1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

That thoat va lang phi trong dau tu tai viet nam 169724 khotrithucso com

64 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thất Thoát Và Lãng Phí Trong Đầu Tư Tại Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 63,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lời mở đầu Thất thoát và lãng phí trong đầu tư từ lâu đã là vấn đề nổi cộm và nóng bỏng trong xã hội.Vấn đề này thường xuyên được nhắc tới trên các phương tiện thông tin đại chúng,và các

Trang 1

Mục lục

Lời mở đầu ……… …….………4

Phần 1:Lý luận chung về thất thoát và lãng phí trong đầu tư….………6

A.Những vấn đề cơ bản của đầu tư……….……… …………6

I.Khái niệm về đầu tư……….……… …………6

1.Đầu tư nói chung……….………… …………6

2.Đầu tư phát triển……….……… 7

II.Vai trò của đầu tư……….………8

1.Từ góc độ vĩ mô……….… ……….8

2.Từ góc độ vi mô……… ………….12

B.Những đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư ảnh hưởng đến lãng phí và thất thoát trong quá trình đầu tư:……….……… 13

1.Quy mô tiền vốn,vật tư,lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư phát triển thường rất lớn……….……….13

2.Thời kỳ đầu tư kéo dài………13

3.Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài……… 14

4.Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển mà là các công trình xây dựng thường phát huy tác dụng ở ngay tại nơi nó được tạo dựng…… 14

5.Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao………15

C.Nội dung thất thoát và lãng phí trong đầu tư……… 16

I.Thất thoát và lãng phí trong đầu tư là gì……….…… 16

1.Thất thoát……….……….16

2.Lãng phí……….……17

3.Mối quan hệ giữa thất thoát và lãng phí……….… …17

4.Thất thoát và lãng phí được thể hiện như thế nào……… … 17

D.Nguyên nhân gây thất thóa và lãng phí trong đầu tư……… …18

Trang 2

I.Thất thoát và lãng phí trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư……… 18

1.Xác đinh chủ trương đầu tư sai……… …….18

2.Lập dự án không theo quy hoạch,hoặc quy hoạch có chất lượng thấp,quy hoạch sai,quy hoạch chồng chéo………19

3.Do thẩm định dự án………20

II.Trong giai đoạn thực hiện đầu tư:………23

1.Do đấu thầu……… 24

2.Do công tác chuẩn bị xây dựng………25

3.Do công tác thiết kế kỹ thuật………26

4.Do công tác quản lý,lập và dự toán……… 28

5.Do thanh toán,quyết toán……… 29

III.Trong giai đoạn vận hành………30

IV.Các nguyên nhân khác………30

1.Công tác quản lý………30

2.Do sơ hở của chính sách………33

Phần II.Thực trạng thất thoát và lãng phí trong đầu tư ở Việt Nam giai đoạn 2005-2009……….34

I.Thất thoát và lãng phí do giai đoạn chuẩn bị đầu tư……… 35

1.Do không có quy hoạch hoặc quy hoạch có chất lượng thấp………35

2.Quy hoạch chồng chéo,thiếu đồng bộ giữa các ngành,vùng,lãnh thổ……36

3.Do quy hoạch treo……… 37

4.Do quản lý đầu tư,thủ tục đầu tư……….38

5.Đầu tư dàn trải,bố trí nguồn vốn không hợp lý……… 39

6.Thẩm định dự án……….40

II.Thất thoát và lãng phí do giai đoạn thực hiện đầu tư……….41

1.Công tác đền bù,giải phóng mặt băng……….………41

2.Công tác đấu thầu……….………42

Trang 3

3.Khảo sát và thiết kế kỹ thuật………42

4.Quản lý định mức,đơn giá dự toán xây dựng………43

5.Đầu tư chậm tiến độ,kéo dài thời gian đầu tư……….43

6.Quyết toán,nghiệm thu công trình………45

III.Do giai đoạn vận hành kết quả đầu tư……….46

1.Chất lượng nguồn nhân lực………46

2.Cán bộ công tác quản lý kém……….48

3.Không có kế hoạch rõ ràng sau khi đi vào hoạt động sản xuất…….…51

Phần III:Một số khuyến nghị……….….52

I.Giải pháp trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư………53

II.Khuyến nghị trong điều hành,triển khai dự án đầu tư………56

III.Khuyến nghị trong công tác vận hành kết quả đầu tư……… …60

IV.Khuyến nghị chung……….61

Kết luận……….62

Trang 4

Lời mở đầu

Thất thoát và lãng phí trong đầu tư từ lâu đã là vấn đề nổi cộm và nóng bỏng trong xã hội.Vấn đề này thường xuyên được nhắc tới trên các phương tiện thông tin đại chúng,và các kỳ họp quốc hội.Nước ta cũng đã đưa ra thêm và chỉnh sửa các bộ Luật như Luật đấu thầu,Luật ngân sách nhà nước,Luật đầu tư …,các văn bản,nghị định để hạn chế tình trạng thất thoát

và lãng phí như hiện nay.Song,tình trạng sử dụng vốn không hiệu quả vẫn không hề thuyên giảm.Theo tổng hội đầu tư Xây dựng Việt Nam, giai đoạn 2001-2005,chỉ số ICOR (tỷ lệ phần trăm vốn đầu tư bỏ ra để gia tăng 1 đơn

vị GDP) của nước ta là 5 trong khi ở các nước khác là 2,4.Điều đó có nghĩa

là sử dụng vốn đầu tư của nước ta là chưa hiệu quả.Tuy nhiên,tình hình thất thoát và lãng phí vốn chưa dừng lại ở đó.Theo bộ Kế hoạch và đầu tư:năm

2007 chỉ số ICOR của Việt Nam là 5,2 năm 2008,là 6,6 Năm 2009,tuy tổngvốn đầu tư toàn xã hội tăng 15,3% so với năm 2008,nhưng chỉ số này lại là 8

- ở mức cao nhất từ trước tới nay.Chỉ số ICOR mặc dù chưa thể hiện chính xác hiệu quả vốn đầu tư,nhưng nó cũng đã phần nào thể hiện tình trạng thất thoát và lãng phí trong đầu tư ngày càng gia tăng

Việc sử dụng nguồn vốn không hiệu quả như vậy gây hiệu quả nghiêm trọng cho phát triển và tăng trưởng kinh tế.Giáo sư Davit Dapice (đại học Havard) đã từng tính toán,với tốc độ đầu tư cao như chính phủ Việt Nam đã báo cáo thì tỷ lệ tăng trưởng của Việt Nam phải đạt tỷ lệ 9-10%.Và giáo sư cũng đã ước tính “tỷ lệ thất thoát,lãng phí vốn đầu tư của Việt Nam hàng năm phải lên tới hàng tỷ USD”.Đó là một con số không hề nhỏ.Như vậy nhiệm vụ cấp thiết của Việt Nam là cần phải có chính sách quản lý và sử dụng vốn thật hiệu quả, nếu không sẽ gây lãng phí và chất lượng các công

Trang 5

trình không được đảm bảo,hậu quả là nhân dân phải gánh chịu trong thời gian rất dài.

