viết những dòng đầy cảm xúc về bé Hon – một thiên sứ pha lê tinh khiết, với nụ cười thánh thiện Bé Hon, ra đời trong một thế giới đầy gầm ghè và cáu bẩn, đã phải đối mặt với sự vô tâm của người cha Nụ cười và những cái hôn trở thành thứ "xa xỉ" trong cuộc sống của bé Sự lạc lõng của bé Hon thể hiện khát vọng yêu thương trong không gian thiếu vắng tình người Như "con chim trốn tuyết", thiên sứ phải ra đi, khép lại hành trình tìm kiếm tình yêu và sự ấm áp Cái chết của bé Hon không chỉ là mất mát mà còn là lời cảnh tỉnh về sự xói mòn nhân tính Những trang viết về bé Hon tỏa sáng dịu dàng, để lại dư vị xót xa về thân phận cô đơn của cái đẹp nguyên sơ.

1.1.2 Các giá trị chốn học đường

Cô bé Hoài là sản phẩm của môi trường nông thôn nghèo, chủ động từ chối lối sống bầy đàn và không tham gia vào đám đông Hoài không có được sự thanh thản, vô tư như bạn bè cùng trang lứa, và ngay từ đầu, cô đã nhận ra sự "khác dấu" của mình trong tập thể Những bạn cùng lớp năm đã biết đến việc "tẩy chay" nhau.

Hoài nhận ra sự tàn nhẫn và định kiến đối với những điều vượt trội Để phản kháng, Hoài trở nên lầm lì, đạt điểm tuyệt đối trong mọi môn học và khao khát sự cảm thông Biến cố đầu tiên xảy ra khi trời mưa vào lớp, khiến Hoài bị kết án là "có lẽ đầu óc em không bình thường".

Hoài không thiếu nhu cầu hòa đồng với tập thể; cô bé thừa nhận rằng "ngày càng khao khát cảm thông" Tuy nhiên, việc chọn lối đi đơn độc là một tình thế bất đắc dĩ Cô sớm trải nghiệm nỗi cô đơn trước khi nhận thức được tính chất bi đát của một xã hội đang khủng hoảng và đổ vỡ, không chỉ trong thế giới người lớn mà còn len lỏi vào những tâm hồn "thần tiên".

Hoài dũng cảm từ chối trật tự xã hội, quyết định không theo đuổi các bậc thang trong hệ thống giáo dục đại học và các vị trí xã hội Đây là một lựa chọn bi kịch, vì để sống thật với bản thân, cô bé phải chấp nhận sự cô đơn.

Trong xã hội hiện đại, sự phát triển kinh tế đi kèm với những khủng hoảng tinh thần, đặc biệt là ở lứa tuổi học đường Nhiều học sinh đang phải đối mặt với những băn khoăn và trăn trở về cách hành xử, nhưng đáng buồn là chỉ một số ít trong số họ thể hiện điều này Những mặc cảm và thất vọng của các em thực chất là biểu hiện của nhân cách, khiến các em cảm thấy cô đơn trong khao khát khẳng định bản thân, cái đẹp và chân lý Cô đơn trở thành nỗi ám ảnh đối với những tâm hồn trong sáng đang bước vào giai đoạn đầu của cuộc đời.

1.2 Các quan hệ xã hội

Tiểu thuyết "Thiên sứ" để lại ấn tượng sâu sắc với nỗi ám ảnh về thế giới của những con người cô đơn, như cô bé Hoài, bé Hon, chị Hằng và nhà thơ Ph Họ đều hoặc tự chọn cho mình lối sống lẻ loi, hoặc bị đẩy vào trạng thái cô đơn.

Cô bé Hoài, nhân vật chính trong "Thiên sứ", chọn một ngoại hình "dị dạng" khác thường, tạo ra rào cản trong việc hòa nhập với thế giới bình thường của chị Hằng, anh Hạc, và anh Hùng Tuy nhiên, vẻ "dị dạng" của Hoài không phản ánh sự bất toàn của con người, mà thể hiện ý thức mạnh mẽ trong việc từ chối gia nhập vào thế giới người lớn đầy giả dối và vô cảm.

Nhãn quan hay triết lí hành động của Hoài có thể tóm gọn trong hai từ

Trong tác phẩm, Hoài thể hiện rõ ràng quan điểm "khước từ" và "phủ nhận" qua những tuyên ngôn như "tôi khước từ đám đông cuồng tín" và "khước từ quan hệ họ hàng với các nhân vật xa lạ" Mặc dù được coi là kẻ xa lạ trong mắt mọi người, Hoài mang trong mình khát vọng về tình yêu và sự chân thành mà những người xung quanh không hiểu Vết thương "nỗi buồn" hay "nỗi cô đơn" của Hoài không gây xót xa, vì chính Hoài đã chọn lối sống "khước từ" và "phủ nhận" sự sống bầy đàn xung quanh.

