MỞ ĐẦU Đề tài Vận dụng phương pháp đóng vai trong dạy học môn Tâm lý học ở ĐHHP MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài Trong thời đại ngày nay, trước sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật và công nghệ (đ[.]
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, trước sự phát triển như vũ bão của khoa học
kỹ thuật và công nghệ (đặc biệt trong lĩnh vực thông tin) đã dẫn đến sự tănglên nhanh chóng khối lượng tri thức của nhân loại và tốc độ ứng dụng tri thứcvào mọi lĩnh vực đời sống xã hội Tình hình đó đã làm thay đổi những quanniệm về Giáo dục - Đào tạo Ngày nay, giáo dục không chỉ được xem là sựchuyển tải kinh nghiệm lịch sử xã hội của thế hệ trước cho thế hệ sau, màquan trọng hơn là trang bị cho mỗi người phương pháp học tập, tìm cách pháttriển năng lực nội sinh, phát triển tư duy nội tại, tư duy độc lập sáng tạo, xâydựng cho họ kỹ năng, phương pháp tự học tập, tự phát triển Để đáp ứng đượctốt yêu cầu đó, giáo dục phải đổi mới một cách toàn diện, trong đó, việc đổimới phương pháp giáo dục là một khâu then chốt
Nghị quyết Trung ương II (khóa VIII) đã chỉ rõ: “Đổi mới mạnh mẽphương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rènluyện thói quen nền nếp tư duy sáng tạo cho người học, từng bước áp dụngcác phương pháp tiên tiến và hiện đại vào quá trình dạy học”
Theo tinh thần của nghị quyết Trung ương II (khóa VIII) về đổi mớiphương pháp dạy học, những năm gần đây, các nhà trường đã quan tâm vàoviệc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, độc lập,sáng tạo của người học và đã thu được những kết quả nhất định
Trường Sư phạm là cái nôi của sự nghiệp giáo dục cả nước, là nơi đàotạo ra những thầy cô không chỉ có vốn tri thức khoa học phong phú mà còngiỏi về chuyên môn nghiệp vụ trong tương lai Do đó, các Trường Sư phạmphải luôn là cánh chim đầu đàn trong việc đổi mới phương pháp dạy học.Nhận thức sâu sắc vấn đề này, các Trường Sư phạm nói chung, Trường Đạihọc Hải Phòng nói riêng, đã có sự quan tâm đầu tư nghiên cứu, ứng dụng cácphương pháp dạy học tích cực vào quá trình dạy học ở tất cả các môn học.Tuy nhiên, trên thực tế, việc giảng dạy bộ môn Tâm lý học ở Trường Đại học
Trang 2Hải Phòng của các giảng viên phần lớn vẫn sử dụng phương pháp truyềnthống theo kiểu đọc – chép, việc đưa vào sử dụng các phương pháp dạy họctích cực còn hạn chế, chưa thường xuyên Do vậy, chưa phát huy được tínhtích cực độc lập, sáng tạo của sinh viên và tất yếu sản phẩm đào tạo ra chưađược như mong muốn.
Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, chúng tôi nhận thấy việcđổi mới phương pháp dạy học môn Tâm lý học ở Đại học Hải Phòng là hếtsức cần thiết Một trong những phương pháp có tác dụng lớn trong việc pháthuy tính tích cực học tập, sự độc lập tư duy và kích thích sức sáng tạo củasinh viên đó là phương pháp đóng vai
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu:
“Vận dụng phương pháp đóng vai trong dạy học môn Tâm lý học ở Đại học Hải Phòng” nhằm bước đầu nghiên cứu và sử dụng phương pháp đóng vai
vào giảng dạy môn Tâm lý học nhằm nâng cao hơn nữa tính tích cực, độc lập,sáng tạo của sinh viên trong môn học
2 Mục đích nghiên cứu.
Vận dụng phương pháp đóng vai vào trong dạy học môn Tâm lý họcnhằm phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của sinh viên, góp phần đổi mớiphương pháp dạy học để nâng cao chất lượng dạy và học ở Đại học Hải Phòng
3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu.
3.1 Đối tượng: Phương pháp đóng vai trong dạy học môn Tâm lý học
ở Đại học Hải Phòng
3.2 Khách thể: Quá trình dạy học môn Tâm lý học ở Trường Đại học
Hải Phòng
4 Giả thuyết khoa học.
Nếu vận dụng phương pháp đóng vai trong dạy học môn Tâm lý học sẽgiúp sinh viên phát huy được tính tích tích cực, độc lập, sáng tạo của sinh viên vàgóp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Tâm lý học ở Đại Học Hải Phòng
Trang 35 Nhiệm vụ nghiên cứu.
5.1 Hệ thống hoá một số vấn đề về cơ sở lý luận phương pháp đóng vaitrong dạy học môn Tâm lý học
5.2 Khảo sát thực trạng việc sử dụng phương pháp đóng vai trong dạyhọc môn Tâm lý học ở Trường Đại học Hải Phòng
5.3 Tiến hành thử nghiệm giảng dạy một số tiết trong học phần “Tâm
lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm” có vận dụng phương pháp đóng vai
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu.
6.1 Địa bàn nghiên cứu.
Trường Đại học Hải Phòng
6.2 Giới hạn vấn đề nghiên cứu.
Vận dụng phương pháp đóng vai trong dạy học một số bài trong học phầnTâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm ở Trường Đại học Hải Phòng
6.3 Giới hạn khách thể nghiên cứu.
- 15 gảng viên Khoa Tâm lý trường Đai học Hải Phòng.
- 113 sinh viên Trường Đại học Hải Phòng Trong đó:
+ 56 sinh viên Khoa Tự nhiên
+ 57 sinh viên Khoa Xã hội
7 Phương pháp nghiên cứu.
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận.
Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quáthóa tài liệu nhằm xác định các khái niệm công cụ và cơ sở lý luận cho vấn đềnghiên cứu
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Mục đích: thu thập thông tin về thực trạng tổ chức dạy học môn Tâm lýhọc nói chung, việc sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy học môn Tâm lýhọc nói riêng Đồng thời xác định nguyên nhân của thực trạng đó làm cơ sởcho việc xác lập các biện pháp nâng cao hiệu quả của việc sử dụng phương
Trang 4pháp đóng vai trong dạy học môn Tâm lý học ở Trường Đại học Hải Phòng.
Phương tiện: phiếu hỏi dùng cho giảng viên và sinh viên
7.2.2 Phương pháp quan sát
Mục đích: Thu thập các biểu hiện sinh động, khách quan về thái độ,hứng thú cũng như mức độ tham gia hoạt động trong giờ học của sinh viên
Phương tiện: máy ghi âm, biên bản dự giờ…
7.2.3 Phương pháp thử nghiệm sư phạm
Tổ chức thực nghiệm nhằm mục đích kiểm tra kết quả của việc sử dụngphương pháp đóng vai trong dạy học môn Tâm lý học theo quy trình được xácđịnh trong đề tài
7.2.4 Phương pháp phỏng vấn sâu
Thông qua trao đổi, chia sẻ với giảng viên và sinh viên nhằm thu đượcnhững thông tin sống động và chân thực về thực trạng việc dạy và học mônTâm lý học nói chung và việc sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy họcmôn Tâm lý học nói riêng
Phương tiện: máy ghi âm, mẫu biên bản phỏng vấn…
7.2.5 Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động
Tìm hiểu mức độ hiểu bài của sinh viên thông qua việc làm các bài tập
về nhà hay kết quả học tập của các em
Tìm mối tương quan giữa hình thức tổ chức dạy học, phương pháp dạyhọc và kết quả học tập
7.3 Nhóm phương pháp thống kê toán học.
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý các kết quả đã thuđược nhằm đảm bảo sự chính xác, khách quan, khoa học và độ tin cậy cao
Trang 5CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHƯƠNG PHÁP ĐÓNG VAI
TRONG DẠY HỌC 1.1 Một số khái niệm công cụ.
Nói theo cách khác, dạy học chính là hoạt động đặc biệt, được thực hiệntheo một quy trình có tổ chức khoa học, tiến hành với mục đích, nội dung,phương pháp và phương tiện xác định, được tiến hành trong nhà trường
Nhà trường phổ thông có trách nhiệm rất nặng nề nhưng rất vẻ vang làphải tạo ra ở thế hệ trẻ cơ sở ban đầu rất quan trọng của nhân cách con ngườimới, người lao động làm chủ tập thể và phát triển toàn diện, kế tục xứng đáng
sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, hết lòng lao động xây dựng chủ nghĩa
xã hội và bảo vệ Tổ quốc
Muốn làm tròn trách nhiệm đó, nhà trường phổ thông phải tiến hành thôngqua nhiều con đường khác nhau như: dạy học, lao động sản xuất, hoạt độngchính trị xã hội, hoạt động văn hoá- thẩm mỹ, sinh hoạt tập thể, vui chơi giảitrí… Trong đó, dạy học là con đường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
- Trước hết, “Dạy học là con đường thuận lợi nhất giúp học sinh trong khoảng thời gian ngắn nhất, có thể nắm vững một khối lượng tri thức với chất lượng cần thiết”.