Để ngăn chặn tình trạng thất thoát và lãng phí vốn như hiện nay,chúng

ta cần đi sâu vào bản chất của nó,thực trạng hiện nay,làm rõ nguyên nhân dẫn đến tình trạng này.Từ đó mới có thể đề xuất các giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn thất thoát và lãng phí.Được sự hướng dẫn của thầy giáo Từ

Quang Phương và thầy giáo Phạm Văn Hùng,chúng tôi tiến hành nghiên cúư

đề tài :”Thất thoát và lãng phí trong đầu tư tại Việt Nam giai đoạn 2009.Thực trạng và giải pháp”

Do thời gian nghiên cứu còn hạn hẹp,kinh nghiệm nghiên cứu đề tài vàkiến thức còn hạn chế nên đề tài của chúng tôi khó tránh khỏi sai sot.Vì vậy rất mong sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn

Trang 6

PHẦN I

LÝ THUYẾT VỀ THẤT THOÁT LÃNG PHÍ TRONG ĐẦU TƯ

A.Những vấn đề cơ bản của đầu tư

I.Khái niệm về đầu tư:

1.Đầu tư nói chung:

Đầu tư nói chung là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hànhcác hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớnhơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó.Như vậy,mục tiêu củamọi công cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hy sinh

về nguồn lực mà người đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư

Nguồn lực hy sinh có thể là tiền,là tài nguyên thiên nhiên,sức lao động

và trí tuệ

Những kết quả đạt được có thể là sự tăng them các tài sản chính (tiềnvốn),tài sản vật chất (nhà máy, đường sá,bệnh viện,trường học…),tài sản trítuệ (trình độ văn hoá,chuyên môn,quản lý,khoa học,kỹ thuật…) và nguồnnhân lực có đủ điều kiện với năng suất lao động cao hơn trong nền sản xuất

xã hội

-Trên phương diện tiến bộ khoa học kỹ thuật:

Đầu tư là quá trình thay đổi phương thức sản xuất thong qua đổimới,hiện đại hoá phương tiện sản xuất để đạt năng suất cao hơn

-Trên phương diện xây dựng:

Đầu tư là quá trình bỏ vốn nhằm tạo ra tài sản vật chất,dưới dạng côngtrình xây dựng

-Trên phương diện hoạch định tài chính cá nhân:

Đầu tư là một sự hy sinh của một cá nhân trong việc tiêu dùng cho hiệntại để tích luỹ tài sản phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong tương lai

Trang 7

2.Đầu tư phát triển:

Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư,là việc chi dùng vốntrong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ranhững tài sản vật chất (nhà xưởng thiết bị) và tài sản trí tuệ (tri thức,kỹnăng…) gia tăng năng lực sản xuất,tạo thêm việc làm và vì mục tiêu pháttriển

Ví dụ:Nhà nước dùng ngân sách xây dựng trường THPT tại tỉnh CaoBằng.Như vậy nhà nước đã tăng thêm tài sản vật chất là một trường học,tăngthêm tài sản trí tuệ là những thế hệ học sinh trí thức,qua đó nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực để phát triển kinh tế,xã hội

*Nội dung đầu tư phát triển bao gồm:đầu tư những tài sản vật chất (tài

sản thực) và đầu tư phát triển những tài sản vô hình.Đầu tư phát triển các tàisản vật chất bao gồm:đầu tư tài sản cố định (đầu tư xây dựng cơ bản) và đầu

tư vào hàng tồn trữ.Đầu tư phát triển tài sản vô hình gồm các nội dung:đầu

tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực,đầu tư nghiên cứu triển khai các hoạtđộng khoa học,kỹ thuật,đầu tư xây dựng thương hiệu,quảng cáo…

-Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động đầu tư nhằm tái tạo tài sản cốđịnh của doanh nghiệp Đầu tư xây dựng cơ bản bao gồm các hoạt độngchính như xây lắp và mua sắm máy móc thiết bị

-Đầu tư bổ sung hàng tồn trữ: Hàng tốn trữ trong doanh nghiệp baogồm toàn bộ nguyên vật liệu,bán thành phẩm và sản phẩm hoàn thành đượctồn trữ trong doanh nghiệp.Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp quy mô và cơcấu các mặt hàng tồn trữ cũng khác nhau

-Đầu tư phát triển nguồn nhân lực.Nguồn nhân lực có vị trí đặcbiệt,quan trọng trong nền kinh tế và doanh nghiệp.Chỉ có nguồn nhân lựccao mới đảm bảo dành thắng lợi trong cạnh tranh

Trang 8

-Đầu tư nghiên cứu và triển khai các hoạt động khoa học và côngnghệ.Phát triển sản phẩm mới và các hoạt đông mới đòi hỏi cần đầu tư chocác hoạt động nghiên cứu,triển khai, ứng dụng công nghệ.

-Đầu tư cho hoạt động marketing.Hoạt động marketing là một trongnhững hoạt động quan trọng của doanh nghiệp Đầu tư cho hoạt độngmarketing bao gồm đầu tư cho hoạt đông quảng cáo,hoạt động xúc tiếnthương mại,xây dựng thương hiệu…

*Nếu xuất phát từ quá trình hình thành và thực hiện đầu tư,nội dung

đầu tư phát triển bao gồm: đầu tư cho các hoạt động chuẩn bị đầu tư, đầu tư

trong quá trình thực hiện đầu tư và đầu tư trong giai đoạn vân hành.Nội dungđầu tư phát triển trong mỗi giai đoạn lại bao gồm nhiều nội dung chi tiếtkhác nhau

II.Vai trò của đầu tư:

Đầu tư là một bộ phận chiếm tỉ trọng lớn trong tổng cầu.Khi tổng cung chưakịp thay đổi,gia tăng đầu tư I làm cho tổng cầu AD tăng (nếu các yếu tố kháckhông đổi)

AD = C + I + G + X – M

C: tiêu dùng X: Xuất khẩu

I: Đầu tư M: Nhập khẩu

Trang 9

G: tiêu dùng của chính phủ

* Tác động đến cung:

Tăng quy mô vốn đầu tư là nguyên nhân trực tiếp làm tăng tổng cung củanền kinh tế,nếu các yếu tố khác không đổi.Mặt khác tác động của vốn đầu tưcòn được thực hiện thông qua hoạt động đầu tư nâng cao chất lượng nguồnnhân lực, đổi mới công nghệ…Do đó đầu tư làm gián tiếp tăng tổng cungcủa nền kinh tế

1.2.Tác động của đầu tư phát triển đến tăng trưởng kinh tế:

Đầu tư là nhân tố quan trọng tác động đến tăng trưởng kinh tế.Từ cácnhà kinh tế học cổ điển như Adam Smith trong cuốn “Của cải của các dântộc” đã cho rằng vốn đầu tư là yếu tố quyết định chủ yếu của số lao độnghữu dụng và hiệu quả”.Việc qia tăng vốn đầu tư sẽ góp phần quan trọngtrong việc gia tăng sản lượng quốc gia và sản lượng bình quân mỗi lao động Đầu tư vừa tác động đến quy mô tăng trưởng vừa tác động đến chất lượngtăng trưởng.Tăng quy mô vốn đầu tư và sử dụng vốn đầu tư hợp lý là nhữngnhân tố rất quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư,tăng năng suấtnhân tố tổng hợp,tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hườngCNH-HĐH,nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế…do đó nâng cao chấtlượng tăng trưởng kinh tế

Biểu hiện tập trung của mối quan hệ giữa đầu tư phát triển với tăng trưởngkinh tế thể hiện ở công thức tính hệ số ICOR: mức tăng trưởng của nền kinh

tế phụ thuộc trực tiếp vào mức gia tăng vốn đầu tư đơn thuần

ΔY =x IY =x I

ΔY =x IY: mức gia tăng sản lượng

ΔY =x IK: mức gia tăng vốn đầu tư

I: mức đầu tư đơn thuần

Trang 10

K: tổng quy mô vốn của nền kinh tế

Y :tổng sản lượng của nền kinh tế

ICOR: hệ số gia tăng vốn sản lượng

1.3.Đầu tư phát triển tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Đầu tư có tác dụng quan trọng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế thôngqua những chính sách tác động đến cơ cấu đầu tư.Đầu tư góp phần làmchuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp quy luật và chiến lược phát triển kinh tế

xã hội của quốc gia trong từng thời kỳ,tạo ra sự cân đối mới trên phạm vinền kinh tế quốc dân và giữa các ngành,vùng,phát huy nội lực của nền kinhtế,trong khi vẫn coi trọng yếu tố ngoại lực

Nhà nước có thể thực hiện chính sách phân bổ vốn vốn,kế hoạchhoá,xây dựng cơ chế quản lý,đầu tư hoặc điều tiết gián tiếp qua các công cụchính sách như thuế,tín dụng,lãi suất để xác lập và định hướng cơ cấu đầu tưdẫn dắt sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế ngày càng hợp lý hơn.Kinh nghiệmcủa nhiều nước cho thấy nếu có chính sách đầu tư hợp lý sẽ tạo đà cho tăngtrưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.Tỷ trọng phân bổ vốn cho các ngànhkhác nhau,các vùng khác nhau sẽ mang lại các kết quả va hiệu quả khácnhau

Đối với cơ cấu ngành, đầu tư vốn vào ngành nào,quy mô vốn đầu tưnhiều hay ít ,việc sử dụng vốn hiệu quả cao hay thấp…đều ảnh hưởng đếntốc độ phát triển, đến khả năng tăng cường cơ sở vật chất của từng ngành,tạptiền đề vật chất để phát triển các ngành mới…do đó làm dịch chuyển cơ cầukinh tế ngành

Đối với cơ cầu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cânđối về phát triển giữa các vùng,lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển

Trang 11

thoát khỏi tình trạng đói nghèo,phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tàinguyên, địa thế,kinh tế,chính trị…của những vùng có khả năng phát triểnnhanh hơn,làm bàn đạp những vùng khác cần phát triển.