Hình tượng Hoài thể hiện sự lạc lõng trong một thế giới đồng nhất, nơi mọi người đều mang "bộ đồng phục" tinh thần của xã hội Nhân vật này đại diện cho cá tính và bản lĩnh không bị bào mòn Sự cô đơn và lạc điệu chính là yếu tố tạo nên ý nghĩa tồn tại của Hoài Qua đó, Phạm Thị Hoài truyền tải quan niệm rằng cô đơn là điều kiện cần thiết để tồn tại trong xã hội hiện đại.

Chị Hằng, như Hoài, là biểu tượng của cái đẹp, nhưng cái đẹp ấy lại bị vấy bẩn bởi dục vọng của kẻ giả danh cao thượng Gã thầy giáo đã cướp đi sự trinh trắng của Hằng, khiến chị không còn nhìn đời bằng con mắt tin cậy "Lễ cầu hôn" thể hiện sự săn đuổi cái đẹp, trong khi "đám cưới" lại là một lễ hội ồn ào không dành cho chị Hằng không tìm thấy sự đồng điệu trong tình yêu, mà chỉ thấy ngôn ngữ của những kẻ cầu hôn đầy tiền bạc Chị không tham gia vào những trò lố bịch xung quanh, như thể đó là số phận của một cô dâu khác Đám cưới kết thúc bằng những giọt nước mắt của bé Hoài và tiếng khóc thảng thốt của chị Chị Hằng là nỗi bất an trong xã hội vụ lợi, thể hiện tâm trạng lẻ loi, cô đơn không chỉ qua cái nhìn của Hoài mà còn qua sự tự ý thức của chính mình Số phận bi kịch của chị để lại dư vị chua xót.

Các nhân vật như Quang lùn, anh Hạc, anh Hùng, thầy Hoàng và anh chàng bơm xe tạo nên hình ảnh một thế giới tan rã, nơi mỗi người đều vật lộn theo cách riêng, nhưng đều mang tính vô nghĩa Kết thúc của "Thiên sứ" để lại ấn tượng sâu sắc về nỗi cô đơn, khi nhân vật chính "ngóng mãi, ngóng mãi vô vọng rồi bỏ đi, hòa làm một với cô đơn" Điều này có thể được hiểu như một dấu chấm hư vô, phản ánh dự báo của nhà văn về kết cục của một cuộc sống vô hồn và vô cảm.

Những con người kiếm tìm hoặc trốn chạy

Khác với những nhân vật cô đơn của Bảo Ninh, Chu Lai, và Nguyễn Viện, những người bị ám ảnh bởi quá khứ chiến tranh, nhân vật cô đơn của Phạm Thị Hoài tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống trong hiện tại Họ kiếm tìm cái đẹp giữa cuộc đời phàm tục, dù là trong ảo tưởng hay tỉnh táo, vẫn cảm thấy cô đơn Cô đơn trở thành sự chấp nhận và là một lựa chọn có ý thức, gắn liền với niềm kiêu hãnh cá nhân Những người này coi cô đơn là giá trị nhân cách, theo đuổi cái đẹp "thanh cao, hoang tưởng" giữa cõi "dung tục" Như chị Hằng mơ về một tình yêu lớn, bé Hon mơ về một thế giới chỉ có "môi hôn thơm ngậy mùi sữa" và những nụ cười thân thiện, còn Hoài mơ ước con người đều là

Trong bài thơ "Thiên sứ", nhà thơ Ph thể hiện sự "đam mê, lạnh lùng, cách biệt" khi khẳng định: "Hành trình của tôi đơn độc, tôi không cần khán giả" Ông lặng lẽ giữa những tiếng gáy của gà trống, phản ánh cuộc sống thường nhật đầy mâu thuẫn, nơi mà những điều bình dị như áo cơm và giấc mơ kỳ tích bị nuốt chửng Dù có những "299 phò mã tương lai", Ph vẫn chọn cách lánh xa các cuộc thi thố, hội hè, và những đánh giá từ người khác.

Ph là một nhân vật không tuổi tác, không hình dáng và không nguồn gốc, nhưng luôn ám ảnh tâm trí Tên của anh cũng không đầy đủ, chỉ được ký hiệu như một con số Ph đại diện cho một bản ngã khác của bé Hoài, người dám từ chối mọi thứ để sống với cái "ego" của mình Anh là hình mẫu của sự cô đơn, mang trong mình "số phận âm thầm tủi nhục của kẻ mộng mơ cuối cùng còn sót lại giữa thế kỷ này".

Cuộc gặp gỡ giữa Hằng và nhà thơ Ph là một cuộc đối thoại giữa cái đẹp và khát khao sáng tạo Dù "họ sinh ra là thuộc về nhau", nhưng hai người như những đường thẳng song song, không bao giờ gặp gỡ Hằng đã đốt 300 lần lá bùa mang tên Ph, từ chối chia sẻ số phận của anh để giữ lại những tiếc nuối Nhà thơ Ph lại lánh xa những cuộc thi thố và hội hè, không tìm đến Hằng, dẫn đến sự mất mát và ám ảnh trong suốt cuộc đời họ Phạm Thị Hoài đã khắc họa nỗi cô đơn của Ph qua những vần thơ đầy âm hưởng dịu dàng và mơ hồ.

