1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở các tỉnh miền núi phía bắc nước ta hiện nay

114 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Huy Tiềm Năng Của Phụ Nữ Dân Tộc Thiểu Số Trong Quá Trình Phát Triển Kinh Tế Xã Hội Ở Các Tỉnh Miền Núi Phía Bắc Nước Ta Hiện Nay
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 135 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bối cảnh như vậy,việc đánh giá thực trạng tiềm năng của phụ nữ các dân tộc thiểu số, chỉ ranhững nguyên nhân và tác động của chính sách kinh tế - xã hội, đưa raphương hướng và giải

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nước ta là một quốc gia đa dân tộc, cùng với dân tộc Kinh còn có 53dân tộc thiểu số, với trên 10,5 triệu người Tuy chỉ chiếm 14% dân số cả nướcnhưng địa bàn cư trú của các dân tộc là 3/4 diện tích đất nước Đây là địa bàn

có vị trí chiến lược trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cũng như an ninhquốc phòng Nhìn lại tình hình phát triển kinh tế - xã hội của phần lớn các dântộc thiểu số hiện nay, chúng ta thấy những khó khăn chồng chất mà đồng bàođang phải gánh chịu Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trungương khóa IX về công tác dân tộc đã chỉ ra:

Sau hơn 15 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nhất là

từ sau khi có Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị về một số chủ trươngchính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi, tình hình ở miềnnúi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã có bước chuyển biến quantrọng, tuy nhiên cho đến nay vẫn còn tồn tại một số hạn chế, yếukém [24, tr.31]

Hội nghị cũng nhận định một cách cụ thể:

Nhìn chung, kinh tế ở miền núi và các dân tộc còn chậm pháttriển, nhiều nơi còn lúng túng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tậpquán canh tác còn lạc hậu Chất lượng sản phẩm thấp, tiêu thụ khókhăn Tình trạng du canh, du cư, di dân tự do còn diễn biến phứctạp Một số hộ còn thiếu đất sản xuất Kết cấu hạ tầng ở vùng cao,vùng sâu, vùng căn cứ cách mạng còn rất thấp kém Ở nhiều vùngdân tộc và miền núi tỷ lệ đói nghèo hiện còn cao hơn so với bìnhquân chung cả nước; khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa cácvùng, giữa các dân tộc ngày càng tăng [24, tr.31-32]

Để khắc phục hạn chế, yếu kém, đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH nôngnghiệp nông thôn miền núi, ngoài việc phải khai thác tiềm năng, thế mạnh

Trang 2

từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái, đồng thời phảitập trung phát huy các nguồn lực, trong đó nguồn lực con người là nguồn lựcmang tính trực tiếp và quyết định Phụ nữ DTTS chiếm hơn 1/2 dân số, lànguồn lực có vai trò, vị trí đặc biệt, tác động rất lớn tới phát triển kinh tế - xãhội bền vững ở những khu vực này

Phụ nữ DTTS nước ta là những chủ nhân của đất nước, có tiềm nănglớn tác động trực tiếp đến sự phát triển ngay trên chính quê hương họ Nhưngthực trạng hiện nay cho thấy, vấn đề việc làm, thu nhập, địa vị của người phụ

nữ là những vấn đề bức xúc đối với phụ nữ vùng dân tộc thiểu số Bởi vì, đại

bộ phận các gia đình ở các dân tộc thiểu số đang sống ở mức nghèo đói, nhất

là ở vùng cao, vùng sâu, miền núi Trong bộ phận dân cư ấy, phụ nữ lại lànhóm xã hội cực khổ nhất Họ vừa tham gia lao động sản xuất ngoài xã hội,cộng đồng; lại vừa trực tiếp chăm lo công việc gia đình nên cường độ laođộng và thời gian lao động đối với họ là quá tải trong khi mức thu nhập lạithấp, thậm chí họ lao động vất vả nhưng ít được cộng đồng, xã hội quan tâm

Bên cạnh đó, điều kiện để phát triển sản xuất, nâng cao đời sống còn rấtnhiều hạn chế, yếu kém: trình độ sản xuất, tư liệu lao động, kết cấu hạ tầng,nguồn vốn Hơn thế nữa, phụ nữ vùng dân tộc thiểu số chính là người trựctiếp tham gia các hoạt động kinh tế, trực tiếp sản xuất nhưng ít có cơ hội, điềukiện tiếp thu khoa học kỹ thuật Trình độ học vấn nói chung là thấp, công việcnội trợ gia đình, sinh đẻ và nuôi dạy con cái cũng làm hạn chế năng lực sảnxuất của phụ nữ Vì vậy, để phụ nữ vùng DTTS phát triển phải phát huy tiềmnăng của họ, điều đó vừa có ý nghĩa trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội,vừa có ý nghĩa trong thực hiện mục tiêu bình đẳng giới

Khu vực miền núi phía Bắc nước ta gồm Đông Bắc và Tây Bắc, là địabàn tụ cư của nhiều dân tộc thiểu số Đây cũng là những vùng mà kinh tế - xãhội phát triển chậm (nhất là Tây Bắc) Một trong những nguyên nhân hạn chế

Trang 3

sự phát triển chung của khu vực này là chưa khai thác, phát huy tiềm năng củalực lượng lao động nữ, thực hiện bình đẳng giới Trong bối cảnh như vậy,việc đánh giá thực trạng tiềm năng của phụ nữ các dân tộc thiểu số, chỉ ranhững nguyên nhân và tác động của chính sách kinh tế - xã hội, đưa raphương hướng và giải pháp nhằm phát huy tiềm năng của họ, tạo điều kiện và

cơ hội cho họ hòa nhập vào phát triển, góp phần tích cực vào sự phát triểnchung của cộng đồng là cấp thiết Đây chính là một phương hướng, nhiệm vụquan trọng của sự nghiệp giải phóng phụ nữ của cánh mạng XHCN nóichung, của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta nói riêng Chính thực tế đó đã thôi

thúc tôi lựa chọn đề tài: “Phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay” làm luận văn thạc sĩ triết học của mình.

2 Tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu về phụ nữ, gia đình, dân tộc các vùng nông thôn miền núi

đã được tiến hành từ lâu, tuy nhiên, có nhiều cách tiếp cận dưới những góc độkhác nhau Đặc biệt, trong những năm gần đây, cụ thể hơn là từ khi có Nghị

quyết 22-NQ/TƯ, ngày 27/11/1989 của Bộ Chính trị Về một số chủ trương,

chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi, thì những vấn đề này được

quan tâm nhiều hơn Những cuộc điều tra, nghiên cứu về kinh tế - xã hội miềnnúi thực hiện theo những chuyên đề, những công trình như:

Lê Du Phong, Hoàng Văn Hoa chủ biên (1998): Phát triển kinh tế

-xã hội các vùng dân tộc và miền núi theo hướng CNH, HĐH, Nxb CTQG.

Công trình đã phân tích đặc điểm kinh tế, xã hội vùng DTTS, từ đó đưa rađịnh hướng chung cho quá trình phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên, côngtrình chưa khai thác những đặc điểm về dân cư, tộc người, nguồn lực laođộng, trong đó có nguồn lực nữ

- Các dân tộc thiểu số Việt Nam thế kỷ XX (2001), Nxb CTQG Đây là

công trình lớn của nhiều nhà khoa học, nhiều vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước,

Trang 4

viết về quá trình phát triển các dân tộc thiểu số trong một thế kỷ qua Có một

số chuyên luận đã nói về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Tuy nhiên chưa

có chuyên luận nào đi sâu vào phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồnnhân lực nữ dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc

- Ủy ban Dân tộc và miền núi (2002): Miền núi Việt Nam, thành tựu và

phát triển những năm đổi mới, Nxb Nông nghiệp Đây là công trình tổng kết

quá trình đổi mới, phát triển của miền núi, và đánh giá những thành tựu, hạnchế của quá trình đó, đồng thời nêu quan điểm định hướng và nguyên tắc pháttriển miền núi và vùng DTTS Đặc biệt, công trình đã đề cập đến vấn đềnghèo đói và sự tác động của nó đến các nhóm cư dân khác nhau, trong đó,phụ nữ, trẻ em là nhóm xã hội bị tác động lớn nhất, từ đó đưa ra các giải pháp

hỗ trợ cho nhóm này

- Viện nghiên cứu chính sách dân tộc và miền núi (2002): Vấn đề dân

tộc và định hướng xây dựng chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb CTQG Cuốn sách bao gồm những chuyên đề được

trình bày tại cuộc hội thảo lớn đề cập đến nhiều vấn đề kinh tế - xã hội vàchính sách dân tộc

- Hà Quế Lâm (2002): Xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số

nước ta hiện nay, Nxb CTQG: xuất phát từ những số liệu điều tra xã hội học,

những cứ liệu được đánh giá qua các cuộc hội thảo và báo cáo chuyên đề vềcông tác xóa đói giảm nghèo, đặc biệt là vùng DTTS, công trình nêu lênnhững thành tựu và khó khăn của công cuộc xóa đói, giảm nghèo và đề rahướng phát huy sức mạnh nguồn lực tại chỗ, nội lực của đồng bào DTTS

- Nguyễn Quốc Phẩm: Các dân tộc Việt Nam trên con đường CNH,

HĐH Kỷ yếu Hội thảo của Viện Dân tộc (2003) Trong chuyên luận có bàn

đến công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn các vùng dân tộcthiểu số miền núi Tuy nhiên, chuyên luận chưa đi sâu khai thác nội lực,nguồn lực lao động của các nhóm xã hội

Trang 5

- Nguyễn Quốc Phẩm “Những đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội liên quan

đến phát triển bền vững các vùng dân tộc thiểu số miền núi ở Việt Nam Kỷ yếu

khoa học cấp bộ của Viện Dân tộc học và Ủy ban Dân tộc (2003) Tham luận nêu

và lý giải những điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, dân cư, tộc người đối với quátrình phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số miền núi nước ta

- Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học (2004-2005): “Phát huy nội lực từng

vùng và các dân tộc nhằm đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn các tỉnh miền núi, vùng cao Tây Bắc nước ta hiện nay”.

Đây là công trình kết quả đề tài khoa học cấp bộ Các tác giả đề tài khảo sát,phân tích những đặc điểm, tiềm năng, thế mạnh, khó khăn vùng Tây Bắc, từ

đó đề xuất những giải pháp phát huy hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từngvùng, phát huy nội lực các dân tộc Tuy nhiên, đề tài cũng chưa có điều kiện

đi sâu phân tích nguồn lực lao động nữ, vì vậy những số liệu đề tài đưa rachưa được phân tích dưới góc độ giới

Với đối tượng phụ nữ, trong những năm qua, trung tâm nghiên cứu Giađình và phụ nữ thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia đã cótiến hành nghiên cứu ở một số điểm trong cả nước dưới những góc độ khácnhau đề cập đến vai trò của phụ nữ trong gia đình, trong xã hội và tác độngcủa chính sách của Đảng, Nhà nước về dân số, gia đình, phụ nữ nông thôn.Trong đó, bước đầu đã có sự xem xét, đánh giá dưới góc độ giới Sau đây là

một số kết quả nghiên cứu: “Thực trạng gia đình Việt Nam và vai trò phụ nữ

trong gia đình (1990); “Gia đình, người phụ nữ và giáo dục gia đình” (1993);

“Đánh giá vì sự tiến bộ của phụ nữ từ 1985-1995” Tác giả Bùi Thị Kim Quỳ với: “Phụ nữ Việt Nam trong quá trình đổi mới đất nước, vấn đề lao động,

việc làm và hạnh phúc gia đình, gia đình và địa vị người phụ nữ trong xã hội, cách nhìn từ Việt Nam và Hoa Kỳ,” Nxb KHXH, (1995) Bàn về vấn đề này

còn có các đề tài khoa học, bài viết của cán bộ Trung tâm nghiên cứu Khoahọc về gia đình và phụ nữ được nêu trong báo cáo tổng kết 10 năm xây dựng

Trang 6

và phát triển của Trung tâm là các tư liệu phong phú và khá đầy đủ, phản ánhnhiều khía cạnh khác nhau liên quan đến vai trò của phụ nữ, phụ nữ trong

phát triển Tiêu biểu là “Vai trò gia đình trong việc hình thành và phát triển

nhân cách con người Việt Nam”, do tác giả Lê Thi làm chủ nhiệm; “Phụ nữ, giới và phát triển” (1996) của tác giả Trần Thị vân Anh và Lê Ngọc Hùng;