Để đánh giá vai trò của đầu tư đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế,có thể sửdụng chỉ tiêu: hệ số co dãn giữa việc thay đổi cơ cấu đầu tư với thay đổi cơcấu kinh tế ngành,hoặc hệ số co dãn giữa việc thay đổi cơ cấu đầu tư ngànhvới thay đổi GDP

Giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế cũng như dịch chuyển cơ cấu kinh

tế có mối quan hệ khăng khít với nhau.Việc đầu tư vốn nhằm mục đíchmang lại hiệu quả kinh tế cao,tăng trưởng nhanh trên phạm vi toàn bộ nềnkinh tế cũng sẽ dẫn đến hình thành cơ cấu đầu tư hợp lý.Ngược lại tăngtrưởng kinh tế cao kết hợp với việc chuyển dịch cơ cấu đầu tư hợp lý sẽ tạonguồn vốn đầu tư dồi dào,định hướng đầu tư vào các ngành hiệu quả hơn

1.4.Tác động của đầu tư phát triển đến khoa học và công nghệ:

Đầu tư và đặc biệt là đầu tư phát triển trực tiếp tạo mới và cải tạo chấtlượng năng lực sản xuất ,phục vụ của nền kinh tế và của các đơn vị cơsở.Chính vì vậy đầu tư cũng là điều kiện tiến quyết cho quá trình đổi mới vànâng cao năng lực công nghệ của quốc gia

Công nghệ bao gồm các yếu tố cơ bản :phần cứng (máy móc,thiếtbị),phần mềm (các văn bản tài liệu,bí quyết…),các yếu tố con người (các kỹnăng quản lý,kinh nghiệm),các yếu tố tổ chức (các thể chế,phương pháp tổchức).Muốn có công nghệ,cần phải đầu tư vào các yếu tố cấu thành

Để phản ánh sự tác động của đầu tư đến trình độ phát triển của các khoahọc và công nghệ,có thể sử dụng các chỉ tiêu sau:

●Tỷ trọng vốn đầu tư đổi mới công nghệ/tổng vốn đầu tư.Các chỉ tiêunày cho thấy mức độ đầu tư đổi mới công nghệ nhiều hay trong mỗi thời kì

Trang 12

● Tỷ trọng chi phí mua sắm máy móc thiết bị/tổng vốn đầu tư thực hiện ●Tỷ trọng vốn đầu tư theo chiều sâu/tổng vốn đầu tư thực hiện

●Tỷ trọng vốn đầu tư cho các công trình mũi nhọn,trọng điểm

2 Từ góc độ vi mô

Trên góc độ vi mô thì đầu tư là nhân tố quyết đinh sự ra đời,tồn tại và

phát triển của các cơ sở sản xuất,cung ứng dịch vụ và của các đơn vị vôlợi.Để tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự ra đời của bất kỳ cơ sở ,đơn vịsản xuất và cung ứng dịch vụ nào đều cần phải xây dựng nhà xưởng,cấu trúc

hạ tầng,mua sắm,lắp đặt máy móc thiết bị,tiến hành các công tác xây dựng

cơ bản khác và thực hiện các chi phí gắn liền với một chu kỳ của các cơ sởvật chất kỹ thuật vừa được tạo ra.Đây chính là biểu hiện cụ thể của hoạtđộng đầu tư Đối với các đơn vị đang hoạt động,khi cơ sở vật chất kỹ thuậthao mòn,hư hỏng,cần phải tiến hành sửa chữa lớn hoặc thay mới các cơ sởvật chất kỹ thuật đã hư hỏng,hao mòn này hoặc đổi mới để thích ứng vớiđiều kiện hoạt động mới của sự phát triển khoa học kỹ thuật và nhu cầu tiêudùng của nền sản xuất xã hội,phải mua sắm các trang thiết bị mới thay thếcho các trang thiết bị cũ đã lỗi thời,đó cũng chính là hoạt động đầu tư

B.Những đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư ảnh hưởng đến lãng phí và thất thoát trong quá trình đầu tư

Trang 13

1.Quy mô tiền vốn,vật tư,lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư phát triển thường rất lớn:

Vốn đầu tư lớn nằm khê đọng lâu trong suốt quá trình thực hiện đầutư.Qui mô vốn đầu tư lớn đòi hỏi phải có giải pháp tạo vốn huy động vốnhợp lý ,xây dựng các chính sách ,qui hoạch,kế hoạch đầu tư quy mô vốn vàhuy dộng vốn hợp lý,xây dựng các chính sách,qui hoạch ,kế hoạch đầu tưđúng đắn ,quản lý chắt chẽ tổng vốn đầu tư, bố trí vốn theo tiến độ đầutư,thưc hiện đầu tư trọng điểm

Lao động cần sử dụng cho các dự án rất lớn, đặc biệt đối với các dự ántrọng điểm quốc gia.Do đó công tác tuyển dụng, đào tạo,sử dụng và đãi ngộcần tuân thủ một kế hoạch định trước,sao cho đáp ứng tốt nhất nhu cầu từngloại nhân lực theo tiến độ đầu tư, đồng thời hạn chế đến mức thấp nhấtnhững ảnh hưởng tiêu cực do vấn đề “hậu dự án” tạo ra như việc bố trí lạilao động,giải quyết lao động dôi dư…

2.Thời kỳ đầu tư kéo dài

Thời kỳ đầu tư kéo dài thời kỳ đầu tư tính từ khi khởi công thực hiện

dự án đến khi hoàn thành dự án và đưa vào hoạt động nhiều công trình đầu

tư phát triển có thời gian đầu tư kéo dài hàng chục năm.Do vốn lớn lại nămkhê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư nên dễ gây ra ứ đọng lãng phíhoặc ngược lại nếu thiéu vốn sẽ làm công tác thi công bị gián đoạn Để nângcao hiệu quả vốn đầu tư, cần tiến hành phân kỳ đầu tư, bố trí vốn và cácnguồn lực tập trung hoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình , quản lýchặt chẽ tiến độ kế hoạch đầu tư, khắc phục tình trạng thiếu vốn , nợ đọngcốn đầu tư xây dựng cơ bản

3.Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài:

Trang 14

Thời gian vận hành các kết quả đầu tư tính từ khi đưa công trình vàohoạt động cho đén khi hết thời hạn sử dụng và đào thải công trình Nhiềuthành quả đầu tư phát huy tác dụng lâu dài có thể tồn tại vĩnh viễn như cácKim Tự Tháp Ai Cập, nhà thờ cổ La Mã ở thành Rôm, Vạn lý Trường thành

ở Trung Quốc và đền Ăng Co Vát ở Căm Pu Chia….Trong suốt quá trìnhvận hành các thành quả đầu tư chịu sự tác động hai mặt , cả tích cực và tiêucực,của yếu tố tự nhiên , chính trị, kinh tế xã hội… Để thích ứng với đặcđiểm này , công tác quản lý hoạt động đầu tư cần chú ý một số nội dung sau:

Thứ nhất , cần xây dựng cơ chế và phương pháp dự báo khoa học cả ởcấp độ vĩ mô và vi mô về nhu cầu thị trường đối với sản phẩm đầu tư tươnglai , dự kiến khả năng cung từng năm và toàn bộ vòng đời dự án

Thứ hai, quản lý tốt quá trình vận hành, nhanh chóng đưa các thànhquả đầu tư vào sử dụng, hoạt động tối đa công suất đẩ nhanh chóng thu hồivốn, tránh hao mòn vô hình

Thứ ba, chú ý đúng mức đến yếu tố độ trễ thời gian trong đầu tư Đầu

tư trong năm nhưng thành quả đầu tư chưa cắc đã phát huy tác dụng ngaytrong năm đó mà từ những năm sau và kéo dài trong nhiều năm Đây là đặcđiểm rất riêng của lĩnh vực đầu tư, ảnh hưởng lớn đến các công tác quản lýhoạt động đầu tư

4.Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển mà là các công trình xây dựng thường phát huy tác dụng ở ngay tại nơi nó được tạo dựng nên,do đó quá trình thực hiện đầu tư cũng như thời kỳ vận hành các kết quả đầu tư chịu ảnh hưởng lớn của các nhân tố về tự nhiên,kinh tế và xã hội vùng.