Chương 15 mang tên "Thơ Ph." là hiện diện của Ph "anh đã vấp ngã vào bán kính lớn của hành trình elip dẫn tới cơn sáng hỗn độn, chữ nghĩa cuồn cuộn trút từng mảng niagra xuống bình minh rung động nơi em đã đi qua không một lần ngoảnh lại đã vùi trí nhớ vào đống mật mạ ròng rã con nước apocaluptic qua ý nghĩ không đầu, không cuối thật ra chỉ là một trí thức trong ngày tàn bạo này không chỉ riêng em " một thứ văn xuôi chảy tràn trên trang giấy không tuân theo lôgic thông thường Ph đã chơi một cuộc chơi bất tận của những con chữ. Chữ trong thơ Ph là sự hoà trộn giữa thơ và phi thơ Câu thơ của Ph không "dẹt như bãi bể buổi sáng thuỷ triều đã chết trong yên tĩnh", mà là thứ văn xuôi

Thơ Ph mang trong mình nỗi đau vô tận và khát khao tình yêu mãnh liệt dành cho người con gái đẹp Những câu thơ dài thể hiện sự da diết và sâu sắc trong cảm xúc.

"Như thể anh yêu em" thể hiện dòng chảy bất tận của tình yêu, vừa lặng thầm vừa mãnh liệt Tình yêu trong thơ Ph cũng mang nỗi cô đơn, phản ánh thâm phận của chính tác giả khi không được đón chờ.

Ph là một người sống độc lập, không đi cùng ai trên hành trình của mình Trong cuộc sống, ông chỉ tập trung vào ba điều quan trọng: làm thơ, yêu đương và mơ mộng Tác giả đã thể hiện những suy tư sâu sắc qua lời tự bạch của mình.

Ph quan niệm rằng nghệ sĩ chỉ có thể diễn giải vũ trụ của chính mình và không quan tâm đến công chúng hay các phương tiện truyền thông Ông không sáng tác để làm hài lòng người khác, mà chỉ theo nhu cầu tự thân, thể hiện một hành trình sáng tạo đơn độc và tự do tuyệt đối Quan niệm văn chương của Ph mang tính cách nổi loạn và phản truyền thống, cho thấy sự lựa chọn cô độc của ông là kết quả của việc từ chối gia nhập dòng chảy của số đông, tạo nên một cái cô đơn đích thực.

Phạm Thị Hoài, với ý thức sâu sắc về trách nhiệm của một nhà văn đương đại, đã mang đến những quan niệm độc đáo về con người và văn chương Bà từ chối "bài hát đồng người" để trở thành "người khác", tạo ra cách ứng xử riêng với văn chương Tác giả đi sâu vào chủ đề cô đơn, khám phá nỗi cô đơn bản thể và nỗi cô đơn của những con người bị cộng đồng chối bỏ, đồng thời chủ động tách khỏi cộng đồng để khẳng định sự hiện diện của mình.

Hình tượng "Thiên sứ" phản ánh sâu sắc nhu cầu tự vấn của người trí thức, thể hiện sự cô đơn và nỗi sợ hãi trong cuộc sống Văn học trở về với bản chất của nó, là khoa học về con người và sự tự biểu hiện Cô đơn, sợ cô đơn, và cảm giác bị cô đơn vẫn luôn là những ám ảnh thường trực Hình tượng con người cô đơn trong tác phẩm của Phạm Thị Hoài thực sự mang lại sức ám ảnh mạnh mẽ.

Một số phơng thức nghệ thuật khắc hoạ hình tợng

Lời độc thoại nội tâm như lời tự bạch, tự vấn

Để thể hiện đời sống tinh thần và con người bên trong của nhân vật, các nhà văn hiện đại thường sử dụng độc thoại nội tâm, đặc biệt hiệu quả với chủ đề cô đơn Phạm Thị Hoài cho thấy rằng độc thoại nội tâm là một trong những thủ pháp mạnh mẽ nhất, giúp nhà văn khám phá sâu sắc ý thức tự vấn của nhân vật Qua kỹ thuật này, nhân vật có thể thiết lập cái nhìn riêng về thế giới xung quanh.

Phạm Thị Hoài chỉ ra rằng con người có nhu cầu tự vấn, thể hiện khát vọng vượt qua những khuôn khổ cũ để tái định giá mọi giá trị và mối quan hệ Điều này giúp họ tìm kiếm điểm tựa cho bản thân và xác lập nhân cách, nhân vị riêng.

Đoạn tự luận của bé Hoài thể hiện dòng độc thoại nội tâm sâu sắc, bàn luận về tác phẩm "Ruồi Trâu" và "Thép đã tôi thế đấy", đặc biệt là chương "Đám tang" Những suy nghĩ của nhân vật Hoài mang đến cho người đọc cảm giác như đang lạc vào một tiểu thuyết đầy cảm xúc.

Phạm Thị Hoài tiếp tục thể hiện quan điểm độc đáo qua các tiểu luận của mình, với mong muốn khám phá và phê phán những giá trị hiện có Bà không ngần ngại lật tẩy những lớp vỏ bọc bên ngoài để phơi bày sự tầm thường của nhiều huyền thoại Sự khác biệt trong cách đánh giá này đã khiến Hoài cảm thấy cô đơn.

Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài đều sử dụng độc thoại nội tâm để khám phá triết lý về cuộc sống và vật chất, khuyến khích người đọc cùng nhân vật tự soi xét bản thân Tuy nhiên, từ góc nhìn của nhân vật, những tư tưởng của họ không mang tính áp đặt mà vang lên như tiếng lòng chân thực, tin cậy và đầy bức xúc, đau đớn của chính nhân vật.

Phạm Thị Hoài sử dụng hình thức tự luận và nhật ký để thể hiện dòng độc thoại nội tâm Nhật ký của chị Hằng không chỉ là những tâm sự cá nhân mà còn là lời chất vấn dành cho những ai quan tâm đến tình trạng dân tộc Sau hai cuộc chiến tranh lớn, những kỷ niệm và huân chương đã trở thành những ký ức nhỏ bé trong thư viện công cộng Con người bắt đầu nhìn lại các kỳ tích và khát vọng, nhưng thường bị hoài nghi hoặc rơi vào sự buồn tẻ, chỉ còn lại những nỗ lực vô vọng để tìm kiếm ý nghĩa trong cuộc sống Nhật ký ấy thực chất cũng chính là một hình thức tự luận.

Nhà thơ Ph sử dụng độc thoại để đối thoại với công chúng giả định, thể hiện nỗi cô đơn và trạng thái buồn tẻ, vô nghĩa của tình yêu và hôn nhân Nhân vật quan sát và miêu tả dòng suy tư không thể chia sẻ của chính mình.

Những đối thoại rời rạc, lệch hướng, không có sự song hành

Độc thoại và đối thoại là hai thủ pháp quan trọng giúp tạo ra hiệu quả thống nhất và xác lập giọng điệu cho tác phẩm Những lời đối thoại như tự vấn, tra vấn, hay những cuộc đối thoại lạc hướng, lệch kênh, không hồi đáp đều thể hiện rõ nét dấu ấn của con người cô đơn.

Hình ảnh con người cô đơn trong tác phẩm của Phạm Thị Hoài được thể hiện rõ nét qua kỹ thuật tổ chức đối thoại Những cuộc đối thoại thường rời rạc, không đồng điệu, phản ánh mối quan hệ lỏng lẻo giữa các nhân vật Qua đó, người đọc có thể nhận diện tính cách, tâm lý và lứa tuổi của họ Trong "Thiên sứ", mặc dù số lượng đối thoại không nhiều, nhưng những đoạn đối thoại ít ỏi vẫn cho thấy trạng thái khước từ giao tiếp giữa các nhân vật Chương 19 - Hành trình Magellan cũng tiếp tục khai thác chủ đề này.

Thầy Hoàng nói rằng cậu bé giả câm, giả điếc cứ việc tiếp tục như vậy, trong khi ông, một thi sĩ bình thường, mời cậu ta dùng bữa cùng với suất cơm tù của mình.

Nhà thơ: - Cám ơn Thầy Hoàng: - Cậu bé tội nghiệp! Hay làm một tợp Vodka? Uống rượu một mình, quả là vô duyên!

Anh Hạc: - Xin ông để tôi yên!

Thầy Hoàng: - ( ) Cậu thì quá câm điếc Việc quái gì phải hành hạ mình theo kiểu đó?

Anh Hạc: - Ông im đi, không khéo tôi vặn cổ

Nhà thơ trong "Thiên sứ" thể hiện sự cô đơn và xa lạ giữa con người, khi ông nói: "Tôi chẳng chung hành trình với ai." Đối thoại trong tác phẩm mang đến cảm giác về một thế giới hỗn độn, nơi các sự vật và sự kiện tồn tại mà không có sự liên kết Con người sống bên nhau như những cá thể tách biệt, với những cuộc đối thoại rời rạc, cộc lốc và một chiều, hạn chế bộc lộ cảm xúc Qua đó, tác giả khắc họa một thế giới lạnh lùng và vô cảm, phản ánh thực trạng rạn vỡ của sự cô đơn.

Giọng dửng dưng, vô cảm và giọng tê tái buồn

Giọng điệu trong văn học thể hiện thái độ và lập trường tư tưởng của nhà văn đối với hiện thực Giọng của nhân vật và người trần thuật đều phản ánh cách cảm thụ và cái nhìn thế giới của người kể chuyện Lời nói của người trần thuật không chỉ tạo hình mà còn mang tính biểu hiện sâu sắc.

Người trần thuật đóng vai trò là cầu nối giữa các hiện tượng được mô tả và người nghe (người đọc), họ là những nhân chứng và người giải thích các sự việc diễn ra.

Tiểu thuyết "Thiên sứ" của Phạm Thị Hoài thể hiện giọng điệu độc đáo với sự kết hợp giữa đối âm và nghịch âm Tác phẩm mang đến cảm xúc vừa dịu dàng, vừa thẳng thắn, sắc sảo, đồng thời cũng bay bổng và chất thơ Ngoài ra, nó còn chứa đựng sự giễu cợt và khinh bạc, tạo nên một phong cách nghệ thuật đặc sắc.