“Phụ nữ nghèo nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trường do Đỗ Thị Bình

và Lê Ngọc Lân thực hiện; “Những vấn đề chính sách xã hội đối với phụ nữ

nông thôn trong giai đoạn hiện nay do tác giả Trần Thị Bình làm chủ

biên(1997); Báo cáo của Ngân hàng thế giới về “Đưa vấn đề giới vào phát

triển” (2001); “Nghiên cứu giới, phụ nữ và gia đình” của tác giả Nguyễn Linh

Khiếu (2003) Ngoài ra còn có các luận văn, luận án như: “Bình đẳng giới

trong gia đình nông thôn ở Đồng bằng sông Hồng hiện nay” (2002) của tác

giả Chu Thị Thoa; “Gia đình Việt Nam và vai trò người phụ nữ trong gia

đình hiện nay” của tác giả Dương Thị Minh; “Học thuyết Mác - Lênin về phụ

nữ và liên hệ thực tiễn nước ta hiện nay” (2002) của tác giả Lê Ngọc Hùng;

“Phát huy nguồn nhân lực nữ và xóa đói giảm nghèo ở nông thôn” của tác giả

Lê Thi; Gần đây, công trình mới được xuất bản năm 2005 “Phát huy nguồn

lực trí thức nữ Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của

tác giả Đỗ Thị Thạch đã một lần nữa chứng minh “sức lao động dồi dào, ócsáng tạo phong phú, là nguồn lực to lớn cần được phát huy trong sự nghiệpphát triển kinh tế xã hội” của người phụ nữ Đó là những công trình nghiêncứu hệ thống và là tư liệu tham khảo quý cho luận văn

Đối với phụ nữ vùng DTTS - với tính cách là một đối tượng hẹp thìhiện nay chưa được nghiên cứu một cách chuyên biệt, mà chỉ có một số công

trình và bài viết liên quan đến vấn đề này của tác giả Đỗ thúy Bình như: “Gia

đình người H , mông trong bối cảnh kinh tế hiện nay”( 1992); “Môi trường miền núi và phụ nữ miền núi” (1995); “Về cơ cấu gia đình các dân tộc miền núi phía Bắc”; “Một số vấn đề đặt ra khi nghiên cứu thực trạng đời sống phụ

Trang 7

nữ các dân tộc ít người góp phần hoàn thiện chính sách xã hội” (2002) Đề tài

mà tác giả chọn làm luận văn góp phần bổ sung mặt thiếu hụt mà các côngtrình nêu trên chưa đề cập tới Luận văn nhằm giải đáp về mặt lý luận nghiêncứu nguồn lực con người ở vùng núi phía Bắc và giải đáp vấn đề thực tiễn củađổi mới là phải nhìn nhận đánh giá thực trạng tiềm năng của phụ nữ và đờisống của họ Tiềm năng ấy cần phải được phát huy để thúc đẩy quá trình pháttriển kinh tế - xã hội, trên cơ sở tìm hiểu, xem xét sự tham gia của mỗi giớitrong hoạt động, hưởng thụ trong đời sống kinh tế - xã hội miền núi hiện nay,những thuận lợi, khó khăn, cản trở họ trên con đường phát triển, đề ra nhữngbiện pháp phát huy tiềm năng của phụ nữ DTTS ở miền núi phía Bắc

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

* Nhiệm vụ của đề tài:

- Xem xét những vấn đề lý luận và các khía cạnh tổng quát liên quanđến phụ nữ, tiềm năng, nội lực của phụ nữ đối với phát triển kinh tế - xã hộicủa đất nước

- Phân tích, đánh giá thực trạng của việc phát huy tiềm năng của phụ nữdân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc nước ta trong quá trình phát triển kinh tế

- xã hội

- Đề xuất những phương hướng cơ bản và giải pháp chủ yếu để pháthuy tiềm năng của phụ nữ các dân tộc thiểu số, thực hiện bình đẳng giới trongquá trình phát triển kinh tế - xã hội, đẩy nhanh CNH, HĐH

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Trang 8

* Đối tượng nghiên cứu:

Phụ nữ các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc và việc khai thác, pháthuy tiềm năng, nội lực của phụ nữ ở các vùng đã nêu

*Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu vấn đề phát huy tiềm năng của phụ nữ các dân tộcthiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay (qua điều tra một sốtỉnh tiêu biểu của khu vực: Sơn La, Điện Biên, Hòa Bình, Hà Giang, TháiNguyên, Bắc Kạn)

* Thời gian nghiên cứu: Từ năm 1986 đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vậtlịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin làm cơ sở phương pháp luận

- Về phương pháp nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp:Lôgíc - lịch sử, tổng hợp, phân tích các tài liệu, khảo sát thực tế, điều tra xãhội học, v.v

6 Những đóng góp về khoa học và ý nghĩa của luận văn

- Từ góc độ Triết học, chuyên ngành CNXHKH, Luận văn kết hợp chặtchẽ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quanđiểm của Đảng Cộng sản Việt Nam với phương pháp tiếp cận giới Từ đó khôngnhững làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận về giải phóng phụ nữ mà còn đưa

họ vào quá trình phát triển, nhất là nhóm phụ nữ nghèo nông thôn, phụ nữ dântộc thiểu số, nơi còn rất nhiều hạn chế trong thực hiện bình đẳng giới

- Từ khảo sát thực tế, phân tích thực trạng tiềm năng của phụ nữ cácdân tộc thiểu số miền núi phía Bắc trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ởnước ta hiện nay, luận văn đề ra những phương hướng cơ bản và những giảipháp chủ yếu nhằm phát huy tiềm năng, nội lực của họ, coi đây là một điều

Trang 9

kiện, tiền đề quan trọng nhằm phát huy nguồn lực lao động nông thôn miềnnúi trong quá trình CNH, HĐH.

- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu,giảng dạy lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học, giảng dạy về giới trong hệ thốngcác trường Đảng, các trường đào tạo cán bộ nữ

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,luận văn gồm có 3 chương, 7 tiết

Trang 10

Chương 1

PHÁT HUY TIỀM NĂNG CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ

-NHỮNG KHÍA CẠNH LÝ LUẬN CHUNG

1.1 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ VAI TRÒ CỦA PHỤ

NỮ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ VẤN ĐỀ GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ

1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và vấn đề giải phóng phụ nữ

Phụ nữ là phần nửa dân số không thể thiếu được trong đời sống xã hội.Phụ nữ là một bộ phận cấu thành quan trọng có ý nghĩa quyết định việc tái sảnxuất lực lượng sản xuất, góp phần quan trọng vào sự phát triển xã hội bền vững

Các nhà kinh điển Mác - Lênin đánh giá rất cao vai trò, vị thế của phụ

nữ trong xã hội, coi phụ nữ là nguồn nhân lực chủ yếu trong cách mạng xãhội Theo các ông: “Trong lịch sử nhân loại, không có một phong trào to lớnnào của những người áp bức mà lại không có phụ nữ lao động tham gia, phụ

nữ lao động là những người bị áp bức nhất trong tất cả những người bị ápbức” [46, tr.60], chính vì vậy nên họ chưa bao giờ và không bao giờ đứngngoài các cuộc đấu tranh giải phóng Sự nghiệp giải phóng phụ nữ phải gắnliền với giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng con người Nếudân tộc đã được giải phóng rồi, phụ nữ có vị trí quan trọng trong quá trìnhphát triển kinh tế - xã hội, đồng thời phụ nữ phải có trách nhiệm phát triểnkinh tế - xã hội

Nói cách khác, theo Ăngghen, phụ nữ tham gia công việc xã hội chính

là điều kiện đầu tiên để giải phóng phụ nữ Người khẳng định rõ hơn: “Người

ta thấy rằng, sự giải phóng phụ nữ, quyền bình đẳng giữa nam và nữ đềukhông thể có được và mãi mãi không thể có được; chừng nào mà người phụ

Trang 11

nữ còn bị gạt ra ngoài lao động sản xuất của xã hội và còn phải bị bó hẹptrong công việc riêng tư ở gia đình” [45, tr.507].

Có thể nói, cả C.Mác và Ph.Ăngghen đều cho rằng, xã hội cần phảigiải phóng phụ nữ khỏi sự ràng buộc gia đình, phải làm cho phụ nữ và namgiới bình đẳng bằng cách lôi cuốn phụ nữ tham gia công việc xã hội

Những quan điểm biện chứng ấy có được là xuất phát từ sự nghiên cứucông phu và sự chiêm nghiệm trong thực tiễn của C.Mác và Ph.Ănghen để tìm

hiểu địa vị của người phụ nữ trong xã hội tư sản Các ông đã chứng kiến và thấu

hiểu tình cảnh của người phụ nữ trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đó là tình

trạng người phụ nữ bị bóc lột đến kiệt sức, thậm chí bị chết vì do lao động quá

sức Phụ nữ bị mắc các bệnh nghề nghiệp đến tử vong và họ bị mắc bệnh nhiều

hơn nam giới C.Mác chỉ rõ: “Trong những nghề nghiệp của phụ nữ như bông,len, lụa và đồ gốm, tỷ lệ bình quân chết vì bệnh phổi trong 100 nghìn người đàn

bà là 643 người, nhiều hơn so với tỷ lệ đàn ông là 610 người” [50, tr.428]; hoặc

đó là sự bóc lột tinh vi bằng cách kéo dài ngày công lao động trong môi trườngthiếu vệ sinh và thiếu không khí Phụ nữ phải làm việc cật lực trung bình ngày

16 giờ và trong mùa may mặc thì làm cật lực một mạch 30 giờ không nghỉ.Hậu quả của tình trạng trên là sự suy sụp về tinh thần và thể xác: “Không mấychốc họ đã thấy mệt mỏi, kiệt sức, suy nhược, ăn mất ngon, đau vai, đau lưng,đau thắt lưng, nhất là đau đầu; sau đó là xương sống bị vẹo, hai vai nhô cao vàbiến dạng, gầy mòn, mắt sưng, chảy nước mắt và nói chung là nhức nhối, cậnthị, ho, ngực lép, khó thở và mọi thứ bệnh phụ nữ [48, tr.589]

C.Mác đi đến kết luận: trong nền sản xuất tư bản chủ, nghĩa phụ nữ cóvai trò lớn nhưng địa vị lại thấp hèn cả trong gia đình và ngoài xã hội, họ luônchịu cảnh bất bình đẳng với nam giới, bị bóc lột, bị tha hóa Trong các côngxưởng tư bản chủ nghĩa, phụ nữ phải chịu bao nỗi nhục nhã, đắng cay, phải

Trang 12

lao động cực nhọc, làm việc cật lực thậm chí là trong điều kiện ốm đau Phụ

nữ là nô lệ

Tình trạng trong hôn nhân gia đình dưới chế độ TBCN cũng vậy Trongchế độ TBCN có hai loại gia đình là gia đình tư sản và gia đình vô sản, giaicấp nắm giữ tư liệu sản xuất là giai cấp thống trị và bóc lột giai cấp không có

tư liệu sản xuất, điều này được thể hiện rõ trong gia đình tư sản, nơi mà ngườiđàn ông nắm giữ địa vị kinh tế thì nắm giữ luôn vị thế thống trị người đàn bà,người đàn bà không có tư liệu sản xuất Với tư cách là đơn vị của tế bào xãhội, gia đình cũng chứa đựng tất cả mối quan hệ bất công và bất bình đẳng xãhội Ph.Ăngghen viết: “trong gia đình, người chồng là nhà tư sản, người vợđại biểu cho giai cấp vô sản” [49, tr.116]

Như vậy, chế độ tư bản đã làm tăng sự nô dịch từ hai phía xã hội và giađình và chất thêm gánh nặng lên cả hai vai người phụ nữ Cùng một lúc phụ

nữ phải vừa tham gia lao động trong nền sản xuất xã hội và vừa phải đảmnhiệm mọi thứ công việc như nô lệ trong gia đình