Trang 15

(1) Trứơc tiên, cần phải có chủ trương đầu tư và quyết định đầu tưđúng Đầu tư cái gì ,công suất bao nhiêu là hợp lý …cần phải đựơc nghiêncứu kỹ lưỡng, ,dựa trên những căn cứ khoa học.Thí dụ, công suất xây dựngnhà máy sàng tuyển than ở khu vực có mỏ than phụ thuộc rất nhiều vào trữlượng than của mỏ Nếu trữ lượng than của mỏ ít thì quy mô nhà máy sàngtuyển không nên lớn để đảm bảo cho nhà máy hàng năm hoạt động hết côngsuất với số năm tồn tại của nhà máy theo dự kiến trong dự án.

(2) Lựa chọn địa điểm đầu tư hợp lý Để lựa chọn địa điểm thưc hiệnđẩu tư đúng phải dựa trên những căn cứ khoa học dựa vào môt hê thống cácchỉ tiêu kinh tế,chính trị,xã hội ,môi trường ,văn hoá…Cần xây dựng môt bộtiêu chí khác nhau và nhiều phương án so sánh để lựa chọn vùng lãnh thổ vàđịa điểm đầu tư cụ thê hợp lý nhất

5 Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao:

Do qui mô vốn đầu tư lớn thời kỳ đầu tư kéo dài va thời gian vânhành các kết quả đầu tư cũng kéo dài nên mưc độ rủi ro của hoạt động đầu

tư phát triển thường cao.Rủi ro đầu tư do nhiều nguyên nhân trong đó,cónguyên nhân chủ quan từ phía các nhà đầu tư như quản lý kém ,chất lượngsản phẩm không đạt yêu cầu có nguyên nhân khách quan như giá nguyênliệu tăng,giá bán sản phẩm giảm ,công suất sản xuất không đạt công suấtthiết kế….Ví dụ , để nghiên cứu tính khả thi về măt thị trường ,chủ đầu tưcủa dư án Với mức giá là 10000đ/sản phẩm ,dự án xây dựng dòng tiềnthu ,chi và tính được tổng lợi nhuận thuần cả vòng đời dư án Tổng lợinhuần thuần cáng lớn,quyết định đầu tư cáng đễ dàng.Tuy nhiên nếu khi dự

án đi vào hoạt dộng ,giá cả của sản phẩm giảm và chỉ là 5000d,thì trong cácđiều kiện khác không đổi ,tổng lơi nhuân thuần của dự án đạt 50% so với dựkiến ban đầu Đây là rủi ro do giá bán sản phẩm giảm Như vậy để quản lý

Trang 16

hoạt đông đầu tư phát triển hiệu quả ,cần phải thực hiên các biên pháp quản

Thứ ba, xây dựng các biên pháp phòng và chống rủi ro.Mỗi loại rủi ro

và mức độ rủi ro nhiều hay ít sẽ có biên pháp phòng và chống tương ứngnhằm hạn chế đến mức thấp nhất các thiêt hại vó thể có do rủi ro này gây ra

C.Lý luận chung về thất thoát và lãng phí trong đầu tư

I.Lãng phí và thất thoát trong đầu tư là gì?

1.Lãng phí

Là chi cho những việc không đáng chi và chi ở những mức khôngđáng chi Sự lãng phí trải dài từ khâu quyết định đầu tư (có cần thiết phảiđầu tư hay không, đầu tư lúc nào, ở đâu, qui mô, công suất như thế nào )cho đến khâu triển khai thiết kế (vượt quá tiêu chuẩn, qui chuẩn hoặc thiết

kế dựa trên những khảo sát sơ sài, có nhiều sai sót) và cuối cùng là ở khâuthi công (từ cả phía chủ đầu tư và nhà thầu)

Mọi chi tiêu vượt quá mức cần thiết làm giảm hiệu quả vốn đầu tư đềugọi là lãng phí

Lãng phí diễn ra nổi lên ở một số dạng sau đây: Dự án được đầu tưkhi chưa thực sự cần thiết phải đầu tư; Dự án được đầu tư với quy mô, côngsuất không phù hợp so với nhu cầu; Dự án được đầu tư với yêu cầu kỹ thuật

Trang 17

và mỹ thuật không phù hợp so với nhu cầu; Dự án được đầu tư ở địa điểm vàthời điểm không hợp lý; Thiết bị và công trình của dư án có chất lượng thấplàm giảm tuổi thọ của dự án; Tiến độ dự án bị kéo dài; Một số chi phí chung,chi phí khác, chi phí thiết bị, lao động và vật tư cao hơn thực tế; Một sốkhoản chi phí trong dự án được chi chưa tiết kiệm.

2.Thất thoát

Thất thoát có nghĩa là mất Tiền đầu tư bị thất thoát ở mọi giai đoạn đầu

tư và diễn ra nổi lên theo một số dạng sau đây: Nâng giá; Khai khống khốilượng; Bớt vật tư,tráo vật tư…

3.Mối quan hệ giữa thất thoát và lãng phí trong đầu tư:

Thất thoát và lãng phí là hai căn bệnh trong đầu tư hiện nay.Trong lãng

phí có thất thoát ví trong số tiền lãng phí có thể có phần bị thất thoát và thất

thoát dẫn đến lãng phí vì thất thoát làm tăng chi phí không cần thiết hoặclàm giảm chất lượng công trình dẫn đến làm giảm hiệu quả vốn đầu tư

Thất thoát và lãng phí trong đầu tư hiện nay đang là vấn đề nóngbỏng,cấp thiết.Nó không chỉ ảnh hưởng tới chất lượng công trình mà quantrọng hơn nó còn ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của đất nước

ng hơn nó còn ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của đất nước

4.Thất thoát và lãng phí trong đầu tư thể hiện dưới hình thức:

-Nhiều dự án lãng phí,nhiều công trình không được sử dụng hết công suấtsản xuất thiếu nguyên liệu hoặc thiếu nơi tiêu thụ

-Đầu tư chạy theo hình thức,đầu tư phát triển một cách gượng ép,khônghiệu quả

-Bố trí vốn dở dang,dẫn đến thi công công trình chậm,không đúng tiến độ -Cán bộ quản lý tham nhũng do nâng giá,tăng giá trị công trình khôngđúng chế độ hoặc ”móc ngoặc” với nhau

-Kéo dài thời gian đầu tư,làm cho đầu tư kém hiệu quả

Trang 18

D:Nguyên nhân gây thất thoát và lãng phí trong đầu tư.