Thật vậy, quá trình dạy học được tiến hành một cách có tổ chức, có kếhoạch với nội dung dạy học bao gồm những tri thức phổ thông, cơ bản, hiện
Trang 6đại, phù hợp với thực tiễn của đất nước về tự nhiên, xã hội và tư duy; đồngthời hệ thống những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng với các hình thức tổ chứcdạy học đa dạng, với sự lãnh đạo, điều khiển linh hoạt của thầy giáo Nóicách khác, trong quá trình dạy học đã diễn ra sự gia công sư phạm trên cơ sởtính đến những đặc điểm của khoa học, những đặc điểm tâm sinh lí của họcsinh và đặc biệt là tính đặc thù của quá trình dạy học - một quá trình, trong
đó, học sinh lĩnh hội một cách sáng tạo những tri thức khoa học đã được loàingười phát hiện, không phải thực hiện nhiệm vụ phát minh những chân líkhoa học
Vì vậy, hoạt động nhận thức của học sinh được thực hiện trong điều kiệnrất thuận lợi Những tình huống “thử và sai” vốn có trong nhận thức khoa học
bị loại trừ trong hoạt động Học sinh dễ dàng và nhanh chóng nắm được hệthống những chân lí khoa học mà biết bao thế hệ các nhà khoa học phải trảiqua hàng thế kỷ mới phát hiện và tổng kết được
- “Dạy học còn là con đường quan trọng bậc nhất giúp học sinh phát triển một cách có hệ thống năng lực hoạt động trí tuệ nói chung và đặc biệt là năng lực tư duy sáng tạo” Như trên đã trình bày, trong quá trình dạy học, có
sự gia công sư phạm cần thiết, nhờ đó học sinh nắm nhanh chóng và có hiệuquả hệ thống những tri thức khoa học cần thiết Chính hệ thống những trithức khoa học này được nắm vững trên cơ sở học sinh tiến hành các thao táchoạt động trí tuệ, đặc biệt là các thao tác tư duy Mặt khác, các thao tác hoạtđộng trí tuệ, thông qua đó, lại được phát triển và hoàn thiện hơn
- Ngoài hai ý nghĩa nói trên, dạy học còn có ý nghĩa ở chỗ, nó “là một trong những con đường chủ yếu góp phần giáo dục cho học sinh thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng và những phẩm chất đạo đức của con người mới” Như đã phân tích ở trên, nhờ dạy học, học sinh có thể nhanh
chóng nắm vững có hiệu quả hệ thống những tri thức khoa học cần thiết.Chính những tri thức khoa học này giúp học sinh dần dần nắm được bản chấtcủa thế giới khách quan - của tự nhiên, xã hội và tư duy; rút ra những quy
Trang 7luật vận động và phát triển của chúng và tập vận dụng những điều đã học vàoviệc cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân Những tri thức đó giúp học sinh cóquan điểm, có suy nghĩ và đặc biệt là có hành động đúng đắn trong mối quan
hệ với tự nhiên, với xã hội, với bản thân Nói cách khác, ở học sinh dần dầnhình thành thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng và nhữngphẩm chất đạo đức của con người mới Bởi thế, người ta thường nói: “thôngqua dạy chữ để dạy người”
Từ những điều đã trình bày, chúng ta có thể coi dạy học là hoạt động đặc trưng nhất, chủ yếu nhất của nhà trường [14; tr 138, 139, 140].
1.1.2 Phương pháp dạy học tích cực.
Dạy học cũng giống như người thợ xây, để xây lên được một ngôi nhàđẹp, một sản phẩm trọn vẹn, người thợ đó cần phải có những cách thức thựchiện riêng biệt, những thao tác cụ thể với những dụng cụ khác nhau… Ngườigiáo viên trong quá trình dạy học cũng vậy, để chuyển tải được những trithức tới học sinh, họ phải sử dụng những phương pháp nhất định, sao cho quátrình dạy học đạt hiệu quả cao Để tìm hiểu về phương pháp dạy học tích cực,trước tiên, chúng ta cùng nghiên cứu thế nào là phương pháp dạy học
Khái niệm phương pháp dạy học
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về phương pháp dạy học:
Trang 8- Theo Lu K Babanxki: “Phương pháp dạy học là cách thức tương tácgiữa thầy và trò nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và pháttriển trong quá trình dạy học [7; tr 46].
- Theo V K Diachenco: “Phương pháp dạy học là cấu trúc tổ chức củaquá trình dạy học” [20; tr 9]
- Theo I D Dverep: “Phương pháp dạy học là cách thức tương tác giữathầy và trò nhằm đạt được mục đích dạy học Hoạt động này được thể hiệntrong việc sử dụng các nguồn nhận thức, các thủ thuật logic, các dạng hoạtđộng nhận thức và thực hành của học sinh, đảm bảo cho học sinh lĩnh hội nộidung học vấn” [7; tr 46]
- Theo Nguyễn Ngọc Quang: “ Phương pháp dạy học là cách thức làmviệc của thầy và trò trong sự phối hợp thống nhất và dưới sự chỉ đạo của thầynhằm làm cho trò tự giác, tích cực, tự lực đạt tới mục đích dạy học”
- Theo các tác giả Phan Thị Hồng Vinh: “Phương pháp dạy học là cáchthức hoạt động phối hợp thống nhất của giáo viên và học sinh trong quá trìnhdạy học được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của giáo viên nhằm thực hiện tối
ưu mục tiêu và các nhiệm vụ dạy học” [28; tr 204]
Khi định nghĩa về phương pháp dạy học, các tác giả đã xét trên nhiều mặtkhác nhau của quá trình dạy học, có tác giả chú trọng tới cách thức tương tácgiữa giáo viên và học sinh, có tác giả lại xét về nhiều mặt điều khiển học…Tuy nhiên, các tác giả đều thừa nhận rằng phương pháp dạy học có nhữngdấu hiệu đặc trưng sau:
+ Phản ánh sự vận động của nội dung học vấn đã được nhà trường quy định.+ Phản ánh sự vận động của quá trình nhận thức của học sinh nhằm đạtđược mục đích đặt ra
+ Phản ánh cách thức trao đổi thông tin giữa thầy và trò
+ Phản ánh cách thức điều khiển nhận thức, kích thích và xây dựng động
cơ, tổ chức hoạt động nhận thức kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động
Trang 9Nói chung, khi định nghĩa về phương pháp dạy học, tuy các tác giả đề cậptới nhiều mặt của quá trình dạy học nhưng mặt hoạt động tương tác giữa thầy
và trò được nhiều tác giả quan tâm và đi sâu nghiên cứu nhất Hiện có nhiềucách hiểu khác nhau về phương pháp dạy học xét trên mặt tương tác giữa thầy
và trò, nhưng tựu chung lại, chúng thuộc một trong ba cách hiểu sau:
+ Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động của người giáo viên đểtruyền thụ kiến thức, rèn luyện kỹ năng và giáo dục học sinh theo mục đíchcủa nhà trường
+ Phương pháp dạy học là sự kết hợp các biện pháp và phương tiện làmviệc của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học nhằm đạt tới mục đíchcủa giáo viên
+ Phương pháp dạy học là cách thức hướng dẫn và chủ đạo của giáo viênnhằm tổ chức hoạt động nhận thức và hoạt động thực hành của học sinh, dẫntới việc học sinh lĩnh hội vững chắc nội dung học vấn, hình thành thế giớiquan và phát triển năng lực nhận thức
Cách hiểu thứ nhất phản ánh quan niệm cũ về vai trò của người giáo viêntrong quá trình dạy học Theo quan niệm này, giáo viên là nhân vật trung tâmgiữ vai trò chủ đạo, hoạt động tích cực còn học sinh thì thụ động thực hiệnnhững điều thầy dạy Quan niệm đó cũng dẫn tới chỗ coi các phương phápdạy học đều là phương pháp của thầy
Cách hiểu thứ hai dung hòa hơn, coi phương pháp dạy học là một sự phốihợp của hai hoạt động dạy và học Nhiệm vụ truyền thụ tri thức của thầy cũngquan trọng như nhiệm vụ lĩnh hội tri thức của trò
Cách hiểu thứ ba là cách tiếp cận dạy học tích cực có cơ sở tâm lý học từthuyết kiến tạo nhận thức của J Piaget (1936), thuyết nhận thức của E C.Tolman (1959) và quan điểm nhân văn đối với giáo dục Cách tiếp cận dạy họctích cực này nhấn mạnh vai trò của người học trong quá trình học tập và giáoviên được coi là người hỗ trợ hướng dẫn Người học tự xây dựng việc học tậpcủa mình, còn nhiệm vụ của người dạy là tạo môi trường học tập thuận lợi,
Trang 10thường xuyên khuyến khích tư duy Cần có sự cân bằng giữa nội dung truyềnđạt và nội dung tự học của người học Dạy học tích cực có liên quan tới quanđiểm nhân văn trong giáo dục, các nhà Tâm lý học theo trường phái này chorằng học cần phải quan tâm đến người học, người học cần được phép theo đuổicác thiên hướng riêng của mình để tự phát triển đến mức tối đa.