Nghiên cứu lịch sử loài người, C.Mác và Ăngghen chỉ ra rằng: Trong

xã hội có giai cấp đối kháng, phụ nữ là nạn nhân trực tiếp của sự áp bức giaicấp và sự bất bình đẳng trong gia đình và ngoài xã hội Sự ra đời của chế độ

tư hữu dẫn đến tình trạng áp bức, nô dịch của giai cấp có của đối với giai cấpkhông có của, từ đây, trong gia đình người phụ nữ trở nên hoàn toàn lệ thuộc

về kinh tế, phải phục tùng tuyệt đối quyền lực của người chồng

Từ việc phân tích sự bất bình đẳng nam nữ trong xã hội loài người,

C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra nguồn gốc kinh tế, xã hội và nhận thức của

sự bất bình đẳng đó Về nguồn gốc kinh tế của sự bất bình đẳng nam nữ các

ông nhấn mạnh rằng: sự phân công lao động giữa nam và nữ là do nhữngnguyên nhân hoàn toàn khác, chứ không phải do địa vị của người đàn bà

trong xã hội quyết định Quan hệ xã hội giữa phụ nữ và nam giới là do quan

Trang 13

hệ kinh tế của họ quyết định Kể cả trong hôn nhân, thì nguồn gốc của sự

thống trị của đàn ông đối với đàn bà cũng là sự thống trị về mặt kinh tế.Ph.Ăngghen đã vạch rõ nguyên nhân kinh tế của sự bất bình đẳng nam nữ nhưsau: “Tình trạng không bình quyền giữa đôi bên, do những quan hệ xã hộitrước kia để lại cho chúng ta, tuyệt nhiên không phải là nguyên nhân, mà làkết quả của việc áp bức đàn bà về mặt kinh tế” [49, tr.115]

Sự bất bình đẳng nam nữ hay sự bất bình đẳng về giới có nguồn gốc từ

sự bất bình đẳng về kinh tế giữa phụ nữ và nam giới Địa vị của người phụ nữtrong gia đình và ngoài xã hội luôn thấp kém hơn nam giới là bắt nguồn từ địa

vị kinh tế của họ Phụ nữ có địa vị thấp kém hơn nam giới trước hết là trongquan hệ đối với tư liệu sản xuất, đồng thời là trong quan hệ tổ chức, quản lýsản xuất và trong quan hệ phân phối, tiêu dùng sản phẩm

Cơ sở kinh tế như thế nào thì đặc điểm và tính chất của mối quan hệnam nữ như thế ấy Trong nền kinh tế cộng sản nguyên thủy, do đàn bà nắmgiữ kinh tế nên đàn bà đồng thời nắm giữ quyền cai quản xã hội và gia đình

“Kinh tế gia đình cộng sản là cơ sở hiện thực của quyền thống trị của ngườiđàn bà, cái quyền thống trị phổ biến khắp mọi nơi trong thời nguyên thủy”[49, tr.83]

Nhưng cùng với sự thống trị kinh tế của đàn bà bị mất và đàn ông nắmquyền thống trị kinh tế thì sự thống trị của nam giới với phụ nữ trở nên phổbiến không chỉ trong nền sản xuất vật chất của xã hội mà cả trong nền tái sảnxuất, tức là trong hôn nhân gia đình Mác và Ăngghen chỉ rõ: “Sự thống trịcủa đàn ông trong hôn nhân chỉ đơn thuần là kết quả của sự thống trị của họ

về kinh tế” và vì vậy, khi không còn chế độ tư hữu thì sự thống trị của đànông đối với đàn bà trong hôn nhân “sẽ tiêu vong cùng với sự thống trị về kinhtế” [49, tr.127]

Học thuyết Mác - Lênin đã chỉ rõ nguồn gốc và nguyên nhân kinh tếcủa sự bất bình đẳng nam nữ trong xã hội Nền kinh tế dựa trên cơ sở của chế

Trang 14

độ tư hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội đã đẻ ra 2 đặc trưng cơ bản

của chế độ hôn nhân và gia đình: một là sự thống trị của người đàn ông và hai

là tính ràng buộc vĩnh viễn của hôn nhân Kết luận của chủ nghĩa duy vật biện

chứng rút ra ở đây là: cơ sở kinh tế biến đổi thì những đặc điểm và tính chấtcủa mối quan hệ nam nữ tương ứng với nó cũng thay đổi

Về nguồn gốc nhận thức, văn hóa - xã hội của sự bất bình đẳng nam

nữ, chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra rằng: bên cạnh yếu tố kinh tế là nguyên

nhân chính gây nên tình trạng bất bình đẳng nam nữ còn có yếu tố phi kinh tế

- đó là yếu tố thuộc về nhận thức, văn hóa, xã hội Ănghen đã nêu rõ quan

điểm này như sau:

Chúng tôi coi những điều kiện kinh tế là cái cuối cùng quyếtđịnh sự phát triển lịch sử Nhưng chủng tộc cũng là một nhân tốkinh tế Sự phát triển về mặt chính trị, pháp luật, triết học, tôn giáo,văn học, nghệ thuật, v.v là dựa trên sự phát triển kinh tế Nhưng tất

cả sự phát triển đó đều tác động lẫn nhau và cùng tác động đến cơ

sở kinh tế Hoàn toàn không phải điều kiện kinh tế là nguyên nhânduy nhất chủ động, còn mọi thứ khác chỉ có tác dụng thụ động Tráilại, có sự tác động qua lại trên cơ sở tính tất yếu kinh tế, xét đếncùng bao giờ cũng tự vạch ra con đường đi của nó Nhà nước, chẳnghạn, tác động bằng những thuế quan bảo hộ, tự do buôn bán; bằngchế độ thuế khóa tốt hay xấu [47, tr.788]

Trình độ nhận thức, thói quen suy nghĩ và các phong tục tập quán phảnánh sự bất bình đẳng kinh tế giữa phụ nữ và nam giới đã ăn sâu bám chắc vàotrong óc con người, thành tư tưởng “trọng nam khinh nữ” và thành thói ứng

xử của người đàn ông đối với đàn bà Đó chính là nguồn gốc nhận thức và

nguồn gốc văn hóa - xã hội của sự bất bình đẳng nam nữ Tư tưởng trọng nam

khinh nữ, tập quán gia trưởng trở thành quy tắc, thành thông lệ Tàn tích đó

Trang 15

của chế độ nam trị, chế độ thống trị của toàn thể nam giới đối với toàn thể nữgiới không cần tới pháp luật bảo vệ vẫn có tác động cưỡng chế, điều chỉnhhành vi ứng xử của người đàn ông và đàn bà ngay cả khi cơ sở kinh tế của sựbất bình đẳng nam nữ bị phá bỏ Ăngghen viết:

Tính ràng buộc vĩnh viễn của hôn nhân, thì một phần là kếtquả của các điều kiện kinh tế, trong đó có chế độ một vợ một chồngphát sinh, và phần nữa là một truyền thống của thời kỳ trong đó cómối liên hệ giữa các điều kiện kinh tế ấy với chế độ một vợ mộtchồng còn chưa được người ta hiểu một cách đúng đắn, và đã bị tôngiáo thổi phồng lên [49, tr.127]

Không chỉ tôn giáo thổi phồng lên mà cả tư tưởng, pháp luật của giaicấp tư sản cũng ra sức bảo vệ cho sự bất bình đẳng nam nữ Học thuyết Mác -Lênin chỉ rõ rằng cùng với nguồn gốc kinh tế, sự thống trị của đàn ông đối vớiđàn bà còn bắt nguồn từ trong nhận thức, niềm tin và thói quen cùng phongtục tập quán được hình thành từ lâu trong lịch sử

Trên cơ sở phân tích nguồn gốc kinh tế, xã hội và nhận thức của tìnhcảnh phụ nữ bị áp bức trong xã hội tư bản chủ nghĩa, các nhà sáng lập chủnghĩa Mác - Lênin đã vạch rõ xu hướng biến đổi địa vị của người phụ nữ theohướng tiến tới sự bình đẳng nam nữ trong xã hội và tính tất yếu của cáchmạng xã hội chủ nghĩa đối với sự giải phóng phụ nữ Khi bàn về vấn đề này,C.Mác và Ph.Ănghen khẳng định, phụ nữ có tiềm năng, vai trò và vị trí trongcác cuộc cách mạng xã hội Theo C.Mác, chính chủ nghĩa tư bản phát triển đãtạo ra những tiền đề kinh tế, xã hội cho cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp bị

áp bức, bóc lột, giải phóng phụ nữ nhưng bản thân chủ nghĩa tư bản khi xáclập vị trí của nó trên vũ đài chính trị lại không thể giải phóng được con ngườinói chung, người phụ nữ nói riêng khỏi sự áp bức của gia đình và xã hội,thậm chí nó còn tăng cường sự áp bức bóc lột và làm tha hóa phụ nữ Việc

Trang 16

này chỉ có thể giải quyết được trong chủ nghĩa xã hội, vấn đề là làm thế nào

để giải phóng được phụ nữ khỏi sự áp bức bất công trong cả gia đình và ngoài

xã hội? C.Mác khẳng định: phải giải phóng phụ nữ khỏi mọi sự áp bức và bấtbình đẳng Điều đó chỉ có thể thực hiện bằng cuộc cách mạng vô sản- cuộccách mạng giải phóng cho toàn bộ nhân loại

Để phụ nữ được giải phóng và tiến tới bình đẳng nam nữ cần phải thựchiện những điều kiện sau:

Thứ nhất, xóa bỏ chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, xây dựng

chế độ công hữu nhằm xóa bỏ sự lệ thuộc về mặt kinh tế của người phụ nữđối với nam giới Giải phóng phụ nữ ra khỏi sự bất công, áp bức, bóc lột vàbất bình đẳng trong nền sản xuất xã hội Thực hiện tốt điều này sẽ tạo điềukiện cho việc xây dựng quan hệ bình đẳng giữa nam và nữ và cũng chính làđiều kiện để phát huy tiềm năng của phụ nữ

Thứ hai, tạo điều kiện cho phụ nữ thoát khỏi những ràng buộc gia đình,

tạo điều kiện và cơ hội cho họ tham gia vào nền sản xuất xã hội Xã hội cầnphải giúp phụ nữ giảm bớt gánh nặng công việc gia đình bằng cách phát triểncác hệ thống dịch vụ công cộng “Điều kiện tiên quyết để giải phóng phụ nữ

là làm cho toàn bộ nữ giới trở lại tham gia nền sản xuất xã hội, và điều kiện

đó lại đòi hỏi phải làm cho gia đình cá thể không còn là một đơn vị kinh tếcủa xã hội nữa” [49, tr.116]

Thứ ba, xóa bỏ dần các phong tục tập quán, định kiến giới và tâm lý coi

thường phụ nữ, tuyên truyền giáo dục và vận động mọi thành viên trong xãhội nhận thức được sâu sắc và ý nghĩa của việc nâng cao bình đẳng nam nữ làgóp phần thúc đẩy xã hội phát triển

Thứ tư, xây dựng quan hệ gia đình bình đẳng, hòa thuận, tiến bộ đòi hỏi

hôn nhân phải dựa trên tình yêu chân chính chứ không bị lợi ích kinh tế chi phối

Trang 17

Theo C.Mác và Ph.Ănghen, sự nghiệp giải phóng phụ nữ chỉ có thểthực hiện được một cách triệt để khi lao động gia đình biến thành lao động xãhội:

Chỉ có thể giải phóng được người phụ nữ khi người phụ nữ cóthể tham gia sản xuất trên một quy mô xã hội rộng lớn và chỉ phải làmcông việc trong nhà rất ít Nhưng chỉ với nền công nghiệp hiện đại, lànền công nghiệp không những thu nhận lao động của phụ nữ trên quy

mô lớn, mà còn trực tiếp đòi hỏi phải có lao động nữ và ngày càng có

xu hướng hòa tan lao động tư nhân của gia đình trong nền sản xuấtcông cộng, thì có thể thực hiện được điều nói trên [49, tr 241]

Tuy nhiên, để giải quyết những mâu thuẫn khi thực hiện công việctrong gia đình và ngoài xã hội, để phụ nữ tham gia công việc xã hội mà không

bị lệ thuộc những cản trở từ công việc gia đình, theo Ănghen, cần phải đưacông việc nội trợ của gia đình cá thể thành công việc chung của xã hội - tức là

“hòa tan lao động tư nhân của gia đình trong nền sản xuất công cộng”, biếncông việc nội trợ thành lao động công cộng Tư tưởng này của Mác -Ăngghen được Lênin kế thừa và phát triển trong điều kiện mới ở nước Nga

Xô viết

Lênin đánh giá rất cao tiềm năng, vai trò của phụ nữ trong cách mạng:

“Một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa không thể thành công nếu không cómột phần phụ nữ lao động tham gia rộng rãi” [42, tr.18],“không thể nào xâydựng được ngay cả chế độ dân chủ - chứ đừng nói đến chủ nghĩa xã hội nữa,nếu phụ nữ không tham gia công tác xã hội, đội dân cảnh, sinh hoạt chínhtrị…” [38, tr 418]; “Nếu một phần lớn phụ nữ lao động không tham gia mộtcách tích cực thì không thể có cách mạng xã hội chủ nghĩa được” [40, tr.220].Người còn khẳng định vai trò to lớn của phụ nữ và chỉ ra khả năng của họ cóảnh hưởng rất quan trọng đến nguồn lực cách mạng, có mối liên quan mật