I.Thất thoát và lãng phí do công tác chuẩn bị đầu tư

Trong giai đoạn đầu tư chất lượng nghiên cứu là quan trọng nhất.làmtốt công tác chuẩn bị đầu tư sẽ tạo thuận lợi giai đoạn thực hiện đầu tư (đúngtiến độ,thời gian,không phải phá đi,làm lại,tránh được những chi phí khôngcần thiết khác…).Điều này cũng tạo cơ sở cho quá trình hoạt động của dự ánđược thuận lợi,nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư và có lãi (đối với các dự ánsản xuất kinh doanh),nhanh chóng phát huy hết năng lực phục vụ dự kiến(đối với các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng và dịch vụ xã hội)

Ngược lại,chất lượng nghiên cứu không tốt sẽ gây khó khăn cho hoạtđộng đầu tư,tạo cơ hội cho thất thoát và lãng phí.Cụ thể nguyên nhân gâythất thoát và lãng phí trong từng khâu như sau:

1.Xác định chủ trương đầu tư:

Chủ trương đầu tư sai lầm,có những tỉnh,vùng,miền chạy theo thànhtích,nên cố gắng đầu tư phát triển công nghiệp một cách gượng ép.Côngtrình đầu tư xong không có hiệu quả hoặc hiệu quả thấp.Bên cạnh đó lại bỏ

lỡ cơ hội đầu tư vào các vùng,ngành thực sự có tiềm năng.Điều đó gây tổnthất một phần không nhỏ cho xã hội

Chủ trương đầu tư không hợp lý dẫn đến tình trạng nền kinh tế xã hôịkhông đi đúng theo hương,quy hoạch,chiến lược của nhà nước

Có quá nhiều toà nhà hành chính, công trình được xây dựng với “chủtrương tiết kiệm” rồi sau đó lại bị đập đi để xây lại do không đáp ứng đượcchất lượng, công năng và tiêu chí mỹ thuật Cũng với “chủ trương tiết kiệm”những công trình mới lại được xây ra với kết quả không khá hơn là bao vàrồi những công trình mới xây ấy cũng có thể phải đập đi

Nhìn lại trong mấy mươi năm qua,cho dù chúng ta đã thu hút được nguồnvốn cả trong và ngoài nước,nhưng dường như chúng ta không có hoặc có

Trang 19

quá ít công trình để lại cho đời, kể cả những tượng đài nghệ thuật Sự phíphạm không chỉ có ở những công trình, những con đường mà có ở khắp mọinơi kể cả những công trình nghiên cứu khoa học.

Trên thực tế, đã có những con đường được đầu tư vô cùng tốn kém tiềnbạc, thời gian và cơ hội kinh doanh của người dân trong khu vực do giải toả

đi, giải toả lại chỉ vì những con đường này vừa mới làm xong đã trở nên chậthẹp, lỗi thời Đó chính là sự lãng phí,thất thoát

Nguyên nhân xác định sai chủ trương đầu tư:

*Lựa chọn địa điểm đầu tư không chính xác: Địa điểm đầu tư có tácđộng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của dự án cả trước mắt và lâu dài Vìvậy, lựa chọn sai địa điểm đầu tư sẽ gây lãng phí, thất thoát lớn vốn đầu tư.Mỗi lần di chuyển địa điểm nhà máy không chỉ tốn kém về chi phí vậnchuyển, chi phí bảo quản…mà còn phải chi phí lớn cho công tác chuẩn bịmặt bằng như đền bù, giải tỏa mặt bằng xây dựng…

*Xác định quy mô dự án không phù hợp với tình hình cung - cầu sảnphẩm của dự án trong đời dự án nên đã xác định sai giá cả và xu hướng biếnđộng giá cả.Đến khi đưa dự án vào hoạt động,giá cả sản phẩm trên thịtrường thấp hơn so với dự đoán.Doanh nghiệp có dự án buộc phải bán sảnphẩm với giá thấp (có khi thấp hơn cả giá thành) và có khi phải ngừng sảnxuất (trong khi chưa thu hồi đủ vốn ) hoặc đầu tư bổ sung để thay đổi mặthàng

*Xác định chủ trương đầu tư dựa trên những quy hoạch có sẵn,nhưng

là quy hoạch không có chất lượng

2.Lập dự án đầu tư không theo quy hoạch,hoặc quy hoạch có chất lượng thấp,quy hoạch sai,quy hoạch chồng chéo:

Quy hoạch là sự sản xuất,bố trí hợp lý,cân đối giữa các yếu tố sảnxuất,là sự phân công lại lao động xã hội hợp lý trên các vùng,lãnh thổ,đất

Trang 20

nước.Hàng năm chính phủ đều bố trí vốn đầu tư cho công tác quy hoạch,quyhoạch tổng thể phát triển ngành,vùng nhưng trên thực tế,quy hoạch chưathực sự đi trước một bước để làm căn cứ xác định địa điểm cho dự án đầu tư.

Vì vậy không ít dự án xây dựng khi chưa có quy hoạch tổng thể đãđược phê duyệt nên trong quá trình triển khai đã phải di dời dự án đi chỗkhác hoặc dời đi dời lại,dẫn đến hiệu quả đầu tư thấpthất thoát và lãngphí

Một nguyên nhân nữa gây thất thoát và lãng phí là dự án phải “chỉnhsửa” theo các quy hoạch bổ sung,đôi khi các quy hoạch này còn không thốngnhất với nhau

Nguyên nhân

- Sự thiếu đồng bộ giữa các cấp,các ngành trong việc quy hoạch và quản lý

- Cấp giấy phép đầu tư phê duyệt dự án khi chưa có quy hoạch tổng thể

3.Lãng phí và thất thoát do thẩm đinh dự án

Thẩm định dự án bao gồm thẩm định khía cạnh căn cứ pháp lý của dựán,thẩm định khía cạnh thị trường của dự án,khía cạnh kỹ thuật của dựán,thẩm định về nguồn tài chính của dự án,các chỉ tiêu kinh tế xã hội của dựán

Trên cơ sở thẩm định dự án,những dự án nào đạt yêu cầu mới được các

cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép đầu tư hoặc giấy chứng nhận đầu tư Thẩm định dự án giữ vai trò quan trọng với giá thành,chất lượng,quymô.Một khi công việc này làm không tốt có thể gây ra thất thoát,lãng phí ởcác bước sau:

-Lập dự án đầu tư không chính xác dẫn tới thừa vốn gây căng thẳng giảtạo khi sắp xếp bố trí kế hoạch vốn chung cho toàn ngành,toàn quốc.Việcthừa vốn ở dự án này đôi khi không thể chuyển sang dự án khác nên nhiều

Trang 21

chủ đầu tư phải tìm cách sử dụng cho hết vốn,xây dựng thêm công trìnhkhác,công trình sinh ra chắp và,không chất lượng.Tuy các công trình xâydựng thêm có thể hữu ích nhưng nó gây ra những tốn kém không đángcó:chi phí khảo sát thiết kế,đấu thầu tăng lên do phải làm 2 lần.Việc đào phánơi tiếp giáp giữa công trình chính và công trình phát sinh mất một khoảnchi phí không nhỏ.Hơn nữa do thời gian chuẩn bị ngắn nên việc thiết kế,hiệuquả sử dụng,tính mỹ thuật của các công trình phát sinh không cao.

-Thẩm định dự án sai,có thể cho triển khai dự án không có hiệu quảkinh tế,không có hiệu quả xã hội

Nguyên nhân gây thất thoát và lãng phí trong giai đoạn này:

Thất thoát và lãng phí là do thẩm định dự án bỏ sót nội dung,hoặc đánhgiá sai lệch các nội dung

*Một phần trách nhiệm không nhỏ trong giai đoạn này thuộc vềnhững cơ quan có thẩm định dự án,phê duyệt thiết kế kỹ thuật.Trên thựctế,vẫn có nhiều dự án không hiệu quả nhưng vẫn được triển khai thựchiện.Đó là sử dụng nguồn vốn không hiệu quả

- Tiêu cực,móc ngoặc trong bộ máy thẩm định dự án với chủ đầu tư

- Trước khi ra quyết đinh đầu tư,thẩm định dự án chưa đầy đủ,đánh giásai lệch các nội dung của dự án

Có ý kiến cho rằng việc phân chia trách nhiệm trong thẩm định dự ánchưa hoàn toàn hợp lý,chưa được rõ ràng,mãnh mẽ,tạo điều kiện cho các vấn

đề tiêu cực.Một số trình tư liên quan tới thẩm định dự án cần được bổ sung

và hoàn thiện hơn.Nhà nước có nên giữ nhiệm vụ thẩm tra các dự án nữahay không hay để cho các chủ đầu tư tự tổ chức thực hiện thẩm định và chịutrách nhiệm về việc này

4.Thất thoát và lãng phí trong giai đoạn kế hoạch hoá đầu tư:

Trang 22

Kế hoạch hoá đầu tư là một nôi dung của công tác kế hoạch hoá,làquá trình xác định mục tiêu của hoạt động đầu tư và đề xuất những giải pháptốt nhất để đạt mục tiêu đó với hiệu quả cao

Kế hoạch hóa đầu tư phải dựa vào quy hoạch,chiến lược phát triểnkinh tế-xã hội của quốc gia,ngành,địa phương và cơ sở.Kế hoạch đầu tư phảixuất phát từ tình hình cung-cầu thị trường.Tránh tình trạng đầu tư dàntrải.Đầu tư dàn trải dẫn đến nợ đọng trong xây dựng cơ bản.Có ý kiến chorằng đầu tư dàn trải là do cung lớn hơn cầu,chỗ nào cũng cần thiết cả chonên phải dàn trải.Nói như thế là đổ cho khách quan, là "cách" giải quyết mâuthuẫn giữa cung và cầu và không ai có sai xót gì Nhưng bản chất của "bệnhnan giải" này là sự "ban ơn" của những người và những cơ quan có quyền bốtrí vốn đầu tư, có thể có mục đích trục danh trục lợi Đó cũng là biểu hiệntiêu cực như: bố trí dự án kéo dài nhiều năm so với điều lệ quy định (nhóm

C là 2 năm, nhóm B là 3 năm ) Chính vì vậy mà A và B tiến hành thựchiện khối lượng lớn hơn vốn được thông báo; từ đó dẫn đến nợ đọng Mọi cơquan, mọi cán bộ đều biết thế nhưng cứ lao vào làm, để rồi sớm muộn Nhànước vẫn phải bố trí vốn, bố trí vốn dàn trải không những gây tai hoạ chobên nhà thầu vì vay ngân hàng nặng lãi, song về kinh tế thì hiệu quả đầu tưthấp (sản phẩm chậm ra, chi phí đầu tư lớn)

Nguyên nhân gây thất thoát,lãng phí trong giai đoạn kế hoạch hoá đầu tư:

- Bố trí các danh mục các dự án đầu tư vào kế hoạch đầu tư hàng nămquá phân tán,không sát với tiến độ thi công của dự án đã được phêduyệt.Danh mục dự án đầu tư càng nhiều,thời gian đầu tư càng kéo dài,dẫnđến lãng phí thất thoát vốn đầu tư cả trực tiếp và gián tiếp

- Bố trí kế hoạch không theo sát các mục tiêu định hướng của chiếnlược,của kế hoạch 5 năm cũng sẽ dẫn đến gián tiếp làm thất thoát,lãng phí

Trang 23

vốn đầu tư sau này bởi vỡ khi dự ỏn hoàn thành đi vào khai thỏc,sử dụng sẽthiếu đồng bộ cỏc hoạt động khỏc của cỏc ngành và cả xó hội.

- Bố trớ kế hoạch đầu tư khụng theo sỏt tiến độ đầu tư thực hiện dự ỏn

đó được cấp thẩm quyền phờ duyệt trong quyết định đầu tư

-.Kế hoạch đầu tư khụng dựa trờn những căn cứ khoa học về khả năng

và thực trạng vốn đầu tư,tỡnh hỡnh cung - cầu sản phẩm thị trường,chiếnlược,phương hướng phỏt triển kinh tế xó hội,chiến lược đầu tư chung củatoàn nền kinh tế,ngành,địa phương và đơn vị…Kế hoạch đầu tư khụngkhụng đồng bộ giữa cỏc nội dung đầu tư,giữa mục tiờu và biện phỏp,khụngđảm bảo tạo ra một cơ cấu đầu tư hợp lý,cú tớnh linh hoạt cao.Không đủ điềukiện để bố trí kế hoạch vẫn ghi vào kế hoạch đầu t hàng năm làm cho việctriển khai kế hoạch gặp khó khăn, phải chờ đợi, hoặc có khi có khối lợngthực hiện vẫn không đử điều kiện thanh toán

-Xỏc định sai lệch tỡnh hỡnh cung cầu đầu tư,mức độ chuyển dịch cơcấu kinh tế,chu kỳ của nền kinh tế cú liờn quan đến chu kỳ đầu tư,dự bỏo sailệch tỡnh hỡnh phỏt triển cụng nghệ,phỏt triển khoa học kỹ thuật cú liờn quanđến đầu tư

- Thiếu vốn đối ứng nờn đó gõy khú khăn cho việc giải ngõn cỏc dự

ỏn ODA

II.Trong giai đoạn thực hiện đầu tư

Thực hiện đầu tư (thi cụng xõy dựng cụng trỡnh của dự ỏn).Ở giaiđoạn này,vốn đầu tư của dự ỏn nằm khờ đọng trong suốt thời gian thực hiện

dự ỏn đầu tư,khụng sinh lời.Thời gian thực hiện đầu tư ngày càng kộodài,vốn ứ đọng càng nhiều,tăng chi phớ sử dụng vốn,mất đi thời cơ cạnhtranh trờn thị trường.Lại thờm những tổn thất do thời tiết gõy ra đối vớinhững vất tư thiết bị chưa được thi cụng hoặc đang thi cụng,đối với cỏc cụngtrỡnh đang dược xõy dựng dở dang.Điều này đó làm ảnh hưởng đến hiệu quả

Trang 24

hoạt động đầu tư.Đến lượt mình,thời gian thực hiện đầu tư lại phụ thuộcnhiều vào chất lượng công tác chuẩn bị đầu tư,vào việc quản lý quá trìnhthực hiện đầu tư,quản lý việc thực hiện những hoạt động khác có liên quantrực tiếp đến các kết quả của quá trình thực hiện đầu tư đã được xem xéttrong dự án đầu tư.

1.Lãng phí và thất thoát do đấu thầu:

Đấu thầu là hoạt động mua bán thông qua cách thức đấu thầu với mụcđích nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử pháttriển kinh tế xã hội của loài người Hiện nay hiện tượng thông thầu diễn rakhá phổ biến Các vấn đề liên quan đến hồ sơ, vấn đề thẩm định chỉ là hìnhthức.Chúng ta có Luật Đấu thầu, nhưng thậm chí có nhiều nơi cho rằng thàchỉ định thầu còn không lãng phí bằng đấu thầu.Trong lĩnh vực đấu thầu cócác hành động tiêu cực như vận động để được chỉ định thầu, chạy thầu, muabán thông tin nhà thầu, bỏ giá thầu thấp hoặc bán thầu, hiện tượng phá giáthầu diễn ra khá phổ biến là một trong những nguyên nhân dẫn đến côngtrình không bảo đảm chất lượng, quyết toán cao hơn giá thắng thầu bằngnhiều thủ đoạn khác nhau Các nhà thầu tìm cách thông đồng với chủ đầu tư,

tư vấn bỏ giá thầu thấp để thắng thầu Như vậy nhà nước đã mất một khoảngtiền lớn cho việc lựa chọn nhà thầu,một bộ máy nhân sự khổng lồ,một thờigian khổng lồ để thực hiện việc đấu thầu,một rừng thủ tục hành chính rườm

rà cho việc đấu thầu xong tất cả chỉ là vô nghĩa,đó chỉ là hợp pháp hoá cáiđược định sẵn

Nguyên nhân gây thất thoát và lãng phí trong giai đoạn đấu thầu:

Trang 25

●Không thực hiện đúng trình tự đấu thầu:trình tự đấu thầu gồmcó:Chuẩn bị đấu thầu,thực hiện đấu thầu,ký kết và thực hiện hợp đồng.