Với sự phát triển hiện nay, xã hội cần những người có bản lĩnh, có nănglực, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm nên xu thế chung của thế giới là coi trọngquan điểm thứ ba Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó, cụ thể ởnước ta, một xu hướng đang dần trở nên quen thuộc trong ngành giáo dục là:
“lấy học sinh làm trung tâm” Cũng có những ý kiến khác nhau xung quanhviệc bàn luận về tư tưởng đó, tuy nhiên tư tưởng này không mới, nó đã xuấthiện từ hàng trăm năm nay và vẫn còn là một tư tưởng tiến bộ Vấn đề đặt ra
là hiểu và quán triệt nó như thế nào vào thực tiễn để tránh cực đoan Một sốnhà giáo dục đã khắc phục tư tưởng đó một cách đúng đắn theo hướng tổchức cho học sinh học tập tích cực
1.1.2.2 Khái niệm phương pháp dạy học tích cực.
Theo giáo sư Trần Bá Hoành, “phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước, để chỉ những phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học [12; tr 14].
“Tích cực” trong phương pháp dạy học tích cực được dùng với ý nghĩa
là “hoạt động, chủ động”, trái nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ khôngdùng theo nghĩa trái với tiêu cực
Phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động hoá, tích cựchoá hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tínhtích cực của người học chứ không phải tập trung vào phát huy tính tích cựccủa người dạy Đành rằng để dạy học theo phương pháp dạy học tích cực thìgiáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động
Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy Rõ ràng là cách dạy chỉđạo cách học nhưng ngược lại, thói quen học tập của trò có ảnh hưởng tới
Trang 11cách dạy của thầy Có trường hợp, học sinh đòi hỏi cách dạy tích cực hoạtđộng nhưng giáo viên chưa đáp ứng được Cũng có trường hợp giáo viên hănghái áp dụng những phương pháp tích cực nhưng thất bại vì học sinh chưathích ứng, vẫn quen với lối học tập thụ động Vì vậy, giáo viên phải kiên trìdùng cách dạy hoạt động để dần dần xây dựng cho học sinh phương pháp họctập chủ động một cách vừa sức, từ thấp đến cao Trong đổi mới phương phápphải có sự hợp tác của thầy và trò, sự phối hợp hoạt động dạy với hoạt động họcthì mới thành công Theo tinh thần đó, người ta còn dùng thuật ngữ “dạy và họctích cực”, phân biệt với “dạy và học thụ động” Thuật ngữ phương pháp dạy họctích cực chính là hàm chứa cả phương pháp dạy và phương pháp học.
1.1.2.3 Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực.
Theo giáo sư Trần Bá Hoành, có thể nêu ra bốn dấu hiệu đặc trưng củaphương pháp dạy học tích cực như sau:
- Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh
Trong phương pháp tích cực, người học - đối tượng của hoạt động “dạy”,đồng thời là chủ thể của hoạt động học - được cuốn hút vào các hoạt động họctập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó, tự lực khám phá nhữngđiều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã đượcgiáo viên sắp đặt Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, ngườihọc trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theocách suy nghĩ của mình, từ đó, vừa nắm được phương pháp “làm ra” kiếnthức, kỹ năng đó, không rập khuôn theo nhưng khuôn mẫu sẵn có, được bộc
lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo
Dạy học theo cách này thì giáo viên không chỉ giản đơn truyền đạt tri thức màcòn hướng dẫn hành động Chương trình dạy học phải giúp cho từng học sinh biếthành động tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng
- Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
Phương pháp dạy học tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tậpcho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn
là một mục tiêu dạy học
Trang 12Trong xã hội hiện đại đang biến đổ theo từng giờ, với sự bùng nổ thôngtin, khoa học, kỹ thuật, công nghê thông tin phát triển như vũ bão, thì khôngthể nhồi nhét vào đầu óc trẻ khối lượng kiến thức ngày càng nhiều mà phảiquan tâm dạy cho trẻ phương pháp học ngay từ bậc Tiểu học và ngày cànglên bậc học cao hơn càng phải được chú trọng.
Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rènluyện cho người học có được “phương pháp, kỹ năng, thói quen, ý chí tự học”thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi người, kếtquả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay, người ta nhấn mạnhmặt hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ
“học tập thụ động sang tự học chủ động”, đặt vấn đề phát triển tự học ngaytrong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cảtrong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên
- Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thểđồng đều tuyệt đối thì áp dụng phương pháp dạy học tích cực buộc phải chấpnhận sự phân hoá về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất làkhi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập
Áp dụng phương pháp dạy học tích cực ở trình độ càng cao thì sự phânhoá càng lớn Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhàtrường sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hoá hoạt động học tập theo nhu cầu và khảnăng của mỗi học sinh
Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kỹ năng, thái độ đềuđược hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môitrường giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cánhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranhluận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ,qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới Bài học vận dụng đượcvốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của thầy giáo
Trang 13- Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò.
Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhậnđịnh thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điềukiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy
Trước đây, giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh Trong phương phápdạy học tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kỹ năng tựđánh giá để tự điều chỉnh cách học Liên quan đến điều này, giáo viên cần tạođiều kiện thuận lợi để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh giáđúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạttrong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho học sinh
Theo hướng phát triển các phương pháp dạy học tích cực để đào tạo nhữngcon người năng động sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra,đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kỹnăng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giảiquyết những tình huống thực tế
Đặc trưng cơ bản của các phương pháp dạy học tích cực sẽ được minh hoạqua sơ đồ sau:
Kết luận, kiểm tra Tự điều chỉnh [25; tr 222]
Trang 14Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, người học là chủ thểcủa hoạt động học tự tìm ra kiến thức, tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủđộng đạt các mục tiêu kỹ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình bằnghành động của chính mình Giáo viên không đặt ra trước cho học sinh nhữngkiến thức có sẵn mà là những tình huống, những nhiệm vụ trong thực tiễn hếtsức cụ thể, sinh động để học sinh có nhu cầu khám phá, giải quyết, phát huytềm năng sáng tạo.
Giáo viên không còn đơn thuần chỉ đóng vai người truyền đạt kiến thức
mà giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động để
học sinh tự tìm ra chân lí
1.1.2.4 Ý nghĩa của việc sử dụng phương pháp day học tích cực.
Người thợ xây giỏi là người không chỉ biết cách dùng từng đồ nghề củamình mà còn biết cách đánh giá dụng cụ nào thích hợp nhất cho từng hoàncảnh cụ thể Phương pháp dạy học cũng giống như đồ nghề của người thợ xâyvậy, chúng đều bình đẳng với nhau Việc sử dụng chúng tuỳ thuộc vào mụcđích và khả năng sử dụng của người dạy và người học, tuỳ thuộc vào hoàncảnh dạy học cụ thể, nội dung bài dạy cụ thể mà người dạy xác định, lựa chọn
và kết hợp nhuần nhuyễn các phương pháp khác nhau nhằm đem lại hiệu quảcao trong bài dạy của mình, trong đó, phải kể đến vai trò quan trọng củaphương pháp dạy học tích cực với các ý nghĩa như sau:
- Trước tiên, phương pháp dạy học tích cực phát triển khả năng tư duysáng tạo của người học, kích thích người học đưa ra nhiều ý tưởng mới trongbài học
- Giúp cho người học nhanh thuộc bài và nắm chắc được bản chất của vấn
đề, tránh xa được lối học thuộc lòng, học vẹt
- Phương pháp dạy học tích cực còn tạo cơ hội tối đa cho mọi thành viêntrong tập thể được bộc lộ sự hiểu biết và quan điểm của mình về nội dung vàphương pháp học tập cũng như các lĩnh vực khác; giúp cho người học cónhiều cơ hội rèn luyện khả năng diễn đạt cách thức tư duy và ý tưởng của
Trang 15mình Điều này đặc biệt có ích đối với những học viên nhút nhát, hay ngạingùng, ít phát biểu trong lớp.