Trang 18

thiết với sức mạnh nhân dân: “Không lôi kéo được phụ nữ vào công việcchính trị thì không thể lôi kéo được quần chúng nhân dân vào công việc chínhtrị được” [42, tr.13] Lênin cũng đã xác định trách nhiệm của Đảng, Nhà nước

là phải lôi cuốn, thúc đẩy mọi phụ nữ tham gia chính trị, quản lý nhà nước XôViết: “Nhiệm vụ của chúng ta là phải làm cho chính trị trở thành công việc

mà mỗi người phụ nữ lao động đều có thể tham dự” [39, tr.101]

Trong bức thư “Gửi nữ công nhân” viết năm 1920, Lênin tố cáo pháp

luật tư sản giành đặc quyền cho nam giới và đặt phụ nữ vào tình trạng khôngbình đẳng với nam giới Do đó, để tiến tới giải phóng phụ nữ thì một trongnhững bước đầu tiên phải thực hiện là: chính quyền xô - viết hủy bỏ tất cảpháp luật tư sản và đưa ra luật pháp tôn trọng bình đẳng nam và nữ NhưngLênin cho rằng như thế chưa đủ, cần phải tạo bình đẳng trên thực tế Lêninviết: “Bình đẳng về mặt pháp luật vẫn chưa phải là bình đẳng trong thực tếđời sống Muốn vậy, phải làm sao cho nữ công nhân ngày càng tham gianhiều hơn nữa vào công việc quản lý các xí nghiệp công cộng, vào quản lýnhà nước” [41, tr.182-183] Lênin tin tưởng rằng “Trong khi quản lý, phụ nữ

sẽ học tập nhanh chóng và đuổi kịp nam giới” Người yêu cầu mọi người ủng

hộ phụ nữ tham gia quản lý nhà nước nếu họ có đức, có tài:

Hãy bầu nhiều nữ công nhân hơn nữa vào xô - viết, cả đảngviên lẫn ngoài đảng Miễn là chị ấy là một công nhân trung thực,biết làm việc có tình có lý và tận tâm, thì dù họ có là người khôngđảng phái cũng không sao, cứ bầu họ vào Xô-viết Matxcơva! Giaicấp vô sản sẽ không đạt được tự do hoàn toàn, nếu không giànhđược tự do hoàn toàn cho phụ nữ [41, tr.183]

Người cũng đề ra nhiệm vụ chủ yếu của phong trào công nhân nữ là thuhút sự tham gia của đông đảo phụ nữ vào cuộc đấu tranh vì sự bình đẳng nam

nữ Lênin yêu cầu: “Đấu tranh cho phụ nữ được quyền bình đẳng về mặt kinh

Trang 19

tế và xã hội, chứ không phải bình đẳng về mặt hình thức Nhiệm vụ chủ yếu

là lôi cuốn phụ nữ tham gia vào lao động sản xuất của xã hội, giải phóng chị em

ra khỏi địa vị “nô lệ trong gia đình”, ra khỏi địa vị lệ thuộc (cái địa vị làm cho họngu muội đi và hạ thấp con người họ) vào cảnh suốt đời chỉ có trông nom bếpnúc và con cái” [41, tr.222] “Đó là cuộc đấu tranh lâu dài, đòi hỏi phải cải tạomột cách căn bản cả nền kỹ thuật xã hội lẫn tập quán xã hội” [41, tr.222]

Như vậy, theo quan điểm của Lênin thì không chỉ giải phóng người phụ

nữ ngoài xã hội mà còn giải phóng họ ngay trong chính gia đình vì chính ởđây gánh nặng công việc đang đè lên vai họ, làm cho họ không có điều kiệnphát triển được như nam giới Muốn thực hiện điều này, theo Lênin, Nhànước xô viết cần đưa ra chính sách ưu tiên đối với phụ nữ: Tất cả phụ nữ laođộng có con nhỏ đều được dành thời gian cho con bú vào các khoảng cáchnhau không quá 3 giờ, được nhận một số tiền phụ cấp và chỉ làm việc 6 giờmỗi ngày, cấm dùng phụ nữ lao động ban đêm, phụ nữ được nghỉ lao động 8tuần trước khi sinh và vẫn được hưởng lương như thường lệ, không phải trảtiền chữa bệnh và tiền thuốc

Hơn thế nữa, Lênin đã đánh giá rất cao khả năng và vai trò của phụ nữtrong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa vì theo Lênin, kinh nghiệm củatất cả các phong trào giải phóng chứng tỏ rằng cách mạng muốn thắng lợi làtùy thuộc vào mức độ tham gia của phụ nữ Bởi vậy, trên thực tế chính quyền

xô - viết đã làm hết sức mình để lôi cuốn phụ nữ tham gia công việc quản lýNhà nước, quản lý xã hội nhằm từng bước giải phóng phụ nữ Lênin chỉ rarằng: Phụ nữ chỉ được giải phóng, được phát triển khi họ nhận thức được vịtrí, vai trò và khả năng của mình và có ý chí phấn đấu cho sự nghiệp cao cảấy: việc giải phóng lao động nữ phải là việc của bản thân phụ nữ Để thựchiện sự nghiệp giải phóng, chính bản thân phụ nữ phải ra sức học tập, nângcao trình độ, nhanh chóng đuổi kịp nam giới Chỉ có học tập với trình độ cao

Trang 20

thì phụ nữ mới thực hiện tốt vai trò và phát huy tốt khả năng của mình tronggia đình và ngoài xã hội.

Chủ nghĩa Mác - Lênin, học thuyết khoa học, cách mạng của thời đạingày nay, là sự kế tục, phát triển tư tưởng nhân loại về giải phóng phụ nữ.Chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra rằng nguồn gốc và nguyên nhân cũng nhưnhững yếu tố tác động tới sự bất bình đẳng nam nữ trong lịch sử loài người đóchính là quá trình phụ nữ bị gạt ra khỏi nền sản xuất xã hội Học thuyết Mác -Lênin đồng thời chỉ ra tiềm năng và vai trò to lớn của phụ nữ trong sự nghiệpcách mạng và tiến bộ xã hội, chỉ ra điều kiện để giải phóng phụ nữ là đưa phụ

nữ trở lại tham gia lao động sản xuất xã hội, gắn sự nghiệp giải phóng phụ nữvới cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Muốn có sự nghiệp giải phóng phụ nữtrong thực tế đòi hỏi phải xóa bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, thực hiệncông hữu hóa, đồng thời thủ tiêu sự bất bình đẳng nam nữ trong tư tưởng vànhận thức của xã hội Chủ nghĩa Mác - Lênin cũng khẳng định rằng sự nghiệpgiải phóng phụ nữ luôn gắn liền với sự nghiệp giải phóng giai cấp và giảiphóng xã hội, giải phóng con người là vấn đề mang tính biện chứng sâu sắc.Hơn nữa, cùng với việc xóa bỏ cơ sở kinh tế của sự bất bình đẳng nam nữ thìcần tạo cơ hội và điều kiện để thu hút ngày càng nhiều sự tham gia của phụ nữvào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội để phụ nữ có thể phát huy hết tiềmnăng của mình

1.1.2 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và vấn đề giải phóng phụ nữ

Kế thừa và phát triển học thuyết Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh làmột trong những người Việt Nam đầu tiên hiểu và đặc biệt quan tâm đến tiềmnăng, vai trò, vị thế của phụ nữ trong phong trào cách mạng thế giới nóichung và sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói riêng

Trang 21

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tiềm năng, vai trò của phụ nữ Việt Nam cócội nguồn sâu xa, từ cuộc sống gia đình và xã hội trong thời niên thiếu ở quênhà, đến sự tiếp thu truyền thống lịch sử, tinh hoa văn hóa Việt Nam và thếgiới Với sự nhạy cảm của một tâm hồn và nhân cách lớn, Người sớm nắm bắtđược tinh hoa văn hóa dân tộc trong đó có vấn đề phụ nữ Đa số các nhànghiên cứu đều cho rằng những truyền thống văn hóa “thuận vợ, thuận chồngtát bể đông cũng cạn”, “lệnh ông không bằng cồng bà”; “Người chồng trị vì,người vợ cai quản”, là những hằng số văn hóa thể hiện vai trò, vị trí của ngườiphụ nữ không dễ gì bị “lấn át” trong xã hội phong kiến, thực dân ở Việt Nam.Chính truyền thống lịch sử với những tấm gương của các anh hùng liệt nữ hysinh vì dân vì nước, vì độc lập dân tộc là bằng chứng hùng hồn không thể phủnhận, có sức sống mạnh mẽ, trường tồn trong tâm thức, dân tộc.

Trong diễn trình lịch sử - văn hóa của phụ nữ Việt Nam, có thể nói từthời đại Hồ Chí Minh, phụ nữ mới được coi như một lực lượng, một tổ chứcvới tầm vóc lịch sử có vai trò quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựngđất nước Chủ tịch Hồ Chí Minh từ rất sớm khi đấu tranh cho quyền độc lậpcủa dân tộc đã đấu tranh cho quyền sống, quyền hạnh phúc của người phụ nữ

các nước thuộc địa Trong những năm 20 của thế kỷ XX, trong “Thư gửi quốc

tế cộng sản”, “Bản án chế độ thực dân Pháp”, Người luôn luôn đề cập “Nỗi

khổ nhục của người đàn bà bản xứ” Trên tờ báo Người cùng khổ, trong bài

“Phụ nữ Việt nam và chế độ đô hộ của Pháp”, Người viết: “Chế độ thực dân

tự bản thân nó đã là một hành động bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu rồi.Bạo lực đó đem ra đối xử đối với trẻ em và phụ nữ lại càng bỉ ổi hơn nữa”

Từ cảm nhận sâu sắc nỗi “khổ nhục” của phụ nữ dưới chế độ thực dânphong kiến, Hồ Chí Minh càng ý thức hơn phụ nữ chính là một lực lượng,

“một nửa” thành công của cách mạng Trước khi có một chính Đảng ra đời,

trên báo Thanh niên - cơ quan tuyên truyền của Việt Nam Thanh niên cách

Trang 22

mạng đồng chí hội do Người phụ trách đã mở mục Diễn đàn phụ nữ Trong

một tác phẩm quan trọng viết sau đó, cuốn Đường cách mệnh (viết năm

1927), Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Việt nam cách mệnh phải có nữ giớitham gia mới thành công, mà nữ giới muốn cách mệnh thì phải theo phụ nữquốc tế chỉ bảo” Sau này, trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, Ngườiluôn nhấn mạnh khả năng cách mạng của phụ nữ và sớm nhận thấy nhân tốgóp phần thắng lợi của cuộc cách mạng ấy chính là phụ nữ: “Xem trong lịch

sử cách mệnh, chẳng có lần nào là không có đàn bà, con gái tham gia” [52,tr.288]; “An Nam cách mệnh cũng phải có nữ giới tham gia mới thành công”[52, tr.289] Về sau, trong thư gửi phụ nữ nhân dịp kỷ niệm ngày phụ nữ 8-3-

1952, Người khẳng định: “Non sông gấm vóc nước Việt Nam do phụ nữ ta,trẻ cũng như già ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp rực rỡ” [55, tr.289]

Sự nhìn nhận sâu sắc và đánh giá đúng vai trò của phụ nữ trong lịch sửdân tộc là tư tưởng xuyên suốt ở Chủ tịch Hồ Chí Minh Hơn thế nữa, Ngườicòn tuyên truyền cho đồng bào, đồng chí hiểu về vấn đề đó Năm 1941, sau

khi về nước, trong số báo Việt Nam Độc lập tại Việt bắc, Người đã viết:

Việt Nam phụ nữ đời đờiNhiều người vì nước vì nòi hy sinhNghìn thu vang tiếng Bà Trưng

Ra tay cứu nước cứu dân đến cùng

Bà Triệu Ẩu thật anh hùngCưỡi voi đánh giặc anh hùng bốn phương

Từ việc đánh giá đúng khả năng và vai trò của phụ nữ trong cách mạng,Người luôn theo dõi sát sao và tạo mọi điều kiện cho phụ nữ tham gia vào sựnghiệp bảo vệ nền độc lập dân tộc và xây dựng nhà nước Đặc biệt, Người rấtquan tâm đến công tác phát triển Đảng trong quần chúng phụ nữ Khi làmviệc với các cấp ủy đảng từ trung ương đến địa phương, Người luôn chú ý sốlượng cán bộ nữ Người hiểu rõ khả năng to lớn của phụ nữ trong các lĩnh vực