●Xét thầu, đánh giá để xếp loại nhà thầu khi lựa chọn nhà thầu khôngchính xác, thiếu chuẩn mực

Sử dụng không hợp lý hình thức sơ tuyển nhà thầu hay chuẩn bịdanh sách ngắn,gây mất thời gian,tốn kém chi phí mà kết quả lựa chọn cókhi lại không chính xác

●Hiện tượng thông đồng giữa các nhà thầu khi tham gia đấu thầu đãkhống chế giá trúng thầu cho đơn vị được thỏa thuận để thắng thầu

●Việc chuẩn bị tổ chức đấu thầu và công tác tổ chức đấu thầu khôngđảm bảo chất lượng cũng sẽ dẫn đến gây thất thoát lãng phí

2.Thất thoát,lãng phí trong giai đoạn chuẩn bị xây dựng:

Khó khăn nhất trong giai đoạn xây dựng là công tác giải phóng mặtbằng.Công tác đền bù, giải phóng mặt bằng xây dựng gây ách tắc,làm chậmtiến độ xây dựng,ảnh hưởng đến việc thi công công trình,vận hành côngtrình,lãng phí nguồn vốn.Hơn nữa giá đất đền bù chưa hợp lý,nhiều nơingười dân còn đòi hỏi,mất thời gian,gây tham nhũng…

Nguyên nhân thất thoát và lãng phí trong giai đoạn chuẩn bị xây dựng:

●Quản lý giá trong hoạt động đầu tư Khâu này không chỉ gây ra lãngphí, thất thoát về vốn đầu tư mà còn là khâu “nhạy cảm” gây ra sơ hở dẫnđến phát sinh tiêu cực trong hoạt động đầu tư Nguyên nhân gây thất thoátlãng phí ở khâu này có thể kể đến:

Trang 26

+ Kê khống khối lượng, thiết kế sai dẫn đến phải phá bỏ khối lượng

đã làm để làm lại theo thiết kế điều chỉnh hoặc bổ sung, tính toán khối lượngsai quy phạm, quy chuẩn

+ Sử dụng sai định mức kinh tế-kỹ thuật của Nhà nước ban hànhcho từng loại công trình theo quy phạm và quy chuẩn

+ áp dụng sai giá cả theo từng loại vật tư thiết bị đã được Sở Tàichính vật giá thông báo theo thực tế tại thời điểm tính toán, nghiệm thuthanh toán

+ áp dụng sai, hoặc do tính toán sai về khối lượng định mức, giá cảdẫn đến tinh toán sai về các loại chi phí tính theo định mức

● Hồ sơ thiết kế không hợp lý với tình hình thực tế về địa chất, địa hình,khí hậu, điều kiện tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực và đặc điểm vềnguyên liệu,vật tư, thiết bị đầu vào…dẫn đến những sai sót gây hậu quảgiảm tuổi thọ công trình,dự án,phải bảo dưỡng công trình,hoặc phá bỏ côngtrình,xây lại

●trong khâu đền bù giải phóng mặt bằng xây dựng:

+ xác định sai giá nhà, giá đất, hệ số sử dụng đất, hệ số xác định loại

và hạng đất áp dụng trong phương án đền bù

+ tham nhũng vốn và tài sản trong quá trình quản lý, triển khai côngtác đền bù giải phóng mặt bằng xây dựng, tái định cư các hộ dân

3 Thất thoát lãng phí do công tác thiết kế kỹ thuật:

Thẩm tra,phê duyệt thiết kế kỹ thuật là một khâu rất quan trọng.Thiết

kế kỹ thuật của từng dự án phụ thuộc vào nguồn vốn,địa điểm triển khaitrong dự án.Đặc biệt đối với những dự án có quy mô lớn,đòi hỏi kỹ thuậtphức tạp thì việc thẩm tra,phê duyệt thiết kế kỹ thuật càng đóng vai trò quantrọng

Trang 27

-Do bước khảo sát,thiết kế trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư không tốt làmphát sinh khối lượng,phát sinh chi phí tư vấn giám sát,quản lý trong giaiđoạn thi công.Vì dự án đã thực hiện nên phải bám lấy phương án đang tiếnhành,do đó phải bổ sung vốn đầu tư để xử lý khối lượng phát sinh.

-Thiết kế không chính xác,và không kiểm tra tính toán một cách cụ thểnên người thiết kế đã đưa ra các yêu cầu kỹ thuật cao hơn mức an toàn cầnthiết

Nguyện nhân:

- Một phần trách nhiệm không nhỏ trong giai đoạn này thuộc về cơ quan

có thẩm quyền phê duyệt thiết kế kỹ thuật.Trên thực tế vẫn có nhiều dự ánkhông hiệu quả nhưng vẫn được triển khai thực hiện,điều đó dẫn tới vốnđược sử dụng không hiệu quả

Tiêu cực,móc ngoặc trong bộ máy thẩm định dự án với chủ đầu tư

- Do số liệu đo đạc khảo sát địa chất không chuẩn dẫn đến việc xác định

tỷ lệ đất đá trong thi công nền đường,cấp đất đá và địa tầng trong khoan địachất,khoan cọc nhồi,khoan cọc cát có sự chênh lệch lớn giữa hồ sơ mời thầu

và thực tế hiện trường

Trên thực tế,thẩm định kỹ thuật chỉ mang tính hình thức,hiệu quảkhông cao.Đội ngũ thẩm tra mỏng và yếu.Kết quả thẩm định dựa vào kếtquả thẩm tra nhưng nhiều khi ngay chính thẩm tra chỉ là hình thức vì thờigian thẩm tra ngắn,kinh phí thấp nên không thu hút được các tổ chức lớntham gia.Kỹ thuật không hợp lý,dự án không thành công

Các nhà thầu tư vấn đều cho rằng cần phải nâng cao hơn nữa chi phícho công việc thiết kế và thẩm tra thiết kế để đảm bảo chất lượng cho loạihình công việc này.Ngoài ra hệ thống tiêu chuẩn,quy chuẩn hiện nay tronglĩnh vực khảo sát và thiết kế còn chưa đồng bộ và còn thiếu

Trang 28

4.Thất thoát lãng phí do công tác quản lý,lập và dự toán :

Đây thực chất là quản lý giá trong hoạt động đầu tư Khâu này khôngchỉ gây ra lãng phí, thất thoát về vốn đầu tư mà còn là khâu “nhạy cảm” gây

ra sơ hở dẫn đến phát sinh tiêu cực trong hoạt động đầu tư Nguyên nhân gâythất thoát lãng phí ở khâu này có thể kể đến:

+ Kê khống khối lượng, thiết kế sai dẫn đến phải phá bỏ khối lượng

đã làm để làm lại theo thiết kế điều chỉnh hoặc bổ sung, tính toán khối lượngsai quy phạm, quy chuẩn

+ Sử dụng sai định mức kinh tế-kỹ thuật của Nhà nước ban hànhcho từng loại công trình theo quy phạm và quy chuẩn

+ áp dụng sai giá cả theo từng loại vật tư thiết bị đã được Sở Tàichính vật giá thông báo theo thực tế tại thời điểm tính toán, nghiệm thuthanh toán

+ áp dụng sai, hoặc do tính toán sai về khối lượng định mức, giá cảdẫn đến tinh toán sai về các loại chi phí tính theo định mức

Nhiều cá nhân,đơn vị có trách nhiệm móc ngoặc với nhau để nângmức vốn dự tính cần thực hiện,sau đó chia nhau

Dự tính vốn đầu tư không hợp lý,chưa tính đến các rủi ro trong đầutư.Đến khi rủi ro,dự án lại phải chờ vốn bổ sung,gây mất thời gian,ảnhhưởng tới tiến độ thực hiện dự án

5.Lãng phí do giai đoạn thanh toán,quyết toán

Trang 29

Tình trạng nghiệm thu thanh toán khối lượng thực tế thi công, khôngđúng chế độ, đơn giá thực tế và chủng loại vật tư đã làm tăng giá trị côngtrình,gây thất thoát và lãng phí nguồn vốn sử dụng.