Từ góc độ định giá của Hoài, nhân vật tự vấn thể hiện sự đặc sắc ngôn từ qua việc sử dụng phong phú các biểu thức định danh.

Phòng độc với một cửa sổ và lỗ thủng hình chữ nhật biến đổi màu sắc từ xanh sang vàng óng, đôi khi lại xám xịt Hình ảnh khuôn hình chữ nhật xoay như rubic, cùng với những cơn mưa tháng bảy, tháng tám, mang theo nước mặn từ bốn đại dương đổ xuống mái nhà dột của gia đình tôi Những cái hôn trở thành thứ xa xỉ mà gia đình tôi không thể nào kham nổi.

Vào lúc 5 giờ sáng, mọi vật có thể tiếp xúc với nước đều được mang ra máy nước công cộng, bao gồm chăn chiếu, nồi niêu, bát đĩa, dép, và cả cơ thể con người Hàng trăm ô vuông nâu và hàng chục suy nghĩ dồn nén sau một ngày khô hạn cũng được giải phóng Đây là lễ rửa tội vĩ đại diễn ra hàng tuần.

Trong lời văn nghệ thuật của Phạm Thị Hoài, thành phần miêu tả rất hạn chế, chủ yếu là các biểu thức định danh Kết cấu thường thấy bao gồm hai phần: phần đầu nêu ra sự vật, hiện tượng, và phần sau định danh các sự vật, hiện tượng đó Các định danh thường được sử dụng là ẩn dụ.

Các biểu thức định danh trong tiểu thuyết "Thiên sứ" không chỉ tạo ra tiếng cười giễu nhại mà còn thể hiện thái độ và cách đánh giá của tác giả về các hiện tượng Ví dụ, chi tiết miêu tả Quang lùn với "khuôn mặt anh ta khuất tối, chỉ cặp mắt sáng rực và đốm lửa thuốc là chốc chốc bừng lên, ba góc lân tinh của tam giác đều, siêu thực" cho thấy sự châm biếm và nhận xét sắc bén Những biểu thức này thường mang tính chất bình luận ngắn gọn, có lúc lạnh lùng, có lúc giễu cợt và cay nghiệt.

Nhiều biểu thức định danh trong bài viết thể hiện sự cô đơn rõ rệt của người kể chuyện Cô bé Hoài thường tự họa chân dung của mình, phản ánh tâm trạng và cảm xúc sâu sắc.

"Giấc ngủ bào thai" là một ẩn dụ thể hiện nỗi cô đơn bản thể của Hoài, xuất hiện bốn lần trong tác phẩm Con người chỉ cảm thấy an toàn khi ở trong bụng mẹ, nhưng khi sinh ra, họ phải đối mặt với sự cô đơn do mất đi sự bảo vệ của mẹ Hành trình sống bắt đầu với cảm giác đơn độc và không nơi nương tựa, trong khi cái chết lại là một cú dấn thân khác vào lãng quên Cả sinh và tử đều mang đến sự cô đơn, khiến "giấc ngủ bào thai" trở thành nỗi ám ảnh thường trực của Hoài.

Những biểu thức định danh khi nói về bé Hon mang đậm chất thơ và sự tiếc nuối: "Sứ giả của tình yêu đã đến, đã kiên nhẫn và đã bỏ đi, con chim trốn tuyết" Hình ảnh quan tài trống không, thơm tho, sạch sẽ, chỉ còn lại nụ cười của Thiên sứ pha lê, thể hiện tình yêu thương và nụ cười trong trẻo giữa sa mạc khô cằn của tình người Nhà văn gửi gắm niềm tin cứu rỗi thế giới vào tuổi thơ, với hy vọng một ngày ấm áp sẽ đón chim về.

Bài viết đề cập đến việc sử dụng giọng vô âm sắc trong văn học, thể hiện qua thái độ của mẹ trước cái chết của bé Hon, khi "mẹ cấm khẩu mất một tuần" Điều này khiến người đọc chỉ có thể cảm nhận được nỗi buồn mà không hiểu rõ hơn về cảm xúc của người kể Nhân vật chị Hằng được mô tả là "lớn trước tuổi, buồn trước tuổi", với vẻ đẹp và sự khó hiểu Cô bé Hoài cùng những sự kiện trong gia đình và xã hội xung quanh dường như trở nên xa lạ, khiến người đọc phải đặt câu hỏi về sự dửng dưng của các nhân vật.

Những không gian gợi ám ảnh trôi dạt, bế tắc

Không gian nghệ thuật trong sáng tác của Phạm Thị Hoài thể hiện tư tưởng nghệ thuật của bà qua những hình ảnh không gian tù đọng, tạo phông nền cho suy nghĩ và cảm nhận của nhân vật Tác phẩm "Thiên sứ" nổi bật với không gian đô thị đặc trưng, như "nhà độc một phòng, 16 mét vuông" và "phòng độc một cửa sổ", gợi lên cảm giác bức bối, ngột ngạt Những chi tiết như "đóng khung", "400 ô vuông" và "khuôn hình chữ nhật" khiến người đọc cảm nhận rõ ràng sự tù túng, không lối thoát trong không gian ấy.