- Tạo thái độ bình đẳng, hiểu biết và thân thiện giữa các học viên và giữagiảng viên và học viên
- Tạo cơ hội thuận lợi để các thành viên học hỏi lẫn nhau trong một lớp.Đồng thời đây cũng tạo cơ hội để các học viên trong lớp làm quen, trao đổi vàhợp tác với nhau, làm tăng bầu không khí hiểu biết, tin cậy, thân thiện vàđoàn kết giữa các học viên
- Tạo yếu tố kích thích thi đua giữa các nhóm trong lớp, đặc biệt là trongviệc học tập các vấn đề yêu cầu tính sáng tạo cao
- Tạo nhiều cơ hội cho giáo viên có thông tin phản hồi từ người học, đểhiểu rõ hơn về năng lực, cũng như sự nhận thức của người học để hình thànhcác năng lực sư phạm cần thiết
- Giúp cho giờ học sôi nổi, thoải mái, tránh được sự nhàm chán, nặng nềkhi tổ chức cho người học lĩnh hội những tri thức khó
Để làm nổi bật hơn về ý nghĩa của phương pháp dạy học tích cực, có thể
so sánh phương pháp dạy học tích cực với phương pháp dạy học chưa tíchcực như sau: [25; tr 222]
Phương pháp dạy học tích cực Phương pháp dạy học chưa tích cực
1 Giáo viên tổ chức hướng dẫn, học
sinh lĩnh hội
2 Đối thoại Giáo viên - Học sinh,
Học sinh - Học sinh
3 Học sinh hợp tác với giáo viên
khẳng định kiến thức học sinh tìm ra
4 Học sinh tự tìm ra kiến thức bằng
hành động của chính mình
5 Học sinh học cách học, cách giải
quyết vấn đề cách sống và trưởng
1 Giáo viên truyền đạt kiến thức
2 Giáo viên độc thoại và phát vấn
3 Giáo viên áp đặt kiến thức có sẵn
4 Học sinh thụ động nhận thức
5 Học sinh học thuộc lòng
Trang 166 Học sinh tự đánh giá, tự điều chỉnh
làm cơ sở để giáo viên cho điểm cơ
Do vậy, thuật ngữ đóng vai là một thuật ngữ được sử dụng rất phổ biến.Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê: “Đóng vai là thể hiện nhân vật trongkịch bản lên sân khấu hay màn ảnh bằng cách hành động, nói năng như thật”.[19; tr 337]
Sự nhập vai đó, khi được vận dụng vào quá trình dạy học, nó trở thànhmột phương pháp tương đối phổ biến và mang lai hiệu quả cao đó chính làphương pháp đóng vai hay một số tác giả còn gọi là phương pháp đóng kịch
Theo tác giả Phan Trọng Ngọ, “Phương pháp đóng kịch trong dạy học
là giáo viên cung cấp kịch bản và đạo diễn, học viên hành động theo các vaidiễn Qua đó họ học được cách suy nghĩ, thể hiện thái độ và hành động cũngnhư các kỹ năng ứng xử khác của các nhân vật trong kịch bản” [18; tr 283]
1.1.3.2 Bản chất, đặc điểm của phương pháp đóng vai.
Đây là một kỹ thuật đơn giản nhưng hết sức hiệu quả trong giảng dạy cáckhái niệm cơ bản về các mối quan hệ con người và trong công việc tìm hiểuvấn đề tại sao các cá nhân thường hưởng ứng cách thức mà họ thường làm ởcác tình huống khác nhau
Trang 17Thực chất “đây là một loại trò chơi: trò chơi đóng vai, trong đó, giáo viên hình thành kịch bản có nội dung dạy học, yêu cầu học viên đóng các vai diễn đã có” [18; tr 284].
Do vậy, bản chất là sự gia công sư phạm của giáo viên, chế biến nội dungdạy học thình kịch bản phù hợp để học viên sử dụng kịc bản đó để nhập vai
Qua sự nhập vai đó, học viên tự khám phá, lĩnh hội được tri thức mớimột cách nhanh chóng và đem lại hiệu quả ghi nhớ rất cao Bởi trong đóngvai, người học được làm, quan sát và do vậy nắm chắc được bài học
Mặt khác, trong quá trình nhập vai, học viên sẽ được học cách phảnứng như thế nào trong những điều kiện cụ thể nhất định
1.1.3.3 Các nguyên tắc xây dựng kịch bản trong đóng vai.
Yếu tố quyết định thành công của phương pháp đóng vai là kịch bản Dovậy, khi xây dựng kịch bản cần phải tuân theo những nguyên tắc nhất địnhnhằm đảm bảo được hiệu quả của phương pháp này
- Trước tiên, kịch bản phải được xây dựng căn cứ theo mục tiêu, nội dungcủa bài học nhằm đảm bảo tính đúng lúc, đúng chỗ của việc sử dụng phươngpháp dạy học
- Thứ hai, kịch bản phải có tính chất tích cực, mang lại hiệu quả giáo dụccao Đồng thời, bồi dưỡng cảm xúc thẩm mĩ của người học
- Trong kịch bản phải có kịch tính (các xung đột, các mâu thuẫn giữa cácnhân vật) để gây hứng thú, gây sự chú ý và mang tính thuyết phục cao về tưtưởng và hành vi [25; tr 227]
- Kịch bản, một mặt phải được soạn thảo chi tiết các đối thoại và hànhđộng của các nhân vật (biên kịch và đạo diễn), mặt khác, không nên ép buộchọc viên nhất thiết phải khuôn theo các chi tiết đó (diễn xuất của diễn viên).Nói cách khác, các vai diễn phải có tính mở để tạo điều kiện cho người diễnsáng tạo Nên tránh đưa vào trong kịch bản những nhân vật đơn điệu
[18; tr 285]
1.1.3.4 Quy trình sử dụng phương pháp đóng vai.
Trang 18Theo từ điển bách khoa Liên Xô, thuật ngữ “quy trình” được hiểu là
“tổng hợp trình tự (lôgic) các hoạt động nhằm đạt tới một kết quả nào đó”.Theo từ điển Việt - Pháp của Lê Khải Kế và Nguyễn Lân, thuật ngữ quytrình được hiểu là trình tự các thao tác kỹ thuật được sắp xếp theo một thứ tựphát triển tuyến tính khá chặt chẽ, nghiêm ngặt để hình thành một hoạt độngnhất định trong việc dạy học
Theo cuốn từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, “quy trình” đượchiểu là trình tự phải tuân theo để tiến hành một việc nào đó
Trên cơ sở khái niệm quy trình, có thể hiểu quy trình dạy học là sự kết hợp hữu cơ giữa quy trình dạy của thầy và quy trình học của trò bao gồm các giai đoạn, các bước từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc một tiết giảng, bài giảng được tiến hành theo một trình tự lôgic xác định nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học đề ra.
Từ các khái niệm cơ bản nêu trên, có thể hiểu quy trình sử dụng phương pháp đóng vai trong quá trình dạy học là trình tự lôgic các giai đoạn, các bước mà giáo viên và sinh viên phải thực hiện trong quá trình dạy học nhằm
tổ chức, điều khiển, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động của các nhóm và các
cá nhân tham gia đóng vai để giải quyết tốt các nhiệm vụ học tập đề ra.
Theo hai tác giả Ulrich Lipp - Paul Schlueter, quy trình chuẩn củaphương pháp đóng vai được xác định như sau:
- Hướng dẫn bài học Bao gồm: nội dung, kịch bản, tiến trình, mục tiêuđóng vai
- Phân vai: dành đủ thời gian cho diễn viên có đủ thời gian để nhập vai
Trang 19Trước lên lớp
Tự xác định, mục tiêu, nghiên cứu trước tài liệu, giáo trình, xác định phương pháp, phương tiện học tập.
Lên lớp
Soạn giáo án, lập kế hoạch
bài dạy, xác định mục tiêu,
Bước 2
Quan sát, quản lí hoạt động
của các cá nhân, giải quyết
thắc mắc trong kịch bản
Tự nghiên cứu kịch bản, huy động tri thức, kinh nghiệm của bản thân để tham gia đóng vai.
Khái quát, nội dung bài học,
Tiếp cận nội dung học tập mới.
Sau lên lớp
Tự rút kinh nghiệm về cách học.
Hoàn thiện nội dung bài học
Bước 3
Quan sát, quản lí hoạt động
của các cá nhân trong lớp.