Trang 23

của đời sống xã hội Người nói: “Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, hàng vạn phụ

nữ trở thành chuyên gia các ngành và cán bộ lãnh đạo, làm Giám đốc và Phógiám đốc các xí nghiệp, Chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp, Bí thư chi bộĐảng…” [55, tr.149] và Người vui mừng trước việc ngày càng có nhiều phụ

nữ tham gia vào công việc quản lý: “Từ ngày nước ta được giải phóng đếnnay, phụ nữ đều tiến bộ rõ về mọi mặt: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.Nhưng một sự tiến bộ rõ rệt nhất là phụ nữ ta hiện nay tham gia chính quyềnngày càng nhiều” [54, tr.164] Sau nữa, Người đã đặt trách nhiệm của Đảngđối với sự phát triển của phụ nữ Người khẳng định: phải giải phóng phụ nữthực sự, giải phóng phụ nữ thì phải bằng pháp luật, chính sách, biện pháp cụthể: “Từ nay, các cấp Đảng, chính quyền địa phương khi giao công tác chophụ nữ, phải căn cứ vào trình độ của từng người và cần phải tích cực giúp đỡphụ nữ nhiều hơn nữa” [54, tr.164], “phải thực sự giải phóng phụ nữ và tôntrọng quyền lợi của phụ nữ” [54, tr.225], “Đảng và Chính phủ cần phải có kếhoạch thiết thực để bồi dưỡng, cân nhắc và giúp đỡ để ngày càng thêm nhiềuphụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo” [55, tr.502] HồChí Minh cho rằng: không ai thấu hiểu phụ nữ bằng chính phụ nữ, muốn vậnđộng, bảo vệ, hỗ trợ phụ nữ phải thành lập tổ chức của phụ nữ Ngay từ

những năm hai mươi của thế kỷ XX trong cuốn Đường cách mệnh, Hồ chí

Minh đã nói: “muốn thế giới cách mệnh thành công, thì phải vận động đàn bà,con gái công nông các nước…Mỗi Đảng cộng sản phải có một Bộ phụ nữ trựctiếp thuộc về phụ nữ quốc tế” [52, tr.288]

Tôn trọng phụ nữ, đánh giá đúng vai trò của phụ nữ, song Chủ tịch HồChí Minh cũng rất nghiêm khắc đối với phụ nữ Người luôn nhắc nhở phụ nữphải ý thức được vai trò, vị thế của mình mà phấn đấu cho bản thân và chodân tộc Người nói: “Đảng, Chính phủ và Bác mong phụ nữ tiến bộ nhiều hơnnữa Hiện nay trong các ngành, số phụ nữ tham gia còn ít” [54, tr.87] Vì vậy,

Trang 24

người nhắc nhở phụ nữ: “không nên ỷ lại vào Đảng, Chính phủ mà phải quyếttâm học tập, phát huy sáng kiến, tin tưởng ở khả năng mình, nâng cao tinhthần tập thể, đoàn kết, giúp đỡ nhau để giải quyết mọi khó khăn trong côngtác chính quyền” [54, tr.661], “phải nâng cao tinh thần làm chủ, cố gắng họctập và phấn đấu; phải xóa bỏ tư tưởng bảo thủ, tự ti; phải phát triển chí khí tựcường, tự lập” [54, tr.294] Người đã chỉ cho phụ nữ Việt Nam thấy rằng,muốn có sự bình đẳng thực sự, không nên chỉ trông chờ vào người khác mà

“bản thân chị em phải có chí khí tự cường, tự lập, phải đấu tranh để bảo vệquyền lợi cho mình”[54, tr.225]

Về con đường giải phóng phụ nữ, Chủ tịch Hồ Chí minh nhấn mạnh:Muốn giải phóng phụ nữ thì trước hết phải giải phóng dân tộc, giải phóng giaicấp, thực hiện quyền tự do bình đẳng cho mọi người, trong đó có phụ nữ Đểđưa công cuộc giải phóng ấy thắng lợi, để xây dựng xã hội mới thành công,theo Người phải tiến hành làm cách mạng vô sản, mà trước hết là phải thựchiện thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Đánh đổ đế quốc phongkiến là một bước căn bản để giải phóng cho phụ nữ Sau đó, thực hiện cuộccách mạng xã hội chủ nghĩa để xóa bỏ tận gốc sự bất bình đẳng của người phụ

nữ với nam giới trên tất cả mọi lĩnh vực: kinh tế, xã hội, văn hóa Phụ nữ chỉđược bình đẳng thực sự trong điều kiện một nền kinh tế phát triển, một nềnvăn hóa lành mạnh và một xã hội văn minh Do đó, Hồ Chí Minh chủ trươnggắn sự nghiệp giải phóng phụ nữ với cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Ngườithường nói: chúng ta làm cách mạng để giành lấy tự do, dân chủ, bình đẳng,trai gái ngang quyền nhau, không để phụ nữ bị áp bức, bị coi thường Ngay từkhi Đảng cộng sản Việt Nam được thành lập, trong lời kêu gọi nhân dịp thànhlập Đảng, Hồ Chí Minh đã viết: “thực hiện nam nữ bình quyền”

Như vậy, từ việc khẳng định phụ nữ là một lực lượng to lớn của xã hội,Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vượt lên tư tưởng hẹp hòi của Nho giáo - phong

Trang 25

kiến, đánh giá đúng và khách quan vai trò, tiềm năng và vị thế của phụ nữtrong gia đình và xã hội Phụ nữ vừa là lực lượng lao động quan trọng của xãhội, vừa là người mẹ, người thầy đầu tiên của con trẻ Đời sống vật chất vàtinh thần của họ, trình độ học vấn của họ, điều kiện làm việc của họ có ảnhhưởng to lớn đến thế hệ tương lai Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định tầmquan trọng của việc giải phóng phụ nữ, coi đó là thước đo tiến bộ của pháttriển xã hội Theo Người, “giải phóng phụ nữ” không chỉ bao hàm nội dunggiải phóng phụ nữ thoát khỏi ách nô lệ, khỏi chế độ thực dân phong kiếntrong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ mà còn xóa bỏ tư tưởng “trọng namkhinh nữ” từ trong gia đình ra ngoài xã hội, là tạo điều kiện để phụ nữ pháthuy tiềm năng sức lực của mình vào phát triển đất nước và của chính bảnthân Tư tưởng này đã chi phối nhận thức và hành động trong suốt cuộc đờicủa Chủ tịch Hồ Chí Minh Dưới chế độ phong kiến và về sau là chế độ thuộcđịa nửa phong kiến, phụ nữ Việt Nam hàng trăm năm sống trong triết lý Nhogiáo “tam tòng, tứ đức”, “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”…, quanh quẩnhoặc an phận với cuộc sống gia đình, với hạnh phúc nhỏ nhoi chật hẹp tronggia đình và ngoài xã hội, họ bị những quan điểm trên “trói buộc” và chịu một

thân phận “thiệt thòi”…Vì lẽ đó mà giải phóng phụ nữ là nội dung và chương

trình cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta tiến hành không chỉ là

cuộc cách mạng xã hội gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp

mà còn là cuộc cách mạng văn hóa, nhân văn sâu sắc.

Nếu như trong cách mạng dân tộc, dân chủ, Hồ Chí Minh khẳng định

“Việt nam cách mệnh phải có nữ giới tham gia mới thành công” thì trong hòabình và xây dựng đất nước Người lại nêu: “Nói phụ nữ là nói phần nửa xã hội.Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người Nếukhông giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa” Có thểnói quan điểm, tư tưởng của Người đối với phụ nữ là giải phóng “sức chiến

Trang 26

đấu” và “sức lao động”, làm thế nào để tạo điều kiện tốt nhất để chị em đónggóp nhiều nhất cho đất nước và thông qua đó phụ nữ trưởng thành.

Để giải phóng phụ nữ cần phải kết hợp yếu tố khách quan và chủ quan.Yếu tố khách quan là sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, xã hội, yếu tố chủquan là sự vươn lên của chính phụ nữ Đó là quan điểm khách quan, biệnchứng và đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và có ý nghĩa bài học chiếnlược lâu dài Trong bối cảnh của cơ chế bao cấp trước đây, cũng như trongthời kỳ đổi mới hiện nay, quan điểm trên vẫn đúng đắn và có ý nghĩa to lớn

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định vai trò, tiềm năng, vị thế to lớncủa phụ nữ Việt Nam, Người luôn gắn nhiệm vụ giải phóng phụ nữ với giảiphóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người Người khẳng địnhtrong chế độ xã hội chủ nghĩa, Đảng, Nhà nước và các tổ chức xã hội phảithực sự quan tâm phụ nữ, hỗ trợ, tạo điều kiện cho người phụ nữ phát huy tối

đa tài năng, tiềm lực của mình; đồng thời phụ nữ muốn tiến bộ, bình đẳng,hạnh phúc thực sự thì phải có ý chí, có quyết tâm, tích cực học tập, rèn luyện

để có đủ đức và tài, tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội

Tiếp thu lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về phụ nữ, ngay

từ khi ra đời Đảng ta rất quan tâm đến phụ nữ, coi vấn đề phụ nữ luôn là vấn

đề trọng tâm trong sự nghiệp cách mạng

Ngay từ năm 1930 khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề cao

tư tưởng “Nam nữ bình quyền” và coi việc thực hiện tư tưởng đó là một trong

10 nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng Việt Nam, đồng thời nêu rõ quan điểm

“giải phóng phụ nữ gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp”.Hiến pháp đầu tiên- Hiến pháp năm 1946 đã khẳng định: “Đàn bà ngangquyền với đàn ông về mọi phương diện” (Điều 9) Quan điểm đó đã được cụthể hơn trong Hiến pháp năm 1959, Điều 24: “Phụ nữ có quyền bình đẳng vớinam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình” [30,

Trang 27

tr.18] Hiến pháp năm 1980, (Điều 57, 63) và Hiến pháp năm 1992 (Điều 54,63)

đã khẳng định lại quan điểm đó một lần nữa: “Phụ nữ và nam giới có quyềnngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình Nhànước và xã hội chăm lo nâng cao trình độ chính trị, văn hóa, khoa học kỹthuật và nghề nghiệp của phụ nữ, không ngừng phát huy vai trò của phụ nữtrong xã hội” Trong từng giai đoạn của cánh mạng, các điều khoản của Hiếnpháp đã được thể chế hóa bằng hệ thống pháp luật, các văn bản quy phạmpháp luật nhằm phát huy vai trò, vị trí của phụ nữ trong xã hội

Các quan điểm của Đảng và Nhà nước không chỉ được ghi nhận rõtrong các văn kiện của Đảng, Hiến pháp, pháp luật, được cụ thể hóa bằng cácvăn bản, những Chỉ thị, Nghị định, mà quan trọng hơn, ở một mức độ nhấtđịnh, đã và đang được thực thi trong cuộc sống nhằm phát huy vai trò, vị trí

và tiềm năng của phụ nữ trong xã hội Những kết quả mà phụ nữ đã đạt đượctrong những năm qua trên các lĩnh vực đã và đang chứng minh cho nhận xét

đó Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) tại việt Nam đã ghinhận: “Việt Nam có thể tự hào về những thành quả của mình trên bước đườngtiến tới sự bình đẳng giới Những thành quả này, một phần nhờ sự cam kết vềchính trị của Chính phủ Việt Nam, mở đầu bằng việc Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã đề cao vai trò và tiềm năng của phụ nữ” [17, tr.1]

Nghị quyết số 04/NQ-TW ngày 12-7-1993 của Bộ Chính trị về “Đổimới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới”; Chỉ thị số37/CT-TW ngày 16-5-1994 của Ban Bí thư về “Công tác cán bộ trong tìnhhình mới” được coi là những văn bản gần đây nhất ghi nhận phụ nữ Việt Namvừa có tiềm năng to lớn, là động lực quan trọng của công cuộc đổi mới vàphát triển kinh tế - xã hội, vừa là người thầy, người mẹ đầu tiên của conngười Các văn kiện đã nêu rõ: Mục tiêu giải phóng phụ nữ hiện nay là nhằmcải thiện đời sống vật chất, tinh thần, nâng cao địa vị xã hội và quyền bình đẳng

Trang 28

của phụ nữ, nhấn mạnh sự nghiệp giải phóng phụ nữ là trách nhiệm của các cấpchính quyền, các tổ chức nhân dân, toàn xã hội và gia đình, khẳng định vai tròcủa phụ nữ trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước.