Trong không gian ngột ngạt, cô bé Hoài và chị Hằng khám phá bí ẩn về duyên phận Họ tình cờ gặp một người có giới tính không rõ ràng trong một gác xép chật hẹp, nơi ánh sáng mờ ảo và không khí nặng nề với đủ loại mùi khiến khứu giác của họ không thể định nghĩa nổi.

Không gian trong "Thiên sứ" luôn mang lại cảm giác ngột ngạt, mặc dù mở đầu bằng hình ảnh đẹp của "Bờ Hồ" Câu văn dẫn dắt người đọc vào nỗi cảm thông với cuộc sống của cư dân phố phường quanh bờ Hồ, nơi mà "Tôi chỉ còn là hai cuống phổi" giữa thiên nhiên lạc lõng trong thành phố đông đúc Hình ảnh sống động của pháo hoa, đèn lồng, và dòng xe đạp không ngừng nghỉ tạo nên một bức tranh hỗn độn, gấp gáp Không gian phố phường giống như căn phòng chật hẹp của gia đình Hoài, nơi mọi chuyển động đều rời rạc, hỗn loạn và bế tắc.

Phạm Thị Hoài mô tả không gian trong "Thiên sứ" với cái nhìn hài hước nhưng cũng đầy nỗi buồn, khi nhắc đến hình ảnh cửa sổ với nhiều người đứng, lớp vôi tường bong tróc để lộ lõi gạch xây ẩu Nền đất trũng xuống như một dấu chấm, gợi ý về tương lai khi nơi này trở thành di chỉ khảo cổ học, phản ánh hàng trăm tầng văn hóa đã từng tồn tại Tác giả đặt ra câu hỏi về giá trị của không gian này khi những kẻ đến sau không còn mang theo di sản tổ tiên, và liệu những dấu tích của chiến tranh, băng giá, động đất hay dịch bệnh có còn đủ sức làm chứng cho điều gì trong tương lai.

Người đọc thường chỉ nhận ra giọng điệu mỉa mai của tác giả mà không thấy rằng câu hỏi "chỗ ấy còn đủ sức làm chướng tích cho một cái gì?" ẩn chứa nỗi đau và hổ thẹn về sự tồn tại của nền văn hóa Liệu chúng ta có chỉ là những kẻ đứng bên lề khi so sánh với các dân tộc đang phát triển mạnh mẽ? Câu hỏi mang sắc thái khinh bạc ấy cho thấy sự đơn độc của người kể chuyện, khi mà ít ai có thể chia sẻ nỗi niềm này.

Trong tác phẩm của Phạm Thị Hoài, không tồn tại một kiểu không gian đơn giản Bà đã khéo léo sáng tạo ra những hình tượng không gian mang tính biểu hiện cho chủ đề cô đơn, và nhờ vào tài năng của mình, những hình tượng này trở nên vô cùng ám ảnh.

Trong tác phẩm "Thiên sứ" của Phạm Thị Hoài, thiên nhiên thường được thể hiện qua lăng kính chủ quan Một ví dụ điển hình là hình ảnh ngày bé Hon ra đi, được miêu tả là "một ngày mùa đông giá buốt", với những cảm xúc mãnh liệt thể hiện qua "cặp môi đòi vô tận những cái hôn" chói rực như "hai mảnh than hồng" giữa không gian u ám lạnh lùng.

Mưa là tín hiệu nghệ thuật đặc biệt mà Phạm Thị Hoài chú trọng trong tác phẩm "Thiên sứ" Biến cố đầu tiên trong đời nhân vật Hoài xảy ra khi cô bé bị kết án với câu nói: "Có lẽ đầu óc em có vấn đề" Trong những cơn mưa, nhân vật tìm thấy niềm an ủi duy nhất và có cơ hội để suy ngẫm về quá khứ của mình.

Hình tượng thiên nhiên còn bao gồm một hệ thống tín hiệu rất đặc biệt – đó là những "âm thanh" đầy đe doạ, cảnh báo.

Trong "Thiên sứ", âm thanh được thể hiện qua bút pháp phóng dụ và trào lộng, đặc biệt trong chương "Chủ nhật" với âm thanh của "chiếc vòi nước duy nhất" Sau khi hoàn tất "Lễ rửa tội hàng tuần vĩ đại", Hoài một mình đến vòi nước công cộng, nơi cô và chiếc vòi nước trở thành "hai kẻ bị bỏ quên" Tiếng vòi nước như lời hát ru, gợi lên nỗi cô đơn trong sự buồn tẻ của bài ca đều đều, róc rách, bị lãng quên ngay sau khi mọi người thỏa mãn nhu cầu "rửa tội" Hoài, một cô bé cô đơn, từ chối lối sống bày đàn, tìm đến vòi nước như một tín hiệu cô đơn, làm nổi bật sự cô đơn của "ốc nhỏ" trong "giấc ngủ bào thai".

Trong tác phẩm "Thiên sứ", âm thanh của mưa và tiếng gầm ghè của các "cỗ máy" đã tạo nên hình ảnh một thế giới buồn tẻ, khủng hoảng và đỗ vỡ.