Các cá nhân hợp tác, giúp đỡ nhau để thực hiện vai diễn.
Bước 4
Quan sát Các cá nhân tham gia đóng vai lên thể hiện vai diễn của mình
Các cá nhân khác quan sát.
Bước 5 Tổng kết Đánh giá
Rút kinh nghiệm bài dạy.
Chấm bài thu hoạch của cá
nhân hoặc nhóm
Trang 20Mặt khác, khi sử dụng phương pháp đóng vai theo quy trình đó cũng cầnphải lưu ý 3 vấn đề sau:
- Giảng viên phải dứt khoát tuyên bố chấm dứt cảnh diễn Điều này hếtsức quan trọng bởi trọng thực tế, đã xảy ra tình trạng là một học viên đượcphân vai quấy rối vì giảng viên không tuyên bố chấm dứt vai diễn nên họcviên đó đột nhiên thích vai diễn này và tiếp tục đóng vai kẻ quấy rối
- Không phải vai nào cũng được thích diễn Vì thế, việc phân vai là không
dễ, nếu không ai tự nguyện xung phong nhận vai diễn Rút thăm để phân vai
là một giải pháp, tuy nhiên không nên ép bất kì ai vào vai diễn nếu họ khônghứng thú
- Việc bàn bạc về cảnh diễn phải khéo léo, khi cách cư xử bị diễn sai Ởđây, giảng viên phải chú ý sao cho lời bình luận của những người quan sátcảnh diễn không quá gắt gao [23; tr 89, 90]
1.1.3.5 Ưu điểm và hạn chế của việc sử dụng phương pháp đóng vai.
Phương pháp đóng vai là một phương pháp mang lại rất nhiều hiệu quảtrong công tác giảng dạy như sau:
- Thứ nhất, đây là cách tốt nhất để học viên thâm nhập vào thế giới nộitâm con người cũng như vào thế giới các quan hệ xã hội Là cách tốt nhất đểhọc viên thu nhận những kinh nghiệm, kiến thức, thái độ và kỹ năng ứng xửtrong thế giới quan hệ đó
- Thứ hai, đây là phương pháp sinh động để gắn kết giữa lí luận với thựctiễn Đặc biệt là trong việc giải quyết các tình huống có nhiều phát sinh Qua
đó, học viên học được nhiều cách giải quyết những tình huống đa dạng, phứctạp hàng ngày trong cuộc sống
- Thứ ba, tạo cơ hội thuận lợi để học viên thể hiện hiểu biết kỹ năng vàphương pháp ứng xử của mình, cơ hội thể hiện thái độ và cá tính của mìnhtrước người khác [18; tr 283]
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm đó, phương pháp đóng vai cũng còntồn tại những hạn chế như sau:
Trang 21- Thứ nhất, các tình huống của vai diễn trong phương pháp đóng vaithường có tính phi cấu trúc về khuôn mẫu nội dung học tập Do vậy, việctruyền thụ hệ thống tri thức được đúc khuôn từ trước sẽ gặp nhiều khó khănnếu chỉ sử dụng phương pháp này.
- Thứ hai, một hạn chế lớn của đóng vai là tâm lí e ngại, thụ động vàngượng ngùng của nhiều học viên có thể làm giảm hiệu quả của phương pháp
- Thứ ba, để thực hiện một vai diễn thường mất rất nhiều thời gian chuẩn
bị và diễn Điều này dễ ảnh hưởng tới kế hoạch chung của quá trình dạy học.[18; tr 283]
Qua đó, chúng ta có thể nhận thấy rằng hiệu quả của việc tổ chức chongười học theo phương pháp đóng vai không đồng nghĩa với vị thế độc tôncủa phương pháp này Vậy, cần sử dụng phương pháp đóng vai trong quátrình dạy học như thế nào cho hợp lí, xây dựng, hoàn thiện quy trình tổ chứcphương pháp đóng vai đem lại hiệu quả cao trong quá trình dạy học, đây làvấn đề mà đề tài đang quan tâm nghiên cứu
1.1.3.6 Các nguyên tắc sử dụng phương pháp đóng vai.
* Nguyên tắc 1: Đảm bảo sự thống nhất biện chứng giữa vai trò chủ đạo
của giáo viên và tính tự giác, tích cực, độc lập của sinh viên.
Một trong những quy luật cơ bản của quá trình dạy học là đảm bảo sựthống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học củahọc sinh Do vậy, khi sử dụng phương pháp đóng vai, chúng ta cũng phải bámsát nội dung quy luật này để đảm bảo tính thống nhất, toàn vẹn của quá trìnhdạy học Làm thế nào để khi thực hiện các bước, các khâu đóng vai, giáo viên
và sinh viên đều có nhiệm vụ cụ thể của mình
Trong quá trình tổ chức đóng vai, giáo viên phải là người giữ vai trò địnhhướng, tổ chức, điều khiển, cố vấn, quản lí hoạt động học tập của sinh viêncòn sinh viên phải tự tổ chức, tự điều khiển và tiến hành hoạt động học tập,nhận thức của mình một cách tích cực, tự giác, chủ động, độc lập và sáng tạo
để giải quyết tốt các nhiệm vụ học tập đề ra
Trang 22* Nguyên tắc 2: Đảm bảo sự thống nhất vai trò của các thành viên trong lớp.
Trong giờ sử dụng phương pháp đóng vai, mỗi cá nhân đều phải đảm nhiệmnhững vai trò, nhiệm vụ nhất định Hiệu quả của giờ học có được là do sựtham gia, hợp tác tích cực của các thành viên trong lớp Như vậy nghĩa là mỗi
cá nhân trong lớp phải phối hợp với nhau để phân vai hợp lí và giải quyết cácnhiệm vụ của từng bài học riêng
Mỗi cá nhân đều phải có nhiệm vụ cụ thể của mình, phải có ý thức tích cực,
tự giác hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Mỗi cá nhân có đặc điểm thể chất, năng lực nhận thức, hứng thú, tính tích cựchọc tập khác nhau Do vậy, để phát huy được tiềm năng của mọi cá nhântrong lớp thì các cá nhân đều phải được giao nhiệm vụ phù hợp
*Nguyên tắc 3: Đảm bảo tính hệ thống.
Hoạt động dạy và hoạt động học là hai thành tố cơ bản nằm trong cấu trúc
hệ thống của quá trình dạy học Bản thân mỗi hoạt động cũng tồn tại với tưcách một hệ thống bao gồm các yếu tố cấu trúc nên bản thân các yếu tố cấutrúc đó cũng có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại với nhau tạo nênmột chỉnh thể trọn vẹn, thống nhất
Trong khi sử dụng phương pháp đóng vai, các bước, các khâu phải đượcliên kết với nhau theo một trình tự lôgic xác định, đảm bảo yếu tố trước là tiền
đề, là điều kiện, là nền tảng cho sự thực hiện các chức năng của các yếu tốtiếp sau
Ngược lại, các yếu tố đứng sau như là sự kế tục, sự hoàn thiện chức năngcủa các yếu tố đứng trước Nếu thiếu một thành tố nào đó hoặc không thựchiện các giai đoạn, các khâu một cách hợp lí thì sẽ không đem lại hiệu quảcủa việc sử dụng phương pháp đóng vai
* Nguyên tắc 4: Đảm bảo tính thực tiễn.
Khi sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy học phải vừa phù hợp nhữngđặc điểm, điều kiện và yêu cầu thực tiễn ở Trường Đại học Sư phạm, vừa cótác dụng nâng cao hiệu quả phương pháp dạy học này
Trang 23Cụ thể:
- Phù hợp với điều kiện dạy và học ở Trường Đại học Sư phạm
- Phù hợp với trình độ, năng lực của giáo viên và sinh viên trong trường
- Có khả năng ứng dụng rộng rãi và có hiệu quả
* Nguyên tắc 5: Đảm bảo tính toàn diện.