Nhiều văn kiện của Đảng và Nhà nước nhấn mạnh đến việc thực hiệnbình đẳng giới, chú trọng công tác cán bộ nữ, coi việc tăng tỷ lệ cán bộ nữtham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, nâng cao trình độ học vấncho phụ nữ là điều kiện quan trọng để thực hiện quyền bình đẳng, dân chủcho phụ nữ, là điều kiện để phát huy tiềm năng và nâng cao địa vị xã hội chophụ nữ Đại hội X khẳng định:

Nâng cao trình độ mọi mặt cả đời sống vật chất và tinh thầncho phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới Tạo điều kiện cho phụ nữ thựchiện tốt vai trò của người công dân, người lao động, người mẹ,người thầy đầu tiên của con người Bồi dưỡng, đào tạo để phụ nữtham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan laođộng và quản lý các cấp [25, tr.120]

Bộ Luật Lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đượcQuốc hội khóa IX thông qua năm 1994 đã dành riêng một chương (chương X) quyđịnh các chế độ, chính sách về lao động nữ Trong đó có nhiều nội dung phù hợpvới yêu cầu đổi mới và phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay như việc nhấnmạnh chức năng làm mẹ của phụ nữ, có những biện pháp để chức năng gia đìnhkhông còn là gánh nặng riêng của mỗi gia đình, trước hết là phụ nữ, mà phải “xãhội hóa” các chức năng đó, đồng thời nêu cao trách nhiệm thực hiện của cả vợ vàchồng Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đãchính thức ghi nhận việc xây dựng và thực hiện “Chiến lược phát triển vì sự tiến bộcủa phụ nữ Việt Nam” mà Đảng và Chính phủ ta đã cam kết tại Hội nghị phụ nữlần thứ 4 tổ chức tại Bắc Kinh (9-1995), xem đó là một bộ phận quan trọng trongchiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Trang 29

“Chiến lược phát triển vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam” của Chínhphủ Việt Nam xây dựng năm 2000; “Kế hoạch hành động vì sự tiến bộ củaphụ nữ Việt Nam đến năm 2005” và “Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ củaphụ nữ Việt Nam đến 2010” là những văn bản quan trọng thể hiện quan điểmđúng đắn của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề phụ nữ Trong những văn bản

đó quán triệt sâu sắc tinh thần nâng cao học vấn cho phụ nữ và thực hiệnquyền bình đẳng giới trong các khâu xây dựng và triển khai chương trìnhhành động của các cấp, các ngành Những chiến lược đó khẳng định giảiphóng phụ nữ là một trong những mục tiêu quan trọng của cách mạng ViệtNam, có ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài đến sự phát triển của đất nước Chiếnlược còn nhấn mạnh sự tiến bộ của phụ nữ không chỉ xuất phát từ lợi ích riêngcủa phụ nữ, của gia đình mà còn xuất phát từ lợi ích chung của toàn xã hội Vìvậy, bồi dưỡng cán bộ nữ, trang bị kiến thức cho phụ nữ là nhiệm vụ thườngxuyên của các cấp chính quyền, đoàn thể Các văn kiện của Đảng và Nhànước đã khẳng định, tăng trưởng kinh tế phải tạo cơ sở và điều kiện thuận lợicho phát triển xã hội, trong đó chú trọng đến lĩnh vực giáo dục và chăm sócsức khỏe, tạo cơ hội cho phụ nữ phấn đấu vươn lên, phát huy vai trò, vị trí củamình trong giai đoạn mới của đất nước - giai đoạn thực hiện CNH, HĐH

Có thể khẳng định rằng, ở Việt Nam, trong các văn kiện chính trị vàpháp lý đã khẳng định tiềm năng, vai trò, vị thế của phụ nữ đối với quá trìnhphát triển đồng thời cũng thể hiện rõ sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhànước đối với phụ nữ Đảng và Nhà nước đã cố gắng thể chế hoá các quannướcđiểm, yêu cầu mọi thành viên trong xã hội có trách nhiệm tạo điều kiện,khuyến khích phụ nữ phát huy mọi khả năng của mình trong phát triển kinh tế

- xã hội cũng như khuyến khích họ tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xãhội Những chủ trương và sự quan tâm của Đảng đã kịp thời khơi dậy và độngviên, bồi dưỡng và phát huy tiềm năng, vai trò của phụ nữ tạo thành nguồn

Trang 30

sức mạnh, góp phần tạo nên những thành tựu to lớn, làm chuyển biến tìnhhình kinh tế - xã hội của đất nước ta trong những năm qua Đó cũng chính là

sự kế thừa, vận dụng, cụ thể hóa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh phù hợpvới từng thời kỳ phát triển của đất nước

Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn tồn tại tư tưởng “trọng nam khinh nữ”,gây cản trở quá trình thực hiện mục tiêu công bằng xã hội và bình đẳng giới ởnước ta hiện nay Trên bình diện cả nước, phụ nữ vẫn chịu nhiều thiệt thòi.Một bộ phận đáng kể không có việc làm, hoặc chưa có việc làm, thu nhậpthấp, sức khỏe bị giảm sút Đặc biệt nhiều phụ nữ ở miền núi, nông thôn còn

mù chữ và không có điều kiện hưởng thụ văn hóa Phụ nữ đang bị phân biệtđối xử, bất bình đẳng trong cả gia đình và ngoài xã hội dưới nhiều hình thứckhác nhau và là nạn nhân của nhiều tệ nạn xã hội

Vì vậy, Đảng và Nhà nước cần quan tâm hơn nữa, chính sách của Đảng

và Nhà nước về vấn đề phụ nữ cần được các cấp, các ngành quan tâm, nghiêncứu, áp dụng và quán triệt đầy đủ, làm cho các văn bản trên có sức sống mạnh

mẽ trong đời sống xã hội nhằm phát huy vai trò, tiềm năng của phụ nữ mộtcách hiệu quả hơn

1.2 TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC PHÁT HUY TIỀM NĂNG CỦA PHỤ

NỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC NƯỚC TA HIỆN NAY

1.2.1 Nhận thức về tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số

Dù đã để công tìm tòi, chúng tôi vẫn chưa có được một cuốn từ điểnhay một công trình nghiên cứu trong đó có định nghĩa đầy đủ, chi tiết về kháiniệm tiềm năng Trong từ điển tiếng Việt (Xuất bản năm 1994), có định nghĩa

tóm tắt tiềm năng “là khả năng, năng lực tiềm tàng” [69, tr.948]; còn khái niệm tiềm tàng thì được định nghĩa là “trạng thái ẩn giấu bên trong dưới

dạng khả năng, chưa được bộc lộ ra, chưa phải là hiện thực” [69, tr 948].

Trang 31

Trên cơ sở đó, chúng tôi hiểu tiềm năng là toàn thể khả năng, năng lực

sẵn có bên trong sự vật, hiện tượng đó Khả năng, năng lực đó đã từng bướcđược con người phát hiện, khai thác và sử dụng, và khi nó được khai thác, sửdụng, nó biến thành hiện thực, nghĩa là một bộ phận tiềm năng đã biến thànhhiện thực thông qua hoạt động của con người

Tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số

Phụ nữ dân tộc thiểu số là khái niệm dùng để chỉ cộng đồng phụ nữ

thuộc các thành phần dân tộc có số lượng dân cư ít hơn người Kinh (tộc người

đa số) sinh sống ở các khu vực của nước ta Nói cách khác, đây là cách nhìnnhận, tiếp cận dưới góc độ “giới” (gender) soi rọi vào các yếu tố văn hóa,kinh tế, xã hội các thành phần dân tộc sinh tụ, làm ăn trong môi trường tựnhiên - vùng núi và môi trường xã hội - dân tộc thiểu số Trong quá trình lịch

sử của các tộc người với những diện mạo bản sắc văn hóa đa dạng, phụ nữ là

“thành viên” quan trọng, vừa là chủ thể, vừa là người thụ hưởng những giá trịvăn hóa tộc người, góp phần làm đậm đà bản sắc dân tộc “cá tính tộc người”

và làm giàu vốn văn hóa dân tộc quốc gia

Tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số là toàn bộ những năng lực, khả

năng lao động sáng tạo của phụ nữ các DTTS Khả năng, năng lực ấy chophép họ tham gia và đảm nhiệm những công việc trong các mặt của đời sống

xã hội, đáp ứng nhu cầu tồn tại, phát triển của bản thân phụ nữ, đồng thời đápứng nhu cầu của sự tiến bộ xã hội Bên cạnh những khả năng, năng lực đãđược bộc lộ, còn một phần khả năng, năng lực đang tiềm ẩn sẽ được bộc lộ,phát triển trong điều kiện thuận lợi

Phụ nữ dân tộc thiểu số có những đặc điểm riêng khác với phụ nữ

người Kinh ở khu vực đồng bằng và đô thị:

Là một bộ phận của phụ nữ Việt Nam, phụ nữ các DTTS mang trongmình cả đặc điểm, phẩm chất, tiềm năng nổi bật của người phụ nữ Việt Nam,

Trang 32

cả những đặc điểm, tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số Do sống trong môitrường tự nhiên - miền núi và môi trường xã hội - dân tộc thiểu số nên họchịu sự tác động lớn của cả hai yếu tố trên Tiềm năng của phụ nữ dân tộcthiểu số trong thời kỳ CNH, HĐH là truyền thống đoàn kết, đức tính cần cù,chịu thương chịu khó; sống có trách nhiệm, vì mọi người; phẩm chất chânthật, giữ chữ tín; khéo léo và sáng tạo trong công việc; sức khỏe dẻo dai đượcrèn luyện trong môi trường tự nhiên khắc nghiệt Đội ngũ trí thức, cán bộđảng viên nữ trong đồng bào dân tộc tuy còn ít về số lượng nhưng thực sự đã cónhiều đóng góp tạo nên những thành quả của địa phương về phát triển kinh tế, vănhóa, xã hội.

Tuy nhiên, do đa số phụ nữ DTTS sống trong điều kiện tự nhiên khắcnghiệt, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, các phong tục tập quán “trói buộc” đã tácđộng lớn đến cách sống, nếp nghĩ, làm chậm nhịp phát triển của bản thân họ.Mặt khác, tâm lý tự ti, cam chịu, an phận thủ thường, ngại thay đổi và khó bắtnhịp với cái mới đã hạn chế những tiềm năng sẵn có, làm cho những tiềmnăng đó khó bộc lộ và phát triển

Phải nhận thức được thế mạnh và hạn chế của phụ nữ DTTS mới tìm rađược giải pháp đúng nhằm khắc phục hạn chế và phát triển những ưu thế Vì

vậy, phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế

-xã hội chính là làm cho cái hay, cái tốt, các mặt mạnh phát huy tác dụng vàtiếp tục nảy nở thêm để tác động vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội,đồng thời cũng chính là phát triển bản thân họ

Phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội chính là sự nhận thức của cộng

đồng về tiềm năng, vai trò, vị trí của họ trong chiến lược phát triển quốc gia

Từ quan điểm này cho thấy, yếu tố quan trọng của phát huy tiềm năng phụ nữ

là đánh giá đúng sự đóng góp của họ trong các hoạt động kinh tế - xã hội

Trang 33

thông qua đó thấy được tiềm năng, vai trò, vị trí của họ trong quá trình pháttriển kinh tế - xã hội

Việc nghiên cứu tiềm năng và phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộcthiểu số trong phát triển kinh tế - xã hội phải thông qua các hoạt động kinh tếtrong gia đình, các hoạt động văn hóa xã hội của họ và thực chất là đánh giá

vị trí, vai trò của phụ nữ so với nam giới Mối quan hệ đó biểu hiện trong sựphụ thuộc tác động qua lại lẫn nhau

Nói cách khác, đánh giá tiềm năng của người phụ nữ DTTS qua quátrình khảo sát các công việc, hoạt động thể hiện các chức năng và tác độngcủa họ trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, từ đó có những phương hướng vàgiải pháp cụ thể nhằm phát huy những tiềm năng của họ, thúc đẩy quá trìnhphát triển kinh tế - xã hội và thông qua đó bản thân người phụ nữ tự khẳngđịnh mình

1.2.2 Tầm quan trọng của việc khai thác, phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Khai thác phát huy tiềm năng của phụ nữ các dân tộc trong quá trìnhphát triển kinh tế - xã hội ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong quốc sáchtrong đời sống kinh tế, văn hóa xã hội của mỗi quốc gia, từng dân tộc và giađình Trong sự nghiệp đổi mới, phụ nữ các dân tộc Việt Nam chiếm tỷ lệ51,48% dân số và 52% lực lượng lao động xã hội, đóng vai trò quan trọngtrong phát triển kinh tế, văn hóa xã hội và ổn định chính trị