Trong tác phẩm "Thiên sứ" của Phạm Thị Hoài, không gian được sử dụng như một phương tiện nghệ thuật quan trọng để khắc họa hình tượng con người cô đơn Con người cảm thấy nhỏ bé và bị giam cầm trong không gian chật hẹp, đồng thời cũng trải nghiệm sự cô đơn khi đối diện với thiên nhiên và giữa những âm thanh của cuộc sống hiện đại.

Kiểu thời gian, tù đọng, luẩn quẩn, thời gian của kí ức

Thời gian nghệ thuật trong văn học không chỉ đơn thuần là quan điểm của tác giả về thời gian, mà còn là hình tượng thời gian sinh động và gợi cảm Nó thể hiện sự cảm thụ và ý thức về thời gian, được sử dụng như một hình thức nghệ thuật để phản ánh hiện thực và tổ chức tác phẩm.

Trong "Thiên sứ", thời gian được thể hiện theo kiểu đồng hiện giữa hiện tại và quá khứ, khiến người đọc khó xác định thời điểm câu chuyện diễn ra Các câu như "Đó là năm tôi 14 tuổi" và "Đến bây giờ tôi vẫn 14 tuổi" cùng với "Chị Hằng 29 tuổi, trước tôi chưa đầy một phút" tạo nên sự mơ hồ về thời gian trong tác phẩm.

Thời gian trong tâm trí con người trở nên mơ hồ, dẫn đến sự lẫn lộn giữa quá khứ, hiện tại và tương lai Điều này tạo ra nỗi hoang mang trước trạng thái tồn tại bấp bênh và vô lý Nhân vật luôn cảm thấy bất ổn, lạc lõng và cô đơn, bất kể thời điểm nào.

Trong "Thiên sứ", thời gian được thể hiện như một khái niệm không xác định, nơi quá khứ, hiện tại và tương lai đồng thời tồn tại, tạo nên cảm giác luẩn quẩn và tù đọng Con người phải đối mặt với thực tại, đồng thời day dứt về kỷ niệm, và nỗi lo lắng về một tương lai bất ổn, mịt mù và đầy thách thức Tất cả diễn ra trong trạng thái đơn độc, không lối thoát.

Tính trò chơi - cuộc thể nghiệm của những cái tôi nhỏ bé –những con người cô đơn trong "Thiên sứ"

Theo Kundera, nhà tiểu thuyết và nghiên cứu văn học nổi tiếng, đã chỉ ra rằng tiểu thuyết hiện đại mang những đặc điểm đặc trưng, trong đó con người sống trong thế giới của những khẳng định bên ngoài tiểu thuyết Ông nhấn mạnh rằng tiểu thuyết là lãnh địa của trò chơi và giả thuyết, với một trong những tiếng gọi hấp dẫn nhất chính là tiếng gọi của trò chơi.

Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại phản ánh những quy luật văn chương, trong đó Phạm Thị Hoài nổi bật với những suy tư sâu sắc về văn học cần thiết cho đời sống con người Bà đã mang đến một quan niệm phi truyền thống trong tác phẩm “Thiên sứ”, coi văn chương như một lối ứng xử với cuộc sống thông qua trò chơi Âm hưởng của trò chơi trong “Thiên sứ” đã chạm đến trái tim độc giả, tạo nên sự mới mẻ và khác lạ trong cảm nhận văn học.

Lí thuyết về trò chơi trong văn chương đã tồn tại trong lịch sử văn học thế giới như một phản biện đối với quan điểm coi nghệ thuật là khoa học hay hệ tư tưởng Nó nhấn mạnh rằng “sáng tác nghệ thuật là sự hòa quyện giữa hoạt động có chủ đích và hoạt động trò chơi”, đồng thời khẳng định nghệ thuật vừa là “mô hình nhận thức cuộc sống thực”, vừa là “trò chơi cuộc sống”.

Tiểu thuyết “Thiên sứ” thể hiện tinh thần của văn học hiện đại, nhấn mạnh quan niệm đa dạng về cuộc sống Tác phẩm cho thấy cuộc đời vừa nghiêm túc vừa là một cuộc chơi, là nơi các cái tôi nhỏ bé trải nghiệm và khám phá.

Có thể nhận thấy rất rõ ràng, mỗi “cái tôi” của “Thiên sứ” đều đeo đuổi một cuộc chơi riêng:

Với quyết định ngừng tăng trưởng, Hoài đã tạo ra một bản thể khác lạ, đầy lãng mạn và khát khao Tuy nhiên, bản thể này cũng thể hiện tính tự chủ mạnh mẽ, mong muốn xây dựng một không gian riêng cho cuộc sống, vốn đã bị xâu xé giữa “mái lở và chân ghế long” và “uy tín cùng danh dự”.

Hoài sống trong một thế giới cô độc, từ chối hòa nhập vào đám đông và những chuẩn mực xã hội Cô khước từ lối sống "phủ thảm" của người lớn, chọn cho mình một con đường riêng biệt, không bị ràng buộc bởi các bộ "đồng phục tinh thần" hay "bậc thang xã hội" Cuộc chơi của Hoài là một hành trình tìm kiếm bản thân giữa những cỗ máy vô tình của cuộc sống.