Sử dụng phương pháp đóng vai phải tạo ra hiệu quả cao của hoạt động dạy
và học trên nhiều phương diện
Cụ thể như sau:
- Hiệu quả về kinh tế: sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy và học ởtrường có thể tiết kiệm được thời gian và sức lực của giáo viên và sinh viênnhưng vẫn đảm bảo được chất lượng, hiệu quả của hoạt động dạy - học
- Hiệu quả về nhận thức: sử dụng phương pháp đóng vai giúp người họcphát huy được tính tích cực, tự giác, độc lập chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹnăng, kỹ xảo một cách vững chắc đồng thời phát triển trí tuệ người học
- Hiệu quả giáo dục: áp dụng phương pháp đóng vai sẽ giúp cho người họcdần hình thành thái độ tích cực trong học tập, có ý thức tự giác, tự học, tựnghiên cứu, có tinh thần đoàn kết, hợp tác trong nhóm, trong tập thể để giảiquyết các nhiệm vụ học tập chung
1.1.4 Đặc điểm môn Tâm lí học trong các Trường Sư phạm
1.1.4.1 Vị trí môn Tâm lí học trong các Trường Sư phạm.
Tâm lí học là một khoa học nghiên cứu về các hiện tượng tâm lí ngườinói chung, nó vừa gần gũi cụ thể, gắn bó với con người, vừa phức tạp, trừutượng và khó hiểu Chẳng hạn, khi nói về một hiện tượng tâm lí cụ thể thì aicũng biết, nhưng hiểu được bản chất của nó thì thật vô cùng khó khăn Đây làhiện tượng tinh thần, không thể nhìn thấy hay sờ mó được Do đó, phải cómột trình độ hiểu biết nhất định mới có thể hiểu được nó
Tâm lí học là một bộ môn khoa học cơ bản trong hệ thống các khoa họcnghiên cứu về con người, nó cũng có đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp và hệthống tri thức, kỹ năng tương ứng tạo thành nội dung của môn học Vì thế,
Trang 24tiếp cận với Tâm lí học phải nắm được lí luận và biết thực hành mới có thểhiểu nội dung của nó một cách đầy đủ được Đồng thời, Tâm lí học còn làmôn nghiệp vụ trong hệ thống các khoa học tham gia vào việc đào tạo conngười, hình thành nhân cách con người nói chung và nhân cách nghề nghiệpnói riêng Do vậy, đối với các trường Cao đẳng, Đại học Sư phạm, Tâm lí học
là một môn học có tầm quan trọng đặc biệt Bởi một mặt, Tâm lí học cung cấpcho người học những tri thức cơ bản nhất về các hiện tâm lí của con người, vềcác đặc trưng tâm lí của con người qua mỗi giai đoạn lứa tuổi để từ đó cónhững cách thức tác động một cách khoa học và hợp lí nhất trong quá trìnhgiảng dạy sau này Mặt khác, Tâm lí học cũng là môn nghiệp vụ có tính chấtbắt buộc đối với sinh viên ở tất cả các Trường Sư phạm nhằm cung cấp, hìnhthành và rèn luyện cho người học những kỹ năng giảng dạy quan trọng, giúpcho người thầy, người cô trong tương lai có đủ năng lực và kỹ năng sư phạmcần thiết để đủ tự tin đứng trên bục giảng
Do vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu để đề ra các biện pháp nhằm khôngngừng nâng cao hơn nữa chất lượng dạy và học môn Tâm lí học là một điềuhết sức quan trọng và đang là vấn đề trọng tâm trong đề tài này
1.1.4.2 Phân phối chương trình môn Tâm lí học ở Trường Đại học Hải Phòng.
* Học phần: Tâm lí học đại cương.
- Số đơn vị học trình: 3
- Trình độ: dành cho sinh viên năm thứ nhất
- Phân bố thời gian: 45 tiết
+ Lý thuyết: 33 tiết
+ Thực hành: 12 tiết
Trang 25Cụ thể:
Số tiếtLý
thuyết
Thựchành
II Cơ sở tự nhiên và cơ sở xã hội của tâm lí người 4 2III Sự hình thành và phát triển tâm lí, ý thức 3 1
X Sự sai lệch hành vi cá nhân và hành vi xã hội 3 1
* Học phần: Tâm lí học lứa tuổi và sư phạm.
- Số đơn vị học trình: 4
- Trình độ: sinh viên năm thứ nhất
- Phân bố thời gian: 60 tiết
Thựchành
Trang 26kỉ XX Ở nước ta, dạy học theo phương pháp đóng vai đã có manh nha từ rấtsớm song chưa thành một hệ thống lí luận cụ thể về phương pháp này Nhữngnăm gần đây, đóng vai bắt đầu được sử dụng khá phổ biến trong giảng dạycác môn kỹ năng như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc theo nhóm…
Đóng vai tạo ra môi trường học tập tích cực Trong đó, người học đượctham gia vào quá trình học tập một cách tích cực hơn, hứng thú học tập củangười học được kích thích, hình thành ở các em kỹ năng tự nghiên cứu và tựphát hiện tri thức mới Tuy nhiên, để sử dụng phương pháp đóng vai có hiệuquả đòi hỏi giáo viên phải nắm chắc quy trình và kỹ thuật sử dụng phươngpháp đóng vai, cơ sở vật chất nhà trường đòi hỏi phải đảm bảo đáp ứng yêucầu của hoạt động dạy học…
Mặc dù đóng vai được đánh giá là phương pháp dạy học tích cực, song
nó không phải là vạn năng Lựa chọn và phối hợp các phương pháp dạy họcphù hợp với mục tiêu, nội dung từng bài giảng cụ thể là công việc quan trọngcủa người giáo viên và cũng là điều kiện cần thiết để nâng cao chất lượng,hiệu quả của hoạt động dạy học trong nhà trường
CHƯƠNG 2.
THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÓNG VAI TRONG DẠY HỌC MÔN TÂM LÝ HỌC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG.
Trang 272.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu (Trường Đại học Hải Phòng).
Trường Đại học Hải Phòng mới được thành lập ngày 20/ 4/ 2000 theoquyết định số 48/2000/ QĐ- TTg của thủ tướng chính phủ, trên cở sở sát nhập
04 đơn vị đào tạo là:
- Trường Cao đẳng Sư phạm Hải Phòng
- Trường Đại học Tại chức Hải Phòng
- Trung tâm đào tạo giáo viên và bồi dưỡng cán bộ quản lí giáo dục (nay
là Trung tâm Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ)
- Trung tâm Ngoại ngữ
Trường Đại học Hải Phòng sau gần 10 năm thành lập đến nay đã trưởngthành nhanh và toàn diện:
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị được tăng quy mô và nâng cấp
- Phát triển quy mô đa dạng hóa ngành nghề đào tạo
- Tăng cường công tác Nghiên cứu khoa học
- Mở rộng quan hệ quốc tế
- Kiện toàn công tác tổ chức, phát triển đội ngũ cán bộ quản lí, giảngviên, giáo viên và cán bộ nhân viên phục vụ trên phạm vi toàn trường và cácđơn vị
Trường ở trên địa bàn quận Kiến An, với diện tích quy hoạch đã đượcphê duyệt 32 ha của Thành phố Hải Phòng Khu trung tâm của trường tại địachỉ số 171, Phan Đăng Lưu, Quận Kiến An
Mô hình Đào tạo hiện nay của trường Đại học Hải Phòng gồm có 3 cấp:
Trang 28giảng dạy kiến thức cơ bản và sư phạm mạnh, có nhiều kinh nghiệm Cán bộgiảng dạy các chuyên ngành Kinh tế - Kỹ thuật đang được bổ sung, đào tạo,bồi dưỡng nâng cao.
Đội ngũ giảng viên và số lượng và cơ cấu như sau:
- 197 Giảng viên giảng dạy ở các khoa thuộc khối Sư phạm
- 44 Giảng viên giảng dạy ở các khoa, khối Kinh tế - Kỹ thuật
- 44 Giảng viên giảng dạy ở các Trung tâm
Khoa Tâm lý – Giáo dục trực thuộc Trường Đại học Hải Phòng có 21 giảngviên Trong đó có 2 Tiến sĩ, 17 Thạc sĩ, 3 cử nhân chuyên giảng dạy về Tâm
lý học, Giáo dục học và Nghiệp vụ sư phạm trong toàn trường Thành tích củakhoa: nhiều năm Khoa đã đạt danh hiệu tiên tiến suất sắc, chi bộ trong sạchvững mạnh và có nhiều giảng viên giổi các cấp
2.2 Quá trình nghiên cứu.
- Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy họcmôn Tâm lý học ở Trường Đại học Hải Phòng
- Xác định những nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả việc sử dụng phươngpháp đóng vai trong dạy học môn Tâm lý học ở Trường Đại học Hải Phòng
2.2.2 Quy trình nghiên cứu.
Để thực hiện mục đích nêu trên, chúng tôi đã sử dụng phương pháp chủyếu là điều tra bằng bảng hỏi đối với 15 giảng viên khoa Tâm lý giáo dụcTrường Đại học Hải Phòng và 113 sinh viên năm thứ 1 của hai Khoa Tự
Trang 29nhiên và Khoa Xã hội của trường Đại học Hải Phòng Những lớp chúng tôichọn trên đều là ngẫu nhiên.