Phụ nữ dân tộc thiểu số có vị trí, vai trò to lớn trong phát triển kinh tế

- xã hội đất nước nói chung và trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nói riêng

Phụ nữ dân tộc thiểu số là một lực lượng xã hội quan trọng và có vai tròthiết yếu tác động và ảnh hưởng toàn diện đến sự phát triển các DTTS ở miềnnúi của đất nước Là lực lượng lao động chính trong các hoạt động kinh tế -

Trang 34

xã hội, phụ nữ là “chủ nhân” của quá trình phát triển kinh tế Phụ nữ dân tộcthiểu số tham gia tất các hoạt động kinh tế: trồng trọt, chăn nuôi, nghề thủ công,

tự quản chi tiêu duy trì cuộc sống cho thành viên trong gia đình

Phụ nữ DTTS miền núi phía Bắc với những bản sắc riêng của từng tộcngười và khu vực có những biểu hiện đa dạng về hình thức hoạt động kinh tếtrong gia đình và cộng đồng Trong xã hội cổ truyền cũng như hiện nay,chúng ta thấy “giới nữ” có những “thiên chức” quan trọng tạo nên thể thốngnhất trong hoạt động kinh tế gia đình và cộng đồng, ở lĩnh vực nào thì phụ nữcũng khẳng định vai trò của mình và đem lại thu nhập cho gia đình và xã hội

Phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh

tế-xã hội, phát huy tính tích cực tế-xã hội của phụ nữ ở vùng dân tộc thiểu số nóichung và dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc nói riêng là một vấn đề có ýnghĩa quan trọng trong công cuộc giải phóng và phát triển phụ nữ Đồng thờiđây là vấn đề cấp bách, nhằm khai thác mọi tiềm năng lao động của đất nước

để góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội nói chung, CNH, HĐHnông nghiệp, nông thôn nói riêng

Tuy nhiên, hiện nay, nhiều tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số miềnnúi phía Bắc vẫn chưa được khai thác Vậy làm thế nào để có thể phát huy tiềmnăng của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế? Phải nâng cao nănglực cho họ Muốn nâng cao năng lực, trước hết phải nâng cao trình độ học vấn.Đặc biệt, cần có những chính sách hợp lý, sát thực tế để vừa hỗ trợ, vừa khuyếnkhích động viên phụ nữ học tập Bên cạnh đó cần nâng cao trình độ nhận thứchiểu biết của phụ nữ các dân tộc thiểu số về các vấn đề cấp bách: phổ cập giáodục văn hóa, tuyên truyền, bồi dưỡng những hiểu biết về xã hội, kỹ thuật nôngnghiệp, thị trường Cần có sự kết hợp giữa các ban ngành địa phương với Hộiphụ nữ để có những giải pháp hỗ trợ cho phụ nữ trong phát triển kinh tế

Tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số trong thực hiện chính sách dân tộc, đại đoàn kết dân tộc

Trang 35

Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta luôn nhấn mạnh truyềnthống đoàn kết, coi đoàn kết dân tộc, đoàn kết toàn dân là động lực của sựphát triển.

Đặc điểm nổi bật trong cư dân tộc người Việt Nam là cư trú xen kẽ.Đây là điều kiện thuận lợi để các cư dân xích lại gần nhau, gắn bó với nhau.Nhưng mặt khác cũng dẫn đến không ít khó khăn trong quan hệ tộc ngườinhư: tranh chấp đất đai, xích mích về địa bàn cư trú, về đất rừng, tài nguyên

Vì vậy, củng cố tinh thần đoàn kết trong cùng một tộc người, trong các tộcngười với nhau là rất cần thiết

Phụ nữ DTTS luôn là trung tâm đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau cùngphát triển; xây dựng kinh tế, xã hội, phát triển sản xuất, cùng nhau xóa đóigiảm nghèo

Tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số với phát triển văn hóa tộc người: Phụ nữ các DTTS có vị trí, vai trò quan trọng trong tạo dựng, truyền

thụ, bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa tộc người Với tư cách là ngườinội trợ trong gia đình, người thợ thủ công dệt may trang phục và nhiều đồ vảikhác, người phụ nữ có vai trò quan trọng và họ thực sự có tiềm năng trongbảo tồn những giá trị văn hóa của từng dân tộc và thông qua đó truyền trao,duy trì các giá trị ấy qua nhiều thế hệ Công thức nấu ăn, cách dệt vải, thêuhoa văn, lối mặc, cách sử dụng các yếu tố văn hóa vật thể cũng như nhữngyếu tố văn hóa phi vật thể như lời hát ru, hát dân ca, câu chuyện kể màngười phụ nữ đã chuyển tải là bằng chứng sinh động khẳng định vị trí quantrọng của người phụ nữ trong văn hóa gia đình Ở mỗi tộc người, ở mỗi vùngkhác nhau, yếu tố văn hóa trên biểu hiện rất phong phú và đa dạng; song đềuthống nhất ở một điểm chung và không thể phủ nhận đó là vị thế quan trọngcủa họ trong tạo dựng, giữ gìn và phát triển văn hóa Nó như là một khả năng

Trang 36

riêng có của người phụ nữ Vì vậy việc khai thác và phát huy khả năng nàycủa họ chính là việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Trong bối cảnh văn hóa tộc người ở nước ta, phụ nữ các dân tộc có vịtrí đặc biệt quan trọng trong việc tạo nên các giá trị văn hóa từng tộc người(vật chất, tinh thần, các quan hệ xã hội và tập quán) Ngày nay, khi nói đếnbản sắc văn hóa dân tộc không ai có thể phủ nhận sắc thái văn hóa ngôn ngữ

và trang phục (chủ yếu là trang phục nữ) Sau ngôn ngữ, trang phục nữ cácdân tộc là yếu tố văn hóa cơ bản để phân biệt tộc người này với tộc ngườikhác (bởi vì trang phục nam của phần lớn các tộc người là giống nhau) Phụ

nữ các dân tộc là chủ nhân văn hóa trang phục của các tộc người và đặc biệt

là chính họ đã tạo nên sắc thái văn hóa trang phục nữ đậm đà cá tính của từngtộc người và làm giàu văn hóa quốc gia Nhiều giá trị văn hóa vật chất khácvừa là giá trị văn hóa gia đình vừa là giá trị văn hóa tộc người như: công thứccác món ăn, các làn điệu dân ca, lời hát ru con, và các môtíp hoa văn trêntrang phục của họ, đồ vải đã khẳng định tiềm năng của họ, vai trò, vị trí quantrọng của phụ nữ trong cộng đồng Trong nhiều hoạt động cộng đồng, lễ hội,tín ngưỡng, tôn giáo, văn nghệ dân gian, lao động sản xuất phụ nữ các tộcngười ở những sắc thái khác nhau là một thành tố không thể thiếu trong việctạo dựng nên một chỉnh thể của các giá trị văn hóa tộc người dù ở dạng vậtchất, tinh thần hay tập quán xã hội

Có thể nói, trong bối cảnh văn hóa quốc gia, phụ nữ DTTS ở miền núinói chung, miền núi phía Bắc nói riêng có thể nói là “chủ nhân” quan trọnggóp phần tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam Các yếu tố văn hóa tộc người,văn hóa khu vực và quốc gia đang biểu hiện sinh động qua nếp sống ở mỗidân tộc, nếp sống gia đình Chúng ta đều thấy tiềm năng của phụ nữ và vai tròcủa họ trong việc duy trì nếp sống đó

Trang 37

Trong sự giao lưu văn hóa mạnh mẽ hiện nay giữa các dân tộc trongquốc gia Việt Nam và giữa Việt Nam với các nước khác, nhiều yếu tố bản sắcvăn hóa dân tộc bị nền văn minh công nghiệp xóa nhòa đi một cách nhanhchóng Tuy nhiên, trong sự tương quan với nam giới thì nữ giới khu vực miềnnúi phía Bắc là người có công bảo tồn nhiều yếu tố bản sắc văn hóa của từng tộcngười và của quốc gia Đây là vấn đề cần phải được nghiên cứu, đầu tư trongphương hướng bảo tồn các giá trị văn hóa các dân tộc và quốc gia.

Trên lĩnh vực văn hóa, phụ nữ dân tộc thiểu số khu vực miền núi phíaBắc là người chủ của nhiều giá trị văn hóa tộc người đặc sắc

Tuy nhiên, trước sự tác động của kinh tế thị trường, sự giao lưu hộinhập mạnh mẽ về các giá trị thì các giá trị văn hóa vật chất mà phụ nữ có vaitrò quan trọng như nghề dệt, cắt may các trang phục cổ truyền, các ngànhnghề thủ công như đan lát, dệt chiếu, công thức các món ăn cổ truyền dân tộccũng như các giá trị tinh thần như lời ru, hát dân ca, điệu múa cùng tập tục xãhội sẽ nhanh chóng bị “công nghiệp hóa” nếu không có một định hướng choviệc khai thác, bảo tồn và phát huy trong cuộc sống mới Đấy là chưa nói đếnyếu tố ngôn ngữ - tiếng mẹ đẻ của các dân tộc- ngày càng ít được các bà mẹdạy cho con Hiện nay ở một số dân tộc đang xảy ra hiện tượng mai một ngônngữ tộc người Chính vì vậy, nghiên cứu tiềm năng của phụ nữ DTTS ở miềnnúi với việc bảo tồn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là một trong những nộidung và ý nghĩa phát triển của quốc gia và của phụ nữ

Đặc biệt, hiện nay, trong cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, vấn đề dân tộc, tôn giáo, đang đặt ra đối với các tỉnh miền núi phía Bắc và phụ

nữ đang góp phần vào giải quyết vấn đề này Địa bàn cư trú chủ yếu của các dântộc thiểu số là rừng núi, vì vậy xây dựng kinh tế, văn hóa, xã hội cũng chính làthực hiện, đáp ứng những yêu cầu về an ninh quốc phòng toàn dân vững mạnh,bảo vệ vững chắc chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ gắn với an ninh biên giới

Trang 38

Do nhiều nguyên nhân, đời sống chính trị - xã hội trên thế giới đangdiễn biến phức tạp Các thế lực chống đối CNXH đang ráo riết dùng mọi thủđoạn chống phá cách mạng Việt Nam Lợi dụng những khó khăn trong đờisống của đồng bào các dân tộc thiểu số, những yếu kém trong thực hiện chínhsách dân tộc ở địa phương, chúng đã kích động quần chúng, nhằm xóa bỏ cácgiá trị văn hóa dân tộc, tăng cường xâm nhập văn hóa tư sản, phương Tây vàonước ta, chia rẽ khối đại đoàn các dân tộc, thậm chí tuyên truyền, lôi kéo đồngbào dân tộc thiểu số gây bạo loạn, làm ảnh hưởng an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Trước hết, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, phụ nữ thamgia vào các hoạt động đoàn thể, tổ chức tuyên truyền rộng rãi cho nhân dânthấy rõ âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch Qua đó, nâng cao cảnhgiác, chủ động phòng, chống trong đông đảo quần chúng nhân dân

Ngày nay, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việcđánh giá đúng tiềm năng của các nguồn lực để từ đó có phương hướng và giảipháp nhằm khai thác phát huy, khơi dậy và bồi dưỡng, phát triển tiềm năngphục vụ cho chiến lược phát triển của quốc gia, dân tộc là điều cần thiết và có ýnghĩa cả về mặt lý luận bà thực tiễn Nguồn lực nữ nói chung, nguồn lực nữ cácdân tộc thiểu số nói riêng không nằm ngoài chiến lược phát triển chung đó

Chương 2

THỰC TRẠNG VIỆC PHÁT HUY TIỀM NĂNG CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN

KINH TẾ - XÃ HỘI Ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC

NƯỚC TA HIỆN NAY

2.1 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC PHÁT HUY TIỀM NĂNG CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC NƯỚC TA

2.1.1 Yếu tố tự nhiên

Các tỉnh miền núi phía Bắc gồm 15 tỉnh là: Quảng Ninh, Tuyên Quang,

Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Yên Bái, Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai

Trang 39

Châu, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Phú Thọ, Bắc Giang, Lạng Sơn; nhiều tỉnh cóđường biên giới tiếp giáp với Trung Quốc với Lào Đây là vùng kinh tế, sinhthái lớn, chiếm tới 1/3 diện tích lãnh thổ và và 16% dân cư cả nước, có vị tríchiến lược về địa chính trị và an ninh quốc phòng, là vùng giàu tiềm năngphát triển kinh tế - xã hội.