Công tác quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành là khâu cuối cùngtrong dây chuyền quản lý vốn đầu tư

Một sai phạm khá phổ biến khác là nâng giá vật tư trong quyết toáncông trình cao hơn giá thực tế Khi lập dự toán, nhiều công ty tư vấn thường

sử dụng vật tư đặc biệt, không có trong bảng giá quy định Do đó, cơ quanthẩm định không có cơ sở để đánh giá về giá cả Ngoài ra, cơ quan thẩmđịnh cũng gặp khó khăn khi xác minh vì hóa đơn tài chính thường được thỏathuận giữa bên B với nơi bán

Bên cạnh đó, thay đổi biện pháp thi công tùy tiện, chưa được cấp cóthẩm quyền phê duyệt khi điều chỉnh quyết toán cũng là một sai phạmthường thấy Cơ quan thẩm định quyết toán thường bị thiếu thông tin hoặckhông phát hiện, nên vẫn thẩm định theo dự toán

Nên không thực hiện công tác quyết toán hoặc quyết toánchậm,quyết toán sai lệch không những ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượngcông tác quản lý làm thất thoát, lãng phí vốn đầu tư của dự án mà còn ảnhhưởng đến công tác quản lý vốn và việc bảo toàn vốn khi dự án đưa vào hoạtđộng

Nguyên nhân gây lãng phí,thất thoát trong giai đoạn thanh toán quyết toán:

Vốn đầu tư xây dựng chỉ được thanh toán cho giá trị khối lượng thựchiện đã hoàn thành, đủ điều kiện thanh toán Do đó, khi thanh toán vốn đầu

tư nếu thoát ly các điều kiện của giá trị khối lượng hoàn thành đủ điều kiện

để thanh toán sẽ gây lãng phí, thât thoát

III.Thất thoát và lãng phí trong giai đoạn vận hành

Trang 30

Giai đoạn vận hành của dự án hay còn gọi là thời kỳ vận hành khaithác của dự án,đời của dự án hay tuổi thọ kinh tế của công trình,nó gắn vớiđời sống của sản phẩm (do dự án tạo ra) trên thị trường.

Nguyên nhân thất thoát và lãng phí trong giai đoạn vận hành:

● Năng lực quản lý sử dụng, khai thác không đáp ứng được yêu cầu của

dự án, dẫn đến sự lãng phí các nguồn lực

● Công tác bảo dưỡng kém dẫn đến sự xuống cấp nhanh của công trình ● Nguồn nhân lực để vận hành các kết quả đầu tư còn yếu kém về trìnhđộ

●Khi dự án đầu tư hoàn thành ,toàn bộ vốn đầu tư xây dựng dự án từkhâu chuẩn bị đầu tư đến khi dự án hoàn thành được nghiệm thu đầy đủ vàbáo caó quyết toán sẽ được thẩm tra để phê duyệt Nếu công tác này làmkém, thực hiện không đầy đủ sẽ tạo cơ sở pháp lý cho tình trạng lãng phí,thất thoát vốn đầu tư

IV.Ngoài ra còn có các nguyên nhân:

1.Công tác quản lý

Có thể nhận thấy việc lập và quản lý chi phí xây dựng của nhiều dự ánlớn, đặc biệt là các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, thuỷ lợi trongthời gian vừa qua đã gặp nhiều khó khăn, không kiểm soát được Đây lànhân tố gây ảnh hưởng nhiều tới tiến độ, chất lượng, là một trong nhữngnguyên nhân gây lãng phí về thời gian, chi phí và ảnh hưởng đến hiệu quảđầu tư chung cần được nhìn nhận, đề cập một cách đúng mức Một cách tổngquát, ngay từ yếu tố con người, từ hệ thống đào tạo loại hình nhân lực thựchiện công tác lập và quản lý chi phí trong xây dựng đến các văn bản phápquy trong lĩnh vực này, hệ thống định mức áp dụng đã chưa thực sự đáp ứngđược yêu cầu Việc phân tích tổng hợp những nguyên nhân để tìm biện pháp

Trang 31

giải quyết khắc phục, đổi mới trong lập và quản lý chi phí xây dựng là côngviệc cấp thiết cần làm Những vấn đề còn hạn chế, bất cập tập trung ở một sốnguyên nhân:

1.1 Yếu tố con người và việc đào tạo loại hình kỹ sư giá xây dựng

- Đặc thù của hoạt động xây dựng là trong các giai đoạn đầu tư, từ chuẩn

bị, đấu thầu, thực hiện, thanh quyết toán luôn phải đề cập đến việc lập vàquản lý chi phí Nó liên quan tới tất cả các chủ thể tham gia dự án từ các cơquan Quản lý, Tổ chức tư vấn thiết kế, Nhà thầu thi công xây dựng Tuynhiên, trong suốt một thời gian dài, nhận thức về vai trò, vị trí của nhữngngười làm công tác lập, kiểm soát và quản lý chi phí xây dựng chưa đượcđánh giá đúng mức Công tác đào tạo để có được các kỹ sư, chuyên gia tronglĩnh vực này đã chưa được chú trọng quan tâm Tại các nước phát triển, các

tổ chức Quản lý dự án chuyên nghiệp, các hãng tư vấn lớn đều rất chú trọngthu hút, đào tạo các kỹ sư, chuyên gia về giá xây dựng, kiểm soát khốilượng, lập hồ sơ thầu và phân tích lựa chọn nhà thầu xây dựng

- Nếu xét theo các tiêu chí của hiệp hội các kỹ sư giá Quốc tế “TheInternational Cost Engineering Council (ICEC)” một tổ chức lớn nhất tronglĩnh vực giá xây dựng và Quản lý dự án thì chúng ta hầu như chưa có kỹ sư

dự toán, kỹ sư khối lượng do vậy có thể dễ dàng nhận thấy công tác lập,quản lý chi phí xây dựng còn nhiều tồn tại; kỹ sư lập dự toán ít am hiểu vềkết cấu, nguyên tắc tính khối lượng, trình tự biện pháp thi công, không nắmđược quy trình quy phạm, không nhìn ra được bất cập trong định mức vàmột số văn bản pháp quy, chưa bóc tách được tiên lương và xây dựng đơngiá một cách khoa học, phù hợp để lập dự toán chặt chẽ phản ánh đúng giátrị thực của công trình

1.2 Về định mức dự toán

Trang 32

- Định mức dự toán xây dựng công trình là nhân tố quyết định tới giá trị dựtoán của công trình do vậy về nguyên tắc cần được xây dựng sao cho phùhợp thực tế, mang tính đặc trưng của công việc Hệ thống định mức củachúng ta mặc dù có nhiều song thực chất lại rất thiếu và phức tạp, còn nhiềubất cập Nhiều hạng mục công tác xây dựng trong định mức chưa phù hợpthực tế dẫn tới không chuẩn xác trong xác định chi phí xây dựng Đây là mộttrong những nguyên nhân khiến cho công tác quản lý giá thành, lập dự toán,thẩm định, phê duyệt và thực hiện dự án xây dựng gặp khó khăn trong suốtthời gian vừa qua (Các nhầm lẫn trong định mức, các quy định bất cập, cácbất hợp lý trong quy định tính toán khấu hao, sự thiếu thực tế trong một sốloại hình công tác xây dựng ) Các vấn đề đã từng được phân tích, phản ánhgóp ý nhưng chưa được kịp thời nghiên cứu điều chỉnh.

1.3 Chi phí chung

- Về chi phí chung (chi phí quản lý của doanh nghiệp, chi phí phục vụ thicông, chi phí điều hành ở công trường ) Đây hiện đang là vấn đề cần xemxét cho phù hợp giữa các loại hình dự án, công trình xây dựng khác nhau,còn tồn tại sự bất hợp lý trong các quy định hiện hành Với mức chi phíchung (bao gồm cả các chi phí như kho bãi để vật tư, điện, nước phục vụ thicông ) cho công trình giao thông, thủy lợi là công tác xây dựng đặc thù, cáccông trình chịu nhiều các yếu tố chi phối (trải trên địa bàn rộng, quản lý khókhăn, huy động thiết bị và nhân lực lớn, phụ thuộc địa hình, địa chất, điềukiện thi công, biện pháp thi công, vị trí xây dựng, ứng dụng công nghệ mới,nguồn và khả năng cung ứng vật liệu ) thì lại thấp hơn của các công trìnhxây dựng dân dụng, thường tập trung trong một phạm vi hẹp hơn

- Trong phương pháp lập dự toán, khi xác định chi phí xây dựng, phầnlớn các nước tiên tiến không đưa chi phí mặt bằng, kho xưởng, bến bãi, huyđộng, giải thể vào trong chi phí chung và trực tiếp phí khác như ở Việt

Ngày đăng: 10/07/2023, 07:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w