Ngoài ra, chúng tôi còn tiến hành phỏng vấn sâu, dự giờ quan sát hoạtđộng của giảng viên và sinh viên trong quá trình dạy học môn Tâm lý học ởTrường Đại học Hải Phòng
Kết quả nghiên cứu thực trạng được xử lí, phân tích như sau:
2.3 Kết quả nghiên cứu.
2.3.1 Thực trạng dạy- học môn Tâm lý học ở Trường Đại học Hải Phòng.
2.3.1.1 Nhận thức về vai trò của môn Tâm lý học đối với việc hình thành năng lực sư phạm.
* Về phía giảng viên: Kết quả khảo sát cho thấy 12/15 ý kiến giảng viênđược hỏi (chiếm 80%) khẳng định môn Tâm lý học có vai trò rất quan trọngđối với việc hình thành năng lực sư phạm, 3/15 ý kiến (chiếm 20%) cho rằngTâm lý học có vai trò quan trọng Các mức độ “bình thường”, “ít quan trọng”
và “không quan trọng” không có ý kiến nào
* Về phía sinh viên, chúng ta sẽ quan sát cụ thể qua bảng số liệu sau:
Bảng 1 Nhận thức của sinh viên về vai trò của môn Tâm lý học đối với việc
hình thành năng lực sư phạm.
Các mức độ
Khoa
Rất quantrọng
Quan trọng Bình
thường
Ít quantrọng
Khôngquan trọng
Trang 300 10
quan trọng
bình thường
it quan trọng
không quan trọng
tự nhiên
xã hội tổng chung
Biểu đồ 1 Nhận thức của sinh viên về vai trò của môn Tâm lý học đối với
việc hình thành năng lực sư phạm.
Qua bảng số liệu trên cho thấy, hầu hết sinh viên Trường Đai học HảiPhòng đã nhận thức được tầm quan trọng của môn Tâm lý học đối với việchình thành năng lực sư phạm cho bản thân Với 28/113 em (chiếm 33,63%)cho rằng Tâm lý học có vai trò rất quan trọng đối với việc hình thành năng lực
sư phạm; 65/113 ý kiến (chiếm 57,52%) cho rằng môn Tâm lý học có vai tròquan trọng Điều này chứng tỏ, môn Tâm lý học đã có những tác động nhấtđịnh đến suy nghĩ của các em
Thật vậy, Tâm lý học không chỉ là một môn khoa học mà còn là mộtmôn nghiệp vụ có tính chất bắt buộc đối với các Trường Sư phạm nhằm hìnhthành cho người học những tri thức, kỹ năng vô cùng quan trọng về nghềnghiệp của các em trong tương lai Thật may mắn là sinh viên trường đã cónhững nhận thức tương đối đúng đắn về vai trò của môn học này
Bên cạnh đó cũng có 10/13 ý kiến (chiếm 8,85%) cho rằng môn Tâm lýhọc quan trọng ở mức độ bình thường Theo ý kiến các sinh viên này, mônTâm lý học là môn phụ, không phải môn chuyên ngành, do đó, các em họcTâm lý chỉ để cho qua mà thôi
Trang 31Qua bảng 2.1 cũng cho thấy: sự chênh lệch giữa sinh viên Khoa Tựnhiên và sinh viên Khoa Xã hội về nhận thức về vai trò của môn Tâm lý học.
Ở mức độ thứ nhất (Rất quan trọng), sinh viên Khoa Tự nhiên có 21/56
em (chiếm 37,5%) trong khi ở Khoa Xã hội có 17/57 em (chiếm 29,83%)
Ở mức độ thứ hai (Quan trọng), Khoa Tự nhiên là 29/26 phiếu (chiếm51,79%); trong khi đó, ở Khoa Xã hội là 36/57 (chiếm 63,46%)
Từ những số liệu trên cho thấy, có một chút chênh lệch giữa hai khoa,với hai khối học, các môn học khác nhau, tuy nhiên đây là sự chênh lệchkhông đáng kể
Như vậy, đa số giảng viên và sinh viên được hỏi đều thống nhất cho rằngTâm lý học có vai trò quan trọng đối với việc hình thành năng lựcc sư phạm.Đây là dấu hiệu đáng mừng bởi lẽ ý thức được tầm quan trọng của môn học
đó là động lực thúc đẩy người giảng viên không ngừng tự học, tự nghiên cứu,trau dồi chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức để hoàn thiện bản thân.Còn đối với sinh viên, môn Tâm lý học là thứ cẩm nang nghề nghiệpquan trọng trên con đường hành nghề và đa số các em đã nhận thức đúng đắnđược điều đó Nhận thức của các em về việc hình thành cho mình những kỹnăng cơ bản được cụ thể hóa như sau:
Bảng 2 Nhận thức của sinh viên Trường Đại học Hải Phòng về vai trò của
môn Tâm lý học đối với việc hình thành các kỹ năng.
3 Tạo được ấn tượng ban đầu khi mới tiếp xúc 448 3,96 4
6 Trình bày, bảo vệ được quan điểm của mình 325 2,87 7
Trang 32Xếp ở vị trí thứ nhất là vai trò “có cách ứng xử hợp lí trong những tìnhhuống khác nhau” với X là 4,75 Như vậy, trong cảm nhận ban đầu của sinhviên môn Tâm lý học sẽ giúp cho các em biết cách ứng xử hợp lí, linh hoạttrong các tình huống khác nhau trong công việc cũng như trong cuộc sống.
Về ý kiến này, chúng tôi có trao đổi với các em sinh viên và các em đãđưa ra ý kiến như sau: Em Trần Thị Th cho biết: “khi mới học môn Tâm lí,
em thấy thật lạ vì tại sao lại phải học về những độ tuổi mình đã trải qua rồi,biết rồi Nhưng được học em mới thấy mỗi hiện tượng xảy ra đều có bản chấtriêng của nó và em hiểu được tại sao lúc đó người ta lại như vậy để từ đó tìmđược cách ứng xử phù hợp hơn…” Hay em Bùi Phú H lại tâm sự: “Em nhátlắm, hay run nữa nên nhiều lúc không biết mình phải làm thế nào cho hợp lí
mà không bị ai chê trách gì cả, học tâm lý em bắt đầu biết rằng mình cần phảinhư thế nào…”
Xếp ở vị trí thứ 2 với X là 4,51 là “Có cách giao tiếp khéo léo, lịch sự”.Như vậy, với đa số các em, môn Tâm lý sẽ giúp các em có cách cư xử khéoléo để gây được thiện cảm ở người giao tiếp với mình Sở dĩ rất nhiều em băn
Trang 33khoăn về cách ứng xử, về phong cách giao tiếp với người xung quanh chủ yếu
là do các em mới là học sinh cấp III, mới rời ghế nhà trường Phổ thông lênhọc Đại học, do vậy môi trường mới với nhiều mối quan hệ giao tiếp mới dẫntới nhiều em muốn quan tâm tới cách giao tiếp của mình sao cho thật lịch sự,khéo léo và dễ gây thiện cảm
Ở vị trí thứ 3 là “Hình thành phong cách riêng” Theo các em, thể hiệnmình với phong cách riêng là điều rất quan trọng nhằm tạo ấn tượng tronglòng mọi người xung quanh Ngay cả trong giảng dạy sau này, với các em,việc để ấn tượng về mình trong mắt học sinh với một phong cách riêng biệt làđiều hết sức cần thiết
Vị trí cuối cùng với X 2,87 là “Trình bày bảo vệ được quan điểm củamình” Với các em, tranh luận để bảo vệ được quan điểm riêng là điều khôngcần thiết khi học môn Tâm lý
Có thể thấy rằng, nhận thức của các em về vai trò của môn Tâm lý họctrong việc hình thành các kỹ năng chưa có sự sâu sắc trong nhận thức mà mớichỉ dừng lại ở những cảm nhận bề ngoài mà thôi Việc xác định được mộtcách đúng đắn vai trò của môn Tâm lý học trong cuộc sống cũng như tronghọc tập sẽ là những định hướng tốt để các em tiếp cận môn học một cách hợp