Những tiềm năng về tài nguyên tự nhiên: khí hậu, đất đai, rừng, khoángsản, sông ngòi đã tác động tích cực đến việc phát huy tiềm năng của ngườiphụ nữ, thể hiện ở việc họ có thể sử dụng các lợi thế về điều kiện tự nhiên đểphát triển kinh tế Đất đai màu mỡ, đa dạng, tầng canh tác dày, địa hình phâncách đã tạo nên nhiều vùng sinh thái có tiềm năng trong phát triển nôngnghiệp đa dạng với các loại cây trồng, vật nuôi khá phong phú như chăn nuôigia súc, gia cầm, trồng chè, các loại cây ăn quả Khí hậu cận ôn đới, hệthống sông ngòi, đồi núi tạo nên những danh thắng sơn thủy hữu tình, với bảnsắc văn hóa đa dạng phong phú của các dân tộc anh em cùng sinh sống lànhững tiềm năng lớn để phát triển kinh tế du lịch Hơn nữa, các công trìnhthủy điện lớn như thủy điện Sơn La, Hòa Bình đã tạo điều kiện mở rộng vàphát triển các hệ thống dịch vụ, với các chương trình dịch vụ vui chơi, giải trí

có thể khai thác để thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội

Đặc điểm địa hình bị chia cắt sâu và mạnh của các tỉnh miền núi phía Bắcgây nhiều khó khăn cho việc giao lưu, tiếp xúc với các dịch vụ xã hội và phát triểnkinh tế, thậm chí trong mỗi tỉnh lại tồn tại nhiều loại địa thế khác nhau Chẳnghạn, tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Sơn La là 1.405.500 ha, trong đó đất đang

sử dụng là 549.72,91 ha, chiếm 39% diện tích đất tự nhiên Ngoài ra, còn có 80 hađất trống, đồi núi trọc chưa được khai thác sử dụng, chiếm 60,92% diện tích tựnhiên Trong đó có 13,7 vạn ha đất và mặt nước có khả năng sản xuất nôngnghiệp, 66 vạn ha đất lâm nghiệp chưa được khai thác sử dụng [3, tr.3] Tỉnh HòaBình có tổng diện tích tự nhiên là 466.282 ha, trong đó đất nông nghiệp là 66.759

ha (14,32%), đất lâm nghiệp 194.308 ha (41,67%), đất chuyên dùng 27.394 ha

Trang 40

(5,87%), đất khu dân cư nông thôn 5.232 ha (1,12%), đất ở đô thị 574 ha (0,13%)

và còn 172.015 ha đất đồi núi chưa được sử dụng, chiếm 36,89 diện tích tự nhiên.Tổng diện tích đất tự nhiên của Lai Châu là 9.065,123 km2, chủ yếu là các loại đất

đỏ và vàng nhạt phát triển trên đá, cát, đá sét và đá vôi, có kết cấu khá chặt chẽ.Trong đó đất nông nghiệp đã sử dụng 664.299,9 ha, chiếm 7,09% tổng diện tíchđất tự nhiên; đất lâm nghiệp đang có rừng 283.667 ha; đất chuyên dùng có khoảng4.489,61 ha Đất trống đồi núi trọc có khả năng sử dụng còn rất lớn là 525.862 ha,chiếm 58% diện tích đất tự nhiên Tỉnh Điện Biên sau khi chia tách có diện tích tựnhiên 9.554 km2, trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm 11,32%, đất lâmnghiệp 86% Diện tích đất chưa sử dụng ở Điện Biên còn rất lớn, chiếm53,3%[5, tr.2]

Các tỉnh ở vùng Đông Bắc địa hình chia cắt mạnh và tình trạng đất chưađược sử dụng cũng rất lớn Tỉnh Hà Giang với tổng diện tích đất tự nhiên là516,9.000 ha, trong đó đất nông nghiệp: 140,5.000 ha; đất lâm nghiệp:364,2.000 ha; đất chuyên dùng: 7,6.000 ha; đất ở: 4,6.000 và số đất chưa sửdụng là 271,3.000 ha Tỉnh Bắc Kạn với tổng diện tích đất tự nhiên là351,2.000 ha, trong đó đất nông nghiệp: 332,9.000 ha; đất lâm nghiệp: 306.000ha; đất chuyên dùng; 9,8.000 ha; đất ở 2,5.000 ha; số đất chưa sử dụng là291,7.000 ha Tỉnh Thái Nguyên có tổng diện tích đất tự nhiên là 354,1.000 ha,trong đó đất nông nghiệp: 95,8.000 ha; đất lâm nghiệp: 155,3.000 ha; đấtchuyên dùng: 21,2.000 ha; đất ở: 8,5.000 ha và đất chưa sử dụng là 73,3.000

ha [5, tr.6] Như vậy, số lượng đất chưa sử dụng mà chủ yếu là đất đồi núitrọc ở các tỉnh miền núi phía Bắc là rất lớn Nếu nguồn lao động nói chung,lao động nữ nói riêng phát huy được thế mạnh của mình trong sản xuất nông,lâm nghiệp thì sẽ tạo hiệu quả kinh tế cao, góp phần thúc đẩy quá trình pháttriển kinh tế - xã hội của tỉnh, của vùng và của cả nước

Ngày đăng: 10/07/2023, 07:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Vân Anh, Lê Ngọc Hùng (1996), Phụ nữ, giới và phát triển, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ, giới và phát triển
Tác giả: Trần Thị Vân Anh, Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 1996
2. Trần Thị Vân Anh (1997), Kết hợp giới vào các bước xây dựng chính sách, Sổ tay công tác nữ công, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết hợp giới vào các bước xây dựng chínhsách
Tác giả: Trần Thị Vân Anh
Năm: 1997
6. Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Lân (1996), Phụ nữ nghèo nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trường, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ nghèo nông thôn trong điềukiện kinh tế thị trường
Tác giả: Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Lân
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
7. Đỗ Thị Bình (1997), Một số vấn đề chính sách xã hội với phụ nữ nông thôn trong giai đoạn hiện nay, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề chính sách xã hội với phụ nữ nôngthôn trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Đỗ Thị Bình
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1997
8. Đỗ Thị Bình (1997), Thực trạng môi trường Việt Nam hiện nay và sự tác động của nó đến đời sống sức khỏe của phụ nữ. Mười năm tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng môi trường Việt Nam hiện nay và sự tácđộng của nó đến đời sống sức khỏe của phụ nữ. Mười năm tiến bộcủa phụ nữ Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thị Bình
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 1997
9. Đỗ Thị Bình (1998), "Phụ nữ và vấn đề tiếp cận vốn trong bối cảnh kinh tế nông thôn hiện nay”, Tạp chí Khoa học về phụ nữ, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ và vấn đề tiếp cận vốn trong bối cảnh kinhtế nông thôn hiện nay
Tác giả: Đỗ Thị Bình
Năm: 1998
10. Đỗ Thúy Bình (1986), "Về cơ cấu gia đình các dân tộc ở miền Bắc", Tạp chí Dân tộc học, (3), tr.3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về cơ cấu gia đình các dân tộc ở miền Bắc
Tác giả: Đỗ Thúy Bình
Năm: 1986
11. Đỗ Thúy Bình (1991), "Gia đình các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam. Nhận diện gia đình Việt Nam hiện nay", Tạp chí Khoa học về phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở ViệtNam. Nhận diện gia đình Việt Nam hiện nay
Tác giả: Đỗ Thúy Bình
Năm: 1991
12. Đỗ Thúy Bình (1992), "Gia đình người H ’ mông trong bối cảnh kinh tế hiện nay", Tạp chí Dân tộc học, (2), tr. 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình người H’mông trong bối cảnh kinh tếhiện nay
Tác giả: Đỗ Thúy Bình
Năm: 1992
13. Đỗ Thúy Bình (1993), Gia đình - Những biến đổi kinh tế - văn hóa - xã 0hội ở các tỉnh miền núi phía Bắc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình - Những biến đổi kinh tế - văn hóa - xã"0"hội ở các tỉnh miền núi phía Bắc
Tác giả: Đỗ Thúy Bình
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1993
14. Đỗ Thúy Bình (1993), "Một số vấn đề đặt ra khi nghiên cứu thực trạng đời sống phụ nữ các dân tộc ít người góp phần hoàn thiện chính sách xã hội", Tạp chí Dân tộc học, (2), tr. 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề đặt ra khi nghiên cứu thực trạngđời sống phụ nữ các dân tộc ít người góp phần hoàn thiện chính sáchxã hội
Tác giả: Đỗ Thúy Bình
Năm: 1993
15. Bộ Chính trị (1989), "Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế- xã hội miền núi”, Báo Nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị về một số chủtrương, chính sách lớn phát triển kinh tế- xã hội miền núi
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 1989
16. Bộ Tư pháp (1996), Pháp luật vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam
Tác giả: Bộ Tư pháp
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia
Năm: 1996
17. Chương trình phát triển Liên hợp quốc UNDP (1995), Việt Nam qua lăng kính giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam qualăng kính giới
Tác giả: Chương trình phát triển Liên hợp quốc UNDP
Năm: 1995
18. Công ước Liên Hợp quốc (2004), Về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, Nxb Phụ nữ, Hà Nội (Tái bản lần 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đốixử với phụ nữ
Tác giả: Công ước Liên Hợp quốc
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2004
19. Phan Hữu Dật (2001), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quanđến mối quan hệ dân tộc hiện nay
Tác giả: Phan Hữu Dật
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
20. Khổng Diễn (1996), Những đặc điểm kinh tế xã hội miền núi phía Bắc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc điểm kinh tế xã hội miền núi phía Bắc
Tác giả: Khổng Diễn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
21. Phạm Văn Dũng (2004), Thực hiện bình đẳng trên lĩnh vực giáo dục ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện bình đẳng trên lĩnh vực giáo dục ở cáctỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay
Tác giả: Phạm Văn Dũng
Năm: 2004
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (1992), Một số văn kiện chính sách về dân tộc miền núi, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số văn kiện chính sách về dân tộcmiền núi
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1992
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện hội nghị lần thứ sáu, Ban chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ sáu, Banchấp hành Trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng trên cho thấy phụ nữ các dân tộc có vai trò trong hoạt động kinh tế gia đình không hoàn toàn như nhau - Phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số trong quá trình phát triển kinh tế   xã hội ở các tỉnh miền núi phía bắc nước ta hiện nay
Bảng tr ên cho thấy phụ nữ các dân tộc có vai trò trong hoạt động kinh tế gia đình không hoàn toàn như nhau (Trang 56)
Bảng 2.2: Người làm chính trong công việc gia đình [phụ lục 2] - Phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số trong quá trình phát triển kinh tế   xã hội ở các tỉnh miền núi phía bắc nước ta hiện nay
Bảng 2.2 Người làm chính trong công việc gia đình [phụ lục 2] (Trang 56)
Bảng 2.3: Mức độ tham gia của vợ và chồng trong công việc nội trợ - Phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số trong quá trình phát triển kinh tế   xã hội ở các tỉnh miền núi phía bắc nước ta hiện nay
Bảng 2.3 Mức độ tham gia của vợ và chồng trong công việc nội trợ (Trang 58)
Bảng 2.5: Giá một số mặt hàng dệt thổ cẩm Thái [29, tr.43] - Phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số trong quá trình phát triển kinh tế   xã hội ở các tỉnh miền núi phía bắc nước ta hiện nay
Bảng 2.5 Giá một số mặt hàng dệt thổ cẩm Thái [29, tr.43] (Trang 63)
Bảng 2.6: Tỷ lệ đóng góp của các thành viên cho kinh tế gia đình [phụ lục 2] - Phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số trong quá trình phát triển kinh tế   xã hội ở các tỉnh miền núi phía bắc nước ta hiện nay
Bảng 2.6 Tỷ lệ đóng góp của các thành viên cho kinh tế gia đình [phụ lục 2] (Trang 65)
Bảng 2.8:  Sự phân bố lao động nữ trong các nhóm xã hội - nghề - Phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số trong quá trình phát triển kinh tế   xã hội ở các tỉnh miền núi phía bắc nước ta hiện nay
Bảng 2.8 Sự phân bố lao động nữ trong các nhóm xã hội - nghề (Trang 68)
Bảng 2.9: Phụ nữ tham gia công tác quản lý xã hội ở nông thôn [phụ lục 2] - Phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số trong quá trình phát triển kinh tế   xã hội ở các tỉnh miền núi phía bắc nước ta hiện nay
Bảng 2.9 Phụ nữ tham gia công tác quản lý xã hội ở nông thôn [phụ lục 2] (Trang 70)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w