Trò chơi của Oskar trong "Cái chống thiếc" của Gunter Grass thể hiện sự chủ động và tính toán, trong khi trò chơi của Hoài lại mang tính chất phản ứng nổi loạn và tự vệ, chấp nhận cô đơn để bảo vệ bản sắc của mình.

Nhân vật bé Hon trong “Thiên sứ” chỉ xuất hiện ngắn ngủi nhưng để lại ấn tượng sâu sắc, ám ảnh toàn bộ thiên tiểu thuyết Bé Hon đại diện cho “ý thức sâu sắc về lẽ công bằng, đến với những ai chưa nhận đủ môi hôn ở đời”, gợi nhớ đến hình ảnh hoàng tử bé trong tác phẩm của Saint.

Exupery đã khám phá nhiều tinh cầu để tìm kiếm một nơi du lịch, trong khi bé Hon không có quyền lựa chọn khi đến thế giới này, nơi mà tình yêu của con người được thăm dò Trò chơi trong sáng và thánh thiện của bé Hon sớm phải kết thúc khi đối mặt với những cỗ máy lạnh lùng và thờ ơ của người lớn Nhân vật chị Hằng thể hiện việc lựa chọn tình yêu qua các trò chơi như bói tên, trốn tìm và giải đố Còn anh cán bộ ngoại giao thể hiện trò chơi qua việc sưu tập đồ vật, nghệ thuật pha cà phê và diễn thuyết, gắn liền với giá trị dương đã được công nhận.

Thế giới trò chơi được thể hiện qua nhiều nhân vật và tình huống đa dạng, như nhân vật bố với thú sưu tầm sách để giữ chặt tư tưởng, Hạc và Hoàng trong cuộc chơi may rủi, cùng cuộc phiêu lưu của Hùng và cô vũ mĩ đầy phù phiếm Cuộc chơi của Ph là một dạng thức xử lý ngôn từ, nơi những con chữ tạo thành một bài thơ kéo dài một chương, thể hiện tính chất trò chơi trong ngôn ngữ.

Phạm Thị Hoài không trực tiếp phân tích tính cách nhân vật, mà tạo điều kiện cho người đọc tự khám phá họ qua những cuộc chơi mà các nhân vật thể hiện trong tác phẩm Mỗi nhân vật trong "Thiên sứ" theo đuổi một cuộc chơi riêng, phản ánh sự lựa chọn cá nhân của từng người.

Lí thuyết trò chơi trong văn học biến cuộc sống thành một cuộc chơi, coi tác phẩm nghệ thuật là “trò chơi của các hình thức” mà không có mục đích thực dụng Đây là một cách phản kháng lại “lí trí thuần túy”, từ chối tính minh họa thực dụng cho các chính sách và yêu cầu phục vụ chính trị, điều đã làm cho nền văn học của chúng ta trở nên “công cụ hóa”.

“Thiên sứ” tạo ra một mê cung trò chơi, nơi người chơi thoát khỏi một trò lại bị cuốn vào trò khác ngay bên cạnh Luật chơi không cố định, có thể là một canh bạc may rủi, yêu cầu khám phá từ Hằng, hay sắp xếp các giá trị dương trong trò Trí uẩn, hoặc thậm chí là những thử thách cao siêu hơn với các con chữ trong thơ Ph.

Phạm Thị Hoài không muốn khẳng định bản thân bằng cách đi ngược lại xu hướng, mà chỉ mong nâng cao nhu cầu giải trí và thư giãn của con người trong văn chương Văn chương là sự kết hợp giữa trí tuệ và cảm xúc, giúp con người nhận thức về bản thân mà không nhất thiết phải phục vụ cho lợi ích xã hội hay chính trị Trong khi nhiều người dễ dàng chấp nhận các loại hình nghệ thuật khác mà không đặt câu hỏi về mục đích, thì văn chương lại thường bị scrutinized với những câu hỏi như: viết theo quan điểm nào? Dùng nghệ thuật của giai cấp nào? Và ý nghĩa của nó là gì?

Trò chơi "Thiên sứ" mang đến một thế giới tưởng tượng phong phú với những nhân vật kỳ lạ và những môtíp huyền bí, thoát ly khỏi thực tại Người đọc có thể nghi ngờ về những chi tiết phi lý như cuộc gặp gỡ giữa Hằng và nhà thơ Ph gây tắc nghẽn giao thông trong ba tiếng đồng hồ, hay cảnh 599 ứng cử viên chen lấn để chỉ còn lại 10 người may mắn với 10 ngón tay nuột nà Những lời phỏng đoán bay bổng như đám mây bọt xà phòng, chế nhạo những tia nắng đầu tiên, khiến hàng xóm phải thắc mắc về sự chậm trễ của bình minh hôm đó.

Chúng ta cũng khó tin sự hiện diện xác thực của một số nhân vật như bé Hon, Quang lùn, nhà thơ Ph…

Ngày đăng: 10/07/2023, 07:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w