lí hơn
2.3.1.2 Hứng thú của sinh viên đối với việc học môn Tâm lý học.
Bảng 3 Hứng thú của sinh viên Trường Đại học Hải Phòng trong việc học
Khônghứng thú
Trang 34h ứng thú
tự nhiên
xã hội tổng chung
Biểu đồ 3: Hứng thú của sinh viên Trường Đại học Hải Phòng trong việc
“Bình thường” có 29/113 em ( chiếm 25,66%) Trong khi đó, tỉ lệ sinh viên
“Rất hứng thú” với môn học chỉ có 2/113 (1,77%) và số sinh viên “Hứng thú”
là 7/113 (chiếm 6,20%) Điều này rất mâu thuẫn với kết quả thu được ở câuhỏi 1 (Tâm lý học có vai trò quan trọng đối với việc hình thành năng lực sưphạm) Nói như vậy nghĩa là nhận thức và thái độ của sinh viên đối với việchọc môn Tâm lý học ở Trường Đại học Hải Phòng là không đồng nhất vớinhau, không phải bao giờ nhận thức đúng cũng dẫn tới thái độ và hành độngđúng Thực trạng trên là điều rất đáng lưu ý
Khi tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng này, chúng tôi được biết: đa sốcác em cảm thấy nội dung môn Tâm lý rất trừu tượng, khó hiểu, quá nặng về
lý thuyết mà không gắn liền được với thực tế Do đó, các em không còn cảm
Trang 35thấy hứng thú học nữa Thậm chí, em Nguyễn Thị M cho rằng: “Học Tâm lýthật tẻ nhạt, cứ tưởng Tâm lý phải hay, ai dè cả 4 tiết em phải chép mỏi cả tay
mà chẳng hiểu gì…” Mặt khác, ở một số giảng viên lại có tâm lý dạy choxong chương trình, ngại đổi mới phương pháp dẫn đến giờ học chỉ đọc chosinh viên chép để hết bài Hơn nữa, ở Trường Đại học Hải Phòng, thời khóabiểu của các em là 4 tiết Tâm lý/ tuần và 4 tiết đó lại dồn cả vào một buổi Dovậy, việc học liên tiếp 4 tiết Tâm lý trong một buổi học khiến các em cảmthấy mệt mỏi và nhàm chán, thậm chí buồn ngủ trong giờ học Đây là mộtthực tế đáng lo ngại trong việc giảng dạy những môn chung cũng như mônTâm lý học trong các Trường Sư phạm hiện nay
Nói về vai trò của hứng thú đối với hoạt động nhận thức của con người,nhà giáo dục Nga K D Usinxki đã nói: Sự học nào chẳng có hứng thú mà chỉhoạt động bằng sức mạnh cưỡng bức thì nó giết chết lòng ham muốn học hỏicủa con người Nói như vậy nghĩa là hứng thú có vai trò quan trọng nâng caotính tích cực của con người, làm tăng hiệu quả của quá trình nhận thức Việcsinh viên chưa thực sự hứng thú đối với việc học môn Tâm lý học sẽ ảnhhưởng không nhỏ đến chất lượng và hiệu quả việc dạy học môn này trongTrường Đại học Hải Phòng
Do vậy, bồi dưỡng hứng thú cho sinh viên trong việc học môn Tâm lýhọc là việc làm cần thiết, có ý nghĩa vô cùng quan trọng, góp phần nâng caochất lượng dạy - học trong các nhà trường hiện nay
2.3.1.3 Mức độ tích cực của sinh viên trong học tập môn Tâm lý học.
2.3.1.3.1 Mức độ tích cực của sinh viên ở trên lớp.
Bảng 4 Mức độ tích cực của sinh viên qua các giờ học ở trên lớp.
Trang 36Các biểu hiện
Rất thườngxuyên
Thường
Không baogiờ
4
26 23,01
Trang 37Đóng góp ý kiến xây dựng bài 0 0 17 15,0
4
43 38,05
6
8
Trang 38Bảng 5 Mức độ tích cực của sinh viên qua các giờ học ở trên lớp
8 Trình bày quan điểm của mình trước lớp 238 2,11 9
Biểu đồ 4 Mức độ tích cực của sinh viên qua các giờ học ở trên lớp
Qua bảng số liệu và biểu đồ trên chúng ta thấy, sinh viên tích cực học tậpmôn Tâm lý học ở mức độ tương đối thấp Các em có những biểu hiện thiếutích cực như sau:
Ở biểu hiện “Chú ý nghe giảng” với 53,10% sinh viên chọn mức độ “Ítkhi”, 23,10% sinh viên chọn “Đôi khi” nghe và thậm chí có 2,65% sinh viên
“Không bao giờ” chú ý nghe giảng Trong khi đó, số sinh viên “thường
Trang 39xuyên” chú ý nghe giảng chỉ chiếm 21,24% và ở mức độ “Rất thường xuyên”chú ý nghe giảng thì không có sinh viên nào lựa chọn.
Khi cô giáo giảng bài, số sinh viên “Thường xuyên tham gia đóng góp ýkiến xây dựng bài chỉ là 17/113 sinh viên, chiếm 15,04%, nhưng số sinh viêntrả lời là “Không bao giờ” tham gia đóng góp ý kiến xây dựng bài lên tới35/113 em chiếm 30,98% Tức là trong giờ học các em ít chú tâm nghe côgiảng và rất ít khi xung phong phát biểu Điều này dẫn tời giờ học trở nênbuồn tẻ, trầm hẳn xuống vì sinh viên thiếu tích cực trong giờ Đây thực sự làmột điều dáng lo ngại cho việc giảng dạy môn Tâm lý học ở Trường Đại họcHải Phòng Bởi lẽ học môn Tâm lý, việc lắng nghe thầy giảng thôi còn chưa
đủ, một hoạt động vô cùng quan trọng nữa đó là các em cần tham gia vào bàigiảng, nêu ý kiến của mình hoặc thắc mắc những phần mình chưa nắm rõ đểnắm chắc bài hơn đồng thời có vậy các em mới khắc sâu được kiến thức đãhọc Tuy nhiên, ở Trường Đại học Hải Phòng sinh viên không những ít lắngnghe thầy cô giảng mà còn rất ít tham gia phát biểu, đóng góp ý kiến xâydựng bài
Theo thứ bậc, biểu hiện tích cực cao nhất của các em trong giờ là “Traođổi ý kiến với bạn” nhưng cũng chỉ có X kiêm tốn ở 3,20 Đứng thứ 2 với X
là 3,01 là “Hoàn thành các bài tập” Thực chất, là các em được thầy cô giao bài
và các em sẽ hoàn thành khi thầy cô yêu cầu là sẽ kiểm tra lại bài đã giao hoặcnhắc trước đó thuộc nội dung ôn tập để thi
Đứng ở vị trí cuối là “Tham gia hoạt động khởi động” với X là 1,20.Một con số quá thấp cho việc khởi động lấy hứng thú, kích thích tư duy trướckhi bước vào giờ học Khi được hỏi về điều này, đa số các em trả lời rằng dothầy cô ít cho khởi động, gần như các em không biết đến hoạt động khởi độngkhi bắt đầu giờ học là gì
Từ thực trạng trên cho thấy, rõ ràng mức độ hứng thú đối với môn học
có ảnh hưởng rất lớn tới mức độ tích cực học ở trên lớp của các sinh viên
Trang 40Chúng tôi đã tiến hành dự giờ và trao đổi với giảng viên về thực trạngnày và thấy rằng: Trên lớp, đặc biệt là vào tiết 5, 6 của buổi sáng và tiết 1,2của buổi chiều, sinh viên thường có biểu hiện học tập rất uể oải, sĩ số lớpthường vắng với tỉ lệ tương đối lớn Thậm chí, có em chỉ chăm chăm ngồixuống cuối lớp để chơi điện tử, nhắn tin, nói chuyện riêng, đọc báo… cho hếtgiờ Thường thì sự tích cực tập trung vào một số ít các em cán sự lớp hoặcmột số em ngồi bàn đầu Phần đông các sinh viên chưa ý thức được nhiệm vụhọc tập của bản thân, còn lơ đãng, chểnh mảng trong việc học.
Khi tìm hiểu về nguyên nhân của thực trạng trên, chúng tôi được biết:Nhà trường không trang bị đầy đủ giáo trình môn học cho học sinh, giáo trình
và tài liệu tham khảo trên thư viện cực kì ít ỏi mà đa phần đã bị cũ và ráchnát Ngoài ra, do phương pháp giảng dạy của các thầy cô chủ yếu là thuyếttrình và đọc chép nên sinh viên thiếu tích cực trong giờ học Hơn nữa, cònnhiều lí do khác như sinh viên ngại tiếp xúc, ngại trao đổi, ít hợp tác với giáoviên… Mặt khác, các em sinh viên lại chủ yếu là mới rời ghế nhà trường phổthông, đang là sinh viên năm thứ nhất nên các em chưa tự tin, chưa quen khitiếp cận với phương pháp học ở giảng đường Đại học Do đó, chưa hình thànhđược phương pháp học tập phù hợp vẫn còn tính trông chờ, ỷ lại vào các thầy
cô của học sinh Trung học phổ thông